Showing posts with label Mai Hồng Thu. Show all posts
Showing posts with label Mai Hồng Thu. Show all posts

Thursday, July 12, 2018

Facebook




Image result for facebook images


Chơi Facebook lợi, hại, khiến phúc bay ra hay vào tùy cách sử dụng của riêng từng cá nhân.

Nhờ Facebook, tôi giữ liên lạc với người ở Việt Nam miễn phí, thường xuyên và nhanh hơn. Tôi có cơ hội nối rộng vòng tay cùng bạn văn Việt khắp năm châu. Tin tức Facebook lan tràn nhanh chóng và chi tiết hơn bất cứ phương tiện truyền thông nào nếu bạn biết kết nối đúng cách. Người ta tìm được thân nhân và bạn cũ qua Facebook và các mạng lưới xã hội khác. Mạng xã hội kéo chúng ta đến gần nhau.

Trong thời gian sinh hoạt cộng đồng Việt vùng Bay, chúng tôi dùng các mạng lưới xã hội để giữ liên lạc và chia sẻ những hình ảnh sinh hoạt chung. Bắt đầu từ myspace.com, chúng tôi kéo sang Facebook khi nó bắt đầu thịnh hành. Nhiều người đua nhau tham gia các trò chơi được giới thiệu trên Facebook như Candy Crush và Farmville. Họ thường xin tôi chia điểm nhưng rất tiếc tôi không tham gia. Có người còn bỏ tiền mặt ra mua điểm để được nhảy các bậc thang nhanh hơn, giảm bớt thời gian và tâm huyết tự làm. Họ bỏ tiền mua điểm để tậu thêm nhà và nông trại ảo ở Farmville rồi khoe mình giỏi.

Già trẻ lớn bé đều đua nhau chơi và ghiền game Facebook.

IT ở sở bắt đầu cấm Facebook trong giờ làm. Tuy trang Facebook chuyên môn cũng giúp học sinh liên lạc trao đổi bài tập và các bạn cùng ngành chia sẻ kinh nghiệm, hội họp bàn công việc. Facebook video call giúp ta giao tiếp tốt hơn, kể cả họp hành qua mạng với những người ở xa.

Chơi Facebook không cẩn thận dễ rước phiền phức không cần thiết. Tự do ngôn luận trên Facebook và các mạng lưới xã hội là con dao hai lưỡi. Người chơi dao cần học hỏi kinh nghiệm và kiến thức để phát huy chức năng hữu ích, giúp khả năng kết nối, giao tiếp trên không gian mạng được tốt hơn. Lúc Facebook mới thịnh hành, tôi thấy sự riêng tư cá nhân dễ bị soi mói nên rất dè dặt, không để ý nhiều.

Mọi hoạt động trên không gian mạng giúp người sử dụng khắp năm châu học hỏi nhiều kinh nghiệm đáng quý, xích lại gần nhau và trao đổi thông tin chớp nhoáng. Chọn lọc thông tin hữu ích đúng cách cũng cần nghệ thuật và kinh nghiệm được học hỏi, gạn lọc,và tích lũy hàng ngày. Khi quyết định chơi tiếp Facebook, tôi đặt ra những khuôn khổ nhất định để tránh phiền toái. Vài tháng đầu tôi vẫn ngờ nghệch chưa rành các chức năng của nó nên chỉ đăng thơ, truyện chia sẻ với bạn văn khắp năm châu.

Theo tôi, học xài Facebook thành thạo tốn rất nhiều thời gian và tâm huyết. Có người thường đăng liên tục bốn năm bài thơ, dán cả chục tấm hình selfie, ăn canh ăn cá, ăn gì ở đâu, cũng bày biện rồi chụp hình khoe, live stream, buôn bán tấp nập. Nhiều người, khi du lịch ở đâu, với ai, đi tiệc, tham gia chương trình gì cũng chạy lên Facebook báo cáo với cộng đồng mạng. Kẻ xấu nhờ vậy mà chờ dịp ai đó đi đâu xa nhà vài ngày là kiếm cách lẻn vào nhà trộm đồ hoặc tệ hại hơn là mướn luôn một chiếc xe Uhaul tới dọn hết đồ y tỉnh bơ như mình là chủ nhà. Một lần tôi đến một tiệm kem ngon nhất vùng xếp hàng chờ mua kem ăn với bạn, thấy một cô gái người Hàn cầm cây kem giữa trời nóng, xoay tới xoay lui nhiều lần để selfie, chắc là để đăng lên Facebook hoặc diễn đàn khoe. Khi đi xa, tôi chỉ thường dùng chức năng check in của Facebook báo bình an với gia đình và bạn bè, thỉnh thoảng mới dán hình.

Kẻ xấu lợi dụng Facebook giả dạng, mượn hình và đăng thông tin giả để gạt xin thẻ điện thoại hoặc mượn tiền người nhẹ dạ. Kẻ gian nói dối rất tầm thường nhưng đã có rất nhiều người cả tin bị lừa tiền, lừa tình qua Facebook. Tôi cũng bị lừa bấm vào link thử xem hình của người bạn thân lâu ngày không gặp. Kẻ giả mạo liền nhảy vào cướp Facebook của tôi và định đổi mật mã. Tôi nhanh trí thấy email nháy đèn báo động mật mã đang thay đổi và thông tin có ghi số vùng ở Việt Nam. Tôi lanh tay ngăn lại không bị mất trang Facebook của mình. Sau đó tôi vẫn thấy có nhiều kẻ giả mạo từ Việt Nam nhắn tin lừa tôi nhiều cách. Thỉnh thoảng tôi cũng đối đáp vài câu xem họ muốn gì. Nhưng sau đó tôi thấy phí thời gian nên không xài tin nhắn của Facebook trừ vài trường hợp đặc biệt. Tôi kỵ nhất là những người ngoại quốc gởi thư kết bạn. Tôi cũng không kết bạn với đồng nghiệp vì thấy không cần thiết. Bỏ hình và clip lên Facebook, Youtube để người quen miễn phí xem mọi lúc mọi nơi, cũng tiện lợi lắm.

Nhờ Facebook và Youtube mà nhiều người xấu có hành vi đáng chê bai và kết tội đã bị cộng đồng mạng, luật pháp, và đạo đức xã hội trừng trị thích đáng. Một lần tôi đi ăn chè Bamboo gặp một người quen đứng lớ ngớ nên mời cô ngồi chung. Cô đang giữ bàn trước chờ bạn, nhưng bị một nhóm người dành mất bàn một cách mất lịch sự và thản nhiên. Tôi đùa là sao cô không mách ngay để tôi quay phim bỏ lên mạng, nhờ xã hội mạng phán quyết giùm ai đúng ai sai. Một số người sẽ phải để ý hạnh kiểm trước công chúng nhiều hơn vì không biết sẽ được nổi tiếng bất cứ lúc nào. Truyền thông miễn phí và nhanh cực kỳ của các mạng lưới xã hội có một sức mạnh khó lường trước được. Những kẻ kỳ thị chủng tộc và ngông cuồng cũng bị tẩy chay một cách dễ dàng hơn. Tự do ngôn luận đúng và truyền thông miễn phí giúp chúng ta tìm lời công đạo hữu hiệu và nhanh chóng hơn.

Chơi Facebook phải biết nhấn like và comment hợp lý. Nhiều người thích like nhưng tôi thích comment hơn vì được học hỏi và trao đổi kinh nghiệm cụ thể. Nhiều người tìm đủ cách để được like và hỏi tôi tại sao không like ủng hộ. Tôi lịch sự vào like thử, thấy không vui vì khi nào tôi thích tôi mới like được. Tôi lặng lẳng hủy kết bạn với những người tạo áp lực khi mình không ủng hộ họ thường xuyên. Khổ nổi tôi lo tập làm thơ nên cũng đăng lên thường xuyên và cũng cần đáp lễ với những bạn đã ủng hộ mình. Tôi mở tên các bạn đã like và xem thử họ là người như thế nào, kết thân và thích tôi vì lý do gì. Khi bạn có trên 100 like thì số người đọc phải là gấp mấy lần vì không phải ai đọc cũng like. Dù like là cách ngắn gọn nhất để tỏ lòng khuyến khích, hợp ý nhưng vẫn tốn thời gian lắm.

Tôi cố gắng like đáp lễ họ nhưng cũng gặp nhiều khó khăn. Nhiều người post đủ thứ trên đời, quá trời post ào ào như mưa rào chưa kịp vuốt mặt đã có post khác. Để kéo xuống tìm post người quen, hoặc vào từng trang của họ tốn quá nhiều thời gian nên tôi đành ngậm ngùi bỏ cuộc và mong họ thông cảm. Tôi càng cảm động khi họ vẫn bỏ tâm tư và thời gian quý báu thường xuyên like, comment những gì tôi đăng dẫu chưa quen thân, và ít like họ. Sau một thời gian giao lưu với một số bạn văn dễ thương, tôi mới đăng hình và các hình ảnh sinh hoạt để gần gũi với họ hơn.

Thông tin cá nhân tôi điền vào Facebook thường là thông tin cũ, chung chung, giữ kín sự riêng tư cần thiết. Do đó, khi nghe tin người sáng lập Facebook để lộ thông tin người tiêu dùng, tôi biết mình không bị ảnh hưởng nhiều. Mở email, Youtube, Facebook hay Google account, tôi không điền thông tin cá nhân chính xác 100% để tự bảo vệ mình.

Mạng xã hội dùng để kết nối gia đình, bạn bè, đồng nghiệp thường được xếp đặt vào một hệ thống thu thập dữ liệu để điều tra thông tin người dùng được sử dụng với nhiều mục đích kinh doanh khác nhau. Khi ta điền thông tin để mua bán trên mạng hoặc điền đơn xin bất cứ thứ gì như xin thẻ tín dụng, xin việc làm, mua bán hàng hóa...vân vân..thì những thông tin đó đều được lưu trữ lại để được tính toán các con số ước đoán về dân cư, mức tiêu thụ, khách hàng tương lai, thị hiếu và dự đoán chi tiêu của từng cá nhân. Mọi dữ liệu thu thập đều có tính cách tượng trưng dự đoán, và dùng vào mục đích quảng cáo thương mại là chính. Đại cương là chúng không ảnh hưởng đến nhân quyền của dân cư mạng.

Tôi không thích những người núp phía sau màn hình, đeo mặt nạ hành xử và kết nối dưới hình thức là một người ảo, với mục đích lừa gạt hoặc không hề chia sẻ thật lòng chút tin tức gì về họ. Cộng đồng mạng là một nơi rất nguy hiểm để kết nối, trao đổi niềm tin và hy vọng. Nhờ cẩn thận, tôi học được nhiều kinh nghiệm tốt và điều hay khi kết nối trên mạng. Cộng đồng mạng tạo cơ hội chọn lọc sự giao tiếp với những người cùng sở thích, quan niệm sống, ngành nghề và mục đích sinh hoạt. Tôi đặt thời gian cố định vào Facebook không hơn nửa tiếng, tránh mọi giao du và chung đụng vô lý. Kết bạn nhiều để có thêm người ủng hộ cũng tốt nhưng đôi khi cũng phiền vì người ta gởi tin nhắn lung tung khó kiểm soát. Quá nhiều người post lung tung nên chọn lọc điều mình cần xem cũng không dễ.

Hủy kết bạn hợp lý cũng rất phiền. Tôi đã thử nhiều cách để chọn lọc lại nhóm bạn Facebook nhưng vẫn bị rối tung hết cả lên, nên đành phải chọn phương cách khác.

Tôi lập thêm một Facebook mới để giao lưu với bạn văn và độc giả. Tôi tôn trọng quyền tự do ngôn luận của chính mình lẫn người đối diện, không hợp liền tránh xa. Tôi tập nói lời hòa nhã trong mọi trường hợp. Facebook và diễn đàn cho tôi một số lớn lượng độc giả giúp tôi có thêm nguồn cảm hứng và đam mê rèn luyện ngòi bút của mình. Tôi gom kinh nghiệm chơi Facebook của mình gởi trong bài thơ dưới đây:

Facebook là cái chi chi? Mà sao lắm bạn ngồi lì mọi nơi, Facebook là một góc đời, Phản ảnh tâm lý người chơi bao phần... Có người phơi cả nguyên lưng... Có người he hé đưa chân ra thò, buồn, vui, được, mất, lấy, cho.... Facebook nguy hiểm lắm trò gian manh, "Buôn lê", gạt gẫm đã đành... Có khi “chém gió” không phanh/ chẳng huề, Chơi game, đời sống lề mề... Lẳng lơ, tán tỉnh, thả dê....suốt ngày... Facebook còn lắm điều may, Là dòng kết nối vòng tay gia đình, Giúp ta tìm cõi anh minh.... Người cùng chí hương, giúp mình thẳng ngay Du lịch bằng ảnh đó đây, Giao thiệp rộng rãi, chung tay dựng gầy... Tặng nhau lời đẹp ý hay Cùng nhau học hỏi: đêm ngày, năm châu. Truyền thông miễn phí làm đầu, Nhắc nhau giữ đạo bền lâu giữa đời, Đừng chơi Facebook khơi khơi, Mà nên truyền bá những lời thánh nhân... Chớ nên thả lỏng, lừng khừng... Nên chống tư tưởng hại dân, hại người. Tiếng ta, ta nói người ơi, Đừng nên dùng tiếng đười ươi hát tuồng! Tư duy độc lập gắng luôn... Xin cùng góp sức làm gương để đời!. Học chia kiến thức nơi nơi. Đời không uổng phí, đấy lời dân gian!

July 7th 2017

Gần đây, Cộng Sản Việt Nam vừa thông qua luật an ninh mạng. Họ chỉ thích thông tin một chiều, bưng bít sự thật và kiểm soát dư luận từ những chi tiết nhỏ nhặt nhất. Việc trao đổi tư duy, chia sẻ những tin tức nguy hại đến sự suy đồi đạo đức xã hội và sai trái của chính quyền là một mối nguy cho Cộng Sản. Truyền thông miễn phí nhanh cực kỳ như Facebook thật sự là kẻ thù khiến phúc của Cộng Sản bay loạn xạ lên. Quốc Hội Việt Nam nắm ngay thời cơ dân cư mạng phản đối vụ Đặc Khu Kinh Tế, liền đặt ra Luật an ninh mạng để theo dõi từng chữ từng lời dân cư Facebook và Youtube chia sẻ với nhau. Từ nay, chúng sẽ tiếp tục tiến trình tẩy não người dân gắt gao hơn.

Cộng Nô và Trung Cộng đã dàn trận từ lâu để lùa dân Việt vào trong cái giếng tối tăm, hầu mong dễ bề khủng bố và kềm kẹp lòng chính nghĩa từ trong trứng nước. Dân cư mạng đang xôn xao về hai dự luật trên, ùn ùn cùng người dân biểu tình trên khắp miền đất nước. Cộng sản chơi luật rừng, đang kéo dân tộc ta trở về thời đại “đồ đá” một cách trơ trẽn, lì lợm nhất. Những “dư luận viên” trên mạng, say mê rình rập nhả ra những câu nói ấu trĩ ngu muội nhất để bảo vệ Đảng, niềm tin và lợi ích của họ.

Nhờ Facebook và các truyền thông miễn phí trên các mạng lưới xã hội mà dân Việt bắt đầu tỉnh thức dần. Khoảng mười năm trước Việt Cộng đã tìm cách chặn Facebook nhưng cư dân mạng vẫn tìm cách vượt qua. Người sử dụng Youtube trong nước hiện nay cũng tăng lên vượt bực. Chính quyền mị dân bắt đầu mất uy tín với thế hệ trẻ và người dân khắp nơi. Quốc Hội bị Trung cộng giật dây và gây áp lực nên thông qua luật an ninh mạng để cắt đứt cây cầu kết nối dân Việt với sự tiến bộ của toàn cầu. Chúng cố gắng vơ vét và bòn rút hết tài nguyên quốc gia với những lời ngụy biện vô duyên nhất trên đời.

Nhân quyền và tự do ngôn luận bị xâm phạm trầm trọng tại Việt Nam. Các bài hát của nhạc sĩ Việt Khang đang vang lên trên khắp miền đất nước hình chữ S.

Đây là cũng là lúc chúng ta nhận ra những kẻ tham danh hám lợi, thờ ơ lãnh đạm với vận nước. Họ phân bua rằng mình không muốn dính líu đến chính trị. Họ quên mất rằng chính trị có tầm ảnh hưởng kinh tế sâu sắc đến mọi tầng lớp xã hội, và họ cũng sẽ là nạn nhân trong tương lai rất gần. Trung Cộng âm mưu cài đặt luật an ninh mạng để tiến vào thị trường hệ thống mạng Việt Nam về cả hai mặt chính trị lẫn kinh tế. Cuộc xâm lăng thầm lặng bằng kinh tế đã ngấm dần vào đất nước ta qua nhiều năm nay.

Hiện tại, mạng lưới internet bên Việt Nam đã bị khống chế và kềm kẹp gay gắt. Mọi tin tức liên quan đến biểu tình và phát biểu ý kiến phản đối điều bị bưng bít và soi mói đủ điều. Họ hy vọng sẽ ép người tiêu dùng sử dụng hệ thống mạng lưới xã hội của Trung Cộng như là Weibo, Wechat, Renren, Youku Tudou, Dianping, Baidu, và Douban trong tương lai. Theo tôi, luật an ninh mạng là chiến lược một ná hai chim vừa khống chế tư duy chính nghĩa, vừa đuổi được thế lực cạnh tranh kinh tế ra khỏi thị trường Việt Nam.

Người Việt sử dụng Facebook ước đoán là 53 triệu. Và 70 phần trăm dân số người Việt lên mạng hàng ngày....Đây là một số lượng khách hàng khá lớn, một mối lợi khó bỏ qua.

Facebook, Google chỉ là một biểu tượng đặc trưng của sự văn minh hóa toàn cầu. Người dân Việt nhờ đó mới chuyển mình khỏi cái kén mị dân. Nhưng họ đã bị bọn cầm quyền ngang ngược tìm cách ngăn chặn và kềm kẹp lại. Ước mơ nhỏ của tôi là viết cho quê hương chưa kịp vào quỹ đạo, cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Tôi chưa bỏ nhiều thời gian quảng bá trên Facebook nên cũng chẳng mất mát gì. Rồi tôi sẽ nghĩ ra phương pháp khác khi cần. Buồn thay cho dân Việt, nay phải chịu cảnh “gà què ăn quẩn cối xay”, sống với nhóm người thờ ơ lãnh đạm hoặc đã bị tẩy nảo thật là khổ. Nhiều người Việt hải ngoại cũng rất khó chịu khi thấy bọn tư sản đỏ luôn tìm cách len lỏi vào cộng đồng Việt để lôi kéo và gây chia rẽ mỗi khi có dịp. Tôi tránh bớt giao du với nhiều người, một phần cũng vì lý do này.

Chương trình hát cho quê hương ở Grand Century Mall thứ Ba tuần trước và các chương trình ở Nam

Cali, cho thấy người Việt hải ngoại vẫn luôn hướng về quê hương. Phần lớn chúng ta vẫn đồng hành với người dân trong nước trong mọi hoạt động đấu tranh chống tà quyền, bán nước. Những chương trình hát cho quê hương và thấp nến nguyện cầu vẫn đang tiếp diễn bên cạnh những buổi biểu tình khắp năm châu. Cộng đồng người Việt hải ngoại đã vận động giới truyền thông và chính quyền Mỹ can thiệp giúp trả tự do cho Will Nguyen, người Mỹ gốc Việt bị bắt vì tham gia biểu tình ôn hòa trong nước.

Hãy tiến lên hỡi đồng bào tôi ơi, cùng xuống đường và cùng lên mạng chống kẻ bán nước cầu vinh. Những người giỏi chữ xin nhín thời gian viết cho quê hương, cho thế hệ trẻ, và cho cả những kẻ chưa tỉnh thức hiểu đúng về lịch sử và lòng yêu nước thương dân của tiền nhân.

Facebook, xin hãy gom phúc khắp năm châu, gởi về giúp dân tộc Việt Nam đáng thương mau thoát khỏi quốc nạn mất nước, lưu vong ngay trên quê cha đất tổ của mình.
 
Mai Hồng Thu

Monday, May 21, 2018

Em - Mộng Thường




Cô tên Nguyễn thị Thường, nhưng từ ngày sang Mỹ, được cô em gái gọi là Mộng Thường, chắc là để tăng phần thơ mộng và có vẻ tương xứng với trình độ của cô em hơn.
 
Mộng Thường năm ấy 36 tuổi. Cô cao 5’1 nặng 145 pounds. Cô có đôi mắt tròn sáng, mũi sửa cân đối. Nhan sắc cũng vào loại dễ nhìn khi so với các cô gái cùng trang lứa. Nhờ phước cô em cũng lấy chồng kiều bào Mỹ, nên cô được giới thiệu một ông kiều bào gần bảy mươi tuổi ở Texas bảo lãnh theo diện kết hôn.

Trước khi cô qua Mỹ, cô em thường gởi tiền về để Mộng Thường sắm sửa và chăm chút nhan sắc. Nàng liền đi tân trang làm tóc, làm mặt, tắm trắng để lột bỏ cái xác đen đúa ủn ỉn quê mùa của người ở tỉnh lẻ miền Nam chính cống. Dù cô đã sửa mũi và lên sống ở Sài gòn mấy năm rồi.
Mộng Thường kể, lúc cô ngâm mình trong bồn nước để tắm trắng, cả người cô rát rần rần, nhiệt độ trong người tăng cao tưởng chừng như ngộp thở. Mộng Thường gần như sắp mê man ngất đi trong sự mệt mõi. Nhưng cô ráng chịu đựng được một hồi, thì làn da bắt đầu tróc và họ xức thuốc gì đó làm cho cả người cô ta cảm thấy dịu lại. Sau lần lột da nguy hiểm may mắn này, cả người Mộng Thường trắng hẳn ra nhìn thấy sang trọng hơn nhiều. Đúng là phát tướng đổi mạng, cô lấy chồng kiều bào, và mấy tháng sau Mộng Thường đi Mỹ với nước da trắng bóc, không còn rám nắng, dính phèn Việt Nam nữa.

Qua Mỹ ở chung với chồng và đám con tuổi bằng xấp xỉ mình, Mộng Thường vẫn hồn nhiên an hưởng không hề quan tâm đến những lời xiên xỏ của đám nhỏ. “Ừ, tui ăn học chỉ có được một nắm chữ hà, ba tụi bây cưới tui mang qua đây đàng hoàng chứ bộ theo không sao mà tụi bây có quyền không nhận”. Mộng Thường nghĩ thầm như thế. 

Làm người hiểu ít chút vậy mà hay, có gì nói thẳng đi tụi bây, chơi phất phất ngoài ngoại thành hoài thì “bây nói bây nghe, tui có hiểu gì đâu mà care” (care – quan tâm).

Nhờ vậy mà Mộng Thường yên ổn sống chung với ông chồng già, an phận ở nhà dọn dẹp nấu ăn, khỏi cần tình yêu, tình tứ, mộng bình thường vợ chồng có nhau. Lâu lâu rãnh ông chồng cũng dẫn đi lòng vòng đây đó cho biết với người ta và sắm sửa chút chút gởi quà về nhà. Hạnh phúc con người ở chổ là, lâu lâu có vài trăm gởi về cho bà già cho bả khoái là Mộng Thường vui lắm. Chứ ở Việt Nam vì không tài không sắc, xoay sở đủ nghề Mộng Thường cũng chỉ đủ sống là mừng rồi. Ôi, trời thương, đời con có lúc hưởng, cái hưởng thụ đơn sơ miễn sao kiếm cái nghề ổn định, sống ngon hơn lúc còn ở Việt Nam là được rồi.

Hạnh phúc đối với nhiều người không giản đơn như hạnh phúc mà Mộng Thường đang hưởng. Giấc mộng bình thường như là chờ học xong tiếng Anh, học lái xe và có được việc làm lương công nhân, để có thêm tiền bỏ ống riêng và mỗi tháng gởi về một vài trăm cho má xài, giúp các em ăn học. Vậy mà trời không thương Mộng Thường cho trọn tình. Thời gian trôi qua mới gần hai năm, chồng Mộng Thường bệnh cũ tái phát, lên tăng xông máu dãy đành đạch thấy ghê. Sau khi được đám con đưa vào nhà thương, tuần sau ông đột ngột qua đời không một lời từ biệt, trăn trối. Mộng Thường hoảng hốt nhiều hơn là buồn vì mất chồng. Giấc mộng ngỡ là bình thường, đã không còn giản đơn như nàng nghĩ.

Từ ngày ông vào bệnh viện và mất đi, Mộng Thường bị cô lập hoàn toàn với ø gia đình chồng. Những tưởng chỉ sanh ly ai dè tử biệt. Cuộc đời lên hương chưa kịp hết lâng lâng của sự bỡ ngỡ thì Mộng Thường nay đã trở thành người quả phụ. Số vốn liếng tiếng Anh của nàng không gì nhiều hơn là mớ chữ yes yes no no, ngoài ra cái gì cũng I don’t know hết. Các con chồng của cô hầm hầm chửi rủa kẻ có số sát phu và đuổi cô ra khỏi nhà. Cô em gái đành rước nàng về Cali với một vali quần áo, và túi giấy tờ bằng tiếng Anh có được sau khi xuống máy bay. Gia tài quý giá nhất của nàng chỉ là số an sinh xã hội. Mỗi lần đi đâu làm gì, Mộng Thường đều đưa nó ra như đưa tiền bảo hộ, lá bùa hộ mạng.

Cô em ghi tên để Mộng Thường học làm móng tay ở một trường người Việt. Vốn sẵn tính siêng năng, chữ nghĩa không nhiều, Mộng Thường vui vẻ với cuộc sống mới xung quanh những người bạn Việt Nam học nghề. Họ là những người chưa giàu nên chưa biết lên mặt khinh người nghèo, ít học. 

Trường mở từ 8 giờ sáng cho đến 8 giờ tối vì chia ra hai khóa sáng, chiều. Nhưng Mộng Thường thì vô tư đóng đô ở trường luôn cả hai ca, nhận khách liên tù tì không nghỉ chỉ vì chút tiền bo còm cõi ít ỏi của khách hà tiện. Khách ở đây thường thích làm đẹp với giá bèo của trường học thay vì đến tiệm thẫm mỹ. Theo Mộng Thường, lê la ở trường khỏi mắc công đi bộ về nhà thui thủi một mình để tập quen làm người Mỹ sống với bốn bức tường. Dẫu nàng có mở Tivi xem, cũng không hiểu nó nói gì trong đó. Nếu nàng xem phim bộ lồng tiếng, mỗi tuần có vài cuốn mới, không đủ giết thời gian. Ở trong trường, Thường tán dóc với người này qua người khác, ngày ngày giống y như Việt Nam. Nếu có ai thương ai ghét, ai chọt ai khều gì nàng cũng chỉ cười hề hề. Mộng Thường nhờ vậy mà yên bề …học nghệ.

Bấy giờ Mộng Thường còn nào dám “mộng mơ quyền quý cao sang”. “ Một căn nhà nhỏ hai trái tim vàng” chắc nàng không bao giờ dám nghĩ tới. Nàng mong sao kiếm chút tiền phụ trả tiền phòng khỏi để em gái nặng nợ là may rồi. Vài ba đồng tiền típ từ một người khách đã là những may mắn đủ để nàng cười hân hoan với đám bạn học chung.



Thắm thoát thời gian qua nhanh, khóa học gần xong nên đáng lẽ Mộng Thường vui mừng hạnh phúc hơn bao giờ hết. Nhưng gần đây, mọi người thấy Mộng Thường có vẻ rầu rầu lo âu ra mặt. 

Hỏi thăm, thì ra Mộng Thường đang lo lắng không biết mình có hội đủ điều kiện để hoàn tất thủ tục thường trú nhân vĩnh viễn và khỏi bị đuổi về nước hay không. Tất cả giấy tờ liên quan đến chồng và giấy khai tử của ông ta Mộng Thường cũng không có. Mỗi lần Mộng Thường gọi điện thoại liên lạc các con ông chồng, thường bị họ chửi cho một mách rồi cúp điện thoại cái rụp. Mộng Thường không xin được một chút giấy tờ gì để gọi là bằng chứng của ông chồng quá cố đem nộp cho sở di trú thay thế những thủ tục bình thường của người qua Mỹ theo diện kết hôn xin quyền định cư ở Mỹ. Cô em gái Mộng Thường dẫu tánh lanh lợi, nhưng cô mải mê bận rộn kiếm tiền nên không có thời gian nhiều. Cô bỏ ra $5000 ngàn trả dứt một lần để văn phòng luật sư lo làm thủ tục giùm. Không may, ông luật sư này nổi tiếng vì ngày ngày bà con nghe quảng cáo tên ông ta trên đài phát thanh tiếng Việt mấy đợt. Không biết bao nhiêu người Việt không rành tiếng Anh, thiếu kinh nghiệm ở đất khách quê người đã tìm đến văn phòng ông ta và phần lớn đều bị “tiền mất tật mang.” Mộng Thường cũng là một nạn nhân, đã lỡ dại trả hết tiền lệ phí mất rồi. Nhận tiền xong, ăn nhậu xong là mặc xác thân chủ.

Ngày giấy tờ tạm trú hết hạn lâu rồi. Sở di trú gởi giấy về đòi trục xuất hoài. Vậy mà mỗi lần gọi điện thoại vào văn phòng là bị cắt ngang, bị chờ, bị kêu gọi lại sau. Cho nên Mộng Thường bắt đầu xanh xao buồn não vì lo sợ bị đuổi về nước một ngày không xa.
 
Cô em của Mộng Thường là Mi, có qua lại với tôi. Nghe Mi than thở chuyện bà chị, tôi hỏi:

-Sao mi lanh lợi vậy mà không lo cho xong cái vụ thường trú cho bả đàng hoàng đi?

-Trời ơi, tui đâu có rảnh bà, còn phải lo kiếm tiền chứ. Tui đưa cho bả $5000 ngàn là hết lòng rồi đó. Đâu ai dè tụi nó bảo đảm đủ thứ mà bây giờ hồ sơ cũng chưa có nhúc nhích gì.

-Trời ơi, ai biểu bà đưa hết năm ngàn làm gì. Họ đòi tiền đặt cọc thôi, làm tới đâu trả tới đó chứ. Đưa hết, họ ăn ngập họng rồi ngu gì sốt sắng làm chi, ở không đi kiếm mối khác chứ.

-Ai biết tụi nó lưu manh vậy đâu. Mỗi lần chạy xuống văn phòng tụi nó tui phải mất một ngày làm cho nên tui nghĩ đóng một lần khỏi mắc công chạy tới chạy lui.

-Thôi rồi, vậy bà làm ơn kiếm người khác lo dùm cho chắc ăn. Đừng ở đó mà chờ sung rụng tội nghiệp bà Mộng Thường bả khờ chết cha hà!

-Bà làm ơn giúp bả dùm cho tui coi, có gì hậu tạ sau!

- Thôi đi bà, kiểu bà thì chắc chỉ có búa tạ thôi, đừng hòng tạ lúa hay tạ gạo, không dám không dám!

Nói vậy, nhưng sau đó thấy Mộng Thường tội nghiệp lo âu rầu rỉ nên tôi đã giúp Mộng Thường xem xét lại tất cả giấy tờ. Tôi gọi qua số điện thoại bên sở di trú thành phố Houston để kiểm tra xem hồ sơ đã tiến hành ra sao. Tôi xem thử có cần bổ sung gì không. Sau đó tôi chính tay sao y bản chánh các giấy tờ cần thiết và gởi đi giùm nàng. 

Khi Mộng Thường nhận được thư hồi âm, chắc chắn là không bị trục xuất về Việt Nam thì nàng mừng lắm. Nàng cám ơn tôi rối rít và cứ đòi đãi đi ăn hoài. Dạo ấy tôi rãnh nên ghé nhà Mộng Thường đang trọ phòng, ngồi tán dóc xem phim, karaoke. Ngồi chơi chung với chị chủ nhà cũng là người thích hóng chuyện cũng học hỏi thêm nhiều thứ. Thường thì gần nhà họ hay có họp chợ bán cây trái từ nông trại nên chúng tôi thường hẹn nhau đi chợ mua đồ rất tươi và rẻ.

Khi giấy tờ đã về đầy đủ, tôi xúi Mộng Thường đem tất cả đến văn phòng hối mấy cha phụ tá luật sư làm tiếp. Sau đó, nàng đã gom đủ điều kiện và giấy tờ để nộp, chỉ chờ ngày hoàn tất giấy tờ họ gởi về chứng nhận là an tâm. 

Mộng Thường ra trường, xin được việc làm với bà chủ trong trường luôn vì tánh cần cù siêng năng chịu cực. Mỗi ngày làm từ sáng đến tối mịt. Một tuần sáu ngày, lãnh được hơn ba, bốn trăm bạc là Mộng Thường mừng hết lớn. 

Tôi khuyên Mộng Thường, thôi ráng vài năm lấy bằng quốc tịch rồi có về Việt Nam nghỉ phép dài hạn thì thử về cho biết mùi đời. Tôi biết cuộc sống ở Việt Nam chẳng còn như xưa. Mỗi năm mỗi thay đổi và tệ hại hơn. Nhiều người mơ về. Họ về rồi sẽ thấy không hợp thì quay trở lại Mỹ. Họ đi cày tiếp kiếm chút vốn, thấy buồn vì cô lẻ, lại lê la về Việt Nam giải tỏa cơn sầu. Ở Việt Nam hơi lâu, cơn sầu kiểu khác lại xuất hiện, kiểu sầu đời không có tiền “no money no honey”, họ phải về Mỹ lại thôi. Nghe tôi phân tích, nàng lại vui vẻ ôm giấc mộng bình thường mà vui vẻ dũa móng tay kiếm tiền boa. 

Thời gian sau này, tôi bắt đầu bận rộn nên cũng ít qua lại thăm hỏi chị em cô. Mới đây, có dịp gặp lại Mi, hỏi thăm bà chị, Mi kể là vẫn vậy. Ngày ngày Mộng Thường đi làm về, xem phim bộ giải trí, rồi đi ngủ. Bà ấy thấy cuộc sống lẻ loi và buồn chán quá, chịu không nổi mà không biết cách thay đổi tốt hơn. Cô em còn kể là Mộng Thường có lúc đã muốn an phận muốn lấy ông bán hột vịt lộn ở chợ trời để nương tựa. Nhưng vì ông ta ra điều kiện Mộng Thường phải dọn về ở chung ở tận một khu xa xôi hẻo lánh nào đó. Nơi đó muốn về lại San Jose phải lái xe ba, bốn tiếng, không có ánh đèn màu đô thị thân quen. Vì thế, đành phải ngoảnh mặt làm ngơ, cắt đứt "dây thiều", tiếp tục hẩm hiu. 

Mi còn nói tội nghiệp bà ấy, cho tới nay vẫn chạy chiếc xe cũ rích và không dám chạy ra xa lộ vì nhát. Cuộc sống hàng ngày chỉ quanh quẩn chuyện đi làm, và xem phim bộ, không dám đi shopping nhiều, vì “nói cho ngay, bả cũng biết dành dụm gởi hết phần tiền lương còn lại về Việt Nam giúp gia đình,” Mi nói, ““Lâu lâu tui cho bả theo đi quán nhậu hát karaoke cuối tuần, thế thôi.” 

Nghe chuyện Mộng Thường dành dụm tiền bạc gửi về giúp gia đình bên nhà, tôi thấy thương. Mong những người thân yêu của cô bên quê nhà, biết trân trọng sự hy sinh giúp đỡ của người bên Mỹ mà sử dụng đồng tiền ấy một cách đúng mức. 

Mai Hồng Thu

Thursday, April 26, 2018

Hồng Nhan Bạc Lẻ




Nhi năm đó vừa tròn hai mươi tuổi, đủ tuổi vô vũ trường Mỹ ăn chơi nhảy nhót. Nhi theo chồng qua đây theo diện vợ chồng, nghe nói vừa đặt chân tới Mỹ là lập tức được thẻ xanh hai năm. Nhi đi học tóc mà trang điểm lòe lẹt và ăn mặc hở hang y như là đi nhảy đầm. Vì thế cho nên đám người học chung gồm đủ mọi lứa tuổi và thành phần không ai nhìn Nhi với ánh mắt thiện cảm. But Who cares!!! Ai thèm quan tâm!!!! Và bạn cũng chẳng nên quan tâm làm gì, cứ tán dóc cho vui thôi nhé!

Vâng! Who cares chứ Nhi không quan tâm, Nhi rãnh quá đi học chơi vậy đó, bấm thẻ xong thì đú đa đú đỡn cười đùa với hai cô bạn cùng trang lứa, cùng thân phận – chồng mới bảo lảnh qua.

Mà ngộ, Nhi ăn xài theo phong cách “nhà ở phố, bố làm quan ” mà lại không ngại ngùng cho bà con biết là ông chồng bốn mươi hai tuổi của mình đang đứng bán ở quầy chặt thịt trong một siêu thị người Việt cách đó một con đường.

Bà con truyền tai nhau, chồng con Nhi hôm nay đang làm ở chợ đó đó, qua đó coi mặt không? Xù xì xủ xỉ chán chê, cả đám chờ giờ giải lao, liền ùa nhau bấm thẻ chạy qua đó dòm mặt coi thằng cha nào xâm mình mà dám rước con nhỏ nhan sắc chỉ tàm tạm thôi, mà coi trời bằng vung này.

Cả đám học viên xí xọn đàn bà, đàn ông lẫn "đàn giữa" cứ đứng lố nhố gần quầy thịt chỉ trỏ:

-Đó đó, thằng cha đó đó!

-Phải cái ông có râu quai nón hơi mập đó không bà con?

-Đâu đâu đâu, ông nào ông nào?

-Nhìn cũng được đó chứ!

-Hả, tưởng gì, thằng cha này tui biết mà!

Coi chán rồi cả đám bỏ đi, ông chồng Nhi vẫn đứng chặt thịt tỉnh bơ không hề biết mình được nổi tiếng năm phút trước đó vì cái chuyện lấy vợ trẻ từ quê hương có đầy khế ngọt mang qua.

Chồng Nhi bộ vó nhìn cũng kha khá. So với những người đồng tuổi, anh ta nhìn còn tươi, trẻ hơn. Họ kể, anh ta làm ở hàng thịt một tháng lương khoảng chừng độ hai ngàn đô. Nhưng anh có điểm hấp dẫn ở phần được cha mẹ tặng cho hai anh em một căn nhà có ba phòng ngủ. Vợ chồng người anh ở một phòng. Anh ta ở một phòng. Phòng con lại dành cho người khác ở trọ. Tiền nhà thu được họ coi như để riêng trả tiền điện, nước và đổ rác linh tinh. Tiền lương làm ra cứ tha hồ mà ăn nhậu. Một lần rãnh rỗi, anh ta làm một chuyến về Việt Nam ăn chơi thả giàn cho biết người biết của với người ta. Được bao ăn chơi nên đám bạn bè cũ của anh mới rủ anh đi vũ trường tìm bạn chân dài. Nghệ thuật cua gái của Việt Kiều không cần học, chỉ cần nói là anh muốn đem em qua Mỹ là thành công liền. Lần đầu đi vũ trường là anh ta dính ngay cái "càng" của em Nhi nó "kẹp" qua tới Mỹ. Tới Mỹ, Nhi thấy anh làm việc ngoài chợ mất mặt quá, nó mới thả để anh ta rảnh tay chặt thịt.

Nhi, ăn chơi từ thuở “tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu”. Gia đình Nhi cũng thuộc dạng bình thường đủ sống. Tuy nhiên, vì bận rộn kiếm ăn, họ để mặc Nhi đi chơi miết, không cần học hành cũng không cần kiếm việc. Cũng có thể họ mong con mình học được cách tìm một tấm chồng giàu như cái mốt đang thịnh hành khắp nơi như một phương pháp hay xóa đói giảm nghèo.

Ăn chơi cũng cần kinh nghiệm, xoè tay xin tiền cha mẹ chỉ đủ để cầm hơi, Nhi xáp vô bọn nhà giàu ăn ké. Hễ tối đến là họ tụ tập xách xe hẹn nhau ở một vũ trường gần nhà. Khi chơi chán thì họ nhảy qua vũ trường khác. Sài gòn nhỏ bằng cái bàn tay, có bốn, năm vũ trường xoay quần, dân nhảy câu trai bao ăn chơi, nói tên ra thì ai cũng biết. Quán nào mở mấy giờ quán nào đóng mấy giờ, nhảy nhót thâu đêm chờ đuổi tụi nhóc này mới chịu tan đàn rẻ nghé về nhà ngủ dưởng sức mai đi tiếp. Sài Gòn mở vũ trường cho ta đi nhảy mỗi đêm không cần chờ cuối tuần. Đứa con gái nào khôn lỏi, không tiền thì lạng lờ trước mặt mấy anh “Việt Kiều” chờ được bao. Em nào mà trúng mánh kẹp được một thằng làm bồ xong là bắt đầu đếm lịch chờ bảo lãnh. Gặp may mắn được bảo lãnh qua Mỹ sống cùng thành phố, họ gặp mặt lại là nhớ nhau liền. Họ sẽ hẹn hò ăn chơi tiếp thay vì hội nhập vào nếp sống mới xây dựng tương lai ổn định lâu bền.

Sang Mỹ, Nhi tưởng anh chồng ngon cơm ăn nhậu tối ngày còn em thì nhảy nhót thâu đêm, còn gì sướng bằng. Ai ngờ, ông chồng nhìn mặt tưởng dân chơi mà chạy cái xe phát ớn hồn giống thằng cha lơ chạy xe đò. Ngày ngày đi làm mười tiếng, anh chồng già chặt thịt heo, thịt gà bám tay bám áo. Nhi nghe hương mùi thịt hàng ngày hết dám ăn bò tái chanh. Nhi ghét nhất là phải ở chung với chị em bạn dâu có tánh hay sanh nạnh. Chị ta cũng có tài giỏi gì đâu mà bày đặt cao ngạo lên mặt dạy đời Nhi hoài. Nhi nhủ thầm: tưởng con này hiền ăn hiếp lộn người nghen!

Nhi thấy đồ ăn ở Mỹ sao mà mắc khiếp. Nhi mới qua món gì cũng thèm. Nhi mua món gì mang về nhà phải hăm he móc méo răn đe đàng hoàng nếu không mấy người ở chung nhà lấy nhầm thì lổ nặng. Nhi sợ bị ăn hiếp cứ đòi chồng bênh vực:

- Ông đừng tưởng ông ngon nhe, ông không chịu bênh tui thì không cần thẻ xanh tui cũng bỏ!

Cung cách dân giang hồ mà, Nhi nghĩ, cùng lắm đi hoang cần gì thẻ xanh thẻ đỏ mà hù, mới qua có thẻ liền rồi, không tác quái uổng công lấy ông sao, ông già?!

Vậy đó, ai bảo hồi mới quen ông chồng Nhi trót dại nổ cấp ba, nổ cấp tốc: anh có nhà anh có xe anh ăn nhậu thả giàn làm chi, cho em dệt mộng bay lên tận tới mây xanh, rồi bây giờ anh cứng họng. Nhưng thật ra anh ta đâu có nói ngoa. Anh ta có nhà, có xe, có ăn nhậu thả giàn thật mà. Nhà, xe và ăn nhậu cở nào thì ở Mỹ có vạn kiểu.

Chồng Nhi cũng hiền, nhỏ nhẹ chìu chuộng mong sao cô vợ tha cho cái vụ “bé cái lầm". Quan trọng ở chỗ là nhà thì ba má cho để ở chứ không cho đứng tên, đứa nào ngoan thì ông bà thương. Do đó, anh ta cũng muốn yên bề gia thất giống anh chị. Con vợ thì muốn kiếm chút gia tài nên cuộc tình cũng tạm thời lặng sóng thời gian đầu. Ăn ngủ, hoài cũng chán, lê thê chờ đến cuối tuần mới được đi chơi với đám già, cùng tuổi chồng, Nhi chán ngấy như cơm cháy xịt xì dầu. Ở Mỹ bà con đâu có ăn xài thả dàn và ga lăng với vợ bạn đâu. Nhi thấy mình sao xuống cấp quá xá quà xa, lù đù như con lạc đà, lê la trên xa mạc …nản! Cứ cái kiểu này mãi thì không mấy chốc sẽ tàn đời hoa. Bỏ đi thì cũng phải kiếm thằng nào chịu chứa mới được chứ. Thôi thì đành phải kiếm cách thủ thân, Nhi nói với chồng đưa tiền đi học tóc.

Từ ngày đi học tóc, Nhi bắt bồ được hai nhỏ bạn cũng theo chồng mới bảo lãnh qua. Sau đó, họ quen dây chuyền thêm một đám bạn cùng trang lứa khoái đua đòi không khoái học, khoái làm. Đẩy đưa đưa đẩy kiểu gì, Nhi kiếm thêm một thằng bồ cũng thuộc loại choi choi, tóc hai, ba màu sáng chói. Họ cùng nhau sáng, trưa chiều tối rủ đi cà phê đi chơi shot uống rượu mạnh, nhảy nhót để tìm vui.

Bà con học chung nhìn thấy cảnh tượng này chỉ biết lắc đầu ngán ngẩm không biết có nên chạy qua mét cho thằng chồng để xem cái sừng của nó đang mọc ở góc nào. Không ai rảnh và dám khen chê, con quỷ nhỏ nó nghe được nó xì vào mặt, thúi ba ngày rửa không ra cũng không chừng.

Tự do ăn chơi kiểu gì, nội tình ra sao không rõ, mà một ngày đẹp trời bà con bắt gặp Nhi đang bưng phở, bưng cà phê kiếm tiền. Điều lạ ở điểm là Nhi không còn mặc đồ hở hang và trang điểm lè loẹt, cái mặt cũng không còn nghêng ngang kênh thiên hạ nữa, có khi còn tránh mặt giả bộ không quen ai hết. Nhìn Nhi nhỏ nhẹ, phục vụ khách tận tình là một chuyện khó tin.

Người ta nói, không biết vì sao mà Nhi thiếu nợ tùm lum, bắt đầu xuống nước về nhà ngọt ngào năn nỉ ông chồng giúp trả nợ. Ai ngờ ông chồng tuy ít đi đâu ngoài cuối tuần nhậu nhẹt với bạn nhưng cũng ghiền độ football nên có đồng nào nướng đồng đó, cũng đang thiếu nợ chứ chẳng khá hơn gì. Giờ vỡ lẽ ra Nhi cũng bon chen cá football lúc đầu năm mươi đô, sau tăng lên dần, gọi độ theo dân giang hồ là 50 xu, một đồng nghe sướng miệng nhưng tiền thật thì lên tới bạc ngàn. Nhi mê say đặt độ rồi cứ lên miết con số cá càng lớn con số nợ càng nhiều.

Ở Mỹ, chơi football có quen người ta mới cho bắt độ, mà nếu thua rồi thì đừng hòng giựt, cũng đừng hòng bỏ xứ trốn đi. Họ có thể cho người cầm súng đến nhà dọa là chuyện thường tình, dù là phạm pháp nhưng không ai dám đi báo cảnh sát đâu.

Sau đó, người ta thấy Nhi bôn ba hạ mình đi làm hai ba công việc thêm như bán quán cà phê, làm thêm thợ cắt tóc và ăn mặc chưng diện bình thường lại. Nhi không còn kênh mặc tỏ vẻ ta đây là dân chơi thứ thiệt nữa. Bấy giờ Nhi mới biết, kinh nghiệm nhảy nhót giang hồ cua trai của mình không đáng xách dép cho giang hồ San Jose chút nào cả.

Nhìn Nhi, đoán già đoán non, người ta không biết cuộc sống của nàng sau này ra sao. Nhưng rõ ràng là Nhi đã hết rồi, một thời vàng son đi nhảy nhót lang thang, xài tiền như nước, hoặc là ở nhà chỉ tay năm ngón lông nhông ăn hiếp chồng! Ôi, một kiếp hồng nhan mà toàn là bạc lẻ, nếu không chịu thức thời, an phận.

Ở Mỹ, rõ ràng là “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Nhiều bạn mới qua thường chịu cực khổ vài năm đầu rồi thì sẽ đâu vào đấy. Cuộc sống ở đây có nhiều cơ hội học hành, làm việc để thành công. Rất nhiều người phải vất vả một thời gian để ổn định cuộc sống rồi mới trở lại trường học. Các bạn trẻ hãy cố lên. Mỹ vẫn là miền đất hứa với muôn vàn cơ hội để xây dựng cuộc sống mới. Mỗi người chúng ta, hãy góp phần tạo nên một cộng đồng Việt có nhiều điểm đáng hãnh diện so với các sắc tộc thiểu số khác.

Mai Hồng Thu

Monday, April 9, 2018

Nó và Tôi




Nó là tiếng Việt. Tôi là con nhỏ ghiền chữ Việt.

Ngày nhỏ, ngày nào tôi cũng vừa ăn cơm vừa đọc sách. Nhiều lần bị khỏ đầu hoài nhưng cái tật khó chừa. Người nào vừa đi cầu vừa đọc sách, làm ơn đừng dành cầu tiêu với tôi. Có lần ghiền đọc truyện, cả nhà đã ngủ tôi bèn chui vào phía sau rèm cửa nhà tắm mở đèn đọc tiếp. Bà ngoại chợt thức giấc bèn hỏi tôi làm gì chưa chịu đi ngủ. Tôi trả lời rằng “con còn đang học bài chưa xong”.

Trong những năm tiểu học, môn toán, văn và vẽ, tôi luôn thích và đạt điểm cao. Cuối năm học nào tôi cũng đứng chung nhóm năm hạng cao nhất của lớp. Tương lai của tôi tươi sáng biết bao. Tôi biết mình giỏi chữ và cũng sẽ viết được truyện hay, vì bài tập văn luôn được điểm mười. Từ nhỏ tôi đã biết kèm bạn học làm bài để được thưởng công.

Tôi đã ước và tôi đã mơ. Vì thế tôi cứ miên man ngốn chữ.

Đọc sách thiếu nhi chưa đủ, tôi đọc cả tiểu thuyết và truyện chưởng. Cuốn sách dày cộm đối với tôi chỉ là một trò chơi. Khi vô tình nghe được hai dì của tôi bàn về tình tiết trong truyện tình cảm nào đó, tôi cũng tò mò muốn đọc để xem ai yêu ai ra sao, đúng là con nít quỷ.

Khi vừa bước vào lứa tuổi dậy, tôi đã thích đọc truyện của Quỳnh Dao dù tâm tính vẫn hồn nhiên nghịch ngợm như con trai. Tuy nhiên, tâm hồn tôi luôn luôn yếu đuối, ủy mị và đa sầu đa cảm, trái với cách ăn nói, đi đứng ngang tàng bướng bỉnh bề ngoài. Nếu là người khô khan thô lỗ, chắc không thể trong vòng chưa đầy ba mươi phút lại chế ra một bài nhạc có âm điệu, vần nhịp, lời nhạc đều vô cùng ăn khớp. Tôi thường làm lé mắt bạn bè cùng trang lứa trong xóm bằng những đoạn văn ngắn vần điệu trôi chảy, ý nghĩa mạch lạc nhưng toàn ghép tên của bài hát hoặc tựa các cuốn phim.

Nhiều người nói tôi có khiếu văn chương... xuất khẩu thì nên khâu miệng lại tại không khéo, ủa không phải: Xuất khẩu thành văn, có vần... họ thích.

Khổ nỗi, tôi chỉ biết viết văn ca ngợi cảnh đẹp, người vui, tả cảnh hoặc tả con gà con vịt gì đó thôi, chứ không biết viết lời nịnh nọt, giả tạo.

Sau 1975, khi thầy giáo ép học trò làm văn ca ngợi cách mạng hoặc lão hồ, tôi thấy làm bài luận văn là một cực hình và từ từ cảm thấy rất nản.

Gia cảnh bắt đầu sa sút, sức khỏe và tinh thần tôi cũng xuống dốc theo. Tôi thường có cớ nghỉ học vì suốt ngày ho sù sụ muốn văng cả linh hồn ra. Ngoại tôi nhiều lúc thương cháu mà nước mắt chảy dài. Tôi hay lang thang hết khu phố này qua khu phố khác chờ hết giờ tan học rồi mới về nhà để bà đừng sốt ruột lo lắng. Bạn học bảo nhau rằng con nhỏ vượt biên hụt nên trở lại học vài hôm rồi lại biến mất. Có hôm trưởng lớp đến nhà kiếm, muốn chứng thực có phải tôi đang tìm đường vượt biên không.

Thuở ấy tôi lầm lì ít nói, ai nói gì cũng ậm ừ cho qua chuyện nên họ không thắc mắc nữa.

Tôi không hề nuối tiếc và nhớ nhung trường lớp có những thầy cô giáo Bắc Kỳ mới vô hung dữ, thô kệch, khó chịu. Tôi nhớ mãi cô dạy môn Văn với gương mặt nhố nhăng thiếu văn hóa, đứng trên bục giảng đay nghiến Thúy Kiều là gái lầu xanh thật thụ ,“ngứa nghề” cám dỗ Thúc Sinh. Tôi thấy gương mặt bà giống Hoạn Thư hơn là những cô giáo Văn dễ thương của tôi ngày trước.

Nhà trường với tôi, là một địa ngục không lối thoát, một bản án không cần xử.

Chữ nghĩa khó nuốt lại không đổi được cơm áo.

Tôi muốn nghỉ học về quê sinh sống và không ngại vất vả. Mọi người khuyên tôi tiếp tục học, chờ cơ hội đổi đời theo nguyên tắc xưa: học vấn là sức mạnh cho tương lai.

Không có biến cố năm 1975, chúng tôi nhất định học lên cao vì học giỏi và siêng.

Nhưng rồi tôi lâm bệnh nặng, thường xuyên ho ra máu nhiều lần. Tôi đến nhà thương Hồng Bàng thử nghiệm, và biết mình bị nám phổi. Tôi phải uống thuốc hàng ngày và khám định kỳ suốt hai năm liền để ngừa lao. Nhờ đó tôi được quyền nghỉ học!

Không cần đến trường, tôi vẫn ghiền đọc bất cứ sách báo phi chính trị.

Là nạn nhân của tin đồn, thành kiến và sự thiếu hiểu biết về bệnh lao, tôi bị nhiều người kỳ thị vô lý. Sống ở Sài Gòn một mình giữ hộ khẩu, nên sách truyện là người bạn duy nhất giúp tôi bận rộn và xa lánh những kẻ thất học,vô tâm.

Rồi tôi tìm cách kiếm tiền phụ gia đình, bán lẻ hay đi buôn chuyến đủ mọi món hàng. Nhiều món rất bình thường như đậu đen, cà phê, thuốc lá, bỗng nhiên thành hàng lậu, và tôi là dân buôn lậu bất đắc dĩ. Vì ít vốn, nhát gan, nhìn giống học sinh và luôn đọc sách trên xe, những chuyến đi buôn từ Sài Gòn về Bình Long, và ngược lại, tôi đều qua trót lọt. Tôi thường dấu tiền ở giữa những trang sách nên tránh được nạn móc túi nhiều lần.

Rồi dành dụm được ít vốn, tôi sang lại một gian hàng tạp hóa đủ loại. Tôi thường đọc sách lúc vắng khách, tránh thói ngồi lê đôi mách buôn chuyện.

Người quen thường trêu tôi bày đặt khoe chữ, lúc nào cũng cầm cuốn sách lòe thiên hạ. Thật ra, tôi vẫn chưa cai được tật ghiền đọc sách. Tôi đọc tất cả sách mượn được, truyện trinh thám, truyện tình cảm, sách dạy làm người,và sách tự học đủ loại. Nhờ đó, tôi có chút kiến thức căn bản về mọi mặt.

Hơn một năm sau, cải cách kinh tế khiến chuyện kiếm tiền bắt đầu khó khăn. Chương trình di dân Mỹ có trật tự bắt đầu rầm rộ, gia đình tôi âm thầm nộp đơn và được thông qua. Tôi chỉ được báo trước ba ngày khi có vé máy bay rời Việt Nam. Tôi không có đủ thời gian suy nghĩ và không đành lòng ra đi vì bà ngoại đang bệnh ung thư thời kỳ cuối. Tôi bất mãn vì đáng lẽ ngoại mới là người đáng được đi cùng. Tôi muốn ở lại chăm sóc ngoại những ngày cuối đời.

Bạn tôi ở Mỹ thường kể về cái khổ lúc khí hậu lạnh buốt và nỗi buồn không được nói, nghe và đọc tiếng Việt, sống tự do nhưng lẻ loi giữa những người khác màu da, tiếng nói và văn hóa. Tôi biết mình sẽ vất vả hơn khi phải sinh tồn nơi xứ người. Tôi đi Mỹ để khỏi sống dưới chế độ kềm kẹp vô lý, tìm cơ hội giúp ngoại trị bệnh tốt hơn, nhưng chưa đủ tỉnh để vui vì được may mắn hơn nhiều người.

Tiếng Việt và tôi, lại bắt đầu một cuộc tình gian nan và có rất nhiều cái... nản.

Tôi, mẹ nuôi và em trai, sang trại Phi Luật Tân, học Anh Văn và văn hóa nước Mỹ trước khi đi Mỹ.

Một tháng sau, thơ báo tin bà ngoại qua đời. Sự bất mãn càng tăng và mọi dự định tương lai mất hết ý nghĩa. Mẹ nuôi, vì không quen sống chung với người lầm lì như tôi, thường cáu gắt la mắng hung tợn, gây sự vô cớ suốt ngày, khiến tôi càng chán đời. Trong lớp Anh Văn, tôi được bạn học đủ mọi lứa tuổi yêu mến, vì thường nhiệt tình giúp đỡ họ làm bài tập. Ngoài ra, cuộc sống của tôi khép kín với mặc cảm thua kém mọi người về gia cảnh và tiền bạc. Lòng tôi tràn đầy bế tắc, căm phẫn về những bất công vây quanh khi luôn bị hạ nhục vô lý. Tôi bảo vệ bản thân bằng cách tự học hỏi, gom kiến thức từ sách vở. Dạo đó, tiếng Anh của tôi chưa khá, nên tôi ngấu nghiến sách Việt mỗi khi có dịp.

Đọc và viết tiếng Việt là một thế giới có thể cho tôi ẩn náu dễ dàng, bình an và an toàn nhất.

Chúng tôi đến Mỹ vào những ngày cuối năm, tuyết trắng phủ ngập đầy thành phố Indianapolis, Indiana. Người Việt rất ít nhưng chuyện lớn nhỏ gì ai cũng biết. Em trai may mắn được tiếp tục đến trường. Tôi vẫn bơ vơ và lầm lì. Mẹ nuôi vẫn đay nghiến hàng ngày vì tôi cứng đầu không dễ bị sai khiến.

Tôi không thấy thoải mái khi chung đụng với những người đồng hương khi họ tin vào những thông tin không đúng về tôi, nhưng tôi không màng giải thích. Một người đàn ông Việt đã có vợ được nhà thờ gởi giúp chúng tôi lo mọi thủ tục cần thiết. Hắn kiếm cớ đưa tôi đi riêng và đã ôm hôn tôi sàm sỡ trong thang máy, còn chế giễu tôi khờ và ngây thơ. Tôi muốn phản kháng và tố cáo hắn nhưng vì cô thế nên đành nhẫn nhục cho qua, nhưng quyết không để có lần sau.

Cái lạnh cắt da của miền đông nước Mỹ, không lạnh bằng sự cô độc giữa xứ người. Tôi không được đến trường, không tay nghề, không tiền, không biết đường đi nước bước, chờ ngày lấy chồng theo ý mẹ nuôi, ngồi cho người ta coi mắt hoài....tôi không cam lòng.

Càng lạc lõng, tôi càng sống khép kín và ân nhân duy nhất vẫn là một vài cuốn sách Việt tôi đã mang từ bên trại sang. Tôi nhớ Sài Gòn, Việt Nam, nhớ người thân và thèm có thêm những cuốn sách Việt lắm.

Em trai biết chuyện tôi bị sàm sỡ nên khuyên tôi liên lạc bạn bên trại tìm sự giúp đỡ. Tâm đã từng theo đuổi tôi, bằng lòng giúp tôi tạo cuộc sống mới ở Long Island, New York nơi anh đang ở. Sau ba tháng sống gò bó, ngộp thở, thiếu thốn vật chất lẫn tình thương với nhiều bế tắc, tôi quyết định dọn đi.

Qua đó, tôi ở trọ chung phòng với Ngân, hơn tôi 3 tuổi, trong một gia đình Công Giáo nghiêm khắc. Tiền trọ $150, không có chìa khóa vào nhà, không có sự riêng tư vì Ngân cũng khó tánh và so đo tính toán đủ điều. Nhiều lần tôi thấy Ngân nói dối và tỏ vẻ kiêu căng phách lối quá mức, khiến tôi khó gần gũi thân thiện. Người Việt trong vùng biết có người mới đến, thường gọi làm quen tôi, nhưng chủ nhà và kể cả anh Tâm, đều tìm cách ngăn chặn. Tôi lại bị lâm vào cảnh lạc loài, chỉ quen được vài người tử tế sống nơi anh Tâm ở trọ. Không khí trong nhà ngột ngạt lắm, nhưng tôi phải về nhà trước tám giờ tối, nếu không sẽ không được ai mở cửa cho vào.

Ngoài giờ học thêm Anh Văn, và cuối tuần sang nhà anh Tâm chơi, tôi bắt buộc phải bớt nói để tránh thêm phiền phức. Lúc ở trong phòng một mình tôi mới thấy thoải mái. Lúc Ngân sắp về, tôi luôn ôm cuốn sách Việt trong tay để phòng thân, chăm chú hoặc giả vờ đọc để tránh khỏi phải giao du với cô ngoài mức cần thiết. Nụ cười giả dối và cử chỉ kênh kiệu, kiểu nói tiếng Anh khoe khoang lố bịch của Ngân khiến tôi thấy sự giao tiếp với cô là một cực hình. Ông bà chủ nhà cũng khắc khe, bắt bẻ từng chút một, nhưng họ vẫn tỏ vẻ bằng lòng vì tôi luôn nhiệt tình giúp dọn dẹp nhà bếp ngăn nắp gọn gàng. Cuối tuần sơ Lan, rất thân với chủ nhà, ghé đến sau giờ Lễ, thường hỏi thăm rồi nhăn nhó răn đe tôi đủ điều. Nhìn gương mặt khắc khổ và lạnh lùng của sơ, tôi tự hỏi mình là người ở trọ hay làm dâu ở đây.

Thế là tôi với vài cuốn sách Việt trong tay, say sưa đọc hoài, để tỏ vẻ ngoan hiền và bận rộn, tránh bớt cơ hội bị rầy oan. Đọc và viết tiếng Việt là cứu cánh duy nhất và cuối cùng.

Sau đó, Sơ Lan giúp tôi tìm việc trông trẻ những lúc không cần học Anh Văn. Công việc nhẹ nhàng, được đưa rước đến trông bé gái một tuổi. Khi bé ngủ, tôi tự do đọc sách hoặc xem phim.

Tiếng Anh chưa giỏi, tôi lại đọc sách Việt mỗi khi có dịp để tạo niềm giải thoát nhẹ nhàng.

Sáu tháng sau, anh Tâm ngỏ lời mong cùng tôi tạo gia đình mới và dọn sang Danbury, Connecticut dưới sự giúp đỡ của anh Tuyên, đồng hương Hải Phòng. Anh hứa sẽ lo cho tôi đầy đủ hơn. Anh không thích gia đình tôi đang trọ vì họ chê anh thiếu học và nghèo. Tôi vẫn không thích hợp với cuộc sống gò bó khắc khe ở trọ, và đặc biệt là sự chung đụng với Ngân, nên nhận lời.

Những ngày đầu chúng tôi sống chung, mọi việc tạm ổn định. Tuy nhiên, nhiều người đồng hương Hải Phòng, vẫn mang nhiều thành kiến với người Sài Gòn, không khéo ăn nói như tôi, khiến tôi vẫn phải thu mình vào một góc nhỏ riêng, làm bạn với tiếng Việt, những lúc chồng đi làm hoặc giao du với họ.

Một năm sau tôi sanh con gái đầu lòng. Trong thời gian chăm con, tôi vô tình tìm ra được đơn xin học,

trong xấp quảng cáo gởi kèm trong hộp thư, học lấy bằng high school tại nhà với giá năm trăm đô. Tôi tự lấy giấy học bạ tiếng Việt dịch sang tiếng Anh và gởi đơn đi cùng với học phí để học nốt hai năm cuối trung học. Họ gởi cho tôi một số sách để đọc và làm bài. Lúc rãnh rỗi tôi đọc, làm bài, gởi đi, và nhận được bằng tốt nghiệp trung học. Mười tám tháng sau tôi sanh thêm con trai thứ. Rồi chúng tôi mua căn nhà đầu tiên ở đất Mỹ vì chồng siêng làm, tôi giỏi kiếm thêm và biết dành dụm.

Tôi bận rộn học, chăm con và trẻ khác, và săn sóc căn nhà riêng, lơ là tiếng Việt một thời gian rất lâu.

Một năm sau, tôi nhận công việc đầu tiên, làm thâu ngân một mình trông nom căn tin một hãng tiện ca chiều. Khu này nhiều tường kính trong suốt nhìn ra sườn đồi với cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp và thơ mộng. Nhờ làm việc giỏi, tôi dư nhiều thời gian lại thấy thanh nhàn nên lại đọc và viết Tiếng Việt.

Trong những giờ giải lao, tôi viết được gần một trăm trang thơ tiếng Việt.

Đó là thời gian tôi lại nhớ nhà, nhớ quê hương và thèm nói, nghe, đọc, và viết tiếng Việt lắm.

Vài năm sau, kinh tế suy trầm, tôi bị thất nghiệp nên ôn lại vốn tiếng Anh thi vào đại học. Vài tháng sau, tôi nhận việc làm khác, giờ giấc uyển chuyển nên tôi vẫn tiếp tục vừa học, vừa làm, vừa chăm con. Đời sống tất bật vất vả và tôi chỉ sử dụng tiếng Anh, giao tiếp với người Mỹ.

Tôi tạm thời không còn dịp sử dụng tiếng Việt mấy năm dài. 

Khi tôi sắp hoàn thành chương trình tốt nghiệp kế toán kinh doanh, thì phát giác chồng tôi đam mê cờ bạc lâu rồi. Làm cương, tính nhu không kết quả, buồn tình tôi dẫn hai con đi nghỉ mát ở San Francisco hai tuần. Tôi thích khí hậu ấm, thử xin việc, được nhận và ở lại không quay về Danbury nữa. Chồng tôi dọn theo năn nỉ nhưng không bỏ cờ bạc. Sau một thời gian níu kéo vật vã đau khổ, tôi ly dị và một mình nuôi con, không được tiền cấp dưỡng từ một con nghiện.

Tinh thần tôi xuống dốc trầm trọng vì bao dự định tương lai tan thành mây khói.

Học vấn là những thách thức tàn nhẫn, tôi xoay qua chăm chú làm ăn và say mê kiếm tiền. Tôi học đủ cách, mọi mánh lới làm kinh danh và giao du, học hỏi với nhiều người trong hầu hết mọi lãnh vực khác nhau. Lăn lộn giữa danh lợi và tham vọng, tôi nhận ra mình càng lạc lõng hơn giữa sự giả dối  ở thế giới bon chen, kim tiền bạc bẽo đó.

Sức khỏe và tinh thần thêm sa sút, tôi ghiền thuốc ngủ, và những cơn buốt đầu kinh niên xuất hiện thường xuyên và nặng hơn. Sách vở và tiếng Việt không cứu nổi tôi ra khỏi cơn đau này. Gia đình, sự nghiệp, bằng cấp, học vấn, danh vọng hoặc hoài bão, lý tưởng chỉ là những đam mê vô nghĩa kéo lê tôi qua bao tháng ngày.

Tôi quá chán nản, muốn buông nhưng không tìm ra lối thoát. Tôi gồng mình nhẫn nhịn sống vì hai con.

Lạc lối một thời gian dài, khi hai con học xong trung học và có vẻ nổi loạn, tôi thấy mình cần phải thay đổi. Tôi lấy nhiều lớp tâm lý học, và tìm cách tham gia sinh hoạt từ thiện, cộng đồng mỗi khi có dịp. Tôi bắt bạn mới dễ dàng vì luôn nhiệt tình, thân thiện và sẵn sàng chịu nhường nhịn nếu thấy đáng.

Làm thiện nguyện viên với các tổ chức người Mỹ, luật lệ và giờ giấc khó khăn gò bó quá, sức khỏe lại không ổn định nên tôi chú tâm vào sinh hoạt với các tổ chức người Việt nhiều hơn. Tôi theo bạn hoạt động trong ban điều hành của hội United Vietnamese American Association, đã có dịp kết nối và tham gia nhiều chương trình gây quỹ của nhiều hội đoàn Việt Nam trong vùng Bay Area. Nhờ đó, tôi quen thêm nhiều người Việt, bắt đầu gần gũi, nghe, nói, viết và đọc tiếng Việt nhiều hơn.

Tuy nhiên, tôi vẫn quen sử dụng tiếng Việt chêm tiếng Anh như một phản xạ tự nhiên.

Cuộc cách mạng Internet ngày càng mạnh mẽ, phim bộ chuyển âm tiếng Việt bắt đầu được tải miễn phí xem trên mạng. Khi tôi vào diễn đàn hỏi cách tải phim về máy, tôi có thêm nhiều bạn Việt. Họ chỉ tôi cách bỏ dấu tiếng Việt trên mạng. Họ thích và chờ đọc tôi viết kể những câu chuyện ngắn chia sẻ kinh nghiệm sống. Họ thích xem hình tôi tham gia sinh hoạt cộng đồng. Họ yêu cầu tôi chăm viết và chụp hình nhiều hơn. Tôi có được một số đông độc giả luôn chờ tôi bàn luận và kể chuyện. Họ là nguồn cảm hứng giúp tôi siêng viết chữ Việt và hòa đồng với người Việt mỗi khi có dịp. Tôi bắt đầu ôn lại tiếng Việt theo cách viết trên mạng, kiểu viết không chuyên, lủng củng và có nhiều tiếng lóng. Tôi thích chia sẻ kinh nghiệm sống lượm lặt đó đây và đăng ở nhiều nơi, luôn được nhiều người ủng hộ và thích thú đọc. Tôi tiếp tục tìm tòi và biết đến chương trình Viết Về Nước Mỹ, làm quen một số tác giả.

Tôi bỏ thêm thời gian học hỏi nhiều điều từ các tác giả khác để viết tốt hơn. Họ giúp tôi sửa lỗi chính tả, gợi ý giúp tôi tìm đề tài viết. Tôi viết thêm được nhiều truyện ngắn và nhiều bài thơ được bạn bè trên mạng yêu thích. Tiếng Việt bỗng trở thành người bạn thân thiết gần gũi với tôi hàng ngày. Tôi viết để xoa dịu những nỗi niềm riêng và chia sẻ kinh nghiệm từ những người quanh mình. Tôi viết để nối rộng vòng tay với xã hội bên ngoài. Tôi viết để xua tan những bất mãn trong lòng và củng cố niềm tin vào nhân sinh quan tôi đang kiên trì giữ gìn. Nhờ có sự ủng hộ và đồng cảm của nhiều bạn đọc, tôi viết về bất cứ điều gì mình có thể nghĩ tới, nhìn thấy và cảm nhận với vạn vật quanh mình. Tôi viết miên man như muốn trút hết bao nhiêu mâu thuẫn đã dồn ép xưa nay.

Tôi say viết mà không biết mình đang nhả chữ như nhả đạn liên thanh mà không có mục tiêu nhất định.

Tôi cố gắng thay đổi nhưng không tìm ra phương pháp hữu hiệu, và tôi lại bắt đầu... nản.

Trong một lần tôi giúp phỏng dịch bài thơ tiếng Anh theo yêu cầu, nhiều người giỏi chữ đều thích bài tiếng Việt của tôi. Tôi cảm thấy mình có khiếu phỏng dịch Anh Việt hơn. Tôi bắt đầu tập trung học, đọc và viết tiếng Anh nhiều hơn. Nhờ sự giới thiệu của tác giả Nguyễn Thơ Sinh của chương trình Viết Về Nước Mỹ, tôi dành thời gian ôn tiếng Việt bằng cách phỏng dịch truyện ngụ ngôn của tác giả Thornton W. Burgess, sẵn dịp giới thiệu những bài học nhân bản đến lớp trẻ Việt Nam trong nước. Tôi dịch và xuất bản ba cuốn truyện, tình yêu dành cho tiếng Việt trở nên đằm thắm và rõ rệt hơn lúc dịch thuật.

Tiền thuê nhà tăng cao, nhiều người khuyến khích và cho mượn tiền, tôi mua được căn nhà cũ. Tôi phải làm thêm hai, ba công việc để trả nợ đúng thời hạn. Tôi bỏ bớt dần nhiều mối quan hệ xã hội, tập trung chăm nom và sửa nhà. Thỉnh thoảng tôi vẫn tham gia sinh hoạt cộng đồng. Sẵn dịp cần rèn trí nhớ đã có vấn đề vì lạm dụng thuốc ngủ, tôi tiếp tục lấy các lớp tâm lý học dù rất mệt.

Tôi lại vô tình bỏ quên tiếng Việt vào một xó mà không hay.

Càng học hỏi nhiều về tâm lý học, tôi tìm cách xây dựng lại những mối quan hệ xã hội tốt. Có nhiều bạn luôn khuyến khích tôi tập trung và phát triển năng khiếu viết tiếng Việt. Tôi học sử dụng Facebook để tập làm thơ và ôn lại những bài viết cũ. Nhờ sự ủng hộ, khuyến khích của nhiều người giỏi chữ và yêu thơ, tôi gắng sức làm thơ mỗi ngày để giữ lửa. Tôi bắt đầu nhận ra những lỗi lầm tôi đã mắc phải khi tự học viết và làm thơ xưa nay. Tôi mê, tập chép và học thuộc lòng thơ Đinh Hùng nhiều hơn những thơ truyện khác. Tôi thích thơ năm chữ, bảy chữ nhiều hơn những thể thơ xưa và nay. Tôi cố gắng nắn nót và nhớ từng dòng chữ để rèn sự nhẫn nại và kiên trì trong lúc viết, đọc. Tôi luyện cách “uốn lưỡi” trước khi viết. Tôi học cách lắng nghe trong lúc đọc. Tôi học cách viết tập trung vào những chủ đề ý nghĩa hơn. Tôi tự chữa bệnh thiếu tập trung và trí nhớ kém trong lúc đọc và viết tiếng Việt.

Tôi muốn lập ra một hệ thống tự học viết có hiệu quả hơn xưa. Xưa nay tôi viết để tuôn ra hết những suy tư mâu thuẫn đang nhảy múa vô trật tự trong đầu. Xưa nay, tôi chỉ viết để nhẹ lòng không quan tâm mình viết gì, chỉ cần viết xong đầu óc nhẹ nhõm, tinh thần sảng khoái, níu kéo niềm tin hy vọng để sống vui. Tôi viết về những suy tư giúp tôi gom hành trang đạp lên chông gai trước mặt, tiếp tục ngẩng đầu đi tới. Vì thế, nếu bắt tôi phải nắn nót ý và chữ trong những khuôn khổ gò bó nhất định thì sự viết không còn hấp dẫn với tôi nữa. Tôi không biết cách uốn nén và gượng ép chữ nghĩa theo quan niệm sống của người khác. Tôi càng không biết cách đọc và chỉnh sửa lại những bài viết nháp. Ngày xưa, tôi thường viết một mạch không chỉnh sửa kỷ lưỡng nên đã cho ra đời những đứa con tinh thần sanh non, chưa đủ dinh dưỡng và ngày tháng. Tôi chưa giỏi căn bản về kỹ thuật để viết tiếng Việt như đã học viết tiếng Anh trong đại học. Tôi vẫn thường viết lạc đề, thường nản và bỏ ngang là thế.

Trong quá trình sửa sai về kỷ thuật và thay đổi suy nghĩ, mục đích khi viết, tôi khám phá ra rất nhiều điều hay. Tôi nhận thấy mình đã ôn tiếng Việt lại giống như ngôn ngữ thứ hai. Đấy là thói quen xấu bắt đầu từ lúc tôi học suy nghĩ theo tiếng Anh trong lớp E.S. L, tập trung học tiếng Mỹ, không có dịp sử dụng tiếng Việt nhiều, và sau đó ôn lại tiếng Việt qua các mạng lưới xã hội. Tôi thấy mình chọn lọc từ ngữ không được kỹ lưỡng và khéo léo, chưa đủ tâm tình và quá vội vã, vốn từ vựng hơi nghèo nàn.

Tôi thấy mình thiếu chữ và thời gian để học nên cảm giác chán nản, thiếu đam mê lại trở về.

Bạn bè vẫn tiếp tục khuyến khích và chờ đợi tôi viết tiếp. Rồi tôi tập bỏ dần cách sử dụng hai ngôn ngữ cùng lúc khi nói và viết. Tôi tập trung đọc nhiều để làm giàu thêm số vốn ngữ vựng Việt. Tôi luôn luôn gắng sức tránh những chữ tiếng Việt tối nghĩa đang lan tràn khắp nơi trên các mạng lưới xã hội. Tôi bắt đầu phân biệt được khá hơn và hiểu ra nhiều người vì muốn nhanh, tiện nên vô tình rơi vào cái bẫy cách mạng văn hóa của bọn tư bản đỏ Việt Nam.

Bây giờ, tôi không còn muốn viết để tự mình đọc nữa. Tôi muốn viết để chia sẻ, vẫn để tự chữa những vết thương quá khứ, nhưng cũng để gởi những thông điệp ý nghĩa đến những người có nhiều tâm sự không tìm ra cách giải tỏa như tôi khi xưa. Tôi viết như một thú vui truyền bá kinh nghiệm sống đến với độc giả. Tôi học bỏ nhiều tâm tư vào từng chữ, từng lời, từng câu khi viết. Tôi tập bỏ dần lối suy nghĩ lan man và cách viết tràng giang đại hải không bến đậu, không tập trung. Tôi cần viết đúng cách và tập trung vào những thông điệp rõ ràng, và cũng để góp phần giữ gìn, truyền bá văn hóa Việt.

Tôi bỏ thêm tâm tư tập trung tìm đủ mọi cách để học viết tốt hơn dù vẫn còn nhiều trở ngại về trí nhớ, sức khỏe và thời gian. Vì kén bạn, không có cơ hội sử dụng tiếng Việt mỗi ngày, tôi phải tìm tòi thêm cơ hội đọc, tự nói, tự trò chuyện, thâu lại, nghe và kiểm chứng. Tôi tập đọc truyện và thơ, kể cả hát.

Càng tìm tòi đọc và tự học cách nói, nghe một mình, tôi nhận ra rằng xưa nay mình đọc ít quá.

Đúng là tiếng Mỹ chưa thông mà tiếng Việt đã lết lết.

Mà thôi, còn lết là còn chữa được, tôi thấy rõ tư tưởng của bản thân cũng thuộc loại khá, càng khẳng định hơn mỗi khi học thêm được nhiều điều mới. Tôi tập tánh kiên nhẫn ôn lại tiếng Việt song song với việc rèn luyện trí nhớ. Tôi chép thơ Đinh Hùng thường xuyên hơn. Đọc một câu thơ trong đầu, khi chép tay tôi thường chép sai một vài chữ trong một bài thơ, dù vẫn giữ nguyên ý thơ.

Tôi cần phải tập trung hơn khi đọc và viết, đọc đâu quên đấy, lại đọc lại, vất vả như đứa trẻ học đánh vần. Dần dần, tôi biết để ý chọn lọc từ ngữ thích hợp và lưu loát hơn trong cách nói và đặt câu. Tôi kiên nhẫn học cách xếp chữ, ý hài hòa, xúc tích, và mạch lạc, gói trọn vào một chủ đề chính. Tôi đã biết cách sửa đổi nhiều lần sau khi đọc lại bài viết của mình.

Tôi ôn lại chữ Việt và cách viết, song song với việc chữa bệnh và tu dưỡng tâm thân tốt hơn.

Cuộc tình “bỏ thì thương, mà vương thì tội” của tôi với tiếng Việt, ngẫm ra vẫn còn chưa tận duyên.

Tiếng Việt, tình yêu giữa tôi và nó, không chỉ là cái phao nâng đỡ tinh thần khi tôi gặp khó khăn, cô thế và lạc lõng. Nhờ nó mở lối tâm hồn, tôi không còn bị những lời nói vô tâm và những gương mặt nhăn nhó, khó tánh khắc khổ của quá khứ ám ảnh nữa. Giờ, nó là đòn bẩy giúp tôi nhảy cao hơn, sống ý nghĩa hơn, hoàn thiện tâm linh, tìm tòi học hỏi truyền bá những điều tốt đẹp của văn hóa Việt Nam. Những gian nan khi ôn tiếng Việt chuyển mình thành sự đam mê tìm tòi, là lối thoát hiểm gần gũi và an toàn nhất của đời sống nội tâm, thoát khỏi những đam mê danh vọng, đua đòi vật chất tầm thường.

Nhờ “nó” giúp, tôi mở lòng nhẹ nhàng thanh thản hơn. Nhờ nó, tôi sống vui, giữ lòng thanh khiết, không bon chen. Nó giúp tôi từ bỏ nhiều tham vọng, tránh xa bạn xấu, cùng những thú vui vô bổ.

“Nó” và tôi, từ đây sẽ song hành trên mọi nẻo đường tương lai, kiên trì, hoan hỉ đạp lên những chông gai trắc trở của cuộc sống.

“Nó” cùng tôi vẫn giữ vững niềm tin và hy vọng làm hành trang đi tiếp đoạn đường đời. “Nó” là người bạn trung thành cho tôi dựa lúc nản lòng, giúp tôi nhắc nhở mình không quên nguồn cội và sức khỏe tâm linh. Yêu “nó”, nhắc tôi biết yêu mình, yêu đời và yêu người.

Tiếng Việt, người bạn thân thiết tri kỷ từ lớp vỡ lòng, vẫn mãi lặng lẽ đâu đó quanh tôi qua bao thăng trầm, đã giúp tôi vượt qua bao nhiêu trắc trở cam go trong kiếp nhân sinh.

Câu “Tiếng Việt còn, người Việt còn” luôn nhắc nhở tôi tạo cơ hội để bản thân và thế hệ sau không quên mình là người Việt, thích nói tiếng Việt cùng học hỏi gìn giữ văn hóa Việt. Nó đã giúp tôi chữa lành vết thương lòng, không còn lạc loài trong kiếp sống tha hương và dũng cảm mỉm cười nhìn về quá khứ. Tiếng Việt là thuốc chữa trị và bồi bổ sức khỏe tâm linh cho tôi. Tôi thấy được sự chung thủy của tôi với tiếng Việt có giá trị hữu ích luôn ươm mầm tin yêu và hy vọng. Tôi và nó sẽ gắn bó trong từng hơi thở từ giây phút này cho đến cuối đời. Tôi ngày ngày học thả lòng theo tự nhiên, theo duyên và gắng làm tốt bổn phận người tử tế, góp một bàn tay nhỏ, phát huy và bảo tồn văn hóa Việt, là tiếng Việt ngàn đời trong sáng từ thuở nằm nôi.

Mối tình giữa tiếng Việt và tôi, như tình yêu quê hương đất nước đã ăn sâu trong lòng, sẽ một đời gắn bó. Nó và tôi, cùng nhau trau dồi, đổi mới theo chiều hướng tốt, và sẽ giàu mạnh, phong phú hơn. Tôi hy vọng sẽ có dịp gởi đến bạn đọc những dòng chữ giản dị tự nhiên và hữu ích hơn xưa.
 
Mai Hồng Thu

Blog Archive