Showing posts with label Trường Sơn Lê Xuân Nhị. Show all posts
Showing posts with label Trường Sơn Lê Xuân Nhị. Show all posts

Tuesday, November 7, 2023

Mối tử thù

Ông Trần Văn Mạnh có một mối tử thù bất cộng đái thiên với ông Phan Văn Lịch. Ông thề trước bàn thờ tổ tiên rằng nếu ông chết đi mà không trả được mối thù này thì con cái ông phải trả cho ông, đứa nào không trả được thì coi như là con bất hiếu, không xứng đáng được hưởng gia tài ông để lại, không được mang giòng họ Trần của gia tộc, chết xuống suối vàng mà ông gặp được thì ông nhất định sẽ giộng cho một đạp…Câu chuyện bắt đầu vào ngày xưa, rất xưa ở Việt Nam nhưng ông Mạnh không thể nào quên được. Cả hai người đều là bạn nhau lúc còn hàn vi áo vải. Ông Mạnh làm nghề công chức còn ông Lịch làm nghề buôn bán.

Thời gian trôi qua, cuộc đời thăng trầm của hai người này biến chuyển theo... tỉ lệ ngược. Nghĩa là ông Lịch làm ăn ngày một khá giả còn ông Mạnh thì ngày càng sa sút. Ông Lịch lần lần trở thành một nhà giầu có nhất tỉnh. Con cái ông ta là đứa thì kỹ sư bác sĩ, đứa thì đi lính không hiểu làm nên chức gì mà đeo một lần tới ba bốn cái bông mai bạc trắng xóa cổ áo. Ngày Tết ngày lễ con cái tề tựu về xe cộ cứ nườm nượp ra vào cái cổng nhà làm bụi bay mù khắp xóm. Trái ngược lại, nhà ông Mạnh thì nghèo rớt mùng tơi. Ông làm công chức lương ba cọc ba đồng, tính tình lại thật thà không biết ăn nói không biết nịnh bợ nên dù tận tụy đi sớm về trễ 20 năm mà vẫn không mua được chiếc xe Honda cho cậu con trai lớn đi học. Cậu con trai mới lớn, thấy hàng xóm bạn bè của mình đứa nào nếu không Suzuki thì cũng Yamaha, còn mình thì ngày hai buổi đạp chiếc xe đạp cọc cạch đến trường nên nhiều khi lấy làm đau khổ. Thỉnh thoảng cậu con trai nhân dịp bố vui vẻ cũng mớm ý hỏi xin bố mua cho một chiếc xe.

Ông Mạnh chỉ nhìn con chua xót:
- Con trai, bố thương con bố, bố cũng muốn cho con chiếc xe Honda để đi với chúng bạn lắm nhưng bố đâu có tiền con. Tiền ăn ngày hai bữa mà bố cũng chưa chắc lo được thì tiền đâu mà mua xe cho con. Con thương bố con ráng ăn học nên người để mai này giúp bố nuôi các em con.

Cậu con trai là loại hiếu thảo nên nghe bố tâm sự não nùng như vậy thì hiểu ý ngay, từ đó không dám đòi hỏi gì nữa, chỉ lo ăn học. Rồi sau nhiều cố gắng cậu cả đậu được cái bằng tú tài II hạng ưu. Ngày đó là một ngày trọng đại trong đời ông Mạnh. Từ nhỏ đến giờ ông chỉ có hai ngày trọng đại: ngày thứ nhất là ngày ông cưới bà Mạnh, ngày thứ hai là ngày ông được mướn vào làm thư ký trong tòa hành chánh. Hôm nay sau bao nhiêu công trình dưỡng dục, thằng con cả ông đậu tú tài, ông phải liệt ngày này vào trong những ngày trọng đại của đời ông. Hai bố con ngồi nói chuyện với nhau, cả hai đều đồng ý rằng nhà tuy nghèo, nhưng nên mượn tiền mở một buổi tiệc nho nhỏ để thết đãi quý thầy cô, quý hàng xóm và bạn bè. Hai cha con đồng ý xong, mặt mày hớn ha hớn hở, chỉ chờ sự chấp thuận của bà Mạnh là ra sau nhà giết gà mổ lợn liền. Bà Mạnh đang ngồi giặt đồ sau nhà với đứa con gái thì ông Mạnh gọi lên. Bà linh cảm được có chuyện quan trọng sắp sửa xảy ra nên rửa tay chạy lên. Nghe ông Mạnh trình bày ý kiến xong, bà thả người xuống ghế, nét mặt rầu rầu:

- Bố nó nói đúng. Con mình đã cực khổ nhiều nay nó nên thân thì cũng nên làm một cái gì để ghi nhớ ngày này. Nhưng bố nó xem, lấy đâu ra tiền mà tiệc với tùng. Phú quý thì mới sinh lễ nghĩa được, mình đang chạy gạo vắt giò lên cổ thì lễ nghĩa với ai?

Ông Mạnh rót chén nước trà, tu một hớp rồi nhìn bà Mạnh:
- Bà này chỉ được cái kỳ đà cản mũi. Con mình bây giờ đã làm ông tú, mai kia nếu có đi lính thì cũng làm quan, còn đi làm công chức thì thế nào cũng có ngạch có trật đàng hoàng, nó sẽ phụ giúp được mình. Vả lại nhà hơn hai mươi năm nay chưa có tiệc tùng đãi đằng ai cả. Còn cái này nữa, con nó cũng đã đến tuổi cặp kê, mình cũng phải làm cái gì để chuẩn bị kiếm cho nó một cô vợ chứ. Vấn đề tiền bạc, tôi đã có cách rồi.

Nghe đến đây, mắt bà Mạnh sáng rực lên:
- Cách gì, ông nói tôi nghe thử"

Ông Mạnh đắc ý vuốt chòm râu:
- Bà lúc nào cũng coi thường bố con tôi. Này nhé, tôi nói bà nghe, bà có nhớ ông Lịch không?

Bà Mạnh bỗng khựng người lại. Gì chứ ông Lịch thì bà còn lạ gì. Hơn hai mươi năm qua, mỗi ngày đi bộ qua dãy nhà tường cao bát ngát của ông Lịch, ngàn lần như một, không lần nào bà không thấy đau nhói trong tim. Bà buồn vì chồng mình không có lẹ tay lanh mắt như người ta, buồn vì bà Lịch và bà ngày xưa cùng xuất thân nghèo hèn, nay khá giả sao bà Lịch đã vội quên bạn bè... Giác quan thứ sáu của bà báo cho bà biết vụ này có cái gì không ổn. Đang suy nghĩ thì ông Mạnh tiếp lời:

- Thằng... ơ ông Lịch với anh là chỗ bạn bè biết nhau từ thuở còn mặc quần thủng đít, để anh qua bên ấy mượn vài chục ngàn làm bữa tiệc, tiện thể mời ông ấy qua nhà mình để chung vui luôn.

Bà Mạnh nghi ngại:
- Đã hơn hai mươi năm, ông còn nhớ người ta không biết người ta còn nhớ đến ông không?

- Bà hễ mở miệng ra là nói toàn chuyện bi quan không. Đàn bà quả thật vô tích sự. Thì cứ để tôi qua bên ấy xem có chết thằng Tây nào không đã. Thằng cả là con của bà luôn chứ đâu phải chỉ là con của tôi không đâu? Ý tôi đã quyết, bà đừng có cản. Vô lấy bộ đồ để tôi mặc đi qua nhà ông Lịch.

Ông quay sang cậu cả:
- Mày cũng thế, thay đồ đẹp đẽ để đi với tao.

Hai cha con được mời ngồi ở phòng khách nhà ông Lịch. Phòng khách sang trọng không chịu được. Ông Mạnh suốt cả hai mươi năm qua, đây là lần đầu tiên ông bước vào phòng khách nhà người bạn thuở xưa. Cái gì cũng mới cũng đẹp, cũng mắc tiền. Đây là hòn non bộ, kìa là chậu cá, chỗ nọ khe nước nhân tạo chảy róc rách nghe êm tai chả khác nào đứng bên giòng suối. Trong một giây phút động lòng ông Mạnh bỗng thấy thương cho số kiếp của mình. Con vua thì làm vua, con thầy chùa thì đi quét lá đa. Ông quay nhìn thằng con trưởng nam đang ngồi bên phải mình, xem thử nó có tướng quét lá đa hay không. Ông hơi ngạc nhiên khi thấy khuôn mặt nó bình thản, không có vẻ khúm núm như ông. Ông thầm nghĩ: “Không chừng thằng bé này lại làm được chuyện gì cho giòng họ chăng?”.

Đang suy nghĩ thì ông Lịch bước ra.

Ông Lịch, bẵng đi một thời gian không gặp vẫn béo tốt như dạo nào. Chưa kịp nói, cái mồm ông đã cười toe toét ra, hai tay giơ lên làm như gặp được một tri kỷ lâu ngày lắm. Ông Mạnh thấy ông Lịch tiếp đãi mình như vậy rất lấy làm khoái chí, mối hằn học, mối cay đắng chấp chứa từ bao nhiêu năm nay bỗng biến mất hết. Trước mặt ông bây giờ là một thằng Lịch dễ thương ngày nào, một thằng Lịch cùng đi bắt cá, đi ăn cắp ổi chung, một thằng Lịch đá banh tuy không giỏi nhưng ai cũng khiếp sợ nhờ tài chơi xấu, banh không thèm đá mà cứ đá vào cẳng người ta. Không ngờ sau mấy chục năm, thằng Lịch bạn của ông vẫn không thay đổi. Ông hơi tự trách mình có vẻ vì mang mặc cảm nghèo nên mới xa lánh người giầu chứ chưa chắc ông Lịch đã muốn xa lánh ông. Hai người nói chuyện tầm phào một chập, ông Lịch đưa tay áo nhìn đồng hồ làm như sắp sửa đi đâu:

- Anh Mạnh hôm nay qua thăm tôi chắc có chuyện gì... cần bàn không?

Ông Mạnh hít thở hai ba lần để lấy can đảm, rồi thú thật với ông Lịch là nhân dịp cháu đậu tú tài ông muốn mượn vài chục ngàn để làm tiệc ăn mừng cho cháu, và nhân tiện, ông cũng mời gia đình ông Lịch sang chung vui với cháu một thể. Khuôn mặt ông Lịch đang vui sướng bỗng xẹp xuống một lèo như cái bong bóng xì. Ông xua tay lia lịa:

- Tôi... gia đình tôi bận lắm rồi. Thôi tôi cảm ơn bác tôi không đi được đâu. Tuần tới tôi mắc bận đi ăn tiếp tân tại phủ thủ tướng, xong rồi còn phải lo thu xếp quần áo đi Pháp lo coi lại cái còm măng hàng hóa xem tới đâu rồi. Còn cái vụ tiền thì chờ tôi một tí, để tôi vào xem coi.

Ông đứng dậy đi vào nhà trong bỏ mặc bố con ông Mạnh ngồi chưng hửng nơi phòng khách. Ông Mạnh không thể ngờ rằng thằng Lịch bạn ông ngoài mặt thì niềm nở thân thiết như thế kia, tưởng có thể chết cho bạn bè được mà trong ruột thì khô khan keo kiệt không thể nói được. Ông đã toan đứng dậy đi về nhưng nghĩ đến khuôn mặt của thằng con trai, của bà vợ hiền, ông liền ráng vuốt nóng ngời chờ đợi. Gần mười lăm phút sau, ông Lịch trở ra. Ông tiến đến gần ông Mạnh, tay trái chìa ra một tờ bạc giấy 500 đồng, tay phải dơ ra bắt tay ông Mạnh, giọng nói rất kẻ cả:

- Chỗ anh em nói thật bác đừng buồn, người Việt mình có câu: “Liệu cơm gắp mắm”. Cái gì bác thấy không kham nổi thì đừng có làm. Nhà bác nghèo, con cái có đỗ đạt thì cũng chỉ nên mua kẹo đậu phụng về uống với nước trà tầu để ăn mừng; làm gì lại phải đi vay mượn cho thêm công nợ? Tôi cho bác mượn tiền rồi mai mốt bác không trả được thì không lý chỗ anh em tôi lại kêu phú lít đến bắt bỏ tù bác à? Đây, tôi biếu bác 500 đồng để về muốn làm gì thì làm tùy thích.

Nghe xong lời dạy dỗ của người bạn, xém tí xíu nữa thì ông Mạnh ngã té xỉu xuống nền nhà. Mắt ông long lên, trợn tròn lại tưởng có thể bay phọt ra ngoài cắm vào cái mặt bẩn thỉu kia. Suốt đời ông, ông đã bị hạ nhục nhiều lần, như lần đi nhậu đứng đái bậy bên cột đèn bị thằng cảnh sát hăm he đòi bỏ bót để ông phải hạ mình năn nỉ... nhưng chưa có ai hạ nhục ông như lần này. Trong giây phút nóng nảy, ông muốn xông tới thò tay nắm lấy cái cổ đầy mỡ của ông Lịch mà cắn một phát cho nó phụt máu ra rồi thiên hạ có muốn đem ông đi giết hay đi ở tù gì cũng được. Nhưng trong lúc ngút lửa hận thù đó, bỗng tự nhiên ông trở nên bình tĩnh lạ thường. Ông thầm nghĩ: “Mình bây giờ là kẻ nghèo, thất thế sa cơ, nếu mình đánh nó là mình dại. Chưa biết có làm gì nổi nó không nhưng chỉ tổ khổ vợ khổ con. Vả lại, đời xưa có nói: “Người quân tử trả thù ba năm chưa muộn”. Chi bằng bây giờ ta cứ làm mặt tự nhiên, cầm lấy tờ giấy bạc bố thí từ tay thằng khôn này, đem về để trên bàn thờ để nuôi chí phục thù. Ngày nào đó, ta làm ăn nên rồi sẽ bố thí cho nó tờ giấy bạc này”.

Thế là ông vận hết nội công để nở một nụ cười, cầm lấy tờ giấy bạc từ tay ông Lịch, cúi đầu thật sâu để cảm ơn rồi dắt thằng con trai lớn ra về. Rồi thời gian qua, tờ giấy bạc 500, tang chứng của mối nhục gia đình nằm trên bàn thờ tổ tiên đã đổi màu, bụi đóng lên hàng mấy lớp mà mối thù vẫn chưa trả được. Nhiều hôm cúng giao thừa, ông vừa lạy vừa sụt sùi khóc khẩn cầu tổ tiên cho ông trả được mối thù trước khi chết... Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày vui của ông Mạnh. Ông chẳng phải là Việt Cộng, hay là dân nằm vùng gì, nhưng ông mừng là ông muốn để ý xem gia đình ông Lịch xoay xở thế nào trong cuộc thay đổi đời này. Đúng y như ông dự đoán, gia đình ông Lịch thay phiên nhau đi tù. Từ ông bác sĩ, ông trung tá xuống cho đến cậu út kỹ sư mới ra trường ai cũng ôm chiếu đi trình diện tuốt luốt hết. Sau khi khu nhà villa sang trọng bị tịch thu làm của công cho nhân dân, ông Lịch bỏ đi biệt tích. Ông Mạnh có ý tìm kiếm mấy lần nhưng không được, sẵn có một chuyến vượt biên do người bạn tổ chức, ông bèn dắt vợ con phóng tuốt lên thuyền theo bạn ra khơi, không quên đem theo tờ giấy bạc 500 đồng Việt Nam gói rất kỹ trong xì líp chung với tờ giấy một đô la để dành. Đối với ông, mối thù vẫn chưa được trả, nếu trời cho ông đi lọt chuyến này, ông nguyện sẽ cúng một con heo và sẽ kiếm cho được ông Lịch để trả cho được mối thù kia…

Trời dường như cảm thông với những khổ cực của ông, cho ông vượt biên đến nơi an toàn, tuy ông không có cúng con heo như lời hứa ngày nào nhưng trời cũng không lấy thế làm buồn, cứ cho ông dắt vợ con qua đất Mỹ tỵ nạn. Tính đến ngày hôm nay thì ông đã ở thành phố New Orleans gần sáu năm, đã mua nhà mới, sắm xe mới, chiều chiều hay xách vợt đi đánh tennis và nuôi thêm cả chó cho nó hợp thời trang. Cuộc sống của ông bây giờ rất thoải mái nhưng không phải vì thế mà ông quên mối thù cũ với ông Lịch. Ông thỉnh thoảng cũng có dò hỏi tin tức kẻ thù. Có người đồn là ông Lịch đã chết, có người đồn là ông Lịch đã vượt biên rồi qua Pháp...

Hôm nay, một buổi chiều đầu xuân, đang quần xà lỏn ngồi ăn Crawfish thì thằng con út chạy vào đưa cho ông một cái thơ. Nhìn cái bì thơ, ông biết ngay lá thơ này nếu không đến từ trại tỵ nạn thì cũng đến từ Việt Nam. Ông đã quá quen với những lá thư từ trại và Việt Nam gửi qua xin tiền rồi, ngần ngừ toan cất đi để tối đọc thì bỗng cái hàng chữ của người gửi làm ông giật mình, con crawfish đang nhai nửa chừng xém bắn ra ngoài làm thằng con út phải đăm đăm mắt nhìn để chuẩn bị... né. Lá thơ đến từ trại tỵ nạn Thái Lan có tên của người gởi là Phan Văn Lịch, kẻ tử thù của ông. 

Ông dẹp liền cái vụ ăn uống, rửa tay chân lên phòng khách ngồi bóc thơ ra xem. Đại khái ông Lịch tả cảnh mấy đứa con đều đi học tập chưa về, vợ ông đã mất cách đây hai năm vì quá đau buồn, còn ông đã bán hết gia tài được ba lượng vàng để ra đi. Nay ông Lịch đã nằm trên đảo gần hai năm mà vẫn không được cứu xét chờ đi Mỹ vì ông không thuộc phải thành phần quân nhân cũ, và cũng không có thân nhân gì ở Mỹ. Ông Mạnh càng đọc đến nỗi đau khổ của ông Lịch thì ông càng cảm thấy khoái chí trong lòng như vừa uống được một loại rượu quý. Trong đầu ông bỗng hiện về cái hình ảnh của buổi chiều ông bị làm nhục cách đây vài chục năm nhưng ông thấy như mới ngày nào. Có thế mới biết con tạo xoay vần, ông Mạnh ngồi rung đùi thầm nghĩ. Ông lại nghĩ không chừng ông bà mình linh thiệt, tết này phải mua một con heo thật lớn để cúng.

Tính toán một chặp ông quyết định ngày mai sẽ gởi một lá thơ qua tòa đại sứ Mỹ ở BangKok. Ông sẽ vu khống cho ông Lịch là cộng sản và đề nghị họ gởi trả ông Lịch về Việt Nam. Nói là làm, ông mở tủ lạnh thưởng cho mình một chai bia rồi lấy giấy bút ra thảo lá thơ. Bà Mạnh đi làm về thì lá thơ đã được thảo xong. Bà thấy chồng hôm nay có vẻ vui hơn mọi ngày nên tưởng là ông Mạnh vừa thắng football. Nhưng nghĩ lại, bà thấy vô lý vì mùa football đã hết từ lâu. Nghe đứa con gái nói bố vừa nhận được thư ở Việt Nam, bà liền hớn hở:

- Có tin tức gì ở Việt Nam không ông?

- Có cái tin này còn hay hơn cả tin ở Việt Nam nhiều bà ơi. Tin thằng Lịch.

Mặt bà Mạnh thoáng lên một chút ngạc nhiên:
- Ông ấy lúc này thế nào ông?

- Đang ở đảo, đói quá chịu không nổi nên mới biên thư qua nhờ mình bảo lãnh.

- Ông ấy có đem vợ con theo được không ông?

- Được con khỉ, chạy lấy thân là may quá rồi, là gì còn tiền bạc mà đem con cái theo. Quân vô luân khốn nạn, chuyến này nó mới sáng con mắt ra.

Bà Mạnh ngạc nhiên vì thái độ của ông chồng, bà không hiểu ông chồng mình đã uống mấy lon bia rồi mà sao có vẻ... quá mồm. Bà nhíu mày:

- Ông nói gì lạ vậy, đàng nào cũng là bạn bè với nhau ngày xưa. Tôi không hiểu ông được.

Ông Mạnh vỗ bàn:
- Bà chả biết cái con khỉ gì cả. Thế bà còn nhớ ngày xưa lúc thằng cả thi đậu tú tài không. Tôi qua mượn tiền nó, nó lại bảo nên liệu cơm mà gắp mắm, rồi cho tôi 500 đồng bạc. Bà coi, nó làm nhục tôi đến như vậy mà bà bảo quên được à?

Thì ra vậy. Bà Mạnh sống với chồng đã lâu, ít khi thấy chồng để ý thù ai bao giờ. Hôm nay trên đất khách quê người, sau bao nhiêu năm chung sống, bà không ngờ chồng lại có một nỗi lòng ẩm ức từ đời nào mà lại giữ kỹ trong lòng, chưa hề hé răng nói cho bà biết. Bà kéo cái ghế ngồi xuống bên chồng, nhẹ nhàng hỏi:

- Thì có chuyện gì ông nói cho tôi nghe với nào, vợ chồng ăn ở với nhau đã mấy chục năm, ông có giấu tôi điều gì đâu?

Ông Mạnh lấy một lon bia, làm một hớp chi tiêu bớt giận hờn:
- Bà không nhớ hôm ấy à? Tôi nhớ lúc ấy nhà nghèo quá, thằng cả thi đỗ tú tài tôi muốn làm một bữa tiệc cho con trước là để khoe hàng xóm sau là để kiếm cho nó một con vợ. Đi qua nhà nó chầu chực, tưởng nó còn chút lương tri bạn bè, nhân thấy mình túng quẫn, nó cho mình mượn chút ít để về làm tiệc. Nó đã không cho rồi lại còn sỉ nhục giòng họ nhà mình.

- Ông ấy sỉ nhục thế nào?

Ông Mạnh phát cáu lên, không hiểu sao mụ vợ mình hôm nay lại bày đặt lý sự chất vấn đủ điều. Ông lườm bà Mạnh một phát ý chừng như muốn bảo ông đã cáu lắm rồi:

- Bà này chỉ được nước hỏi móc họng. Này nhé, nó bảo tôi nên liệu cơm mà gắp mắm, rồi còn “mo ran” cho tôi một bài học về cách xài tiền. Đù mẹ tiên sư bố nhà nó. Tôi nghèo tôi xài tiền thế nào kệ bố tôi, có mắc mớ gì đến nó mà nó phải dạy dỗ cho tôi?

Bà Mạnh bỗng bật cười lên một tiếng nhỏ. Ông Mạnh thấy thế thì lại càng sôi gan lên, ông toan mở miệng thì bà đã cướp lời:

- Thế nếu ông Lịch hôm ấy dúi vào tay ông một mớ tiền cho ông mượn thì ông ấy là người bạn tốt hay sao?

Ông Mạnh khựng người lại, không trả lời được câu hỏi kỳ quặc của vợ mình. Bà Mạnh tiếp:

- Nói thật với ông, tôi thấy ông ngày nào cũng đi họp với hành tham gia tổ chức này tổ chức nọ, hễ mở miệng ra là hôm nay đòi về nước, mai đòi về nước. Cái kẻ thù nguy hiểm nhất nó nằm ngay trong con người ông mà ông chưa diệt nổi thì ông đòi diệt ai?

Thấy ông Mạnh ngồi trầm ngâm như đã thấm ý, bà Mạnh tiếp:

- Tôi chỉ là hạng phụ nữ chân yếu tay mềm, đáng lẽ ra chỉ phải lo việc bếp núc trong nhà, còn chuyện quốc gia đại sự thì để cho mấy ông, nhưng thấy ông nhiều lúc vô lý không chịu được.

Ông Mạnh bực lắm, vào những ngày xưa ở Việt Nam mà bà Mạnh dám lý sự với ông như thế này là đã có chầu ăn bợp tai, nhưng bây giờ ông chỉ còn biết ngồi nghe bà Mạnh giảng luân lý. Bà Mạnh cười khẩy:

- Ông khỏi phải lo chuyện chết không nhắm mắt được, bên Mỹ này các nhà đòn đám ma họ sẽ lo vuốt mắt, tô điểm mặt mày cho ông. Ông để tôi hỏi ông câu này, đồng ý là ông Lịch đã làm nhục ông. Ông cho đó là nhục, tại sao lúc đấy ông không chống lại hay chửi lại ông ta?

- Bà tưởng tôi ngu à? Lúc ấy nó giầu, mình nghèo, mình chống nó để chết à?

- Tôi thì nghĩ khác. Tôi nghĩ là ông hèn. Bị người làm nhục mà không dám làm gì là hèn. Chờ cho đến khi người ta thất cơ lỡ vận rồi mới lên mặt đòi trả thù thì còn hèn hơn!

Ông Mạnh không tin ở cái lỗ tai mình, không ngờ con mẹ Mạnh ngoan ngoãn ngày nào hôm nay bỗng bị quỷ ám hay uống thuốc liều hiệu gì mà dám lăng nhục ông như vậy. Trong cơn nóng giận, ông chụp lấy cái gạt tàn thuốc ném xuống sàn nhà vỡ tan tành. Bà Mạnh đứng lên, giọng không hề có chút sợ hãi:

- Lần sau có ném thì ném cái gì quý cỡ vài trăm bạc để mình còn mua cái khác, ông ném cái gạt tàn thuốc chưa tới một đồng bạc, không gây được “tiếng vang” lại mất công mẹ con tôi dọn dẹp... Trở lại chuyện của ông, tôi thấy ông từ lúc sang đây, ông đã bao nhiêu lần bảo tôi là ông khinh những thằng ngày xưa ở Việt Nam, nghe xếp hét một tiếng là chạy xịt cứt ra quần, những thằng ngày xưa gặp người ta cách mười thước đã dở nón chào thật sâu, rồi đứng khúm núm bên lề đường nhe răng cười cầu tài quên mất cả phẩm cách mà mới sang tới Mỹ đã gọi xếp cũ là thằng này thằng nọ... vân vân. Ông thử nghĩ lại xem ông có hơn bọn nó không? Trời cho mỗi người một bàn tay và ý chí, ai chịu khó làm ăn thì giầu. Vả lại sự giầu sang của ông Lịch đâu phải tự dưng mà có được, ông ấy cũng đâu phải hạng tham nhũng hại dân? Ông ghen tức chỉ vì ông thấy người ta có nhà cao cửa đẹp, còn những lúc người ta cực khổ làm ăn trong khi ông ngày ngày hai bữa sáng cắp ô đi tối cắp ô về thì ông không thấy. 

Nhờ trời phật phù hộ sang được đến đây rồi, thay vì tận dụng chút sức thừa còn lại của tuổi già để làm việc giúp đỡ đồng bào, ông lại xử sự như một đứa con nít. Ông phải giải phóng ông khỏi cái đầu óc nhỏ hẹp đầy tầm thường nhỏ mọn, ai nói động một câu là nhớ cho đến chết, cái lòng ích kỷ tự tôn tự đại, cái gì có tôi quyết định thì mới xong được. Nếu ông giải phóng cho ông được những chuyện đó, ông khỏi cần về nước, cứ ở lại đây thì sự có mặt của ông đã là một hãnh diện của cộng đồng Việt Nam rồi.

Bà Mạnh nói một hồi không cảm thấy mỏi miệng nhưng cảm thấy... mỏi chân, liền ngồi xuống ghế. Ông Mạnh kể từ khi lấy vợ, cứ tưởng vợ mình cù lần nên rất ít kiêng nể, hôm nay thấy vợ tự dưng xổ liền một thôi toàn những lời văn hoa lý lẽ, đầy đủ Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín như đức Khổng Tử thì đâm ra kiêng nể. Ông thầm nghĩ mụ vợ mình không chừng có thể ra tranh cử chức Hội Trưởng Hội Bảo Vệ Hạnh Phúc Gia Đình tại New Orleans được, nếu kẹt lắm thì chắc cũng tóm được cái chân Tổng thư ký. Ông thò tay lấy cái lá thư “chụp mũ” vừa thảo xong vò nát đi.

Bà Mạnh nhìn ông dịu dàng:
- Ông có nhớ ngày mình mới vào đất Mỹ không? Bọn Mỹ với mình, không cùng họ hàng, không cả cùng chủng tộc mà đã đối xử với mình lúc ấy là những kẻ sa cơ như những người bạn, giúp đỡ rất tận tình. Ngày hôm nay, ông Lịch, người Việt Nam đồng chủng, người bạn già của ông vừa bị ngã ngựa, con cái đứa thì chết dở trong tù, đứa thì không biết lưu lạc nơi đâu, ông thấy có chạnh lòng không? Ông Lịch là người khôn ngoan, trước khi đặt bút viết lá thư này chắc cũng đã hiểu tâm trạng của ông. Ông ấy nếu là người thường chắc chẳng bao giờ dám viết thơ đến nhờ vả ông. Đã dám viết thơ cho ông, tức là ông ấy đã hạ mình, chấp nhận là kẻ hèn kém chỉ để mong chờ vào cái sự quảng đại của mình. Ông ấy tốt xấu thế nào thì mình khó mà biết, nhưng mình hẹp hòi hay độ lượng thì mình biết được mình ngay. Hơn nữa, nói thật với ông, già cả hết rồi, còn sống được bao lâu mà để hận thù nó làm đời mình mất vui đi.

Ông Mạnh ngồi cúi đầu suy nghĩ, nhớ lại lời nói của vợ, nhìn vào đáy cái khay đồng trên bàn, chợt nhận ra đầu mình đã hai màu tóc. Ông thở dài, nắm tay vợ:

- Mới ngày nào cùng thằng Lịch đánh đáo mà bây giờ tóc đã điểm sương rồi. Mau thật, Thời gian đi mau thật.

Ông quay vào nhà gọi lớn:
- Thằng út đâu, lấy cái bản đồ ra đây để tao kiếm đường ngày mai lên Hội đồng công giáo bảo lãnh bác Lịch bên đảo qua.

Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Sunday, June 4, 2023

New Orleans Yêu Dấu 

The old man had gone out to the sea for 84 days without catching a fish...(Ernest Hemingway – Ngư Ông và Biển Cả)

Tôi đến Mỹ năm 1975. 3 năm đầu, tôi cư ngụ ở thành phố Kansas City Missouri, vì người bảo trợ Mỹ của tôi ở đây. Năm 78, sau hai năm trời đèn sách ở Donnelly College ở Kansas City Kansas, thấy ở thành phố này buồn quá, tôi quyết định di cư lần thứ hai. Nhưng đi đâu? Đa số người Việt Nam thời đó thường đi qua Cali. Nghe nói dân bên đó chỉ lo ăn chơi thôi chứ chẳng ai lo làm việc gì cả vì tiền chính phủ rất dễ xin, cho rất nhiều, lại còn cho thêm nhà cửa ở miễn phí. Hơn thế nữa, nhờ đó, tiệm cà phê, tiệm phở đầy dẫy, báo biếu để đầy đường, tha hồ mà đọc. Nghe nói còn có cả những chốn chơi bời, những sòng bạc ăn thua bạc chục ngàn nữa. Mỗi cuối tuần đều có ca nhạc nhảy đầm và thỉnh thoảng cũng có… oánh lộn tùm lum. Đủ thứ, giống y như ở Việt Nam mình ngày xưa vậy. Toàn là những thứ mà tôi rất thèm, rất... sở trường của tôi ngày xưa.

Nghe thấy lôi cuốn hấp dẫn lắm, nhưng tôi bây giờ không còn là một tôi của ngày xưa nữa. Tâm hồn tôi đã chết, trái tim tôi đã bỏ lại bên kia bờ biển Thái Bình Dương. Giống như nhiều người Việt Nam tị nạn lúc ấy, tôi đã bị mặc cảm nặng nề bởi cuộc thua trận nhục nhã của quân đội mình. Linh hồn tôi bây giờ là một linh hồn rướm máu, rực lửa đau đớn, rực lửa căm thù, tràn đầy tủi nhục. Tôi cảm thấy mình có tội với tổ quốc, có tội với anh em bạn bè đã bị bỏ lại ở Việt Nam. Tôi chẳng anh hùng hay ngon lành hay yêu nước gì hơn ai. Tôi chỉ là một con người, dù rất tầm thường với đủ mọi thứ tật xấu của một thằng đàn ông trên cõi đời này, nhưng tôi không phải là một con vật để có thể dễ dàng quên quê hương đất nước, quên anh em bạn bè, quên những ngày sống mái với quân thù, tuy gian khổ nhưng rất oai hùng.

Quan trọng hơn cả, tôi vốn xuất thân là một thằng con nhà nghèo. Từ thuở nhỏ, tôi đã theo thân phụ ra rẩy cuốc đất trồng cây, đã quen dầm mưa dãi nắng, chịu cực khổ, thức khuya dậy sớm và làm lụng như trâu như bò chứ không bao giờ thích nằm phè… chim trên giường, ăn của bố thí của chính phủ hay của bất kỳ ai. Tôi không muốn ở những chỗ đó. Nó sẽ làm cho con người mình hèn đi. Tôi có thể chịu được nhiều thứ trên cõi đời này, nhưng không bao giờ chịu hèn được.

Nhưng đi chỗ nào có nhiều đồng bào Việt Nam mình, có phở để ăn, có quán cà phê để lâu lâu vô làm vài ly lai rai với bạn bè như Cali đây. Nhìn tới nhìn lui, tôi thấy chỉ có New Orleans hoặc Houston là lý tưởng nhất. Tôi thích New Orleans hơn.

Trước hết, đồng bào mình ở đây khá đông, đa số dân đánh cá. Quan trọng hơn cả, nghe nói đi đánh cá ở New Orleans kiếm tiền dễ lắm. Mới sau có 3 năm, đã có nhiều người Việt Nam trở thành triệu phú rồi…

Dĩ nhiên, đây chỉ là những lời đồn đãi, tôi chưa hề nhìn thấy. Nhưng tôi là một con người vốn ngây thơ, nhẹ dạ và dễ tin, nghe thiên hạ đồn như thế nào thì mình tin như thế ấy. Suốt đời tôi khổ bởi cái ngây thơ và dễ tin của mình.

Thế là, một buổi sáng mùa hè, tôi một mình một chiếc xe van hiệu Ford cũ mèm, chất hết đồ đạc phía sau, lái về New Orleans với 2 ngàn đô la dành dụm được từ suốt 2 năm trong túi, tự nhủ với lòng mình và quyết tâm sẽ thành một triệu phú sau vài năm. Hoặc sau chục năm cũng được, miễn là sẽ trở thành triệu phú.

Tại sao không nhỉ? Mộng mơ thì ai cũng có quyền mộng mơ, vả lại, tuổi còn trẻ, với hai bàn chân gang thép, cộng thêm một linh hồn vũ bão, không bao giờ biết sợ khổ hay sợ cực, tôi có quyền mộng mơ. Sợ gì ai mà không mộng mơ nhỉ? Nếu được thì tốt, còn không được thì có sao đâu, có mất mát gì đâu. Không thành công thì thành... cái con khỉ gì cũng được, tôi đếch cần, miễn là mình phải thử.

Con đường từ Kansas City Missouri đến New Orleans, Louisiana dài 900 dặm, tôi lái hai ngày một đêm. Vừa lái vừa... cầu nguyện. Không phải cầu nguyện để thành triệu phú cho sớm, mà cầu nguyện cho xe đừng hư dọc đường.

Thành phố New Orleans lúc ấy, nói về phương diện và sinh hoạt của người Việt Nam tị nạn, là một thành phố sầm uất, sống động, vui tươi như một cành hoa mới nở. Tôi ngạc nhiên thích thú khi nhìn thấy những tiệm phở, quán nhậu, tiệm chạp phô Việt Nam luôn luôn chật cứng khách hàng, dù người Việt Nam mình mới qua Mỹ chỉ có 3 năm. Mỗi cuối tuần, ở một cái nhà hàng tên gọi là “Saigon Kitchen” có mở ball, vé vô cửa 5 đồng một người. Ball có ban nhạc đầy đủ, tuy tên tuổi không ai biết, nhưng hát nghe cũng được và toàn là những bản nhạc hay nhất thời đó.

Thành phố New Orleans bị chia đôi bởi giòng sông Mississipi nổi tiếng thế giới, một bên gọi là Westbank, bên kia gọi là Eastbank. Đa số dân đánh cá Việt Nam dồn hết ở bên Eastbank, sống theo từng làng, mỗi làng một khu, nhà cửa khang trang ngon lành, với những nhà thờ, chợ búa, tiệm tùng vân vân. Hồi đó gái thiếu trai thừa, ai muốn lấy vợ thì chỉ cần chịu khó … đi nhà thờ, trước sau gì rồi cũng ẳm về nhà được một mụ vợ, đẹp xấu không phải là chuyện quan trọng đối với những thằng lính lở thầy lở thợ như anh em chúng tôi. Có điều, lấy em về rồi thì tối ngày em bắt … đọc kinh chết mẹ. Tôi chẳng ham.

Nhờ những móc nối trước khi đi, tôi mướn được một căn phòng nhỏ với một gia đình Việt Nam bên Westbank, giá 35 đồng một tháng. Phòng trống trơn, không có giường, cũng chẳng có gì cả, ngoại trừ ... cái mùi ẩm mốc vì căn phòng quá cũ. Chuyện nhỏ. Chuyện lớn là, tôi phải trở thành… triệu phú.

“Muốn ăn phải lăn vào bếp” là một câu tục ngữ của Việt Nam mà tôi đã áp dụng rất tận tình khi mới xuống đây. Từ sáng sớm cho đến tôi mịt, tôi lái xe qua khu Eastbank, mất khoảng 45 phút, cà kê dê ngổng và học hỏi và làm quen với những người đánh cá ở đây, mục đích để tìm mua một chiếc tàu nhỏ và học thêm cách... đánh cá của dân ở đây.

Cũng cần phải nói thêm, ở đây cũng có nhiều lính Việt Nam mình ngày xưa, đặc biệt lính nhảy dù, và dĩ nhiên, phải có lính Không Quân. Có một tay phi công trẻ tuổi đẹp giai con nhà giàu, hào hoa phong nhã vô cùng tên là Nguyễn Lập Đông, mở quán cà phê gọi là “Cà Phê Đôn”, bày biện đơn sơ nhưng trang nhã và thanh lịch đúng điệu Không Quân. Nhưng trang nhã thanh lịch chỉ được vào buổi sáng, buổi trưa, dân nhậu ùa vào, từ từ biến cái quán thành một chỗ ồn ào náo nhiệt, văng tục chửi bới om xòm, chẳng thua gì cái chợ cá ngày xưa. Lâu lâu cũng có… oánh lộn tùm lum, vui đáo để.

Cùng một tần số gặp nhau cho nên dễ sinh chuyện... nhậu nhẹt. Nhiều hôm tôi nhậu xỉn, không dám lái xe về và cũng không muốn ngủ nhà ai, tôi phải ngủ trong xe. Sáng sớm, tay chân và mặt mày đỏ ừng lên vì bị muỗi cắn.

Sau 3 tuần lễ tìm kiếm, tôi được giới thiệu một người có chiếc ghe đánh tôm muốn bán...

Người chủ ghe, dưới cặp mắt nhìn của tôi lúc ấy còn trẻ, có thể gọi là một ông già. Nghe nói ông sống độc thân, có chiếc ghe đánh tôm muốn bán vì nghe thiên hạ xúi, muốn giải nghệ để đi ăn tiền chính phủ sướng hơn, đỡ cực hơn. Đủ thứ tiếng đồn về ông như ngày xưa ông bỏ làng đi lính cho Tây rồi lưu lạc giang hồ mấy chục năm, rồi lại trở về trước khi mất nước nên mới đi được. Cũng có tiếng đồn ông ngày xưa ở Việt Nam đánh cướp tàu để đi Mỹ. Toàn là những thứ tin đồn, chẳng biết hư thực ra sao, nhưng chuyện này thì tôi biết rõ. Ai gặp ông cũng vái một cái kèm theo một lời hỏi thăm, chứng tỏ ông là một người được thiên hạ kính nể, chứ không phải phường đá cá lăn dưa.

Chúng tôi gặp nhau ở ngoài một tiệm chạp phô.

Ông khá lớn tuổi, nhưng vẫn còn tráng kiện với những bắp thịt, chẳng khác gì những người đánh cá mà tôi gặp hằng ngày. Tôi để ý một điều là ông ít nói, chỉ hút thuốc lá liên tục. Cổ ông có đeo một cái tràng hạt như nhiều người Công giáo thời đó.

Tôi xin ông cho tôi đi với ông ra khơi đánh tôm thử một chuyến trước khi nói chuyện giá cả. Không hiểu tại sao, nghe như thế thì ông chủ tàu nhìn tôi từ đầu tới chân một phát rồi nhăn mặt lại, nhưng cũng gật đầu đồng ý cho tôi đi. Mãi sau này, sau chuyến tàu đi thử, tôi mới hiểu được cái nhìn và cái nhăn mặt của ông ta...

Chúng tôi hẹn ngày giờ gặp nhau ở bến Empire, nơi tàu đậu cách thành phố khoảng gần hai tiếng đồng hồ lái xe.

Xin nói thêm ở đây là tàu đánh tôm nhỏ hơn tàu đánh cá nhiều, nhỏ hơn và rẻ hơn cả chục lần, nhưng nếu chịu khó, cũng kiếm tiền được dễ dàng. “Nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá” là một câu mà tôi vẫn luôn luôn tâm niệm hàng ngày lúc ấy.

Ngày hẹn, tôi đến, tưởng đã sớm nhưng ông đã có mặt còn sớm hơn cả tôi, ngồi hút thuốc lá, tư lự nhìn ra biển cả. Tôi vốn đã không thích nói nhiều, nhưng ông còn ít nói hơn. Vì thế, sau cái bắt tay đơn giản, chúng tôi phóng lên chiếc ghe của ông...

Lòng tôi tràn đầy hy vọng. Như thế là ngày đầu tiên để trở thành triệu phú của tôi bắt đầu từ hôm nay đây.

Nhưng cuộc đời thường có những cái bất ngờ mà không một ai trong chúng ta có thể đoán trước được…

Chiều hôm đó, tôi trở về căn phòng trọ, quần áo nặng mùi hôi thúi và dơ dáy tả tơi, mặt mày hốc hác, tay chân bầm tím trầy trụa nhiều chỗ, bước không muốn nổi, đi đứng nghiêng ngả như một thằng say rượu, thở không ra hơi…

Bà chủ nhà vừa nhìn thấy tôi bước vào đã vội đưa tay lên ... bịt mũi, quát to lên:

-Chú làm gì mà mình mẩy quần áo hôi hám xú uế như thằng ăn mày vậy?

Biết thân phận mình, tôi mắc cỡ nói nhỏ, dù chẳng muốn trả lời chút nào:

-Tôi đi... đi mua tàu đánh tôm.

-Trời đất, đi mua cái kiểu gì mà ghê vậy chú. Cha sinh mẹ đẻ tới giờ, tôi chưa bao giờ thấy ai đi mua tàu mà... dơ dáy khủng khiếp như vậy. Thôi thôi, ông làm ơn lẹ lẹ đi tắm rửa cho sạch sẽ đi, để tôi đi mở hết mấy cái cửa sổ cho nó bay hết mấy cái mùi xú uế ông mới đem vào nhà này...

Thật ra thì bà chủ nhà khỏi cần nói, tôi cũng chỉ muốn chui vào phòng tắm để lột rửa cái thân thể và bộ quần áo hôi hám của mình. Đúng hơn, không phải tôi chỉ muốn lột rửa cái thân xác, tôi muốn lột rửa luôn cái giấc mộng làm triệu phú ... ngu dốt và lố bệch của mình ...

Ôi, đời tôi sao có nhiều chuyện ngu dốt đáng kể ra co con cháu nghe để mà tránh.

Chuyện xảy ra là ông chủ tàu cứ tưởng tôi là một tay đánh cá lành nghề, muốn mua tàu đi làm riêng, không hề biết ngày xưa tôi là lính, lại sinh ra và lớn lên ở Ban Mê Thuột, miền cao nguyên xa tít, chẳng hề có dây mơ rể má gì tới sóng tới biển, hay với tôm với cá. Nếu biết tôi xuất thân … bố láo như thế thì ông đã chẳng bỏ thì giờ mà tiếp tôi, nói gì đến chuyện cho đi đánh tôm với ông.

Tôi đứng trên tàu chỉ chừng 10 phút là đã thấy say sóng như vừa uống một két bia, đi đứng không vững, nói gì đến chuyện quẳng lưới bắt tôm. Thành thật mà nói, tôi biết ngay, cái giấc mộng triệu phú của tôi đã tan thành mây khói ngay lúc ấy.

Tội nghiệp ông chủ tàu, ông không hề biết chuyện này. Và dĩ nhiên, tôi cũng không dại gì mà khai ra. Có lẽ, ông đã nhìn thấy cái tướng tôi thư sinh mảnh khảnh, chẳng vai u thịt bắp như những anh đánh cá thứ thiệt, cho nên ông mới nhăn mặt lại khi tôi muốn xin đi theo ông. Tuy nhăn mặt nhưng, có lẽ vì muốn bán chiếc ghe, nên mới cho tôi đi theo.

Đến một lúc nào đó, ông quẳng lưới. Hai người chúng tôi kéo lên được một mớ tôm, cộng thêm cua cá và rác rưởi đủ thứ. Rồi cũng đến một lúc nào đó, ông bảo tôi quẳng lưới cho ông.

Một lầm lẫn to lớn vô cùng của cuộc đời ông.

Đáng lẽ ra thì tôi nên thú thật rằng từ nhỏ tới giờ, tôi chưa bao giờ nhìn thấy cái lưới nó như thế nào, nói gì đến chuyện quăng lưới. Nhưng tôi đã nhìn thấy ông quẳng lưới mấy lần, coi có vẻ chẳng khó khăn gì nên tính bắt chước, liều mạng quăng thử một lần xem sao. Nếu quằng lưới được, biết đâu chừng, tôi có thể trở thành một triệu phú thật. Ai bảo đánh tôm là khó, đánh tôm dễ lắm chứ…

Tôi quẳng thế nào tôi chẳng nhớ, chỉ biết là cái lưới lại dính mẹ nó vào cái chong chóng chân vịt. Chiếc che nhỏ tội nghiệp cà giật mấy phát rồi nằm suội lơ, rên rỉ như một con gà bị cắt tiết.

Lúc ấy tôi mới thấy hối hận nhưng đã quá muộn rồi.

Tội nghiệp ông già. Nhìn thấy chiếc ghe của mình như thế, ông muốn phát khóc lên, cặp mắt trợn trừng, giận run lên từng đợt. Nhưng thay vì chửi thề văng tục, hoặc đấm cho tôi một phát, ông ta cứ mở miệng than, hết “Lạy Chúa tôi” rồi đến “Giê Su Ma”, rồi đến “Ối giời ơi” rồi đến “Khổ thân tôi” vân vân ...

Nhưng giữa đại dương mênh mông, trong hoàn cảnh đó, chúng tôi liền trở thành hai người bạn thân thiết. Cả hai hợp tác nhau để gỡ lưới. Gỡ không kịp thì lát nữa mặt trời lặn, sẽ chết chùm một lũ.

Lúc thì ông lặn xuống biển mò mẩm, lúc thì tôi cũng nhảy tòm xuống biển phụ ông ta. Có lúc, cả hai cùng mò mẩm dưới nước để gỡ lưới. Tôi hối hận đến độ chẳng dám nhìn mặt ông già.

Rồi cũng đến một lúc nào đó, sau khi đã gỡ lưới lên, chúng tôi ngồi xuống nghỉ ngơi. Ông già mồi một điếu thuốc, hỏi tôi một câu mà đáng lẽ ông phải hỏi từ khi chúng tôi vừa mới gặp nhau:

-Hỏi thật cậu, cậu có phải là dân... đi biển không?

Dân đánh cá ở New Orleans luôn luôn dùng danh từ “đi biển” để thay thế cho hai chữ “đánh cá” nghèo nàn. Trong hoàn cảnh đó, tôi đành thú thật:

-Thưa không, bác ơi.

-Lạy Chúa tôi. Thế thì ngày xưa cậu làm gì?

-Thưa, cháu đi lính.

-Lính Hải Quân hả?

-Dạ không, lính Không Quân.

Ông già nức nở như sắp khóc:

-Lính Không Quân. Lính Không Quân thì biết cái quái gì về biển mà lại muốn mua tàu đi đánh cá. Thế thì cậu giết tôi rồi. Sao mà đời tôi lại bị xúi quẩy như thế này…

Nghe như thế thì tôi chỉ muốn nhảy tùm xuống biển tự sát cho đỡ hối hận. Ông lại hỏi:

-Sao cậu... cuồng thế? Cậu nghĩ sao mà cậu lại muốn đi mua tàu đánh tôm?

Chẳng lẽ lại nói thật là tôi muốn mua tàu để ... trở thành triệu phú, tôi lắc đầu, lí nhí trong cuống họng:

-Nghe nói nghề này kiếm tiền dễ lắm, cháu muốn thử.

Ông chủ tàu lắc đầu, làm như hết ý kiến với tôi. Ông nhìn ra biển, thở ra một hơi khói thuốc lá thật dài như muốn thổi tất cả những sự bực tức và đau đớn khỏi lòng mình ra khơi:

-Cuồng thật.

Tôi chỉ biết gật đầu. Mình cuồng thật chứ chẳng chơi. Chẳng những cuổng mà còn liều mạng và ngu dốt nữa.

Từ đó trở đi, ông già không nói gì thêm nữa. Ông cứ lẳng lặng làm việc một mình. Tôi cũng muốn phụ ông một tay nhưng hình như ông không còn muốn cho tôi rờ vào bất cứ một thứ gì trong chiếc ghe của ông nữa. Tôi cũng chẳng trách ông được chuyện này. Người ta chỉ dại một lần, ít có ai dại đến lần thứ hai.

Lại đến một lúc nào đó, sau chừng chục cú lưới, tôm cá bắt lên đã thấy nặng, ông ngừng tay, mở cái hộp Iglo, đưa cho tôi một lon nước ngọt. Ông cũng không nói thêm một lời nào. Chúng tôi ngồi uống nước trong im lặng, nhìn ra biển cả…

Giữa đại dương mênh mông, nhìn ông già, tôi chợt nhớ lại truyện “Ngư Ông Và Biển Cả” của Ernest Hemingway mà tôi đã đọc ngày nào…

Câu chuyện Ngư Ông và Biển Cả của Earnest Hemingway là một tuyệt tác của nhân loại, dù chuyện rất đơn sơ. Cái ý chính của câu chuyện muốn nói về cái ý chí khủng khiếp của con người…

Chuyện bắt đầu bằng một câu đơn giản như sau: “Lão già ra khơi đã 84 ngày liên tiếp mà chẳng bắt được một con cá nào cả.” (The old man has gone out to the sea for 84 days without catching a fish.)

Nhưng cuối cùng, lão cũng câu được một con cá thật lớn. Lớn nhất trong cuộc đời của lão. Lớn đến độ nó vùng vẫy và kéo chiếc ghe nhỏ của lão ra biển khơi trở lại. Một mình một một ghe giữa đại dương, lão cứ để mặc con cá kéo lão đi. Chẳng cần biết đi đâu. Lão cũng chẳng sợ. Lão biết trước sau gì thì con cá lớn cũng sẽ chết. Và lão sẽ kéo nó về. Đúng như lão nghĩ, sau mấy ngày, con cá chết. Lão giăng buồm, kéo con cá trở về bến. Nhưng đường dài quá, con cá chết của lão đã bị những đàn cá mập tấn công. Chỉ trong khoảnh khắc, con cá vĩ đại, chiến công lớn nhất của cuộc đời lão chỉ còn một bộ xương...

Nhưng lão ngư ông chẳng hề lấy thế làm buồn. Lão đã cố gắng hết sức mình. Lão đã chiến thắng, đã bắt được một con cá lớn nhất đời lão. Nhưng trời phụ lão. Nó bây giờ chỉ còn là một bộ xương khô vĩ đại...

Lão đã ra khơi với hai bàn tay trắng, sau gần tuần lễ vật lộn với gió biển, với con cá khổng lồ và đã chiến thắng nó, nhưng cuối cùng lại trở về bến với hai bàn tay trắng.

Nhưng lão vẫn tỉnh bơ, chẳng coi chuyện đó là quan trọng. Cái quan trọng là lão đã cố gắng, đã làm hết sức mình. Còn được hay không, là do số mạng.

Tôi không biết ông lão là một Ngư Ông và Biển Cả, hay chính tôi là một Ngư Ông và Biển Cả. Có thể cả hai.

Cái đau đớn của tôi là ngày hôm ấy, tôi biết là mình sẽ không trở thành triệu phú được. Nhưng ít nhất, tôi cũng đã thử. Bây giờ, 45 năm đã qua đi, ngồi nghĩ lại, tôi chẳng thấy có gì phải hối tiếc cả.

Ngày hôm sau, không còn bị giấc mộng triệu phú ám ảnh nữa, tôi ghi tên đi học tiếp và đi làm lao công nhặt rác ở một xưởng đóng tàu địa phương…

Rồi thời gian qua đi, tôi cũng lớn lên và trưởng thành và khôn đi theo năm tháng. Cái giấc mộng triệu phú, tôi tưởng đã tan thành mây khói kể từ ngày đó, té ra vẫn còn nằm ở một chỗ nào đó trong trái tim mình. Nhưng, cuối cùng, tôi cũng đã không bao giờ thực hiện được giấc mộng ấy.

Tuy không thành triệu phú được, và cũng không biết mình có thành Nhân được hay không như người xưa thường nói. Nhưng tôi biết tôi đã trở thành một con người tử tế, sống lương thiện, biết giữ đạo làm người, làm tròn bổn phận của một người chồng, một người cha, theo đúng cái châm ngôn trong một bài đọc ở Tiểu Học mà Cụ Tú Lãm đã truyền lại cho con cháu mình như sau:

Thầy chết đi, chẳng có của cải gì, chỉ có ba thứ gia bảo quý giá sau đây để truyền lại cho các con: Một là giữ lòng vui, hai là giữ linh hồn trong sạch, và ba là đem hết nghị lực ra làm việc.”

Tôi không phải là con của cụ Tú Lãm, nhưng suốt đời tôi, luôn luôn lấy ba điều dạy dỗ đó làm căn bản để mà sống ở đời. Những lúc tủi cực đắng cay, tôi luôn luôn giữ lòng vui, những lúc đắc thời, tôi luôn luôn giữ linh hồn trong sạch, và từ lúc mở mắt cho đến lúc đi ngủ, tôi luôn luôn làm việc bắng tất cả nghị lực của mình. Dĩ nhiên, ngoại trừ những lúc đi … ăn nhậu.

Tôi đã lập gia đình, đã sinh con đẻ cái, đã làm lụng cực khổ ngày đêm ở cái thành phố yêu dấu này. Ngày mùng 1 tháng 2 năm 2021, sau khi về hưu được đúng một năm, tôi lâm trọng bệnh, tưởng đã đi luôn. Nhưng không đi. Ngày 31 tháng 8 năm 2021, hai ngày sau khi thành phố tôi bị bão Ida tàn phá, vợ chồng chúng tôi rời New Orleans, trực chỉ Cali, một nơi chốn mà tôi rất ghét và khinh bỉ ngày xưa.

Buổi chiều ngày vợ chồng tôi lái xe đi, cả New Orleans và vùng phụ cận vẫn còn chỉm trong bóng tối vì bị cúp điện. Đó đây vẫn còn đầy dẫy dấu tang thương của sự tàn phá. Nhà cửa tróc nóc siêu vẹo tơi tả, cột điện gẫy nằm đầy đường...

Quẹo xe lên xa lộ I-10 West, trực chỉ Cali, hai hàng nước mắt tôi bất ngờ đã chảy ra, chan hòa.

Tôi thấy bỏ thành phố này mà đi như thế là có tội. Có tội như ngày xưa tôi đã bỏ nước ra đi, nhưng không thể nào làm khác hơn được…

Bao nhiêu người dân New Orleans, trong đó có gia đình con cái tôi, có anh em giòng họ nhà tôi, đang chìm đắm trong đau khổ, sao tôi không ở lại để chia sẻ những đau thương mất mát này với họ? Nhưng khổ một cái, nhà không có điện, nghĩa là không có gì cả, tôi còn đang bị ung thư chữa chưa lành, làm sao tôi có thể sống được? Thật ra thì chúng tôi đã chuẩn bị hành trang từ cả năm qua, đã chuẩn bị nhà cửa sẵn sàng bên Cali, và cũng đang dọn nhà, nhưng bị bệnh ung thư nên kẹt lại, bây giờ sẵn cơn bão, thôi đành đi luôn.

Tôi đã khóc thật. Tôi thấy thương và tội nghiệp New Orleans quá. Tại sao tôi phải bỏ một thành phố mà đi trong lúc nó đang bị hoang tàn đổ nát như thế này? Tôi thấy thương từng người Mỹ đen, Mỹ trắng, người Mễ và Việt Nam ở đây. Nơi đây, tôi đã sống và lớn lên cùng với họ. Tôi đã chia sẽ với họ trăm cay nghìn đắng của cuộc đời trong một thành phố tuy nổi tiếng thế giới nhưng rất nghèo, rất dơ bẩn và đầy dẫy tội ác. Tôi đã chia sẽ với họ những khắc nghiệt của thời tiết, những cơn bão tàn độc khủng khiếp của mẹ thiên nhiên, những mùa hè cháy nắng, những mùa đông lạnh cóng. Tôi cũng đã chia sẽ những giây phút hạnh phúc sung sướng với những buổi lễ lạc như Mardi Grass, vân vân. Tôi đã kiếm được những đồng tiền quý hiếm, bằng mồ hôi nước mắt của mình để nuôi vợ nuôi con ở thành phố này. Tôi nhớ lại những ngày khởi đầu phải xin vào làm lao công cực khổ ở xưởng đóng tàu thành phố. Tôi nhớ lại những thảm cỏ xanh rì rì mát rượi với những cây thông già ở trường UNO mà tôi đã nằm ngủ như chết vì quá mệt. Những người bạn lính, những chiến hữu trong đoàn thể mà tôi đã kết thân ở thành phố này. Những cuộc nhậu nhẹt thâu đêm suốt sáng khi mình còn trẻ, những trận cười ngang ngửa, những bài hát Karaokê trong cơn say hay đến ngọt lịm con tim. Những vui buồn, sướng khổ, có đủ mà tôi đã sống và đã chia xẻ với họ…

Tôi sinh ra và lớn lên ở Việt Nam chỉ có 24 năm, nhưng tôi đã ở thành phố này đến 44 năm. Gần gấp đôi thời gian tôi ở quê hương Việt Nam. Đã làm người, thử hỏi, ai có thể quên được một nơi chốn mà mình đã sống gần nửa thế kỹ với không biết bao nhiêu là kỹ niệm như thế? Nơi đây, các con tôi đã lớn lên và trưởng thành. Nơi đây, tôi đã dựng vợ gã chồng cho chúng nó. Nơi đây, tôi đã sống những giây phút cay đắng cũng như tuyệt vời nhất của đời mình. Nơi đây, tôi, từ một thanh niên trẻ tuổi, tôi đã trở thành một ông già. Một ông già… may mà còn sống được…

Nơi đây, thành thật mà nói, tôi đã bỏ lại linh hồn mình. Đúng hơn, chỉ một nửa linh hồn thôi. Còn nửa kia, vẫn còn lãng du ở một nơi chốn nào đó bên kia bờ biển Thái Bình Dương, ở một vùng cao nguyên đất đỏ nằm trên rặng Trường Sơn tên gọi là Ban Mê Thuột…

Ôi, New Orleans yêu dấu, sao tôi nở bỏ ngươi cho đành…

Tâm địa rộng rãi bao la như Trời Đất thì bao bọc được cả muôn loài.
(Hàn Thi Ngoại Truyện)

Garden Grove, CA, 6/1/2023
Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Sunday, January 29, 2023

Những Ngày Xuân Xa Nhà 

Con biết không về mẹ chờ em trông,
Nhưng nếu con về bạn bè trông mong,
Bao lứa trai cùng chào Xuân chiến trường,
Không lẽ riêng mình êm ấm,
Mẹ ơi con Xuân này vắng nhà...
(Trích bài hát "Xuân Này Con Không Về")

Một khi nói về quê hương mình thì dĩ nhiên, ai cũng khen đẹp, khen tốt. Hơn thế nữa, ai xa quê hương cũng nói lên sự luyến nhớ quê hương mình. Là người, tôi cũng không tránh khỏi chuyện này, cho nên, ai đọc bài này thì tôi xin người ấy thông cảm với tôi. Có thể lòng thương nhớ quê hương làm cho tôi thần thánh hóa quê hương tôi, nhưng tôi không thể viết khác hơn. Tôi vốn là một con người chân thật.

Tôi sinh ra và lớn lên ở một thành phố nhỏ miền Cao Nguyên Trung Phần tên là Ban Mê Thuột. Quê tôi nhỏ lắm, hiền lắm. Tuy thế, năm nay tôi đã quá 50, đã đi nhiều nơi trên thế giới, tôi chưa hề nhìn thấy thành phố nào có một loại nắng vàng đẹp như thành phố tôi ở. Mỗi năm, cứ vào khoảng tháng 10, trời bắt đầu trở lạnh. Buổi sáng thức giấc sớm đi lễ nhà thờ, bước ra ngoài giếng nước múc nước rửa mặt, gió thổi lạnh cóng chân tay, run bần bật. Buổi trưa, ngồi trong lớp mơ màng nhìn ra ngoài trời, thấy nắng đổ xuống, phủ kín đất trời bằng một màu vàng hanh. Càng về trưa thì nắng càng vàng. Vàng như có ai phủ một tấm màn màu vàng trước mặt mình. Cái màu vàng này tôi không thể diễn tả được nhưng nó rất ấm, rất dịu, rất tình. Tình và đẹp như những cô con gái học trường Nữ Trung Học Ban Mê Thuột giờ tan lớp.

Tôi còn nhớ lại, những ngày học trò thơ dại ấy, lòng tôi thường nổi lên những niềm vui nhẹ nhàng êm ái: chẳng bao lâu nữa sẽ đến Noel rồi sau đó sẽ là Tết... Hồi đó nhà tôi nghèo lắm, lễ lạc chưa chắc đã có quần áo mới mà mặc như thiên hạ, nhà cửa cũng tiêu điều, có muốn bày biện hay trang hoàng gì cũng chẳng có tiền mà mua, nhưng không hiểu tại sao, niềm vui cứ tràn ngập lòng anh em chúng tôi. Có lẽ nhờ hai tuần lễ nghỉ. Có lẽ vì ra đường thấy ai cũng nhộn nhịp vui vẻ, lòng mình cũng thấy vui theo...

Tôi thích nhất là đêm Noel đi lễ nhà thờ, nghe ca đoàn ca những bài thánh ca lúc thì trầm ấm dịu dàng, lúc thì vi vút như trời cao, lòng tôi cảm thấy phơi phới, dịu dàng. Lễ xong về nhà vào lúc quá nửa đêm, cả gia đình ngồi quây quần chung quanh một... nồi cháo gà. Mọi người ăn uống nói cười vui vẻ làm sao. Đến ngày tết, năm nào nấu được một nồi bánh tét thì năm đó nhà coi như một ngày hội, niềm vui lớn quá, không thể nào nói được. Ngồi canh nồi bánh tét ngoài trời, gió thổi phần phật quất hơi lạnh vào người mình. Thế là mình chỉ cần ngồi xích gần bếp lửa một chút nữa thì hơi nóng từ lò lửa nồi bánh tét bốc ra, sưởi ấm mình ngay. Bên cạnh thế nào cũng phải có một đĩa hột dưa hay một đĩa kẹo để mình chấm mút. Sáng sớm, nồi bánh Tét chưa nấu xong thì đã ngủ gục không biết từ lúc nào...

Sáng mùng một Tết, dù tối qua thức khuya nhưng chẳng ai thấy mệt. Nếu có quần áo mới thì mặc vào, nếu không thì mặc bộ đồ cũ nhưng bảnh nhất, đã giặt ủi và để dành từ nhiều ngày qua, đi chúc Tết cha mẹ rồi đến bà con hàng xóm. Lúc mừng tuổi thì luôn luôn được tiền lì xì. Không phải đi học, được đi chơi suốt ngày, trong túi lại có được mấy chục đồng bạc mới tinh thì không vui làm sao được"

Cái mục vui thú nhất là mục đi ra chợ xem người ta lắc bầu cua, vào chợ ăn hàng, rồi đi xem múa lân hay đốt pháo v.v...

Tôi không thể nào quên được những ngày Xuân đầm ấm này...

Nhưng những ngày xanh bình yên qua mau. Quá mau...

17 tuổi, đậu xong bằng tú tài 1, tôi vội vàng từ giã mái ấm gia đình và thành phố Ban Mê Thuột thân yêu lên đường đi lính. Những ngày đầu tiên ở quân trường mới thê thảm và nhớ nhà làm sao. Suốt từ sáng đến tối, đầu óc tôi không nghĩ đến gì ngoại trừ cái thành phố thân yêu cách xa cả một vùng trời, ngôi trường La San đầy kỷ niệm, nơi đã dạy tôi nên người, những thằng bạn trời đánh đã cùng một thời chơi đùa với nhau. Tôi nhớ từng con đường, từng góc chợ, từng khóm cây. Tôi muốn từ bỏ kiếp người, biến thành một con bướm hay con... rệp cũng được, để trở về bay lượn gần những giàn hoa nơi quê nhà yêu dấu nếu làm bướm, hoặc cuộn mình trong đáy một cái giường nào đó nếu làm rệp. Làm gì cũng được, miễn là tôi được ở gần quê hương, được hít thở khí trời dịu dàng tươi mát, được nhìn ánh nắng vàng hoe của những buổi trưa mùa đông lành lạnh...

Nhiều lần quẩn trí, tôi muốn leo rào đào ngũ trở về nhà, suốt đời làm một tên nông dân quê mùa nơi miền đất đỏ.

Nhưng tôi đã không về... Làm nông dân thì chẳng ai cấm, nhưng làm một tên trốn quân dịch thì không ai cho.

Từ quân trường Quang Trung cháy nắng cho đến trường bộ binh Thủ Đức nhọc nhằn gian khổ rồi cũng qua mau. 18 tuổi, tóc vẫn còn xanh, tôi được làm ông Chuẩn úy bộ binh. Tôi biết uống bia, biết chơi bời, ăn nói thường pha những tiếng chửi thề. Những chuyện này chẳng tốt lành gì để khoe, nhưng người ta sao thì mình vậy. Đau khổ hơn cả, tôi bắt đầu biết tập để giết chết những mộng mơ của cuộc đời mình. Tôi không mơ vợ đẹp con khôn, không mơ tưởng được sống một cuộc đời an nhàn hay giàu có, không mơ được sống lâu sống thọ. Mỗi ngày, hàng ngàn người trai trẻ lứa tuổi tôi ngã gục, một ngày nào rồi cũng đến phiên tôi thôi. Làm sao tránh được mà mơ" Đáng buồn nhất, mỗi lần Tết gần đến, tôi cũng đủ lý trí để biết rằng việc về nhà ăn Tết làm một việc không bao giờ có thể xảy ra cho tôi. Nếu lính tráng ai cũng về nhà ăn tết hết thì người đâu để đánh giặc bảo vệ giang san"

Tôi đã đọc ở đâu đó là nỗi mất mát lớn nhất của một con người là cái mất mát sự mộng mơ. Một con người không còn biết mộng mơ, nhất là ở lứa tuổi 18 hay đôi mươi, chẳng khác gì một con suối khô cạn không còn nước. Chín tháng quân trường đã biến thể xác tôi thành một người phong sương rắn chắc, tâm hồn tôi thành chai đá, dạn dày. Tôi không ngờ, chỉ mấy tháng trước, tôi còn có thể buồn được vì một đám mây bay, mắt có thể rớm lệ khi đọc một truyện tình buồn. Bây giờ, tôi là một người lính, sẵn sàng ôm súng lao vào kẻ thù. Mày không chết thì tao chết, đơn giản như thế thôi... Lính mà em.

Nhưng sau trường bộ binh Thủ Đức, thay vì ôm súng lăn vào quân thù, tôi được chính phủ cho ôm... sách vở đi học. Tôi gia nhập KQ, nằm trong lều vải của Tent City ở Gò Vấp để học Anh Văn. Rồi tôi được quân đội dạy cho lái chiếc tàu bay quê mùa nhất, cũ nhất, chậm nhất của QLVNCH là tàu bay L-19. Tàu bay tôi nhẹ đến nỗi, mỗi buổi tối, chúng tôi phải dùng giây buộc nó lại, sợ gió thổi bay mất.

Tôi về phi đoàn 114, đóng ở Nha Trang, chỉ cách Ban Mê Thuột một tiếng rưỡi giờ bay, thế mà, suốt 4 năm ở phi đoàn, đi bay hành quân từ ngày một cho tới ngày mất nước, tôi không hề được về Ban Mê Thuột một lần để ăn tết. Thành thật mà nói, nếu muốn, tôi có thể lên gặp ông trường phòng HQ để xin đi biệt phái Ban Mê Thuột. Nhưng đời tôi, tôi chưa bao giờ biết mở miệng xin xỏ ai, tại sao bây giờ lại hạ mình đi xin xỏ để được ăn tết ở nhà" Hèn quá, không được.

Thế là mỗi một ngày Tết, tôi sách tàu đi biệt phái. Thường thì là những nơi "Xôi Đậu" máu lửa ngập trời như Pleiku hay Phù Cát. Năm cuối cùng, tôi biệt phái Quảng Đức vì trận Bu-Prăng đang diễn ra khốc liệt.

Cũng xin nói thêm, tôi không viết bài này để than phiền ai. Thật ra thì trong phi đoàn tôi chuyện này chẳng có gì là bất công cả mà lại rất tự nhiên. Mình tuổi trẻ, chưa vợ con thì tết nhất sách khăn gói đi biệt phái miền xa là phải rồi, để cho các đàn anh ăn tết ở nhà với vợ con. Mai mốt mình lấy vợ có con, đeo lon... đại úy trên vai thì các đàn em lại đi biệt phái để mình ở nhà với vợ con. Một sự suy nghĩ thật đơn giản và đúng. Chỉ tiếc rằng, tôi chưa đeo được cặp lon Trung úy thì mất nước. Cũng cần nói thêm ở đây, tổ tiên giòng họ nhà tôi xuất thân là nông dân nơi một vùng đất quê mùa hẻo lánh tên gọi làng Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Đất của tổ tiên tôi, nhìn ra phía trước là biển mặn chập chùng, quay ra sau là núi đá sừng sững. Nghèo khổ và cơ cực lắm, chỉ có con tim và khối óc mà thôi, chả có gì....

Gia phả nhà tôi mấy chục đời chưa hề thấy ghi có ai được làm quan. Chỉ có ông cố tôi làm tới anh đình trưởng và mấy đời sau, có mình tôi làm được làm quan một tàu bay. Như thế là vinh hạnh lắm rồi. Cái đáng nói ở đây là không biết ngày xưa, ông cố tôi có làm được gì để giúp dân làng Kỳ Anh nghèo khổ đói rách hay không. Thân phụ tôi không hề nói nhưng tôi hy vọng là có. Riêng tôi, tôi chẳng làm được gì cả để đóng góp cho quê hương và tổ quốc mình. Tôi đau đớn lắm nhưng không biết làm sao hơn.

Tôi nhớ có một năm, hình như 1973 thì phải, tối 30 mặc đồ vét đi chúc tết bà con ở Nha Trang, ai mời rượu cũng không dám uống để sáng hôm sau thức dậy 5 giờ cất cánh. Sáng sớm mùng một, trời còn mờ mờ tối, anh em âm thầm vác khăn gói ra tàu, mặt mày méo xệch, đau đớn quá chẳng ai buồn nói với ai một lời. Mở máy gọi đài kiểm soát, chưa kịp thử vô tuyến, cha nội ngồi trong lầu kiếng buông một câu: "Nhân ngày đầu năm mới, xin kính chúc quý vị một năm mới khang an..." Thế là mình cũng giả vờ chúc lại, cố gắng làm ra giọng vui vẻ để khỏi phụ lòng người.

Thử máy xong, đem tàu ra so hàng, tống hết ga cất cánh. Đủ tốc độ, kéo máy bay rời phi đạo lên trời, càng thấy mình cô đơn hơn nữa. Cô đơn đến chết được. Ở trên là trời. Ở dưới chân mình và càng lúc càng xa đi là thành phố Nha Trang đang nằm ngủ im lìm. Mình một thân một mình, chỉ có tiếng động cơ và tiếng cánh quạt đều đều. Rời vòng phi đạo, lấy hướng 220 độ đi Quảng Đức. Nghiêng cánh một phát, không muốn nhìn nhưng cũng phải nhìn xuống một phát. Nhìn để thấy thành phố thân yêu, nơi có người em gái mình yêu và cũng yêu mình đang nằm ngủ một cách yên lành, say đắm. Sóng biển nhẹ nhàng vỗ vào bờ cát trắng mịn dưới chân mình như muốn vỗ về ôm ấp...

Biển ơi là biển, có biết lòng ta chăng"

8500 bộ, trời lạnh run, thò tay mở ADF nghe radio đài Sài gòn, lại nghe được mấy bài hát như "Ngày Xuân nâng chén ta chúc nơi nơi…", nhìn chung quanh chỉ thấy trời cao, biển rộng và núi thẳm thì càng thấy thấm thía hơn. Người ta bảo phi công là những người cô đơn nhất thật là đúng trong trường hợp này.

Đáp con tàu xuống phi trường Quảng Đức, bàn giao biệt đội với phi hành đoàn cũ, check với Alo rồi lên xe phóng về biệt đội… nằm ngủ. Ai nói đi ngủ ngày mùng một Tết là một chuyện khó tin nhưng có thật với tôi. Ngày Tết là ngày kiêng cữ, mình lại chẳng quen ai ở cái thành phố xa lạ này thì chỉ nên nằm nhà ngủ cho sướng. Buổi chiều, đại úy Hạnh sĩ quan A-Lô đem sang đòn bánh chưng và chai rượu, rủ chúng tôi nhậu.

Nhậu nửa chừng, nghe radio văng vẳng bài hát:

"Con biết bây giờ mẹ chờ em trông
Khi thấy hoa đào nở vàng bên nương…
Năm ngoái con hẹn đầu xuân sẽ về
Nay én bay đầy trước ngõ,
Mà tin con vẫn xa ngàn xa…"

Nghe đến đâu thì muốn đứt ruột đến đó, nhưng biết làm gì hơn được"

Năm 1975, ngày Tết mà phải bay hộc xì dầu và vô tình gặp được một thằng bạn cùng lớp ngày xưa ở Ban Mê Thuột. Thằng An. Nó bây giờ làm một đại đội trưởng của sư đoàn 23 bộ binh, tướng tá phong sương dày dạn hơn tôi gấp chục lần. Tiểu đoàn nó vừa đụng nặng nên được về làm an ninh cho thành phố Quảng Đức. Tôi kéo nó về biệt đội, hai đứa ngồi cưa một chai rượu.

Hai thằng nói đủ thứ chuyện. Từ chuyện ngày xưa đi học, chuyện những đứa con gái mà chúng tôi biết, cho đến chuyện lính tráng, chuyện chiến tranh. Đến một lúc nào đó, tôi than phiền với người bạn tôi rằng dù là phi công, tôi chưa năm nào được ăn Tết ở nhà cả.

Thằng bạn tôi cười méo mó:

-Mẹ bố, nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột. Nhìn thấy tụi mày đi bay về có giường nệm ngủ, có điện thoại, có bếp nấu đồ ăn tao bắt thèm. Tao đây, có nhiều khi chỉ mong được dịp cởi đôi giày bố ra chừng vài tiếng đồng hồ và không dám cởi, nói gì đến chuyện ngủ giường nệm...

Rồi nó bắt đầu kể lại cuộc đời lính bộ binh, những lần đụng độ, những lần thoát chết. Thằng bạn tôi đi lính sau tôi, ra trường cuối năm 71. Năm 72, vừa ăn tết xong là nó được nếm mùi lửa đạn liền khi Việt cộng tấn công trận mùa khô năm 72. Nó bắt đầu bằng câu:

-Tiểu đoàn tao chỉ một tháng mà rụng tới ba ông tiểu đoàn trường. Tiểu đoàn trưởng mà còn rụng mau như thế thì lính tráng nói gì...

Tôi ngồi nghe một lúc và chợt thấy mình quả là may mắn và đồng thời, thương cho cuộc đời những người lính bộ binh. Nếu tôi không vào Không Quân thì cuộc đời tôi bây giờ chắc chẳng hơn gì nó.

Đồng ý rằng lính nào cũng có cái khổ riêng, cái nguy hiểm riêng nhưng tôi thấy lính Không Quân chúng tôi, so với những người lính bộ binh, chúng tôi quá sung sướng, quá thọ. Những cực khổ và nguy hiểm của chúng tôi không bằng họ được. Họ là những người gian nan nhất, thiệt thòi nhất, đáng được tôn vinh nhất. Có lẽ vì thế nên khi làm việc với bộ binh, tôi luôn luôn nhiệt tình, hết lòng hết sức...

Tôi nhớ lại năm 72, trong khi sách vở dạy L-19 không được bay quá 3 giờ, có nhiều khi tôi ở trên trời đến gần 5 tiếng đồng hồ. Trận đánh phía dưới diễn ra khốc liệt quá, máy bay khu trục của Mỹ bay đầy trời, nếu không có L-19 hướng dẫn thì họ phải giải tỏa bom đạn rồi bay về. Vì vậy tôi đành ở lại. Tôi không thể bỏ mấy anh em bộ binh được.

Về nhà, dĩ nhiên đâu dám ghi sổ là 5 giờ bay, phải rút xuống chỉ ghi có 3 giờ thôi. Ghi lạng quạng là thế nào cũng bị an phi điều tra, gọi lên gọi xuống làm khó dễ y như là mình phạm một tội ác nặng lắm. Một buổi trưa, đi bay về mệt rã người, chưa kịp thay đồ thì điện thoại reo vang rồi có người nói:

-Nhị, ông Tám muốn nói chuyện với mày.

Tôi cầm điện thoại lên, thế là một tràng những tiếng chửi rủa bay ra:

-Anh là thằng phi công mất dạy, ai cho anh bay thấp như thế. Anh muốn tự tử chết thì chết một mình, đừng có đem ai theo cả. Từ này về sau, hễ tôi nghe báo cáo anh bay thấp nữa thì tôi lôi cổ anh về nhốt.

Tôi nghe lời được vài bữa rồi chứng nào vẫn tật ấy. Mẹ kiếp, tàu bay thám thính mà bay tuốt ở trên cao thì làm sao nhìn thấy Việt cộng được. Tôi chả phải anh hùng gì nhưng mình đã mặc áo lính lái tàu bay ăn cơm chính phủ, mình phải làm việc như thế nào cho lương tâm mình khỏi cắn rứt là được...

Nhưng Tám nói là Tám làm. Sau đó tôi bị nhốt thật. Vào tù, không ai có thể hiểu được tại sao lái L-19 bay thấp lại bị ở tù. Bạn tù tôi toàn phạm những tội tày trời như buôn lậu, săn nai, bán xăng, hiếp dâm, giết người, chỉ có tôi bị tội bay thấp bị nhốt. Tôi đã giấu chuyện này trong nhiều năm, không viết ra sợ đụng chạm, sợ "làm xấu Không Quân", và đồng thời một phần, cũng vì cón sự kính nể người phi đoàn trưởng của tôi ngày xưa, tôi không muốn khơi dậy đám tro tàn. Cái tội của tôi chỉ là tội quá hăng máu yêu nước nhưng phải nằm trong tù chung với những thằng sĩ quan khác phạm những tội như tội buôn lậu bạch phiến, hiếp dâm, giết người, tôi thấy bất mãn thật. Nếu tôi là phi đoàn trưởng, chắc tôi không đối xử với phi công trong phi đoàn như thế. Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại, có thể nhờ như thế mà tôi còn sống được đến ngày hôm nay....

Tôi không biết...

Rồi năm 1975 đến thật mau, thật ngỡ ngàng. Tôi chạy trốn khỏi nước trong túi vỏn vẹn hai gói mì khô và mấy trăm đồng bạc...

Nhưng, tôi xin sửa lại một câu của danh tướng Mc Arthur mà nói rằng: Người ta có thể đem tôi ra khỏi quê hương, nhưng không ai đem được quê hương ra khỏi tôi...

Những ngày đầu tiên, mỗi tối, tôi leo lên giường, nằm nhắm mắt lại, lần mò về lại thành phố Ban Mê Thuột yêu dấu của mình. Tôi chia thành phố ra làm nhiều khu vực để đi thăm, và không dám đi mau, đi từ từ kẻo hết chỗ thăm...

Ngày đầu tiên, tôi thăm nhà. Ra sau nhà quay nước giếng và đổ đầy mấy phuy nước. Đây là công tác của tôi phải làm hằng ngày khi còn đi học. Rồi tôi giặt hết mấy thau đồ, cũng là một công tác khác mà tôi phải làm. Làm xong, tôi lấy cây đờn, leo lên một nhánh cây mít to lớn quen thuộc, búng phiếm đàn rồi cất tiếng hát một bài nhạc lính: "Rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi, thành phố sau lưng ôm mộng ước gì, tôi là người vui chinh chiến dài lâu, nên mộng ước đầu tôi nghe đã chìm sâu..." 

Ngày thứ hai, tôi về thăm lại ngôi trường cũ, trường La San Ban Mê Thuột, nơi đã đào tạo tôi nên người. Tôi vào lớp chào từng ông thầy, ông Frère. Ông nào cũng tiếp tôi niềm nở, bảo tôi "Anh mặc áo bay coi oai quá." Tôi cười cười thêm: "Oai và đẹp giai nữa chứ thầy..." Tôi ra sân chơi chính, nơi hằng ngày tôi thường đứng diễn thuyết và mọi người bu chung quanh để nghe tôi nói một cách thích thú. Rồi tôi ra sân đá banh, nơi mà lớp tôi đã từng chiến bại mà.... không hề chiến thắng suốt mấy năm trời trung học. Ở phía sau quán bà Năm, xa xa một chút, là nơi chúng tôi trốn để tụ tập hút thuốc lá. Đây cũng là nơi đã diễn ra những trận oánh lộn chí chóe. Có lần, "pặc-co" tay đôi với thằng Trúc, tôi bị nó đấm bầm một con mắt tại nơi đây. Tôi cúi xuống, sờ từng viên gạch, từng hòn đá, hỏi: "Chúng mày có nhớ tao không, sao tao nhớ chúng mày quá..."

Ngày thứ ba, tôi vào nhà thờ chính tòa, nhìn lại nơi tôi đã quỳ gối mỗi ngày suốt mười mấy năm. Cái nhà thờ này là một hình ảnh lớn trong đời tôi. Chính tại nơi đây, linh hồn tôi đã lớn lên và trưởng thành giữa những bài hát đạo ấm cúng như bài:

Thầy yêu chúng con lời ai nói cho cùng,
Thầy yêu chúng con thầy sinh xuống gian trần
Thầy yêu chúng con, thầy ban trót thân mình
Để nuôi chúng con, ngày lữ thứ trần gian...

Hoặc những tiếng cầu kinh rì rầm, nhẹ nhàng, đều đều... những tiếng chuông trong giờ hành lễ v.v...

Tại nơi đây, tôi đã cầu xin đủ thứ. Cầu xin cho mình, cho đất nước, cho gia đình...

Ngày thứ tư, tôi đi ra phố, vào rạp chiếu bóng LoDo xem xi nê. Một trong những niềm hạnh phúc lớn nhất của tôi là được xem một phim xi nê hay. Gia đình tôi vốn khe khắt nên cấm tuyệt anh em chúng tôi không được bao giờ lai vãng đến rạp hát. Thân phụ tôi bảo rạp hát là ổ của tội lỗi. Vì thế, mỗi lần muốn đi coi xi nê, tôi phải đi lén. Coi được một phim nhiều khi phải tốn hàng tuần lễ để thiết trí kế hoạch và chuẩn bị. Rồi phải kiếm tiền nữa. Đủ thứ cực khổ nhưng tôi luôn luôn coi được những phim mình muốn coi. Nhưng niềm vui coi xi nê không bao giờ được vẹn toàn vì vừa coi xi nê vừa sợ về nhà bị đòn...

Hết phim, tôi ra chợ, đi vòng vòng các cửa hàng, thăm đủ thứ...

Cứ thế và cứ thế, mỗi một buổi chiều, sau một ngày mệt mỏi lao động, tôi leo lên giường, âm thầm trở về thăm quê cũ...

Nhưng dần dần, những chuyến trở về càng lúc càng ngắn đi cho đến một ngày, tôi hoàn toàn bị lôi kéo vào cuộc tranh sống nơi xứ người. Ban ngày đi học, ban đêm đi làm. Tối về đến nhà là thở không ra hơi, lại còn bài vở phải lo làm, tôi ngồi lì ở cái bàn nhỏ vừa là bàn cơm vừa là bàn học, nhiều khi tôi thiếp ngủ đi, đầu gục xuống bàn.

Dù bận rộn nhưng mỗi năm một lần, vào ngày Tết, tôi xin nghỉ việc và nghỉ học một ngày. Nghĩ không phải để ăn Tết mà đóng cửa phòng nằm nhà, ngồi tưởng nhớ đến quê cha đất tổ, nơi cha mẹ anh em bạn bè tôi còn bị đày đọa trong ngục tù Cộng Sản.

Người ta bảo nỗi buồn nào rồi cũng qua đi, tôi thấy đúng. Nhưng riêng tôi, tôi thấy có một nỗi buồn, một nỗi nhớ thương mà loài người không thể nào quên cho được, đó là nỗi thương nhớ quê hương. Có đi xa quê hương như thế này mới thấm thía câu "Hồ Mã Tê Bắc Phong, Việt Điểu Sào Nam Chi."

Và thời gian qua nhanh...

Khoảng năm 1984, Việt cộng cho Việt kiều về lại Việt Nam. Nhiều người Việt Nam tị nạn khắp nơi hăm hở trở về để ăn chơi, hoặc để thăm nhà, hoặc để lấy vợ hay làm gì đó. Mỗi người luôn luôn có một lý do để về Việt Nam. Và chuyện này là chuyện cá nhân của mỗi người, tôi không có ý kiến.

Riêng tôi, ngày nào còn chính quyền Cộng Sản ngự trị trên quê hương thì chuyện trở về thăm nhà sẽ không bao giờ xảy ra với tôi. Tính cho đến ngày hôm nay, đã 38 năm tôi chưa về nhà ăn Tết. Đã gần 32 năm tôi chưa được nhìn lại được mặt trời của quê hương.

Quê hương mình, mình nhớ thật, nhưng, như đã nói, ngày nào Cộng Sản còn thống trị quê hương thì chuyện trở về không có tôi. Tôi là kẻ thua trận. Làm trai sinh nhằm thời loạn, tôi đã mặc áo nhà binh để bảo vệ quê hương mình. Nhưng cuối cùng tôi đã không làm tròn bổn phận, phải bỏ đất nước mà trốn chạy một cách nhục nhã. Tôi không bao giờ quên được những chuyện này nhưng sẽ giữ kín trong lòng và chết đi sẽ đem nó xuống mồ với mình. Tôi không bao giờ nói cho con cái nghe về cái dĩ vãng tủi nhục đau đớn của cha nó. Những gì xảy ra ở Việt Nam sẽ được giữ lại tại Việt Nam. Tôi, tâm trạng có lẽ giống như mấy lời thơ mà Cao Tần đã làm hồi mới mất nước như sau:

Nhà ông khổ hơn người vì đôi cánh,
Những thênh thang bát ngát những trời xanh,
Này cánh đại bàng nhớ chân trời thẳm,
Thôi cuối tuần này lên núi cùng ta...

Trên núi cao ta biết rành một chỗ
Có hòn đá xanh có gốc thông già
Ngồi trên đá ông sẽ thành Trang Tử
Hồn nhẹ bay theo bướm lượn chiều tà...

Tôi còn quá trẻ và quá yêu đời để làm Trang Tử, và tôi càng không dám làm đại bàng, nhưng tôi biết tôi khổ hơn người vì sự suy nghĩ, vì còn có liêm sỉ, vì còn biết tủi nhục là gì. Dù làm một kẻ lưu vong sống âm thầm tủi nhục nơi xứ người, tôi ráng sống một cuộc đời còn lại của mình một cách thanh bạch và lương thiện. Tôi áp dụng đúng câu châm ngôn đã học được ngày còn ở những lớp Tiểu Học, đó là: Giữ lòng vui, giữ linh hồn trong sạch, và đem hết nghị lực ra làm việc...

Mùa hè năm 2005, trận bão Katrina kéo đến tàn phá quê hương thứ hai của tôi, thành phố New Orleans. Hồi đó tôi đã tính không chạy bão, nhưng lúc ấy chân phải tôi bị gẫy, tôi biết nếu thành phố ngập nước, tôi ắt khó mà nổi được với một cái chân què, nên đành phải phóng xe đi. Tôi tính chỉ đi vài ngày rồi trở về, không ngờ, đến bây giờ là đã hơn một năm, vì công ăn việc làm, tôi vẫn còn "lưu vong" tại Dallas. Cứ ba bốn tuần một lần, tôi bay về nhà, thăm vợ con vài ngày rồi lại bay đi. Mỗi lần lên phi trường về lại Dallas, tôi lại có cảm tưởng như mình đi... biệt phái hồi xưa. Có khác chăng là hồi xưa đi biệt phái mình chẳng có vợ con, tuổi còn trẻ măng, chẳng biết lo lắng gì. Bây giờ, tuổi đời chồng chất, vợ con bận bịu, nhiều lần ôm con từ giã mà ruột đứt ra từng khúc...

55 tuổi là cái tuổi quá lớn để tìm bạn mới, và quá trẻ để về hưu, vui thú điền viên. Tâm hồn tôi bây giờ cũng cằn cỗi nhiều, ít ham đi đâu, và thành phố Dallas lại quá lớn, chằng chịt đường xá, nên tôi nằm nhà tối ngày. Cái thú vui của tôi bây giờ là cái... màn ảnh máy điện toán. Qua cái màn ảnh này, tôi đọc thật nhiều và cũng viết thật nhiều...

Tôi không viết bài này để than thở. Biết đâu chừng, nhờ những ngày "lưu vong" này ở Dallas, tôi có thể viết được một tác phẩm lớn để đóng góp với đời...

Trong khi đó, xin kính chúc quý vị một lễ Giáng Sinh an bình và một năm mới hạnh phúc....

Trường Sơn Lê Xuân Nhị
Dec 14, 2006
Những ngày lưu vong Dallas

Blog Archive