Showing posts with label Kim Chi. Show all posts
Showing posts with label Kim Chi. Show all posts

Friday, January 20, 2023

Dẫn Ngoại đi sắm Tết

Chàng tên Jerry, nhưng ngoại nàng kêu chàng là thằng Rỳ. Chàng cao lêu nghêu, da trắng tóc vàng mắt xanh. Chàng hay kể với nhà nàng về bà ngoại quá cố của chàng, cũng là người Việt Nam. Qua lời kể của Jerry, ai cũng cảm nhận được lòng yêu thương đằm thắm của chàng dành cho ngoại chàng.

Nàng tên Julie, nhưng ngoại nàng kêu nàng là con Lì. Nàng đứng vừa tới ngực chàng, da vàng tóc đen mắt nâu. Julie là cục cưng của ngoại nàng. Suốt thời thơ ấu cho đến bây giờ, ngoại luôn là người hùng và luôn là vùng vịnh bình yên của nàng trong những cơn sóng gió. Đời Julie nhiều sóng gió lắm, kể miết không hết. Sóng gió đầu tiên là việc lên năm tuổi nàng vẫn còn mặc tã. Chính ngoại là người kiên nhẫn giúp nàng vượt qua nỗi sợ hãi để vào restroom mà pee pee, poo poo. Việc ngoại cứu nguy mỗi lần nàng bị ba má phạt đứng im ở góc tường. Việc nàng bị mấy đứa trong lớp ăn hiếp, ngoại đã dắt nàng tới trường “mắng vốn”. Việc ngoại giúp Julie và Vivian làm hòa nhau.

Rồi sau đó là chuyện nước mắm và Jerry. Lần đầu tiên Jerry bước vào nhà nàng, gặp mọi người đang ăn hủ tiếu giò heo. Chàng được mời ngồi vào bàn. Nhưng chàng cứ ngần ngừ rồi lấy điện thoại ra. Và bỗng dưng chàng chỉ chén nước mắm:

– Cái nầy thúi.

Ba há to miệng, mắt trợn ngược, mặt xanh lè, tưởng bị mắc cổ vì cục giò heo. Jerry xém bấm 911. Má ho đúng chín cái, trề môi dài gần chín inches. Julie khóc hu hu chạy lòng vòng quanh bàn ăn. Ngoại cười ha ha, thong thả chấm cục giò vô chén nước mắm, thong thả thưởng thức:

– Nó đâu rành tiếng Việt, cũng như tao đâu rành tiếng Mỹ. Rỳ nè, mai mốt con sẽ thấy nước mắm có mùi thơm. Mèn ơi, ngon quá chừng ngon Rỳ ơi! Bữa ăn không có nước mắm coi như mất ngon đó con. Ngoại dặn nè, lần sau đừng te rẹt biểu ông Gồ dịch nghe con.

Còn chuyện tiếng Việt của Jerry. Sau lễ đính hôn, ba hỏi Julie:
– Cái “dzụ” tiếng Việt của Jerry tới đâu rồi con? Ba muốn rể của ba phải nói được tiếng Việt rành rọt.

– Dạ khá lắm ba.

– À, tuyệt đối không được kêu ba là you nghe chưa!

– Dạ.

Má:
– Ha ha... Cô Tám mới kể với má, cô tới gặp nó về bệnh mất ngủ. Nó hỏi cô: “Cô… cô... có thích đi chụp… chụp cái... cái đầu óc không? Cô có... có thích đi gặp cái... cái ông... ông bác sĩ buồn... buồn ngủ không?” Nó lắp bắp lâu lắm mới được chừng đó. Cô Tám thấy tội nghiệp quá, bác sĩ cứ nói tiếng Mỹ đi, tui hiểu mà. Nó trả lời: “Dạ... dạ... cô làm... làm ơn kiên nhẫn với... cháu. Cháu muốn... muốn tập nói tiếng Việt để được mau cưới con Julie.”

Nàng:
– Má ơi! Jerry nói được vậy là giỏi rồi!

Má nghiêm giọng:
– Nhưng má muốn nó giỏi hơn để xứng đáng đã từng là học trò của má.

Ngoại nãy giờ ngồi im quan sát tình thế, bỗng đằng hắng rồi chậm rãi:
– Bây được voi đòi tiên. Tao thấy con Lì mà lấy được thằng Rỳ là có phước lắm đó.

Nàng chạy tới ngồi trong lòng ngoại, hun ngoại cái chụt:
– Hoan hô ngoại. Ngoại là số một! Ngoại nè, Rỳ kêu: “Nhoại nhoại” nghe thiệt dễ thương ngoại hén.

Ngoại tiếp, vẫn chậm rãi và thêm phần nhấn mạnh từng tiếng nghe rất oai:
– Tao thấy trong mấy đứa theo con Lì, thằng Rỳ số một, không phải vì nó là bác sĩ mà tao khen. Rỳ hiền lành, lễ phép, biết điều ăn ở. Sở dĩ trước đây tao làm thinh vì không muốn ý kiến của tao ảnh hưởng tới quyết định của con Lì. Bây hiểu chứ? Bây không thấy từ hồi đeo con Lì, tết năm nào thằng Rỳ cũng đem về nhà nầy những cành mai rất đẹp đó sao? Nhà nó tận LA, lái xe cả tiếng đồng hồ xuống đây. Chỉ có sức mạnh của tình yêu thằng Rỳ mới chịu khó như vậy. Với lại, tại sao giữa biển người mênh mông trên xứ Mỹ nầy tụi nó bỗng gặp lại nhau rồi lại thương nhau? Duyên tiền định đó nghe bây.

*
Hồi lâu rồi, một người quen giới thiệu má Julie dạy tiếng Việt online qua Skype cho Jerry. Mỗi tuần hai buổi, mỗi buổi hai tiếng. Trước màn hình, bên nầy, má nàng ở Orange County; bên kia, Jerry, trên Los Angeles. Mỗi lần má dạy, nàng hay núp sau lưng má coi Jerry học. Jerry bấy giờ chừng chín mười tuổi, (cũng cỡ tuổi nàng), nghịch kinh khủng, lười học kinh khủng. Cứ chừng mươi phút, Jerry xin đi restroom, lâu thiệt lâu nó mới quay lại học. Có bữa nó than mỏi mắt, kéo cái áo lên trùm kín đầu. Có bữa webcam bỗng ngưng hoạt động, nó biến mất tiêu. Có bữa nó đánh máy trên ô “chat” rằng nó không nghe được gì hết. Má nàng biết tỏng tòng tong trò nghịch phá của thằng nhỏ nhưng rất kiên nhẫn, vẫn tiếp tục dạy cho nó. Ừm, mà cũng tại mẹ Jerry (cha Mỹ, mẹ Việt) trả lương má khá hậu hĩnh.

Thời gian đầu chưa quen, Julie thỉnh thoảng phải bò ra ngoài để cười cho đã vì Jerry đọc tiếng Việt ngộ đời lắm. Giọng Jerry ngang phè phè. Dấu nặng đọc lơ lớ như không dấu. Còn dấu hỏi dấu ngã thì không biết phải tả ra sao. Má, miệng đọc, tay giơ lên giơ xuống, sang phải sang trái, kiểu như nhạc trưởng, để góp phần luyện dấu cho Jerry.

Lần nọ, Jerry bỗng phát hiện có đứa núp sau lưng cô giáo. Sau thoáng ngạc nhiên thú vị, thằng nhỏ méo miệng, lè lưỡi, trợn mắt chọc con nhỏ. Con nhỏ tức cái mình cũng lè lưỡi trợn mắt méo miệng chọc lại thằng nhỏ. Cô giáo đuổi con nhỏ ra ngoài cho thằng nhỏ học. Nhưng Jerry, một tràng tiếng Anh xen vài tiếng Việt, đại khái xin cô giáo cho con nhỏ ở lại, nó sẽ ngoan, sẽ chăm học.

Giữ đúng lời hứa, Jerry chịu khó học và làm bài tập ở nhà. Cô giáo ra luật: Hai đứa phải nói chuyện với nhau hoàn toàn bằng tiếng Việt, nếu không nói được thì làm điệu bộ. Nhờ có Julie, Jerry tiến bộ rất nhanh. Nhưng chỉ chừng được một năm, Jerry không học nữa.

Năm tháng trôi qua, chuyện thằng Jerry đã đi vào quên lãng. Đâu ngờ, Jerry và Julie gặp lại nhau trong thư viện của trường UCLA. Chàng và nàng mừng mừng tủi tủi, dắt tay nhau ra ghế đá sân trường để tha hồ nhắc lại chuyện xưa. Ngồi mỏi, hai đứa nằm dài trên cỏ, say sưa cười cười nói nói đến nỗi quên cả việc phải vào lớp học. Từ đó chàng lẽo đẽo đi bên cạnh nàng, sung sướng vì lắp bắp được chút đỉnh tiếng Việt. Có lần xe nàng bị hư, chàng mừng rỡ đưa nàng về nhà. Chàng được gặp cô giáo dạy tiếng Việt mà hồi xưa chàng chỉ thấy trên màn hình máy tính.

Đặc biệt chàng được gặp bà ngoại của nàng. Chàng kinh ngạc tự hỏi, sao bà ngoại nàng giống bà ngoại chàng kinh khủng! Họ là chị em ruột? Chàng bèn đem tấm hình ngoại chàng cho ngoại nàng coi nhưng ngoại nàng nói không hề biết người trong ảnh.

*
Bữa đám cưới, lúc ra mắt đàng gái, Jerry nói bằng tiếng Việt một mạch suôn sẻ chứ không lắp bắp như thường lệ:

– Dạ thưa nhoại, dạ thưa ba má. Con cám ơn nhoại và ba má cho con con Julie. Con rất cám ơn cám ơn.

Tối đó, trong tiệc cưới ở nhà hàng, chú rể Jerry bỗng nhờ người hầu bàn kiếm cho chàng chén nước mắm! Chú rể, mặt hếch lên ra điều tự hào ta đây sành ăn nước mắm: “Bữa ăn không có nước mắm coi như mất nhon!” Cô dâu Julie cười toe, mặt vênh lên ra điều ta đây giỏi dạy chồng.

Sau tuần trăng mật, vợ chồng Julie về thăm ba má và ngoại. Bước vào cửa, Julie khoe liền:

– Ngoại ơi! Ba má ơi! Tết nầy Jerry sẽ hát bài Ngày Tết Quê Em để giúp vui trong chương trình ca nhạc của hội chợ Tết.

Mọi người há hốc. Kinh ngạc.

Ngoại:

– Có phải bài Tết Tết Tết Tết đến rồi…?

Julie tủm tỉm:
– Dạ đúng rồi ngoại.

– Lại cái trò nghịch ngợm hả Lì?

– Ngoại ơi, Jerry hát hay thiệt mà. Ông xã ròm ơi, hát cho ngoại với ba má nghe đi.

Jerry hí hửng ra đứng giữa nhà biểu diễn: Tết Tết Tết Tết đến rồi… Mọi người nín cười, vỗ tay khen nức nở. Ngoại nhanh nhẹn rút một nhánh hoa trong bình đem tặng ca sĩ Rỳ. Jerry xúc động ôm hun ngoại rồi cúi gập người cám ơn khán giả. Julie tỉnh queo:

– Ai bị bồ đá nằm liệt giường mà nghe Jerry hát là đứng dậy ngay, đúng không ngoại?

Ngoại trợn mắt nhìn Julie:
– Cái con Lì nầy...

Jerry quay sang vợ, ngơ ngác hỏi:
– Cái con Lì nầy, bồ đá nghĩa là gì hả?

*
– Bọn con dẫn ngoại đi sắm tết nhen ngoại.

Má:
– Nghe có lý đó con. Ba má bận làm dưa món, kiệu chua... Còn chuẩn bị gói bánh tét nữa.

Cặp vợ chồng mới cưới đưa ngoại lên tận chợ hoa LA để ngoại lựa mai. Đó là một trong những chợ hoa lớn nhất nước Mỹ, nằm trên đường Wall, trong khu downtown LA. Ngoại luôn miệng hít hà:

– Mèn ơi! Chợ rộng quá chừng rộng. Bông nhiều quá chừng nhiều. Cám ơn các cháu của ngoại.

Rồi ngoại săm soi lựa bốn nhánh mai trĩu nụ. Hai đứa năn nỉ. Ngoại ơi, ngoại lấy thêm đào, cúc, và nhiều loại hoa khác đi ngoại. Chất đầy cả xe truck cũng được. Hoa ở đây rẻ lắm ngoại à. Chúng con tặng ngoại mà. Ngoại đừng từ chối. Ngoại ơi ngoại nhận cho chúng con vui. Thì coi như chúng con mừng tuổi ngoại. A, tiền già của ngoại hả? Thì để mừng tuổi cho bọn con. Vậy nha ngoại. Dạ, dạ lát nữa mình sẽ ghé Bolsa.

Sắp Tết. Khu Little Saigon tưng bừng nhộn nhịp. Đường sá chật kín xe và đầy người đi bộ. Chợ Tết ở Phước Lộc Thọ đông vui chưa từng thấy. Nắng xuân tỏa sáng khắp nơi. Tiếng Việt rôm rả khắp nơi. Nhạc xuân rộn ràng khắp nơi. Tiếng cười, tiếng nói... Các gian hàng rực rỡ sắc màu, tràn ngập các loại kẹo mứt, bánh chưng, bánh tét, trái cây...

Ngoại ghé ngay vào gian đầu tiên, chọn mua xấp phong bì đựng tiền mừng tuổi in chữ Việt “Chúc mừng năm mới”. Ba bà cháu hòa trong dòng người nô nức sắm Tết. Ba bà cháu đều mặc áo dài. Bà lụm cụm, chậm chạp giữa hai đứa, nhưng miệng luôn mỉm cười hạnh phúc. Julie trong chiếc áo dài màu hồng vừa vặn thân hình nhỏ nhắn. Còn Jerry lêu nghêu với chiếc áo dài màu xanh biển ngắn cũn chưa tới gối. Mỗi đứa dắt một tay bà, thỉnh thoảng hai đứa mỉm cười nhìn nhau đắm đuối. Thỉnh thoảng hai đứa nhắc nhau: “Cẩn thận kẻo ngoại bị lạc.”

– Trương thị Kim Chi

Thursday, October 13, 2016

Đứa Con Trong Tù



Trời hiu hiu lạnh. Cái lạnh của đất trời vào Thu thật êm dịu và dể thương. Nó khe khẻ vuốt ve, an ủi những cây trơ cành đang héo hắt thương nhớ lá xanh. Nó len lỏi vào những đám mây, dang rộng đôi cánh xám để chắn bớt cái nóng bức của mặt trời. Nó nhẹ nhàng ngồi xuống cạnh bờ hồ, hòa nhịp thở với rừng thông già nua, ngắm nhìn nhân gian đầy sắc thái...

Trong nhà, lò sưởi củi không còn cô đơn và lạnh lẽo nữa. Nó ngốn nghiến củi khô, ngùn ngục cháy vì bị bỏ đói khát cả năm...Tôi thêm vào lò sưởi những lá thông nâu vàng nhặt ở sau vườn, thêm ít vỏ cam đã phơi khô quắt quéo. Tiếng reo lách tách của củi cháy, mùi thơm của vỏ cam, của lá thông khô, lửa hồng từng ngọn bập bùng làm tôi rưng rưng nước mắt, bồi hồi nhớ lại những ngọn lửa thuở xa xưa...
*
Khi miền Nam VN rơi vào tay cộng sản năm 1975, tôi là một thiếu nữ tuổi tròn 16. Sau 30 thàng Tư 75 chỉ có vài ngày, ba tôi sai tôi ôm chồng báo Paris March của ba ra sau vườn đổ đống. Những báo này ba đã đặt mua hằng tháng từ Pháp. Có nhiều quyển trong đây đã đăng hình ba tôi, ít hình ba cùng bạn bè tốt nghiệp khóa học Quốc gia Hành chánh được chính quyền Pháp tổ chức. Cũng có ít hình ba tôi cầm cây súng săn, tươi cười đứng cạnh những con voi, con cọp đã bị gục ngã, chung quanh có vài người Pháp cũng vác súng như ba, dăm ba người miền Thượng du mặc quần đùi, ở trần trùng trục, đang reo hò vui vẻ. Ba tôi quý những quyển báo này lắm. Dọn nhà từ Sài Gòn ra Quảng Trị, vào lại trong Nam, đi đến miền Tây, ngược về miền Đông... nó đều được đóng thùng cẩn thận, na theo gót giày của ba. Ấy thế mà hôm ấy, ông quyết định thiêu hủy chúng cả!

Đã hết đâu, ông còn vào hầm sách của gia đình, đem ra những tờ "nhạc vàng" chất cao nghệu, ngang ngửa với đống magazines. Trong đó, có một quyển nhạc đóng bìa dày mà má tôi cũng như tôi rất quý, bên trong có hằng trăm bài nhạc xưa thật là xưa... Má tôi thỉnh thoảng trémolo cây đàn bandjo dòn tan rồi ngân nga hát những bài hát trong ấy thật say sưa, thánh thót...

Ba tôi bật diêm quẹt, lẳng lặng châm lửa. Lần đầu tiên trong đời, tôi được mồi lửa bằng cả trăm... sách báo quý! Quay qua liếc nhìn ba tôi thật giận dỗi, tôi chợt nhận ra nét mặt của người cha quen ăn to nói lớn kia đang đăm đăm ngắm ngọn lửa phừng lên với nổi u uẩn mà tôi hầu như chưa bao giờ thấy... Ngọn lửa càng cao, lòng tôi càng chùng xuống.

Người đàn ông bại trận và đứa con gái chớm lớn cùng khơi ngọn lửa hồng, trầm ngâm nhìn khói tro như cái tương lai mờ mịt đang bay lất phất theo gió, cùng lặng lẽ ôm nỗi thống khổ của riêng mình...
*
Sau khi ba đã đi cải tạo, các chị lớn của tôi từng người đều từ từ đi vượt biên. Tôi bị kẹt lại ở Saigon, "gồng mình" mà nghe theo lời... Đảng "dạy", cố "đạt thành tích" để ba mình được sớm về nhà! Mà, dù các thành tích của tôi có nở trăm hoa đi chăng nữa, ba tôi vẫn cứ học mãi, học hoài, học miệt mài trong cái nhà trường đầy rào kẽm gai quấn xung quanh.

Cuối cùng, năm 1981, tôi nối bước các chị tôi, các bà con dòng họ, các đồng bào miền Nam VN của tôi để trở thành một người vong quốc... Tôi tìm được một người chủ tàu với nhiều kinh nghiệm đi biển và lương thực đầy đủ cho khoảng một trăm thuyền nhân có thể sống trên biển một tháng. Gần đến ngày đi, Khải, người bạn thân, người đã giới thiệu ông chủ tàu cho tôi, đã cùng mẹ của anh cầu xin tôi một chuyện: họ khẩn khoản xin tôi dẫn đứa cháu trai của họ đi theo tôi và nuôi nấng nó sau này.
*
Thằng bé lúc ấy đã lên 9 tuổi. Tên cháu là Chương. Da cháu rất trắng, mà là một màu trắng xanh xao. Cháu hơi nhỏ con so với những trẻ em trạc tuổi của cháu. Cặp mắt một mí y hệt trẻ con Nhật Bản, lúc nào cũng dán chặt vào tôi, chờ đợi tôi nhìn lại. Khi tôi quay qua nhìn Chương, cháu nhoẻn miệng cười ngay tức khắc, khuôn mặt thật rạng rỡ. Con mắt nhỏ xíu đen nhánh long lanh, cái má lún sâu hai đồng tiền thật dể thương.

Lần đầu tiên khi gặp cháu Chương, tôi không bao giờ quên được. Bà nội Chương bảo cháu vào trong mang trà ra mời tôi! Tôi đã có hơi ngạc nhiên rồi vì cháu là con trai, lại ốm yếu nhỏ bé, sao cháu biết pha trà và bưng trà nóng cho khách được? Độ chừng năm phút thôi, cháu bưng ra một mâm. Trên mâm đựng ba tách, ba đĩa. Cháu vừa đặt mâm tách đĩa xuống, tôi chợt nhìn thấy một vết thương trên cánh tay cháu. Vết thương không băng bó, để lộ thịt hay... mỡ... trắng hếu, máu đỏ khô đóng chung quanh.

Khi thấy vết thương của cháu, tôi thảng thốt kêu lên, xót xa hỏi thăm. Cháu bảo, cháu bị phỏng ở nhà bố và dì ghẻ của cháu. Vết phỏng rất sâu và to. Tôi không dám hỏi thêm nữa, khi nhìn thấy bà nội Chương sa sầm mặt xuống. Sau đó, cháu lại bưng ra một mâm khác, trên có đặt cái ấm trà rất nóng. Tôi đã liên tưởng ngay tức khắc, chắc vì cháu nấu nước trà như hôm nay, chắc cháu phải nhóm lửa, chắc cháu đã lỡ đổ nước sôi lên cánh tay nên bị phỏng đến thế... Tôi nâng tách trà lên uống mà quặn thắt cả lòng. Chương mới chín tuổi đầu mà đã giỏi hơn tôi, một thiếu nữ hai mươi hai tuổi!

Má tôi nhất định không cho tôi cũng như các chị em gái chúng tôi lo bếp núc nấu ăn vì sợ chúng tôi bị phỏng như em trai út của tôi. Trọng, em trai của tôi, bị phỏng alcohol trên má, vai và cánh tay rất nặng, nằm bệnh viện cả ba tháng trời. Sau khi bình phục, vết phỏng đã để lại những sẹo lồi. Ba má tôi phải cho em đi... bác sĩ thẩm mỹ người Phi Luật Tân nhiều lần, mặt của em mới trở lại 95% nguyên thủy! Tội nghiệp má tôi, như gia đình người khác, có bốn cô con gái lớn thế này, chắc chỉ ngồi không mà chờ cơm ăn thôi. Ngược lại, chị vú và má tôi phải nấu cho các "quý nương" ăn. Tôi thỉnh thoảng chỉ phụ nấu... cơm trắng! Và, tôi nấu bằng... nồi cơm điện National của Nhật!

Sau 1975, gia đình tôi không còn chị vú trong nhà nữa, cũng không nấu ăn bằng bếp gas được nữa. Giống nhiều gia đình khác, má tôi bày thêm một bếp than, củi, và một bếp dầu hôi. Lúc ấy, cúp điện, cúp nước liên miên. Chúng tôi bắt đầu nấu cơm bằng dầu hôi thường xuyên hơn nồi cơm điện National. Còn bếp than củi thì sau khi má tôi nhóm lửa lên, tôi thỉnh thoảng chỉ châm thêm củi than vào mà thôi, chứ tôi không biết nhóm lửa! (Mà má tôi cũng không muốn tôi làm việc này...)

Sau hôm ấy, tôi cố gặng hỏi Khải về hoàn cảnh Chương, tại sao lại muốn tôi dẫn cháu đi theo? Tại sao cháu bị phỏng đến như thế... 
*
... Chương là con của anh Luyến, người anh Cả trong nhà. Anh Luyến học rất giỏi, đậu Tú Tài với hạng tối ưu, được học bổng nhiều nước, mà gia đình quá thương con nên không cho đi du học, sợ không ai lo lắng bên ngoại quốc!

Anh Luyến chẳng những học giỏi, mà anh còn đẹp trai, lại con nhà giàu. Anh đi học đại học bằng xe hơi, đi dạy piano tư gia cũng bằng xe hơi, rất hào hoa phong nhã. Nhưng thật trớ trêu, anh không thương yêu ca´c cô bạn học xinh đẹp trong đại học đang vây quanh anh. Mà anh cũng không để ý chi đến các cô học trò piano nhỏ bé, yêu kiều mà anh gặp hằng tuần. Anh lại đi yêu một người đàn bà đang có... chồng con, lớn hơn anh khoảng... mười lăm tuổi!

Bà Sang lúc ấy trên dưới bốn mươi tuổi. Bà đẹp rực rỡ như tài tử điện ảnh! Chồng của bà là người Pháp, chủ của một con tàu lớn, chuyên chở hàng hoá từ Việt Nam qua Pháp và ngược lại. Tuy bà rất đẹp, rất giàu có, nhưng cả nhà không thể nào chấp nhận mối tình này. Thế là anh và bà Sang phải lén lút gặp nhau. Ông Tây kia thường phải theo tàu về Pháp. Mỗi chuyến đi của ông ta kéo dài hai, ba tháng. Những lúc ông Tây về Pháp, anh Luyến hầu như không về nhà. Anh đi thâu đêm, suốt sáng, mặc gia đình cản ngăn, khuyên lơn, la rầy, mắng nhiếc...

Anh đến ở với bà Sang chớ không đâu xa lạ. Gia đình của anh bèn nghĩ ra cách để anh Luyến phải xa bà Sang này: Cưới vợ cho anh! Mẹ của anh bèn nhờ một bà mai tìm giùm một cô gái nào mà phải có đủ bốn cái nết công, dung, ngôn, hạnh... để giới thiệu cho anh Luyến. Hay thật! Bà mai đã tìm được một cô gái trẻ đẹp, con nhà gia giáo, làm bánh trái, bếp núc, may vá thêu thùa rất khéo. Gương mặt chị lại rất xinh xắn.

Chị Vân đẹp như những cô gái Nhật trên lịch... Mắt một mí, cằm nhọn, mũi cao thanh gọn, trông chị Vân rất mặn mà xinh đẹp. Cả nhà thật vui và yêu quý chị ngay tức khắc. Anh Luyến cũng chẳng thấy chống đối gì cho lắm, nên cả nhà càng mừng hơn, hy vọng anh Luyến sẽ rời bỏ bà Sang.

Thế là mẹ của cháu Chương được gia đình trầu cau rước về. Anh Luyến chỉ phản đối lấy lệ, gia đình rất ngạc nhiên. Đâu biết anh chỉ làm cho ba mẹ anh vui lúc đó thôi. Anh không muốn cãi nhau với cả gia đình. Anh... bận rộn lắm, mà anh cũng đâu đoái hoài gì đến người vợ xấu số này. Vậy chống lại gia đình làm gì?

Ở trong nhà chỉ một thời gian ngắn thôi, chị Vân đã lấy lòng hết tất cả mọi người trong nhà. Chị dậy từ hừng đông để pha trà cho cha mẹ chồng. Xong, chị giặt đồ cho cả nhà, rồi phơi phóng. Rồi chị đi mua đồ ăn sáng cho tất cả mọi người trong nhà. Nhà đông người, mà chị lo cho mọi người trước khi đi học, đi làm, ăn uống đàng hoàng no nê, mỗi người một món khác nhau, rồi mới đi chợ. Những món ăn chị nấu, chị đã học thật bài bản, rất công phu và ngon miệng. Chị đầu tắt mặt tối. Đến khuya, chị lại ngồi may, vá, mạng quần áo cho cả nhà. Anh Luyến đi chơi chưa về, chị ngồi chờ để mở cửa cho anh. Chị đã thường xuyên ngủ gục trên cái ghế sofa gần cửa cả đêm... Không thể tìm đâu ra một người dâu nào hơn chị được.

Đâu có ai ngờ, sau ngày cưới chị, anh Luyến không hề... gần chị! Anh vẫn đi ra ngoài với bà Sang, mà còn đi luôn đến hai, ba ngày là chuyện thường. Chỉ khi nào ông chồng Tây của bà Sang theo tàu trở về lại Sài Gòn thì anh Luyến mới ít vắng nhà hơn. Khi nào anh ở nhà, anh Luyến thường say sưa, mắng chửi chị Vân thậm tệ mà chị chỉ biết khóc thôi! Dù cả nhà cản ngăn, khuyên lơn anh Luyến, anh vẫn không thay đổi!

Vài tháng sau ngày cưới, chị Vân có thai! Không biết hư thực ra sao, anh Luyến nổi giận lôi đình lên! Anh cứ nhất định anh... chưa hề gần chị! Anh bắt chị uống... nước mắm sống, uống thuốc Bắc để lấy cái thai ra! Cái thai vẫn... lì lợm, càng ngày càng lớn hơn như nước mắt đầy uất ức của chị Vân càng ngày càng đổ nhiều hơn. Có lần, anh bỗng dưng đạp chị Vân té lăn lông lốc xuống thang lầu khi thai đã 6, 7 tháng. Vậy mà cháu Chương mạng lớn, cháu không hề bị gì cả. Chị Vân hốc hác, xanh xao bao nhiêu thì anh Luyến lại phong độ, đẹp trai, lich lãm bấy nhiệu... Lúc ấy anh đã lấy bằng Kỹ Sư, nhưng anh không đi làm ở đâu cả! Anh đâu cần làm việc, vì bà Sang cho anh rất nhiều tiền! Bà Sang còn mua tặng cho từng người trong nhà những nhẫn hột xoàn, lớn nhỏ đủ kiểu, nên không ai dám... nói nặng gì bà!

Cái thai trong bụng chị Vân cũng lớn dần theo những nỗi uất hận, tủi nhục, đớn đau của chị. Và các món quà của bà Sang cũng càng ngày... càng nhiều hơn, to hơn... như tranh đua với cái bào thai...

Chị sanh cháu trong nhà thương một mình. Tự chị thui-thủi đi xích lô vào nhà thương, tự chị bế cháu về nhà lầm lũi...

Mẹ ruột của chị Vân có đến thăm con và cháu ngoại! Bà nhìn đứa con gái xinh đẹp, ngoan hiền của mình ngày nào, giờ đây xanh xao, vàng vọt, hốc hác, bà đau khổ vô cùng.

Khi Chương được hai tháng tuổi, bà ngoại của Chương cho người sang bên nội nhắn và xin rước chị Vân về nhà làm giỗ lớn. Bà không quên dặn chị Vân để cháu lại cho bà nội trông giùm một hai ngày thôi.

Chị Vân gửi Chương lại cho bà nội để về nhà mình phụ giúp việc giỗ quảy. Chị xin phép được đi hai ngày.

Không có ai ngờ, mẹ của chị Vân sau khi thăm con mình về, nhìn con gái mình đau khổ và xanh xao, bà đã lên một kế hoa?ch rất lớn.

Chị Vân vừa về tới nhà, bà dẫn chị vào một phòng ngủ có nhà tắm và cầu tiêu. Rồi, bà... khoá trái cửa lại. Bà nhốt chị Vân trong ấy như nhốt tù, mỗi ngày cơm nước, không cho chị ra ngoài.

Bà nội Chương chờ hoài không thấy chị Vân về, bèn sang hỏi thăm để rước chị. Bà đã năn nỉ hết sức mà mẹ ruột của chị Vân vẫn lạnh như tiền, vẫn nhất quyết muốn giữ chị Vân lại. Bà yêu cầu từ đấy về sau không ai được đến nhà bà nữa. Bà không muốn có sự liên hệ nào nữa hết. Ngay cả Chương, thằng cháu ngoại máu mủ ruột thịt của bà. Bà nói, bà xem như anh Luyến đã... đạp chết nó lâu rồi!

Chị Vân hận chồng chỉ một. Mẹ của chị Vân hận anh Luyến và bên sui gia đến mười..

Sau khi bị nhốt, chị Vân khóc lóc thảm thiết xin được ra vì nhớ con. Chị đòi tự tử nên mẹ của chị doạ bà sẽ tự tử chết theo nếu chị có việc gì. Nhưng trước khi bà chết, bà sẽ cho người sang bên sui gia... phóng hoả cả nhà, nên chị lại thôi! Chị biết mẹ của chị là người dám nói dám làm.

Nhốt chị khoảng một tháng, mẹ chị Vân mua vé máy bay bắt chị đi Montreal ở với một người dì... Sau đó nữa thì không ai có thêm tin tức vì hai bên gia đình không còn liên lạc với nhau nữa.

Thế là Chương lớn lên không có mẹ, cũng không có họ ngoại. Cháu sống với bố, mà bố cũng không thương yêu cháu. Anh la mắng cháu thường xuyên, xem cháu như một cái gai.

Đến tháng 10/ 1977, bà Sang cùng ông chồng Tây và mấy đứa con phải rời Việt Nam vĩnh viễn. Anh Luyến rất đau khổ. Sau vài năm, anh Luyến cũng nguôi ngoai. Anh cưới vợ khác, dọn về Thủ Đức ở. Và Chương lại có thêm hai em. Chương giỏi việc nhà từ đó! Chương biết ẵm em, cho em bú, tắm em từ lu´c 6, 7 tuổi. Và sau đó, Chương cũng biết nhóm củi nấu cơm, giặt đồ, lau dọn nhà cửa rất thành thạo để giu´p mẹ kế...
*
Sau khi nghe Khang kể chuyện của gia đình, tôi bàng hoàng cả người. Tôi thương thằng bé mắt một mí quá. Nó thật cô đơn và bất hạnh có khác chi trẻ em mồ côi?

Bữa cơm gia đình sau đó, tôi vui vẻ trả lời đồng ý sẽ dẫn cháu Chương theo tôi chuyến vượt biển sắp xuất phát vài tuần sau đó.

Khi nhận lời mang Chương đi vượt biển, tôi chỉ hơi ngần ngại, không biết ý kiến của bố mẹ cháu thế nào. Bà nội Chương bảo, Bố Chương rất vui nếu Chương sống ở ngoại quốc với tôi, được gia đình chị em tôi săn sóc và dạy dỗ. Còn mẹ của Chương, không ai có tin tức của bà cả! Chương hầu như chưa bao giờ thấy mặt của mẹ mình...

Những ngày sắp “ra khơi”, cháu Chương được bà nội đón về nhà chơi thường xuyên. Tôi cũng đến nhà Khải thường hơn để nghe ngóng tin tức của chuyến đi, và cũng để thăm nó. Nó ngoan lắm, gọi tôi là cô. Tay chân của nó lu´c nào cũng đầy vết trầy, phỏng, xước sẹo. Mỗi lần gặp nó là thêm một cái thẹo phỏng mới, hay tay chân bị chảy máu, trầy, xước, đứt...

Tôi thường rửa vết thương cho nó, rồi băng lại sạch sẽ. Ngược lại, nó là người chỉ cho tôi cách nhóm lửa bằng củi chẻ nhỏ! Nó chẻ củi rất thành thạo. Nhìn nó phùng mang phùng má thổi cho có lửa lên, nhìn nó nấu một nồi cơm cả chục miệng ăn, tay chân mặt mày dính đầy lọ nghẹ, rồi khệ nệ nhắc nồi cơm xuống bếp, lăng xăng xới cơm cho từng người trong nhà ăn mà rớt nước mắt...

Anh Luyến đưa cháu Chương đến ở với tôi trước ngày đi xuống Cần Thơ. Anh cám ơn tôi rối rít, rồi cũng dặn dò cháu phải nghe lời tôi sau này, rồi cũng rơm-rớm nước mắt ra về.

Chương rất vui, nói chuyện huyên thuyên, giúp tôi rất nhiều trên đường xuống Cần Thơ. Đến nhà người quen của chủ tàu chỉ định, tôi bắt nó ăn cơm thật no. Xong, mặc chồng hai bộ đồ vào nhau, rồi đi ngủ sớm vì ghe nhỏ sẽ đón chúng tôi lu´c ba giờ sáng. Nó ngoan quá sức ngoan, không hề làm một việc gì trái ý tôi cả.

Tôi không ngủ được suốt đêm vì nhà lạ, vì lo lắng. Tôi mặc hai bộ đồ chồng lên nhau như Chương. Kinh nghiệm cho tôi thấy, càng không vướng bận tay càng dễ... chạy. Tôi xách một giỏ đệm bằng lát, đựng thêm ít quần áo và vật dụng cá nhân cho tôi với Chương. Thuốc men tôi đem theo hơi nhiều, thuốc trụ sinh, thuốc giảm đau, thuốc bổ... Trên chiếc ghe nhỏ ngoài tôi và Chương ra, còn có chị Hoa, chị họ của Khải. Chị bế đứa con ba tháng tuổi. Có một chị bạn của chị Hoa, chị Tâm, cũng dẫn theo thằng con trai sáu tuổi. Ngoài ra còn có vài người đàn ông con trai, nhìn là biết dân Sài gòn rồi! Ai ai cũng lo lắng, sợ sệt, không ai nói với nhau lấy một câu. Chương cũng thế. Nó ngồi im lặng nhìn mọi người. Nó biết rõ là đi vượt biển. Tôi không giấu nó.

Ghe chèo một đoạn lâu, ra tới sông lớn mới chạy bằng máy. Tiếng xình xịch trong đêm khuya sao lớn quá. Tôi ngồi mà nóng như hơ, linh tính tôi cho thấy có chuyện không lành sắp xảy ra.

Trời gần sáng. Tôi đoán lúc ấy gần 5 giờ. Con sông mở rộng ra hơn nhiều. Người chủ ghe nói rằng sắp tới tàu lớn rồi. Tôi cố mở to mắt ra quan sát hai bên bờ sông và nghe ngóng. Tim tôi càng lúc càng đập nhanh hơn...

Bỗng dưng, tôi nghe nhiều tiếng súng nổ chát chúa sát bên tai tôi, rất lớn. Rồi tiếng công an la hét um sùm bắt chúng tôi cặp thuyền vô bờ.

Lòng tôi tan nát, tim tôi nhói đau thật là đau... Phản xạ đầu tiên, tôi nhìn quanh xem tôi có thể nào nhảy... xuống sông không! Tôi biết bơi chút ít. Biết thả ngửa. Biết lặn. Chiếc ghe đang ở một cua quẹo của con sông lớn. Tôi nghĩ tôi có thể nhẹ nhàng leo ra khỏi ghe, bám và nấp theo mạn chiếc ghe cho đến khi gần đến bờ thì tôi sẽ lặn sâu xuống và trốn trong các bụi cây xung quanh, trước cái cua quẹo đấy. Tuy tôi chưa bơi sông hồ bao giờ cả, nhưng không biết tại sao mà tôi biến thành một người gan dạ như thế! Tôi chợt nhìn lại Chương, nó đang mở to đôi mắt vì sợ hãi, nhìn chị Hoa và chị Tâm luống cuống vất thuốc men xuống sông, rồi quay qua buồn bã nhìn tôi chờ xem tôi sẽ làm gì...

Tôi đâu thể bỏ Chương lại được. Tôi đã hứa với bà nội của Khang rồi. Ngay cả không vì lời hứa ấy, tôi cũng đâu thể bỏ một thằng bé quá dễ thương và tội nghiệp này lại cho đám hùm dữ kia được. Nó đã quá khổ rồi. Thà chúng tôi ở tù chung với nhau...

Tôi chợt nghĩ ra ngay một chuyện. Tôi phải khai thế nào với CA đây? Muốn Chương cùng chung trại tù với tôi thì nó phải ghép vào chung một hồ sơ.

Tôi nhìn Chương, và bảo cháu:

- Bắt đầu từ bây giờ, con đừng kêu cô là cô nữa nhé... Mà con sẽ gọi cô là Mẹ. Mẹ con tên... Diệu. Bố con tên... Hai, Trần thị Diệu và Nguyễn văn Hai. Con nhớ chưa?

- Dạ...Mẹ..e..! Dạ con nhớ!..Dạ Mẹ.ẹ..! Mẹ tên là Diệu, bố tên Hai... ạ!..

Tôi dạy tiếp:

- Con...7 tuổi, chứ không phải 9 tuổi nhá. Tên con vẫn là Chương, Nguyễn văn Chương nghe chưa! Con học lớp hai trường tiểu học Châu Thành nghe chưa...

- Dạ mẹ.. ẹ! Con 7 tuổi thôi! Dạ mẹ...! Con học lớp Hai thôi! Dạ mẹ...

- Nhà con ở Thủ Đức, mẹ bán.. chè, bố là thợ sửa xe gắn máy nghe con!

- Dạ! Con nghe, me..ẹ...! Mẹ bán chè, còn bố là thợ sửa xe... Dạ mẹ..ẹ..!

- Nếu cán bộ còn hỏi gì nữa thì nói "dạ con không biết". Con nhớ chưa?

- Dạ con nhớ! Dạ mẹ..ẹ...!

Vừa dạy đến đó là ghe cũng vừa tấp vào bờ sông. Mấy tên công an cầm súng đứng vòng quanh những người bị bắt đang ngồi chồm hổm ở giữa. Họ đi trên những chiếc ghe nhỏ khác (mà thời ấy người ta gọi là "taxi"). Tất cả đàn ông, đàn bà và con nít độ năm, sáu chục người. Người nào cũng có một "hoá trang" giống nhau: quần áo cũ kỹ, nón lá rách nát, nhưng nhìn mặt mày thật là.. trắng trẻo, sáng sủa. Ai ai cũng có chung một nét mặt lo âu, sợ hãi, tuyệt vọng... Chúng tôi hỏi nhỏ nhau xem có ai biết chuyện gì đã xảy ra không? Tôi thấy ông chủ tàu cũng bị bắt ngồi cách tôi khoảng hai chục người. Vì không được phép di chuyển. Nên tôi đành lắng nghe những người ngồi gần nói chuyện nho nhỏ, bàn tán với nhau.

Chúng tôi bị bắt vì chính cháu của ông chủ tàu tố cáo ông tổ chức. Người cháu ác nhân này thù ông đã không cho anh ta đi nên mới tố cáo..

Tôi bâng quơ vừa cho Chương... thực tập, vừa dạy Chương:

- Chương, con có mệt không? Con có nhớ bố không? Bố giờ này chắc chuẩn bị sửa xe cho người ta rồi. Các ông cán bộ đây không thích nói tầm bậy đâu nha con, cái gì mẹ dạy biết thì nói, cái gì mẹ chưa dạy con thì con phải nói "Dạ con không biết" là cán bộ... thương nghe chưa con? Giỏi nhé con...

Trong thời gian ngồi chờ hỏi cung, chỉ cần nửa giờ thôi, tôi đã tập Chương thật nhuần nhuyễn. Tôi giả bộ là cán bộ công an, hỏi Chương nhiều câu ngoại lệ. Nó trả lời liền tức khắc: "Dạ thưa cán bộ con không biết."

Sau vài giờ mỏi mệt ngồi ngoài nắng, tra hỏi sơ sài, họ mới chở chúng tôi đến nơi giam cầm thật sự. Té ra tôi đã quá cẩn thận thôi! Mấy tên CA này chỉ muốn lấy vàng, lấy tiền là chánh yếu, nên sau khi lục soát giỏ, soát người lấy sạch tiền, chúng nó chỉ ghi tên tuổi, địa chỉ qua loa thôi. Tôi khai tôi... 26 tuổi. Chương 7 tuổi, tức là tôi sanh nó khi tôi 19 tuổi. Rất hợp lý!

(Nếu tôi không khai gian thì tôi 22 tuổi, con tôi 9 tuổi. Vậy tôi sanh nó lúc tôi mới.. 13 tuổi thôi!)

Khi lên xe cam nhông, họ đã chia nam riêng, nữ riêng. Tôi nhìn thấy các cặp vợ chồng, hay cha con đi chung nhau, mắt đỏ hoe, vợ thút thít khóc... Khi phải tách riêng ra, họ cố gắng thầm thì, dặn dò những chuyện cần thiết. Có đứa trẻ phải đi theo mẹ, mà bố nó thì tách ra riêng, nó khóc thét lên, giãy giụa đành đạch, đòi theo bố nó. Tên cán bộ bước đến. Không cần mất thì giờ... Chát! Hắn giơ tay tát thẳng vào mặt đứa nhỏ! Thật là... hiệu quả! Mọi người xanh mặt, im phăng phắc, và đứa nhỏ... điếng người, lặng ngắt ngay tức khắc.

Xe đàn bà chúng tôi có hai chiếc cam nhông. Trên đường đi tôi im lặng quan sát, cố gắng ghi nhớ chung quanh. Khi đến nơi, tôi cũng ngắm nhìn thật kỹ địa thế! Ôi thôi! Thật buồn... Chung quanh nhà tù là những con kinh đào không sâu lắm, nhưng lại cắm toàn là chông gai nhọn hoắt, nhìn là rởn cả óc! Chưa hết, chó rất nhiều. Toàn là giống chó Đức to lớn. Chúng đón chào chúng tôi bằng một dàn hợp ca... Ấu Ấu, Gâu Gâu thật là náo nhiệt. Chúng lăng xăng khịt khịt cái mũi, rồi gầm gừ nhe răng nhọn hoắt, trắng hếu. Cái lười thè lè nhiễu nhão nước miếng, chúng gầm gừ đi qua đi lại... cho tôi thấy đây là loại chó hung ác chứ không như con chó Nhật Mino dễ thương ở nhà của tôi. Xa xa là các hàng rào cao, với bao nhiêu là lớp kẽm gai vòng quanh nhà tù... Tôi thót cả tim, thầm nhủ, thôi rồi cuộc đời của tôi, chắng biết sẽ ở đây bao lâu...

Chở chúng tôi vào trại tù, họ không quên chở cả những nồi cơm trắng thật to, các nồi thịt kho thơm ngon nâu vàng óng ánh mở trắng béo ngậy mà vợ của ông chủ tàu nấu suốt ngày đêm để chúng tôi ăn khi lên tàu! Mấy bao bố củ sắn, mấy bao cam, quýt.., mấy bao kẹo bánh đầy rẫy... Không ai có lòng dạ đâu mà ăn... Nhưng tôi lại khác! Tôi biết tôi cần có sức khoẻ để "làm việc". Tôi múc cho Chương và tôi ăn thật no. Tôi nghiêm mặt bảo Chương phải ăn... ba chén cơm mới được ngưng. Nó ngoan ngoãn nghe lời, "dạ mẹ" luôn mồm! Tôi nắm cả vốc kẹo bánh nhét vào giỏ, vào túi áo của tôi, cả túi áo, túi quần của Chương.

Ăn xong, lại lấy cung. Lần này mới thật sự là lấy cung. Họ hỏi rất kỹ. Tên cán bộ ngồi viết lời khai của tôi giỏi lắm chỉ học đến lớp Ba trường làng! Hắn nắn nót cả dấu nặng một cách buồn cười... Tôi khai tôi tên Diệu, thì hắn viết "Dịu"...Ồ ! Hắn cũng biết viết.. hoa tên tôi! Không đến nỗi tệ...

Hắn hỏi tôi làm nghề gì. Tôi trả lời như máy:

- Thưa cán bộ, em bán chè ở Thủ Đức!

Hắn nheo mắt nhìn tôi, lại hỏi tiếp:

- Cô sanh năm nào?

Tôi đã chuẩn bị chu đáo, nên tôi trả lời ngọt xớt (bán chè mà!):

- Dạ cán bộ em sanh 1954! Dạ em... 26 tuổi...

Hắn nheo nheo mắt nhìn tôi, im một chút rồi nói:

- Có thiệt không...dzậy...?!..

Chương ngồi bàn "phỏng vấn" cách tôi một bàn. Tôi vừa trả lời những câu hỏi bên này, vừa cố lắng nghe "vấn đáp" bên Chương.

Khi hắn ta nói "Có thiệt không... " tôi giật bắn người. Tôi bắt đầu tập trung vào những câu hỏi của hắn ta. Hắn hỏi thêm có ai đi chung, đem bao nhiêu tiền, vàng. Đóng bao nhiêu tiền hay vàng rồi.... Đóng cho ai...

Tôi không khai thật vì ông chủ tàu sẽ bị CA khảo của nếu ai cũng khai đã đóng cho ông ba cây vàng. Cho nên tôi bịa là tôi chỉ có hứa khi qua đến nơi, tôi sẽ trả cho gia đình ông, vì quen biết với con ông! Nói thật và nói láo không có gì khác cho tôi cả, mà chỉ tội vợ chồng ông thôi! Đây là chuyến tàu thứ nhì ông bà tổ chức. Chuyến trước, đi ra đến hải phận quốc tế rồi, máy tàu tự dưng hư! Mọi người đành ngồi trên tàu, ăn dần dần ca´c thức ăn trên tàu, và gió thổi tàu từ từ, từ từ...về lại Việt Nam! Ông chủ tàu bị tù một năm mới vừa ra! Chuyến này chắc ông sẽ bị... lâu hơn! Tôi không đành khai sự thật!

Họ cũng hỏi Chương rất nhiều câu hỏi "ngoài đề " mà tôi chưa dạy nó. Nó thật thông minh, những câu hỏi hóc búa, nó đều bình tĩnh trả lời "Dạ con không biết" như tôi đã dạy nó!

Có một điều làm tôi bắt đầu lo lắng là, tôi mới 22 tuổi, mà tôi khai tôi.. 26 ! Nhìn mặt tôi thật sự rất là.. sữa! Tên cán bộ hình như đã thấy được điều đó! Còn Chương khai sụt đi hai tuổi, trông nó có nhỏ con đó, nhưng cái nhanh nhẹn của nó không thể thấy được ở đứa trẻ 6, 7 tuổi. Thằng con 6 tuổi của chị Tâm ngồi đâu ngồi ệch đó, không biết gì cả! Tôi bắt đầu lo lắng và hối hận đã không kịp suy nghĩ kỹ.Tôi ước gì tôi sửa lại lời khai được...

Họ cho chúng tôi ăn bên ngoài xong, mới bắt chúng tôi bước vào trong phòng giam. Vào bên trong, tôi mới biết còn có cả vài chục người đàn bà đã ở sẵn trong đó rồi! Họ bị tù nhiều tội danh, đi buôn lậu, đi trộm cướp, hay có thể... giết người, mà tôi không dám hỏi tới.

Cả một cái phòng rộng bằng hai cái lớp học, nhốt độ 50, 60 người đàn bà và vài ba con nít, mà chỉ có một cửa sổ độc nhất hình chữ nhật 10 cm chiều đứng, chiều ngang độ 50 cm! Ở góc phòng là hai cái lu có nắp đậy. Nơi ấy bốc ra mùi hôi thối, tanh, khai nồng nặc. Tôi biết ngay đấy là nơi đi vệ sinh của chung.

Cái dễ sợ nhất là cái... cùm. Lần đầu tiên trong đời tôi thấy, và lần đầu tiên tôi biết thế nào là bị cùm chân!

Mỗi người chúng tôi phải xỏ một chân vào một cái khoen có khoá. Rồi cái khoen ấy lại xỏ vào một cây cọc gổ dài như ếch bị xỏ xâu. Chỉ bị xỏ có một chân thôi, khi nằm, nó cấn cổ chân đau lắm. Tôi bị cùm chân không bao lâu, đã có người cùng chung cái cọc dài này bảo chị ta cần đi tiểu. Thế là tất cả mọi người đứng lên, cà nhắc, cà nhắc đi để chị ta đến được cái lu, và chị ta ngồi tiểu trước mặt mọi người một cách... tự nhiên! Xong rồi mọi người lại cà nhắc trở về chỗ cũ. Trong phòng giam có bốn cái "xâu" người như thế. Suốt ngày, suốt đêm, hết người này tới người kia mắc tiểu, mọi người cứ đứng lên, nằm xuống, rồi đứng lên, nằm xuống.. Cổ chân của tôi bắt đầu đỏ lên vì cấn vào cọc cây và khoen sắt.

Những người đàn bà bị bắt đi trong chuyến tàu của tôi đều xa lạ, ngoại trừ chị Hoa và chị Tâm. Hai chị cứ ngồi rấm rức khóc, không biết làm gì cả, chỉ khóc và lại... khóc! Người vui nhất trong phòng giam này là Chương! Lần đầu tiên trong đời, nó được nhiều người lớn sai bảo và thương nó. Có người nhờ nó múc nước cho uống. Có người nhờ nó... bóp chân, hay gãi lưng... Có người cần xức thuốc, nhờ nó bôi thuốc. Riêng chị Hoa thì cháu phụ thay tã em bé, cháu cầm quạt mo mượn một người trong phòng đứng quạt mát cho em bé suốt. Ai nấy cũng thương Chương lắm. Cháu biết lấy cảm tình mọi người, đến hỏi từng người có bớt đau chân chưa? Có cần cháu bóp chân nữa không... có cần cháu rót nước thêm không? Hình như nó rất hạnh phúc khi được sai bảo. Nhìn nó lăng xăng, vui vẻ giúp mọi người trong tù mà tôi đở buồn một chút ít...

Đêm khuya, tôi bỗng dưng nghe tiếng khóc la văng vẳng, nghe tiếng gì như ai nện chày vào nền nhà, rồi tiếng đàn bà thét lên trong đêm khuya, có tiếng kêu "Má ơi cứu con", tiếng rên hự-hự... Tôi biết ngay là họ đang tra tấn người nào đó. Thế là tôi ngồi dậy, bắt đầu gục mặt khóc rưng rức. Tôi khóc vì tôi sợ họ sẽ nghi tôi nói láo, và tưởng tượng tôi sẽ bị ăn đòn như thế. Tôi khóc vì đây là số vàng cuối cùng mà má tôi đã vét hết nhà cho tôi đi, cộng thêm chiếc xe Honda cuối cùng trong nhà đã bán mất rồi...

Tôi cũng khóc vì tôi đã vỡ tan mộng ước. Tôi có thể sẽ chết nơi đây, hay tôi sẽ phải... tự vẫn vì nào ai biết được, bọn công an thất học, tàn ác kia sẽ làm gì tôi.

Chương mon men đến ôm tay tôi, rưng rưng lệ theo tôi... Mấy người xung quanh bu quanh an ủi và rất thương "mẹ trẻ, con ngoan" chúng tôi. Họ nói đã vào đây là khó ra lắm. Trại này nổi tiếng là hung dữ và độc ác.. Đêm nào cũng có người bị tra tấn như thế. Suốt đêm đó, tôi không thể ngủ được. Chương hết xoa bóp chân cho tôi, lấy quần áo chêm vào cổ chân tôi cho đỡ đau, rồi lại đến xoa bóp chân tay các người khác, rồi lại cầm quạt mo quạt cho mọi người mát, rồi lại bế con của chị Hoa dỗ nó ngủ... Cháu thật là xốc vác. Và cháu cũng không ngủ được bao nhiêu dẫu cháu không bị còng chân.

Trời vừa sáng, cả hai cái lu lại được mọi người "thăm viếng" nhiều hơn. Tôi cứ phải cà thọt lên một chút, rồi cà thọt xịt xuống một chút để người cần đi được ngồi vào đúng.. vị trí! Chương cũng bận rộn vô cùng, cháu lấy nước cho mọi người uống, có người còn nhờ cháu cầm lược chải.. chí nữa! Cái gì cháu cũng làm, cái gì cháu cũng biết, không ngờ cháu giỏi hơn tuổi quá nhiều. Tôi kêu Chương lại, bảo nó lấy bánh trong túi áo ra ăn sáng, rồi uống nước. Tôi thấy nó nhìn tôi rơm rớm nước mắt. Nó nói thật nhỏ:

- Dạ, mẹ..ẹ..!

Bỗng dưng, cửa phòng giam lạch cạch mở ra. Một tên công an trẻ độ chừng ba mươi tuổi, cầm một cây ba tong đứng ngay cái cửa quan sát chúng tôi. Ánh nắng theo cái cửa mở toang đó đã tràn vào trong phòng. Tôi thèm khát nhìn ra mây trời xanh bên ngoài ô cửa, cố hít sâu cái mùi thơm của ngọn gió trong lành đang len vào cái phòng tối tăm, hôi thối này. Lần đầu tiên, tôi hiểu giá trị thật sự cái chữ Tự Do! Nhìn hắn chống cây ba tong đứng ở cửa, trong phòng thì tối, cái cửa thì sáng chói chang, gương mặt của hắn lại thật hung ác, làm tôi liên tưởng đến Tử Thần đang cầm... lưỡi liềm đến rước người nào đi.

Tất cả mọi người lật đật trở về chỗ cũ, không có lấy một tiếng động. Tôi biết ngay hắn là một tên cán bộ hóc búa đây. Mọi người chào tên cán bộ như trả bài thuộc lòng:

- Dạ chào cán bộ...

Tôi cũng lí nhí nói theo.

Hắn đi qua, rồi đi lại, xấc xược nhìn chầm chập vào mặt từng người. Bỗng dưng, hắn quay đầu lại tìm dáo dác. Hắn ngừng lại ngay... Chương. Cây ba-ton được xỉ ngay trán của Chương, hắn quát to:

- Ê! Thằng nhỏ! Mày tên gì mậy?

Chương lấm lét trả lời bằng chất giọng Bắc của cháu:

- Dạ thưa cán bộ, con tên Chương ạ!

- Ạ.....à....! Mày là thằng Chương đó hả?.. Đi theo tao...

Chương sợ đến nỗi không khóc được. Mặt cháu đã xanh, lại càng xanh hơn. Ngay cả quay lại nhìn tôi, nó cũng không dám. Nó nắm tay tên cán bộ đi một mạch ra ngoài như người máy...

Cánh cửa vừa khoá trái lại, tôi oà lên khóc nức nở! Cả nhà giam xôn xao bàn tán, không biết tại sao tên cán bộ lại bắt em trai nhỏ này đi đâu... Chỉ có tôi biết thôi! Dù chỉ đoán, nhưng tôi thấy tôi đã đoán đúng: họ đã nghi tôi nói láo nên dẫn Chương đi... tra khảo!

Tôi năn nỉ mọi người đi cà thọt làm sao cho tôi đến được cái cửa sổ độc nhất trong phòng kia để nhìn xem tên cán bộ dẫn Chương đi đâu. Cái cửa sổ cao trên đầu của tôi. Có hai chị phụ nữ chịu khom lưng lại cho tôi leo lên mới nhìn thấy được bên ngoài. Cái cây cọc cũng được mọi người nâng lên cao, và mọi người phải giơ chân treo cao theo cây cọc ấy. 

Tôi nhìn ra, và thấy tên cán bộ này bắt ghế ngồi trong một cái chòi lá xa phòng giam của chúng tôi độ chừng trên dưới 100 mét. Chương đứng trước mặt tên cán bộ, đưa lưng quay về phía cửa sổ của tôi. Tôi thấy tên cán bộ hỏi em rất nhiều. Ở xa, tôi thấy hắn đốt thuốc lá hút, rồi hỏi, rồi phì hơi, rồi hỏi... Bỗng dưng, hắn đứng lên, đi lại chỗ dựng cây... súng trường. Hắn lăm lăm cầm cây súng trong tay. Hắn lại vừa hỏi, vừa hút thuốc phì phèo. Hắn chợt bật cái lưỡi lê ở đầu ngọn súng ra, dí lưỡi lê vào mặt, sát lỗ tai của thằng bé với một tư thế hung hãn... Ở xa, tôi không nghe hắn quát tháo gì, nhưng tôi thấy Chương cứ lấy tay quẹt nước mắt, quẹt qua, quẹt lại, càng lúc càng nhanh. Nó lấy cả vạt áo chùi nước mắt... Rồi hắn đứng lên, nắm tay Chương lôi trở về hướng phòng giam.

Tôi lại oà khóc nức nở, tôi bảo các chị nhanh trở về lại vị trí cũ. Tôi cũng chuẩn bị tinh thần để ăn đòn của hắn ta vì tội dám lường gạt cán bộ...

Cửa phòng mở ra. Tên cán bộ vẫn còn nắm chặt tay Chương. Mặt của cháu vẫn còn ràn rụa nước mắt, xanh tái mét.

Hắn nạt Chương lớn tiếng:

- Ai là mẹ của mày? Chỉ tao coi! Tao nói rồi! Nói láo là tao đâm mày lủng bụng thấy con... đ... mẹ mày nghen...

Chương vừa tiến đến gần và chỉ vào tôi, vừa ấm ức, hậm hực nói qua làn nước mắt:

- Mẹ của con... (hic..) thiệt... (hic hic..) mà (hic...) cán bộ.. (hic..hic...)

Hắn trừng trừng mắt nhìn tôi từ đầu xuống chân, gầm gừ:

- Mày là mẹ của nó thiệt à??

 Người tôi run lên, và giọng lạc hẳn..

- Dạ.. thưa.. cán bộ,.. là...em... th... thi..iệt......

Tên cán bộ hậm hực nhìn tôi một chút, rồi bảo:

- Lấy quần áo đi dìa đi!

Tôi sững sờ một vài giây, trái tim muốn nổ tung ra vì không ngờ diển biến như thế. Rồi tôi hiểu ngay tại sao... Tôi ôm Chương vào lòng. Nó vẫn còn đang cà-hộc, cà-hịc, mặt đầy nước mắt nước mũi. Tôi biết ngay Chương đã nhất định, cả quyết tôi là mẹ của cháu dẫu bị tên cán bộ đòi..bắn, đòi...đâm chết cháu....

Hai "mẹ con" tôi ôm nhau khóc ròng. Tôi thật sự biết ơn Chương còn nhỏ xíu thế kia mà đã dám cả gan che chở cho tôi. Tôi ngỡ đâu tôi là người sẽ lo lắng, bảo bọc cuộc sống của nó. Tôi chưa làm được điều gì cho đời của nó, vậy mà ngược lại, nó lại là người cứu tôi khỏi bị tù, khỏi bị đi lao động..., khỏi gông cùm...

Tên cán bộ đi đến chị Hoa đang bị cùm chân bế con nhỏ, luôn cả chị Tâm, rồi dùng cây ba ton xỉ xỏ:

- Bà này, "dới" bà kia cũng dìa luôn đi!

Hắn lấy chìa khoá mở cùm cho tôi và chị Hoa, chị Tâm.

Tôi mừng quá! Tôi không cần lấy gì về cả. Tôi đợi cởi cái cùm ra, tôi cởi luôn bộ đồ bên ngoài ra, tôi mò trong giỏ của tôi, lấy hết thuốc men để lại cho những người trong phòng giam. Những thứ này bây giờ chắc chắn rất hữu ích cho những người bị kẹt lại nơi đây. Tôi cũng móc hết bánh kẹo để lại, rồi vội vàng đi ngay vì sợ họ thay đổi ý!

Chúng tôi ba bà mẹ, ba đứa con nít, không còn một xu vì họ như quân cướp, đã lục soát, lấy sạch sẽ hết rồi. Chị Hoa lo lắng, không biết ca´ch nào về lại Saigon. Tôi bàn với chị Hoa chị Tâm là cứ đi, cứ nói mình tù vượt biển ra, dân sẽ thương mình mà không lấy tiền xe đâu. Lúc tôi đi vượt biên không thành lần trước tận Phan Thiết, khi về Sài Gòn bằng xe lửa, tôi đã phải làm thế! Tôi còn xin ăn cơm tấm ở bến xe... free nữa, vì tôi trốn công an cả ngày trời mà không một thức ăn gì trong bụng cả! Tôi còn bàn rằng sẽ đi bằng xe... lam nhỏ, đi từng chặng ngắn để về Sài Gòn.

Kinh nghiệm cộng với linh tính của tôi, bọn công an thay đổi soành soạch, rồi ra bến xe đò để bắt người lại, nên đi xe lam là chắc ăn hơn. Chị Tâm thì muốn về Sài Gòn càng sớm càng tốt. Còn chị Hoa ngần ngừ một chút rồi cũng chịu đi theo tôi, vì chị cũng cần tôi và Chương giúp đỡ...

Đúng như tôi đoán, khi hỏi đi xe nhờ, tôi cũng nói luôn chúng tôi không còn tiền về Sài Gòn vì mới ở trong tù ra về tội vượt biên.. Ai cũng xót xa hỏi thăm và ái ngại cho chúng tôi. Dĩ nhiên, chúng tôi được đi free!

Tôi rời trại giam khoảng chín giờ sáng. Mà đến tối mịt tôi mới về đến Sài Gòn. Hàng xóm không ai biết tôi vừa trải qua một ngày đêm khủng khiếp trong tù giam với cái cùm... Sau này tôi mới biết vì chị Tâm đi ra bến xe đò, nên chị bị Công An tỉnh bắt lại ngay tại bến xe.

Khi tên công an trong trại cho phép chúng tôi về, hắn chỉ là công an quận. Nhưng sau đó độ một giờ đồng hồ thôi, công an tỉnh đến, ra lệnh bắt hết lại những người đàn bà có con nhỏ này. Con nhỏ thì gửi về nội ngoại, nhưng cha mẹ đi vượt biên thì phải ở lại tù để "học tập và lao động".

Chị Tâm bị bắt trở lại trại giam, ở tù thêm sáu tháng. Đứa con được chở về nhà nội. Họ cũng có cho xe đi tìm tôi và chị Hoa mà không thấy... Tôi bỗng tự mình ngẫm lại, cô thiếu nữ nhút nhát ngây thơ ngày nào, cũng như cháu Chương, cháu bé sức vóc yếu đuối chỉ quanh quẩn xó bếp, giờ đã được... Đảng dạy để trở thành loại người dạn dĩ, chai đá, biết đối diện, thích nghi với mọi hoàn cảnh.
*
Sau chuyến đi ấy, ba năm sau, tôi lại tiếp tục đi vượt biên nữa. Tôi được định cư ở Canada. Trong lòng tôi cứ ray rứt câu chuyện của cháu Chương.

Năm 2000, khi tôi về thăm Việt Nam lần đầu tiên. Tôi đã đi xuống Thủ Đức để tìm thăm cháu và cũng để thăm lại một căn nhà của một người quen lúc ấy đã đi định cư ở Mỹ. Anh chủ nhà này là kiến trúc sư, đã cất một căn nhà sàn rộng lớn, xinh xắn bằng gỗ tốt, phía trên để ngủ, phía dưới là bếp và phòng ăn. Tôi đứng bên ngoài cổng, nhìn vào trong cái bếp mà tháng 8 năm 1975, tôi đã đến thăm anh chị khi xưa. Hôm ấy Thủ Đức bị cúp điện. Tôi và chị Th, chị chủ nhà, phải đi lượm các cành củi, lá mít khô trong vườn để nấu cơm... Khói mù trời đất mà lửa vẫn không lên ngọn được! Chị Th và tôi nước mắt lưng tròng, không phải vì khói.

Nhà Chương cách đấy không xa.

Khi ấy, Chương đã ba mươi tuổi, có vợ con và cơ sở làm ăn thật phát đạt. Anh Luyến đi vượt biên bị mất tích khi Chương mới mười bốn tuổi. Chương đã lăn xả ra đời, may mắn và thành công tới tấp. Thằng bé không thân phận, không có họ hàng bên ngoại, không mẹ, cũng không biết cha mình... thật sự là ai, đã gồng gánh nuôi hai em thành đạt như mình, giúp đỡ mẹ kế rất nhiều.

Cháu chở tôi đi chơi bằng chiếc Toyota mới toanh, và cùng nhắc lại kỷ niệm ngày xưa. Có một điều mà cả bao nhiêu năm tôi không hề nghĩ ra, Chương đã làm tôi thốn cả tim óc và bật khóc khi cháu nói:

- Cô..."Diệu "ơi! Cô có biết, hạnh phúc nhất cuộc đời trẻ thơ của con là những ngày… ở tù với cô không? Con chưa được gọi MẸ bao giờ... Đó là lần đầu tiên con được gọi MẸ! Con cũng chưa được ai ôm con vào lòng với những giọt nước mắt rơi trên mặt của con như cô đã ôm con khóc. Khi mình được thả về Sài Gòn, cô có biết con buồn lắm không! Con chỉ muốn được ở lại trong... tù với mọi người, với cô, để con được gọi cô là MẸ mãi mãi.. Lúc ấy, sao cô đẹp quá... Cô chắc chắn phải đẹp hơn cả mẹ ruột của con dù con nghe nhiều người nói mẹ con cũng đẹp lắm. Cô đẹp hơn vì cô dám nhận nuôi dưỡng con mà mẹ ruột của con thì không. Cô đẹp hơn cả bà tiên vì khi con bị phỏng, không ai cầm tay con lên xuýt xoa cả, không có bà tiên nào hiện về an ủi con cả, mà chỉ có cô thôi. Còn thêm một điều này nữa, chắc cô không bao giờ ngờ tới: chính con đã... tự mình làm... đứt tay, trầy chân mãi để được cô xót xa, băng bó, thương yêu con...
*
Bây giờ, bên đây bán đầy dẫy những viên mồi lửa, chỉ cần thả vào bếp lò một viên thôi là nó cháy bùng bùng ngay rồi. Nhưng, tôi vẫn thi´ch tự mồi lửa bằng củi chẻ nhỏ. Và tôi làm rất thiện nghệ! Khi tôi nhóm lửa barbecue nướng thịt nướng hay đốt fire place, dù than, củi rất khô, dù không hề có khói mù trời như xưa nữa, nhưng, bạn bè hay gia đình tôi đều ngạc nhiên, không hiểu vì đâu mà mắt tôi đỏ hoe, ướt sũng... 

Tháng 10/ 2016

Kim Chi

Tuesday, September 13, 2016

Phật Bà Nhiệm Màu Và Trái Mãng Cầu Xiêm



Khi Kim quen Khang gần 40 năm trước, anh đã có xuất cảnh để đi Pháp theo diện con lai (Ba anh lai Pháp). Gia đình của anh đang chờ nhập cảnh. Còn Kim thì... ngược lại, gia đình Kim đã có nhập cảnh của Pháp, nhưng chờ Sở Ngoại vụ VN cho ra xuất cảnh để đi theo diện cựu công chức của Pháp! (Cả ba má Kim đều làm việc cho chính phủ Pháp một thời gian khá lâu).

Gia đình Kim đồng thời cũng nộp đơn xin đi diện HO vì ba Kim đi tù cải tạo mất 5 năm! (Ông cũng là “tay sai” của chính quyền "Mỹ Nguỵ"). Chưa hết, hai người chị lớn của Kim đang ở Úc lúc ấy cũng nộp đơn bảo lãnh cả gia đình sang Úc đoàn tụ.

Thời ấy, người dân miền Nam VN không có sự lựa chọn. Đi nước nào cũng được, cả ba nước tự do Úc, Pháp, và Mỹ đều là những cường quốc. Nước nào chấp thuận trước thì sẽ đi trước. Thật ra, Kim mong được đi Pháp hơn hết để Kim và Khang sẽ lấy nhau bên Pháp.

Hồ sơ của gia đình Khang cứ chờ mỏi mòn… Xuất cảnh có từ năm 1978, mà kéo dài đến năm Khang vượt biên vẫn chưa có nhập cảnh Pháp! Có lẽ, chính phủ Pháp thấy gia đình đông quá (11 người) nên cứu xét sau cùng. Rồi tiếp đến, quỹ cứu trợ của họ cũng kiệt quệ, nên ngưng luôn (?!).

Riêng bên phía gia đình của Kim, Sở ngoại vụ lúc ấy là nơi cứu xét hồ sơ đi nước ngoài, đã trả lời: Chính phủ VN chỉ chấp thuận cho ba má của Kim đi thôi! Còn Kim với cô em gái, cậu em trai lẫn ông anh đang trên dưới 20 tuổi, là lứa tuổi lao động, phải ở lại VN quê hương... ngạo nghễ để lao động! Ba má Kim đành phải dẹp bỏ hồ sơ, không xúc tiến nữa vì đâu muốn đi mà bỏ bốn đứa con mình lại cho... đảng Cộng Sản VN “nuôi nấng và dạy dỗ” ?! Diện HO lúc ấy thì còn quá mới, chẳng thấy ai được cứu xét hồ sơ cả!

Có biết bao gia đình mơ ước chỉ có được MỘT hồ sơ để nộp xin đi nước ngoài. Vậy mà gia đình của Kim có tới ba, mà cả ba hồ sơ đều không nhúc nhích! Kim chỉ biết than thân trách phận mình sao đen đủi… Và cô thiếu nữ nhìn rất thùy mị ngoan hiền kia bắt đầu tơ tưởng đến một chuyện: Kim ngày đêm thủ thỉ với má của mình, xin lo cho cô được đi vượt biên!

Khi ba Kim vào tù cải tạo, gia đình Kim lâm vào cảnh chật vật, khó khăn như bao gia đình quân nhân công chức khác, chỉ biết có đồng lương cố định hàng tháng. Bấy giờ đã đổi đời, tiền chợ phải chạy hàng ngày, thì lấy đâu ra tiền để lo cho Kim đi VB?! Thế là má Kim đành phải bán hết những gì có thể bán trong nhà để cho Kim đi VB. Xã hội hỗn loạn, Kim bị gạt tiền vài lần. Một lần bị lộ phải trốn CA trong ruộng mía cả ngày. Một lần bị bắt tù cùm cả chân! Những vàng vòng, xe gắn máy, bàn ghế... đều đi theo những chiếc thuyền không… hộ khẩu của Kim...

Bên nhà Khang cũng thế, bị gạt nhiều lần lắm. Rồi cũng bị tù… Sạch túi! Nhà không còn gì để bán được! Tan vỡ ước mơ... Khang và Kim đành chịu ở lại “quê hương ngạo nghễ” và làm một đám cưới nhỏ...

Sau khi làm đám cưới, đôi vợ chồng trẻ bắt đầu còm cọm đi làm tìm miếng ăn trong cái xã hội chủ nghĩa! Khang là nhạc sỹ lương bậc A, chỉ có 65$ một tháng. Lương diễn viên của Kim cũng thế, không sống được lấy ba ngày! Khang phải đi dạy nhạc tư gia thêm, chơi nhạc cho các quán cà phê, tụ điểm ca nhạc, các đoàn ca kịch… Kim thì phải đi lồng tiếng phim kiếm tiền thêm sau những giờ diễn tập cho đoàn văn công nhà nước. Đời sống tuy không đến đổi chật vật nhưng không dư giả để có 5, 10 cây vàng nêngiắc mơ vượt biên của Kim và Khang chỉ còn là ảo mộng, cố nép mình vào trong góc tối của thiên đường cổ tích...

Hai đứa cưới nhau được vài năm, lúc ấy người dân miền Nam vẫn còn vượt biên nhiều lắm. Mỗi lần nghe tin ai đó đi tới nơi, hay không.. tới nơi, Kim như bị ai đó dùng kim đâm đau thốn đến tim, óc.. Kim cố gắng không nghĩ đến chuyện... tàu bè gì nữa!

Một hôm, trong căn nhà của vợ chồng Kim ngay chợ Dakao, đêm nằm ngủ, Kim bỗng nằm mơ thấy một người mà cả đời Kim chưa bao giờ vướng bận suy nghĩ lấy một phút trong đầu: Phật Bà Quan Âm!

Bà xuất hiện ngay trong căn nhà, bay vòng vòng, chầm chậm giữa gian phòng khách của vợ chồng Kim. Không thể tưởng tượng nổi! Quá sức lạ! Trên bức tường vôi loang lở màu xanh lá cây nhạt cũ kỹ, chiếc áo lụa trắng ngà-ngà của Bà nổi bật, phất phơ như các nhân vật trong tuồng tích cải lương. Khi Bà bay, dù chậm nhưng để lại một vệt sáng phía sau làm Kim hoa mắt. Kim lặng người, sững sờ, chết trân để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một bà tiên mà Kim thường đọc khi còn bé trong những chuyện cổ tích. Tay Bà đỡ chiếc bình hoa nhỏ bằng mấy ngón thon dài tuyệt đẹp. Bà cứ bay vòng vòng trên tường vôi thật chậm và nhìn Kim với một ánh mắt hiền từ. Kim, trong giấc mơ, cũng quay người từ từ theo Bà, mắt mở to không chớp, dán chặt vào Bà, chỉ sợ bà tiên của mình vuột bay đi mất.

Rồi Phật Bà ngừng lại giữa nhà, gió thổi đong đưa chiếc áo mềm mại của Bà nhè nhẹ lung lay. Bà nhìn Kim chăm chú, nghiêm trang, rồi dõng dạc nói:

"Con có thể đi được rồi đó. Con chỉ cần cúng cho Bà một trái mãng cầu xiêm thôi...."

Nói xong, Bà nhìn Kim với ánh mắt của người mẹ hiền từ, cười mỉm. Rồi Bà bay vụt ra cửa, mất hút trên không trung....

Gia đình Kim và Khang cùng đạo Phật, nhưng cả hai hầu như không hề…đi chùa. Từ bé đến lúc lấy chồng, Kim chắc chỉ đến chùa không quá mười lần. Những lần ấy, đều không phải tự lòng Kim muốn đi, mà do má Kim dẫn đi, hay má sai lên chùa mua đồ ăn chay! Cả Kim và Khang rất ghét mê tín dị đoan, cũng không duy tâm. Nhưng, mơ thấy Phật Bà Quan Âm rõ ràng như thế không thể là chuyện đùa được!

Kim lay Khang thức dậy, rồi tỉ mỉ thuật lại giấc mơ. Chồng Kim rất mừng vì câu Phật Bà nói "Con có thể đi được rồi." Anh cứ bắt Kim kể đi kể lại mãi! Cả hai vợ chồng như người đang lang thang vô định trên sa mạc, chợt nhìn thấy có cơn mưa sắp tưới mát xuống cuộc đời khốn khổ, khô cằn này... Cả hai cùng trăn trở. Giấc mơ được rời khỏi cái xứ sở đã bị cộng sản biến thành một nhà tù khổng lồ bỗng vụt mở toang cửa, chắp cánh thiên đường...

Kim mở mắt thao láo nằm suy nghĩ mông lung: Làm sao đi được đây? Hồ sơ đi Pháp và đi Úc đã bị Sở ngoại vụ từ chối rồi. Còn HO, mong manh quá, đâu đã có ai được đi đâu! Còn đi vượt biên ư? Lại thảm thương hơn, một cây vàng cũng không có, lấy đâu mà đi! Dù sao, vợ chồng Kim cùng mong mau sáng để đi chợ mua mãng cầu xiêm về cúng Phật Bà ngay, trong lòng ngập tràn háo hức...

Nhà Kim ngay chợ Dakao. Trời vừa sáng, Kim hăm hở bước vào khu bán trái cây tìm mãng cầu xiêm... Ô hay! Cả một cái chợ với cả chục sạp trái cây mà không có lấy một trái mãng cầu xiêm! Kim quay về nhà, báo cho chồng biết. Khang cười không một chút lo lắng và bảo:

“Có lẽ vì chợ Dakao của mình nhỏ thôi cưng! Đi! Mình đi qua chợ Tân Định! Chắc chắn sẽ có ngay mà!“

Khang đèo Kim trên chiếc xe đạp đua của anh. Vợ chồng Kim có chiếcvespa, nhưng Khang rất thích đi chiếc xe đạp course này những khi đi đâu gần nhà. "Cục cưng" của anh với làn da trắng nõn nà, hàng lông mi rậm đen cùng mái tóc dài đến eo ếch… luôn làm Khang hãnh diện với mọi người đi đường. Khi gió lên, những sợi tóc lất phất bay, quấn quýt trên cánh tay, mơn trớn lên mặt của Khang, thoảng mùi hương bồ kết thật dể chịu...

Khang vui vẻ đạp gần một cây số đến chợ Tân Định. Kim bảo chồng đứng chờ mình vào trong chợ. Kim níu ống quần Tây lên hơi cao khi bước ngang qua các vũng nước của khu bán hoa, rồi mới đến khu bán trái cây.

Quái! Đi tới, đi lui, đi ngang, đi dọc… Kim vẫn không thấy trái mãng cầu xiêm nào cả!!

Khang lại an ủi Kim:

“Chỉ cần đến chợ Bến Thành thôi cưng! Cái gì trên đời này có là chợ Bến Thành có mà! Đừng lo cưng!

Khang lại đèo cục "cưng" của mình trên thanh ngang chiếc xe đạp, lóc-cóc, lọc-cọc đạp xe không chút lo âu. Kim lại để Khang chờ bên ngoài chợBT, rồi săng sái bước vào chợ.

Lạ chưa?! Sao Kim cũng không thấy trái mãng cầu xiêm nào cả! Đi vào trong lồng chợ, rồi đi trở ra... Đi vào, đi ra rất nhiều lần... cũng không có!! Khang thấy kỳ lạ quá. Anh bảo Kim giữ xe đạp, đích thân anh đi tìm! Khi Khang bước trở ra xe, Kim đọc được nỗi thất vọng hiện rõ trên nét mặt...

Cả hai thẫn thờ, buồn bã trộn lẫn lo âu, quyết định đến thẳng chợ An Đông trong Chợ Lớn.

Đây là chợ mà người Hoa rất đông, bán sỉ, bán lẻ đủ các thứ. Chợ cũng lớn và bán đủ thức ngon vật lạ. Kim ít khi nào đi chợ này vì quá xa nhà mà lại thật đông người. Kim lại chen chúc, “vật lộn” với đám đông, kiếm mãi vẫn không ra được tăm hơi của trái mãng cầu xiêm! Vợ chồng Kim ôm nỗi thất vọng não nề....

Khang bỗng vỗ đùi, chợt nhớ ra người bạn có một vựa trái cây rất lớn ở chợ Cầu Muối! Thế là chàng hăng hái hẳn lên như một động cơ vừađược… bôi mỡ bò! Anh hì hà hì hục, cong lưng đèo..."nủa tạ gạo" trên con đường Trần Hưng Đạo ồn ào và dày đặc khói xe, nuốt "ngọt lịm" cả cổ họng!

Bạn của Khang thật vui và ngạc nhiên khi thấy đôi vợ chồng trẻ đến tận nơi buôn bán của gia đình anh. Sau khi nghe Khang nói muốn mua một trái mãng cầu xiêm, anh ái ngại bảo rằng:

“Tháng này (tháng 8) không thể nào có mãng cầu xiêm! Sớm lắm cũng phải chờ đến một tháng nữa, là tháng 9 mới có…

Khang và Kim hụt hẫng, chán chường, chào từ giã gia đình người bạn bước ra về. Chợ đầu mối mà không có thì các chợ nhỏ làm sao có đây?! Kim có cảm giác như đã làm ra một cái tội. Trong giấc mơ, dù không hứa gì với Phật Bà, nhưng Kim nhất định không thể về tay không!

Khang thiểu não đạp xe về lại hướng nhà ở Dakao. Chàng công tử vừa đói bụng, vừa khát nước, lại vừa mỏi nhừ chân vì hôm nay chàng đã đạp xe quá nhiều so với hàng ngày... Nắng bắt đầu gay gắt trên đầu, mồ hôi ướt đẫm lưng áo của Khang. Còn Kim, cái mông ê ẩm đau vô cùng vì cái thanh ngang của chiếc xe đạp course như cứa sâu vào tận xương. Cái đầu trần của Kim lên mùi khét nắng. Gò má đỏ ửng. Cổ họng nuốt nước miếng bắt đầu đau vì cái niêm mạc quá mỏng, không chịu được khói xăng dầu và gió bụi! Tuy thế, Kim vẫn cố.. nhỏ nhẹ, thỏ thẻ với chồng:

"Ghé chợ Bà Chiểu thử nha anh! Dù gì chợ Bà Chiểu cũng không xa khuDakao của mình mà! Mình ráng thêm một chút nữa thôi, nha.. a. a.. anh... "

Tuy mệt lắm, nhưng Khang cũng đồng ý. Dưới ánh nắng gay gắt của buổi trưa oi bức, họ cứ đi tìm trái mãng cầu. Cái bụng Khang cứ sôi lên rột rột vì đói! Còn Kim, cố gắng thót bụng lại, như thể sẽ… nhẹ cân hơn cho chồng mình đỡ mệt!

Chợ Bà Chiểu cũng thế. Cũng như các chợ khác. Xắn quần xắn áo, giương to mắt ra, dạo nát cả chợ cũng không có bóng dáng một trái mãng cầu xiêm!

Đã 1, 2 giờ trưa rồi! Dù cả hai rất đói. Dù cả hai rất khát nước. Và, dù biết Khang mỏi mệt lắm, nhưng không biết động cơ nào thúc đẩy Kim vẫn... lì lợm, vẫn… nhỏ nhẹ, vẫn cố nài nỉ, ỉ ôi với anh, để anh ghé vào một chợ cuối cùng: chợ Phú Nhuận!

Đạp vòng trên con dốc dài từ Bà Chiểu đến Phú Nhuận gần hai cây số, trong lòng đôi vợ chồng thật nặng nề. Khang và Kim im lặng không nói gì cả... Mồ hôi của anh nhỏ giọt lăn dài liên tục trên gương mặt sạm nắng. Còn Kim, cố giữ những sợi tóc dài của Kim lại, không cho chúng... làm phiền Khang nữa! Hương tóc lúc ấy chỉ còn là mùi nắng khét, mùi khói bụi xăng dầu mà thôi...

Vào chợ PN, Kim len lỏi, luồn lách để hỏi, mà người ta vẫn trả lời... không có mãng cầu xiêm. Ai cũng nhìn Kim bằng cặp mắt thương hại vì vào tháng này, làm sao có mãng cầu xiêm?

Không còn hy vọng nào để nuôi nữa. Khang lẳng lặng, không nói năng gì cả, chán nản đạp xe đèo Kim trở về nhà...

Khang khát nước quá sức. Chàng không muốn về nhà liền, mà muốn ngừng xe uống nước ngay tức khắc trước khi vào nhà. Anh loay hoay dựng chiếc xe trước một xe bán sinh tố của chợ Dakao, cách nhà mình độ 60 mét.. Khang chợt nghe Kim lại... thỏ thẻ:

“Anh ơi! Nhìn kìa! Nhìn kìa…

Từ xa, Kim thấy một trái gì hình như là trái mãng cầu xiêm chưng trong tủkiếng xe sinh tố. Kim líu giọng lại, lắp bắp nói và chỉ cho chồng thấy....

Giữa bao nhiêu trái cây chưng bày trong tủ kiếng, nào xoài, saboche, mít, đu đủ, thơm, cà rốt, trái bom(Apple), sầu riêng với đủ màu sắc, đủ hình dạng, hai cái đầu khét nắng chụm vào nhau để chiêm ngưỡng một trái mãng cầu xiêm mơn mỏn, có cả lá cành xanh tươi, nhỏ bằng một... nắm tay của đứa con nít! Nhỏ đến nỗi Kim và Khang phải nhìn thật kỹ xem có phải đúng là trái mãng cầu xiêm hay không!

Cô bán hàng người Tàu lai, hỏi hai người khách muốn dùng gì...

Kim vội vàng chỉ trái mãng cầu và nói:

“Tôi muốn mua trái mãng cầu này.”

Cô ta bật cười khì! Cô nhìn Kim chăm bẳm như thể Kim là người hành tinh mới đến địa cầu, rồi thương hại giải thích:

Nị không có ăn cái lày được đâu! Nó còn nhỏ lắm! Nó cứng ngắc như đá, mà lị còn sống nhăn dzăng! Không bán được! Với lị cái lày cần chưng trong tủ cho đẹp mà!... Không bán! Không bán!"

Kim nài nỉ mãi không được. Nước mắt lưng tròng.... Kim đành kể chuyện giấc mơ thấy Phật Bà ra...

“Đêm qua chị mơ thấy Phật Bà hiện về bảo chị mua cúng Bà trái mãng cầu xiêm..... Chị đã đi hết tất cả các chợ ở SG rồi, không đâu có cả em ạ! Em làm ơn làm phước bán cho chị đi... Bao nhiêu tiền chị cũng mua... nha em...."

Kim không muốn kể hết chi tiết giấc mơ của Kim. Mà cô gái cũng không đợi nghe hết... Cô ta đã lật đật chạy vào trong nhà, gọi mẹ của cô ra...

Bà mẹ trạc trung tuần, gương mặt phúc hậu, tay còn dính bẩn vì đang làm bếp. Bà đi lẹt-xẹt ra, vừa quẹt tay vào... quần, vừa lắng nghe Kim kể lại câu chuyện nằm mơ của Kim một cách chăm chú và thích thú.

Kim kể đúng tất cả những gì thấy trong mơ. Nhưng, Kim không thể kể Phật Bà nói "...có thể đi được rồi!" Kim đành phải nói dối:

'Chúng tôi lấy nhau lâu rồi mà không có con. Chúng tôi đang cầu nguyện "xin được có con" thì Phật Bà hiện về bảo sẽ được toại nguyện sau khi tìm được trái mãng cầu cúng cho Bà.

Bà chủ nhà mở to mắt lắng nghe, rồi nói:

Chời ơi! Linh quá! Linh quá! Trái mãng cầu này vừa mới được người nhà dưới quê hái lên Sì Gòn cho tui để tui chưng trong tủ trái cây này đây.. Họ mới thăm tui, mới "dề" tức thì có...10 phút thôi đó à nghen! “

Bà tặc lưỡi nói:

“Mà ngộ quá dzậy ta! Cô chú hên dữ à nghen! Cô chú tới sớm hơn một chút chắc chắn không có đâu… à nghen!"

Và bà suýt soa:

“Phải công nhận, Phật Bà đã thử lòng cô chú đó! Thấy hông? Cả cái Sài Gòn này chỉ mình tui có trái mãng cầu này thôi mà? Cô chú đem về thắp nhang cúng liền đi, tui cũng hông lấy tiền đâu! Tui cũng dzô thắp nhang cho Bà liền đây... Linh quá, linh quá trời luôn.. Nam Mô A Di Đà Phật!"

Vợ chồng Kim cám ơn bà rối rít. Kim chưa bao giờ tin vào những chuyện trùng hợp, huyền hoặc đến độ vô lý như có sắp đặt như vậy. Nếu Khang hay Kim bỏ cuộc về nhà sớm, làm sao thấy được trái mãng cầu này?

Kim đặt trái mãng cầu lên đĩa, rồi hai vợ chồng cùng thành tâm thắp nhang. Kim có cảm giác Phật Bà linh hiển, đang ở đâu đó cười hài lòng. Mà Kim cũng vậy, lòng cô vui vô cùng vì mình đã hoàn thành mỹ mãn một công việc lạ lùng, kỳ bí...

Rồi bỗng dưng, những chuyện rất lạ liên tục đã xãy ra, để Khang được leo lên một con tàu to lớn, có trang bị súng ống như tàu chiến, có thực phẩm, nước uống đầy tràn, với thủy thủ đoàn phục vụ như một tàu du lịch, đi thẳng tới Indonesia, bỏ Khang xuống trại tạm cư ở đây. Xong, họ lại quay trở về SG đón Kim đi! Sau khi đánh điện tín về cho gia đình báo tin đã đến nơi an toàn, ở bên nhà lúc ấy mới… trả tiền cho vợ chồng Kim! Và thật là hên, chuyến của Kim đi cũng là chuyến cuối cùng! Những người đi chuyến sau Kim cùng với thủy thủ đoàn đều bị bắt!

Những diễn biến lạ lùng, những tình huống kỳ lạ như những mảnh puzzles ráp với nhau thật khéo léo đầy tình tiết mà cho đến bây giờ, Kim vẫn không hiểu tại sao lại có thể xảy ra trong một thời gian ngắn ngủi như thế!

"....Có phải, chế độ Cộng Sản như cái bóng ma, đã làm cho người dân miền Nam khiếp đảm, bằng đủ mọi cách, phải chạy trốn nó, dù bị dập vùi thân xác vào lòng biển đen ma quái, dù chân bước vào gông cùm, ngay cả ngọc nát hoa tan? 

Cái chính quyền CS quá tàn ác, đã áp bức chính đồng bào của họ. Lương tâm tán tận, họ rước cả giặc về dày xéo tổ tiên, quê nhà. Họ vơ vét tài sản, lột da lóc thịt dân đen mà rồi, họ cũng trơ tráo… cuốn gói chạy qua xin được cư ngụ chung với bọn… Mỹ Ngụy! Đám lãnh đạo đảng CS VN tham ô kia, chắc chắn rằng, họ đã có sẳn rất nhiều “trái mãng cầu xiêm” để được “chứng giám lòng thành”! Những trái mãng cầu xiêm của họ không cần còng lưng đạp xe đi tìm giữa trưa nắng gay gắt. Cũng không phải nhỏ xíu – xìu – xiu bằng cái nắm tay con nít! Mà trái mãng cầu xiêm của họ bằng ngọc bọc vàng, bằng hột xoàn gói bạc, được tưới bằng vạn dòng nước mắt của dân nghèo, được phân bón từ máu đỏ của dân oan… Dỉ nhiên, chúng nó thật là.. ."hoành tráng"! 

Ôi! Những người da trắng mắt xanh cao thượng ơi! Trái tim của người cũng như trái tim của Bà tiên thật bao dung, nhân ái. Nhưng, lịch sử và nhân loại sẽ xét xử thật công minh, sẽ mãi mãi xem đám quỷ đỏ này là tội đồ của dân tộc VN. Và chắc chắn một điều, hằng triệu-triệu, hằng vạn con, cháu, chắt… ngàn sau sẽ không bao giờ tha thứ… 

(August 2016) 

Kim Chi

Blog Archive