Showing posts with label Cam Li Nguyễn Thi Mỹ Thanh. Show all posts
Showing posts with label Cam Li Nguyễn Thi Mỹ Thanh. Show all posts

Tuesday, December 23, 2025

Đá Đợi






















Ảnh của An Nguyen

1
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.

Đoan mỉm cười. Cũng là một dịp được dậy sớm, được nếm mùi giá lạnh, được thấy có những người “biết lo xa” như mình. Trông cũng trật tự, đàng hoàng lắm. Vài người như còn ngái ngủ, ngồi thụp xuống trên chiếc túi xách, nhắm mắt cho đỡ mỏi, đợi. Vài người như khó chịu khi phải im lặng quá lâu nên tìm chuyện để nói. Một người đàn bà bắt chuyện với Đoan:

“Chà! Không biết họ chạy xe xăng hay xe than há em!”

Đoan giật mình, đáp:
“Dạ, em không biết nữa!”

Người phụ nữ chép miệng:
“Cầu Trời cho có xe chạy xăng. Đi xe than ngán lắm!”

“Chắc không đâu! Em nghĩ chạy đường đèo mà dùng xe than chắc không nổi.”

Nói rồi Đoan cũng cảm thấy lo. Biết đâu do thời buổi khó khăn, người ta cũng phải chạy xe than, loại xe “cải tiến” trong thời khan hiếm xăng dầu. Đoan nhớ tới lần nếm mùi đi xe than khi có dịp về miền Tây thăm bạn, đúng là hú hồn. Chiếc xe đò ọp ẹp cũ kỹ, có gắn một cái thùng sắt ở một bên phía sau đuôi. Đó chính là cái thùng đựng than củi. Xe chạy tốn rất ít xăng vì nhiên liệu chính là than củi được đốt cho cháy trong điều kiện thiếu không khí và tạo ra một loại khí đốt, giúp xe chạy được, Đoan chỉ nghe giải thích như vậy. Xe chạy được một quãng đường thì anh lơ xe lại dùng một cái que sắt dài để khều cho than cháy tiếp. Tro than rơi lả tả khắp đường, hắt vào những người chạy xe đàng sau. Còn hành khách trên xe đò cũng không khá hơn. Sau chuyến đi, mặt mũi áo quần của họ nhuốm đầy tro. Lần đó, được đi xe than, mà xe lại đông nghẹt, hết chỗ, người ngồi chen chúc lổn ngổn như cá hộp, Đoan năn nỉ anh lơ xe cho mình lên, và phải bám một tay vào cái thanh vịn ở cửa, cứ đu như thế mà đi hết chặng đường…

“Em đi Sài Gòn?” Người phụ nữ hỏi tiếp.

“Dạ, em về Sài Gòn.”

Nói xong, Đoan giật mình khi nhận ra cả chị này và mình đều nói “Sài Gòn,” nghe vừa vui vừa buồn. Vậy là Sài Gòn của mình vẫn còn đó, dù đã mất tên.

Tự nhiên cảm thấy gần gũi với người phụ nữ này, Đoan nói thêm:

“Dạ em đi công tác trên này. Khi đi thì em nhờ xe cơ quan, về thì mua vé xe ngoài.”

“Sao em không về xe cơ quan?”

“Chờ về xe cơ quan phải đến tuần tới mới có. Em cần về gấp.”

“Vậy à?”

Câu chuyện có thể sẽ còn tiếp tục, nhưng kìa, cánh cửa sổ quầy vé đang mở ra. Đoan nhìn hàng mình xếp nãy giờ, cũng khá gần phía trên. Hy vọng mình sẽ có vé, không đến nỗi…

Bỗng có tiếng một người phụ nữ ré lên. Rồi tiếp đó là nhiều tiếng la nữa. Có một người kêu Trời. Chuyện gì xảy ra vậy? Trong ánh sáng mờ mờ đầu ngày, Đoan thấy đám đông đang xếp hàng trật tự bỗng rạp xuống như một ruộng lúa trước gió, rồi vỡ ra thành nhiều mảnh. Ngay lúc đó, Đoan nghe đau thấu một bên vai. Chúa ơi, một thanh niên lực lưỡng từ đàng sau đang bước trên vai của Đoan. Chưa hết, tên này vừa vượt lên xong lại đến một tên khác đẩy Đoan ngã loạng choạng. Hắn chạy băng lên hàng trên. Người ta bước trên vai, trên đầu nhau. Những tên to lớn này đã thắng đám người yếu ớt, trở thành những kẻ ưu tiên mua được vé xe.

Đám đông không còn bình tĩnh nữa. Họ tan hàng, xô đẩy nhau, mạnh tay gạt nhau để tiến lên hàng trên. Đoan như bị bẹp dí trong đám hỗn loạn đó. Người phụ nữ nói chuyện với Đoan vừa rồi biến đâu mất. Chị đang bị đè bẹp? Hay chị đã may mắn vượt được lên trên kia? Đoan thấy nghẹt thở quá. Phải thoát ra khỏi chốn này thôi!

Đoan ngồi phịch xuống một bậc thềm, nghe thân người ê ẩm. Ôi, chuyện gì thế này? Nước mắt trào ra dù Đoan không muốn khóc. Người ta nói thời buổi này phải “Xếp Hàng Cả Ngày.” Cũng được đi! Nhưng xếp hàng rồi cũng “mạnh được, yếu thua” thì thật quá tội nghiệp.

Chị ban nãy đã tới bên cạnh Đoan. Chị trông cũng bơ phờ. Nét mặt chán nản, chị nói với Đoan:

“Chen không nổi với tụi nó, hết vé rồi em à! Uổng công mình xếp hàng cả đêm. Thôi, chắc ra mua cái vé chợ đen, khỏi phải đợi.”

2
Đoan cho thêm một cây củi vào lò. Khói ùn lên, cay mắt. Nhưng mùi sả thơm phức hấp dẫn hơn nhiều, lấn át mùi khói. Đoan hít một hơi thật sâu. Mớ sả bằm trong chảo đã vàng rồi, Đoan cho thịt đã ướp gia vị vào, đảo đều. Chưa bao giờ thấy ngon mắt như vậy. Cuối cùng thì cho chén mắm ruốc vào, trộn tiếp. Hãy đợi, đợi cho đến khi thật khô. Màu thịt kho ruốc sả sao mà đẹp thế! Trong thời gian chờ đợi ấy, thật thương hại cho các giác quan của mình! Lâu lắm mới thấy một chảo nhiều thịt như vậy. Mọi người đi ngang đều hít thật mạnh. Nhưng bảo ăn thì ai cũng lắc đầu. Để cho cậu!

Và thế là món thịt kho ruốc sả này, cùng với một chục thứ khác, được gói ghém cẩn thận, cho vào giỏ, chờ ngày mai xách đi “thăm nuôi.” Những gì thuộc về “thực phẩm” đều phải được làm thật khô để giữ được lâu. Ngoài món thịt kho ruốc sả, còn có những bánh lương khô tự làm từ gạo, bắp và bột mì. Rồi nào là đường tán, nào bánh quy, nào kẹo… Còn lại là vật dụng cho nhu cầu hàng ngày, khăn, áo, bàn chải, kem đánh răng… không thiếu thứ gì.

Đoan về kịp đi cùng với mợ. Hai mợ cháu cẩn thận mang đầy đủ áo ấm. Ngoài đó lạnh lắm, phải chuẩn bị cho gió núi với mưa rừng. Hai mợ cháu không lạc lõng, bởi sau khi xuống ga xe lửa, họ đã gặp một số người cùng đi chuyến xe hàng lên trại. Mọi người trải qua một đêm trên xe, làm quen với nhau, và không ngại ngần trong những câu chuyện chia sẻ. Họ kể về gia cảnh của mình, về những nỗi gian truân mà họ trải qua sau cuộc đổi đời. Họ có một điểm chung: theo dấu chân của chồng từ các trại trong Nam ra đến ngoài Bắc. Đêm cũng nhờ đó mà qua nhanh.

Trời hưng hửng sáng, xe đến trước cổng trại. Mọi người bảo nhau rằng còn phải lội bộ vào sâu bên trong, xe không được vào. Đoàn người mang các thứ lủ khủ kéo nhau đi. Ai cũng rét run. Cái lạnh thật lạ lùng, khó tả. Không phải như cái lạnh dịu dàng của Đà Lạt ngày xưa, với người người dạo phố áo mũ đầy màu sắc, nam nữ tay trong tay. Mà là một thứ lạnh như rút lấy sinh lực từ trong mỗi con người. Một thứ lạnh như roi quất trên da. Một thứ lạnh khô khốc, tàn nhẫn. Đoan ngước nhìn một vật sừng sững ngáng tầm nhìn của mình. Người ta nói “ngước nhìn rơi nón”, phải rồi, là núi. Núi cao lắm, ngước nhìn rơi nón. Mọi người cùng rùng mình.

Đoàn người thăm nuôi phải ngồi túm tụm trong một cái chòi không có vách, nộp giấy tờ và chờ gọi tên. Còn hồi hộp hơn cả nghe xướng danh thi đậu. Và rồi lần lượt, họ đã được vào và biết bên trong kia, người thân của họ đang chờ.

“Sao mãi không nghe họ gọi mình?”

Mợ bắt đầu sốt ruột. Đoan trấn an mợ:
“Chắc… cậu sẽ ra sau, mợ ạ! Nhiều khi… cậu phải làm cái gì đó…”

Mợ gật đầu nhẹ. Đoan cảm thấy ái ngại quá. Mình cũng bồn chồn không kém. Mình biết gì đâu, cái thế giới bên trong kia? Mình chỉ hình dung trong trí tưởng tượng, cảnh đoàn người hàng ngày đi “làm lao động” trồng khoai trồng bắp. Mình chỉ thấy cậu, như chìm trong dòng người lam lũ, cắm cúi trên rẫy nương. Cậu, một buổi chiều nào đó, ngước mặt lên trời, tự hỏi bao giờ sẽ về… Có tiếng vọng từ vách núi cao như trả lời cho cậu. Khi quyết định không ra đi khỏi nước, hẳn cậu đã nghĩ đến cái ngày này. Nhưng cậu vẫn ở lại. Đúng hay sai, chỉ có cậu hiểu mình hơn ai hết.

Đoan lén nhìn qua mợ. Trong ánh mắt không giấu được vẻ bồn chồn của mợ, còn chứa cả một sự chịu đựng. Sự chịu đựng không bùng nổ thành ngọn lửa, mà âm ỉ, ray rứt, như đã âm thầm tiếp nối từ ngày này qua ngày khác. Đoan từng chứng kiến có những lúc mợ để rơi những giọt nước mắt, nhưng rồi mợ luôn tỏ ra cứng rắn như một người cha nghiêm nghị. Mợ, như một cấp chỉ huy, cai quản đàn con sáu đứa của mình, cương quyết bắt đầu lại từ con số không.

Cuối cùng, khi mọi người đã vào hết, mợ mới được gọi tên. Và chỉ một câu vỏn vẹn:

“Người này… vừa mới được chuyển trại rồi, không còn ở đây.”

Mợ cuống quít hỏi:
“Chuyển qua trại nào, ở đâu ạ?”

“Không biết. Bà về đi, chờ có tin báo rồi đi thăm.”

Hai mợ cháu đứng sững, không còn lời gì để nói, và cũng vì kẻ truyền lệnh kia đã quay lưng đi. Đoan chợt có lại cái cảm giác của người đứng xếp hàng cả đêm để cuối cùng bị người ta dẫm lên vai mình mà chạy…

Rồi chính mợ là người nói như an ủi Đoan:
“Mình về đi cháu! Lại đợi tiếp thôi! Biết kêu ca với ai ở đây được?”

Đi trở ngược con đường cũ. Còn phải lội ra tận đường lớn, hy vọng đón được một chiếc xe. Hai người cùng ngoái nhìn cổng trại, rồi cúi xuống nhìn mấy cái giỏ thăm nuôi bây giờ nghe nặng trịch.

Núi cao lùi lại sau lưng. Núi ơi, hãy đợi!

3
Đoan trở lại sở làm. Mọi việc vẫn bình thường. Mấy ngày vắng “sếp”, mọi người trong phòng tự lo công việc, như cái nề nếp đã được tạo thành từ thời trước.

Thế nhưng Đoan cảm thấy có một điều gì đó không bình thường. Hình như thiếu tiếng cười. Mọi ngày, dù no hay đói, các dì các chị vẫn chuyện trò, vẫn hay nói chuyện tếu cho vui. Nào chuyện đi hái bông súng, đi bắt còng để làm thức ăn cứu đói, đến chuyện chăn heo “làm đời sống” trong sở… Hôm nay không khí có vẻ hơi trầm xuống. Đoan đi một vòng, hỏi thăm các chị. Thiếu một người: dì Tám.

“Các chị ơi! Dì Tám hôm nay nghỉ sao ạ? Dì có đau ốm gì không?”

Chị Bảy kéo Đoan lại, nói thật nhỏ:
“Chị Tám có đi làm, nhưng ngồi ở trong kho ấy! Chỉ không muốn ai hỏi tới mình.”

“Có chuyện gì vậy? Em chưa hiểu.”

“Chuyện nhà của chỉ… rầu lắm. Mình chỉ biết sơ thôi, chỉ không muốn nói nhiều. Đoan thử hỏi thăm chỉ coi sao.”

“Dạ.”

Đoan đi vào kho. Đây là nơi chứa vật liệu và dụng cụ dự trữ để dùng hàng ngày, nào chai lọ, nào bông gòn, nào giấy gói... Dưới ánh sáng mù mờ, Đoan thấy một người ngồi bất động trong góc phòng. Dì Tám đó hay sao? Như một người lạ mình chưa từng gặp. Nghe động, người đó giật mình, rồi trong một cử chỉ lạ lùng, co rúm cả người lại như bị điện giật. Đoan kinh ngạc, lấy lại sự bình tĩnh rồi rón rén đến gần. Chính là dì Tám mà! Nhưng là một dì Tám gầy guộc, nét mặt u ám, ánh mắt thất thần. Đoan gọi khẽ:

“Dì Tám! Đoan đây dì Tám! Cháu mới đi làm lại. Dì Tám… có khỏe không?”

Đoan e dè, ngập ngừng, như sợ một lời vô ý nào đó sẽ làm kinh động người trước mặt. Cái gì đã làm cho một dì Tám hiền hậu, từ tốn hàng ngày bỗng trở thành như vậy? Dì không trả lời, chỉ lắc đầu. Đoan tiến thêm đến gần hơn. Và thấy dì không lộ vẻ phản đối, Đoan ngồi xuống bên cạnh dì.

“Dì Tám ơi, có chuyện gì, dì Tám kể cho cháu nghe được không?”

Dì Tám nhìn Đoan chằm chằm. Rồi như chợt nhận ra một điều gì, dì Tám lẩm bẩm:

“Còn gì mà nói!”

“Dì Tám nói cho cháu nghe đi, giống như mỗi ngày dì Tám vẫn kể chuyện cho cháu đó!”

“Cô… không hiểu đâu! Không ai hiểu đâu!”

“Dì kể, cháu sẽ ráng hiểu.”

Đoan nhẹ nhàng nắm bàn tay gầy guộc của dì Tám. Im lặng một lúc… Bỗng nghe giọng dì Tám run run, nói như tiếng gió:

“Cái nhà của tôi, không còn là cái nhà của tôi… Con người đó, tôi đợi đã mấy mươi năm. Gặp lại, tôi mừng lắm! Con gái tôi cũng mừng. Nó gặp cha nó. Nó chưa gặp cha bao giờ. Con tôi đã có cha. Nhưng mà tôi không còn người chồng. Con người ấy, đem một gia đình vào ra mắt tôi. Tôi biết làm gì đây? Tôi thương hại. Tôi phải chấp nhận. Tôi… có cái gì trong nhà đem bán hết, lấy tiền lo cho họ. Tôi vẫn không có chồng. Tôi… mất hết rồi! Mất hết rồi!..”

Như một nỗi đau òa vỡ, dì Tám khóc trên vai Đoan. Ôi Trời! Vết thương tâm lý quá nặng nề. Đoan đã biết chuyện người chồng đi tập kết, vào tìm lại dì và người con gái, mang theo cái gia đình của ông, từ ngoài Bắc. Hôm nay câu chuyện đã đến hồi kết, đó là sức chịu đựng của dì Tám đã cạn. Bao nhiêu sự gắng gượng của dì đã biến hóa thành sự sa sút một cách thê thảm. Phải chăng nó còn đau thương hơn cả cái chết?

Dì Tám khóc được rồi, thần sắc như có trở lại một chút. Dì nói:

“Xin lỗi cô.”

“Dì ơi, cháu thương dì.”

Không biết rồi nỗi khổ của dì Tám bao giờ mới hết? Dù sao, trong lúc này, đưa được dì Tám ra ngồi ở bàn làm việc, Đoan thấy tạm yên tâm.

Có điện thoại mời đi họp. Đoan rời phòng, ra hành lang, băng qua khoảng sân rộng, đến phòng họp ở dãy nhà đối diện. Trong giờ làm việc, không gian bên ngoài thật yên tĩnh. Đoan chào người làm vườn đang tưới những khóm hoa đủ màu sắc. Chợt giật mình khi nhìn thấy thấp thoáng ở cuối đường, có một nơi gọi là chuồng heo, nơi mà mỗi tuần một lần Đoan cùng dì Tám đi xuống đó làm cái gọi là “công tác đời sống.” Mọi người luân phiên đi chăn heo. Đoan bàng hoàng. Ngước mặt nhìn trời, khoảng trời xanh thơ mộng, Đoan nhớ ngay đến những ngọn núi cao in trên nền trời xám. Ngước nhìn rơi nón! Rồi như thấy rất rõ những con người lầm lũi đi trong cái lạnh cắt da của núi rừng miền Bắc. Những người mẹ, người vợ chắt chiu đi thăm nuôi, nhưng có khi phải trở về mà chưa gặp được người thân. Hình bóng của họ như cũng khắc sâu vào đá núi. Núi ơi, hãy đợi cùng! Nhưng so ra, dù phải đợi, ít ra họ, như mợ, cũng còn có cái hạnh phúc được đợi, được mong cái ngày gặp lại người thân yêu. Còn như dì Tám, dì không còn cái để mà đợi. Ôi buồn!

Đợi! Đợi đến bao giờ? Người ta vẫn đợi. Vẫn đợi, dù hóa ra đá.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
(Trích Chuỗi truyện ngắn Những Ngày Nắng Vỡ)



Sunday, April 20, 2025

Sài Gòn Tôi, Những Ngày Còn Mang Tên


1
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu.

Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời.

Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống.

Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ:

“Em uống gì không?”
“Dạ, chị cho em nước chanh.”

Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:

“Trời nóng há em!”
“Dạ, nóng khác thường chị ạ!”
“… Ngày mai em hát bản gì?”

Đoan hơi lạ lùng trước câu hỏi quen thuộc của chị Thuận. Hàng tuần, vào chiều thứ Bảy, Đoan vẫn hát một bản nhạc trên sân khấu nhỏ thân ái này. Nhưng sao bây giờ nghe lạ. Hát gì ư? Đoan chớp mắt, chưa biết trả lời sao…

Hai người nam sinh viên bước vào. Chị Thuận đứng dậy. Đó là hai anh quân dược, sinh viên năm cuối. Mọi người chào nhau. Bỗng dưng cái màu đồng phục ka-ki vàng của họ làm Đoan nghe bồi hồi và liên tưởng đến một người bạn. Ngày hôm qua mới nhận được thư của Lưu. Lưu vẫn ở quê nhà Hàm Tân, làm người lính giải ngũ sớm. Một cái chân đã gửi lại trong đất sau ngày ký Hiệp định Paris 1973. Chưa có dịp gặp lại Lưu, Đoan chỉ còn biết viết thư để khích lệ tinh thần người bạn cũ.

Đoan gửi tiền nước cho chị Thuận. Chị dặn vói một câu trước khi Đoan rời Câu lạc bộ:

“Đoan nhắn Phước Hương, kỳ này nhớ hát, lâu nay trốn đâu mất.”

Câu nói làm Đoan thấy vui. Đoan “dạ” và chào hai anh quân dược, đi về labo.

Muốn tìm Phước Hương không khó, chỉ vào phòng thực tập Sinh Hóa là gặp ngay. Đoan biết như thế vì nhóm của Phước Hương hôm nay làm “T.P. Sinh Hóa”. Đoan hơi mỉm cười vì sự quan tâm đặc biệt của mình đối với Phước Hương. Nhưng không phải là bây giờ, mà từ ngày Đoan làm “lính mới tò te” bước chân vào trường. Dạo đó Phước Hương học năm thứ Hai. Ngày đầu Đoan vào Câu lạc bộ chỉ để nghe nhạc, biết Phước Hương như một ca sĩ của trường. Cái tên như tên con gái làm Đoan để ý xem người này có gì đặc biệt. Một thư sinh nho nhã đúng nghĩa, nhưng có giọng hát mạnh, trầm và buồn. Đặc biệt, Phước Hương chỉ hát một loại nhạc: nhạc tình của Đặng Công Nam, người nhạc sĩ thời danh được ưa thích nhất trong giới sinh viên. Và như một sự kết nghĩa, một gắn bó của duyên văn nghệ, Đoan và Phước Hương thường đi hát chung với nhau. Mà họ cũng rất lạ, hơi ngược đời: Đoan đàn guitar, Phước Hương hát.

Chỉ là “duyên văn nghệ”, Đoan mỉm cười.

… Và đã thấy Phước Hương ở trước cửa phòng Sinh Hóa.

“Chào Đoan.”
“Chào anh Phước Hương.”

Họ vẫn khách sáo với nhau như thế.

“Chị Thuận nhắc anh chọn bài cho đêm văn nghệ hàng tuần.”
“Vậy à?”
“Chị nói anh không hát mấy tuần rồi.”
“Tôi không khỏe Đoan à. Nhưng đã đỡ hơn rồi. Ngày mai tôi sẽ hát.”
“Anh chọn bài gì?”
“Nhạc tình số 5 của Đặng Công Nam.”
“Dạ.”
“Đoan vẫn đàn guitar và hát bè cho tôi chứ?”
“Vâng, như cũ, anh Phước Hương.”

Có người bạn gọi, Phước Hương cáo lỗi Đoan và vào phòng. Đoan tiếp tục đi, còn nửa tiếng nữa mới đến giờ mình vào làm trong labo Ký Sinh Trùng. Đoan muốn dạo một chút trong sân trường. Giờ này không đông lắm, chỉ có một số sinh viên vội vã đi vào Giảng Đường Một. Các khu thực tập đều đóng kín. Những con người cần mẫn nhốt mình trong đó. Đoan cũng thế, ngày ngày đến trường cũng nhốt mình trong các labo hay các giảng đường, học hành siêng năng. Có một điều hơi khác một chút, là Đoan cùng một nhóm bạn làm việc tự nguyện, thường họp nhau để bàn về những chuyến đi công tác xã hội. Họ không ồn ào, không có danh xưng, nhưng trong lặng lẽ đã làm được khá nhiều việc.

Một chiếc xe hơi chạy vào trường. Trên xe có Mỹ. Mỹ ra dấu chào Đoan. Đoan chào lại. Từ ngày đám cưới, Mỹ không còn chạy xe gắn máy nữa, mà đi làm bằng xe hơi, do chồng lái. Ở trường này, việc thầy cô hoặc một vài sinh viên đi xe hơi là bình thường. Đó cũng không phải là lý do khiến những người bạn xa lạ với nhau. Nhưng với Mỹ, Mỹ đã tỏ ra xa lạ trong những ngày gần đây. Thái độ của Mỹ hơi thiếu tự nhiên. Trừ những giờ phải thực tập chung với Đoan và Xuân, Mỹ không hăng hái gặp gỡ các bạn. Đoan lấy làm tiếc, vì Mỹ với Đoan rất hợp ý trên nhiều mặt. Xuân thì hời hợt hơn, mặc dù có tiếng là người mau nước mắt. Trong cái “bộ ba” Bắc Trung Nam này, Đoan và Mỹ thường tâm sự với nhau hơn là với Xuân. Có những buổi ngồi ở hàng ghế sau cùng trong giảng đường vắng, Đoan lặng người khi nghe những câu chuyện Mỹ kể về những người cô người chú bí ẩn của Mỹ. Đoan chỉ biết lắng nghe và không có ý kiến. Nó vượt khỏi sự tưởng tượng của Đoan. Ở lứa tuổi này, Đoan cảm thấy mình chưa qua khỏi biên giới của tuổi thơ, dù có cái vỏ sinh viên đạo mạo, và làm những công tác xã hội với cái tâm của mình. Đoan có gặp những vết thương chiến tranh trên những người thương binh về từ chiến trận xa. Đoan có đến với những bà con chạy loạn. Đoan có đến thăm những tù binh được trao trả sau hiệp định Paris 1973. Đoan có chăm sóc, tặng quà những em bé mồ côi sống trong những cô nhi viện. Nhưng Đoan không biết gì đến những lý luận, những chủ nghĩa… Đoan hoàn toàn không biết. Nhưng Mỹ biết. Những cô, chú của Mỹ dạy cho Mỹ nhiều điều.

Mỹ mới lập gia đình hồi đầu năm nay. Chồng Mỹ là con của một ông chủ lớn, có hãng xưởng ở quận Tư. Mỹ không còn đi công tác xã hội chung với Đoan. Có khi, Đoan băn khoăn, khi đặt hai hình ảnh của Mỹ cạnh nhau – một khi nói về cô chú của mình, và một khi làm một bà chủ trẻ sang trọng. Đoan không hiểu được.

Mỹ đang đi về phía Đoan, sau khi chào tạm biệt chồng. Chiếc xe chạy trở ngược ra cổng. Đoan mỉm cười với Mỹ, nói:

“Mình vào labo đi, sắp tới giờ rồi!”
“Ừ.”

Thầy Tính đã có mặt trước. Đây là một người thầy tận tụy. Lúc nào Thầy cũng đến sớm hơn mọi người. Sau giờ các sinh viên thực tập, Thầy là người ở lại cuối cùng, sau cả các nhân viên. Thầy nhướng mắt sau đôi kính cận dày cộp, nói ngay khi thấy Mỹ và Đoan:

“Chào hai chị. Vào sửa soạn “monter lame” đi!”
“Dạ.”

Hai đứa cùng làm “chức” monitrice, phụ trong phòng thực tập Ký Sinh Trùng của Thầy Tính. Thầy chọn hai bạn này cũng do sự khéo tay và cần mẫn của họ. “Monter lame” là đặt sẵn những tiêu bản – tức là những mẫu vật – lên kính hiển vi, điều chỉnh kính cho thấy rõ để sinh viên đến xem trong giờ học. Tiêu bản trong phòng này là những mẫu ký sinh trùng sốt rét, các mô động vật, các tế bào máu, các mẫu giun sán, muỗi mòng… Ngoài ra hai bạn còn có thêm một nhiệm vụ là vẽ hình cho Thầy Tính làm các poster dạy học. Nhìn tấm gương của Thầy, hai bạn cũng muốn mình trở thành những người thầy tận tụy.

2
Phước Hương ngân dài chữ cuối của bài hát. Đoan đi thêm một đoạn nhạc ngắn. Tình khúc chấm dứt. Các khán giả sinh viên vỗ tay khen ngợi. Không khí ấm cúng quen thuộc của Câu lạc bộ trở lại thân mật sau một buổi chiều nóng bức.

Đoan cùng Phước Hương bước xuống khỏi sân khấu – là một sàn gỗ lớn, bên trên trang trí thanh nhã. Họ đến ngồi chung bàn với các bạn quen. Đoan cất cây đàn guitar vào bao. Cây đàn cũ, nhưng tiếng rất tốt. Nó đi theo Đoan vào trường này, và “lưu diễn” ở một số trường bạn. Chưa hết, còn “lang thang” đến quân y viện nữa. Nghĩ đến đó, tự nhiên Đoan ôm chặt cây đàn vào lòng. Một cảm giác lạ lùng chợt đến.

Xuân, đến lượt mình, bước lên sân khấu. Giọng hát thoải mái, trong trẻo, Xuân diễn tả trọn vẹn một bản nhạc tiền chiến. Rồi tiếp nối, một số giọng hát của sinh viên các trường bạn cũng góp phần. Và như thế, những bản tình ca làm nên một buổi văn nghệ dễ thương.

Ngôi trường này, hay chính xác hơn là cái Câu lạc bộ này, đã là nơi hẹn của những người yêu văn nghệ trong giới sinh viên. Đôi khi, nơi đây có những buổi nhạc chủ đề. Đặng Công Nam, người nhạc sĩ được mến mộ, thỉnh thoảng cũng đến. Đoan nhớ có lần ông trình bày nhạc của ông, với một cây guitar, và ông tự diễn tả nỗi lòng. Ông hát cho quê hương. Ông hát về thân phận con người trong chiến tranh. Bao nhiêu giọt nước mắt rơi theo tiếng hát của ông. Nhiều chị sinh viên thổn thức đến xin ông chữ ký. Chị của Đoan, bên trường Văn Khoa sang dự, xin ông ký tên lên mảnh khăn tay vải đẫm ướt nước mắt của chị. Ông ký. Và cái khăn đó chị giữ làm kỷ niệm, không bao giờ chị giặt. Đoan thì không. Đoan ngồi ở đàng xa, nhìn về phía ông. Mặc dù Đoan vẫn thường chọn nhạc của ông để hát cùng Phước Hương, Đoan vẫn tự cho mình làm người xa lạ. Như vậy tốt hơn. Một phần nào đó, ông cũng là thần tượng ca nhạc của Đoan.

Đoan ra khỏi Câu lạc bộ. Đêm, trời đứng gió. Bỗng nhiên một luồng khí nóng ngột ngạt ùa đến. Có cái gì trong mắt Đoan cay xé. Thời tiết lạ quá! Chắc mình sắp bệnh?

3
Khánh Dương, ngày 22 tháng 3

Đoan thân mến,

Anh đang ở Khánh Dương. Nghĩ rằng muốn viết cho Đoan. Pháo dội rát bên phía rừng, nghe gần lắm Đoan ạ! Đơn vị của anh đã được lệnh “di tản chiến thuật”. Không biết cô bé có nghe từ ngữ này bao giờ chưa nhỉ? Chỉ đêm nay hay ngày mai là tụi anh sẽ lên đường.

Anh nghĩ anh đang về gần Sài Gòn hơn. Anh đang về gần cô bé.

Ngày 23 tháng 3

Đơn vị bạn cho biết có chiến xa của địch. Các đơn vị tiền sát bắt đầu chạm địch với những trận cận chiến. Cận chiến đó cô bé! Nghe sợ quá phải không? Đoan đừng lo lắng nhé! Anh chỉ đang muốn nghĩ về cô bé thôi. Cái sống và cái chết gần nhau quá!

Ngày 28 tháng 3

Anh đang trên Quốc lộ 21. Một đoàn xe tiếp tế bị phục kích đánh tan.

Ngày 29 tháng 3

Phía địch đông lắm, gấp 10 lần. Mình không được bổ sung, không được tiếp tế, không chiến xa, không pháo binh hạng nặng yểm trợ.
… Có chuyến bay tiếp tế trở về Sài Gòn, anh gửi thư đây!..

Một lá thư như những lời tường thuật ngắt quãng như thế, cũng đủ cho Đoan hình dung được tình hình cấp bách nơi Thắng ở. Đầu tháng Tư, thư đến. Còn bây giờ Thắng ra sao, Đoan không biết được. Tự nhiên lòng bồn chồn. Một chút nhung nhớ mênh mang trong trí. Đoan gấp lá thư lại, bồi hồi nhìn sách vở, rồi cũng gấp lại luôn. Khánh Dương, địa danh nghe hay nhưng lạ. Đoan nhìn lên tấm bản đồ lớn treo trên tường. Nó đây rồi!…

4
Vẫn là hành lang trước dãy phòng thực tập Đoan hay ra đứng khi rảnh rỗi. Từ đây có thể nhìn thấy Câu lạc bộ, nơi có vẻ đông đúc nhất của trường – đông đúc không ở số lượng, mà ở cảnh người ra kẻ vào, cười cười nói nói. Từ đây mọi người có thể phóng tia mắt nhìn thấy vườn dược thảo với muôn sắc hoa. Cũng từ đây, tầm mắt vượt khỏi cổng rào, thấy được cảnh đường sá bên ngoài.

Chiều đã xuống. Bên kia đường là Đại học Văn Khoa. Những dãy lớp khang trang đứng lặng lẽ. Đoan yêu màu nắng chiều trong khung cảnh bình yên này. Con đường Cường Để nhiều cây to bóng mát, rất sinh động vào buổi sáng, buổi trưa, nhưng đến chiều sẽ dịu dàng trong màu nắng. Xe cộ cũng thưa dần.

Lác đác vài sinh viên quân dược chạy xe ra khỏi trường. Màu áo ka-ki vàng lại khiến Đoan liên tưởng. Hôm qua nhận được thư của Lưu. Lưu cho biết trong tháng Tư Lưu sẽ tìm dịp về thăm lại Sài Gòn. Lưu sẽ vào thăm quân y viện, nơi con đường rợp bóng cây còng, cũng là nơi Lưu đã gặp Đoan. Đường cây còng, vâng, Sài Gòn có những con đường “hay hay” như thế. Người ta nói nhiều đến những con đường lá me, những con đường hoa phượng. Nhưng Đoan, và các bạn Đoan, thân thiết với những con đường cây còng. Loại cây cao như cây me, cây phượng, có tán rộng hình cây dù, quả dài như trái điệp, hoa màu hồng hay tím nhạt. Đoan còn gọi đó là “cây mưa”. Thật thế, sau những cơn mưa đường cây còng trông thật quyến rũ. Những chiếc lá đọng nước mưa như trĩu xuống. Hoa khép nép buồn buồn.

Khi ý tưởng dẫn đi xa, Đoan tưởng tượng ra hình ảnh Thắng ở một nơi Đoan chưa từng đến, Khánh Dương. Sau những lần “được” làm thương binh, nằm trong bệnh viện nơi đường cây còng, Thắng lại ra mặt trận. Cái nóng ngột ngạt của chiều Sài Gòn khiến Đoan tưởng tượng cái nóng của Khánh Dương, thật khác. Là cái nóng của lửa đạn, của chiến trường sôi sục.

Đôi mắt bỗng nghe cay. Đoan xoay người lại, tựa lưng vào lan can. Và thấy Phước Hương đang đi đến.

Vẫn với gương mặt có vẻ ơ thờ với những thứ xung quanh, Phước Hương lên tiếng trước:

“Chào Đoan.”
“Chào anh Phước Hương.” Đoan vẫn thích gọi cái tên hai chữ như vậy.

Và chưa thấy Phước Hương nói gì thêm, Đoan hỏi tiếp:

“Anh có giờ thực tập ạ?” – như tự nghĩ rằng Phước Hương tình cờ gặp mình trên đường đi.
“Không.” Phước Hương lắc đầu.
“Dạ.”

Đoan hơi buồn cười chính mình.
“Tôi tìm Đoan.”

Đoan ngạc nhiên, chợt nhớ ra hôm nay là thứ Sáu. Ngày mai sẽ là ngày có văn nghệ ở Câu lạc bộ như lệ thường. Bỗng dưng Đoan có một cảm giác là lạ, như là uể oải. Không hiểu sao sự hăng hái say mê âm nhạc lúc này biến đâu mất. Nghĩ đến mình lại lên sân khấu nhỏ, đàn hát, cùng với Phước Hương. Rồi thì Phước Hương sẽ vẫn chọn hát những bản nhạc tình mơ mộng, lãng đãng. Mà Phước Hương thì chỉ có thế, vì giọng hát của anh chỉ hợp với kiểu cách ấy thôi. Không kềm giữ được, Đoan thở dài. Đoan muốn nói một điều gì đó với Phước Hương. Đoan tìm lời.

Nhưng Phước Hương đã nói trước:
“Tôi tìm Đoan để chào tạm biệt.”

Đoan giật mình, hỏi:
“Anh đi đâu ạ?”

Phước Hương mỉm cười thật nhẹ:
“Tôi đi đăng lính Đoan ạ.”

Đoan tưởng mình nghe lầm. Đoan nhìn chăm chăm người con trai trước mặt. Một người “nho nhã”, nói theo kiểu xưa, mà thật thế, có lẽ chỉ phù hợp với không khí trong giảng đường, làm những công việc nhẹ nhàng trong phòng thí nghiệm, và cất tiếng hát trầm buồn trên sân khấu sinh viên. Phước Hương đăng lính. Đoan định thần. Một lời hỏi han thắc mắc trong lúc này chắc là không phù hợp.

Phước Hương cười nhẹ, vẫn là nụ cười nhẹ nhàng cố hữu, nói:

“Chắc không cần giải thích gì hở Đoan? Ai cũng hiểu.”
“Dạ.”
“Tôi hy vọng có ngày trở lại trường này, học tiếp. Có thể trở thành đàn em của Đoan đấy!”
“Dạ.”
“Nhưng tôi không quên sân khấu nhỏ của mình, ở Câu lạc bộ. Tôi sẽ rất nhớ những chiều thứ Bảy được cùng Đoan hát trên sân khấu đó. Tôi sẽ không quên nhiệm vụ lúc nào cũng mang một cái ghế lên sân khấu cho Đoan ngồi đàn.”

Bỗng nhiên Đoan hỏi như gấp gáp:
“Thế ngày mai, anh Phước Hương cũng sẽ hát chứ?”

“Không, sáng sớm mai tôi đi. Không có dịp hát cho chiều thứ Bảy. Đoan sẽ nói lời tạm biệt các bạn văn nghệ giùm tôi nhé!”

Nắng tắt. Đường sá ngoài kia bớt hẳn xe cộ. Trong này, vườn dược thảo bắt đầu khoác chiếc áo bằng lá cây màu xanh thẫm. Đôi bạn từ giã nhau. Đoan nghe một nỗi gì như mất mát đang ùa đến.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

(Trích Chuỗi truyện ngắn “Những Ngày Nắng Vỡ”)

Saturday, February 8, 2025

Những Câu Chuyện Bà Kể

Một minh họa trong sách Hoàng Tử Bé.

Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể.

Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.

Rồi thì bà kể chuyện. Từ khi chú bé chưa biết nói, bà đã kể chuyện rồi, những câu chuyện rất ngắn, rất dễ thương, có khi chỉ là tiếng chim hót, tiếng gà gáy. Chú bé tỏ vẻ lắng nghe. Và lớn dần, chú bé nghe những câu chuyện dài hơn, và chú hiểu. Chú còn biết kể lại cho bà nghe, biết hỏi lại cho bà trả lời. Những câu chuyện bà kể, luôn bắt đầu bằng câu “ngày xửa ngày xưa” như một dấu hiệu đó là truyện cổ tích.

Trong trí nhớ của bà, cũng như nhiều người bạn cùng thời, truyện cổ tích nổi bật nhất là Tấm Cám. Bởi vì bà đã được nghe biết bao nhiêu lần từ mẹ của bà. Mẹ là một kho truyện cổ tích. Nhưng cứ nghe đến đoạn cuối thì bà rất sợ. Bà hứa với lòng rằng sẽ không kể nguyên như vậy cho con cháu của mình. Cô Tấm trong truyện là một cô gái nhân hậu, chịu biết bao gian truân vì mẹ ghẻ và em gái độc ác hại mình. Cuối cùng, khi Tấm được Vua cưới về, cô lại dùng quyền lực để trả thù họ một cách ác độc gấp trăm lần. Bà đã thay đổi đoạn cuối. Bà “cho” cô Tấm xin Vua tha cho họ, rồi cô cảm hóa họ, giúp họ trở thành người tốt, có lòng nhân hậu giống như cô.

Lúc chú bé bốn tuổi, bà kể Cha Nào Con Nấy, câu chuyện dạy người ta sống hiếu thảo với cha mẹ. Chú bé ngồi vào lòng bà, nghe say mê, bởi vì trong truyện cũng có một đứa bé bốn tuổi. Cha của đứa bé ấy đã mài một cái mủng vùa, tức phân nửa cái sọ dừa khô, cho ông nội của nó ăn cơm, bởi vì ông nội đã già, đến bữa ăn thường làm rơi vỡ chén bát. Ông nội tủi thân, vừa ăn vừa khóc. Thế rồi đến một hôm, người cha thấy đứa bé vụng về mài một cái mủng vùa, hỏi để làm gì. Đứa bé nói để dành cho cha ăn cơm, khi cha già như ông nội vậy. Cha của nó bừng tỉnh, hối hận. Nghe xong, chú bé tỏ vẻ trầm ngâm. Bà hỏi:

“Con có gì không hiểu?’

Chú bé nói:
“Bà ơi, bây giờ không sợ bị bể chén đâu bà!”

“Vì sao?”

“Con thấy chén nhựa có in hình bông hoa cũng đẹp lắm, mình ăn có làm rơi cũng không sợ bể.”

Bà không nhịn được cười.
“Ừ nhỉ, cuộc sống có những cái rất dễ giải quyết. Nhưng ngày xưa, nhất là ở thôn quê nghèo khó, rất khác, con ạ.”

Hai bà cháu tạm quên câu chuyện đó, vì chú bé lại đòi bà kể chuyện khác ngay.

Bà có một kho truyện cổ tích. Chỉ riêng truyện cổ tích Việt cũng đã rất nhiều rồi, nhiều vô cùng, kể cả tháng cũng chưa hết. Nhưng bà gạn lọc, chọn một số truyện để kể cho chú bé, như Ăn Khế Trả Vàng, Sọ Dừa, Sơn Tinh Thủy Tinh, Sự Tích Quả Dưa Hấu, Sự Tích Bánh Chưng Bánh Dầy, Thánh Gióng, Cây Tre Trăm Đốt, Sự Tích Con Muỗi, Sự Tích Con Thạch Sùng v.v… Bên cạnh đó, bà cũng chọn lọc những truyện cổ tích Tây phương, như Cô Bé Lọ Lem, Công Chúa Ngủ Trong Rừng, Đôi Hia Bảy Dặm, Bạch Tuyết Và Bảy Chú Lùn, Cô Bé Quàng Khăn Đỏ v.v…

Bây giờ, chú bé đã lên mười. Đi học về, cơm nước xong, bài vở học rồi, gần đi ngủ chú bé vẫn thích nghe bà kể chuyện. Có những câu chuyện chú bé nghe cả trăm lần vẫn thích, và biết bình luận nữa, đôi khi làm bà phì cười, nhưng cũng lắm lúc khiến bà nghĩ ngợi. Đúng vậy, trẻ con không phải cứ nhét vào tai là chấp nhận. Mỗi một thời kỳ, mỗi một hoàn cảnh sống, ảnh hưởng rất nhiều đến cách suy nghĩ của con.

Lên mười, chú bé được nghe bà kể những truyện ngụ ngôn của Jean de La Fontaine. Bà nói những truyện ngụ ngôn ấy, bà đã được học ở trường, không phải do truyền miệng. Chú bé say mê nghe những chuyện Cô Hàng Sữa, Con Ve Và Con Kiến, Hội Đồng Chuột, Con Nhái Muốn To Bằng Con Bò v.v… Chú bé thích nhất là thấy những con vật đã được mô tả như con người, biết nói, biết suy nghĩ, biết cư xử. Bà bảo những con vật đã được “nhân cách hóa” để mang lấy những tính nết của con người, đó là lòng tham, sự ích kỷ, tính ham chơi, sự cần cù làm việc, lòng thương yêu v.v… Lên mười, chú bé đã có thể hiểu được hàm ý trong những câu chuyện như vậy.

Lên mười! Cái tuổi tưởng như còn bé dại, thật ra là dấu mốc của sự chuyển mình. Bà còn nhớ, lúc bà lên mười, đã ngâm thuộc lòng bài thơ Lửa Từ Bi của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, bài thơ có hơn ba trăm chữ. Mọi người trong gia đình bảo bà là con-bé-già-trước-tuổi. Có lẽ đúng. So với các bạn nhỏ cùng tuổi, bà có “già” thật! Và so với chú bé lên mười này, chắc bà ngày đó còn “già” hơn gấp bội. Bởi vậy, bà tự nhủ đừng bao giờ làm điều gì với con trẻ dựa vào chính mình ngày xưa. Thời đại đổi khác, cảnh sống đổi khác, và mỗi một con người cũng đặc biệt. Không có ai giống ai.

Chú bé cháu của bà vẫn cứ mê nghe nhạc và mê nghe kể chuyện. Cái đầu óc biết phân tích khiến chú bé hay hỏi những câu như:

“Bà ơi, sao gọi là truyện cổ tích?”

“Cổ là xưa, tích là dấu vết, là truyện. Cổ tích là dấu vết xưa, hay truyện xưa, nên người ta hay nói “ngày xửa ngày xưa” tức là những chuyện xảy ra đã lâu thật là lâu, khi mình chưa có mặt trên đời.”

“Bà ơi, trong truyện cổ tích, vật gì cũng biết nói hở bà?”

“Ừ, thường là vậy. Truyện cổ tích thì phải là những gì đã xảy ra từ rất xưa, trong đó con người, con vật như chó, mèo, hổ, sư tử, chim chóc… và cả cây cỏ cũng biết nói, con ạ.”

“Và có những ông tiên, bà tiên làm phép giúp cho mọi vật hở bà?”

“Ừ, như Ông Bụt trong truyện Tấm Cám, hay bà tiên trong truyện Lọ Lem đó!”

“Vậy ai đặt ra truyện cổ tích hở bà?”

“Ừ… thì là… người ta đặt ra.”

“Nhưng người ta đâu có sống vào lúc chuyện đó xảy ra hở bà? Nếu có, thì đối với người đặt ra, nó chẳng phải là truyện cổ tích.”

Chà, chú bé lắt léo, lý sự thật! Bà ngẫm nghĩ, nhưng bà công nhận chú bé đúng. Vậy rồi bà và cháu cũng kể đi kể lại những truyện cổ tích, kèm theo lời bình của chú bé lên mười. Kể đi kể lại hoài, mãi rồi không phân biệt truyện tây, truyện ta, vì nội dung và tình tiết khá giống nhau, như Tấm Cám và Cô Bé Lọ Lem vậy. Hoặc như những truyện ngụ ngôn của La Fontaine, qua lời dịch tài tình của Học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đã trở thành quen thuộc như thể là chuyện kể của người xứ Việt.

Có một hôm, chú bé đặt giả thuyết, nếu trong truyện Cô Bé Quàng Khăn Đỏ, nhân vật chính không phải là Cô Bé mà là một chú bé thì có khác gì không. Rồi chú tự trả lời rằng chú bé ấy sẽ không dại mà nghe lời phỉnh gạt của một con chó sói đâu! Bởi vì… chú là con trai! Bà cũng phì cười vì ý tưởng ngộ nghĩnh đó. Nhưng thật dễ dãi, chú vẫn thích nghe cái đoạn Cô Bé Quàng Khăn Đỏ đi đến nhà Bà Ngoại, lúc đó bà đã bị Chó Sói nuốt tươi vào bụng rồi, và Chó Sói đã leo lên giường, nằm đắp chăn giả làm Bà Ngoại bệnh. Chú thích chí, bắt bà đóng vai Chó Sói, còn chú sẽ là Cô Bé Quàng Khăn Đỏ.

Chú bé hỏi:
“Bà ơi, hôm nay sao tai bà to thế?

Bà giả giọng ồ ề đáp:
“Tai bà to để bà nghe cháu nói cho rõ.”

“Bà ơi, hôm nay sao mắt bà to thế?”

“Mắt bà to để bà nhìn cháu cho rõ.”

“Bà ơi, hôm nay sao miệng bà to thế?”

“Miệng bà to để bà… ăn thịt cháu. Quàm!!!”

Mọi khi, nghe đến đó là chú bé giả vờ co rúm người lại, sợ hãi, hét lên. Nhưng lần này, đột nhiên chú bé hỏi:

“Bà ơi, sao tóc bà dài và đen thế?”

Bà giật mình, tròn mắt, ngạc nhiên, rồi bà cười xòa:
“Bà ấy hả? Bà… không biết. Ờ… chắc Ông Trời cho bà được vậy thôi!”

“Vậy bà đã gội đầu bằng gì hở bà?”

“Thì bằng dầu gội đầu bình thường, con biết đấy!”

Chú bé gật đầu, còn muốn hỏi thêm. Bà ôm chú bé vào lòng, kể:

“Con biết không, thời xưa, có một khoảng đời, bà và nhiều người khác rất khổ. Những vật dụng hằng ngày rất khan hiếm. Ngay cả xà bông cũng không có mà mua. Mua được một cục xà bông thơm cũng là chuyện xa vời. Bà đã từng pha xà bông bột giặt để gội đầu, con nghe sợ không? Bà sợ lắm, vì làm như vậy tóc sẽ rụng hết, da đầu sẽ bong ra, nhưng ở bẩn thì bà chịu không nổi. Vậy mà Ông Trời thương, cho đến tuổi bảy mươi bà vẫn nuôi được mái tóc đen và dài này.”

“Để… thỉnh thoảng bà lại cắt tặng cho các em bé bị rụng tóc hở bà?”

“Ừ.”

“Hay quá bà ơi, giống như truyện cổ tích!”

Bà ngạc nhiên:
“Là cổ tích sao?”

“Con thấy truyện cổ tích kể về những chuyện khó xảy ra.”

Bà gật gù:
“Ờ ha! Bà cũng thấy vậy. Bà cám ơn Trời.”

“Bà hay nói cám ơn Trời.”

“Đúng vậy con à! Bà luôn cám ơn Trời vì đã cho bà những điều khó xảy ra.”

Hai bà cháu cùng im lặng. Bỗng dưng bà nhớ đến một người bạn thân đã viết một bài văn ngắn, nhắc đến truyện cổ tích kể về một người mẹ mất đi để lại một đứa con quá nhỏ, thằng bé phải sống với một bà mẹ ghẻ. Bị bà mẹ ghẻ đày ải và hà khắc, nó đi chăn bò và luôn phải ăn cơm hẩm. Bà mẹ ghẻ thấy nó ăn cơm hẩm mà vẫn mập mạnh, bà cho con ruột của mình đi chăn bò với nó một bữa để theo dõi. Thằng con bà về kể, tới giờ ăn trưa thằng bé kia tới dưới bụng con bò mẹ, kêu "Mẹ ơi!" thì có một mâm cơm ngon lành hiện ra. Con của bà mẹ ghẻ cũng có ăn nữa, giây sữa ra áo đem về cho bà coi. Nghe kể, bà mẹ ghẻ giết con bò, quăng xương ở gốc cây. Tới trưa, thằng bé ra gốc cây ngồi khóc, mâm cơm lại hiện ra. Cứ thế, cho đến khi đứa bé trưởng thành. Khi nó tự kiếm sống được thì nghe trên không có tiếng mẹ nó giã từ.

Người bạn viết tiếp: “Một truyện cổ tích trong rừng cổ tích của tuổi thơ, tôi đọc và quên bẵng đi mấy mươi năm, cho đến khi má tôi mất. Má tôi mất, tôi không khóc, nhưng lòng không sao nguôi ngoai được.

Một khuya kiểng thức chúng, tự nhiên tôi nghe như tiếng má tôi gọi tôi. Tôi bật dậy, bàng hoàng, chợt nhận ra truyện cổ tích có thật. Lòng tôi nhẹ bổng, thương nhớ như nguôi ngoai. Má vẫn ở cạnh tôi, chăm chút tôi như bao giờ…” (1)

****
Tuổi thơ của bà tràn đầy những điều tưởng tượng, do dó mà phong phú. Nhà anh em đông, đồ chơi lại không nhiều, bà tự chế ra các món đồ chơi. Bà cũng biết xếp lồng đèn, vẽ thiệp Nô-en, thiệp Tết. Nào có biết đến sinh nhật hay Nô-en! Rồi bà cũng làm Ông già Nô-en, rón rén đi cho quà những người trong gia đình. Bà cũng làm cô giáo dạy học một đám học trò tưởng tượng. Bà nghĩ, nếu không có tưởng tượng, cuộc sống của con người ta sẽ khô đét, như cái cây không được tưới.

Nhưng tưởng tượng nhiều quá thì có nên chăng? Không nên chút nào! Như bà thuở bé hay mơ mộng nhìn lên mặt trăng và nghĩ về chú Cuội ngồi gốc cây đa, đó cũng là qua những câu chuyện kể. Nhưng khi đã biết về sự thật trên mặt trăng, bà không kể cho các bé nghe về chú Cuội cây đa nữa. Bà kể về những bước chân kỳ diệu của con người đặt lên mặt đất cung trăng. Nói bằng cách nói của chú bé, đó cũng là những điều khó xảy ra. Nhưng điều khó xảy ra đó lại có trong đời thật. Rất tuyệt vời!

Đến lượt chú bé đặt ra những câu hỏi cho bà suy nghĩ.

“Bà ơi, vậy ngoài cái thế giới của bà cháu mình, và thế giới bao la của vũ trụ, còn có thế giới nào nữa không?”

“À… Có! Là cái thế giới mà bà đã làm việc cùng.”

“Là gì vậy bà?”

“Một thế giới của những sinh vật bé nhỏ li ti, mắt thường của bà và cháu không thể nhìn thấy được.”

“Làm sao để thấy?”

“Không khó. Phải dùng kính hiển vi phóng to lên để thấy. Đó là thế giới của vi sinh vật.”

“Nó có khác biệt với mình không hở bà?”

“Không mấy khác biệt. Vi sinh vật cũng sống, cũng cần thức ăn, cần được nuôi dưỡng tốt. Chúng cũng phát triển, cũng già, cũng chết. Có những loại gây hại cho con người, thú vật và cây cỏ. Nhưng đã có những loại thuốc chống lại chúng. Và cũng có những loại vi sinh vật làm lợi cho con người. Thế giới của chúng cũng có tốt có xấu như thế giới của mình vậy,”

“Bà ơi, vậy bà có nhân cách hóa những con vi trùng của bà không?”

“Có chứ! Mỗi khi làm phản ứng về chúng, bà thường thuận theo sở thích của chúng, vì bà hiểu chúng như hiểu tính con người. Con biết không, chúng cũng thích ăn ngọt như mình vậy, nhờ đó mà bà định danh chúng dễ dàng.”

“Hay quá! Con thích học về chúng, như bà vậy!”

Bà ôm chú bé vào lòng, âu yếm:
“Con học về chúng, hoặc con học về vũ trụ, đều hay cả. Con mong muốn, con sẽ được.”

Chú bé lại tỏ vẻ suy nghĩ…
“Bà ơi, con muốn tất cả các bạn nhỏ như con đều được nghe kể những chuyện như bà kể.”

Bà im lặng. Có vẻ như chú bé đang nghĩ đến những điều vượt xa cái thực tại của chú. Bà biết nói sao đây, về những em bé sống ở vùng chiến tranh, về những em bé chưa lớn đã thấy súng đạn, về những em bé sinh ra và lớn lên trong cảnh đói nghèo? Quả thật, thế giới vẫn cần có những Ông Bụt của cô Tấm, những Bà Tiên của Lọ Lem. Vâng, những Ông Bụt Bà Tiên bằng người thật.

****
Bà từng nghĩ chỉ kể những truyện cổ tích cho chú bé vui. Nhưng chú bé đã tỏ ra biết suy nghĩ và lý luận nhiều. Cho nên bà đã thêm vào “kho” truyện kể cho chú bé, một truyện mà bà rất thích: Hoàng Tử Bé (2). Bà đã dùng lối kể đơn giản thay vì đọc những lời dịch cao siêu thâm thúy của Học giả Bùi Giáng. Có khi bà dùng những chữ trong bản tiếng Anh cho dễ hiểu. Chú bé đã tự đúc kết được những ý chính mà tác giả chuyển tải đến cho người đọc, theo cách nghĩ non nớt của chú, và cũng rất đúng với ý muốn của bà.

“Bà ơi! Ai cũng cần có bạn phải không bà?”

“Đúng vậy. Và cần lắm, những người bạn thiết, con ạ!”

“Muốn có bạn thiết, cần phải làm sao?”

“Cần phải tuần dưỡng (3) – Bà dùng chữ “tuần dưỡng” của cụ Bùi Giáng– Quen biết không phải là tuần dưỡng. Tuần dưỡng là tạo nên sợi dây liên lạc, muốn vậy phải dành thì giờ cho nhau, hiểu biết về nhau.”

“Như bà cháu mình phải không bà?”

Bà bật cười:
“Đúng rồi! Nhưng xa hơn nữa, như trong truyện, Hoàng Tử Bé và Con Chồn đã tuần dưỡng nhau, và trở thành bạn thiết, vì họ đã dành thì giờ rất nhiều cho nhau, nói chuyện rất nhiều với nhau, hiểu nhau, và cần nhau.”

“Con hiểu rồi! Bà ơi, ai cũng cần có trách nhiệm với một cái gì đó phải không bà?”

“Phải. Như Hoàng Tử Bé có trách nhiệm vĩnh viễn đối với cái gì chú đã tuần dưỡng một phen. Hoàng Tử Bé và Đóa Hồng bé nhỏ của chú ấy đã tuần dưỡng nhau. Cho nên Hoàng Tử Bé quyết có trách nhiệm vĩnh viễn với Đóa Hồng của chú ấy. Bằng mọi cách, chú phải quay về với Đóa Hồng của mình.”

Thật đơn giản! Chú bé hiểu hết. Bà đã không nói chuyện với chú bé như nói với một cô-bé-già-trước-tuổi. Bởi ý niệm của truyện rất giản dị, nên dễ hiểu. Khi chú bé lớn lên, ở từng thời điểm của cuộc đời, chú bé sẽ hiểu theo những cách khác nhau, và áp dụng cũng khác nhau. Chú bé sẽ hiểu về trách nhiệm, hay nói cách khác là lòng trung thành với một tình bạn, với một tình yêu, với một đất nước, hay với một lý tưởng… là như thế nào.

Tháng 1/2025
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh


(1) Cổ Tích, tác giả: Thuần Chánh
(2) Nguyên tác: Le Petit Prince, tác giả: Antoine de Saint-Exupéry
(3) tame (E), apprivoiser (F)


Cây Mai Của Đồng Nguơn

(Hình: internet)

Ngày ba mươi Tết. Đồng Nguơn.

Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn.

Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?

Trên đường đi, hầu như ở đâu cũng thấy ruộng. Đến những xóm nhà dân thì ruộng được thay thế bằng những sân phơi thóc. Thóc phơi trước nhà, nhiều đến nỗi phơi lấn lên mặt đường. Thóc phơi ở sân bên hông nhà. Và chắc chắn là có cả ở sân sau. Con gái thị thành, lần đầu tiên thấy cái gì cũng lạ, lạ từ cây cầu tre lắt lẻo cho đến vườn chuối, ao bèo. Nhưng bây giờ chị đã thấy quen thuộc. Tất cả ẩn hiện trên đường đi. Và khi xe dừng trước ngõ xóm, đi vào khu dân cư, thì quang cảnh lạ hơn một chút.

Lính đóng trước nhà dân. Chị hỏi thăm. Và đây rồi! Lời dặn của anh thật chính xác, chị đã tìm ra anh. “Tìm ra”, là bởi vì anh đang xắn tay áo giúp bà chủ nhà phơi thóc. Một cảnh rất bình yên.

Anh giới thiệu chị với bà chủ nhà:
- Thưa bác, đây là bà xã của cháu.

Hai người chào nhau. Bà chủ nhà, trạc tuổi mẹ của chị, trầm trồ một cách thật thà:
- Cô… cô đẹp quá!

Chị ngượng nghịu cúi đầu. Anh tự nhiên hơn, khoe ngay:
- Bà xã của cháu là hoa khôi trong trường đó bác!

- Vậy sao? - Tiếng “Vậy sao” đặc trưng của người miền nam. Bà cũng không hỏi là trường nào.

Hai người bước chậm rãi trong sân phơi thóc. Đó là một khoảng sân tráng xi-măng sạch sẽ. Có mùi thơm thoảng nhẹ. Chị nghĩ “mùi thóc lúa”, rồi thầm chế nhạo mình dân thị thành ít biết về chuyện thôn quê. Ba năm qua, kể từ khi anh ra trường Thủ Đức, chị thỉnh thoảng đi thăm anh như thế. Anh đi nhiều nơi ở miền nam. Cô nữ sinh Đà Lạt từ cao nguyên xuống với cảnh ruộng đồng, rồi ra cũng đã khá quen. Có lúc thăm anh tận tiền đồn, nhưng cũng có lúc thăm tại nhà dân, nơi đoàn quân trú đóng chờ di chuyển. Lần này là Đồng Nguơn, một cái tên chưa một lần chị nghe đến, dù là trong bài học Sử Địa. Anh viết thư báo rằng anh không được về nhà ăn Tết. Tết này phải cấm trại. Lệnh cấp trên cho phép người nhà đến thăm. Và thế là chị đã biết Đồng Nguơn.

Họ đi vào nhà. Bà chủ nhà đang lui cui sau chái bếp chuẩn bị đãi họ bữa cơm chiều. Chị trố mắt ngạc nhiên, khi nhìn thấy bên trong nhà là nền đất, trái ngược hẳn với sân xi-măng láng bóng sạch sẽ phơi thóc ngoài kia. Anh hiểu ý, giải thích:
- Ở đây nhà nào cũng vậy, họ coi trọng cái sân phơi thóc, nên tráng xi-măng kỹ lắm! Còn trong nhà thì đa số rất đơn sơ.

Bà chủ nhà bước lên nhà, chỉ vào bộ ván cao, bảo chị:
- Tối nay cô nghỉ ở đây với tôi, không lo gì cả nhé!

- Dạ, cám ơn bác. Mấy ngày cháu ở đây, sẽ làm phiền bác lắm ạ!

- Không sao đâu. Tui có một mình, có cô và các anh đây sẽ vui mà! Con trai tui vài ngày mới về, cháu đi làm ở quận.

Chị hỏi:
- Bác ơi, thóc phơi sau nhà, nhiều quá, một tay bác làm sao xuể ạ?

- Mùa này không mưa, khi con trai về thì nó giúp tui. Nhưng cô biết hôn, mấy ngày nay có các anh đây giúp, tui cũng đỡ lắm!

Bà đưa đôi mắt nhìn anh, tỏ vẻ biết ơn.

Trời tối thật mau. Chị chưa kịp ngắm nhìn trọn vẹn quang cảnh xung quanh.

Những người lính ăn cơm ngoài sân, xong rồi họp lại đàn hát. Anh chị chơi với họ một chốc rồi anh nhắc chị đi ngủ sớm. Bà chủ nhà đã vào mùng. Đèn dầu thắp mù mù. Hai người ngồi ở bậc thềm cửa. Muỗi bay vo ve bên tai. Anh không cho chị ngồi nữa, sợ bị muỗi đốt.

- Ngủ sớm đi em! Sáng mai mình còn nhiều thời gian nói chuyện. Anh sẽ đưa em ra chợ chơi.

Chị “dạ”. Ngày mai còn nhiều thời gian. Chị vẫn có đủ thời gian báo cho anh một tin vui.

**

Mới đâu khoảng bốn giờ sáng. Chị bị đánh thức bởi tiếng lao xao người ta nói chuyện bên ngoài. Bà chủ nhà cũng thức giấc. Họ cùng lắng tai nghe.

Anh đến bên bộ ván, nói khẽ:
- Anh phải đi.

Chị ngồi ngay dậy:
- Anh đi sao?

- Có lệnh hành quân.

Chị ra khỏi mùng, quơ chân tìm đôi giép mang vào. Bà chủ nhà cũng ra, nói vội:
- Để tui gói cho mấy anh vài đòn bánh tét.

- Dạ cám ơn bác.

Anh quay sang chị:
- Tiếc quá, không được ăn Tết với em. Em về Sài Gòn ăn Tết với chú thím vậy nhé!

- Dạ.

- Hay là em ở lại đây chơi với bác một ngày, mai hãy về.

- Dạ.

- Em đừng buồn nhé!

Rối anh ôm siết lấy chị. Chị muốn nói cho anh về tin vui. Nhưng chị tự ngăn mình lại. Anh sắp ra lại vùng hành quân, nhiệm vụ chắc sẽ rất nặng nề. Anh sẽ có nhiều việc để lo. Thôi, cứ để về nhà, viết thư sau cũng được.

Toán quân đã đi. Nhanh gọn như khi họ đến. Bà chủ nhà không ngủ lại được, ra sau bếp nhóm lửa. Chị đứng một mình trong gian nhà thênh thang.

**
Đứng trong sân phơi thóc, chị thấy rõ tấm lòng trân trọng của người dân thôn quê đối với “hạt ngọc trời cho”. Họ đã dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho việc trồng, gặt, phơi lúa. Bà chủ nhà, tóc đã pha sương, vừa xới những hạt thóc lên, vừa kể cho chị nghe chuyện gia cảnh của bà. Chồng chết khi bà mới sanh đứa con trai, bà ở vậy nuôi con. Phước cho bà, đứa con trai lớn lên cũng ngoan, chăm làm, nên bà không lo lắng gì nữa. Có mấy công ruộng bà cho người ta thuê, bà cũng đủ ăn với số thóc lúa phần bà có được. Trong khi nghe bà kể chuyện, chị dõi mắt nhìn phía vườn cạnh sân phơi thóc. Là một vườn mai. Sắc hoa vàng đã ánh lên một vùng. Mồng một Tết, nhà nông có người cũng vẫn ra ruộng. Nhưng sắc xuân về chan chứa không lầm vào đâu được. Bỗng đâu có vài tiếng nổ vang lên rời rạc. Bà chủ nhà cũng như chị, nghiêng tai lắng nghe. Hai người nhìn nhau. Họ ngầm nói qua ánh mắt: không phải pháo, mà là tiếng súng.

Chị sẽ không thể ở lại đây ăn Tết với bà chủ nhà như anh dặn. Anh không có mặt nơi này. Chị xin phép bà chủ nhà để về lại Sài Gòn. Bà không ép, gói ghém cho chị hai đòn bánh tét. Bà ân cần nói:
- Cô cẩn thận nghen! Có bầu, đi đứng nhẹ nhàng, đừng xách nặng.

Chị cảm động. Mình không có nói gì với bà, vậy mà con mắt của người phụ nữ dạn dày với cuộc sống đã cho bà biết. Vâng, cái điều đã làm cho chuyến đi thăm chồng lần này của chị có một điều đặc biệt khác với những lần trước. Cái điều chị muốn kể cho anh nghe nhưng không đủ thời gian. Cái điều mà chị sẽ phải viết trong thư mà thôi.

Chị như lênh đênh trong cái không khí Tết ở miền quê, nhưng lại không giống Tết. Chị giống như người lữ hành cô độc nhiều hơn. Trên phà Mỹ Lợi về thành phố, màu vàng của hoa mai vẫn còn dịu dàng vương vấn. Tiếng pháo đốt lén rời rạc vang lên như từ mọi phía của mặt sông. Và như có khói bay vào mắt.

**
Ba mươi tháng tư. Đồng Nguơn.

Anh đứng trong sân sau. Sân phơi lúa thóc. Không có thóc. Bà chủ nhà đã gom hết thóc đi xay và trữ gạo vào nhà, như để chuẩn bị cho những ngày mưa tới. Mảnh sân trơ trụi như không có sức sống. Nhịp sống cũng có vẻ đang dừng lại thật. Anh đau đớn như bị ai tước đoạt một cái gì. Những ngày cố gắng chống chọi bằng tàn hơi rồi cũng phải chấm dứt. Anh cho đồng đội giải tán. Họ không còn thấy lại nhau. Mỗi người đi về trú quán của mình. Trên con đường nhỏ trước khi vào ấp Đồng Nguơn, bày ra một cảnh anh chưa từng bao giờ nghĩ đến: áo quần giày mũ của lính vương vãi khắp nơi. Anh cắn chặt môi, cố gắng giữ vẻ bình tĩnh. Bà chủ nhà, vẫn ân cần như trước, dọn cơm cho anh ăn. Bà ái ngại hỏi:
- Anh tính sao?

- Dạ, cháu về Sài Gòn, ra trình diện ạ!

- Phải. Ai cũng vậy hết. Tui nghĩ chắc không sao đâu!

- Dạ, chắc không sao…

- Còn gia đình, còn vợ con, anh hãy ráng…

- Dạ, cháu cám ơn bác, cháu sẽ ráng.

Anh nuốt miếng cơm vào họng. Cơm mặn đắng.

Khi chỉ còn một mình ngoài vườn, anh đấm mạnh nắm tay vào cột gỗ. Máu chảy. Anh để dòng nước mắt uất hận chảy tuôn.

**

Và như thế, như những người thất trận khác, anh trình diện, rồi đi vào trại “cải tạo”. Anh trấn an bà con đừng lo nghĩ nhiều cho anh. Chị đã theo gia đình đi về Đà Lạt sau mấy tuần tạm trú ở Sài Gòn “lánh giặc”. Bây giờ thì hết chỗ để lánh. Đâu đâu cũng là “họ” rồi!

Anh đi “tù cải tạo” hơn hai năm, rồi vì bệnh nặng nên anh được cho về. Bà con Sài Gòn mừng vui, lo lắng cho anh, hỏi anh “tính sao”. Anh đâu biết tính sao. Cuộc đời đã xoay chuyển không ngờ. Người thanh niên lớn lên với bao nhiêu hoài bão xây đắp, bây giờ như đứng trong một cái hố sâu của thất vọng. Anh vẫn còn trẻ quá mà! Hai mươi bảy tuổi. Anh chưa biết “tính sao”.

Trở về Đà Lạt. Gia đình của cha mẹ anh bị “kiểm kê” mất hết tài sản vì có một cửa tiệm trên chợ, nên được gọi là “tư sản mại bản”. Ba anh thất chí. Anh thất chí. Hai cha con vác cuốc đi làm rẫy. Nhiều người Đà Lạt khi đó cũng đi làm rẫy. Như một cái “mốt” chăng? Không hẳn thế. Mà là một phương tiện để sinh sống. Không bán được khoai củ như nhà vườn chuyên nghiệp thì cũng “có cái để ăn”. Thời gian này người dân cao nguyên thiếu gạo hơn cả cái thiếu của miền xuôi. Gạo bán kèm với thức ăn độn là khoai sắn theo “tiêu chuẩn đầu người”. Có nhà ăn su ăn sú trừ cơm. Anh tận dụng chiếc xe gắn máy cũ để chở rau chở sú về nhà. Nhưng ba của anh thì muốn đi bộ. Ông thường mang cái túi lớn trên vai, oằn lưng vác về những hoa màu thu được. Có khi ông gánh. Ông bảo thời chạy “tản cư” năm 1945 ông cũng gánh. Bây giờ ông trở lại gánh. Ông chủ tiệm với ông làm rẫy là một. Ông cuốc bộ đến quen, nhất quyết không đi xe. Cứ như vậy cho đến ngày ông chết.

Anh càng thất chí hơn. Anh trở về phố. Hai vợ chồng thuê nhà ra ở riêng. Thằng con trai kháu khỉnh lớn nhanh. Chị đã nghỉ học lâu nay, ra chợ bán buôn . Nói “bán” cho hay ho, chứ cái gọi là gian hàng của chị là một khoảng sân nhỏ bên hông chợ, trên đó chị bày một ít rau để bán. Những chanh, những hành, những ớt. Thế thôi. Cái “gian hàng” oai phong như thế vẫn phải đóng tiền chỗ mỗi ngày. Nhưng Trời thương, nhờ cái mảnh gian hàng đó mà chị trang trải được những chi phí cho gia đình. Cô nữ sinh hoa khôi của trường nữ trung học áo xanh đã đổi khác rất nhiều, đã nhuốm phong sương đúng theo nghĩa đen, vì sương và gió sớm của xứ lạnh đâu có tha cho làn da của một ai. Buổi sáng chị ra chợ sớm đón những nhà vườn mang rau ra bỏ mối, ngồi bán suốt ngày cho đến tắt mặt trời, tối đến lo cơm nước, dọn dẹp nhà cửa, đón con từ bà nội về. Chị vẫn mỉm cười, không một lời than.

Nhưng anh thì mắc bệnh trầm cảm. Anh đã không quen được với cảnh đời mới dù anh luôn dặn mình hãy cố gắng. Đêm ngủ anh thường giật mình ngồi bật dậy, nghe ùa đến trong anh nỗi xót xa thương nhớ đồng đội. Anh nhớ những con suối, những khu rừng, những làng mạc thôn ấp. Anh nhớ cảnh nhường nhau từng bịch gạo sấy, từng điếu thuốc hút một nửa. Rồi anh thảng thốt trong một giấc mơ có cảnh các anh em đồng đội vội vàng cởi bỏ quân phục, tìm đường chạy mỗi người một phương. Anh vẫn còn nghe rất rõ giọng nghẹn ngào của người lính gần gũi mình nhất: “Thiếu úy! Em sẽ tìm lại Thiếu úy.” Anh nhớ cái nắm tay chảy máu của mình. Anh lại hãi hùng với ký ức những ngày trong tù cải tạo. Những lời thuyết giảng xoáy vào tai. Những lời nhiếc móc. Những ngày nắng lửa lầm lũi đi lao động. Những buổi mưa dầm ngồi trú ở một góc nào đó nhớ nhà, nhớ cha mẹ vợ con. Anh đã bị một hậu chứng khó chữa lành. Anh không dễ dãi đi tìm quên ngoài quán nhậu. Anh tìm vào một thế giới có nhạc, có thơ văn. Nhưng tất cả đều không giúp gì được cho anh.

Một ngày, người lính cũ tìm đến nhà anh. Thầy trò mừng tủi. Người lính vẫn gọi anh là “Thiếu úy”. Và thật cảm động, anh ta tặng “Thiếu úy” một chậu mai vàng. Cây mai Đồng Nguơn, vì anh ta là người dân miền ấy, đã được anh “rinh” lên xe đò đem đến tận đây để tặng người chỉ huy cũ của mình.

**
Cây mai trồng ở cao nguyên, vẫn sống nhưng không nở hoa. Bao nhiêu mùa xuân vùn vụt trôi. Mỗi Tết đến, anh trông chờ cây mai nở những nụ hoa vàng. Nhưng nó sống èo ọp, thoi thóp như một cơ thể héo úa. Người ta bảo cây mai nếu được chăm sóc tốt có thể sống cả trăm tuổi. Anh quyết định cho nó ra ngoài đất, không để trong chậu nữa. Có người anh em bạn rủ đi làm rẫy dưới chân đèo Prenn, anh đem cây mai về trồng dưới đó.

Anh chọn làm rẫy, sống như một người ẩn dật. Chị thì không muốn. Chị chọn sống ở Đà Lạt, ngay phố chợ để buôn bán. Chị đã sắm được một cửa tiệm nhỏ bán len và đan áo. Anh đi đi về về. Bề ngoài, trông họ vẫn là một gia đình bình thường.

Đứa con trai lớn lên thành một cậu thanh niên tuấn tú. Nhưng cậu có lối sống trầm mặc. Cậu thường tìm mua những mẩu đá quý, và ngồi một mình yên lặng hằng giờ, khắc lên những mẩu đá ấy nào tượng Phật, nào tượng Chúa, nào tượng thần tiên. Cậu thiếu sự gần gũi với cha. Hai mươi mấy năm, hai cha con chỉ nói với nhau những câu thật đơn giản. Mà anh cũng không biết có cái gì để chia sẻ cùng con. Bởi anh còn mang một tâm bệnh chưa chữa lành.

**
Chị khóc khi đọc những dòng chữ tuyệt vọng của anh:

“Có thể anh sẽ chết. Như bao người tuyệt vọng. Cây mai anh trồng mãi chẳng nở hoa. Anh không quên được quá khứ. Anh không quay lưng với mình. Nhưng anh hằng phải đối diện với những kẻ lãng quên, những kẻ quay lưng. Có lẽ anh sẽ chết. Một ngày nào cây mai chết vì không muốn nở hoa, anh cũng sẽ chết”.

Cả tuần nay anh không về nhà. Tết đến nơi rồi! Một mình chị lo “cúng quảy trong nhà trong cửa”, nói theo cách quen thuộc của người mình. Đứa con đi với bạn bè vào núi tìm mua đá quý. Chị nghe nỗi buồn xót xa bào xé trong lòng. Đã có ai đó nói rằng một người buồn quá có thể “vỡ tim”. Có một anh bạn đã chết vì nhồi máu cơ tim và chết trong giấc ngủ không ai hay biết. Anh rồi cũng thế sao? Chị hoảng hốt. Đứa con về nhà sáng mồng một. Hai mẹ con đèo nhau trên chiếc Honda, xuống rẫy của anh.

Chân đèo Prenn. Rẫy nằm sâu bên trong, cách đường lộ lớn một cây số. Thằng con chở mẹ trên đường đất đỏ gập ghềnh. Họ đến trước sân nhà, một ngôi nhà nhỏ như mọi cái nhà quanh đây dựng sơ sài để trông chừng vườn rẫy. Chị như rú lên khi trông thấy cây mai ủ rũ xơ xác, khô đét. Bao nhiêu năm nay nó vẫn sống tuy rằng sống buồn sống héo. Bây giờ nó muốn chết rồi chăng? Chị chạy như bay vào nhà. Ngôi nhà đơn sơ chẳng mấy khi khóa cửa. Chị sẽ gặp anh như thế nào đây? Ôi, anh ơi!..

- Chúc mừng Năm Mới!

Chị giật mình. Anh trong bộ đồ tươm tất, trông như sắp sửa đi đâu. Chị bàng hoàng. Anh nói tiếp ngay:
- Xin lỗi em. Anh chuẩn bị về trên nhà mình đây! Hôm nay là Tết mà! Mình về ăn Tết chứ em?

- Dạ…

- Con chở em xuống đây à?

- Dạ, hai mẹ con chạy xuống với anh. Em sợ anh…

- Sợ anh buồn à?

- Không… Anh ơi, cây mai héo queo rồi!

Anh thở dài:
- Phải. Mai vàng khó ra hoa nơi miền rừng núi lạnh lẽo. Ăn tết ba ngày xong mình cùng đi Đồng Nguơn đi em! Đi thăm thằng lính cũ của anh. Đi thăm ngôi nhà có lần em đã ghé đấy! Bà chủ nhà chắc bây giờ lụm cụm lắm rồi. Vườn mai của bà chắc nở đẹp phải biết. Phải đi Đồng Nguơn thôi! Thằng con cũng đi nữa. Anh có nhiều điều để chia sẻ với nó.

Nước mắt tràn đầy trong mắt chị. Người con gái hoa khôi trong trường nữ trung học áo xanh, bao năm dạn dày tần tảo vẫn sáng lấp lánh vẻ đẹp nhu lành. Chị gật đầu thật nhanh như sợ anh đổi ý, như sợ những gì mình nghe thấy chỉ là trong mơ.

Trước cổng, cây mai vàng xơ xác như sống lại. Cây mai của Đồng Nguơn.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
 

Blog Archive