Showing posts with label Song Nhi. Show all posts
Showing posts with label Song Nhi. Show all posts

Sunday, January 17, 2021

Chị Hai Cua Đồng 

Song Nhi

Vùng quê nhỏ bé nằm bên bờ sông Tiền này được thiên nhiên ưu đãi về địa thế. Cây trái và đồng ruộng do phù sa bù đắp quanh năm thành một vùng trù phú. Nơi đây người ta không cần biết đến địa chỉ vẫn có thể tìm được nhà nhau một cách dể dàng bằng phương thức hỏi thăm tên. Vì thế khi hỏi nhà Hai Cua Đồng thì sẽ có ngay một cậu nhóc dẫn bạn đến tận nhà. Không phải chị Hai là người nổi tiếng hay giàu có gì, thậm chí chị khá nghèo so với những người khác và hình thức thì cũng không hơn ai. Không nhiều người biết tên thật của chị nên ngày từ nhỏ, khi chị chuyên đi bắt cua bán cho mấy bà bún riêu ở chợ, cái tên Hai Cua Đồng có từ đó.

Theo lời bà Tư kể thì chị hai khi còn nhỏ là đứa trẻ nhìn xinh xắn như bao đứa con nít khác. Rồi nhà chị xảy ra hoả hoạn, ba chị mất mạng, chị cũng bị lửa táp phỏng nặng. Sau đó di chứng xảy ra khiến chị bị nhiều vết sẹo lớn và chân rút gân khiến dáng đi của chị không bình thường, ngay thẳng như người khác. Năm chị mười lăm tuổi, má chị qua đời bởi nhiều năm đau bệnh, bỏ chị trơ trọi trên cõi đời với mái nhà xiêu vẹo. Tùy hình dáng xấu xí làm nhiều đứa con nít khác khiếp sợ và trải qua nhiều biến cố như thế nhưng chị Hai không lấy làm buồn phiền.. Ai cũng nhìn nhận chị là người tốt với chòm xóm, nhà ai có chuyện, chị tới giúp như người nhà của mình.

Năm chị 27 tuổi, buổi chiều như bao ngày chị đi bắt cua về rồi đem giao cho mấy bà ở chợ. Nhưng khi trở về nhà vào chập choạng tối, ngang qua khu nghĩa địa, chị nghe tiếng con nít khóc. Chị sởn cả tóc gáy khi nhớ đến những câu chuyện bà con kể quanh nghĩa địa này và thầm nghĩ lẽ nào có ma… Chị cố gắng bước nhanh. Tiếng con nít vẫn vọng theo gió kéo bước chân chị. Chị đắn đo “lý nào sớm vậy có ma”. Ma có nhát ai chứ làm sao dám nhát chị bởi chị còn xấu hơn nó kia mà. Hay là tiếng mèo hoang kêu rồi thần hồn nát thần tính nhưng lỡ đó là con nít thật thì sao?

Đắn đo mãi, cuối cùng chị quyết định bước vào nghĩa địa và lắng nghe xem tiếng khóc phát ra từ đâu. Chị đã định được hướng và đi về phía chòm mả của ông Cả Thượng được xây kiên cố, khang trang ở một góc nghĩa địa. Ngay giữa chòm mả ấy có một đống vải trơ trọi và tiếng khóc phát ra từ đó. Chị Hai rón rén bước đến với sự sợ sệt. Trời chập choạng tối, ở giữa nghĩa địa vắng vẻ cộng với tiếng trẻ con khóc khiến khung cảnh có cái gì đó ma quái làm chị nổi cả gai ốc.

Gom hết can đảm, chị Hai thò tay vào đống vải ấy, khi chạm được cái khối thịt tuy có phần lạnh nhưng chị Hai xác định đó là da thịt con người chứ chẳng phải ma quái. Điều đó khiến chị mạnh dạn và giở những lớp vải phía trên ra. Đúng như chị nghi ngờ, chính giữa là một đứa con nít đang bị kiến bu cắn đỏ cả người, có lẽ nó khóc từ lâu lắm nên tiếng khóc bắt đầu khàn đặc. Chị phủi kiến và cứ như thế ôm nó đi về nhà.

Nghe tin chị Hai nhặt được đứa con nít ở chòm mả một cách kỳ lạ như vậy, người ta kéo lại chật cái chòi của chị. Vài bà dì thương xót, phụ chị ủ, ẵm, pha sữa cho nó… Theo kinh nghiệm của họ, thằng bé sinh ra chưa tới một tháng. Đôi người đoán non, đoán già, ai mà bỏ con chắc cũng có nỗi khổ. Người thì rủa kẻ nào ác đức, “núm ruột” mà còn đem bỏ, nhỡ chị Hai không tới kịp, nó chết thì sao?

Duy có chị Hai không bàn tán cũng chẳng ý kiến gì, chị ngồi yên lặng bên cạnh thằng bé, rờ nhẹ cánh tay của nó như sợ làm nó đau. Nhìn vết kiến lửa cắn chưa phai, chị ứa nước mắt.

Vốn đã nghèo, chị Hai tự nhiên “được thêm” cái khổ. Bởi chị ăn hà tiện được nhưng sữa cho thằng bé thì hà tiện làm sao? Bị cái tật ở chân, chị đi đứng đã khó khăn, còn ẵm thêm thằng bé. Nhiều người lắc đầu xót thầm cho chị. Bây giờ chị Hai kiêm luôn cái nghề lượm ve chai. Thấy cái gì có thể bán được, chị nhặt nhạnh đem về. Bà con thương chị, có cái nồi nhôm bể, hũ. lọ… cũng kêu chị để cho. Coi như cách phụ chị nuôi con bởi bà con ai cũng nghèo chứ khá giả gì đâu.

Vất vả, thiếu thốn là thế nhưng thằng bé bụ bẫm, ít bệnh vặt. Trộm vía trời thương nó, nó háo sữa và lớn lên thấy rõ. Năm nó giáp thôi nôi có ông người Hoa ở xóm chợ nhà toàn con gái, không con trai nên ngỏ ý muốn xin nó làm con. Ông hứa nếu chị Hai đồng ý, ông cho chị Hai tiền đủ mua ba công đất hẳn hoi.

Nhiều người khuyên chị nên cho nó đi đỡ khổ thân chị, thân nó cũng hưởng sung sướng. Ba công đất đâu có ít ỏi gì. Với người như chị Hai, đó là niềm mơ ước. Nhưng chị Hai không giải thích hay trả lời gì, chị chỉ lắc đầu khi nhìn nụ cười của nó.

Năm tháng trôi qua, thằng bé tới tuổi đi học. Chị Hai càng chồng chất vất vả, chị làm không ngừng tay. Miếng đất nhỏ sau nhà chị biến thành vườn rau. Gà gáy sáng, chị đã ra đó. Có lẽ thấu hiểu lòng chị, thằng bé Hải (tên chị đặt cho nó) học rất giỏi. Ngoài giờ học, nó không chạy giỡn như bao đứa trẻ khác. Chị đi đâu, nó theo đó như bóng với hình. Chị làm gì, nó cũng phụ.

Năm nó mười một tuổi được lãnh thưởng học sinh giỏi toàn trường cuối cấp. Chị Hai nghỉ bắt cua một bữa, diện cái áo mới nhất đi coi con nhận thưởng. Nhìn nó đứng trên bục cao mà chị thầm hạnh phúc. Chị nghĩ không biết nó có nhận ra chị giữa đám người lố nhố thế này không?

Buổi lễ tan, nó ôm phần thưởng chạy ào tới chị, hỏi:

– Má đứng lâu mệt không má.

Chị lắc đầu cười, lau mồ hôi trên trán rồi lật đật lấy chai nước đem theo đưa cho nó uống. Sau lưng chị có tiếng xì xào:

– Thằng nhỏ trắng trẻo, lớn con đẹp trai mà má nó nhìn thấy ghê vậy? Đúng là mẹ cú đẻ con tiên.

Một tiếng khác đáp lời:

– Con đâu mà con, lượm đó. Bả làm gì mà đẻ được vậy. Thằng nhỏ vô phước, xui khiến gặp bà sống khổ muốn chết. Gặp người khác thì đỡ chút.

Chị hai bủn rủn tay chân, nụ cười tắt hẳn, chị nói với thằng Hải:

– Trễ rồi, về thôi con, má còn nhổ đám rau chiều nay.

Đang đi, thằng Hải chợt hỏi chị:

-Má, người ta nói má lượm con phải không má?

Điều chị hai sợ nhất cuối cùng đã xảy vào lúc này. Chị đã biết trước có ngày này nhưng không ngờ nó sớm thế.

– Chị chảy nước mắt gật đầu.

Thằng Hải hỏi chị tiếp:

– Má con là ai, sao bỏ con hả má?

Chị hai lắc đầu nói trong nước mắt:

– Má không biết… Nhưng má biết má thương con hơn mọi thứ trên đời.

Thằng Hải cắn môi im lặng rồi hỏi tiếp:

– Sao má khóc vậy má?

Chị lấy tay áo lau nước mắt nói:

– Con lãnh thưởng, má mừng, má khóc, ráng học cho sau này đỡ khổ, nghe con. Đừng có dốt, không biết chữ như má, cực khổ.

Thằng Hải nhìn mặt chị nói một cách mạnh dạn:

– Má đừng buồn, đừng khóc nữa má. Con lớn, con đi làm kiếm tiền, cất nhà đẹp cho má ở nghe má.

Chị xoa đầu nó cười…

Học hết cấp hai ở xã, Hải phải lên thị trấn đi học vì xã không có trường trung học. Từ thị trấn về nhà hết tám cây số, thương con, chị Hai kêu nó ở trọ trong ký túc xá, để khỏi phải đạp xe hằng ngày vất vả. Nó kiên quyết lắc đầu.

Ngày hai buổi, nắng hay mưa, nó cũng đạp xe đi về như thế. Ngoài giờ học, công việc vườn rau nó làm thay chị. Nhưng năm nào nó cũng đạt danh hiệu học sinh giỏi. Hàng xóm hay lấy nó làm gương cho con mình.

Người ta mừng cho chị có chỗ dựa an ủi tuổi già. Nó không cho chị bắt cua nữa nhưng những buổi sáng nó đi học, chị vẫn lén lút đi. Chị muốn chắt bóp thêm để cho nó ăn học bởi chị nghe người ta bảo, học trên Sài Gòn tốn kém lắm.

Sáng hôm nay, đầu xóm, tụi con nít “bu” lại, nhìn ngó chỉ trỏ một cái xe hơi đang đậu. Trong xe, ở băng ghế sau còn có một bà ăn bận thật đẹp, người cứ thơm phưng phức. Phía trước bên lề, có một bà kia đang hỏi lũ nhỏ nhà chị Hai Cua Đồng ở đâu chỉ giúp bà, bà cho tiền mua bánh. Gì chứ, chị Hai Cua Đồng, ai mà không biết, thế là lũ nhỏ nhao nhao chỉ trỏ. Một lát sau thì chiếc xe dừng trước nhà chị Hai. Bà kia nói với người đàn bà ngồi băng ghế sau:

– Dạ em hỏi kỹ rồi bà chủ, không sai đâu. Cậu nhỏ bây giờ học lớp mười. Mười sáu tuổi ạ! Ở xóm này, ai cũng biết chị ấy lượm được con hết. Em đã điều tra rõ ràng rồi.

Người đàn bà đẹp thở dài, đưa khăn lên lau giọt nước mắt vừa tràn ra.

Buổi trưa, thằng Hải đi học về nhà như thường lệ. Điều đập vào mắt nó là cái xe hơi đang đậu trước sân. Chưa hết ngạc nhiên, bước vào nhà, nó thấy má nó đang khóc. Kế bên có một người đàn bà lạ cũng đang sụt sùi. Bên bộ ván có một người đàn ông và một người đàn bà nữa đang ngồi. Khi nó bước vô nhà thì bà đó nói:

– Dạ, cậu Hải về kìa bà chủ.

Nó cởi nón, gật đầu chào theo thông lệ và hướng ánh mắt về chị Hai thay câu hỏi ai vậy. Bởi xưa giờ, trừ người ta đến mua rau nhà nó, có khách bao giờ đâu mà mua rau cũng đâu ai sang trọng vậy.

Chị Hai kêu nó:

– Đi rửa mặt cho mát rồi vô má biểu.

Khi nó trở vô, chị kéo nó ngồi xuống kế bên nói:

– Dì này là má ruột của con đó. Má ruột của con tìm con vất vả lắm! Lại gọi má đi con…

Nói tới đó thì chị Hai nghẹn lời vì nước mắt.

Người đàn bà kia òa khóc lớn và nắm tay nó nói:

– Má xin lỗi con, không phải má bỏ con đâu. Bao năm nay má ăn không yên, ngủ không ngon, kiếm tìm con…

Thằng Hải nghe như đất dưới chân nó sụt xuống vậy. Dù từ lâu, nó hiểu nó không do chị Hai sinh ra nhưng nó không ngờ rằng má ruột đến tìm nó trong hoàn cảnh này. Trong lơ mơ, giữa những đoạn kể đứt quãng vì nước mắt của người má ruột nó, nó nghe câu được câu mất là:

– Má con nhà giàu, sống cùng cha và mẹ kế. Má thương ba con từ thời đi học nhưng ba con nhà nghèo. Bà mẹ kế muốn má lấy cháu ruột của bà ta vì gia sản của ông ngoại. Khi má sinh ra con, vì sợ ông ngoại, má phải giao con cho bà ta. Bà ta nói sẽ đưa con cho người khác nuôi giùm nhưng thật sự bà ấy sai người vứt con đi. Sau đó, cả gia đình ngoại con đi nước ngoài. Trời thương, cuối cùng ba má gặp lại nhau. Sau khi mẹ kế qua đời, ông ngoại con cũng hiểu ra, không ngăn cản như trước. Hiện con còn có thêm một đứa em trai nữa. Khó khăn lắm má mới tìm được tung tích con. Vì ông ngoại con bệnh già nên ba con không về cùng má được. Gặp lại con như vầy, ông ngoại với ba con mừng lắm! Con thương má, đừng trách má tội nghiệp.

Khi má ruột kể thằng Hải nghe như vậy, chị Hai tới cái tủ thờ, lục lọi gì đó. Khi nó quay qua hỏi chị Hai:

– Như vầy là sao hả má?

Chị Hai mếu máo, đúng rồi đó con, má con nói đúng, cái bớt son của con và cái lắc bạc đeo ở chân con. Khi má mang con về không cho ai biết bí mật này hết. Má gói giữ đây, định con lớn, giao cho con để con biết gốc tích của mình. Má con khổ bao năm nay rồi.

Hải ngỡ ngàng sự thay đổi khi cuộc đời mình tự nhiên có thêm bà má, ba, em trai. Trước khi má ruột đi về, ba nói chuyện điện thoại với nó, bảo sẽ nhanh chóng đón nó qua đó cho trọn gia đình. Nó mừng vì mình có gia đình như bao người chứ không trơ trọi. Xóm làng ai cũng vui lây. Một bước sung sướng, con nhà giàu. Nhưng nhiều lần nó cũng dò ý chị Hai khi nó đi rồi chị làm sao? Nó hy vọng chị ngăn cản nó nhưng lần nào chị cũng nói:

– Đi đi con cho có tương lai, qua đó được ăn học, đỡ cực khổ, sống với má mười mấy năm cực khổ rồi con. Ráng học thành người, trả hiếu má chưa muộn, má còn khỏe, má lo được, không sao hết con, còn chòm xóm bà con.

Nó cũng yên tâm phần nào vì không thấy chị Hai buồn phiền gì hết. Nhưng có một lần, nó đi học về sớm, khi ra vườn, nó thấy chị Hai vừa tưới rau, vừa quệt nước mắt. Cái dáng xiêu vẹo của chị in trong trời chiều như một dấu chấm hỏi.

Má nó về, dẫn nó đi làm thủ tục. Sau khi đi tới đi lui cũng thở phào nhẹ nhõm khi cầm trên tay cái visa. Chiều ngày mai thì nó theo má về gia đình thật của mình. Nhưng sao nó không thấy vui hay háo hức như nó nghĩ. Ngược lại, nó thấy như nó đang đánh mất cái gì đó quý lắm! Nó ngồi trước sân, miên man suy nghĩ, nhìn ra cây xoài đang ra trái non. Nó thấy lại hình dáng ngày xưa của mình với má.

Hai má con cùng trồng rau. Nó nhớ cái dáng xiêu vẹo khi má xách thùng nước, nhớ đôi tay má chai sần và đầy vết cua kẹp chứ không mềm mại, mát rượi như tay má ruột nó. Bỗng tiếng chị Hai vang lên, cắt ngang dòng suy nghĩ của nó:

– Ngồi chi ngoài đó gió lạnh đó con. Tranh thủ ngủ sớm, mai má con xuống đón sớm đó. Vô đây má có chút chuyện dặn con.

Khi nó ngồi ngay ngắn trên bộ ván, chị Hai miệng nói, tay kéo cổ nó xuống:

– Sợi dây chuyền này má tính để dành cho con sau này đi học, có cần thì dùng, bây giờ má nghĩ không cần nữa rồi. Má cho con làm kỷ niệm. Má biết má con dư giả nhưng vạn nhất, chuyện gì con cũng có cái phòng thân. Má nghe mấy dì ngoài chợ nói xứ đó lạnh lắm! Con nhớ cẩn thận sức khoẻ, con hay bị khò khè khi chuyển gió. Mới lại, về bên đó, ăn nói từ tốn, ngoan ngoãn cho người ta thương ha con.. Cố gắng học nghe con…

Thằng Hải “nghe” vài giọt nước nhỏ lên cổ và giọng má đang nghẹn lại, nó biết má đang khóc. Nó an ủị:

-Dạ, con biết rồi má. Nhưng sợi dây má giữ đi, phòng thân có mình má bên đây, lỡ má đau bệnh. Con đi vài năm, con về với má liền.

Miệng nói, tay nó lần muốn tháo sợi dây chuyền ra. Chị Hai giơ tay ngăn lại, nói tiếp:

– Đừng lo cho má, từ đó tới giờ má cũng sống vậy. Má con có ngỏ ý gởi cho má số tiền ở trong ngân hàng phòng thân. Nhưng má bảo má không sao, để số đó lo cho con học hành. Giờ nhà mình cũng đâu khó khăn như xưa.

Sáng sớm, khi má ruột xuống đón Hải đi, bà con lại đến đưa tiễn, chúc nó lên đường bình an. Ai cũng ngỡ chị Hai sẽ khóc lóc nhưng trái với thông lệ, chị tươi cười vui vẻ, giống như thằng Hải đi học bao ngày chứ không phải là đi xa không biết bao lâu mới về. Khi xe chạy rồi, bà con ai về nhà nấy, chỉ còn duy nhất chị, chị ngồi bệt ngoài sân, dựa vô gốc xoài nức nở khóc.

Xe Chạy tới Bình Chánh, ngoại ô Sài Gòn, má thằng Hải nói:

– Chút về tới khách sạn, ăn xong, kiểm tra hành lý rồi má con mình ra sân bay. Con đừng lo cho má con nhiều. Má mang ơn chị ấy không hết, má không để chị ấy thiếu thốn hay thiệt thòi gì đâu. Mỗi năm, má sẽ gửi tiền để chị ấy không phải vất vả, con yên tâm đi, vài năm con về thăm chị ấy.

Thằng Hải nhìn má nó rồi nói:

– Má kêu xe dừng lại chút được không má? Con khát nước quá! Con muốn nghỉ mệt chút, con đi xe không quen.

Xe tắp vô một cái quán võng bên lề. Sau khi uống nửa ly nước, thằng Hải tự nhiên xoay qua má nó, nói một hơi như sợ ai cướp lời nó:

– Má… con không giận, không buồn gì má hết, con vui vì con biết hồi xưa má không phải vứt con như con nghĩ. Gặp má, con mừng lắm bởi con có cội có nguồn. Con thương má nhiều vì con biết bao năm nay má tìm kiếm con vất vả, buồn rầu, lo lắng cho số phần con. Nhưng… con thương má của con hơn, má không có con, má còn có ba, có em. Còn má con có một mình con. Khi nào má con không còn nữa, con sẽ về bên má. Má… con xin lỗi má…

Trong khi má thằng Hải còn đang chưa biết phải làm sao trước sự cố bất ngờ vậy thì nó chạy ào qua thanh chắn phân cách hai làn xe…

– Hải… Hải…

Nó đưa tay vẫy chiếc xe đò ngược chiều mà không thèm nhìn coi xe đi tỉnh nào, nó nhảy phóc lên xe. Xe chạy đi trước sự ngỡ ngàng của má nó bên kia lề và chú tài xế đang cố băng qua đường về phía nó.

°°°
Trời về chiều, những tia nắng từ hướng tây chiếu xuống cái sân trước nhà. Bếp núc lạnh tanh dù sáng giờ, chị Hai chưa có hạt cơm bỏ bụng. Chị ngồi trong góc bếp hàng mấy giờ đồng hồ. Chị muốn đứng dậy đi ra sau vườn làm gì đó nhưng tay chân chị bủn rủn, không có sức lực. Chị thầm nghĩ: giờ này chắc Hải đang ngồi trên máy bay như mấy bà ở chợ nói. Chị tự dặn lòng phải mừng cho con chứ, sao mà ngồi ủ rũ như vậy?

Chợt chị nghe nhà trên có tiếng động, sợ con mèo mun nhảy lung tung như thường ngày, làm đổ bể cái gì, chị níu cây cột đứng lên, cố nheo mắt nhìn coi. Có cái bóng đen che ngang trước cửa nhà và tiếng thằng Hải gọi như bao lần đi học về:

– Má ơi…

Chị quỵ chân xuống, môi cười mà nước mắt tuôn như mưa. Ngoài sân, trời về chiều, gió ngoài sông thổi nhẹ từng cơn…

Song Nhi

Thursday, September 17, 2020

NHỮNG ĐỨA CON CỦA MÁ

(Tác giả: Song Nhi)

Hồi nội đem trầu cau cưới má về cho ba, nhiều người nói má có phúc lấy chồng ăn học đầy mình. Đã vậy còn đẹp trai, con út, vườn ruộng thì mênh mông. Bên xứ đó biết bao con gái, vậy mà qua tuốt miệt này cưới má.

Sau đám cưới một tuần, má lên chức liền. Không phải má của Dung đâu bởi lúc đó Dung còn là một sinh linh bay phất phơ tận phương nào. Má thành má của đứa nhỏ hai tuổi, ốm nhách ốm nhom tên Xiêm, con của ba với cô miên lai nào đó ở miệt Sóc Trăng-Trà Vinh.

Một năm sau, má sinh thêm Dung. Suốt khoảng thời thơ bé, Dung gặp Bác Hai ở trên xóm chợ nhiều hơn ba mình. Ba Dung làm soạn giả, kiêm dàn dựng, kiêm luôn ông bầu cho một gánh hát. Chắc vì kiêm nhiều việc như vậy, nên ba đi quanh năm, suốt tháng. Quên luôn mình còn có vợ, hai con gái và bà mẹ già ở cái xóm Xẻo Mây này.

Gánh của ba hát hay cở nào, đi lưu diễn bao nhiêu tỉnh miền Tây  thì Dung với má không biết. Má với Dung chưa một lần được coi đoàn của ba diễn. Ba nổi tiếng, nổi danh ra sao cũng chẳng biết, chỉ biết ba về nhà khi cần tiền mà thôi.

Ba về lâu thì bữa trước bữa sau là đi, mau thì ăn xong bữa cơm. Trước khi đi, bao giờ trong tay ba cũng có cái kim tây đính một hai khâu vàng bà nội đưa. Nội không đưa thì má cũng đưa thôi, không có gì khác biệt. Những lần ba về, chị hai Xiêm và Dung đứng lấp ló chỗ cột nhà lén len nhìn. Tóc ba mướt rượt, quần áo thẳng băng không như ba của tụi thằng Tí hay con Lượm. Chị hai với Dung  không dám mơ được ba làm nhong nhong cho mình cưỡi như ba tụi nó, chỉ muốn được ba ôm một cái để hít hà mùi dầu thơm trên người ba cho đã. Chắc tại chị hai Xiêm lem nhem nên ba không nhận ra được đó là con gái của mình. Cũng như ba sợ ẵm Dung sẽ làm nhăn mất bộ đồ hổng chừng.

Lần này ba về bốn ngày rồi mà chưa đi. Không ai biết lý do nhưng Dung biết. Sáng hôm kia má đi chợ, Dung nghe giọng nội cương quyết :

– Bây đói thì về đây tao nuôi. Tao không cho bây tiền làm tuồng dựng tuồng gì nữa. Bao năm nay bây rút rỉa nhà này, giờ còn cái vỏ mục chớ còn cái gì đâu. Chuyện bây tác tệ bên ngoài tao biết hết. Nhưng tao nói cho bây biết, nhà này chỉ có con dâu duy nhất là má con Dung thôi. Bây mà dẫn cái ngữ ẻo lả, ngã ngớn đó về,  tao vác chổi chà, tao đập cho mang nhục.

Ngày hôm sau thì ba đi. Lúc xuống đò, ba còn dặn đi dặn lại má:

- ” Coi ráng chạy dùm anh nghe mình"  Đó là lần đầu tiên Dung nghe ba gọi má ngọt ngào êm dịu như vậy.

Cả tuần đó, má quơ quào từ vườn sau ra tới nhà trước. Bầy vịt định nuôi đẻ, đám heo mới vô tạ, cá dưới ao má đem bán hết. Bán mão  luôn đám xoài cát sau vườn. Khuya, má tần ngần thở dài mấy lần khi gói cặp vòng cưới chạm kiểu bánh ú trong cái khăn mùi xoa. Má sợ chưa đủ số ba cần. Sợ ba trông, thay vì nhắn ba về như dự định, má tất tả dẫn chị hai và Dung đón xe đò tới chỗ đoàn hát đang diễn.

Tới chỗ đoàn hát của ba đang dựng rạp thì trời đã trưa. Má kêu hai ly nước mía trước cửa rạp cho chị hai Xiêm với Dung uống và biểu hai đứa ngồi yên đó, đừng chạy lung tung. Nói đôi ba câu nhờ dì bán nước mía ngó chừng, má đi vội vô rạp kiếm ba. Má nói đi một chút mà Dung uống hết ly nước mía cả buổi trời, hổng thấy má trở ra. Tới lúc chị hai Xiêm ngủ gục lên gục xuống, mới thấy má ra. Hồi đi, má nói sẽ ở mấy ngày cho hai chị em coi hát đã luôn. Vậy mà trả tiền nước mía xong, má xốc lại giỏ đệm, biểu chuẩn bị về cho kịp chuyến đò chiều. Mặc kệ dì nước mía có lòng nài giữ, dì nói :

– Chị về chi giờ này cho mệt, sáng mai hãy về cho khoẻ. Chắc chị có bà con là đào kép gì hả. Nếu chị hổng ngại, lại nhà tui nghỉ ngơi. Tối nay đoàn hát tuồng Dương Qúy Phi hay lắm. Cô Mỹ Hạnh vợ ông bầu Thanh đóng vai chánh. Đào hát Sài Gòn chính tông nghe. Trời ơi, cổ đẹp hết biết luôn …

o0o

Bẵng đi mấy năm, hôm đó lối xế xế chiều, nghe con Mực sủa inh ỏi  ngòai ngõ, má bước ra. Thấy một người đàn bà trẻ đẹp tay bồng, tay dẫn con nhỏ, đứng bợ ngợ trước cổng rào, má đon đả mời vô nhà uống miếng nước, miệng hỏi chớ em kiếm ai? Người đàn bà chần chờ một chút rồi nói kiếm người bà con mà tìm nhà không ra, Không biết họ dọn đi chỗ khác hay sao đó. Má ừ hử theo, rồi má mời người đàn bà ở lại ngủ, mai hảy kiếm tiếp. Mặc cho nội rầy rà dân cù bơ cù bất biết tốt xấu thế nào mà rước vô nhà, lỡ gặp dân lừa gạt sáng ra không còn cái quần mà bận. Mà má cũng kỳ ghê nơi, cho ở nhờ là tốt rồi, má còn mần gà nấu cháo đãi người ta. Chị hai Xiêm hỏi: 

-Mắc mớ gì không dọn canh rau má, cá kho đang ăn mà phải mần gà vậy má.

Má thở hắt, trả lời: -Người ta dân Sài Gòn, sợ không quen đồ ăn ở quê. Má thiệt là hay nhìn sơ vậy mà biết là dân Sài gòn, dù má chưa đi Sài gòn bao giờ.

Sáng hôm sau, nhà không bị mất mát cái gì. Ngược lại, còn dư ra. Dư hai đứa nhỏ đang ngủ trên bộ ván và cái phong thư được dằn bằng ly uống trà để trên bàn. Nội kêu chị hai Xiêm  đọc coi thư nói cái gì. Chị lập cà, lập cập vừa đọc vừa đánh vần, chữ được chữ mất. Chị đọc xong thì nội kêu trời ơi đất hỡi, biểu Dung chạy lên chợ kêu bác hai xuống liền. Bác hai xuống tới nói đôi ba câu, Nội lại sai bác đi kêu ba về gấp, về liền coi thực hư ra sao.

Còn phần má, hổng cần tới cái thư bởi má hổng biết chữ, nhưng má vẫn biết hết. Má biết người đàn bà đó tên Mỹ Hạnh. Má nhớ rõ vóc dáng, gương mặt ấy dù chỉ nhìn lén, thoáng qua có một lần. Chắc tại cổ ỷ y tưởng má hổng biết mặt cổ. Ui, mà cần gì biết. Nhìn tay cổ đeo hai chiếc vòng kiểu chạm bánh ú thì má biết cổ là ai liền. Ngay khi cổ cùng hai đứa nhỏ ngồi trên bộ ván, má cũng đã biết hai đứa nhỏ đó con ai luôn. Chẳng cần chờ ba về xác nhận.

Tuần sau, má xách cặp gà tơ mập ú với giỏ xoài cát chín cây đi lên nhà ông chủ tịch xã. Chẳng biết do ổng thông cảm hoàn cảnh má  hay do sợ oai bà chủ tịch xã. Chỉ biết hôm sau, má xách cái sổ hộ khẩu lên xã, thì ổng lấy con dấu đóng lộp cộp gì đó. Vậy là má có thêm liền hai đứa con nữa mà khỏi phải đẻ chửa gì ráo trọi.

Nhiều bữa, má ăn chén cơm mà bỏ lên bỏ xuống mâm hai ba lần, tay này chan canh cho bé Thủy, tay kia lấy xương cá cho út Thông. Nội lại kêu trời kêu đất: 

-” Dâu ơi, dâu hỡi, bây hiền chi mà hiền dữ vậy!” Nào đâu chỉ có vậy, má trần thân lai nhộng với tụi nói. Mấy tháng đầu, đêm nào thằng Thông cũng thức giấc khóc rỉ rả cả tiếng đồng hồ. Má một tay xoa lưng nó, miệng ầu ơ ví dầu: 

-” Ngủ đi con, ngủ ngoan má thương ”. Vậy mà nó cứ luôn miệng gọi má ơi, má ời. Con Thủy chiều chạng vạng nào cũng ra đứng trước cổng rào khóc hù hụ như ma trù. Má hỏi nó nhớ má nó hả, nó lắc đầu nói không phải. Nó khóc vì sợ tiếng con Vạt Sành kêu trên cây mận hồng đào trước sân. Nó nói có câu vậy thôi đó, bữa sau má xách dao ra đốn bay cây mận hồng đào bự chảng. Không ai dạy, ai biểu nó hết mà bữa kia, thấy má ngồi phơi đậu xanh trước hàng hiên, con Thủy lụm cái nón lá má để gần đó, lon ton chạy lại, quạt quạt hỏi:

- ”Mát hông má  má bớt mệt chưa má”. 

Má cười, trả lời nó:- ” Má mát, má hổng mệt ” trong khi mồ hôi vẫn chảy thành dòng trên mặt.

Ba gần như biệt tích biệt tăm, không phải ba bận rộn như hồi xưa đâu. Sau khi cô đào chánh Mỹ Hạnh đi theo người tình mới vài tháng, ba bán gánh hát  lại cho người khác. Ba về trồng kiểng, làm thơ cùng người yêu dấu mới của ba, một bà góa trẻ ở chợ Tam Bình.

Năm đó, mới ra giêng thì ba về. Mém chút nữa Dung không nhận ra ba. Ba gầy yếu, tóc bù xù, nước da vàng vọt, khác với dáng dấp phong độ thường ngày. Chiều ấy, trong khi nội vẫn kêu ” trời ơi , đất hỡi ” như thường lệ ở nhà trên, thì má ngồi khóc hu hu sau bếp. Má kêu bốn chị em lại dặn dò chị hai Xiêm những công việc vườn ruộng, heo gà. Phần Dung, má cắt đặt lo nấu cơm nước. Thủy với Thông phải luôn ở nhà trên để nội sai biểu lặt vặt. Má nói ba bị sơ gan cổ chướng nặng lắm do hồi trước, ba uống rượu với hút thuốc nhiều. Sắp tới, má phải lo đi chạy thuốc với ba. Bốn chị em thương má thì phải nghe lời má dặn.

Má bắt đầu những tháng ngày giành giật ba với tử thần. Thời đó chưa có xạ trị như bây giờ, chỉ dựa vào thuốc nam thuốc bắc. Chỗ nào nghe có thầy hay, má cũng lặn lội đưa ba tới coi mạch hốt thuốc. Ngày xưa, với những người đàn bà của ba, má còn giành giật không lại, huống hồ bây giờ là tử thần. Gần năm sau, ba mất.

Một năm sau ngày ba mất, bữa chiều kia đang ngồi trên trường kỷ, nội bảo thấy nhức đầu. Vừa mới bước xuống, định lại hộc tủ lấy chai dầu, thì nội ngã ngang ra. Khi nội tỉnh dậy, phân nửa người bị liệt không thể đi đứng như xưa. Thầy thuốc bảo nội trúng gió. Má tiếp tục chạy thầy chạy thuốc nhưng nửa năm sau, nội cũng qua đời. Má thường ngày đã ít nói bây giờ càng ít nói hơn. Má như cái bóng câm lặng chỉ biết làm việc quần quật từ sáng tới chiều để nuôi bốn đứa con đang tuổi ăn, tuổi lớn.

Hôm đám giỗ đầu xả tang bà nội, có ông khách lạ đi cùng bác hai tới dự. Lạ vì trước giờ ổng không có qua lại chi với nhà Dung, cũng không phải dòng họ bà con. Chớ ai cũng biết ổng là chủ tiệm tạp hóa Thuận Bình có cái nhà lầu bự chảng ngoài chợ, gần nhà bác hai. Tối đêm đó, bốn chị em Dung núp bên mé hiên để nghe lén coi Bác hai nói gì với má. Dung nghe bác hai trai khuyên má tái giá với ông chủ tiệm tạp hóa. Bác nói má cực khổ nhiều rồi. Nay một thân một mình bốn đứa con làm sao mà lo xuể. Bác nói ổng là bạn lâu năm với bác, người tử tế đàng hoàng, vợ chết sớm ở vậy nuôi con khôn lớn. Ổng qúy thương cái tính hiền lành, chịu khó của má. Nhiều người cũng bẹo dáng, bẹo hình nhưng ổng không chịu. Bác hai gái cũng nói thêm vào :

– Anh tư Bình là bà con bên tui thành ra tui biết rõ gia cảnh ảnh. Thím đừng có lo những chuyện rườm rà sau này. Mấy đứa con của ảnh tụi nó hiểu chuyện lắm. Biết ảnh muốn chấp nối với thím, tụi nó mừng và ủng hộ, nói vô hết mình. Thằng con lớn cưới vợ, ảnh cũng chia phần cho nó hẳn hoi. Con nhỏ kế có người đi hỏi rồi. Thằng út đang đi học, sắp ra trường. Hai chị em nó đang ở cái nhà anh Tư mua trên Sài gòn hồi mấy năm trước.

Ảnh có nói với tui nếu thím ưng, mọi chuyện tùy ý thím hết. Thím dẫn tụi nhỏ ra đó cùng buôn bán. Giả như thím thích ở vườn ruộng, nhà ngoài chợ ảnh cho thuê lấy tiền mỗi tháng, rồi ảnh mua thêm đất đai về đây hủ hỉ cùng thím với mấy đứa nhỏ. Nói chung, cần tình nghĩa với nhau, chớ cuộc sống cơm gạo coi như không cần lo. Thím nghe anh chị khuyên, bước thêm bước nữa để có người bầu bạn đở hẩm hiu lúc tuổi già. Con cái phải lớn, rồi lấy vợ lấy chồng đâu có ở cùng mình hoài được.

Những ngày sau đó, cứ đôi ba hôm vào xế chiều, bác Tư đi cùng vợ chồng bác hai vào thăm má con Dung. Lần nào bác tư cũng xách lỉnh kỉnh bánh trái, qùa cáp  Bốn chị em Dung thì thầm đoán già đoán non chuyện má có lấy chồng nữa không  Chị hai Xiêm nói tùy ý má, còn Dung quen không có ý kiến xưa nay. Út Thông hình như thích bác Tư nhất là sau khi bác cho nó mấy món đồ chơi. Riêng con Thủy thì ngược lại, nói một cách dứt khoát- ”Em hổng cho má lấy chồng đâu!". Tưởng nó nói giỡn chơi,  ai dè nó làm thiệt.

Hôm trước, lúc chạng vạng, khi bác hai cùng ông bác tư ra về. Vừa tới cây cầu nhỏ bắt qua con rạch, thì hỡi ơi cái cây tay vịn cầu không cánh mà bay. Người nhà quê như mấy chị em Dung không cần tay vịn vẫn đi ào ào, nhưng người ở chợ như những vị khách ấy thì lại khác. Má giả lả bảo, chắc mấy đứa con nít trong xóm sơ ý làm rớt cây tay vịn. Má sai Dung với chị Xiêm lấy hai cây trúc thật dài, cắm xuống bên mé rạch để mấy bác vịn vào như chống sào để đi cho dễ.

Quay vào nhà, việc đầu tiên má gọi con Thủy hỏi nó giấu cây vịn cầu ở đâu mau ra gắn lại. Má nói nó làm vậy là vô phép, người ta biết sẽ cười má không biết dạy con. Còn như nữa má sẽ bắt khoanh tay qùy gối ở trên nhà trên. Lúc đầu nó chối nhưng khi nghe má nói -”Con là con của má, tánh nết con ra sao má biết rõ ” thì nó cúi gầm mặt mím chặt mô. Chợt nó ngước mặt lên nói :

– "Con hổng làm vậy nữa. Nhưng má đừng lấy chồng được không má. Hông ấy, con nghĩ học cho má đở cực, má đừng lấy chồng nhe má." Nói tới đó thì nó mếu máo khóc. Thằng Thông chẳng biết trời trăng gì, cũng hùa theo khóc. Nó ôm lấy má như sợ ai đó giật má đi mất hổng bằng. Nó nói bằng giọng ngọng nghịu :

– "Con hổng cần mấy chiếc xe đồ chơi đó nữa. Chút con liệng nó xuống sông. Má đừng lấy chồng nghe má. Má đừng bỏ út Thông nghe má …"

Chị hai Xiêm với Dung đứng gần đó cũng oà khóc theo. Má đưa tay ngoắc chị em Dung lại. Má ôm đứa này, rờ đầu đứa kia, nước mắt má chảy ròng ròng mà miệng má cười, má nói :

– Má có nói má lấy chồng hồi nào đâu  Tụi con đừng khóc. Má không lấy chồng, má ở vậy với tụi con. Cuộc đời của má chuyện gì cũng thua kém, không bằng người khác. Cái má được là có bốn chị em con. Thương má thì cố gắng học hành, nên người tử tế.

Không biết má nói gì mà bác Tư Bình không còn tới nhà nữa. Nhưng chắc chắc không phải sợ cái câu hăm dọa của con Thủy

- ” Ổng mà còn tới nữa, em dỡ cầu để ổng lội rạch về cho biết ”. Người ta ở quê nuôi một đứa con đi học đã là chuyện khó  Đằng này, bốn chị em Dung điều tới trường đầy đủ. Trăm dâu đổ đầu tầm, má quần quật từ sáng đến chiều với ruộng vườn. Hết heo gà tới trồng rau, trồng cải... chuyện gì má cũng làm tuốt luốt.

Năm đầu tiên chị Xiêm học đại học ở Sài gòn thì gặp anh Hải. Anh là cháu bà chủ khu nhà trọ chị đang ở để đi học. Anh từ Mỹ về thăm họ hàng, trời xui khiến thế nào mà anh chị phải lòng nhau. Anh ngỏ lời nếu chị ưng thì anh sẽ cưới và rước chị về bển. Nhưng chị lại từ chối. Biết chuyện, má nhắn chị dẫn anh về quê chơi. Tối đó, không biết Má nói gì mà sáng bữa sau, chị lại đồng ý lời đề nghị của anh. Đám cưới được gấp rút tổ chức ngay sau đó. Dung hỏi, má cười cười rồi nói :

– Má thấy cậu Hải mặt mũi dễ coi, nhìn cũng đàng hoàng tử tế. Má biết hai Xiêm cũng thương người ta, nhưng hổng nở xa má với tụi bây. Nó muốn ở đây đở đần má… Con má tánh ý ra sao má biết rõ. Bởi vậy, má kêu nó đừng vì má mà lỡ duyên nợ. Má còn khoẻ, còn lo tụi con được. Mai mốt má già, báo hiếu má cũng chưa muộn.

Đám cưới xong, hai năm sau thì chị Xiêm theo chồng về Mỹ. Bữa đưa chỉ đi ra sân bay, bốn chị em ôm nhau khóc sướt mướt. Chỉ có má là không khóc, má còn rầy mấy chị em là không được khóc người ta cười cho. Phải mừng cho chị chứ, có đâu bù lu bù loa như con nít. Vậy mà, chị đi rồi, ba ngày sau má đụng cái gì đổ bể cái đấy. 

Lá thư đầu tiên gửi về, chị bảo bên nhà chồng rất tốt với chị. Sắp tới chị sẽ đi học tiếp. Chị kể chị nằm mơ thấy cùng với chị em Dung đi nhổ bông súng về nấu canh chua cá linh. Tỉnh giấc dậy, chị nhớ nhà òa khóc khiến chồng chị phải an ủi mãi. Chắc sợ bấy nhiêu đó không đủ diễn tả nỗi nhớ của mình, cuối thư chị còn nhắc lại ” nhớ má qúa trời má ơi ”. Báo hại cả tuần sau đó, má cứ lấy cái thư ra nhìn ngó hoài dù má không biết đọc, rồi má lại lén lén kéo cái khăn lau nước mắt .

Bẵng đi một thời gian chừng năm mấy. Trong một lá thư khác, chị Xiêm nói gặp một người tên là Carol Lê, chính là cô đào hát Mỹ Hạnh ngày xưa. Bà là khách quen của tiệm Nail nơi chị đang làm. Một lần bã thuận miệng hỏi chị ở tỉnh nào của miền Tây, hỏi hỏi nói nói thế nào mà nhận ra là quen biết nhau. Nghe chị bảo Thủy và Thông đều đã lớn và học hành rất giỏi, bà vui lắm. Bây giờ bã giàu có do ông chồng chết để lại nhiều tiền của. Bà có một đứa con với chồng sau. Hiện tại bà đang cặp kè với ông ca sĩ của trung tâm ca nhạc nên thỉnh thoảng bà vẫn đi hát cho vui trong những dịp họp mặt, hội hè.

Mấy tháng sau, vào giữa mùa hè lối xế xế chiều, có bà rất đẹp và sang trọng đứng tần ngần trước ngỏ nhà Dung. Cũng y chang như hồi xưa, má biết bà ta tên Mỹ Hạnh. Biết lý do bà ta tới nhà, nên má  lật đật mời vô nhà rồi hối Dung bắt gà nấu cháo. Mấy hôm sau bà ta xin phép má đưa Thủy và Thông cùng đi chơi với bà ở đâu tận Nha trang – Đà lạt. Đúng ra bà mời cả nhà cùng đi nhưng má từ chối khéo. Má nói má đi xe không quen, vả lại con Heo nái ở nhà gần đẻ nên má phải canh chừng. Má không đi thì Dung dĩ nhiên cũng không đi.

Một tuần sau khi trở về nhà, Thủy với Thông tranh nhau kể cho má  nghe chuyện đi chơi, chuyện bà Hạnh mua sắm cho mình những gì. Buổi tối, bà Hạnh ướm lời muốn làm giấy tờ đem Thủy và Thông về bển cho có tương lai thì má gật đầu cái rụp, như thể má đưa cho người ta hai cái trứng gà, trứng vịt chớ không phải hai đứa con của mình. Thế nhưng ngay lúc đó, con Thủy lên tiếng liền, nó nói tỉnh khô hà:

– Con cám ơn má còn nhớ tới tụi con và lo lắng tương lai cho tụi con. Bây giờ đủ trí khôn biết quyết định cho cuộc đời mình, con không đi đâu hết, con ở đây với má lớn và chị ba quen rồi  Út Thông nó có theo má thì theo, chứ con thì không …

Biết tính con Thủy cứng cỏi hồi đó giờ, má quay qua khuyên nó:
– Đi đi con cho sung sướng tấm thân, má vẫn còn chị ba mày đở đần tay chân, đừng lo cho má. Chừng nào quởn quởn thì về thăm.

Không chờ má nói hết con Thủy cắt ngang lời :
– Đó giờ con có thấy cực khổ gì đâu má. Má kêu con đi chi bằng má kêu con nhảy sông chết khuất cho rồi.

Thấy khuyên lơn con Thủy không xong, má quay qua thằng Thông. Nó xưa giờ ngoan hiền luôn nghe lời má. Nhưng má chưa kịp nói gì, thì nó đã lắc đầu không ngừng và mếu máo nói :
– Hông, con ở đây với má với mấy chị. Hổng đi đâu hết, má đừng đuổi con đi nhe má, tội nghiệp con.

Vậy là má khóc. Má khóc thì hai đứa nó với Dung cũng khóc theo.

o0o

Trong bốn chị em nhà Dung, Thủy xinh đẹp hơn hết và tính tình cũng khác. Thủy mạnh dạn, dám nghĩ dám làm như đàn ông, con trai. Hễ nó muốn làm cái gì là làm tới đầu tới đuôi. Má thường bảo trong bốn đứa con, người má lo lắng nhất là con Thủy. Nhiều lúc Dung nói chơi với má nó không ăn hiếp người ta thì thôi, ai dám ăn hiếp nó mà má lo.

Hồi nó mười tám, mười chín  tuổi đã có nhiều người ngoài xóm chợ giàu có mai mối xa gần. Nhưng nó chẳng quan tâm tới. Những khi ai mà khen ”con nhà ai nhìn ngộ qúa, dễ thương qúa” thì nó trả lời kiểu khơi khơi :

– Giống má tui chớ ai, đừng có thấy má tui nhà quê mà lầm nghe, gái Nha mân chính gốc đấy. Đẹp nhất xứ bên đó, nếu không nội tui đâu lặn lội qua tới bển cưới. Hồi ba tui mới mất, má tui một nách bốn con mà vẫn có người đi hỏi cưới á. Còn lâu tui mới bằng má tui hồi trẻ …

Học sư phạm ra trường, Dung xin về dạy trên xã cho gần nhà thì Thủy vào đại học. Dung quen rồi đi tới hôn nhân với Tánh, l hiệu phó trong trường. Trước đám cưới, má kêu hai vợ chồng Dung lại, nói cho hai đứa miếng đất kế bên để cất nhà ở riêng cho thoải mái Nhưng Tánh không chịu, Tánh nói :

– Con cám ơn má, nhưng ở riêng làm chi má ơi. Nhà mình cũng đơn chiếc, cứ để tụi con ở chung phụ hợ má một tay. Chừng nào út Thông lớn cưới vợ hãy tính tiếp. Nhà con ở bển đông anh em nên không cần phải lo nhiều.

Ngày đám cưới Dung, chị Xiêm mới sinh con còn non ngày tháng nên không về được. Trước đám cưới mấy bữa, Thủy dẫn bạn trai về cho má biết mặt như đã hứa. Lần đầu gặp mặt, Dung một phen hết hồn. Cậu ấy cao ráo, dễ nhìn nhưng hai cánh tay xăm chằng chịt hình thù xanh đỏ như dân anh chị. Dung đem chuyện đó nói với má, kêu má dò hỏi Thủy không khéo lại rước họa vào thân. Bữa chiều lúc Thủy lui cui nấu cơm dưới bếp, Không biết má hỏi chuyện gì mà sau đó coi mòi má ủng hộ tình cảm hai đứa. Dung dò hỏi má thì má nói một câu giống như hồi chị hai Xiêm lấy chồng, má nói : 

-”Con má tánh ý ra sao, má biết rõ” .

Dung sinh đứa con đầu lòng là lúc đám cưới Thủy. Cậu ta là con chủ quán ăn mà Thủy đi làm thêm thời sinh viên. Hồi trẻ nghe đâu cũng có một thời quậy phá, nhưng từ khi quen Thủy thì mọi chuyện thay đổi hoàn toàn. Chẳng biết Thủy nhìn người đúng hay do má hên nên đoán trúng. Chỉ biết chồng Thủy tướng tá như con voi, vậy chứ Thủy hét một tiếng là chạy te te. Cưới vợ về thì nhất mực thương yêu, chí thú lo mần ăn.

Thủy sinh đứa con đầu lòng thì Thông ra trường và lấy vợ. Chẳng biết thế nào mà Thông lại lọt vào mắt xanh của một cô dân Sài gòn chính gốc, nhà mặt phố. Thường ngày má hay nói Thông là đứa ngoan ngoãn và khiến má yên tâm nhất. Thế mà Thông cũng chính là đứa có nhiều rắc rối nhất trong cuộc sống gia đình.

Đầu tiên, khi Thông cưới vợ, Dung là người lo lắng bởi vợ Thông vốn con nhà giàu được nuông chiều từ nhỏ. Người ta tiểu thư biết có hợp với nhà mình không. Thật tình, Dung mong Thông cưới một cô vợ ở quê hơn. Sau khi nói một câu cũ rích ‘‘ Con má tánh ý ra sao má biết rõ ” thì má xách trầu cau đi hỏi vợ cho Thông. Sóng gió bắt đầu xảy ra từ lúc vợ Thông sinh đứa con đầu lòng. Trước đó, Thủy đã nhiều lần nói với Dung chuyện Hằng vợ Thông có ý khinh khi, chê má nhà quê. Hằng luôn tìm cớ tránh né để khỏi về quê chồng trong những dịp lễ tết hay giỗ kỵ .

Chuyện ngày càng lớn hơn khi bé Ngọc con Thông được vài tuổi. Một lần, má lên thăm hai vợ chồng Thông. Khi má đưa cho bé Ngọc qùa bánh dưới quê, con bé cứ lắc đầu không chịu lấy. Má gạn hỏi nó ngây thơ trả lời là ”mẹ dặn như vậy”. Chiều đó, khi Thủy qua chơi chị giúp việc tọc mạch lại cho Thủy nghe. Thủy làm ầm lên chưởi Thông không biết dạy vợ rồi một hai xách giỏ bắt má qua nhà mình ở. Về sau, hễ má lên Sài gòn thăm cháu, ngồi chưa nóng đít bên nhà Thông là Thủy xách xe chạy qua rước má về nhà mình. Từ đó sinh ra xích mích không thuận thảo với vợ chồng Thông khiến cho má buồn lòng, thành ra mấy năm liên tiếp, má không đi Sài gòn thăm cháu như hồi trước.

Người ta hay nói con nhà tông không giống lông cũng giống cánh thiệt hổng sai. Thông làm việc ở ngân hàng chẳng liên quan chi tới nghệ thuật. Nhưng cao ráo đẹp trai, phong độ giống ba hồi trẻ, Thông lại có khiếu với cái đẹp. Thông thích chụp ảnh từ thời sinh viên. Tay ngang không qua trường lớp gì hết mà Thông lại đoạt giải trong một cuộc thi ảnh. Sau đó, được mời chụp cho mấy cô ca sĩ, người mẫu. Lẽ tự nhiên, nhiều cô gái đẹp vây quanh Thông vì nhiều nguyên do riêng. Mới đầu Hằng cũng ghen tuông, rồi ghen thế nào không biết mà Thông đòi ly dị. Người ta đồn thổi về chuyện một cô người mẫu triển vọng đang ra sức mồi chài Thông.

Một bữa chừng xế trưa, má đang ngồi trên võng trước hiên nhà, vợ Thông dẫn bé Ngọc xuống tới. Vừa thấy má, Hằng oà lên khóc tức tưởi, bảo là Thông dứt khoát đòi ly dị dù Hằng năn nỉ hết lời, Hằng nói :

– Hôm bữa con có nói cho chị tư nghe. Chị giận lắm, chị đi gặp con hồ ly tinh đó làm cho một trận. Nhưng mà nó nhất khoát không chịu buông anh Thông ra. Chị Hai cũng điện thoại về can ngăn anh Thông nhiều lần mà ảnh không nghe. Má giúp con với má ơi, ảnh mà ly dị thì con với bé Ngọc phải làm sao đây!

Nhằm ngay mùa hè không có đi dạy nên Dung đi cùng má và vợ Thông trở ngược lên Sài Gòn. Tới nhà Thủy thì trời xế chiều  Trong khi Thủy hặm hực kể lại chuyện Thông bồ bịch và không nghe lời mình thì má kêu Dung gọi điện thoại cho Thông, nói má lên vậy thôi.

Sau bữa cơm chiều, Thông ghé qua nhà. Vừa thấy mặt, Thủy ào ào la rầy Thông như cũ. Ngay lúc đó, cô con gái nhỏ của Thủy từ trên lầu xuống nói :– Ngoại biểu mình cậu lên lầu cho ngoại nói chuyện.

Bóng Thông vừa khuất sau góc cầu thang, Thủy nói với Dung bằng giọng đầy lo lắng :

– Em coi vụ này chắc hổng xong qúa chị ba. Em làm dữ, đòi từ mặt nó luôn mà nó còn không nghe huống hồ má. Má đó giờ có la rầy đứa nào bao giờ đâu. Má lại thương nó nhất, không khéo nó năn nỉ má xiêu lòng cho coi.

Nghe Thủy nói vậy, Hằng đang ngồi trong góc nhà lại oà khóc tiếp. Gần nửa tiếng đồng hồ trôi qua, vẫn không thấy má với Thông đi xuống nhà. Thủy nóng ruột đi ra đi vô, rồi chợt ghĩ ra cách. Thủy kêu đứa con gái lớn đang ngồi chơi với bé Ngọc và bảo :

– Diễm, con vô tủ lạnh bưng hai ly nước lên lầu cho ngoại với cậu út. Nhớ đứng lại lâu lâu nghe coi ngoại với cậu út nói gì, rồi xuống kể cho mẹ nghe.

Với khoản thời gian ngắn ngủi để hai ly nước, con bé chỉ nghe lóm được bà ngoại nói với cậu út một câu như vầy: 

-  Đã là đàn ông thì đừng có làm khổ những người đàn bà yêu thương mình. Vợ nó không biết thì từ từ nói cho nó biết. Má không giận, không trách nó. Con là chồng, chấp nhất nó mà chi ” .

Lát sau ,Thông một tay dìu má chầm chậm bước xuống bậc cầu thang. Ngồi nói vài chuyện ở quê này nọ với Dung xong, Thông đứng dậy nhướng mắt về phía Hằng rồi nói :

– Chê má tui nhà quê mà xuống dưới kiếm má chi vậy. Tính ngủ ở đây luôn hả? Về bển dọn dẹp nhà cửa cho bé Ngọc đi ngủ sớm. Lôi con bé đi cả ngày chắc nó mệt nhừ rồi.

Hằng sụt sùi chống chế ‘‘em đâu có chê má nhà quê hồi nào đâu” rồi lủi thủi dẫn con đi theo sau lưng Thông. Ra tới cửa, Hằng còn quay đầu lại có ý kiếm má, Hằng nói với vào: 

- "Sáng sớm mai, con qua chở má đi ăn sáng nhe má, má chờ con nghe má ” .

Má cười cười:- ” ừ , má chờ' . Thông vừa chạy khuất đầu ngõ, Thủy nôn nóng hỏi liền :

– Sao rồi má, thằng Thông nó nói sao hả má? Hổng ấy, để mai con kiếm con kia làm cho trận nữa cho nó sợ.

Má không trả lời Thủy là Thông nói cái gì. Má chỉ nói gọn, ” Không có chuyện gì nữa đâu” và Kế tiếp là cái câu mà mấy chị em Dung nghe không biết bao lần ”Con má tánh ý ra sao, má biết rõ” .

Thông không ly dị vợ như từng tuyên bố. Hằng cũng chẳng còn tính tiểu thư như xưa. Cứ lễ tết thì vợ chồng con cái kéo nhau về quê chơi. Vắng vắng vài tháng thì Hằng gọi điện thoại về kêu 

-”Má ơi, bé Ngọc nhắc má qúa chừng. Má lên chơi với tụi con vài tuần đi má. Con thèm bánh canh má nấu rồi”. Đôi lúc con Thủy đâm ra hờn mát như hồi con nít, bảo: 

-” Má thiên vị, thương vợ chồng út Thông hơn thương tui”.

Thời gian cứ hối hả trôi. Má vẫn chạy tới chạy lui với những đứa con của mình. Một buổi trưa ăn cơm xong, tự nhiên má kêu thấy nóng trong người. Má sai Thanh, con gái lớn của Dung, nhắc cái ghế mây -mà đợt trước chị hai Xiêm về thăm mua tặng- ra gốc nhãn trước sân để má ra ngồi hóng gió sông. Má biểu nó bật cái radio nhỏ xíu xài bằng pin- của cậu mợ út đem về hôm bữa- cho má nghe chương trình tân cổ như thường lệ. Má ngồi trên cái ghế mây nhìn theo bóng nắng che khuất một phần sông.

Chợt má xếp cái quạt lại để gọn trong lòng, tựa người vào phía sau thành ghế. Má thở hắt ra một cái, rồi khép chặt đôi mắt ngủ một giấc thiên thu không thức dậy nữa. Chẳng còn nói cái câu quen thuộc mà bốn chị em Dung nghe tới nổi thuộc lòng mấy chục năm nay: -”Con má tánh ý ra sao , má biết rõ”.

Gió từ mé sông thổi lắt lay trên cành lá. Cái radio treo tòn ten sau lưng ghế đang thả vào không gian những câu vọng cổ buồn hiu hắt.

Wednesday, February 13, 2019

Ruột Thịt Tình Thâm


Tin chị Thơm bị chồng bỏ lan ra nhanh chóng đầu trên xóm dưới .

Có người nói tội nghiệp chị đẹp người đẹp nết, con nhà ăn học mà số long đong .

Nhưng có người lại mừng dùm và họ coi đó như giải pháp mà ông trời giải thoát cho chị khỏi cảnh khổ .

Chị Thơm là con gái duy nhất trong ba người con của thầy giáo Thức ở xứ này. Thời sinh tiền lúc còn sống thầy và ông chủ tiệm vàng Kim Vinh là bạn tâm giao nối khố có nhau dù một người làm buôn bán một người theo nghiệp chử nghĩa thánh hiền .

Ngay khi chị Thơm chỉ là trẻ thơ lúc nghe ông Vinh muốn kết thông gia cho hai gia đình càng thân hơn, thầy giáo Thức đã đồng ý ngay.

Thơm từ nhỏ đã sáng dạ học đâu nhớ đó , thương con nên lớn lên ba chị cho chị lên ở nhờ nhà người cô ruột trên Sài Gòn để tiếp tục việc học .

Năm đó tự nhiên ông Vinh bị một căn bệnh lạ, chạy chữa nhiều thầy thuốc mà bệnh có vẻ không thuyên giảm. 

Khi thầy giáo Thức sang thăm ông bèn nhắc chuyện xưa và muốn tiến tới hôn nhân cho con trai mình. Trước là được yên lòng nhắm mắt vì con nên bề gia thất do ông Vinh biết rất rõ Thơm là cô gái rất tốt. Thêm vào cái hy vọng là biết đâu hôn lễ xua đi được cái vận hạn xui xẻo đang đè ám gia đình ông. 

Năm 19 tuổi Thơm được ba mình gọi về quê và lấy chồng trong cái không khí gấp rút của đám cưới đang chuẩn bị. Lúc đầu Thơm phản đối bằng cách bỏ ăn và khóc lóc không ngừng. Nhưng đến khi ba chị dọa thắt cổ tự vận nếu chị dám từ hôn làm trái ngược lại lời hứa mà ông coi trọng như núi. Đến nước đó thì Thơm hết cách đành theo ý ba mình về làm vợ Huấn. 

Cứ tưởng Huấn chồng chị Thơm lấy được người vợ như chị, anh ta hẳn vui mừng mới đúng. Nhưng vốn tính nhỏ nhen thêm vào chất gia trưởng Huấn thấy chướng mắt vì sự học vấn của vợ. Trong khi chị vận dụng cái giỏi giang của mình để gánh vác việc nhà chồng thì Huấn sau khi tỏ rỏ đường đi lối về với cô vợ trẻ anh ta lại miệt mài với những thú vui tình ái bên ngoài. Từ khi sinh Thu con gái đầu lòng chị Thơm nhiều lần khuyên chồng nên để đức cho con đừng đi gạt gẫm những cô gái khác nhưng Huấn gạt bỏ ngoài tai. Thậm chí nhiều lần còn hạ cẳng tay, thượng cẳng chân với chị khi say. Nhất là sau khi ba chồng chị là ông Vinh qua đời thì Huấn không còn phải e dè, kiêng kỵ̣ ̣một ai. 

Một lần đoàn gánh hát của ông bầu Tám Ít về đây hát, Huân đi xem và đâm ra mê mệt Hai Như cô đào nhì của gánh. 

Khác với những lần trước lần này Huấn trong mắt Hai Như là con mồi lớn nên Hai Như quyết không buông, cô xõ mũi Huân một cách nhanh chóng. Vốn xuất thân lang bạt nên Hai Như không dể dàng gì trở thành trò chơi của Huân cô buộc Huân phải cho cô danh chính ngôn thuận khi cô có mang. 

Thế là sau 9 năm, chị Thơm đành chịu tiếng bị chồng bỏ bởi không chịu nổi sự cay nghiệt cũng như những trận đòn thừa sống thiếu chết của Huân gần đây. Thầy giáo Thức ba của chị cũng qua đời vài năm trước đó nên chị cũng không muốn níu kéo. 

Chị đồng ý ra đi với hai bàn tay trắng không làm phiền Huân cưới vợ mới nhưng bù lại Huân phải để chị dẩn bé Thu lúc này được 5 tuổi đi theo mình . 

Buồn cho phần số dang dở của mình và cũng không muốn ở lại quê nơi có nhiều kỷ niệm gợi chuyện phiền lòng chị Thơm dẫn con gái lên lại Sài Gòn. 

Ban đầu chị tá túc ở nhà cô ruột như trước. Sau đó chị mang số tiền cha mẹ ruột cho phòng thân khi xuất giá lấy chồng làm vốn mua bán. 

Chị mở một sạp bán trái cây và thuê căn nhà nhỏ gần đấy cho tiện việc đi về mẹ con chị sống yên ả vui vẻ với nhau. 

Dạo gần đây có một anh chàng người Mỹ thường ghé mua trái cây chổ chị. Anh ta gây sự chú ý cho Thơm bởi anh ta nói được tiếng Việt rất rành khác với những anh chàng Mỹ lớ ngớ thỉnh thoảng vẩn ghé chổ chị mua hàng. 

Anh chàng người Mỹ John Smith ấy cũng thật bất ngờ khi thấy cô chủ hàng nói rất chuẩn thứ ngôn ngữ mẹ đẻ của mình và là một người có ăn học. 

Lúc đầu chỉ là trò chuyện xã giao lâu dần họ thành bạn. Dù hai người cách xa nhau về hình thức lẩn nơi sinh trưởng nhưng họ lại khá hợp nhau trong nhiều cách nghĩ. Hơn một năm sau John ngỏ lời với muốn cưới Thơm làm vợ. 

Phần Thơm thật sự chị dành rất nhiều cảm tình cho John nhưng chị cũng e ngại sự cách biệt và tiếng đời thường mĩa mai những người phụ nữ lấy Mỹ thời đấy nên chị còn lưỡng lự chần chừ. Nhưng tấm chân tình của Louis khiến chị cảm động. Hai năm từ ngày họ quen biết chị dẹp cửa hàng về làm bà Smith. 

Mười mấy năm trôi qua gia đình chị Thơm có thêm một trai hai gái. Peter được 13 tuổi , Mary 11 tuổi và Ann 9 tuổi. 

Ngoài xã hội John là người khá thành công về kinh doanh nhưng khi về nhà John là người chồng có trách nhiệm. Anh ta đối xử với Thu cũng như những đứa con khác của mình hết mực yêu thương không hề có sự phân biệt. Gia đình họ sống đầm ấm hạnh phúc ngoài những lúc đến trường ở nhà chị Thơm vẩn gọi con bằng những cái tên tiếng Việt là Phú, My và Ái . 

Khác biệt nhau về mái tóc và cả màu da nhưng bốn chị em Thu lại quấn quít hòa thuận, luôn gắn bó bên nhau không rời . 

Năm 1975 lúc này Thu đã 21 tuổi đang theo học một trường Dược ở Sài Gòn. 

Một ngày chị Thơm nhận được tin Huấn chồng cũ của chị tức là ba ruột của Thu ở quê qua đời đột ngột vì một cơn đột qụy. Đúng ra chị Thơm không muốn về bởi tình hình lúc đó có nhiều thay đổi và Huấn từ lâu không hề nhắc nhở hay đá động gì tới đứa con gái của mình là Thu. Nhưng cuối cùng chị cũng dẫn Thu về chịu tang cho đúng phép tắc dù gì họ cũng là cha con. Phần chị thì xem như nghĩa tử nghĩa tận đến thắp một nén hương cho phải đạo làm người, hơn nữa chị không an tâm để Thu về một mình. 

Sau đám tang ngay lúc chị chuẩn bị trở về Sài Gòn thì thời thế thay đổi trong một đêm phải chờ đến cả tuần sau và bằng nhiều cách mẹ con chị mới lặn lội trở về được Sài Gòn. Nhưng khi chị Thơm và Thu lên tới Sài Gòn thì mọi chuyện đã khác lạ hoàn toàn . 

Dâu bể đổi dời chỉ trong khoảng thời gian ngắn, chị không thể vào được nhà cũ bởi chúng bị tịch thu nên chị không lấy được thông tin hay địa chỉ liên quan gì tới chồng mình ở Mỹ . 

Cũng không thể hỏi thăm ai giữa cái lúc hỗn loạn ấy chị dành dẫn Thu nương náu, mưu sinh ở một quận gần đó và cố gắng hết khả năng để nghe ngóng liên lạc với chồng và con của mình trong vô vọng. 

Ngày xưa vì người ở quê hay kỳ thị, dè bĩu và lo cho sự an toàn của chồng vào thời còn chiến tranh. Chị Thơm chỉ dẫn duy nhất Peter về quê ngoại chơi hai lần mà thôi. Không cho John cùng hai con gái nhỏ về thăm quê lần nào. Bởi má chị vẫn lên thăm gia đình chị ở Sài Gòn thường xuyên. Do chị cũng ỷ y đâu có dè cuộc đời có những thay đổi như vậy. 

Thời gian dần trôi không một tin tức nào về họ dù là sống chết. Phần lo lắng thương nhớ con nên sức khoẻ chị Thơm mỗi ngày một kém. Rồi chị qua đời vào một đêm mưa sau cơn bệnh trong tay vẩn còn nắm chặt tấm ảnh gia đình của mình. 

Lúc lâm chung không biết có phải còn tiếc nuối hay ấm ức mắt chị mở trừng trừng khiến Thu khóc than tức tưởi khấn nguyện rằng sẽ cố gắng tìm được những đứa em và mang chúng về. 

Phần John Smith vào lúc mọi người nhốn nháo rồng rắn di tản dù không muốn bỏ vợ mình lại nhưng John không còn cách nào khác hơn đành dẫn ba người con của mình lên máy bay về Mỹ trong nổi đau đáu lo lắng. Khi về đến xứ sở anh ta cũng cố gắng liên lạc với vợ mình nhưng ngoài tên họ của vợ và con gái. John chỉ biết thêm địa danh quê vợ là Xào Bân chứ không hề có thông tin gì khác. Đường phố còn thay đổi tên thì nói chi muốn tìm một con người giữa cái đất Sài Gòn mênh mông ấy. 

Ba năm sau trên đường đi làm về John qua đời trong một tai nạn giao thông thảm khốc. Những đứa con của anh được chuyển về sống với ông bà nội ở bang Texas. 

Gia đình họ lạc nhau từ đó... 

***** 
Ba mươi lăm năm sau 

Thu bây giờ tóc đã bạc hơn phân nửa và lên chức bà Ngoại chị lấy chồng có được ba người con. Chồng chị là người đàn ông tốt và hiền lành . 

Các con chị vẫn sống và làm việc ở Sài Gòn. Còn chị và chồng về sống ở quê vào 5 năm trước trên mảnh đất hương hỏa của bà Ngoại chia cho mẹ chị ngày xưa, vui thú cùng vườn cây ao cá, như bao người có tuổi khác . 

Cuộc sống chị êm đềm, hạnh phúc như bao gia đình an phận bình thường nhưng dù bao năm trôi qua trong lòng Thu vẫn không quên được nỗi nhớ về những người em của mình . 

Thỉnh thoảng nhìn những tấm ảnh cũ đã úa vàng mà chị lưu giữ như một báu vật, chị lại chảy nước mắt. 

Chị khóc khi hồi tưởng cái khoảng khắc ngày xưa đút cơm cho những đứa em của mình. Chị nhớ rõ đứa nào thích ăn gì, tính nết ra sao. 

Nhớ lúc chạy giỡn trong khoảng sân nhỏ cùng nhau giờ không biết họ lưu lạc phương trời nào và có bình an không ?. 

Hiểu nỗi khổ tâm bao năm của chị Thu các con chị cũng giúp mẹ bằng mọi cách họ có thể . 

Từ những phương tiện thông tin hiện đại đến nhờ cả đại sứ quán giúp đỡ, nhưng thông tin qúa ít ỏi và trôi qua nhiều năm nên sự tìm kiếm của họ cũng rơi vào im lặng. 

Peter, Mary và Ann hiện tại cũng đã có gia đình và con cái họ khác xưa hoàn toàn. Vốn Việt Ngữ của họ gần như là mất hết, ngoại trừ Mary do làm quản lý ở một hãng có nhiều người Việt nên cô còn nói được chút ít. 

Nhưng ba người họ vẫn không quên người mẹ và chị của mình. Họ về Việt Nam rất nhiều lần nhờ sự giúp đỡ của nhiều nơi . 

Nhắn tin trên báo để tìm kiếm nhưng tất cả vẫn không có tin tức gì, họ cũng không có nhiều manh mối để mở rộng việc tìm kiếm… 

Năm 2010 Peter lúc này đã 48 tuổi nhân dịp nghỉ thường năm anh ta dẫn theo cô vợ người Mỹ của mình là Jessica về Sài Gòn du lịch. 

Lần đó khi đang ngồi trên chuyến xe tham quan của một đoàn du lịch chuẩn bị đi đến điểm vui chơi theo lịch trình . 

Là người vui tính Peter trò chuyện cùng anh hướng dẫn viên là ngày xưa mình được sinh ra ở Sài Gòn . 

Nhắc về kỷ niệm vô tình Peter nói rằng quê ngoại ở Xào Bân bằng một thứ tiếng Việt lơ lớ. Có một vị khách lớn tuổi trong đoàn nghe được. Ông ta nói là ông ta biết một nơi trước kia gọi là Xẻo Bần chứ không phải là Xào Bân. 

Đó là một làng nhỏ do dân địa phương tự đặt tên ấy vì có cái rạch nhỏ chảy cắt ngang qua. Mà bây giờ không còn ai gọi là Xẻo Bần nữa họ gọi bằng tên một thị trấn khác. 

Không biết có cái gì xui khiến Peter vội lấy giấy bút ra và nhờ ông ta ghi lại chính xác nơi đó bằng cái tên hiện hành ngày nay. 

Bỏ dở chuyến đi chơi Peter cùng vợ ngược về Sài Gòn tìm đến trung tâm lữ hành du lịch và ngỏ ý muốn thuê một hướng dẫn viên thông thuộc miền Tây để đi đến địa danh mà vị khách lạ cho. 

Khi họ đến nơi thì gần như không còn vết tích nào giống trong ký ức của Peter. Anh ta nhớ ngày xưa phải đi bằng thuyền nhỏ và cây cỏ hoang dại. Còn nơi anh ta đến ngày nay là thị trấn sầm uất đông đúc xe cộ chạy xuôi ngược . 

Thấy vẻ thất vọng của Peter anh hướng dẫn viên cũng không biết làm sao hơn đành cùng người tài xế chở hai vợ chồng ông khách người Mỹ đi loanh quanh cho đúng theo trình tự một chuyến tham quan . 

Xe chạy dọc những con lộ nhỏ và anh hướng dẫn viên giảng giải đây là một vùng chuyên về trồng trái cây . 

Chợt lúc đó chuông nhà thờ đổ hồi chuông ban trưa thông lệ. Như có một thứ giác quan mách bảo Peter đòi được đến nơi đó . 

Cả nhóm họ rời xe đi bộ trên con đường làng khi đứng trước căn nhà thờ có tuổi thọ gần cả trăm năm được xây từ thời Pháp đô hộ. 

Peter gần như là không kèm được sự xúc động bởi anh ta nhận ra đây đúng là quê ngoại mình mà ngày xưa anh được mẹ dẫn về . 

Qua bao nhiêu năm nhưng cũng may là cái nhà thờ ấy vẫn không thay đổi hình dáng kiến trúc cũ. Nhất là cái vị trí nằm ngay ngã ba sông rất đặc biệt . 

Peter nhớ một cách rõ ràng như vậy do có một lần khi về quê chị lớn là Thu dẫn em trai mình đến đây chơi. Đang vui đùa chợt Peter tự nhiên bị chảy máu cam không rõ nguyên nhân khiến Thu hốt hoảng cầu cứu. Chính một vị ma-soeur hiền lành đã kêu Peter nằm ngay xuống trước sảnh nhà thờ và ngước mặt lên ngay cho máu ngừng chảy. Trong khi bà đặt chiếc khăn lạnh trên trán của Peter để hạ nhiệt độ. 

Theo trong trí nhớ của Peter nhà bà ngoại đi bộ cách đó một đoạn nhưng hướng nào thì anh ta mơ hồ không nhớ nổi . 

Vốn nhạy bén sau một hồi suy tính Peter nhờ anh hướng dẩn viên hỏi thăm những ai nhiều tuổi từng sống nơi đó về người đàn bà có tên Ba Thơm có con gái tên Thu . 

Nhưng già trẻ không một ai biết bởi ngày trước chị ba Thơm chỉ thỉnh thoảng về thăm quê rồi đi. Số người còn lại họ đến ở nơi đây mới độ hai , ba chục năm thì làm sau biết chuyện ngày xưa cũ . 

Thêm nữa ở quê người ta thường gọi theo thứ ít ai gọi tên nên chẳng ai biết người đàn bà mà Peter muốn kiếm là ai. 

Cuối cùng Peter chỉ còn cách ghi lại địa chỉ khách sạn ở Sài Gòn nơi mình trú ngụ cùng số điện thoại cá nhân đang tạm dùng trong thời gian ở Việt Nam. Peter hứa sẽ hậu tạ cho bất cứ ai có tin tức về hai người mình đang cần tìm . 

Đúng lúc kẻ ghi người viết thì có một người đàn bà đứng tuổi đi chợ về ngang do tò mò bà ta rẽ đám đông vào xem . 

Khi biết rõ câu chuyện bà ta chậm rãi nói: 

-Tui biết có chị kia ở cạnh nhà bà sui gái của tui . 

Nghe đâu tên của chỉ là Hai Thu mà tui không nghe chỉ có anh chị em chi hết . 

Chị mới về đây sống độ mấy năm thôi không biết có phải chị Thu gì mà ông ấy muốn kiếm không ? 

Nhà chị ấy tuốt dưới xóm dưới đường hơi khó đi một chút. 

Sau khi nghe anh thông dịch nói lại , không bỏ sót một tia hy vọng vào , Peter vội khẩn khoản bà ấy giúp mình. 

Họ chọn ra giải pháp cả nhóm sẽ ngồi ở quán cafe đầu chợ. Trước là chờ gặp người tên Thu mà người đàn bà ấy vừa nói . 

Sau là uống ít nước và nghĩ ngơi tạm bởi vì nhóm họ điều thấm mệt sau hàng nữa ngày trời đi tới đi lui. 

Người đàn bà kia thì lên một chiếc xe honda ôm đã được Peter trả tiền tới nhà chị Thu và nhắn chị ấy có người cần gặp ngồi chờ nơi quán nước trước cổng chợ. 

Buổi xế trưa, sau bữa cơm chị Thu đang cho mấy con gà ăn trước sân như thường nhật chợt có tiếng xe honda dừng trước cửa. 

Khi nghe nói có ông tóc vàng mắt xanh cần gặp một người tên Thu trước sống ở Sài Gòn và cở bằng độ tuổi của chị vì có chuyện cần, chị hai Thu đã luống cuống tay chân, buông luôn cái thau đựng cơm nguội xuống sân nhà. 

Chị không kịp cám ơn người đàn bà tốt bụng mà vội chạy vào lấy cái nón lá và lên tiếng gọi ông chồng mình đang lui cui sau vườn. 

Tay chị run rẩy đến nổi không thay nổi cái áo bà ba nên chị mặc nó tròng đôi vào cái áo đang bận. 

Chị lập cập không giấu được vẻ hồi hộp của mình khi ngồi lên chiếc xe do chồng mình nổ máy chờ sẳn chạy vội ra chợ. 

Ở quán cafe mọi người không dấu được ánh mắt tò mò trước hai vị khách ngoại quốc đang ngồi chờ như ngóng trông ai đó. 

Xe ngừng trước quán chị Thu bươn bả đi vào, đám đông khẽ nhích ra nhường lối cho chị . 

Nãy giờ đi ngoài trời chói nắng nên chị lột vội cái nón lá quẳng vô góc để nhìn cho rõ, Peter cũng vội vã đứng lên . 

Không cần phải nói hay hỏi han điều gì chỉ cần nhìn mặt Peter chị Thu đã biết đó chính là em trai của mình bởi Peter giống cha anh ta John Simth thuở xưa như tạc . 

Chị Thu khóc ngất nói trong tiếng nấc: 

-Em ơi ....Phú ơi .... 

Cơn xúc động dâng lên cao độ khiến chị Thu loạng choạng như muốn ngất. 

Peter vội đỡ lấy chị mình dìu chị ngồi xuống ghế anh ta cũng khóc khi nhìn gương mặt của chị Thu với những đường nét của mẹ mình ngày xưa. 

Nhoài người tới ôm lấy người chị của mình Peter lắp bắp bằng một thứ tiếng Việt ngọng nghịu : 

-Chị ... chị Hai ... Phú nè ...chị chị Hai … 

Tiếng chị Thu miếu máo ngắt quãng từng chập : 

-Mẹ mong chờ mấy em biết bao nhiêu... hu..hu ...mẹ mất rồi em ơi. 

Trong khi Jessica vợ của Peter nhẹ đưa cánh tay vỗ vỗ lên lưng chồng mình như sẻ chia dù cô không hiểu chuyện gì đang xảy ra cũng như người đàn bà kia nói gì . 

Thì chồng chị hai Thu biết rõ câu chuyện hơn do vợ mình thường kể nên anh cố giấu đi vẻ xúc động bằng cách nói như phân bua: 

-Em của vợ tui, chị em ruột ấy thất lạc mấy chục năm rồi không tin tức chi hết. 

Nhìn thấy một ông ngoại quốc cao lớn nắm chặt tay một người đàn bà Việt Nam mãnh mai miệng chỉ lắp bắp được vài chữ 

''chị ơi..''. 

Một số người trong quán hôm ấy khẽ lén lau đi giọt nước mắt vừa ứa ra. 

***** 
Một buổi tối của hai tháng sau. 

Nhà chị Thu đèn đuốt mở sáng choang nhiều người đi tới đi lui. Mấy bà chị thì nhỏ to dưới bếp bên cạnh nồi cháo gà và vài món ăn nhẹ . 

Họ lo không biết những ông bà người Mỹ ở nhà trên có ăn được những món ăn Việt Nam không và nêm niếm như vậy có vừa khẩu vị của họ chưa. 

Vài người trẻ trong xóm ngồi ngoài mấy cái ghế tre trước hiên của nhà chị Thu. 

Đôi ba ông cụ bà cụ lớn tuổi một chút ngồi trong phòng khách cùng chị hai Thu, Peter, Mary và Ann. 

Họ tới mừng cho chị khi nghe được tin chị em trùng phùng sau bao năm và tò mò chờ nghe câu truyện có phần hơi ly kỳ của họ. 

Bốn chị em của chị Thu ngồi trên bộ di văng nói chuyện với nhau. 

Mary còn nói được chút ít tiếng Việt, Peter và thì nhớ được một vài câu xã giao ngọng nghịu. 

Riêng Ann thì không nhớ một câu nào, cả ba người họ phải nói qua người phiên dịch đang ngồi trên cái ghế nhỏ cạnh đó. 

Chị Hai Thu đưa khăn lên lau nước mắt khi nghe Peter kể sau khi ba chết họ về sống cùng ông bà ở nơi mới. 

Đi học Peter hay bị bọn trẻ chọc ghẹo kỳ thị vì là con lai. 

Khiến cậu ta đánh nhau đến nổi chút nữa thì bị đuổi học. 

Chị lại cười khi Mary nói lúc về Mỹ muốn ăn trứng ấp thảo với cháo trắng như ngày xưa mẹ nấu ở Việt Nam nhưng đành chịu vì không biết cái trứng đó tên là gì. 

Bao nhiêu năm Mary luôn cảm thấy tủi thân và không vui khi ai đó hỏi về nguồn cội bởi Mary không biết trả lời họ ra sau. 

Ra vẻ ái ngại Ann nhìn họ rồi khẽ nói, qua người thông dịch rằng : 

''Lúc đầu khi nhìn những tấm ảnh cũ ố vàng ngày xưa và nghe anh Peter thông báo tìm được chị và nhắn thu xếp về gặp nhau . 

Cô được một vài người khuyên nên cẩn thận để tránh sự nhầm lẩn thậm chí biết đâu chừng đó là sự giả trá, lường gạt. 

Vì khi đi cô là người nhỏ tuổi nhất rồi sống ở môi trường không có người Việt nên ký ức về chị trong cô không còn được rõ nét như hai anh chị mình. 

Nên cô thật sự có phần dè dặt, không tin lắm nhưng trên đường về đây khi ghé qua quán ăn tạm ở dọc đường, chị hai Thu đã ngăn cô lại khi cô định ăn một bát súp. 

Chị ấy nói rằng súp đó được nấu bằng tôm mà chị biết rõ Ann từ nhỏ đã dị ứng với đồ biển. Rồi chị nhờ người thông dịch hỏi giúp chị vết sẹo trên đùi Ann có biến mất theo thời gian không hay là to hơn. 

Ann cố ý hỏi vặn lại vết sẹo gì ? 

Chị Hai Thu nói ngày trước Ann từng bị té vào chậu hoa sau vườn nhà nên đùi có một vết thẹo khá dài , chính chị đã băng lại giúp cô. 

Ann đưa khăn giấy chậm nước mắt bằng vẻ bối rối, xúc động cô ngỏ lời xin lỗi chị mình vì những nghi ngờ trước đó. 

Bởi bây giờ cô đã tin chị thật sự là chị Hai của cô ngày xưa. 

Ann hứa với chị khi về Mỹ sẽ cố gắng học thêm ít tiếng Việt để có thể trực tiếp nói chuyện với chị mà không cần phiên dịch.'' 

***** 
Sáng hôm sau khi tia nắng bình minh vừa hiện ra ở chân trời , gió dìu dịu mùi sương sớm. 

Trước ngôi mộ của dì Ba Thơm nơi phần đất hương hỏa giữa đồng. 

Bốn mái đầu rấm rức khóc và cuối lặng thật lâu . 

Trong mùi hương trầm và những bó hoa thơm lan tỏa lãng bãng, tiếng chị hai Thu nghèn nghẹn khấn : 

-Má ...con dẫn mấy em đến thăm má. Xin má linh thiêng phù hộ độ trị cho chị em con và xin má an lòng yên nghỉ. 

Một ngày cuối chiều ở sân bay, khi tiếng loa thông báo nhắc nhở tên ba vị khách còn lại của chuyến bay về Mỹ nhanh chóng ra cửa khởi hành. 

Vòng tay của chị em họ lại vội vã ôm lấy nhau giữa khóc - cười họ hứa sẽ quay lại sớm vào một ngày nào đó cùng gia đình của mình. 

Mary vội nói cùng chị bằng cái âm chưa chuẩn và quơ tay như minh họa cho lời nói: 

-Em biết Việt Nam gọi ngày chết là đám giỗ rồi. 

Đám giỗ má vào mùng 9 sau tết Việt Nam. 

Tụi em sẽ về vào ngày đó hằng năm . 

Chị Hai yên tâm giữ sức khoẻ . 

Mắt chị Hai Thu vẫn còn đỏ và đầy nước nhưng miệng chị cười tươi . 

Chị đưa cánh tay lên lưu luyến vẩy theo dáng những đứa em của mình đang khuất dần sau cánh cửa kiếng . 

Có một dịp tình cờ nào đó sau tết âm lịch trong cái không khí hãy còn Xuân . 

Bạn chợt ngang qua một thị trấn nhỏ xinh đẹp thuộc một tỉnh miền Tây đồng bằng sông Cửu Long . 

Đi tới cái xóm nhỏ mà địa danh ngày xưa gọi là Xẻo Bần vô tình bạn nhìn thấy một nhóm người trên đường làng hay trong cái quán Phở ở chợ . 

Nhóm người đó trung niên có, trẻ có, tây ta lẫn lộn . 

Đôi khi cô gái trẻ tóc vàng mắt xanh cao lớn đang cố trọ trẹ học câu tiếng việt từ một cô Việt Nam cũng còn khá trẻ . 

Rồi cũng có lắm lúc cô gái Việt Nam nói những câu Anh Ngữ để giải thích sự việc gì đó cho cô gái kia . 

Thỉnh thoảng hai người trung niên lại nói tiếng Việt bằng một âm điệu chưa chuẩn lắm làm bà chị của họ bật cười. 

Bạn đừng lấy làm ngạc nhiên bởi đó chính là đại gia đình của chị em họ và con cái thuộc thế hệ kế . 

Những người họ khác biệt nhau về ngôn ngữ, chủng tộc, tập quán và ở cách xa nhau nửa quả địa cầu, hàng chục giờ bay . 

Nhưng họ có chung một thứ, đó chính là dòng máu chảy trong huyết quản của họ có sự hiện diện của cái gọi là Ruột Thịt Tình Thâm . 

Cuối cùng thì tất cả các dòng sông đều trở về biển như một quy luật muôn đời .... 

Song Nhi

Blog Archive