Wednesday, April 1, 2026
Con gái của Fidel Castro nói rằng việc thay đổi chế độ ở Cuba đã quá muộn
Alina Fernández đã trốn khỏi Havana vào năm 1993 ở tuổi 37 và định cư tại Miami, trở thành một trong những người chỉ trích mạnh mẽ nhất chế độ cộng sản của cha mình.
Alina Fernández Revuelta, con gái của cựu lãnh đạo Cuba Fidel Castro, đã mạnh mẽ chỉ trích chế độ cộng sản mà cha bà thiết lập năm 1959, cho rằng Cuba cần một chính phủ mới.
Bà rời Havana năm 1993 ở tuổi 37 và định cư tại Miami, sống một cuộc sống giản dị giống như những người Cuba lưu vong khác.
Sinh năm 1956, Fernández lớn lên ở Havana thời hậu cách mạng, trong tầng lớp tinh hoa cách mạng đầy đặc quyền. Tuy nhiên, từ nhỏ, bà đã nhận thức được thực tế khắc nghiệt của chủ nghĩa cộng sản và sau này trở thành một trong những nhà phê bình thẳng thắn nhất về chế độ cai trị của cha mình, mà bà mô tả là hà khắc.
“Đối với tôi, đã đến lúc cần thay đổi chế độ kể từ cuối những năm 80,” Fernández nói trong một cuộc phỏng vấn độc quyền với The Epoch Times.
“Vào thời điểm Fidel Castro qua đời, tất cả chúng ta đều nghĩ rằng [chế độ của ông] đã kết thúc, bởi vì đó là một chính phủ rất cá nhân hóa và gia trưởng... tự mãn... Nhưng nó đã tồn tại.”
Fernández là con gái của Castro và Natalia Revuelta, một người phụ nữ thuộc giới thượng lưu Havana, người đã ngoai tinh với Castro vào giữa những năm 1950 khi cả hai đều đã kết hôn với người khác. Cô lớn lên cùng mẹ và cha dượng, và chỉ biết Castro là cha ruột của mình khi lên 10 tuổi.
Cô ấy nói rằng những ký ức từ quá khứ vẫn ám ảnh cô. Cô ấy gọi Castro bằng tên chứ không phải là cha mình.
“Tôi trở thành người bất đồng chính kiến, ý tôi là, công khai… vào cuối những năm 80. Vì vậy, tôi rất sợ hãi. Tôi sợ cho con gái mình, rằng điều gì đó tồi tệ có thể xảy ra với con bé,” Fernández nói.

Alina Fernández Revuelta cùng Fidel Castro, mừng lễ cưới với Yoyi Jimenez năm 1973.
Từ nhỏ, Fernández đã nhận thức được thực tế khắc nghiệt của chủ nghĩa cộng sản và sau này trở thành một trong những người chỉ trích mạnh mẽ nhất chế độ cai trị của cha mình. Ảnh do Alina Fernández Revuelta cung cấp .
“Tôi thuộc phe đối lập, nên đó là gánh nặng kép đối với cô ấy. Cô ấy còn là một thiếu niên, và chúng tôi đang trải qua cái mà chúng tôi gọi là Thời kỳ Đặc biệt vào thời điểm đó.”
Trong nhiều thập nien, Cuba phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, chủ yếu từ Liên Xô, quốc gia đã cung cấp các khoản trợ cấp đáng kể cho đến khi sụp đổ vào năm 1991. Việc chấm dứt hỗ trợ của Liên Xô đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài ở Cuba, được gọi là "Thời kỳ đặc biệt".
Đối với Fernández, giai đoạn đó có nghĩa là "những năm tháng khốn khổ cùng cực" khi không có điện, không có thực phẩm, không có phương tiện giao thông công cộng, và các trường học đều đóng cửa.
“Một số người nói rằng bây giờ còn tệ hơn, nhưng vào những năm 90, tình hình thật kinh khủng,” cô ấy nói.
Khi có cơ hội trốn thoát, Fernández đã chọn rời đi trước, bỏ lại con gái vì không còn lựa chọn nào khác. Cô đã trốn thoát bằng hộ chiếu của một du khách Tây Ban Nha, người đã đồng ý giúp đỡ cô.
Đầu tiên, bà đến Tây Ban Nha và sau đó được Đại sứ quán Mỹ tại Madrid cấp tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ. Vào ngày 21 tháng 12 năm 1993, bà đến Atlanta.
Vài ngày sau, Mục sư Jesse Jackson đến thăm Cuba và nhận được sự chấp thuận của Castro cho việc thả cháu gái ông, điều mà Fernández mô tả là "sự can thiệp của thần thánh". Không lâu sau, bà và con gái đã đoàn tụ tại Hoa Kỳ.
Vì sao cô ấy rời Cuba?Từ khoảng 9 hoặc 10 tuổi, Fernández bắt đầu hiểu chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thực sự có nghĩa là gì. Mọi chuyện bắt đầu từ một thứ gọi là "lao động tình nguyện".
“Tôi đến gặp mẹ và nói, ‘Con không muốn đi làm công việc tình nguyện,’” Fernández nhớ lại. “Mẹ tôi nói, ‘Không, con phải đi.’”


(Trên và dưới) Biên kịch Jose Rivera và Alina Fernández.
Sau khi rời Havana năm 1993 ở tuổi 37, Fernández trở thành người ủng hộ mạnh mẽ cho tự do ở quê hương mình. John Martinez O'Felan
Dưới chế độ đó, người dân Cuba, kể cả trẻ em, phải tham gia lao động tình nguyện không lương để hỗ trợ nền kinh tế nhà nước. Hầu hết công việc liên quan đến nông nghiệp, đặc biệt là thu hoạch mía đường.
“Vậy là tôi phát hiện ra rằng ở Cuba, tự nguyện lại có nghĩa là bắt buộc,” cô ấy nói.
Đối với bà, đó là bài học đầu tiên về cách ngôn ngữ có thể bị những người cộng sản thao túng để phục vụ cho hệ thống.
“Tôi nhận ra rất sớm rằng mình đã bị lừa dối,” cô ấy nói.
Fernández biết được từ mẹ mình khi khoảng 10 tuổi rằng Castro là cha ruột của cô. Trước đó, cô tin rằng chồng của mẹ cô, bác sĩ tim mạch nổi tiếng Orlando Fernández Ferrer, là cha mình. Do luật pháp của đất nước, cô vẫn giữ họ của ông thay vì lấy họ của Castro.
Cha dượng của cô đã rời khỏi đất nước cùng với em gái cô vào đầu những năm 1960.
“Vì vậy, tôi đã phải ghi vào bài tập ở trường và mọi giấy tờ chính thức rằng tôi cảm thấy có những kẻ phản bội trong gia đình mình,” cô ấy nói.
Cô ấy ở lại Cuba với mẹ, nhưng mối quan hệ giữa hai mẹ con gặp nhiều khó khăn.
Theo Fernández, mẹ cô là một trong những người đóng vai trò quan trọng trong việc khởi xướng cuộc cách mạng.
“Bà ấy đã có mặt ngay từ đầu… từ giai đoạn chuẩn bị cho cuộc cách mạng,” Fernández nói.
“Bà ấy là người ủng hộ và là một thần dân vô cùng trung thành của nhà vua,” cô nói, đề cập đến lòng trung thành của mẹ mình đối với Castro.

Lãnh đạo Cuba Fidel Castro (giữa) xuất hiện ngay sau khi lật đổ nhà độc tài Fulgencio Batista trong chiến thắng cách mạng ở Cienfuegos, Cuba, ngày 4 tháng 1 năm 1959. Prensa Latina/AFP via Getty Images
Cuộc khủng hoảng Mariel năm 1980 đánh dấu một bước ngoặt đối với nước này. Cuộc di cư bằng thuyền Mariel, hay còn được gọi là cuộc di cư quy mô lớn khỏi Cuba, bắt đầu sau một cuộc đối đầu tại Đại sứ quán Peru ở Havana, nơi hơn 10.000 người Cuba xin tị nạn vì cuộc khủng hoảng kinh tế. Đáp lại, Castro đã mở cửa cảng Mariel để cho phép người dân rời đi.

Từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1980, khoảng 125.000 người Cuba đã chạy trốn sang Hoa Kỳ từ cảng Mariel.
Chế độ này gọi những người rời đi bằng những từ ngữ xúc phạm như "gusanos" (giun) và "kẻ phản bội". Chúng cũng tổ chức các đám đông để đe dọa và quấy rối người dân khi họ rời đi.
Chứng kiến điều này càng khiến Fernández đặt nhiều câu hỏi hơn về chế độ.
“Người ta được khuyến khích đi đánh đập, la hét, làm nhục những người đó và trong một số trường hợp, giết chết họ chỉ vì họ sẵn lòng rời khỏi đất nước,” bà nói. “Và đối với tôi, đó là một bước ngoặt vô cùng khắc nghiệt khi chứng kiến người ta bị đối xử như vậy một cách chính thức. Điều đó đã giết chết tôi.”
Năm 2014, Fernández trở lại Havana lần đầu tiên sau 21 năm. Bà được chính quyền Cuba cho phép đến thăm mẹ, người đang ốm nặng trong bệnh viện.
Kể từ đó, bà chưa quay lại hòn đảo này, nhưng giống như nhiều người Mỹ gốc Cuba khác, bà hy vọng sẽ đến thăm khi chế độ sụp đổ.
Fernández hiện không còn liên lạc với các thành viên trong gia đình, bao gồm cả chú của bà, cựu lãnh đạo Raúl Castro, người hiện đã 94 tuổi.
“Một trong những bi kịch lớn nhất của Cuba… là sự điên rồ này đã chia rẽ các gia đình một cách tàn khốc nhất. Vì vậy, nếu bạn không cùng suy nghĩ, bạn sẽ trở thành kẻ thù của nhau,” bà nói. “Thật khủng khiếp. Nó đã như vậy ngay từ đầu.”

Những chiếc thuyền chở người Cuba đến Miami từ cảng Mariel, Cuba, vào tháng 5 năm 1980. Trong cuộc di cư bằng thuyền Mariel, một cuộc di cư quy mô lớn sau cuộc đối đầu tại đại sứ quán Peru ở Havana, hơn 10.000 người Cuba đã tìm kiếm tị nạn vì cuộc khủng hoảng kinh tế. Ảnh: Archivo/AFP qua Getty Images
Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?Cuộc Cách mạng Cuba bắt đầu vào năm 1953 như một cuộc nổi dậy vũ trang, cuối cùng đã lật đổ chế độ độc tài của Fulgencio Batista. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1959, Fidel Castro lên nắm quyền và nhanh chóng biến Cuba thành một quốc gia cộng sản.
Hơn chục đời tổng thống Mỹ đã tìm cách gây ảnh hưởng, thay đổi hoặc lật đổ chế độ Cuba kể từ đó. Hoa Kỳ đã áp đặt lệnh cấm vận kinh tế và các biện pháp trừng phạt bắt đầu từ năm 1960, và các biện pháp này ngày càng mạnh mẽ hơn theo thời gian. Các hành động khác bao gồm cuộc xâm lược Vịnh Con Lợn thất bại năm 1961 dưới thời Tổng thống John F. Kennedy, việc Cuba bị trục xuất khỏi Tổ chức các Quốc gia châu Mỹ, và lệnh cấm đi lại.
Trong những tuần gần đây, Tổng thống Donald Trump đã ám chỉ rằng Cuba có thể là mục tiêu tiếp theo, sau khi lực lượng Mỹ bắt giữ cựu lãnh đạo Venezuela Nicolás Maduro tại Caracas vào ngày 3 tháng 1 và tiến hành các cuộc tấn công vào Iran vào ngày 28 tháng 2.
“Đó là một quốc gia đang thất bại, và họ sẽ là quốc gia tiếp theo”, ông Trump nói với các phóng viên vào ngày 29 tháng 3. “Trong một thời gian ngắn nữa, nó sẽ sụp đổ, và chúng ta sẽ ở đó để giúp đỡ nó.”
Sau khi Hoa Kỳ bắt giữ Maduro, việc vận chuyển dầu đến Cuba bị gián đoạn, đẩy hòn đảo này vào một trong những cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ.
Các cuộc biểu tình quy mô lớn đã nổ ra trên đảo trong bối cảnh mất điện thường xuyên, thiếu lương thực trầm trọng và khó khăn trong việc tiếp cận thuốc men.
Người dân biểu tình ở Havana vào ngày 14 và 16 tháng 3 năm 2026. Reuters
Tuy nhiên, Fernández lưu ý rằng những thay đổi có ý nghĩa từ bên trong Cuba khó có thể xảy ra trong tương lai gần. Bà khẳng định rằng việc đập nồi niêu xoong chảo, một hình thức phản đối được gọi là cacerolazo, sẽ không đủ để lật đổ chế độ.
Bà giải thích rằng hệ thống cộng sản vẫn còn ăn sâu bám rễ, quyền lực tập trung cao độ, với nhiều nhà lãnh đạo ban đầu vẫn còn tại vị, mặc dù một số người đã qua đời.
Sau khi rời Havana, Fernández trở thành người ủng hộ mạnh mẽ cho tự do ở quê hương mình. Bà đã xuất bản cuốn hồi ký "Con gái của Castro: Hồi ký của một người lưu vong về Cuba" vào năm 1998. Bà cho biết mình đã gặp phải một số sự phản đối đối với công việc của mình ở Hoa Kỳ trong những năm qua.
Gần đây, Fernández đã tham gia một bộ phim tài liệu có tên “Revolution's Daughter” (Con gái của cuộc cách mạng), sẽ được công chiếu tại Miami vào ngày 10 tháng 4. Trong những năm gần đây, cô ấy đã tránh xuất hiện trước công chúng.
“Tôi đã giữ im lặng trong nhiều năm nay rồi,” bà nói. “Tôi có cảm giác rằng mình đã nói hết những điều cần nói.”
Biên kịch Jose Rivera và Alina Fernández. John Martinez O'Fela
Nguon: Epoch times
n
Âm Nhạc Miền Nam và Những Ngày Xưa Thân Ái
Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão “giải phóng ngược lại” tâm hồn khô khan của người dân miền Bắc và ngay cả các cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của bà Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết buồn man mác mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà gáy khan ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp học khắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.
Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở:
“Tôi muốn mọi người biết thương nhau.
Không oán ghét không gây hận sầu.
Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau.
Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…”
Các nhạc sĩ tài hoa như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và “Cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”
Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình:
“Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng.
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm.
Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi.
Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời…”
Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận
“Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.”
Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ:
“Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…”
Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau “Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”
Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi: “Tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ!”
Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng hợp ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam, Về Với Mẹ Cha…
Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi hát to lên:
“Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…”
Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: "Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân…"
Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát “Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”
Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên.
Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên “Những Ngày Xưa Thân Ái” của chúng tôi.
“Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai
Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…”
Các anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.
Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống:
“Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo…
Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa!
Trên cõi đời này, trên cõi đời này.
Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”
Và tôi say mê “Mùa Thu Chết” từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.
Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi. Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi “anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh…” và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie.
Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những “Cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh” cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.
Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được “Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi,” chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những “Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”
Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát:
“Tôi thức từng đêm,
Thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng.
Mẹ là mẹ trùng dương,
Gào than từ bãi trước ghềnh sau.
Tuổi trời qua mau,
Gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi.
Nên năm hăm mốt tuổi,
Tôi đi vào quân đội.
Mà lòng thì chưa hề yêu ai.”
Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát:
“Toumorong, Dakto, Krek, Snoul.
Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu.
Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình.
Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”
Chúng tôi không biết “Phá” là gì” “Tam Giang” ở đâu? Nhà thơ Tô Thùy Yên là ai”? Nhưng lời hát như:
“Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em,
Nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…”
đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.
Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những “Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành.”
Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là “ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm."
Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết “bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”
Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.
Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với "Một thời để yêu – Một thời để chết." Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những “Vũng lầy của chúng ta,” “Con đường tình ta đi,” “Bây giờ tháng mấy,” “Ngày xưa Hoàng Thị,” “Tình đầu tình cuối,” “Em hiền như Ma Soeur,” “Trên đỉnh mùa đông,” “Trả lại em yêu…”
Đó là lúc Cô đọc thơ “Chiều trên Phá Tam Giang” của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc “anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…” khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát.
Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:
“Nhưng anh bây giờ anh ở đâu
Con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm
Tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ
Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa
Nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”
Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung ấy và “người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH.
Cô giáo tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại “Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo” để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.
Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.
Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại.
Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt “Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”
Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những “Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi...”
Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh:
“Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến,
Súng trên vai bước lê qua đường phố;
Tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ,
Tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ…”
Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ:
“Như phai nhạt mờ,
Đường xanh nho nhỏ,
Hôm nay tình cờ,
Đi lại đường xưa, đường xưa...
Cây xưa còn gầy,
Nằm phơi dáng đỏ,
Áo em ngày nọ,
Phai nhạt mây màu,
Âm vang thuở nào,
Bước nhỏ tìm nhau, tìm nhau…”
Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những “Bác cùng chúng cháu hành quân” và “Tiến về Sài Gòn” thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.
Hơn 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.
42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn… Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975. Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.
Ai giải phóng ai? Hãy hỏi “Con Đường Xưa Em Đi” và đốt đuốc đi tìm xem “Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân” đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!
Vũ Đông Hà
24.03.2017rần Văn Giang (ghi lại)
HÀNG TRĂM ĐẶC VỤ IRAN ẨN NÁU TẠI CANADA, QUỐC HỘI CẢNH BÁO NGUY CƠ AN NINH NGHIÊM TRỌNG
Kính mời nghe Nghị sĩ Melissa Lantsman thông báo ở clip bên dưới
Một dân biểu Canada vừa đưa ra cảnh báo gây chấn động khi cho biết có ít nhất 700 thành viên thuộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran đang hoạt động tại Canada, tạo ra mối đe dọa an ninh quốc gia ngày càng gia tăng.
Dân biểu bảo thủ Melissa Lantsman, đại diện khu vực Thornhill, Ontario, trong một phiên tranh luận tại Quốc hội đã khẳng định rằng con số 700 đặc vụ này là những trường hợp đã được nhận diện.
Bà đồng thời chỉ trích Bộ trưởng An ninh Công cộng Gary Anandasangaree vì không thể xác nhận có bao nhiêu người trong số này đã bị trục xuất.
Theo bà Lantsman, cộng đồng người Iran tại Canada hiện đang sống trong trạng thái lo sợ khi ảnh hưởng và hoạt động đàn áp của chính quyền Tehran đã lan sang lãnh thổ Canada.
Bà cho biết các thành viên cấp cao của chế độ Iran sinh hoạt công khai, từ phòng tập thể dục cho đến nhà hàng sang trọng, và con cái của họ đang theo học tại các trường đại học trong nước.
Bà cũng nhấn mạnh rằng đã xảy ra nhiều vụ bạo lực trong cộng đồng, bao gồm bắt cóc và thậm chí có khả năng là các vụ sát hại, liên quan đến mạng lưới hoạt động của các lực lượng trung thành với chế độ Iran.
Trong một cuộc họp báo, bà Lantsman cảnh báo rằng các đặc vụ Iran đang lợi dụng Canada như một nơi trú ẩn an toàn để tổ chức, gây quỹ và đe dọa các cộng đồng người Iran và Do Thái ngay trên đất Canada.
Đáp lại, Bộ trưởng An ninh Công cộng Canada cho biết các cá nhân bị nghi
ngờ liên quan đến IRGC đang bị điều tra kỹ lưỡng và đang trong tiến trình
pháp lý để bị trục xuất.
Ông cho biết một số trường hợp đã bị trục xuất và chính phủ sẽ tiếp tục hành động đối với những người không đủ điều kiện cư trú.
Tuy nhiên, bà Lantsman chỉ trích Thủ tướng Canada Mark Carney vì đã không thực hiện rõ ràng vai trò lãnh đạo trong vấn đề này, đặc biệt khi Quốc hội đang bàn bạc về mối đe dọa từ Iran đối với an ninh quốc gia.
Bối cảnh này diễn ra trong khi các chính sách di trú thời chính quyền Thủ tướng Trudeau trước là đã tạo điều kiện cho các đối tượng có nguy cơ cao nhập cảnh.. bao gồm những cá nhân có liên hệ với các tổ chức khủng bố quốc tế.
Các nguồn tin cho biết tình trạng thiếu nguồn lực và ý chí chính trị đã khiến các mạng lưới tội phạm xuyên quốc gia hoạt động mạnh mẽ tại Canada.
Ở cấp độ rộng hơn, vấn đề an ninh biên giới Bắc Mỹ cũng đang được đặt lại.
Tổng thống Trump trước đó đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp tại biên giới Hoa Kỳ - Canada sau khi số lượng người vượt biên trái phép đạt mức kỷ lục, trong đó có nhiều đối tượng bị nghi ngờ liên quan đến khủng bố.
Các dữ liệu cho thấy hàng ngàn đối tượng có liên hệ khủng bố đã được thả vào Hoa Kỳ trong những năm gần đây, bao gồm cả những người có liên hệ với các tổ chức cực đoan.
Điều này làm gia tăng lo ngại về khả năng xảy ra các cuộc tấn công trả đũa trong bối cảnh xung đột với Iran tiếp tục leo thang.
Diễn biến hiện tại cho thấy mối đe dọa không còn giới hạn tại Trung Đông mà đã lan đến Bắc Mỹ, đặt ra thách thức nghiêm trọng đối với hệ thống an ninh và chính sách di trú của các quốc gia phương Tây.
(ngườiđưatin )
Joshua McElwee và truyền thông cánh tả đã bóp méo và thao túng độc giả về Vatican như thế nào
Mấy hôm nay, nhiều bài viết về Bài giảng Lễ Lá của ĐGH Leo XIV đã khiến nhiều người phiền lòng không ít. Những tin, bài ấy đã tạo cho dư luận có cảm tưởng về một sự xung đột mạnh mẽ giữa ĐGH Leo và TT Trump.
Khác với tính cách 'bốp chát' thường thấy, ông Trump không phản ứng gì, trong khi một số tin đồn lan truyền trên mạng xã hội cho rằng ông Trump nói “Sit down, you’re just the Pope” hoặc ông gọi ĐGH là “insult to Jesus” đã bị Snopes và các nguồn kiểm chứng bác bỏ là hoàn toàn giả mạo.
Còn Tuỳ viên Báo chí Bạch Ốc Karoline Leavitt (một người Công giáo) đã trả lời khi được hỏi về lời Giáo hoàng, cô nói: “Tôi không nghĩ có gì sai khi các lãnh đạo quân sự hoặc Tổng thống kêu gọi người dân Mỹ cầu nguyện cho các quân nhân đang phục vụ ở nước ngoài.
Quốc gia chúng ta được thành lập dựa trên giá trị Do Thái–Kitô giáo. Chúng ta đã thấy nhiều Tổng thống, lãnh đạo Bộ Quốc phòng và quân đội cầu nguyện trong những thời khắc khó khăn nhất của lịch sử đất nước. Đây là một điều cao quý.”
Bằng cách đó, Toà Bạch Ốc không thừa nhận rằng lời ĐGH Leo là chỉ trích trực tiếp ông Trump hay chính sách chiến tranh với Iran, mà chuyển hướng sang bảo vệ quyền cầu nguyện của lãnh đạo và quân đội.
Thật ra, kẻ tạo ra sự "xung đột giả" ấy chính là Joshua McElwee, nhà báo của Reuters, chuyên phụ trách về tin tức Vatican. Với kinh nghiệm nhiều năm săn tin, viết bài và có mối quan hệ rộng ở Vatican, y đã trở thành một thứ chuyên gia về đề tài này cho hãng tin lừng danh khuynh tả Reuters, từ đó những định kiến rõ rệt từ bài viết của y lan toả khắp thế giới.
Bài báo cụ thể của Joshua McElwee liên quan trực tiếp đến phát biểu của ĐGH Leo XIV về chiến tranh, đăng trên Reuters ngày Lễ Lá 29 tháng 3 năm 2026 vừa qua, y đã ma mãnh dùng những từ mạnh, gây sốc đưa ngay lên tiêu đề chính và phụ như một cách giật gân khi độc giả vừa lướt qua tiêu đề đã lập tức bị cuốn vào cái suy nghĩ đầu tiên mà y bơm vào não độc giả ấy.
Ví dụ như tiêu đề: "ĐGH Leo khẳng định rằng Chúa sẽ khước từ những lời cầu nguyện của các nhà lãnh đạo đang phát động chiến tranh", McElwee đã dùng từ "khước từ, bác bỏ", từ rất mạnh này mặc nhiên mang tính kết án đạo đức. Kế tiếp là từ "các lãnh đạo gây chiến tranh", y không nêu tên nhưng đặt trong bối cảnh chiến tranh Iran và ông Trump, khiến người đọc ngay lập tức liên tưởng đến Tổng thống Trump và chính quyền Mỹ. Nếu y tỏ ra trung lập, tiêu đề có thể là: “ĐGH Leo kêu gọi hòa bình khi cuộc chiến tại Iran bước sang tháng thứ hai" hoặc "ĐGH Leo thúc giục các nhà lãnh đạo tìm kiếm hòa bình trong thông điệp nhân ngày Chúa Nhật Lễ Lá" chẳng hạn.
Sang đến tiêu đề phụ, y viết tiếp "ĐGH tuyên bố rằng Chúa sẽ không lắng nghe lời cầu nguyện của những kẻ có "đôi tay vấy đầy máu", kế tiếp y viết "đây là phát biểu mạnh mẽ bất thường", rồi ghê tởm", “bác bỏ lời cầu nguyện". Dĩ nhiên nhiều độc giả đã in ngay vào đầu các thông tin giật gân đó, coi như đó là toàn bộ bài giảng.
Với 1.4 tỷ tín hữu Kitô giáo toàn cầu, Chúa nhật Lễ Lá là khởi đầu cho Tuần Thánh, một phụng vụ quan trọng và thiêng liêng nhất trong năm, đây là dịp để rao truyền lời kêu gọi, quay về, sám hối... Các ĐGH hoặc các Hồng y, Giám mục, Linh mục đều rao truyền những lời kêu gọi ấy.
Mời quý vị đọc thử vài trích đoạn của tác giả Amira Abuzeid đăng trên tờ Catholic World Report viết về bài giảng Lễ Lá đó của ĐGH Leo:
"Trong các phát biểu với các nhà báo ngày 31 tháng 3 bên ngoài biệt thự giáo hoàng tại Castel Gandolfo, ĐGH nhắc nhở rằng “Phục Sinh phải là thời gian thánh thiêng và thiêng liêng nhất trong năm. Đó là thời gian của hòa bình, là thời gian để suy tư nhiều, nhưng như chúng ta đều biết, một lần nữa trên thế giới, ở rất nhiều nơi, chúng ta đang chứng kiến quá nhiều đau khổ, quá nhiều cái chết, ngay cả những đứa trẻ vô tội.”
"Ngài kêu gọi mọi người, “đặc biệt là các Kitô hữu”, hãy “sống những ngày này với nhận thức rằng Chúa Kitô vẫn đang bị đóng đinh ngày hôm nay, rằng Chúa Kitô vẫn đang chịu khổ ngày hôm nay nơi những người vô tội, đặc biệt là những người đang chịu đựng bạo lực, hận thù và chiến tranh.”
“Hãy cầu nguyện cho họ, cho các nạn nhân của chiến tranh, hãy cầu nguyện để có một nền hòa bình mới, được đổi mới, có thể mang lại sự sống mới cho tất cả mọi người,” ĐGH kêu gọi.
"Ngài bày tỏ hy vọng về một lệnh ngừng bắn trong dịp Phục Sinh: “Tôi được thông báo rằng Tổng thống Trump gần đây đã tuyên bố ông muốn chấm dứt cuộc chiến. Hy vọng ông đang tìm kiếm một ‘lối thoát’ (off-ramp). Hy vọng ông đang tìm cách giảm mức độ bạo lực, giảm ném bom, điều này sẽ góp phần quan trọng vào việc loại bỏ hận thù đang được tạo ra và ngày càng gia tăng liên tục ở Trung Đông và các nơi khác.”
Đức Giáo hoàng kêu gọi tất cả các lãnh đạo thế giới: “Hãy trở lại bàn đàm phán, trở lại đối thoại. Hãy tìm kiếm các giải pháp cho những vấn đề, hãy tìm cách giảm lượng bạo lực mà chúng ta đang thúc đẩy, để hòa bình, đặc biệt vào dịp Phục Sinh, có thể ngự trị trong lòng chúng ta.” (Hết trích).
Những đoạn chính được trích trên đây cũng là thông điệp cốt lõi của bài giảng, ĐGH có đề cập trực tiếp đến ông Trump, nhưng với hy vọng ông "tìm cách giảm mức độ bạo lực", bài viết không thao túng trí óc độc giả với các từ ngữ mạnh bạo, giật gân... vốn trái ngược với thông điệp tìm kiếm, mưu cầu hoà bình.
Vì thế, những chuyên gia lâu năm 'viết và lách', họ có nhiều thủ đoạn để thao túng nhận thức người khác, họ có thể không trích dẫn sai, nhưng họ biết cách và rất dễ dàng uốn lượn câu chữ hòng đạt được kế sách của họ.
Joshua McElwee và vợ y đều thuộc đám 'liberal' hạng nặng, từng bị những tờ báo Công giáo phê phán, phân tích và vạch trần âm mưu của y. Tôi sẽ đăng một trong bài đó trong status kế tiếp, tránh status này quá dài.
*Ảnh: Hai hình này tôi lấy từ Facebook và X của Joshua McElwee, y đưa lên làm avatar như chứng tỏ y có mối quan hệ sâu sắc với ĐGH Francis.
*Thêm: Câu 'When you stretch out your hands, I will hide my eyes from you; even though you make many prayers, I will not listen; your hands are full of blood."
'Khi các ngươi giang tay cầu nguyện, Ta sẽ che mắt không nhìn các ngươi; dù các ngươi có cầu nguyện nhiều lời đến đâu, Ta cũng sẽ không lắng nghe; bởi đôi tay các ngươi đã nhuốm đầy máu.'
Câu này là lời ĐGH Leo trích dẫn trực tiếp từ sách Isaiah trong Cựu Ước (Isaiah 1:15)
FB Uyen Vu
"Du lịch sinh con"
Năm 2009, Obama đã ban hành một số biện pháp cho phép công dân Trung Quốc tham gia vào hoạt động "du lịch sinh con" và qua đó trở thành công dân Hoa Kỳ.
Du khách đã được phép nhập cảnh miễn thị thực với thời hạn lưu trú lên tới 45 ngày nhằm thúc đẩy ngành du lịch tại Quần đảo North Mariana.
Chương trình này đã khiến số ca sinh nở của các bà mẹ người Trung Quốc tăng vọt, từ chỉ 8 case vào năm 2009 lên tới hàng trăm case mỗi năm vào cuối thập niên 2010.
Tính đến năm 2025, tổng số lượng khách du lịch sinh con chỉ riêng tại Quần đảo North Mariana đã vượt quá con số 1 triệu. Còn tính toàn quốc thì con số người Trung Quốc sinh con tại Mỹ đã hơn 1.5 triệu. Dĩ nhiên, sau khi các công dân Mỹ sơ sinh ấy sẽ theo mẹ về Tàu.
Chỉ vài năm nữa những 'công dân Mỹ' đầu tiên ấy (từ 2009) sẽ từ Tàu qua đây và hoàn toàn có thể bầu cử.
FB Uyen Vu
Subscribe to:
Comments (Atom)
Blog Archive
-
▼
2026
(551)
-
▼
April
(6)
- TT TRUMP MỞ LẠI QUỐC TỊCH THEO NƠI SINH | TỐI CAO ...
- Con gái của Fidel Castro nói rằng việc thay đổi ch...
- Âm Nhạc Miền Nam và Những Ngày Xưa Thân Ái Nếu ai ...
- HÀNG TRĂM ĐẶC VỤ IRAN ẨN NÁU TẠI CANADA, QUỐC HỘI ...
- Joshua McElwee và truyền thông cánh tả đã bóp méo ...
- "Du lịch sinh con"Năm 2009, Obama đã ban hành một ...
-
▼
April
(6)


