Showing posts with label Nguyễn Văn Lục. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Văn Lục. Show all posts

Saturday, November 26, 2022

Những kỷ niệm đẹp khó quên

Cuộc vượt biên bằng đường bộ hay đường biển nào cũng đầy bất trắc và mối nguy hiểm cả đến tính mạng. Mười người vượt biển, rơi rụng cách này cách khác, bao nhiêu người đến được bến bờ tự do, không ai đoán trước được.

Đã có nhiều người vượt biển hay vượt biên đã trả giá bằng chính mạng sống của mình, hoặc bạn bè, hoặc chính vợ con họ. Và nhiều người sau này, có đủ tư cách hơn tôi, họ đã viết thành sách. Những bi kịch ấy hoặc đầy phẫn nộ, hận oán cộng sản, hoặc đầy thương tâm vì những hoàn cảnh đầy éo le, mất mát đọc mà nhiều khi đến rơi lệ.

Thương cho họ, thương cho mình và thương cho hoàn cảnh đất nước lâm cảnh chia lìa, nhà tan cửa nát không cách chi đền bù được.

Vì thế, thật ít có ai nói đến những kỷ niệm đẹp, những may mắn, những niềm hy vọng đôi khi cũng xảy ra, cũng có thật. Phải chăng do may mắn? Phải chăng còn do số mệnh? Tất cả đều có thể. Và có thể điều ấy rơi vào hoàn cảnh của bản thân kẻ viết bài này. Những may mắn mỏng manh như chỉ mành treo chuông, nhiều khi hồi tưởng lại như thể một giấc mơ.

Sau 1975, dù không phải đi học tập cải tạo, tôi cũng cảm thức được sự bức bách, kềm kẹp, một nỗi đau hiện tại và một mất mát một quá khứ vàng son cộng thêm mẹ mất, các anh em tứ tán một người một nơi nên tôi quyết tâm tìm cách phải vượt biển như nhiều người khác.

Tôi xin được kể lại hành trình vượt biển như một kỷ niệm cũng đầy lo lắng, trằn trọc toan tinh mất ngủ, sợ hãi cũng không thiếu.

Số là năm 1979, nhà nước cộng sản có xung đột với Tàu cộng sản nên có chính sách xua đuổi người Hoa ra khỏi Việt Nam dưới dạng đi bán chính thức. Và nhiều người góc Hoa đã lâu đời đã bám rễ làm ăn ở Việt Nam cũng quyết định ra đi.

Người Hoa đứng ra tổ chức các chuyến đi này. Họ bán tài sản, thu gom tiền bạc rồi thuê tàu thuyền, thuê tài công, liên lạc với nhà nước cộng sản, thu tiền một cách công khai mỗi người như một cách đóng hụi chết. Chính quyền cộng sản nhất là giới công an địa phương thì vừa có lợi nhuận, vừa hợp chính sách nhà nước, một công đôi ba việc, bên nào cũng có lợi.

Tôi qua trung gian một người bạn, anh này quen anh tài công cũng đóng tiền cả một năm trước, tổng cộng 18 lạng vàng. Tôi 12 lạng, con trai tôi 6 lạng. Chuyện họ chia chác thế nào giữa chủ tàu, tiền mua tầu, tiền nộp cho chính quyền cộng sản tôi không biết. Và cũng chẳng cần biết.

Chiếc tàu vượt biển của tôi vốn là một tầu đánh cá xa bờ, bloc 6 máy, dài độ 21 mét. Hình thù nó đặc biệt, mũi nhọn — tàu đánh cá trên sông lạch mũi tròn — vỏ tàu bằng gỗ và chở hơn 400 người. Họ làm thêm một khoang trên mặt tàu như một căn nhà hai tầng, một tầng hầm và một tầng nổi. Sau khi ra khơi, nó chồng chềnh nghiêng ngửa, nặng trên nhẹ dưới nên đành quay về.

Nó dạt vào nơi nào, tôi cũng không biết. Chỉ biết, chỗ đó, đường đi đầy những con tép phơi để làm mắm, dài chừng 5, 10 phân lẫn với bùn đất. Chủ tàu cho người về thành phố mua nhiều can nhựa và những túi đựng cát tại địa phương để chèn xuống hầm tàu cá. Họ tuyển thêm được một thợ máy vốn chuyên làm các tảng nước đá đông lạnh. Sau này, anh thợ máy này đã cứu sống chúng tôi, vì đã sửa được máy tàu hư giữa biển.

Hai ba cái hên dồn dập
Cái hên lớn nhất là khi gặp trục trặc phải quay về đất liền, Boat People chúng tôi được quây lại, thong dong, không bị tội giam vì vượt biên.

Vì thế, ngày khởi hành đã định, tôi đi chính thức tại Mỹ Tho, có sự chứng kiến của công an địa phương. Tên giả của tôi là Tchen Chin Ho. Công an cầm danh sách tên từng người một mỗi khi chủ tàu đọc tên. Đến lúc họ đọc tên Tchen Chin Ho, tôi đã cố học thuộc lòng, nhưng luống cuống thế nào quên béng mất, đọc hai ba lần mới sực tỉnh và vội dắt thằng con trai lớn mới 7 tuổi lên tàu. Thật hú vía. Tên công an gắt nhặng xị, nhưng tôi đoán biết y cũng biết tôi là người Việt mà vẫn lờ đi.

Chỉ có điều kỳ quặc, ông chủ tàu quát: Anh kia đứng ra một bên. Tôi sợ hãi líu ríu đứng ra một bên. Ngay lập tức, tôi thấy anh tài công tiến lại chỗ ông chủ tàu đứng, nói nhỏ điều gì với tên chủ tàu không biết. Ông chần chừ một lát lại quát: Anh kia lên tàu.

Chuyện xảy ra chớp nhoáng không đầy một hai phút đã thay đổi số phận bố con tôi từ chỗ chết đến chỗ sống. Giả dụ, tôi không được đi thì số phận con tôi và vợ với một con nhỏ ở nhà sẽ ra sao. Chúng nó có thể trở thành cu ly, cu leo, đâu có cái cơ may làm người như hiện nay ở xứ người.

Chuyến ra khơi với niềm hy vọng
Thật ra, lúc ở ngoài biển, tôi chỉ có một nỗi lo. Nếu xảy ra chuyện gì thì tội cho con trai tôi, vì nó chẳng biết gì lại chôn vùi nơi biển cả.

Thật vậy, chẳng biết ra ngoài khơi, anh tài công, vốn là trung sĩ quân cảnh, kinh nghiệm trên biển hẳn là không. Anh lái thế nào mà loanh quanh ngoài biển đến 7 ngày đêm.

Những ngày đầu tiên, thuyền chúng tôi đi như trong cõi vô định, không biết đâu là bến bờ, chỉ biết cứ hướng Nam mà đi. Chủ thuyền và con cái thắp hương, khấn vái thấy mà lo. Đâu đây, nhiều tiếng A Di Đà Phật.

Đặc biệt mùa tháng năm, cái may trời cho người tỵ nạn là biển lặng như tờ. Có lúc thuyền chết máy; lúc này trông chờ vào anh thợ máy loay hoay sửa chữa; một chốc sau máy tàu nổ lại, kêu sình sịch.

Ban đêm, nhô mình nhìn làn sóng lăn tăn như mặt nước hồ. Tôi thầm nghĩ trong bụng không nói ra. Nhưng đúng là một phép lạ Hy Lạp.

Thuyền chúng tôi cứ hướng Nam trực chỉ không biết là ngày thứ mấy và thay vì giạt vào Mã Lai hay Thái Lan, nó chạy tuốt đến ngày thứ sáu thấy một vùng sáng như một thành phố..

Thuyền chúng tôi cứ thế hướng tới đầy hy vọng và phấn khởi vì nghĩ rằng đã đến được bến bờ. Lúc đến gần mới té ra chỉ là một giàn khoan dầu.

Tôi được anh tài công chỉ định làm thông dịch viên dởm cùng với tài công lúc này trở thành ông thuyền trưởng đại diện lên giàn khoan. Giàn khoan có một căn phòng rộng rãi, đầy bản đồ, người đại diện chuyền những bi đông nước, dầu cặn và thực phẩm không biết là bao nhiêu, rồi người đại diện còn chỉ vẽ cho ông thuyền trưởng hướng đi, tọa độ, địa điểm. Tôi chỉ thấy ông thuyền trưởng gật đầu lia lịa như am hiểu hết cái gì cũng Yes, Sir. Phần tôi, đứng ngu ngơ như vịt nghe sấm, chữ được chữ không.

Trên đường vào đất liền, thuyền chúng tôi gặp nhiều thuyền đánh cả của dân địa phương lô nhô tình nguyện dẫn đường vào đất liền một cách rất thân thiện.

Hình như họ đã quen với chuyện dẫn đường này rồi, cũng không đòi tiền mãi lộ chi cả.

Đến nơi mới được biết đây là đất nước Indonesia mà tuyệt đại đa số đều theo Hồi giáo. Hơn 230 triệu dân, 87%. Tôi không cần biết Hồi giáo quá khich, cực đoan như sau này biết được.

Mặc ai nói thế nào, những người Hồi giáo Indonesia là những người tử tế có đầy tình người.

Chúng tôi đến được ở trên một đảo nhỏ có tên là Terempa, nơi đó có khoảng 3000 người dân tỵ nạn tập trung về đây rồi. Gần đó còn có đảo Cucu, có thể đi xuyên rừng qua lại gặp nhau, tìm người quen.

Chẳng bao lâu sau, Ủy Ban LHQ đến lập danh sách, phát phần gạo và thực phẩm, phần lớn là cá khô.

Tôi lại tình cờ có duyên may gặp ông Bánh bao Cả Cần; ông vốn có phần hùn với chủ tầu nên cuộc sống rất dư dả. Ông cũng là người bỏ tiền thuê người lên rừng đốn gỗ, làm một cây cầu bắc qua suối cho bà con tắm rửa. Ông lại nghe ai nói, tôi vốn là thày giáo — mà hễ cứ là thày giáo thì hẳn thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp — nên nhờ tôi dạy các con gái ông như Mỹ Tiên, Mỹ Trinh, các con trai như Tiến, Tới, v.v. Đã cùi hủi còn sợ chi, tôi liều mình nhận dạy. Chữ Pháp vốn thông thạo, chữ Anh thì tôi nhặt nhạnh các tờ báo rồi đoán ra, thày học trước, hôm sau dạy cho học trò.

Mỗi tháng, ông trả cho tôi khoảng 10.000 Rupia — tương đương độ 100 đô la Mỹ, tôi không nhớ rõ lắm — nên tôi có tiền chợ mua cá tươi, rau tươi và đặc biệt, ở đây có rất nhiều sầu riêng, ăn thả cửa mà dân địa phương làm thực phẩm ăn mỗi ngày. Nhân tiện đây xin thưa với quý vị là cây Sầu Riêng được trồng trên các khu đồi mà cây cao cỡ vài chục thước. Quả chi chít. Người muốn hái sầu riêng phải núp dưới gốc cây, chờ một cơn gió thổi mạnh, quả rơi lộp độp xuống mặt đất, vội chạy ra nhặt vào, rồi lại đợi cơn gió tới. Tuy nhiên, một người trai tráng khỏe mạnh chỉ vác được 6, 7 trái là cùng. Tham cũng không được. Chưa kể, gai cứa vào người khi vác đi.

Sau này, ông Cả Cần cũng dọn về thành phố Montreal cùng một nơi tôi ở. Tôi đã có thời gian ban đầu, khi ông mở nhà hàng, giúp ông các chuyện này, chuyện nọ, giao thiệp như một nhân viên nhà hàng. Và tình nghĩa ấy sau 40 chục năm, thỉnh thoảng, tôi dẫn các con cháu đến quán Cả Cần, nhất là restaurant với Mỹ Tiên sau này.

Cái hên bị lừa đảo
Sau này, khi đã ổn định trên đảo, trong lúc ngồi rảnh rỗi, trà dư tửu hậu, anh tài công tên Chín có dịp hỏi tôi. Anh có biết tại sao khi chủ tàu gạt tôi sang một bên, rồi lại được cho đi không. Tôi cho biết là quả tình không biết. Anh Chín cho biết, nghĩ thương tình hai bố con anh, tôi nói nhỏ với chủ tàu, ông này vốn là thày giáo, trên tàu cần một người thông thạo tiếng Anh để khi gặp tàu ngoại quốc có thể cứu giúp hoặc chỉ đường. Ông chủ tàu ngần ngại rồi chấp thuận. Số là người bạn tôi tên Đạo chỉ giao nộp có một lượng vàng và y cất giữ số còn lại nên chủ tàu loại tôi ra.

Nhân dịp này, tôi xin một lòng tạ ơn anh Chín, một người tốt bụng với vợ con đùm đề và đi định cư tại Đức. Anh là một người đáng kính.

Còn riêng Đạo, tôi hoàn toàn im lặng như thể không có chuyện gì xảy ra. Sau này, anh đi định cư tại Mỹ, có viết thư. Tôi im lặng không trả lời. Anh quả thực là một người xấu.

Phần tôi, tôi chỉ nhìn nhận mình trong cái rủi có cái may mà thôi.

Người Hồi giáo dưới con mắt của tôi
Lại nói về người Indonesia, phần đông dân chúng ở xa các thành thị đều rất hiền lành và chất phác. Các viên chức huyện hành chánh ngay cả các ông mà dân gọi là Chúa đảo cũng đến thăm trại và nói chuyện thân tình.

Sau này, nghe đến Hồi Giáo thời tổng thống W. Bush con gọi là Hồi giáo cực đoan qua cái chết Saddam Hussein, tôi nghĩ cũng cần xét lại cho công bằng.

Từ trại, chúng tôi có thể đi bộ ra huyện hành chánh nơi đây có thể mua thực phẩm — trừ thịt heo vì đạo Hồi cấm không cho phép ăn — hoặc mua sắm quần áo, máy móc như các máy Cassette đủ loại. Khi rời đảo, nhiều người khệ nệ vác theo các máy cassette chẳng có dấu vết gì của dân tỵ nạn khốn khổ cả.

Sự tử tế còn thể hiện đầy chân tình khi chúng tôi rời nơi đây để tập trung về đảo Galang trước khi định cư. Trên bờ, trước khi tàu rời bến, người dân, nhất là phụ nữ Indonesia vẫy tay chào.

Nhiều người gạt nước mắt tiễn đưa.

Tôi tự hỏi, người Mã Lai, nhất là người dân chài Thái Lan, xứ của Đức Phật sao tàn bạo như thế với những vụ cướp biển, bóc lột tiền bạc, hãm hiếp phụ nữ đến kinh hoàng khi được nghe kể lại.

Tôi vẫn thấy cần biện hộ, dựa trên một thứ triết lý vụn là sự độc ác nhiều khi là do một chế độ và nhất là do hoàn cảnh. Vấn đề còn lại vẫn là con người với con người. Chiến thắng chính bản thân mình vẫn là đòi hỏi cao thượng và khó nhất. Thực tế mà nói, cuộc đời muôn mặt, có kẻ tốt người xấu biết đâu mà lường hết được.

Có nhiều kẻ dốt trong cộng đồng hiện nay; phải cho họ cái quyền được dốt phải không.

Tôi sống chung với thế giới Hồi giáo
Lắng đi đến mấy chục năm, vật đổi sao dời, khi về già, các con trai tôi thuê một Condo, trên đường Marcel Laurin cho gần các cháu. Tình cờ duyên phận, chung cư tôi ở, đối diện đi vài chục bước là một nguyện đường Hồi giáo. Ngoài cái vòm Dome như bất cứ thánh địa Hồi giáo nào. Nơi đây chỉ ghi trước mặt tiền là Centre Islamique du Québec — dịch sang tiếng Việt là Trung tâm Hồi giáo tỉnh bang Québec.

Vì thế, thói thường, các đường chung quanh trung tâm, có rất nhiều người cư dân Hồi giáo cư ngụ, lan tỏa ra khắp các vùng phụ cận với nhiều cửa hàng ăn đủ loại sắc dân như Tunisie, Algérie, Ấn độ, Pakistan. Với các tên tiệm như Marché Zaman, Tahoor, Sohnier, Zandoor Plus. Cuisine Pakistanaise et Indienne. Các tiệm thuốc Tây trên trục lộ chính đường Marcel Laurin mà chủ nhân đều là người Hồi giáo.

Đặc biệt có tiệm hớt tóc Coiffure Sirous, giá bình dân chỉ có 15 đồng, rẻ hơn nhiều tiệm khác. Tôi là khách quen thuộc.

Có một tiệm thực phẩm khác tôi cũng hay ghé vào là Marché Tunisie, vì có hai món tôi ưa thích là các trái dattes khô, rất thông dụng và đặc biệt, có các hộp cá mòi — không phải cá sardines sốt cà chua quen thuộc của Ma rốc trước 1975. Nhưng là các hộp cá mòi, sốt dầu và đặc biệt có một quả ớt trang điểm trên mặt. cay đậm.

Ngay tai chung cư tôi ở, tôi dự đoán, một phần ba dân chung cư là người Hồi Giáo, đủ sắc dân và đủ mầu da. Họ dành thời giờ mỗi ngày 5 lần ra đền thờ cầu nguyện. Hỏi họ, tại sao không cầu nguyện kín đáo ở nhà. Nhưng do truyền thống, do thói quen tập tục cũng có, họ vẫn thích cầu nguyện chung nơi đền thờ.

Điều đó cũng dễ hiểu thôi. Bên Công giáo, chỗ nào có nhà thờ thì cũng có bên cạnh một trường học và một nghĩa địa gọi là đất thánh. Chẳng hạn, khu Hố Nai có vài chục làng công giáo, quy tụ hàng vạn giáo dân. Hiện nay, khu Hố Nai đã có những Trung tâm hành hương mà con chiên lũ lượt tụ về đông đảo.

Tôi đã nhiều lần đi bộ và tha thẩn trên các con đường chung quanh kiểu thăm dân cho biết sự tình. Một lần duy nhất bắt gặp một phụ nữ người Việt, vốn là một Phật tử thuần thành, làm thiện nguyện nơi một ngôi chùa nào đó. Như vậy khu này ngoài phụ nữ đó ra có thêm tôi.

Những vang bóng một thời
Đi thêm một hai đoạn đường nữa, tôi gặp cái Parc Goulet.

Công viên này để tưởng niệm linh mục Eugène Goulet (1903-1999).

Có một tấm bảng đồng ghi: En l’honneur du curé. Fondateur de la Paroisse Notre Dame-du-Bois-Franc.

Cạnh công viên còn trơ chọi một một thánh đường Eglise Notre Dame du Bois-Franc. Mỗi chủ nhật có một thánh lễ do một linh mục người da đen và một số giáo dân cũng người da đen vào lúc 11 giờ.. Nó chỉ còn là một dư âm của một thời thịnh hạnh của giáo dân trên đà tản mát và suy tàn trước ngày tàn rụi.

Bên cạnh đó, Hồi giáo đổ về mỗi ngày mỗi đông đúc. Từng đàn trẻ nhỏ bên cạnh một phụ nữ, đầu quấn khăn voan — không che mặt– tay bế, tay bồng, le te vài con nhỏ tuổi sít soát nhau như thể mỗi năm đẻ một. Nhưng không thấy người đàn ông nào đi kèm cũng như chưa lần nào bắt gặp đàn ông, đàn bà Hồi giáo ôm nhau ngoài đường.

Đã một thời như thế — một thời thịnh vượng cả về mặt tôn giáo và nhất là dân số. Chúng ta dần dần ý thức được một cái melting pot đang hình thành và đang phát triển.

Tôi có vài lần vào Trung tâm Hồi giáo. Thấy người lạ, có người hỏi tôi, tôi trả lời vì tò mò muốn hiểu biết. Trên lầu dành riêng cho các bà. Tôi không được phép lên. Nhưng chắc cũng giống cách cầu nguyện của các ông. Dưới tầng hầm, dành cho đàn ông, chưa hoàn tất. Sàn nhà tạm trải các tấm carton. Không có chum nước rửa chân như bên Indonesia. Chỉ cần cởi giầy dép để trên các kệ có sẵn.

Trên bàn thờ, tạm gọi như thế, chỉ có một vòng cung và không trưng bày ảnh tượng gì. Được hiểu là có một Đấng Thượng Đế Allah — Đấng Thượng Đế tuyệt đối, chỉ có một, vô hình, vô thủy vô chung.

Trong lúc cầu nguyện, thoạt tiên, có một ông rành kinh Coran, gọi là Imam, đọc to tiếng kinh.

Khoảng chừng 10 phút.

Sau đó mọi người đứng lên, tụm lại, quỳ xuống chổng mông và cùng đọc to tiếng, rồi bái lạy nhiều lần trong khoảng thời khắc 5 phút là hoàn tất, rải rác ra về.

Có thể, theo sự hiểu biết sơ thiển của tôi, đó là những giây phút thiêng liêng và quan trọng nhất trong buổi cầu kinh.

Trong chung cư tôi ở, tôi nhận thấy phần đông họ đều lịch sự mà xem ra có đời sống khá sung túc. Xe cộ thường xe sịn, đời mới, ngay cả Mercedes . Khá nhiều người trẻ chỉ thấy dẫn chó đi dạo, chẳng hiểu họ làm gì để sinh sống. Có thể, có nhiều cặp vợ chồng trẻ, cha mẹ ở xa cung cấp tiền bạc để họ học hành. Có một nữ sinh trung học, thấy mặc đồng phục, hẳn là học trường tư, đi học có taxi đưa đón. Biết đâu có thể là con một gia đình gia thế của xứ Ả Rập.

Trong số ấy tôi được quen biết có một anh tên Abel Khabbag Malik. Tôi có nhiều dịp trò chuyện với anh và trao đổi. Anh có bà vợ, tôi có gặp đôi lần. Người phụ nữ này mặt tròn, mắt to, mũi cao, khá xinh xắn. Anh cho biết, họ đã ly dị nhau. Ba đứa con trai hiện ở với anh. Hình như chúng cũng không học hành gì, ngoài chuyện tập võ.

Anh Abel là người có học chuyên môn bên Tunisie, có công việc làm ổn định. Chúng tôi thường trao đổi về phong tục, chính trị, xã hội, tôn giáo. Tôi thường đặt câu hỏi, tại sao Đạo Hồi cấm ăn thịt heo, nhưng lại ăn thịt cừu, thịt bò. Và nhiều tại sao khác như: Tại sao đấng Mahomet chỉ là một đấng tiên tri lại được tôn kính và nhắc nhở thay vì vị thần linh chúa tể? Tại sao đàn ông Hồi giáo chiếm ưu thế trong xã hội mà người đàn bà không được học hành, không được tiếp xúc với hội bên ngoài? Đàn ông lại có thể lấy nhiều vợ?

Những câu hỏi ấy thường làm Abel khó chịu và biện hộ một cách bướng bỉnh. Chẳng hạn, anh cho rằng, đàn ông lấy nhiều vợ là để bảo vệ đàn bà, tôn trọng sự trong sạch, tinh khiết. Vì thế, không có hiện tượng đàn bà Hồi giáo bê tha, hoặc dĩ chí phải làm điếm.

Nhưng có lúc anh than thở rằng, phần lớn đàn bà Hồi giáo, tiếp cận văn minh Tây Phương, đã buông thả và đòi tự lập.

Đó là một xã hội tôn giáo đang trên đà phá sản và thay đổi theo chiều hướng nghịch lý khi tiến triển. Và thành phần trổi bật nhất, chính là thế giới phụ nữ.

Nó đi theo bước xe đổ của Thiên Chúa giáo trước đây.

Cái giá phải trả cho sự hội nhập. Không thể lấy thước nào mà đo đếm được. Đành chịu và bất lực trước những khuynh hướng bảo thủ như một tiếng thở dài.

Nguyễn Văn Lục

Wednesday, July 24, 2019

Đốt sách !

Một thời kỳ đen tối cách đây hơn 44 năm, các sinh viên học sinh đốt sách vở, có cả các nam thanh nữ tú Phật tử đã lục lọi cướp phá thư viện và đốt sách cùng đồ đạc trong các toà nhà trong thời điểm này, họ vào cả nhà dân kể cả trong nhà sách hay thư viện chẳng cần biết đó sách gì, đúng là hành động thiếu suy nghĩ giống như chính xách ngu dân cũa thời Tần-Thủy-Hoàng xa xưa.

image2.png
- Sách Cũ Việt Nam Cộng Hòa 1954 -1975

Đó là những cảnh đốt sách thật tang thương 1 tháng sau năm 1975 tại Sài Gòn và cả miền Nam, đã định tâm như thế rồi, cho nên, khoảng 6 tháng trước khi về Sàigòn để thăm lại bạn bè, bà con mình, tôi đã nhờ bạn bè bên ấy tìm cho tôi những sách mà tôi muốn tìm. Thật ra ít có ai có thì giờ và có lòng để đi làm một công việc vô bổ như thế. Biết bao nhiêu phần đời tôi, biết tìm cái gì, biết mua ra sao. Rất may là tôi còn những người bạn có lòng để tâm giúp đỡ, tên anh là Hồ Công Danh. Đó không phải là đi mua sách cũ mà là một việc truy lùng, sục sạo, mò mẫm đầy bất trắc và may rủi, nhưng cũng đầy thú vị và mủi lòng. 

Bởi vì sách vở thời ấy, số phận nó như số phận người. Nó cũng phải trốn chạy, chui rúc, ẩn náu. Chúng cũng rơi vào cảnh mồ côi cha mẹ, cảnh lạc đàn, cảnh tan nát, cảnh tan hoang mất còn. Vận người dân miền Nam thế nào, vận chúng như thế. Đứa may trốn thoát. Tôi có đứa cháu trai, hồi đó, 6,7 tuổi. Khi đi di tản năm 1975, cháu chỉ mang cặp sách của cháu và nhặt một cuốn sách giáo khoa tâm lý học tôi viết thời đó. Sang sau vài năm, cháu đưa lại cho tôi. Kể cũng mừng và cũng buồn cười. Đứa yểu tử thì làm mồi cho cuộc phần thư. Đứa không may làm giấy gói xôi buổi sáng. Đứa bất hạnh làm giấy chùi đít. Đó là cuộc trốn chạy vô tiền khoáng hậu mà những kẻ đi truy lùng chỉ là các trẻ con lên 12, 13 tuổi. Các cháu ngoan bác Hồ. Họ xô những đứa trẻ con vô tội đó ra đường. Chúng quàng khăn đỏ hô hoán, reo hò như trong một vụ đi bắt trộm, hay đi bắt kẻ gian. Chúng lục soát tận tình, chúng đánh trống, chúng hát hò như một cuộc ra quân của một đoàn quân chiến thắng.

Gia đình nào cũng sợ hãi cái quang cảnh đó nên kẻ mà phải hy sinh đầu tiên chính là sách vở.

Sách vở gì cũng sợ nên sách gì cũng phải tẩu tán. Sách vở bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, mặc dầu chúng là người ngoại quốc, mặc dầu chả dính dáng gì đến chuyện chính trị hay chiến tranh Việt nam, chúng cũng chịu chung số phận. Tôi cũng có khá nhiều sách vở bằng tiếng Pháp, nhưng tôi biết rằng, trước sau gì tôi sẽ không bao giờ dùng đến chúng nó nên lôi ra bán ve chai mà không thương tiếc. Sách nhỏ bán trước, sách lớn bán sau, cuối cùng là bộ Bách Khoa tự điển bằng tiếng Anh tuần tự rơi vào tay các ông bà bán ve chai. Ở nơi ấy, chẳng mấy khi mà Aristote gặp được Kant. Cũng chẳng ai ngờ được Bùi Giáng gặp mặt được Heideigger.

Sách cũ đối với tôi là một ám ảnh mời gọi tìm về. Trong đó đặc biệt có truyện sưu tập tài liệu triết cũ. Cũng từ những sách cũ đó mà trước đây tôi lớn lên, được nuôi dưỡng và phát triển về trí năng mỗi ngày. Nếu cơm gạo miền Nam cho tôi lớn lên thì sách miền Nam nuôi dưỡng tôi thành người thông tuệ.

Đi truy lùng lại sách cũ là tìm lại một phần bản thân tôi vậy.

Nhưng khi tôi nói sách cũ thì không có nghĩa là sách cổ, mà là sách của miền Nam xuất bản trước 1975. Sách mà theo báo cáo của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng tại kỳ họp thứ nhất của Quốc Hội, ngày 26 tháng 6, năm 1976 là :* Việc xây dựng nền Văn Hoá mới đuợc tiến hành trong cuộc đấu tranh quét sạch những tàn dư mà Mỹ đã gieo rắc ở miền Nam. Đó là thứ Văn Hoá *nô dịch*, lai căng, đồi trụy, cực kỳ phản động..*.

Để thực hiện nghị quyết trên. Họ đã làm mọi cách : tịch thu, tàng trữ và đốt sách và coi sách vở báo chí miền Nam chỉ là thứ rác rưởi. Phần tôi, tôi dám gọi đó là đống rác tinh thần, tài sản của tất cả trí thức, nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà phê bình, nhà khoa học miền Nam trong vòng hai mươi năm đã bị đốt. Tóm lại, đó là đống rác thân yêu của miền Nam, cho người miền Nam gìn giữ lấy. (i)

Tình hình sách cũ hồi 1975.

Cộng chung số sách đã bị tịch thâu, hay bị đốt theo là bao nhiêu. Hình như chưa có ai hỏi câu hỏi đó và cũng chưa bao giờ có câu trả lời. Có thể chẳng ai biết được. Chỉ tính theo đầu sách thôi, các số liệu cũ của Bộ Thông Tin cho thấy, vào tháng 9- 1972, theo Ủy Hội Quốc Gia Unesco Việt Nam Cộng Hòa trung bình đã cấp giây phép cho 3000 đầu sách được xuất bản một năm. Cộng chung từ năm 1954 đến 1975, đã có khoảng từ 50000- 60000 đầu sách đủ loại được xuất bản, thêm vào đó 200.018 đầu sách ngoại quốc được nhập cảng. Giả dụ mỗi đầu sách in tối thiểu 3000 cuốn. Sẽ có 180 triệu cuốn sách tiếng Việt bị tiêu hủy. Đây chỉ là một lối tính ước chừng. Và như vậy số sách bị tịch thâu, bị đốt, bị bán ra vỉa hè hay ve chai là khoảng 180 triệu cuốn trên khắp miền Nam. Miền Nam theo nghĩa từ Bến Hải vào đến Cà Mâu.

Con số này đã không còn đúng nữa khi ta đọc một bài viết của ông Vũ Hạnh, một nhà văn thời VNCH và là một đảng viên cộng sản trong bài:* Mấy ý nghĩ về Văn Nghệ thực dân mới đăng trong tuần báo Đại Đoàn kết: Từ 1954 đến 1972, có 271 ngàn loại sách lưu hành tại miền Nam, với số bản là 800 triệu bản* Trong khi đó sách của ông Trần Trọng Đăng Đàn đưa ra con số 357 ngàn loại. Và ông Đàn dám cả gan nói: Như vậy là con số của Vũ Hạnh gần như khớp với con số chúng tôi tìm được. Thưa ông Trần Trọng Đăng Đàn, con số cách nhau gần một trăm ngàn mà ông dám bảo là khớp thì tôi chịu ông. Các ông đã bao giờ biết nói thật chưa.

Cũng vậy, tờ Tin Sáng số ra ngày 1 tháng 8, năm 1976 tính rằng: Từ năm 1962 về sau, tại Nam Việt Nam đã xuất bản 208 bộ sách chưởng, gồm 850 quyển, con số phát hành này ước tính 5 triệu bản, bằng số sách giáo khoa trung học xuất bản cùng thời gian.[ii] Con số này, xin nhờ những vị chuyên gia về Kim Dung cho biết xem thực hư ra sao.[iii]

Độc giả thân mến, xin ghi nhận những thống kê của Ủy Hội Quốc Gia Unesco VN là tài liệu đáng tin cẩn. Tôi chỉ xin nói một điều, nước Pháp hiện nay mỗi năm xuất bản khoảng 1000 đầu sách tiểu thuyết mới. Làm sao VNCH có thể xuất bản mỗi năm hơn 20 chục ngàn đầu sách một năm. Những con số của ông Vũ Hạnh hay gì khác là một thổi phồng đến phi sự thực. Tôi không dám bảo là ông ấy nói láo khoét. Hãy trả lại các ông ấy những gì các ông ấy viết. Chỉ cần so sánh con số dự đoán giữa ông và Trần Trọng Đăng Đàn đưa ra cũng cách nhau cả gần một trăm ngàn đầu sách. Điều đó muốn nói với chúng ta điều gì.

Nay tất cả những sách đó đều ra tro. Đây là một chính sách man rợ và xuẩn động của nhà cầm quyền Hànội. Dĩ nhiên, người ta đã không đốt hết mà mang bán, chính vì thế nay còn rơi rớt lại một số nhỏ nơi các tiệm bán sách.

Vì sợ hãi nên người ta mang sách vở tài liệu ra chợ bán ký, đó là thứ hàng vô dụng và nguy hiểm nhất trong lúc ấy. Người ta đốt những sách nào liên quan đến chính trị, nhất là sách vở chống Cộng. Người ta đốt những nhà văn nào liên quan đến chính trị như Nguyễn Mạnh Côn, Nhã Ca, Phan Nhật Nam v.v… Người ta cũng đốt tài liệu, hình ảnh cũ, giấy tờ, huân chương, bằng khen. Đó cũng là thứ mà những người chủ mới không muốn nó có mặt.

Người ta đốt tất cả những kỷ niệm, dù đẹp nhất của đời mình.

Mọi người phải tự hiểu rằng, phải đốt tất cả những gì cần đốt, không phải chỉ đốt những kỷ niệm mà tất cả những gì liên quan đến đới sống đó. Một đời sống mà tự nó đã là một điều xấu, một bản án.

Muốn sống yên, người ta phải đốt tất cả quá khứ đời một người cùng với những kỷ niệm, những sự nghiệp từ quá khứ đó mà ra.

Sách không đốt thì được bày bán lén hoặc công khai. Sự bầy bán sách vở như thế coi như dân chúng bắt mạch được thâm ý người chủ mới muốn gì. Nhưng trong số vạn người bán, vạn người mua, vẫn có những người nhà buôn bất đắc dĩ mà đặc loại là một số nhà văn, nhà giáo chế độ cũ nắm được cái chìa khóa của nhu cầu và ý nuốn của người đọc. Họ tìm ra giữa những kẽ hở để thấy được trong hàng tấn sách báo thải loại, cái nào là thứ hàng có giá trị, có giá đối với người chủ mới. Nạn chợ đen, nạn săn tìm sách cũ cho một thị trường mới nhờ thế càng phát triển.

Một cách nào đó, chính những nhà giáo, nhà văn, những kẻ bán sách lề đường, những tên lái sách trở thành những người bảo tồn Văn hoá miền Nam.

Sách phản động càng cấm, càng có giá. Đó là phản ứng ngược chiều ở thời điểm đó. Trên báo Đại đoàn kết, ngày 10—11-1982, Đinh Trần Phương Nam thú nhận một thực tế phũ phàng như sau:* Các hoạt động của chúng ta vừa qua thật rầm rộ, thật phong phú và đa dạng, song các loại sách báo phản động đồi trụy, đã bị quét hết chưa. Xin thưa ngay là chưa.* Số Tiền Phong ngày 23-9-1985 cũng than thở* Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều đợt bài trừ sách báo xấu, nhưng hiện nay hiện tượng mua bán và cho thuê các loại sách báo xấu vẫn còn tồn tại*[iv]

Càng những sách bị cấm lại càng có giá trên thị trường đen. Trên vỉa hè phố, những sách từ ngoài đó được phép bầy bán nằm chống mốc, cong queo ít được ai ngó tới. Người ta bầy những sách trên để che mắt mà thôi. Người mua sách sành điệu chỉ cần hỏi tên một tác giả nhà văn Ngụy. Năm phút sau, chạy đi một lúc có liền.

Lại một thách đố nữa cho người chủ nhân ông mới.

Sách Ngụy trở thành một thách đố chính quyền mới, thách đố ai hơn ai chứ không phải ai thắng ai. Thách đố mang tầm vóc văn học, giá trị nghệ thuật dựa trên nhu cầu người đọc. Sách hay thì tìm đọc, sách tuyên truyền thì không đọc. 

Đài phát thanh thành phố ra lệnh phải thu nộp tất cả các sách vở, báo chí, phim ảnh, tài liệu in ấn trước ngày 30 tháng tư được coi là đồi trụy. Nhiều người tiếc rẻ đem bán kilô. Các gói xôi bán buổi sáng, nay có tên Nguyễn Thụy Long, Nhã Ca, Thanh Tâm Tuyền. Vừa ăn, vừa đọc kể cũng vui. Nhiều chỗ mang sách vở cũ ra đốt. Mà phải đốt lén vào ban đêm.

Nhưng sau đó ai cũng thấy đốt là phí phạm. Không đốt thì sách vở đó đi đâu ? Không ai biết nữa. Nhiều người nhắc nhở đến tên Tần thủy Hoàng. Nhưng chẳng ai để ý đến có mối liên hệ gì giữa chuyện xưa và chuyện nay.

Tại sao lại dị ứng với văn học như thế? Không lẽ tất cả đều là phế liệu, tàn dư Mỹ Ngụy hết sao ? Sách nào là phản động, đồi trụy ? Vì thế sách cũ ở đây được đồng hóa với sách cực kỳ phản động, không phản động thì đồi trụy, không đồi trụy thì lai căng.. Mấy chữ trên như những khẩu lệnh bao trùm và truy chụp hầu như bất cứ tác giả nào và bất cứ quyển sách nào.

- Trước hết, các nhà xuất bản sách thiếu nhi bị cấm toàn bộ.

Đó là các nhà xuất bản như Tuổi thơ, Nắng sớm, Tuổi Hoa Niên, Sách Đẹp, Viễn Du, Hùng Dũng, Hoa Hồng, Hoa Hướng Dương, Hoa Mai, 

- Các dịch giả kiếm Hiệp sau đây cũng bị cấm : Kim Dung, Cổ Long, Trần Thanh Vân, Nam Kim Thạch, Từ Khánh phụng, Phan Cảnh Trung, Long Đức Nhân.

- Các tác giả có sách bị cấm toàn bộ như : Bùi Giáng, Chu Tử, Dương Nghiễm Mậu, Duyên Anh, Doãn Quốc Sĩ, Đinh Hùng, Nguyễn Mạnh Côn, Hoàng Hải Thủy, Lệ Hằng, Mai Thảo, Nguyên Sa, Nguyễn Đình Toàn, Thế Uyên, Thanh Nam, Võ Phiến, Văn Quang, Vũ Hoàng Chương, Vũ Tài Lục, Nguyễn Mộng Giác, Thảo Trường, Nguyễn Thị Hoàng..

Nhận xét :

- Những nhà xuất bản sách thiếu nhi này ấn hành đặc biệt các truyện dành cho thiếu nhi. Những sách đó có tính cách giáo dục, giải trí, hay nêu gương tốt cho các em thiếu nhi. Nội dung lành mạnh và có chất lượng giáo dục. Những nhà xuất bản này thường bất vụ lợi, có sự tài trợ đằng sau của những tổ chức tôn giáo, hay những nhà xuất bản có lòng như trường hợp ông Khai Trí. Vậy mà tội tình gì cũng bị cấm. Cứ cấm là cấm, cấm một cách chùy dập vô tội vạ và vô ý thức. 

Các trẻ em miền nam tự nhiên mù chữ vì không có sách đọc.

- Về các dịch giả truyện Kiếm Hiệp cho thấy đây là những sách dịch vô tội vạ, vô thưởng vô phạt xét về mặt luân lý, giáo dục. Chủ đích của người dịch trước hết có thể là giải trí người đọc. Ai đọc truyện kiếm hiệp chả thấy hấp dẫn và hay, đọc để giải trí. Sau đó mới nói tới những chủ đề tình yêu, y học, võ thuật, nhân vật truyện, chất hài, chất ghen tuông, chất giang hồ, kiếm pháp trong các truyện kiếm hiệp ấy. Sách phải được coi là bổ ích và nó là bộ phận không nhỏ trong sinh hoạt Văn học miền Nam. Trẻ đọc, già đọc, bình dân đọc, trí thức đọc.. Mỗi người tìm ra được cái thích thú cho riêng mình. Đến có thể nói, một trong những nét đặc thù trong sinh hoạt Văn Học miền Nam là sách của Kim Dung.

Kim Dung tên thật là Trà Lương Dung. Truyện võ hiệp đầu tay là Thư kiếm ân cừu, xuất bản ở Hương Cảng, từ đó có bút danh Kim Dung. Năm 1957 ra bộ Anh Hùng Xạ Điêu, 1969 ra Lộc Đỉnh Ký. Cho mãi đến 1978 Đài Loan mới rút lệnh cấm tác phẩm Kim Dung và 1986, sau khi tiến lên 4 Hiện đại hoá ở Trung Quốc mới xuất hiện Kim Dung. Truyện chưởng Kim Dung "độc bá quần hùng" trong sinh hoạt văn học ở miền Nam thời ấy. Vào năm 1968, khi xuất hiện Tiếu Ngạo Giang Hồ trên tờ Minh Báo thì có đến 44 nhật báo ở Sàigòn đều tranh nhau dịch và đăng lại. Tình trạng mê Kim Dung đến như thế, và kéo dài cho đến 1972-1974 khi bộ Lộc Đỉnh Ký ra đời. Và đây là lời Vũ Đức Sao Biển, tốt nghiệp Đại học Văn Khoa, Sàigòn, ban Hán Văn: "Tôi học cách làm người, cách đối xử nhân thế, đắc thủ được những kiến thức hoàn toàn không có trong giáo trình đại học từ các tác phẩm của một nhà văn nước ngoài chưa hề biết mặt."

Với lượng tác phẩm đồ sộ như thế, với số người đọc đông như thế, không thể không tìm hiểu văn học miền Nam nhất là văn học dịch mà bỏ qua tác giả Kim Dung. Người ta có thể bàn về bất cứ vấn đề nào của con người, của xã hội. Có thể từ tình yêu, bạo lực, đạo đức, tâm lý hay sự đánh tụt giá của chủ nghĩa bạo lực trong truyện Kim Dung. Từ vấn đề nghệ thuật, cách xây dựng nhân vật tiểu thuyết, chất thơ, chất hài... đến chứng cứ kiếm pháp, Võ và Hiệp, cho đến những vấn đề có thể trở thành tranh luận văn học như hư cấu nhân vật, hư cấu lịch sử. Kim Dung đã hư cấu lịch sử Trung Hoa cách đấy ba thế kỷ mà vẫn hay với cấu trúc tiểu thuyết liên hoàn. 

Vương Sóc, nhà văn-nhà phê bình Trung Hoa (mà nghĩ đến ông tôi bắt nghĩ đến Trần Trọng Đăng Đàn của Việt Nam), đã gọi tiểu thuyết Kim Dung là một trong "tứ đại tục" bởi đã hư cấu méo mó hình tượng người Trung Hoa. Từ đó đã gây thành những tranh luận lớn khắp Hoa Lục. Lại còn vấn đề tôn giáo, giáo phái trong tiểu thuyết. Luận về anh hùng và những nhân vật biểu tượng như Kiều Phong, một đại trí, đại dũng lại rất giầu tình cảm và lòng nhân ái vời vợi? Trương Vô Kỵ, Lệnh Hồ Xung, tài trí hơn người, hành xử quang minh lỗi lạc, tốt bụng hơn người? Dương Quá, Địch Vân, Hồ Phỉ... Rồi còn nhân vật nữ, những mỹ nhân như Hân Tố Tố, Nhậm Doanh Doanh, Triệu Minh, Tiểu Siêu, Song Nhi, v.v.. mỗi người mỗi vẻ, mỗi người một thông điệp. Không có những nhân vật nữ đó, tiểu thuyết Kim Dung còn gì? 

Vấn đề tâm đắc đối với tôi: Vấn đề chính hay tà, vấn đề thị phi trong cuộc đời, giữa Hiệp nghĩa và xã hội đen, giữa danh môn chính phái và ma giáo. Ai chính, ai tà. Tà chính khác nhau chỗ nào? Đọc Kim Dung sẽ thấy sự phân biệt Chính và Tà là vô thực. Trong Kim Dung, có một cố gắng đánh tụt giá những người tự nhận là Chính Nghĩa, và qua họ, những giá trị mà họ tượng trưng. Sự sa đọa xuống tới sự bất nhân, sự dâm loạn, sự ngu xuẩn của những đệ tử phái Toàn Chân thì còn ai tin gì ở Chính Nghĩa?

Chuyện đã hay, cơ man nào nhân vật, cơ man nào tình tiết chòng chéo lôi kéo người đọc. Kim Dung phải là người kiến thức rộng, đọc nhiều, dùng Quan Thoại, một thứ ngôn ngữ trong sáng, lại kế thừa truyền thống của những nhà văn như Lâm Ngữ Đường, Tào Ngu, Lỗ Tấn… đã biến những chuyện võ hiệp tầm thường thành những tác phẩm để đời. Đã vậy, có những dịch giả như Hàn Giang Nhạn chuyển ngữ tài tình làm say mê độc giả VN.

Hễ hay thì người đọc, dở thì bị người bỏ quên.

- Về các tác giả, các nhà văn bị xoá sổ cho thấy tính cách tổng quát hoá và khái quát hoá đồng loạt. Tỉ dụ thơ của Vũ Hoàng Chương như Hoa Đăng, Thơ say, Tâm sự Kẻ sang Tần thì tại sao cấm. Gìn Vàng giữ Ngọc và Giòng sông Định mệnh của Doãn Quốc Sĩ thì chỗ nào là phản động, chỗ nào là đồi trụy. Duyên Anh với Hoa Thiên Lý, Sa Mạc tuổi trẻ, Ngựa chứng trong sân trường, Dấu chân sỏi đá thì chẳng những không đồi trụy mà còn có tác dụng giáo dục nữa. Thơ Nguyên Sa, Gõ đầu trẻ, Một bông hồng cho văn nghệ thì hoặc là có tác dụng giáo dục, hoặc đặt ra những vấn đề tranh luận trong văn học. Hầu hết người ta không biết hoặc quên rằng Nguyên Sa còn có tập thơ *Những năm 1960*, trong đó là thứ thơ dấn thân, nhập cuộc. Thảo trường với Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp thì có giá trị tố cáo sự tàn bạo của chiến tranh. Bùi Giáng với Mưa nguồn, Đi vào cõi thơ là những chất ngọc nào phải thứ đồi trụy rẻ tiền.

Có vẻ nhà cầm quyền lúc đó muốn truy chụp tác giả hơn là tác phẩm. Vũ Hoàng Chương, Mai Thảo, Duyên Anh, Đinh Hùng, Hoàng Hải Thủy, Nguyên Sa, Chu Tử, Thanh Tâm Tuyền, Nhã Ca, Võ Phiến, Văn Quang, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Tạ Tỵ có viết gì cũng vẫn bị coi là thứ biệt kích văn nghệ.

Xin lấy trường hợp Vũ Hoàng Chương làm điển hình. Ai đã gặp Vũ Hoàng Chương rồi thì đều thấy đó là một thi sĩ gầy ốm tong teo, nói năng nhỏ nhẹ, lúc nào cũng ăn mặc rất chải chuốt, tươm tất, đầu chải mượt với cà rà vạt. Tác phẩm thì tóm gọn trong hai chữ mà thôi : Thơ Tình. Cả đời chỉ biết làm thơ. Và chỉ biết có thơ. Nhưng dù chỉ làm thơ cũng bị coi là người bội phản. Ông đã đi tù như một số nhà văn khác như trường hợp Hồ Hữu Tường. Khi ra khỏi tù được vài ngày thì ông chết.

Mai Thảo dù chỉ viết truyện thuần túy văn chương như Người thầy cũ, Mười đêm ngà ngọc, Căn nhà vùng nước mặn hay Bày thỏ ngày sinh nhật cũng vẫn bị coi là tên Biệt kích văn nghệ hàng đầu của miền Nam. Thanh Tâm Tuyền dù siêu thực hay lãng đãng bí hiểm như Tôi không còn cô độc, Bếp lửa, Cát lầy cũng là kẻ cấy mầm độc tư tưởng ngoại lai thoái hoá. Hủy diệt các niềm tin thì đã có Thanh Tâm Tuyền, Phạm Công Thiện. Duyên Anh có viết Dấu chân sỏi đá, Hoa thiên lý, Thằng Khoa, Gấu rừng, Giặc ô Kê cho trẻ con cũng vẫn là tên đầu sỏ văn nghệ nguy hiểm.

Người ta nhắm đánh vào người, nhắm thái độ lập trường chính trị để đánh giá tác phẩm của tác giả. Vì nhắm tác giả nên có nhiều nhà văn tự nhiên được sót tên một cách cố ý. Đó là những nhà văn một mặt nào đó có thể không chịu xếp hàng trong xã hội miền Nam cho dù thực sự họ cũng xếp hàng như mọi người. Có nghĩa là xét về mặt tác phẩm thì những nhà văn này cũng chẳng khác gì các nhà văn vừa kể ở trên. Có gì phân biệt được về phong cách viết giữa Bình Nguyên Lộc với Lê Xuyên hay với Võ Phiến. Nhưng Bình Nguyên Lộc được tha. Giữa Nguyễn Văn Trung và Lý Chánh Trung mà đôi khi ta tưởng hai người có cùng một lập trường, cùng một quan điểm và cùng một đường lối. Nhưng sách vở thì lại bị phân biệt đối xử khác nhau.

Trong số những người sót tên trong sổ đen phải kể đến Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Vũ Hạnh, Lý Chánh Trung, Lữ Phương, Nguyễn Trọng Văn, Thích Nhất Hạnh.

Sự đánh phá và truy chụp đó nói cho cùng là một sự muốn xoá trắng Văn học miền Nam.

Đó là cái tội đối với lịch sử văn học nói chung, chứ không phải chỉ có tội đối với miền Nam nói riêng. Xin trích dẫn vài tư liệu làm bằng cớ trong sách Văn Học VN dưới chế độ Cộng Sản của Nguyễn Hưng Quốc, trang 200 : Theo Phan Cư Đệ và Hà Minh Đức, trong Nhà Văn VN, từ 1954-1975 có 286 bài viết nhằm vu khống, xuyên tạc văn học miền Nam. Chỉ thị của Lê Duẩn sau giải phóng, kỳ họp Quốc Hội khoá 5 : Sau ngày giải phóng nhân dân ta đã làm rất nhiều việc nhằm quét sạch những dấu vết và di hại của thứ văn hoá ấy. Công việc này cần được tiếp tục một cách kiên trì, tích cực và triệt để.*

Về những bài viết, xin kể vài bài : Tiếp tục đấu tranh xóa bỏ tàn dư văn hoá mới. Nọc độc văn hoá nô dịch. Những tên biệt kích cầm bút. Lại bàn về nọc độc văn học thực dân mới Mỹ ở miền Nam những năm 1954-75.

Tên những người viết đó là : Trần Trọng Đăng Đàn, Lê Đình Ky, Trần Văn Giàu, Nguyễn Huy Khánh, Thạch Phương, Phan Đắc Lập, Bùi Công Hùng và cả Lữ Phương.

Miền Nam có thể thua cuộc. Nhưng cái văn học đó không có lý do gì bị xoá trắng oan uổng như thế. Bởi vì trong 20 năm sinh hoạt văn học đó, nó xác định cho thấy chỗ đứng của nó với sắc thái và cá tính của một nền Văn học đích thực. Một nền văn học mà sản phẩm của nó là kết quả của tự do suy nghĩ, tự do sáng tác. Đấy là cái ưu vượt của sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam mà trong suốt mấy chục năm chia cắt và cả sau mấy chục năm thống nhất đất nước rồi, người ta vẫn chưa thực hiện nổi một điều đơn giản đó.

Đặc biệt các giáo sư Triết, dù bị phê phán vì rao truyền chủ nghĩa Hiện Sinh, nhưng sách vở của họ lại không bị cấm lưu hành toàn bộ như Lê Tôn Nghiêm, Trần Thái Đỉnh, Trần Văn Toàn, Lý Chánh Trung, Nguyễn Văn Trung và các lớp giáo sư trẻ như Đặng Phùng Quân, Nguyễn Trọng Văn. Trừ một trường hợp đặc biệt, dù là giáo sư triết, nhưng viết văn nên cấm lưu hành toàn bộ như sách của Huỳnh Phan Anh và Nguyễn Xuân Hoàng.

Phần tôi nghĩ rằng, thời kỳ sau 1975, đó là thời kỳ Văn Học bất hạnh cho toàn miền Nam, bất hạnh vì sách bị tịch thu, bị thiêu hủy. Bất hạnh vì hơn 200 nhà văn, nghệ sĩ bị đưa đi cải tạo. Bất hạnh theo suốt cả đời họ. Vì kể từ đó, họ bị khước từ là nhà văn, bản án tù cứ thế kéo dài mãi mãi vì họ không bao giờ còn có cơ hội để viết. Và kể từ đó đến sau này, ta không còn bắt gặp lại mảnh đất miền Nam với những cây trái văn học nữa, cùng lắm có những cây trái đau khổ, đọa đầy và hủy diệt, và cái người bất hạnh nhất, tiêu biểu nhất có lẽ là nhà văn Nguyễn Thụy Long mà người ta quen gọi là nhà văn *Loan mắt nhung*. Sau 1975, ông lê kiếp số phận nhà văn như một con chó đói, một loài chuột chui nhúc để kiếm sống.

Tác giả : Nguyễn văn Lục

Sài Gòn Xưa
===========
Liên kết Sài Gòn Xưa : https://www.facebook.com/oldsaigon75
Liên kết Cochinchine - Sài Gòn Xưa : https://www.facebook.com/SaigonOld75/

Tuesday, February 12, 2019

Chết vào tay Trung Quốc?
Nguyễn Văn Lục
Gần đây sôi nổi vụ tình báo gián điệp Trung Quốc của công ty Huawei với bà Mạnh Vãn Chu phải ra hầu tòa. Bộ tư pháp Mỹ đã đưa ra hơn 10 chứng cớ buộc tội bà Mạnh Vãn Chu và công ty của bà. Xem ra nó có vẻ mới mẻ như một vụ xi căng đan lớn?
Tập Cận Bình lãnh tụ của Trung Cộng.







Thật ra, người hiểu chuyện xứ Tầu trong việc làm ăn, giao thiệp cho dù tầm cỡ quốc tế đi nữa thì có bao giờ nước Tầu tôn trọng luật lệ và làm ăn sòng phẳng đâu! Chủ nghĩa thực dụng với tích lũy kinh nghiệm buôn bán kế thừa từ đời nọ sang đời kia cho phép các nhà buôn Tầu làm ăn phát đạt. Phi thương bất phú. Đúng như thế. Nhưng làm giàu bằng cách nào là một chuyện khác.
Chỉ biết rằng ngày nay nước Tầu đang phát triển vào bậc nhất. Nhưng nạn nhân cũng chính là họ. Nạn nhân ấy là Môi trường. 20 thành phố ô nhiễm nhất thế giới thì riêng nước Tầu chiếm đến 16 thành phố. Giàu bất chính nên 2/3 những thương gia giàu có ở nước này đều co giấy xuất cảnh đi nước ngoài. Cho nên, chỉ cần một biến cố nhỏ đụng chạm đến quyền lợi, họ rụng như lá.
Thế giới nay kinh ngạc, hoảng sợ trước sức mạnh kinh tế của Tầu. Cũng đúng. Nhưng người ta quên rằng hơn ai hết người Tầu sợ chính họ. Có thể chỉ các doanh nhân và các công ty lớn của Mỹ đụng chạm với thực tế họ hiểu rõ điều này hơn ai hết.
Người ta còn nhớ, chỉ cách đây vài chục năm, ông Alain Peyrefitte đã xuất bản một cuốn sách vào năm 1973 với nhan đề “Quand la Chine s’éveillera… le monde tremblera”, nxb Fayard. (Khi nước Trung Hoa thức tỉnh … cả thế giới sẽ run rẩy.)
(Câu trich dẫn trên được cho là của Hoàng Đế Napoléon Đệ I, nhưng thật ra nó không có trong bất cứ văn bản chính thức nào. “Hãy để Trung Quốc ngủ, vì khi Trung Quốc thức dậy, cả thế giới sẽ run sợ.” Theo sử gia Jean Tulard, câu nói đáng ngờ này được phát minh cho bộ phim 55 ngày ở Bắc Kinh phát hành năm 1963. Nhưng với những người khác, có thể Napoléon đã tuyên bố câu này vào năm 1816 sau khi đã đọc xong Hành trình vào nội địa Trung Quốc và Tartary được thực hiện trong những năm 1792, 1793 và 1794 của Lord Macartney, vị đại sứ đầu tiên của Anh Quốc ở Trung Hoa)
Cuốn sách của A. Peyrefitte thì đến nay cũng được 46 năm, phải nói là lời tiên đoán của A. Peyrefitte nay đã trở thành sự thật. Nhưng sự thật ấy chỉ đúng một nửa.
Nguồn: FAYARD















Chính cái nửa sau này là công việc mà chúng ta cần quan tâm và khai triển nó ra.
Trong bức hình mà tác giả Alain Peyrefitte dùng làm bìa một ấn bản của cuốn sách của ông có chụp hình một bé trai, chừng 12 tuổi, khuôn mặt có dáng buồn tẻ, trên tay cậu cầm một cuốn sách nhỏ mầu đỏ (Little Red book hay “Mao ngữ lục”) trong đó ghi các câu nói của Mao. Nó như một thứ sách kinh điển cộng sản Trung Hoa vậy.
Bức hình này có nhiều ý nghĩa lắm! Bằng cách nào, một dân tộc vốn tôn thờ các người hiền, các bậc anh hùng, các bậc thánh nhân. Nhưng cổ súy một chủ nghĩa giáo điều với chính sách ngu dân lại có thể trong vài chục năm trở thành một cường quốc mạnh thứ nhì thế giới ?
Những dự đoán của A. Peyrefitte dù nước Tầu nay đã trở thành cường quốc thứ nhì thế giới, dự đoán ấy nay trở thành một phần lỗi thời vì khoảng cách từ năm 1970 đến bây giờ 2019 đã bị vượt qua rất nhiều yếu tố “bất ngờ”.
Peyrefitte đã không thể nào có cái nhìn rốt ráo về sức mạnh Trung Quốc.
Ngoài sức mạnh về dân số đông – một tỷ 300 triệu người sẵn sàng làm việc với số lương lúc đầu khoảng 25 xu tiền Euro/một giờ. Và có hơn 300 triệu người dân quê bỏ thôn quê ra tỉnh kiếm việc làm. Và nay sẵn sàng tiêu thụ. Người ta tính ra mỗi tháng có thêm 5 triệu người Tầu xử dụng điện thoại. Số lượng người mua xe hơi mới nhiều hơn dân số nước Pháp. Mỗi năm đào tạo số kỹ sư cao gấp 5 lần so với nước Mỹ.
Ngoài ra, diện tích đất đai và tài nguyên còn hầu như “chờ được khai thác”.
Nhưng các điều trên chỉ là điều kiện cần mà chưa đủ.
Người ta còn phải kể đến sức mạnh Đảng trị kìm kẹp dân, một tập đoàn lãnh đạo tiêu biểu với bàn tay sắt, với hệ thống công an trị, dẫn dắt dân bằng cách quản trị miếng ăn, quản trị cái dạ dầy nhờ đó kiểm soát cái đầu với ba chặng mốc lịch sử gồm ba người lãnh đạo thuộc loại xuất chúng: Từ Mao Trạch Đông như một “khởi điểm”, ông là một tư tưởng gia hơn là một nhà kế hoạch. Đến Đặng Tiểu Bình như một nhà kế hoạch với những “bước ngoặt bứt phá” về kinh tế ngọan mục. Sang đến Tập Cẩn Bình như một nhà quản trị với những bước “bước nhảy vọt”.
Điều quan trọng là cả ba đều là những người thấm nhuần tư tưởng đảng cộng sản Trung Quốc.
Bằng mọi gíá, bằng mọi phương tiện, bằng đầu tư sức người, sức của làm mà không hưởng trong suốt nhiều năm để tích lũy. Cho đến khi nới lỏng có hai tuần nghỉ hè có lương…
Đấy là yếu tố nội tại-sức mạnh- của một tỉ 300 triệu dân Tầu. Nay làm và được chia phần thưởng dù nhỏ nhoi.
Nó còn có vấn đề tương giao bàn cờ chính trị mà Trung Quốc biết lợi dụng, biết khai thác, biết xâm nhập, ngay cả ăn cắp. Cộng với một tham vọng làm bá chủ thế giới như một chủ nghĩa dân tộc cực đoan nhất- lỗi thời và nguy hiểm nhất- nhưng lại tỏ ra có hiệu năng nhất! Với một vài cột mốc như thế, chúng ta đi vào nước Tầu.
Ted Fishman là một nhân chứng tố cáo
Tác giả là một trong những ký giả lớn của các tờ New York Times và U.S.A Today, ông còn làm Giám đốc một công ty cố vấn thương mại. Ông đi nhiều, nhất là các nước Tầu, nước Nhật, vốn tích lũy kinh nghiệm hẳn không thiếu. Ông là một trong những tác giả viết về nước Tầu một cách khá đầy đủ về nhiều mặt. Ông đưa ra nhiều bằng chứng cụ thể, tại chỗ, về sự phát triển kinh tế của nước Tầu dựa trên chính sách giá cả, sản phẩm rẻ không ai cạnh tranh được.
Ông viết:
“Một số trong chúng ta than phiền không còn biết phải làm sao sắp xếp những đồ chơi rẻ tiền, các máy điện tử, các dụng cụ đủ loại, giày dép, điện thoại, nhất là quần áo tràn ngập các ngăn tủ (…) Đa phần từ nước Tầu- một trong những nhà sản xuất thế giới và đánh bại mọi người vì giá cả của nó. (Ted Fishman (tác giả), Monique Sperry (Dịch giả), Hervé Denès (Dịch giả). “La Chine : Première entreprise mondiale”, 2005, trang 9)
Ted Fishman đã dành hẳn chương 9 với nhan đề “Une Nation pirate” (Một Quốc Gia ăn cắp). Việc buôn bán với nước Tầu chủ yếu dựa vào giá cả. Giá rẻ người ta mua. Muốn có giá rẻ thì giá thành phải rẻ. Muốn có giá thành rẻ thì không gì bằng ăn cắp của người. Cộng thêm nhân công rẻ.
Không một sản phẩm nổi tiếng nào của Tây Phương mà không bị làm giả.
• Như bia Heineken, Budwweiser được phân phối trong các nhà hàng ở bên Tầu. Cũng vậy Coca-Cola, Starbucks, Haagen-Daz cũng như hàng trăm mẫu Fromage giả.
• Các sản phẩm như mỹ phẩm thường có giá rất cao cũng bắt chước làm giả như như các thuốc gội đầu Head & shoulder được sản xuất ở tỉnh Gansu.
• Tại tỉnh Sichuan, có khu vực sản xuất 40 nhãn thuốc lá ngoại giả và một năm sản xuất 100 tỉ điếu thuốc giả mạo.
• Các nhãn hiệu quần áo như Ralph Laurent, Tommy Hilfiger, Hermès, Lacoste, Hugo Bos và Armani được làm giả và xuất cảng, bán trong các chợ Marché aux Puces.
• Các đồ chơi điện tử Nintendo, Game Boy mà Nhật là nước nạn nhân. Nintenđo cho biết, họ bị thất thoát 720 triệu đô la năm 2003 vì bị ăn cắp..
• Các gọng kính của Gucci và Versace hay Louis Vuiton đều là đồ giả bán ra từ $0.80 đến $2.50 .
• Các phụ tùng xe hơi của hãng Ford Motor như thắng đều là đò giả. Và bộ thương mại Mỹ cho rằng nếu không bị làm giả thì có thể tạo thêm 210.000 công ăn việc làm ở Mỹ.
• 90% sản phẩm của Microsoft bị làm giả ở bên Tầu.
• Giá trị thương mại của việc làm giả này đem lại 250 tỉ đô la cho nước Tầu.
Trong chương 11, chương áp chót, ông đặt vấn đề, Le siècle de la Chine (Thế kỷ của Trung Quốc) để nói về những hiểm họa của Trung Quốc đối với nước Mỹ nếu nước Mỹ không có những chính sách, đường lối để cạnh tranh với Trung Quốc.
Nói tóm một lời, không có thứ gì có lợi mà không bị người Tầu làm giả và ăn cắp. Và càng ngày người Tầu càng lấn sân sâu vào nước Mỹ chẳng những về kinh tế mà con cả về an ninh, quốc phòng nữa.
Một ngày không xa, nước Tầu là một đe dọa cho nước Mỹ và nhiều nước trên thế giới. Trong thời gian 5 năm, nước Mỹ mất 2 triệu 9 công việc làm do hàng hóa rẻ tiền của Tầu tạo ra nhập siêu và thất nghiệp.
Sau nước Mỹ người ta tự hỏi đến lượt nước nào nữa? Âu Châu? Sau Âu Châu? Phi Châu?
Sự đe dọa của nước Tầu nay mang tính toàn cầu.

Peter Navarro – người hiện đang là Phụ tá Tổng thống và Giám đốc Văn phòng Chính sách Thương mại và Sản xuất (Assistant to the President and Director of the Office of Trade and Manufacturing Policy)
Peter Navarro, tiến sĩ kinh tế đại học Harvard và là tác giả cuốn “Death by China: Confronting the Dragon – A Global Call to Action” (2011), Ông đã lên tiếng cảnh cáo như sau:
“Unfortunately, most Americans never see the other face of China. And how the Chinese people have paid for all this “progress” with a dramatically damaged ecosystem, corruption, social injustice, human rights abuse, poisonous foods, and most seriously, the moral degradations of the souls.”(Peter Navarro. Death by China, trang XV)
Tuy nhiên, lời cảnh báo quan trọng nhất hiện nay là gián điệp Trung Hoa đã có mặt trong hầu hết các cơ quan từ dân sự đến chính quyền, nhất là trong lĩnh vực quân sự.
Trong chương 8, P. Navarro dành trình bày về vấn đề Hải quân với nhan đề: Death by Blue water, trích dẫn câu nói của Mao Trạch Đông, “All power flows from the barrel of a gun.”
P. Navarro đưa ra nhận xét là Không quân và nhất là Hải quân Trung Quốc được trang bị đến nơi đến chốn và trở thành một lực lượng đe dọa khủng khiếp nhất cạnh tranh với Hoa Kỳ. Tỉ dụ, võ khí hủy diệt như Dongfeng (DF) hay “East Wind” 31 A có trang bị đầu đạn nguyên tử có thể phóng đến tận Des moines hay Decatur.


Hỏa tiễn Đông Phong 31 của Trung Cộng.

[DCVOnline: Hỏa tiến Đông Phong 31 hat DF-31 (東風-31) nặng 42 tấn, dài 13 m, đường kính 2,25m có đầu đạn nhiệt hạch tâm, tầm hoạt động từ 7200-8000 km (Nguồn: Wikipedia). Bắc Kinh cách Decatur, GA khoảng 12.000km đường chim bay và cách Demoines, IA gần 11.500 km. Tác giả Navarro phóng đại tầm hoạt động của Hỏa tiến Đông Phong 31 đến 150%.]

Về không quân, vào năm 1999, một phi cơ tối tân của Mỹ bị bắn hạ trên bầu trời Serbia. Trung Quốc đã ngay lập tức đến thu tập tất cả mảnh vỡ. Và nhờ bắt chước Mỹ, họ đã thành công chế tạo chiếc J-20. Máy bay này chỉ mất 30 phút đến Tokyo và 10 phút đến Đài Loan. (P. Navarro. Ibid, trang 111-121.)


F-117 của không quân Mỹ. Nguồn: wikipedia.org

[DCVOnline: Về chiếc chiến đấu cơ siêu hình F-117A Ó Đen của Không quân Mỹ bị Tiểu đoàn 3 Lữ đoàn hỏa tiễn phòng không 250 của Nam Tư bắn rơi ngày 2 tháng Ba, 1999 trong trận lực lượng NATO oanh tạc Nam Tư. Charles R. Smith trong bài “Russian Engineers Admit Using F-117 Wreckage for Tests” đăng trên NewsMax.com ngày 12 tháng 12 2001 cho biêt kỹ sư của Nga đã dùng một số mảnh vụn của chiếc Ó Đen bị bắn rơi ở Nam Tư để thí nghiệm kỹ thuật chống máy bay siêu hình của Mỹ để dùng trong hệ thống hỏa tiễn SAM. Quân dội Nam Tư cũng gởi một số mảnh vỡ của chiếc Ó Đen sang Trung Quốc để họ có thể khai triển kỹ thuật phòng không. Quân đội Mỹ đã không còn dùng F117 từ năm 2008. Chiến đấu cơ Thành Đô J-20 còn có tên là Uy Long của Không quân Trung Quốc chính thức ra mắt năm 2016. Giới kỹ thuật hàng không quân sự cho rằng J-20 của Trung Quốc có thể tương đương với chiếc F-111 của Không quân Mỹ chế tạo hồi thập niên 1960s và không còn sử dụng ở cuối những năm 1990. Một lần nữa, theo trích dẫn của tác giả bài viết, Peter Navarro đã chứng tỏ ông có khiếu tuyên truyển huyễn hoặc hơn là có kiến thức thực tế về vũ khí quân sự.]



Chiến đấu cơ Thành Đô J-2- của Trung Cộng. Nguồn: YouTube
Cũng theo P. Navarro, trong chương 10, nhan đề: Death by Red Hacker, From Chendu’s “dark visitors” to Manchurian Chip. Chẳng hạn “Red Hacker” của Trung Quốc đã xâm nhập vào cơ quan NASA, The Pentagon và The world bank cũng như cơ quan thương mại và kỹ nghệ của Hoa Kỳ. (…)
Trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 2008 Red Hacker đã xâm nhập vào địa chỉ điện thư của Obama và của McCain và cả của tổng thống Bush.” (P. Navarro, Ibid trang 137-139)
Còn rất nhiều chi tiết khác đã được nêu ra mà người viết không tiện trình bày đầy đủ và chi tiết ra hết ở đây.


[DCVOnline: Tin CNN ngày 6 tháng 11, 2008 cho hay máy điện toán ở bộ tham mưu ban vận động tranh cử cho hai ứng cử viên Obama và McCain bị một tổ chức hay chính phủ nước ngoài xâm nhập.Nhân viên của FBI xác nhận commputers của hai đảng Dân chủ và Cộng hòa để bị tin tắc đánh cắp tài liệu nhưng từ chối không xác định nguồn gốc của tin tặc. Đến 2013, nhân viên tình báo Mỹ cho NBC News biết tin tặc xâm nhập vào Mỹ năm 2008 là chính phủ Trung Quốc. Một lần nữa sách của Peter Navarro, theo trích dẫn của tác giả bài viết, ghi chép điều không có thật. Computer của hai đảng Dân chủ và Cộng hòa khác xa với điện thư của hai ông Obama và McCain.]

Đọc Frank Dikotter, “Mao’s Great Famine”


Frank Dikötter và Mao’s Great Famine: The History of China’s Most Devastating Catastrophe, 1958-1962
Thật vậy, đọc lại trong cuốn “Mao’s Great Famine: The History of China’s Most Devastating Catastrophe, 1958-1962” của Frank Dikötter, ông cho rằng từ giữa năm 1958 đến 1962, nước Trung Hoa đang tụt dốc xuống đáy sau chủ trương bước nhảy vọt vĩ đại của Mao mong đuổi kịp nước Anh trong vòng 15 năm nữa. Chính sách của Mao đã đưa đến kết quả là có khoảng 45 triệu người rơi vào cảnh đói khát hay bị đánh đập đến chết, một trong những thảm họa giết người hàng loạt trong lịch sử nhân loại! Có những gia đình phải giết con để sống qua ngày.
Trong đó các trẻ em rồi đến phụ nữ là những nạn nhân hàng đầu bị hy sinh.
Frank Dikötter đã trích dẫn một câu nói lừng danh của Mao Trạch Đông:
Revolution is not a dinner party” (Frank Dikotter. Maos Great Famine. The History of China’s most devastating catastrophe. 1958-1962. Walker& Co, New York, 2010)


[DCVOnline: Nguyên văn phát biểu của Mao trong “Report on An Investigation Of The Peasant Movement In Hunan March 1927”
“Secondly, a revolution is not a dinner party, or writing an essay, or painting a picture, or doing embroidery; it cannot be so refined, so leisurely and gentle, so temperate, kind, courteous, restrained and magnanimous. A revolution is an insurrection, an act of violence by which one class overthrows another.”]

Đọc cuốn sách đó mà không đến lạnh người thì chắc không phải giống người. Những kẻ độc tài trên thế giới này, dù là độc tài cá nhân hay độc tài đảng thì chúng đều không phải giống người.
Tuy nhiên, nếu chúng ta chịu khó đọc lịch sử nước Tầu thì những điều tàn bạo của văn minh Tầu là như thế. Một nền văn minh mà sự tàn bạo, sự gian xảo là lẽ sống còn của họ.
“Rất nhiều người Âu Châu thường tưởng tượng ra tất cả người Tầu đều gian xảo và độc ác và họ để thời giờ ngồi nghĩ ra các cách trừng phạt (…) như tất cả các cô gái nhỏ người Tầu phải chịu đựng hàng ngàn loại tra tấn để làm thế nào không cho cái chân của họ phát triển bình thường.”


Nguồn: openendedsocialstudies.org
(Trích trong Tintin viết cho bạn của nó là Tchang trong Lotus Bleu. Trích lại trong số Les cahiers Science & Vie. Số 154, tháng 7- 2015. trang 20)
Một bức ảnh khác cho thấy cách tra tấn người tù nhân một cách dùng cực hình. Hai Tay xỏ qua hai lỗ của một tấm ván. Nằm sấp. Chân duỗi ra và cũng luồn qua hai lỗ ván. Trên lỗ ván, có ba người tìm cách xiết chặt các lỗ này làm nghiền nát mắt chân cá của phạm nhân.
(Hình chụp với nhan đề: Supplice: Les chevilles du condamné sont écrasées dans un étau. Gravure 1801. Trích lại trong Les cahiers Science & Vie, số 154, Ibid, trang 20).


Tra tấn ở Pháp (Praxis criminis persequendi – 1541 – par Jean de Mille -BNF) và Lăng trì ở Trung Quốc, Trung Quốc c1890. Xử lăng trì đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật vào năm 1905. ( Vintage Pump Park Photography / Alamy)
Vậy mà chỉ đến cuối thập niên 1980 – trong khi các nước Đông Âu đứng bên bờ vực thẳm thì Trung Hoa lại một mình trỗi dậy. Ngay cả biến cố Thiên An Môn vào mồng 4 tháng sáu năm 1989 cũng đã bị nhà cầm quyền Trung Hoa xóa sạch mọi dấu vết.
Bên cạnh đó, nhà cầm quyền Trung Quốc còn siết chặt tôn giáo như trường hợp Pháp Luân công (Falun Gong), dân thiểu số Tây Tạng và người Uighurs.
Nguyên nhân nào đã giúp nước Tầu vươn lên hàng cường quốc
Điểm quan trọng mà người viết muốn lưu ý bạn đọc là: Hầu như các tác giả Mỹ cũng như Tây Âu ít chú trọng đến biến cố “bắt tay” giữa Mao Trạch Đông và TT Nixon.


[DCVOnline: Truy cập bằng Google search người đọc sẽ có khoảng hơn 2 triệu kết quả từ những bài báo, luận văn nghiên cứu cho đến sách bằng Anh ngữ viết về “Mao và Nixon”; ví dụ “Sino-American Relations and Détente: Nixon, Kissinger, Mao and the One-China Policy, with special reference to Taiwan” (Luận án 2008) của Chun Yen Hsu (Chris); “Seize the Hour - When Nixon Met Mao” của Margaret MacMillan, “Ping-Pong Diplomacy: The Secret History Behind the Game that Changed the World” của Nicholas Griffin, “Nixon's” Women: Gender Politics and Cultural Representation in Act 2 of “Nixon in China”, của Matthew Daines đăng trên The Musical Quarterly Vol. 79, No. 1 (Spring, 1995), pp. 6-34, và vô số những tác phẩm khác.]

Cho đến năm 1970, ai muốn có chiếu khán vào nước Tầu thì phải xin chiếu khán ấy qua tòa đại sứ Canada ở Ottawa. Nước Tầu lúc đó bị cô lập, không có chân trong LHQ cũng như Việt Nam.
Nếu không có cú bắt tay này liệu Trung Quốc có thể dễ dàng ra vào nước Mỹ, lợi dụng xuất cảng ồ ạt, ăn cắp kỹ thuật, gửi sinh viên đi du học, ngay cả chi phối cuộc bầu cử của TT. Clinton.
Đây là một trong những bằng chứng xâm nhập.
Trong bài “Chinese denies seeking White House Visit” do Steven Mufson đăng trên tờ Washington Post Foreign Service, ngày chủ nhật 13 tháng 6 năm 1997, Trang A0I, trong đó một thương gia Trung Quốc có thế lực tên Wang muốn đóng góp vào quỹ tranh cử của Clinton qua trung gian một chủ nhà hàng tên Charles Yah Lin Trie, bạn lâu năm của TT Clinton. Việc này được phát ngôn viên chính phủ chính thức cho biết Trung Quốc đóng góp 2 triệu đô la cho Clinton. Về điều này thủ tướng Li Peng thời bấy giờ của Trung Quốc tại Bắc Kinh cũng lên tiếng phủ nhận.
Tôi chỉ tóm tắt sơ lược, không đưa ra kết luận, nhưng chủ ý nhấn mạnh vào những mánh khóe mua chuộc mà Trung Quốc rất có thể làm.
Nguồn: Henry A. Kissinger’














Cho đến nay thì có thể gọi đó là điểm sai lầm chiến lược của Mỹ và hậu quả của nó thì ngày hôm nay mới thấy rõ. Trong khi đó, người dân miền Nam hơn ai – là nạn nhân của chính sách của Mỹ – nên hiểu rõ cú bắt tay của đôi bên đưa đến chỗ Người Mỹ đã “hy sinh” miền Nam như thế nào.
Người được TT. Nixon giao trọng trách nối lại mối liên hệ đứt đoạn giữa Mỹ và Trung Quốc từ hơn 20 năm nay, kể từ sau chiến tranh Triều Tiên, không ai khác là tiến sĩ Henry Kissinger, cố vấn an ninh Quốc Gia của Nixon.
Trong Hồi ký của Kissinger ông cho hay ông đã qua lại Trung Quốc như con thoi cả thẩy 50 lần để tiếp xúc với các lãnh đạo Trung Quốc như Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.
Ông đủ khôn ngoan và láu cá khi cho rằng mục đích của các chuyến đi ấy chỉ vì muốn đi tìm hòa bình. ông viết:
“At the same time, all my life I have reflected on the building of peace, largely from an American perspective. I have had the good luck of being able to pursue these two stands of thinking simultaneously as senior official, as a carrier of messages, and as scholar.” (Henry Kissinger, “On China”, (2011) with a new afterword)


[DCVOnline: Ngay đoạn đầu tiên trong “Lời nói đầu” của cuốn “On China” (The Penguin Press, New York, 2011), tác giả Kissinger viết,
“Forty years ago almost to the day, President Richard Nixon did me the honor of sending me to Beijing to reestablish contact with a country central to the history of Asia with which America had had no high-level contact for over twenty years. The Ameri can motive for the opening was to put before our people a vision of peace transcending the travail of the Vietnam War and the ominous vistas of the Cold War.”
“Gần như đúng bốn mươi năm trước, Tổng thống Richard Nixon đã cho tôi vinh dự được gửi đến Bắc Kinh để tái thiết bang giao với một quốc gia là trung tâm trong lịch sử Châu Á mà nước Mỹ đã không có liên hệ cao cấp trong hơn hai mươi năm. Động cơ thúc đẩy Mỹ mở cửa với Trung Quốc là để trình bầy với nhân dân Mỹ một viễn tượng hòa bình vượt xa hơn cả những gì người Mỹ đang cố gắng trong Chiến tranh Việt Nam và những viễn cảnh đáng ngại của Chiến tranh Lạnh.”]

Người viết rất tiếc là không biết ông đã viết “Lời nói đầu” như thế nào của lần đầu tiên.
Nhưng Kissinger hơn ai hết đều hiểu rằng có một mối căng thẳng giữa Liên Xô- Stalin và sau này tiếp theo với Khruschev với Trung Quốc thời Mao Trạch Đông ngay từ Đại Hội Đảng của các nhà lãnh đạo Đông Âu ở Moskva vào năm 1957. Năm 1958, Khruschev đã phải thân hành sang Bắc Kinh để làm hòa dịu mối bất hòa giữa đôi bên.
Và đến tháng giêng năm 1972, TT Nixon sang Bắc Kinh. Cú bắt tay ấy tạo sự hòa dịu giữa đôi bên, đồng thời làm gẫy đổ một liên minh Sino-Soviet vốn đã mong manh từ thời Stalin.
Phải chăng, đấy là mục đích chính của Kissinger và TT Nixon, cô lập hóa sự liên minh giữa khối cộng sản với nhau? Và con đường tiếp cận với Mỹ mở ra cho Trung Quốc một tương lai đầy hứa hẹn như ngày nay?
Có phải đây là chuyện nuôi ong tay áo hay chuyện tò vò mà nuôi con nhện? Nixon đã không nhìn thấy mối hiểm nguy từ nước Tầu nên mua chuộc Tầu để làm giảm thế lực của khối cộng sản.
Vậy mà trong cả cuốn sách của ông Kissinger, dày 604 trang, xuất bản năm 2011, người viết không tìm thấy “một cái nhìn lại” chính sách sai lầm của Nixon như thế nào ?
Nhưng trong một cuốn sách khác cũng của ông, “Henry Kissinger. À la Maison Blanche 1968-1973”, ông lại dành 98 trang để nói về cái mà ông gọi là “Les affaires du Viêt Nam” (Vấn đề Việt Nam). Ông viết:
“Cho mãi đến tận bây giờ, tôi không thể nói về Việt Nam mà không cảm thấy một nỗi phiền muộn, một nỗi buồn sâu xa nhất.” (H. Kissinger. À la maison Blanche 1968-1973).
Đọc suốt gần trăm trang tài liệu này, người viết thấy ông không tin tưởng chiến thắng cuối cùng nào của VNCH. Vì thế, ông đã ngỏ ý riêng với TT Nixon là mời Sainteny sang hội kiến với Nixon. Đó là ngày 15-7 năm 1969. Và yêu cầu Sainteny – một nhà ngoại giao Pháp thân thiện với HCM – làm trung gian giao thiệp với Xuân Thủy một cách hoàn toàn bí mật. Nhưng Xuân Thủy chỉ là thứ công chức không có quyền quyết định gì. Người có quyền hành chính trị chính là Lê Đức Thọ.
Muốn hiểu cuộc thương thuyết và kết quả là Hiệp Định Ba Lê như thế nào, bạn đọc có thể tìm đọc một cuốn sách khá đầy đủ của phe cộng sản hai biên tập viên là: Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ nhan đề “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ-Kissinger tại París”.
Một tài liệu khác của bà Han Suyn đưa ra một số chi tiết mà Kissinger đã bỏ trong Hồi ký của ông. Tác giả Han Suyn cho rằng vào tháng 8, năm 1969, TT Nixon và ông H. Kissinger đã sang Romania. Tại nơi đây, họ đã bàn thảo về mối liên hệ Đông-Tây, trong đó đề cập đến Liên Xô và Trung Quốc.
Đối với vấn đề Á Châu thì Nixon khẳng định rõ ràng, dứt khoát: Máu của người Mỹ phải ngừng chảy ở đây. Chiến tranh Việt Nam phải được Việt Nam hóa.
Đối với Trung Quốc, lần đầu tiên, Nixon dùng chữ: Cộng Hòa nhân dân Trung Quốc. Đó chứng tỏ một hảo ý từ phía Nixon. Tiếp theo đó là những nhượng bộ nhỏ như công dân Mỹ đến nước Trung Hoa nay có quyền mua 100 đô la hàng hóa của Tầu mang về Mỹ. Các công ty Mỹ bắt đầu liên hệ thương mại với nước Tầu.
Nhưng quan trọng hơn là qua trung gian nhà báo Edgar Snow, Han Suyn viết:
“Ngày 1 tháng 10, Mao đã yêu cầu nhà báo Edgar Snow và bà vợ ông đứng bên cạnh ông trong buổi lễ tại khán đài La Paix céleste; Đó là một dấu hiệu tốt. Đến tháng 12-1970, Mao Trạch Đông cũng đã dành cho Snow một buổi phỏng vấn và Mao Trạch Đông đã trả lời công khai điều mà người ta trông đợi ở ông: “ông rất vui mừng được tiếp chuyện với TT Nixon, bởi vì ông Nixon là TT được nhân dân Mỹ bầu lên, ông Nixon có thể đến nước Tầu với tư cách một khách du lịch hay một tổng thống, Nixon sẽ được đón tiếp ở đây.” (Han Suyn. Le premier jour du monde, trang 432-433)
Trở về Mỹ, Snow cho đăng bài phỏng vấn của Mao Trạch Đông trên tờ Life, 30-4-1971.
Cũng vào tháng tư, một phái đoàn thể thao Ping-pong của Mỹ đến Bắc Kinh. Cho đến năm 1971, Kissinger từ Pakistan sang Bắc Kinh gặp Thủ tướng Chu Ân Lai để chuẩn bị cho chuyến viếng thăm chính thức của TT Nixon vào tháng 2-1972. Tháng 10, nước Tầu chính thức vào Liên Hiệp Quốc và công việc bình thường hóa giữa Mỹ với Trung Quốc, có nghĩa loại bỏ Đài Loan.
Một quá trình đối đầu căng thẳng và Mao Trạch Đông đánh giá công việc của Nixon đã làm là vô giá. Việc Nixon sang nước Tầu là một trong những biến cố lơn lao nhất được trình chiếu trên Vô Tuyến truyền hình và truyền thanh tại Trung Quốc cũng như trên toàn thế giới. Đây có thể ví như một bước nhảy vĩ đại về chính trị giữa hai nước chẳng khác gì việc đặt chân lên mặt trăng của Mỹ.
Mao tuyên bố, “Thời gian và lịch sử đứng về phía chúng ta.
Thật đúng vậy, nước Tầu được tất cả và Mỹ được gì? Mao nay có thể làm ăn buôn bán chẳng những với Mỹ và tất cả các nước Tây Âu khác theo chân Mỹ. Mối lo ngại tranh chắp biên giới với Nga cũng sẹp xuống cũng như với Ấn Độ. Tham vọng làm thay đổi thế giới, thay đổi con người dần dần lộ diện!
Phần Nixon đã gửi riêng cho Hồ Chí Minh một lá thư. Và cảnh ngoại giao đi đêm bắt đầu với đầy vẻ bí mật và mánh khóe che đậy như sang Paris là để gặp Tổng thống Pompidou lúc bấy giờ; chính ở Paris, ông Kisinger đi găp Sainteny.
Sự tiết lộ này của Kissinger cho thấy, chính quyền Nixon đã bán đứng Việt Nam cho cộng sản Hà Nội. Và Việt Nam hoàn toàn không biết gì cái giai đoạn khởi điểm này.
Xin trích lại nguyên văn:
“Nous optames pour la première suggestion. Une lettre personnelle de Nixon à Ho Chi Minh fut rédigée. Nous demandames à Sainteny de la remettre en mains propres. La lettre insistait sur notre volonté de paix, proposait de discuter des plans de Hanoi en même temps que des nôtres, et concluait en ces termes:
“L’heure est venue de s’acheminer, à la table de conférence, vers une résolution rapide de cette guerre tragique. Vous nous trouvenez disponibles, prêts à apporter avec vous, dans un effort commun, les bienfaits de la paix au courageux peuple du Vietnam. Que plus tard l’on puisse dire qu’en cet ínstant critique les deux parties ont choisi la paix plutôt que le conflit et la guerre.” (Henry Kissinger, À la Maison Blanhce 1968-1973, Fayard, 1979, trang 290-291.
Chúng tôi đã chọn giải pháp đầu tiên. Một lá thư riêng của TT. Nixon được thảo ra và được gửi cho Hồ Chí Minh. Chúng tôi đã yêu cầu Sainteny đưa tận tay cho Hồ Chí Minh. Lá thư nhấn mạnh đến ý muốn của chúng tôi là mong muốn hòa bình và đề nghị thảo luận những kế hoạch từ phía Hà Nội và cả từ phía chúng tôi và lá thư đã được kết thúc bằng những dòng sau đây.
“Đã đến thời điểm phải đi đến bàn Hội Nghị để tìm ra một giải pháp nhanh chóng về cuộc chiến bi đát này. Các quý ông sẽ thấy chúng tôi đã sẵn sàng trong một nỗ lực chung để đem lại những điều tốt đẹp cho hòa bình cho người dân Việt Nam can đảm. Và để sau này người ta có thể nói rằng ngay trong những giờ phút khó khăn này hai bên đã chọn hòa bình thay vì những xung đột và chiến tranh.”
Lá thư gửi đi ngày 15-7 thì hơn tháng sau, HCM trả lời Nixon vào ngày 30-8-1969. Chỉ ba ngày sau thì HCM chết bằng một giọng điệu cứng rắn và sắt máu không thưa gửi Tổng thống như Nixon đã làm. Đại khái chúng tôi sẽ chiến đấu tới cùng không ngại những hy sinh và khó khăn gặp phải. Rồi yêu cầu này nọ đủ thứ.
Tôi thiết nghĩ cũng cần đưa ra lá thư trả lời của Hồ Chí Minh mà tôi đã không tìm thấy trong các tài liệu bằng tiếng Việt. Lá thư có một phần nội dung như sau:
“Dân tộc Việt Nam chúng tôi rất tha thiết vào hòa bình, một hòa bình thực sự với sự dành được độc lập và tự do. Dân tộc Việt Nam cũng quyết tâm chiến đấu đến cùng, không ngaị hy sinh hay những khó khăn gặp phải, để bảo vệ sự sống của mình và bảo vệ những quyền lợi thiêng liêng của đất nước. Chương trình tổng quát 10 điểm, do Mặt trận thống nhất dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và của chính quyền Cách Mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là cơ sở căn bản hợp lý để giải quyết vấn đề Việt Nam. Chương trình ấy được sự hưởng ứng đồng thuận và ủng hộ của các dân tộc trên toàn thế giới.
Ngài đã viết trong lá thư bày tỏ ý muốn đạt tới một nền hòa bình dựa trên sự công bằng. Từ đó, Chúng tôi yêu cầu phía chính quyền Mỹ phải chấm dứt việc xâm lấn và rút quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam và tôn trọng quyền của dân chúng miền Nam cũng như tôn trọng quyền của người dân miền Nam mà không có sự can thiệp của người ngoại quốc. Đó là cách thức đứng đắn để giải quyết vấn đề Việt Nam.” (H. Kissinger À la Maison Blanhche, 1968-1973, trang 295)
Lá thư mà nội dung toàn là những lời lẽ khuôn mẫu thuộc lòng và khô lạnh, không một chút hé lộ bất cứ một sự nhượng bộ dù nhỏ nhoi nào. Đòi Mỹ rút quân, nhưng không đả động gì đến việc đòi quân đội cộng sản rút về Bắc.


[DCVOnline: Văn bản chính thức (bằng tiếng Anh) của lá thư Nixon gởi Hồ Chí Minh (đề ngày 15 tháng 7, 1969, công bố ngày 3 tháng 11, 1969) và thư Hồ Chí Minh gởi Nixon (viết ngày 25 tháng 8, 1969). Nguồn: Richard Nixon: “Letters of the President and President Ho Chi Minh of the Democratic Republic of Vietnam.,” November 3, 1969. Online by Gerhard Peters and John T. Woolley, The American Presidency Project.
Tuy nhiên, theo Cheng Guan Ang viết trong cuốn “Ending the Vietnam War: The Vietnamese Communists' Perspective” do Routledge xuất bản năm 2004, ở trang 26: 1/ Mỹ nhận được thư của Hồ Chí Minh ngày 30 tháng 8, 1969; 2/ Hồ không đọc và cũng không trả lời thư của Nixon; 3/ Vũ Kỳ, thư ký của Hồ Chí Minh, cho biết vào cuối tháng 8 Hồ Chí Minh đã không còn sức làm việc, không tiếp phái đoàn Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam ra miền Bắc từ 16-20. Tin của Trung Quốc cho biết bệnh tình của Hồ đã nguy kịch vào cuối tháng 8 và bị đã hôn mê, rồi sau đó chết vào ngày 2 tháng 9, 1969. Do đó có thể cho rằng lá thư Nixon nhận được không thể nào do Hồ Chí Minh viết.]
Trong khi quân đội VNCH vẫn xả thân chiến đấu thì trên Bàn Hội Nghị, phía Hà Nội đòi hỏi loại bỏ Thiệu, Kỳ và Hương để lập một chính phủ Liên Hiệp trước khi họ muốn nói chuyện.
Tôi viết lại những dòng này để thế hệ sau đọc cho biết. Còn thế hệ chúng tôi coi như bỏ.
Memoirs của Andrei Gromyko tiết lộ nhiều chi tiết liên quan đến chủ nghĩa Bá quyền Trung Quốc.
Cuốn Hồi ký của ngoại trưởng Gromyko giúp người đọc hiểu biết được nhiều truyện bí mật trong khối cộng sản Quốc Tế. Do là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, làm việc dưới nhiều đời Tổng Bí Thư cộng sản, giao thiệp nhiều, khôn ngoan và lịch thiệp nên quen biết hầu hết các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới ở cả hai phía.
Hồi ký của Andrei Gromyko. Nguoodn: Amazon UK















Cuốn Hồi ký không dầy lắm, 353 trang, nhưng hầu như điểm mặt và đưa ra những nhận xét khá khách qua`n về các sự kiện lịch sử của một nhà nhà giao chuyên nghiệp. Tôi nhận thấy có nhiều điểm tương đồng giữa ngoại trưởng Gromyko và Thủ tướng Chu Ân Lai.
Trong hồi ký của Gromyko, phần dành cho vấn đề bang giao giữa Liên Xô-Trung Quốc là một trong những tài liệu quý hiếm. Đọc phần tài liệu này, mặc dầu không nhiều, nhưng cũng giúp người đọc nắm được phần nào mối liên hệ tay đôi của hai nước cộng sản anh em, và giúp hiểu rõ hơn, tại sao Hoa Kỳ đã bắt tay với Mao Trạch Đông.
Mối liên hệ Stalin-Mao Trạch Đông lạnh nhạt và đi đến đối đầu
Cho đến nay thì người ta thấy rằng trong khoảng 70 năm trước đây – kể từ khi Mao Trạch Đông thống nhất toàn bộ nước Tầu, mối liên hệ Nga-Hoa bên không bình thường.
Bỏ qua những vấn đề nội bộ của hai bên, người ta thấy có thể có một xung đột về cá tính giữa Mao-Stalin. Mao Trạch Đông luôn giữ tính cách độc lập trong mọi chính sách nội bộ cũng như sự giao thiệp với các nước khác. Không hề bàn thảo hay thông báo cho nước cộng sản anh em Liên Xô những gì mà Trung Quốc làm.
Lần đầu tiên khi lên nắm chính quyền vào năm 1949, Mao Trạch Đông có sang Liên Xô từ tháng 12-1949 đến tháng 2-1950.
Mặc dầu chính quyền Liên Xô tổ chức một buổi đón tiếp rất trân trọng, tỉ mỉ từng chi tiết một biểu lộ tình bạn bè giữa đôi bên. Hai bên cũng đã có thỏa thuận với nhau trong mối quan hệ giữa hai đồng minh để ký vào ngày 14-2-1950 trước khi Mao Trạch Đông về nước.
Thế nhưng đó có thể chỉ là việc trên giấy tờ mà nội dung cụ thể vẫn là phải tiến hành trên bình diện con người.
Một bữa tiệc đã được tổ chức tại khách sạn Metropolitain do Stalin và các ban lãnh đạo Sô Viết chủ trì. Gần như hai vị lãnh đạo hai nước hầu như không nói với nhau. Gromyko nhận xét:
“Even so, I was not the only one to notice that conversation between the two leaders, who sat side by side at dinner, was sporadic, to say the least. They would exchange a few phrases, through an interpreter of course, and then a seemingly endless pause would ensue. I sat sitting opposite and did my best to help them out, but without much success. My chief impression was that they did not have enough in common of a personal nature to make the necessary minimum of contact.” (Andrei Gromyko “Memoirs”, Lời tựa của Henry Kissinger, Bản dịch của Harold Shukman. 1989, trang 248-249)
Vài ngày sau, tình trạng lạnh nhạt ấy cũng không thay đổi gì.
Sang đến 1957, tình trạng lạnh nhạt giữa đôi bên nay không còn là giữa hai nhân vật mà là giữa hai nước càng ngày càng trở nên tồi tệ hơn.
Mao Trạch Đông lại sang Moskva lần thứ hai. Và lần này gặp riêng Gromyko. Mao hứa không làm cho tình trạng đôi bên căng thẳng hơn và cần phải sát cánh bên nhau để tranh đấu cho hòa bình.
Cũng theo sự nhận xét riêng của ông Gromyko thì Mao mong muốn Trung Quốc trở nên một siêu cường, nhất là trong lãnh vực kinh tế. Và ông cứ nhắc đi nhắc lại: Mỹ chỉ là một con hổ giấy. Ông trù liệu là Mỹ có thể dùng bom nguyên tử tấn công nước Tầu. Và ông chờ đợi điều đó xảy ra và để cho quân đội Mỹ lấn sâu vào trong đất liền, lúc đó Mao mới ra tay. Gromyko sững sờ khi nghe Mao trình bày như vậy về cách thí quân.
Tháng 10, năm 1959, một phái đoàn Liên Xô một lần nữa sang Bắc Kinh. Dẫn đầu là Khrushchev cùng với các Suslov, Nikolaev và Gromyko.
Một lần nữa, nhiều bất đồng nữa nổi lên giữa đôi bên. Trong đó có tranh cãi về việc khai thác nguồn lợi thiên nhiên tại sông Amurn và việc thiết lập một đường xe lửa qua các vùng Xinjiang-Uyghur-Kazakhstan.
Với một biên giới rộng và trải dài như vậy, cộng thêm rất nhiều tài nguyên thiên nhiên, cộng thêm vốn liếng văn hóa cổ truyền bắt buộc hai bên phải ngồi lại thảo luận để nhìn nhận nhu cầu quan trọng của láng giềng và tình bạn. Phải củng cố tình bạn giữa các nước XHCN.
Cuốn Hồi ký của một nhà ngoại giao như Gromyko là nên đọc và phải đọc.
Ông đề cập đến mọi vấn đề tranh chấp Quốc tế cũng như những nhà lãnh đạo cả hai phía.Vậy mà rà soát đi soát lại, người viết đã không tìm thấy dù chỉ một vài dòng nói về chiến tranh Việt Nam cũng như các nhà lãnh đạo như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, v.v.. Theo thói quen, đọc phần Index vẫn không tìm ra tên một nhân vật cộng sản Việt Nam nào.
Điều đó cho thấy Stalin và cả Gromyko có vẻ coi thường và không cần che dấu sự đánh giá thấp lãnh đạo miền Bắc như những kẻ án bám.
Đây hẳn là một nỗi nhục của đám lãnh đạo miền Bắc, mỗi lần sang chầu chực nhờ vả Liên Xô. Việc Hồ Chí Minh sang Liên Xô mà mới đầu Stalin không muốn tiếp ai cũng biết cả.
Sự coi thường ấy hiểu được vì họ chỉ là thứ ăn mày đi nhờ vả kẻ mạnh. Việt Nam là con số không đối với Gromyko và nhất là đối với Stalin.
Khám phá này đối với người viết là một điều nhục nhã cho tập đoàn cộng sản Hà Nội.
Trong cái dở có cái may Sự tranh chấp đối đầu giữa Stalin và Mao Trạch Đông là một sự kiện hiển nhiên. Stalin còn tìm cách đỡ đầu Lâm Bưu để tìm cách lật đổ và ngay cả ám sát Mao Trạch Đông. Nhưng công việc bất thành. Moskva còn tấn công Trung Quốc bằng ngoại giao ve vãn các nước tư bản như qua các tòa đại sứ Mỹ tại Washington, tại Paris, tại Bonn và Londres về thảm họa Péril jaune (Hiểm họa da vàng, tiếng Anh: Yellow Peril). Người viết thắc mắc không biết cụm từ này có phải do Liên Xô đưa ra hay không?


[DCVOnline: Hiểm họa da vàng (tiếng Anh: Yellow Peril) là thuật ngữ xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 ám chỉ việc những công nhân và phu phen người Trung Quốc nhập cư đến các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ; sau đó vào giữa thế kỷ 20, thuật ngữ này còn liên quan đến người Nhật với việc Nhật Bản bành trướng quân sự. Có nhiều nguồn cho rằng Kaiser Wilhelm II là người đã tạo ra cụm từ “hiểm họa da vàng” (tiếng Đức: gelbe Gefahr) vào tháng 9 năm 1895. Wilhelm II đã cho vẽ một bức chân dung với tiêu đề này. Bức tranh mô tả cảnh tổng lãnh thiên thần Michael biểu trưng cho nước Đức, ra lệnh chống lại mối đe dọa từ châu Á, đại diện là bức tượng một vị Phật bằng vàng, thường được treo trên tất cả cá tàu trên con đường biển Hamburg - Hoa Kỳ. Dường như bức họa do chính Kaiser Wilhelm II vẽ. Nguồn: Daniel C. Kane, introduction to A.B. de Guerville, “Au Japon, Memoirs of a Foreign Correspondent in Japan, Korea, and China, 1892-1894” (West Lafayette, IN: Parlor Press, 2009), p. xxix]

Trong cuộc tranh chấp giữa đôi bên về hòn đảo Chen Pao. Người Trung Hoa đã vận dụng các cuộc biểu tình lên đến 300 triệu người với biểu ngữ: “Đả đảo bọn Nga Hoàng mới.”
Thời Brezhnev, tháng giêng 1967. Ông ra lệnh cho điều 13 sư đoàn lính Nga dàn quân ra biên giới trước hiểm họa Cuộc Cách mạng văn hóa của Tầu..
Ở vào thế kẹt trong vụ tranh chấp giữa hai quan thầy, vì thế, trong chúc thư để lại trước khi chết vào đầu tháng 9, họ Hồ mong mỏi hai nươc đàn anh tìm được sự hòa giải.
Đại diện trong đám tang Hồ Chí Minh, có Chu Ân Lai về phía Tầu, Kosygin phía Nga hẳn là cả hai đều đã nhận được chúc thư của Hồ Chí Minh.
Trên đường trở lại Nga, Kosygin đã ghé qua Bắc Kinh gặp Chu Ân Lai và họ Chu đã đưa ra ba đề nghị: Giữ tình trạng status quo về tranh chấp biên giới; giải giới quân đội hai bên ở một khoảng cách chiến lược, ở những điểm nhạy cảm để tránh các cuộc nổ súng; chấm dứt các vụ tuyên truyền đả phá trên báo chí, đài phát thanh trong thời gian hai bên thương thuyết, v.v..
Cuối cùng chẳng biết việc ám sát Mao có thật hay giả, con “gà nòi” Lâm Bưu cùng với vợ là Yeh Chun, người con trai là Lin Likuo và 6 đồng chí khác đã tẩu thoát trên một chiếc máy bay Trident. Nhưng chẳng may máy bay bị rớt ở Nội Mông, tại vùng Oundour Khan. (Han Suyn. “Le premier jour du monde”, Stankes/Stock các trang từ 417- 423)
Chính sự tranh chấp giữa hai nước XHCN Tầu và Liên Xô đã mở đường cho nước Tầu có một địa vị trong thế giới tự do mà trước đây họ không thể có. Trước đây, nước Tầu trù tính có thể phải phải đối đầu cùng một lúc với bốn kẻ thù là: Mỹ, Liên Xô, Ấn Độ theo Liên Xô, Nhật ngả về phía Mỹ.
Han Suyn đã phỏng vấn Chu Ân Lai vào năm 1971. Chu Ân Lai trả lời là:
“Nước Tầu phải sẵn sàng, trong mọi trường hợp đẩy lui sự xâm chiếm của một trong hai siêu cường, hoặc hai siêu cường cùng một lúc. Và trong một tình huống tệ hơn, nước Tầu phải đối đầu với 4 nước cùng một lúc.” (Han Suyn, Ibidm trang 425)
Tình huống ấy đã không xảy ra vì cú bắt tay với Nixon! Phải nói là trong cái rủi có cái may cho nước Tầu, nhờ đó có cơ hội trở thành cường quốc trên thế giới.
Bởi vì dưới mắt Mao Trạch Đông, Á Châu phải do người Á Châu tự giải quyết. Vì thế, để chuẩn bị cho tình huống có thể xảy ra. Mao Trạch Đông đã kêu gọi dân Tầu: Hãy đào sâu các đường hầm, hãy tích trữ ở khắp nơi lúa gạo,, v.v.” Vì thế, mọi thành phố đều đào những đô thị ngầm dưới đất có tích trữ lương thực đầy đủ. Cho dù chiến tranh không xảy ra đi nữa thì tốt hơn hết cứ đề phòng những tình huống xấu nhất có thể xảy ra.
Vậy mà có một chiều hướng chính trị thuận lợi đã làm thay đổi tất cả.
Một nước Tầu ngày hôm nay, một tham vọng bá chủ toàn cầu theo đúng tham vọng của Mao Trạch Đông đề ra ngay từ khi làm chủ nước Tầu năm 1949. Nhưng lời căn dặn của Đặng Tiểu Bình dặn các thế hệ sau: Hãy kiên nhẫn, ẩn mình. Phải chăng lời căn dặn ấy vẫn còn có giá trị. Phải chăng cái tội lớn nhất của Tập Cẩn Bình là phô trương quá lộ liễu sức mạnh kinh tế lẫn quân sự làm mất niềm tin nơi nhiều quốc gia chậm tiến?
Cái sai lầm về chính sách của Nixon bắt tay Tầu, chia rẽ hai đại cường cộng sản nay còn có chút hy vọng Mỹ tìm lại được sức mạnh vốn có của mình nhờ sụ liên minh với phần đông các nước kỹ nghệ cả trên đất liền và cả trên biển, nhất là trên biển với liên minh với Ấn Độ? Hơn một tỷ người Trung hoa được thay thế bằng một tỉ người Ấn Độ ?
Đó là một chọn lựa khôn ngoan nhất hiện nay với chính sách xoay trục này để thấy ai xử dụng được sức mạnh mềm thì kẻ đó thắng.
Nguyễn văn Lục 
© 2019 DCVOnline

Blog Archive