Showing posts with label Trần Trung Đạo. Show all posts
Showing posts with label Trần Trung Đạo. Show all posts

Saturday, January 10, 2026

SỐ PHẬN NICOLAS MADURO VÀ VIỄN ẢNH VENEZUELA

Một căn bệnh không thuốc nào chữa mà những kẻ độc tài đều mắc phải là mê quyền lực. Ngoại trừ một số chết già vì điều kiện cách mạng dân chủ tại quốc gia họ cai trị chưa đến điểm chín muồi, một phần không nhỏ đã chết một cách thê thảm bằng những cực hình mà họ chưa bao giờ tưởng tượng ra khi còn nắm quyền sinh sát.

Nicolas Maduro học thuộc những kết liễu thê thảm của Muammar Gaddafi, Saddam Hussein, Ali Abdullah Saleh, Nicolae Ceausescu và nhiều người khác.

Nicolas Maduro học thuộc bài học Grenada 1983 dưới thời TT Ronald Reagan dẫn tới sự sụp đổ của chế độc tài Marxist Bernard Coard.

Nicolas Maduro học thuộc bài học Panama dưới thời TT George H. W. Bush 1990 dẫn tới việc bắt giữ tướng Manuel Noriega. Noriega nguyên là một đồng minh với Mỹ bị kết án 40 năm tù, sau đó được giảm xuống 30 năm, về tội buôn bán ma túy. Ông qua đời tại Panama City năm 2017 ở tuổi 83.

Học thuộc là một chuyện nhưng chữa khỏi bệnh mê quyền lực đã ăn sâu vào trong xương tủy là chuyện khác. Vi trùng quyền lực bám lấy Maduro cho đến giờ phút cuối cùng.

Nicolas Maduro có nhiều cơ hội bước xuống một cách hợp hiến, hợp pháp và rời Venezuela để sống một cách bình yên, nhàn hạ với vợ và con ở một quốc gia chấp nhận ông như Qatar chẳng hạn.

Mỹ tấn công Venezuela nhằm loại bỏ Nicolas Maduro cũng không phải bất ngờ. Theo Reuters, đàm phán cho một sự rút lui của Nicolas Maduro kéo dài nhiều tháng trước. Việc đánh chìm các tàu bè “chở ma túy” trong vịnh Caribbean là những cảnh cáo cho Maduro biết một hành động quân sự quy mô hơn nhắm vào ông ta, sau khi không phận Venezuela bị đóng, sẽ xảy ra và vừa xảy ra.

Maduro, 63 tuổi, từ một tài xế xe bus, chưa học hết bậc trung học, đã thăng tiến nhanh chóng nhờ sự nâng đỡ của nhà độc tài Hugo Chavez qua nhiều chức vụ quan trọng như Chủ tịch Quốc Hội, Bộ trưởng Ngoại Giao, Phó Tổng thống, và cuối cùng là Tổng thống Venezuela. Khi chiếm được quyền lực, Maduro cai trị bằng sắc lệnh một hình thức độc tài do chính đảng Xã Hội Chủ Nghĩa Đoàn Kết Venezuela (United Socialist Party of Venezuela) do ông ta lập ra và tự trao quyền.

Cuộc bầu cử tổng thống 2024 là một cuộc bầu cử gian lận. Theo bản tin của AP loan ngày 30 tháng 7, 2024, ứng cử viên Edmundo González tuyên bố có bằng chứng số phiếu bầu cho ông ta nhiều gấp đôi số phiếu của Nicolas Maduro. Trên khắp Venezuela các cuộc biểu tình nổ ra đòi Maduro phải bước xuống. Carter Center, một tổ chức theo dõi các cuộc bầu cử lớn trên thế giới, nhận xét: “Cuộc bầu cử tổng thống năm 2024 của Venezuela không đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về tính liêm chính bầu cử và không thể được coi là dân chủ.”

Mỹ và trên 50 quốc gia trong đó có Cộng Đồng Âu Châu không công nhận Nicolas Maduro.

Tại Nam Mỹ, một loạt các quốc gia như Argentina, Brazil, Chile, Colombia, Costa Rica, Ecuador, Guatemala, Honduras, Panama, Paraguay, Peru lên tiếng công nhận tổng thống Juan Guaidó.

Trong quan điểm của Mỹ, vị trí của Maduro hôm nay không khác gì nhiều so với vị trí của tướng Manuel Noriega năm 1990. Năm 1989, Noriega cũng giải tán quốc hội và tiếm quyền.

Học Thuyết Monroe (The Monroe Doctrine) Và Vận Mệnh Hiển Nhiên (Manifest Destiny)

Thuyết Monroe chủ trương chống lại sự can thiệp của châu Âu đối với Mỹ và các nước Mỹ Châu bắt đầu từ thời TT James Monroe vào năm 1823. Đây là một trong những lý thuyết chính trị có ảnh hưởng lâu dài nhất trong lịch sử bang giao quốc tế của Hoa Kỳ.

“Học thuyết Monroe là chính sách nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ đối với Tây bán cầu. Được giấu kín trong một thông điệp thường niên gửi đến Quốc hội của Tổng thống James Monroe vào tháng 12 năm 1823. Học thuyết này cảnh báo các quốc gia châu Âu rằng Hoa Kỳ sẽ không dung thứ cho việc thuộc địa hóa thêm nữa hoặc các chế độ quân chủ bù nhìn. Học thuyết này được hình thành để đáp ứng những mối quan ngại lớn của thời điểm đó, nhưng nó nhanh chóng trở thành khẩu hiệu trong chính sách của Hoa Kỳ ở Tây bán cầu.” (Monroe Doctrine, 1823, Office of Historian, State Department)

“Vận Mệnh Hiển Nhiên” (Manifest Destiny) , xuất hiện khoảng 1845, là một câu nói được biết do nhà báo John L. O'Sullivan viết đầu tiên. Câu nói này lúc đầu có tính cách dân gian nhưng sau đó đã trở thành một thúc giục tinh thần cho nước Mỹ còn non trẻ để khai phá và mở rộng lãnh thổ về phía tây.

Điểm khác nhau căn bản giữa Mỹ và các thế lực bành trướng khác, sự mở rộng của Mỹ không dẫn tới phong kiến hóa hay thuộc địa hóa vùng đất mới mà “dẫn dắt thế giới trong quá trình chuyển đổi sang chế độ dân chủ.” (John O’Sullivan Declares America’s Manifest Destiny, 1845, The United States Magazine and Democratic Review, Volume 17)

Chính trị Mỹ có thể khác nhau về cách áp dụng trong từng giai đoạn nhưng Mỹ luôn đề cao giá trị dân chủ. Một khi các lực lượng dân chủ đủ mạnh để đứng lên lật đổ chế độ độc tài và không làm phương hại đến quyền lợi của Mỹ, chính phủ Mỹ luôn chọn đứng về phía lực lượng dân chủ.

Trên nguyên tắc, lý thuyết Monroe chấm dứt sau Đại Suy Thoái (1932) khi các tổng thống Herbert Hoover và Franklin D. Roosevelt cải thiện quan hệ với các nước Châu Mỹ Latin.

Tuy nhiên trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, thuyết này lại được áp dụng một cách rộng rãi bởi nhiều tổng thống Mỹ như TT John F. Kennedy trong biến cố Vịnh Con Heo, Cuba và TT Ronald Reagan trong chiến tranh chống chế độ CS Sandinistas tại Nicaragua.

Thế giới thay đổi nhiều sau thập niên 1990. Các chính sách quân sự, đảo chánh hay lật đổ chính phủ thời Chiến Tranh Lạnh không còn được áp dụng. Tuy nhiên, mục đích “lục địa Mỹ châu của người châu Mỹ” xác định trong thuyết Monroe vẫn còn được bảo vệ bằng nhiều cách.

Quyền Lợi Nước Mỹ Và Công Pháp Quốc Tế

Trong lịch sử Mỹ, công pháp quốc tế và quyền lợi nước Mỹ không phải lúc nào cũng song song. Lịch sử Mỹ để lại nhiều bài học về sự mâu thuẫn giữa quyền lợi quốc gia và công pháp quốc tế, và Mỹ đã chọn bảo vệ quyền lợi quốc gia.

Nhiều tổng thống Mỹ từ Ulysses S. Grant, Theodore Roosevelt, John F. Kennedy, Ronald Reagan tới George H. W. Bush và hôm nay Donald Trump đều đã áp dụng Thuyết Monroe để bảo vệ vùng quyền lợi và an ninh của Mỹ ở Châu Mỹ.

Việc tấn công Venezuela và bắt sống Maduro sáng ngày 3 tháng 1, 2026, chắc chắn gây nhiều phản ứng tùy thuộc vào mối quan hệ giữa các quốc gia với chế độ Maduro. Không ngạc nhiên khi Nga, Iran, Trung Cộng là những nước đầu tiên kết án Mỹ.

Đây cũng không phải lần đầu. Khi tấn công Grenada và Panama, Mỹ đã bị kết án bởi hầu hết các tổ chức quốc tế trong đó có Liên Hiệp Quốc, Hiệp Hội Các Quốc Gia Mỹ Châu (The Organization of American States (OAS), Quốc Hội Âu Châu (The European Parliament). Ngay cả đồng minh thân cận nhất của TT Reagan thời đó là bà Margaret Thatcher cũng phàn nàn việc Mỹ xâm lăng Grenada vì Grenada vốn là thuộc địa của Anh.

Ai Quyết Định Tương Lai Của Một Dân Tộc?

Tuy nhiên, yếu tố quyết định tương lai của một dân tộc dĩ nhiên không phải là các nhà độc tài, cũng không phải Mỹ mà là chính người dân nước đó.

Trong lúc người dân không thể thay đổi được cục diện thế giới, họ có thể thay đổi được chính họ.

Các cấp lãnh đạo mới nhìn vào thực tế đất nước và vận dụng được thế cờ quốc tế để có lợi cho hướng đi của đất nước họ. Nhìn đúng như Nhật Bản sau Thế Chiến Thứ Hai sẽ mở ra cánh cửa tương lai, nhìn sai như Afghanistan sau 2001, cánh cửa tương lai sẽ đóng lại.

Đại đa số dân Panama ủng hộ việc Mỹ loại bỏ Noriega và vận dụng cơ hội để thăng tiến Panama dân chủ.

Trong tác phẩm “Exiting the whirlpool : U.S. foreign policy toward Latin America and the Caribbean”, Robert Pastor, Giáo sư Quan Hệ Quốc Tế tại Đại Học American viết:

“Cuộc xâm lược bị chỉ trích trên toàn thế giới, nhưng khi đó lại được đánh giá là thành công ở Panama và Hoa Kỳ. Một cuộc thăm dò của CBS News tại Panama vào đầu tháng 1 cho thấy 92% người trưởng thành ở Panama tán thành việc gửi quân, và 76% mong muốn Hoa Kỳ đã gửi quân trong cuộc đảo chính hồi tháng 10. Người dân Mỹ cũng tán thành cuộc xâm lược: 74% cho rằng nó là chính đáng, và chỉ 7% nghĩ rằng Hoa Kỳ không nên hành động như vậy. Quan trọng hơn, cuộc xâm lược đã cải thiện đáng kể uy tín của Bush so với các nước khác. (Robert Pastor, Exiting the whirlpool : U.S. foreign policy toward Latin America and the Caribbean, 1992)

Cũng trong tác phẩm nêu trên tổ chức nhân quyền hàng đầu thế giới là Human Rights Watch mô tả thái độ của người dân Panama là “có thiện cảm” với cuộc tấn công của Mỹ.

Đại đa số dân Grenada ủng hộ việc Mỹ loại bỏ chế độ Marxist tại Grenada và vận dụng cơ hội để thăng tiến Grenada dân chủ.

Theo New York Times số ra ngày 6 tháng 11, 1983, ký giả Adam Clymer tường thuật: “Theo một cuộc thăm dò ý kiến do CBS News thực hiện hôm thứ Năm, đại đa số người dân Grenada hoan nghênh cuộc xâm lược của Hoa Kỳ vào hòn đảo của họ. Họ cảm thấy rằng quân đội Mỹ đã đến để giải phóng họ khỏi ách thống trị của Cuba và ngăn chặn việc xây dựng một căn cứ quân sự. Một bộ phận đa số khác cho biết họ tin rằng người Cuba đang xây dựng sân bay mới trên đảo vì mục đích quân sự của Cuba và Liên Xô, chứ không phải để phát triển kinh tế hay du lịch.” (The New York Times, November 6, 1983, Section 1, Page 21)

Tương tự, đa số dân Venezuela có thể cũng sẽ đồng ý với cuộc “xâm lăng giải cứu” của Mỹ, bởi vì Mỹ giúp họ lật đổ chế độ độc tài và sẽ có đời sống tốt hơn.

Venezuela từng là quốc gia giàu nhất Nam Mỹ nhưng đã bị Maduro làm cho phá sản, thiếu ngay cả các vật dụng tiêu dùng cần thiết hàng ngày. GDP của Venezuela rơi từ $372.59 tỉ dollar năm 2012 xuống $108.6 tỉ dollar trong cuối năm 2025. Lạm phát gia tăng 172% trong năm 2025. Trong tất cả nạn nhân của Maduro, trẻ em chịu đựng nặng nhất. Nhiều em không thể đi học vì thiếu thức ăn.

Theo Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ (UNHCR) đời sống và áp bức chính trị đã đẩy gần 8 triệu người người dân ra khỏi nước tìm đường sống. Cũng theo cơ quan quốc tế này “đây là cuộc khủng hoảng di dân lớn nhất thế giới từ trước tới nay.”

Thật khó tin, nhưng theo AP, mức lương hàng tháng tối thiểu của Venezuela là 130 bolivar, tương đương $0,90 đô la Mỹ, không tăng kể từ năm 2022, thấp hơn nhiều so với mức nghèo cùng cực do Liên Hợp Quốc quy định là $2,15 đô la Mỹ một ngày. (AP, For Many Families, Every Meal Is A Struggle In Venezuela’s Economic Crisis, August 27, 2025)

Theo Human Right Watch, trước và sau mùa bầu cử tổng thống 2024, “hơn 1,900 tù nhân chính trị đã bị bắt giữ kể từ ngày 29 tháng 7, trong đó có 42 thiếu niên từ 14 đến 17 tuổi, vẫn bị giam giữ tính đến cuối tháng 11. Theo tổ chức phi lợi nhuận Foro Penal, những vụ bắt giữ này góp thêm vào tổng số 17,882 vụ bắt giữ vì lý do chính trị kể từ năm 2014.”

Những Thành Tựu Của Panama Và Grenada

Chỉ hai tháng sau khi lật đổ Noriega, tân tổng thống Guillermo Endara đã giới hạn vai trò của quân đội và thay thế bằng một lực lượng cảnh sát quốc gia nhằm mục đích chính là duy trì trật tự. Ngày nay, Panama là một nước dân chủ cao với Global Freedom Score 83/100 chỉ sau Mỹ (84/100) và trên Ba Lan (82/100).

Freedom House tổng kết về thể chế chính trị tại Panama: “Các thể chế chính trị của Panama mang tính dân chủ, với các cuộc bầu cử cạnh tranh và sự chuyển giao quyền lực có trật tự. Quyền tự do ngôn luận và hội họp nhìn chung được tôn trọng. “

Về kinh tế, theo World Bank, GDP tính theo đầu người dân Panama tăng bảy lần từ $2,462.00 năm 1990 đến $19,162.00 năm 2024.

Những thành tựu tốt đẹp cũng đến với Grenada. GDP tính theo đầu người tại Grenada tăng hơn 8 lần từ $1,388 năm 1983 tới $11,705 năm 2024.

Về chính trị, Freedom House nhận xét Grenada là “một nền dân chủ nghị viện thường xuyên tổ chức các cuộc bầu cử minh bạch.” Global Freedom Score của Grenada 89/100 cùng hạng với Pháp và Ý.

Venezuela trải qua nhiều chế độ độc tài chuyên chính từ 1948 dưới nhiều hình thức. Nhưng ngoài máu, nước mắt và tiếng than vô vọng, người dân Venezuela không có một tấc sắt trong tay để chống lại bạo quyền.

Tuy nhiên có vài điểm khác quan trọng giữa ba nước cần lưu ý: (1) dân số và (2) diện tích lãnh thổ và (3) quân đội.

Dân số Grenada vào năm 1983 chỉ vỏn vẹn 94,948 người với diện tích 344.5 kilomet vuông. Dân số Panama năm 1990 chỉ 2.4 triệu người với diện tích 74,340 kilomet vuông. Trong khi đó, theo WorldOMeter, dân số Venezuela năm 2025 là 28,516,896. Diện tích của Venezuela là 912,050 kilomet vuông.

Theo Giáo sư John Polga-Hecimovich, một học giả về Venezuela tại the U.S. Naval Academy: “Venezuela cũng sở hữu một trong những đội quân thường trực lớn nhất khu vực Mỹ Latinh. Trên tất cả các binh chủng, Venezuela có khoảng 150.000 binh sĩ trong lực lượng vũ trang.” (Simon Romero, How Could Venezuela’s Military Respond to U.S. Threats? Here’s What to Know. The New York Times, Nov. 5, 2025 Updated Dec. 18, 2025)

Hơn một nửa diện tích của Venezuela là rừng. Bất cứ một biến động chính trị hay quân sự lớn nào cũng có thể dẫn đến chiến tranh hao mòn và sa lầy trong chiến tranh du kích. Giáo sư John Polga-Hecimovich, người đang giảng dạy tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ lưu ý “ Kho vũ khí bất thường của Venezuela đến từ các đối thủ của Mỹ như Nga, Iran và Trung Quốc.”

Nhìn từ đâu và góc độ nào?

Nhìn vào một biến cố chính trị ai cũng thấy giống nhau, đọc giống nhau nhưng kết luận có thể mỗi người mỗi khác tùy theo quan điểm, lập trường chính trị và đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp. Nếu nhìn từ phía Nga, TC hay Iran chắc chắn bạn sẽ nghe những lời kết án nặng nề. Nếu đứng trên phía luật quốc tế, bạn sẽ phê bình nghiêm khắc. Thế giới ngổn ngang, không có sai hay đúng chỉ khác chỗ đứng và góc nhìn.

Nhưng nhìn đâu chăng nữa, bạn cũng nên dành một phút để nhìn lại số phận của những người dân Venezuela chịu đựng triền miên dưới các ách độc tài và chúc cho họ có một tương lai tốt đẹp hơn những ngày sống dưới chế độ Hugo Chávez và Nicolas Maduro.

Trần Trung Đạo


Saturday, January 6, 2024

Tính khôn vặt của người Việt: Dùng xe lăn lên xuống máy bay

Tác giả : Trần Trung Đạo Nguồn: Đàn ChimViệt 
Sân bay Hong Kong. Ảnh tác giả

Phi trường Hong Kong là trạm chuyển tiếp cho nhiều chuyến bay từ Việt Nam sang góc đông bắc của Mỹ.

Ngồi trước mặt vợ chồng tôi trong phòng chờ ở phi trường Hong Kong là một ông bà già người Việt. Hai bác chắc ngoài 80 tuổi là ít. Họ có thể từ Việt Nam trở lại Mỹ sau một chuyến viếng thăm.

Bác trai trông còn khỏe nhưng bác gái rất yếu. Khuôn mặt bác gái xanh xao, hốc hác và thân thể bọc xương. Bác dựa vào vai bác trai nhưng chắc không phải vì âu yếm mà chỉ vì quá yếu. Đôi mắt bác lim dim như muốn ngủ.

Phụng cứ nhìn bác gái hoài. Thấy thương bác chi lạ. Tôi thầm trách bác như trách mẹ mình “đi chi nữa vậy không biết! ” nhưng rồi tự nhủ phải có một lý do gì đó.

Bác trai đặt trước một chiếc xe lăn có người đẩy để đưa bác gái lên máy bay. Xe lăn là phương tiện thông dụng dành cho những người già yếu hay thương tật ở chân không đi đứng được một mình.

Những người ngồi xe lăn được ưu tiên lên máy bay. Không chỉ riêng cá nhân họ mà cả gia đình đi chung chuyến cũng được ưu tiên theo.

Giờ lên máy bay đến. Tôi rất ngạc nhiên không chỉ riêng bác gái mà có khoảng hơn chục chiếc xe lăn được đưa đến. Tuyến đường có rất đông hành khách Mỹ và các nước khác nhưng tất cả xe lăn đều dành cho hành khách gốc Việt.

Những người khách xe lăn rời chỗ ngồi, thoăn thoắt bước lên xe thật tự nhiên và nhanh chóng như đã dùng dịch vụ này trước đó nhiều lần.

Trong số hơn chục người ngồi trên xe lăn ai cũng trông mạnh khỏe hơn bác gái. Bác bịnh quá, không chen lấn được nên là người lên xe lăn cuối cùng.

Máy bay hạ cánh. Khi chúng tôi bước ra khỏi cửa máy bay. Một hàng xe lăn dài xếp gần kín lối ra đang chờ.

Những người khách gốc Việt cùng đi với chúng tôi lại nhanh chóng ngồi lên. Những người khách ngồi xe lăn và gia đình họ được đưa đến một lối riêng dành cho những người tật nguyền hay quá già yếu để được ưu tiên xét giấy thông hành.

Tôi không thấy bác gái. Có lẽ bác quá yếu nên phải ngồi chờ khách xuống bớt. Những người bịnh, yếu đuối và thật sự cần dịch vụ xe lăn như bác gái phải chịu thiệt thòi, chờ đợi trong lúc những người lạm dụng dịch vụ lại được ưu tiên nhanh chóng.

Tôi bay đường bay quốc nội và quốc tế rất nhiều. Chuyến bay nào cũng có một hai chiếc xe lăn nhưng ít khi thấy cả đoàn người Việt lên xe lăn như đi diễn hành ở trạm Hong Kong.

Có lần tôi đọc đâu đó chuyện một người Việt dùng dịch vụ xe lăn ở phi trường. Người đó kể một cách hãnh diện như đã phát hiện ra một bí mật chưa ai từng khám phá.

Nhưng người kể quên rằng dịch vụ xe lăn là một phần của đạo luật Air Carrier Access Act được quốc hội Mỹ thông qua và ban hành năm 1986 trong đó buộc các hãng máy bay phải có phương tiện xe lăn cho những người tật nguyền.

Đừng quên, đạo luật nào cũng luôn có các biện pháp chế tài và hình phạt dành cho những người vi phạm, lạm dụng và gian dối.

Các hãng hàng không biết rõ nhưng họ không muốn làm ồn ào những chuyện có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường hành khách.

Dù chưa bị bắt hay bị khám phá tội giả bịnh hay giả tật nguyền những người lạm dụng dịch vụ xe lăn cũng nên nghĩ tới những người thật sự cần được ưu tiên như bác gái mà chúng tôi gặp. Có vé trong tay rồi chờ một chút như mọi người khác có sao đâu. Không thể tới nhanh hơn hay sớm hơn vì cùng một chuyến bay.

Những người khôn vặt, thật ra cũng bịnh nhưng không phải ở chân mà ở trong suy nghĩ hẹp hòi.

Saturday, June 3, 2023

Khi Bộ trưởng trả thù

Khắc tinh của Lâm bộ trưởng công an là Lâm bún bò

Chế giễu thường được hiểu theo nghĩa tiêu cực là lập lại hành động, giọng nói của người khác với ý định không thân thiện.

Nhưng theo Eben Harrell, chủ bút của tạp chí Harvard Business Review trong bài viết “Chế Giễu Có Thể Giúp một Sáng Kiến Thành Công” (Mocking Can Help an Initiative Succeed) nhằm giới thiệu quan điểm của bà Magdalena Cholakova, Giáo sư tại Đại học Rotterdam và tác giả của nghiên cứu về tác dụng của trò đùa. Theo giáo sư Magdalena Cholakova chế giễu không chỉ mang ý nghĩa tiêu cực nhưng cũng có tác dụng tích cực. Chế giễu là một cách chứng tỏ sự khác biệt trong quan điểm của hai người hay hai nhóm người về một sự kiện để sau đó tìm cách giải quyết.

Tại các nước tự do dân chủ chế giễu chẳng những không bị ngăn cấm mà còn được khuyến khích và bảo vệ bởi hiến pháp như trường hợp Tu Chính Án Thứ Nhất (Quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và quyền kiến nghị chính phủ giải quyết những bất bình) và Tu Chính Án Thứ Tư (Quyền của mọi người được bảo đảm an toàn về người, nhà cửa, giấy tờ và tài sản) của Mỹ.

Chế giễu là chuyện thời sự mỗi ngày trên các phương tiện truyền thanh, truyền hình. Những chế giễu này không chỉ để cười rồi quên mà còn được người bị chế giễu lắng nghe một cách trân trọng để sửa đổi dù có thể không công khai thừa nhận. Chưa bao giờ việc chế giễu một bộ trưởng hay ngay cả tổng thống lại trở thành một tội hình sự.

Nhưng nếu giáo sư Magdalena Cholakova có dịp nghiên cứu về chế giễu tại Bắc Hàn, Trung Cộng và Cộng sản Việt Nam, có thể ông ta sẽ viết khác hay ít nhất viết thêm “ngoại trừ Bắc Hàn, Trung Quốc và Việt Nam”.

Nhưng điều đó không có nghĩa là người dân ba nước Bắc Hàn, Trung Quốc và Việt Nam không dám chế giễu giới lãnh đạo.

Một “chế giễu” từ Bắc Hàn.
Ngày 22 tháng 12, 2021, một người dân Bắc Hàn đã can đảm viết trên tường “Kim Jong Un, you are son of a b ***. The people are starving to death because of you” (Kim Chính Ân, ông là đồ khốn nạn. Người dân đang chết đói cũng tại ông). Kim Jong Un ra lịnh người dân thủ đô Bình Nhưỡng phải nộp mẫu chữ viết tay và kê khai một cách chi tiết mọi công việc họ đã làm trong ngày câu chế giễu xuất hiện. (India Times, Jan 05, 2022)

Việt Nam thì sao?
Lê Thanh Lâm, vợ của anh Bùi Tuấn Lâm.
Hành động của Bộ trưởng Tô Lâm khi ngồi ăn bò bít-tết giá 44 triệu đồng mỗi phần trong khi nhiều triệu người tại Việt Nam không biết ngày mai sống chết ra sao là một hành vi sai trái nghiêm trọng về cả đạo đức lẫn trách nhiệm của một bộ trưởng.

Đoạn phim được đầu bếp người Thổ Nhĩ Kỳ Nusret Gökçe đưa lên ‘internet’ ngày 3 tháng 11, 2021. Ngay sau đó, Tô Lâm bị nhiều người chế giễu trong đó có Bùi Tuấn Lâm đã diễn lại cảnh rắc muối. Nhưng Bùi Tuấn Lâm không phải là người duy nhất chế giễu Tô Lâm. Tô Lâm bị chế giễu bằng nhiều cách tại trong nước, ngoài nước và trên các hãng tin, các hệ thống truyền thông, truyền hình khắp thế giới.

Ai mời, ai trả tiền cho bữa ăn không quan trọng. Ăn mới là điều đáng nói. Hành động phản cảm của Tô Lâm không thể bào chữa bằng bất cứ một lý do gì.

Khi bộ trưởng Tô Lâm đưa ngón tay cái khen ngon ở London, trong thời gian đó ở Việt Nam chị Đinh Thị Phương Anh phải đẻ non sau khi ôm đứa con nhỏ ngồi trên xe máy do chồng chở suốt ba ngày trên đoạn đường 800 kilomet từ Sài Gòn ra Thanh Hóa.

Khi bộ trưởng Tô Lâm nhìn Salt Bae mỉm cười thỏa mãn ở London, trong thời gian đó ở Việt Nam cháu Quách Tiến Lộc (trú tại xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình) phải được mổ ra khỏi bào thai trước khi mẹ qua đời vì bị Covid hành hạ.

Khi bộ trưởng Tô Lâm nhai miếng bít-tết đắt tiền ở London, trong thời gian đó ở Việt Nam anh phụ hồ Hồ Tám đi bộ một ngàn cây số từ Sài Gòn về Huế và trên vai chỉ một thùng mì gói.

Khi bộ trưởng Tô Lâm ăn tiêu xa xỉ ở London, trong thời gian đó ở Việt Nam biết bao nhiêu thảm cảnh chết chóc, rách rưới, đói khát, bịnh tật của hàng trăm ngàn đồng bào trên đường về quê hương lánh dịch đã diễn ra trong những ngày cuối năm 2021.

Nếu hành vi tương tự diễn ra tại Mỹ trong cao điểm của mùa đại dịch, chính khách ăn miếng thịt bò và đưa ngón tay cái tỏ dấu hiệu “tuyệt ngon” kia sẽ bị mọi khuynh hướng chính trị, tả cũng như hữu, Cộng Hòa lẫn Dân Chủ, phê phán, khinh rẻ và ngay cả xa lánh.

Tháng 2, 2021, Thượng Nghị Sĩ Ted Cruz, thuộc đảng Cộng Hòa, tiểu bang Texas, Mỹ đưa con đi nghỉ ở Cancun nhân dịp trường học đóng cửa nghỉ mùa đông trong lúc hàng triệu người dân Texas chịu rét và mất điện. Thượng nghị sĩ Ted Cruz sớm nhận ra mình đã hành xử thiếu tế nhị và trở về ngay hôm sau nhưng vẫn bị báo chí phe Dân Chủ chế giễu suốt tuần lễ sau đó. Ông ở nhà cũng chưa hẳn Texas có điện nhưng trong cương vị một thượng nghị sĩ ông nên chia sớt khó khăn và hoạn nạn với người dân thay vì đi nghỉ mát.

Tháng Giêng năm nay Tổng thống Joe Biden đi nghỉ ở đảo St. Croix ấm áp trong lúc nước Mỹ đang chịu đựng cơn bão tuyết gây thiệt mạng 30 người ở Buffalo, New York, đã bị các chính trị gia và báo chí, nhiều nhất phe Cộng Hòa, mỉa mai, chỉ trích. Thượng Nghị Sĩ Ted Cruz có cơ hội trả đũa và ông đã gởi cho Tổng thống Biden một ‘tweet’ ngay ngày hôm đó “Chúc vui vẻ ở St. Croix” để chế giễu tổng thống. Phe ủng hộ Tổng thống Biden cũng không vừa gì và “phản pháo”, cũng bằng tweet, “Ted Cruz, đạo đức giả” để nhắc khéo Ted Cruz đã từng đi nghỉ mát không đúng lúc như thế hai năm trước.

Chính trị Mỹ là vậy. Các chính trị gia và các phe cánh khai thác mọi kẻ hở, sơ sót để hạ uy tín đối phương. Việc làm của Joe Biden và Ted Cruz đúng là thiếu chín chắn nhưng có lẽ không ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp chính trị của hai ông. Tuy nhiên, họ sẽ học bài học. Khi đi nghỉ lần tới họ sẽ thận trọng hơn, ngó sau nhìn trước hơn kỹ càng hơn.

Khác với các chính khách Mỹ, bộ trưởng Tô Lâm vi phạm tiêu chuẩn đạo đức trầm trọng hơn nhiều nhưng ông ta không ghi nhận, không sửa sai, không giải thích, không xin lỗi trái lại trả thù một cách tàn nhẫn người dân đã chế giễu mình.

Bộ trưởng Tô Lâm coi thường dư luận và phán xét của người dân, đơn giản, chỉ vì ông ta đang giữ chìa khóa nhà tù.

Khi ra tay trả thù Bùi Tuấn Lâm với bản án 5 năm rưỡi tù giam và 4 năm quản chế Tô Lâm cũng không nhìn xa hơn chút nữa để thấy ba con còn quá nhỏ của Bùi Tuấn Lâm sẽ sống ra sao khi người cha bươn chải cho cuộc sống gia đình phải ở trong tù.

Bùi Tuấn Lâm bị kết án vì đã “bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ, phỉ báng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tuy nhiên, ai cũng biết đó chỉ là cái cớ. Không riêng kẻ viết bài này, người dân Việt Nam mà cả thế giới cũng đều biết tội của Bùi Tuấn Lâm là tội chế giễu bộ trưởng Tô Lâm.

Tờ New York Times đăng tin “A Video Mocking a Vietnamese Official’s Lavish Meal Has Landed Its Maker in Prison” (Video chế nhạo bữa ăn xa hoa của quan chức Việt Nam đã đưa người dựng ra nó vào tù.)

Hãng tin CNN đăng tin “Vietnam jails noodle vendor who mocked minister’s lavish dining” (Việt Nam bỏ tù người bán bún chế giễu ăn uống xa hoa của bộ trưởng).

Tờ Diplomat đăng tin “Vietnam Noodle Vendor Jailed For Mocking Security Minister” (Chủ Quán Bán Bún Việt Nam Vào Tù Vì Chế Nhạo Bộ Trưởng An Ninh).

BBC đăng tin “Salt Bae parody: Vietnam noodle vendor jailed for five years” (Làm phim nhại Salt Bae: Người bán bún Việt Nam bị bỏ tù 5 năm).

Nói chung, không một cơ quan truyền thông quốc tế nào tin vào nội dung phán quyết của tòa án CSVN.

Nếu “bôi nhọ, phỉ báng” nhà nước mà phải ở tù thì tại Việt Nam hôm nay có ít nhất vài chục triệu người đáng bỏ tù hay đang ở trong tù.

Không có một thống kê chính xác nhưng sau 48 năm con số người dân thấy được bộ mặt thật của chế độ mỗi ngày một đông hơn. Họ không ngồi chờ Trung Cộng sụp đổ kéo theo CSVN hay hạm đội Mỹ can thiệp mà bào mòn chế độ bằng mọi phương tiện họ có trong tay. Bức tường chuyên chính dù dày bao nhiêu, dù rắn bao nhiêu cũng sẽ có ngày sụp đổ.

Nếu không tin, Tô Lâm thử giả dạng thường dân ra những hàng quán dọc đường phố để nghe những lời than oán của người dân về cuộc sống của họ và nghe họ chế giễu chế độ độc tài toàn trị thời toàn cầu hóa hiện nay như thế nào.

Một sự kiện nhục nhã như thế đáng lẽ Tô Lâm và giới lãnh đạo CSVN nên tìm cách quên đi. Đằng này, bằng việc bỏ tù Bùi Tuấn Lâm đảng đã làm cho câu chuyện “thánh rắc muối” lần nữa trở thành một tin thời sự nóng bỏng, không riêng tại Việt Nam và mà cả quốc tế suốt tuần qua.

Tô Lâm tự xây và tự nhốt ông ta trong bốn bức tường ô nhục. Bùi Tuấn Lâm một ngày sẽ ra tù nhưng Tô Lâm thì không. Đoạn phim chế giễu “thánh rắc muối” của Bùi Tuấn Lâm sẽ chiếu đi chiếu lại trong nhận thức của ông ta cho đến cuối đời. Cuối cùng ai sẽ thắng ai?

Cho dù Tô Lâm thù vặt và nhất định phải trả thù anh bán bún thì nhà nước CSVN lẽ ra phải can thiệp để giữ thể diện quốc gia trước dư luận quốc tế và giữ tư cách của một thành viên Liên Hiệp Quốc. Một bộ trưởng an ninh đầy quyền lực trả thù một người dân thấp cổ bé miệng là hành động thất nhân tâm, phi đạo đức. Nhưng bản chất nào thì hiện tượng đó. Cây nào sinh trái đó. Không chỉ Tô Lâm mà cả cơ chế chính trị CSVN tồn tại đến nay nhờ nuôi dưỡng hận thù.

Với cách hành xử như vậy, đừng mong đảng CSVN có thể thu phục được lòng người, đoàn kết được dân tộc trước hiểm họa Trung Cộng đang hăm he ngoài biển, và đừng mong Việt Nam dưới sự cai trị của đảng Cộng sản có thể bước ra khỏi con hẻm tối tăm của chậm tiến và lạc hậu để lớn lên cùng với loài người.

Trần Trung Đạo

Monday, May 15, 2023

MẸ VÀ QUÊ HƯƠNG




Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe:

Thế giới có rất nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất vẫn là trái tim người mẹ”.

Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ cũng không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không vừa. Biển Thái Bình bao la, nước sông Hằng cuồn cuộn nhưng không sao có thể so sánh được với tấm lòng của mẹ. Bản nhạc nào viết về mẹ cũng hay, bài thơ nào viết về mẹ cũng cảm động bởi vì ngôn ngữ dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim.

Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyệt đối của tinh thần Chân Thiện Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất, thì người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi lầm gì, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ý nghĩ đầu tiên của một ngày, thay vì để nghĩ đến chuyện hơn thua, danh lợi nhưng là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn dò của mẹ hay thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an lành và hạnh phúc.

Mẹ là người mang ta đến cuộc đời, và cũng là nơi ta trở về. Người đàn bà chân mang đôi dép ngược, khoác chiếc mền rách như trong một câu chuyện thiền mà chúng ta có thể đã từng nghe kể, dù bao mùa mưa nắng vẫn không than van, không oán trách, vẫn chờ đợi ngày về của đứa con mải mê trên đường đi tìm chân lý. Nếu chân lý mà chàng trai trẻ kia đi tìm là tình thương và sự thật thì chân lý sẽ không ở đâu xa mà trái lại vô cùng gần gũi. Trong tấm thân gầy yếu nhỏ nhoi của người mẹ chứa đựng cả một đại dương của hy vọng, tình yêu, sự thật và lòng vị tha sâu thẳm.

Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:

Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ giấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ đơn giản và dễ hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống tám năm.

Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng “Con đi nghe”. Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.

Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi “Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi”, và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là “Lên đường bình an nhé.”

Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu?

Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.

Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.

Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cập vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn “USA, USA” và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng.

Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tị nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.

Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.

Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.

Tôi kính yêu mẹ. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.

Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia dòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.

Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tị nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tị nạn của tôi hàng vạn dặm.

Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuỗi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.

Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.

Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phù hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.

Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết
Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.

Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.

Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.

Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nỗi dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.

Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẽ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. “Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười” trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình.

Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.

Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian này, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng.

Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.

Trần Trung Đạo
(Thư họa sưu tầm trên internet)

Friday, March 31, 2023

Khi Bài Hát Trở Về

Giới thiệu: Sửa lời nhạc trở thành một hiện tượng khá phổ biến tại Việt Nam, sửa do chỉ thị, sửa để được hát, sửa để khỏi bị làm khó dễ, sửa để kiếm sống v.v.. 

Tuy nhiên, có một nhạc phẩm rất phổ biến nhưng không ai sửa đó là Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang (1944-2011). Nhạc phẩm này được hát vang trên đường phố Sài Gòn, Hà Nội trong hầu hết các cuộc biểu tình chống Trung Cộng bành trướng từ đầu thập niên 2000 đến nay. Nhạc phẩm được giữ nguyên vẹn bởi vì bài hát được cất lên từ tuổi trẻ, từ những tấm lòng Việt Nam yêu nước trong sáng, không vụ lợi, không nịnh đảng, không vì tiền.

Nhân ngày giỗ của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, 27 tháng 3, mời đọc lại bài viết Khi Bài Hát Trở Về.

*
Nếu phải xếp hạng những bài hát được sinh ra và lớn lên cùng với thăng trầm của đất nước, với thao thức của thanh niên, sinh viên, học sinh, với tâm trạng của những người lính trẻ trong cuộc chiến tranh tự vệ đầy gian khổ ở miền Nam trước đây, tôi tin, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang sẽ là một trong những bài ca được xếp hàng đầu.

Không giống như một số hành khúc quen thuộc trong giới trẻ trước 1975 như Dậy mà đi của Nguyễn Xuân Tân (Tôn Thất Lập), Tổ quốc ơi ta đã nghe của La Hữu Vang thiết tha, mạnh mẽ nhưng chỉ giới hạn trong các phong trào sinh viên tranh đấu và ngay khi ra đời đã bị đảng sử dụng cho mục đích tuyên truyền trong các trường đại học, các đô thị miền Nam, hay Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy chan chứa tình dân tộc, kêu gọi người người thương mến nhau nhưng thiếu đi cái hùng khí, sôi nổi của tuổi trẻ. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của Nguyễn Đức Quang không dừng lại ở nỗi đau của đất nước mà còn nói lên cả những bi thương, công phẫn, thách đố của tuổi trẻ Việt Nam trước những tàn phá của chiến tranh và tham vọng của con người.

Trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ nổi bật lên như một biểu tượng cho khát vọng của một dân tộc đã vượt qua bao nhiêu gian nan khốn khó để tồn tại và vươn lên cùng các dân tộc khác trên mặt đất nầy.

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng.

Lời nhạc của Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ tương đối khó nhớ nhưng nhờ cách sử dụng ngôn ngữ trẻ trung, mạnh mẽ, tượng thanh, tượng hình như “xích kêu loang xoang”, “trên bàn chông hát cười đùa vang vang” hay “Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi” đã làm cho Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ trở thành độc đáo, không giống như những bài ca yêu nước khác với những ý tưởng quen thuộc và lời ca phần lớn là lập lại nhau.

Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đẹp tự nhiên như một đoá lan rừng, không mang màu sắc chính trị, không nhằm cổ võ hay biện minh cho một chủ nghĩa nào, không cơ quan nhà nước nào chỉ đạo thanh niên sinh viên học sinh phải hát và bài hát cũng chẳng nhằm phục vụ lợi ích riêng của chính quyền, tôn giáo hay đảng phái chính trị nào.

Trước 1975, từ thành phố đến thôn quê, từ các trường trung học tỉnh lẻ đến đại học lớn như Huế, Sài Gòn, từ các phong trào Hướng đạo, Du ca đến các tổ chức trẻ của các tôn giáo như Thanh niên Công giáo, Gia đình Phật tử, từ các quân trường Đà Lạt, Thủ Đức, Quang Trung, Nha Trang đến các tổ chức, đoàn thể xã hội từ thiện đều hát Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.

Sau 1975, bài hát theo chân hàng trăm ngàn sĩ quan và viên chức miền Nam đi vào tù. Nhiều hồi ký, bút ký kể lại Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đã được hát lên, kín đáo hoặc cả công khai, ở nhiều trại tù khắp ba miền đất nước. Trong tận cùng của đói khát, khổ nhục, đớn đau, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đã hoá thành những hạt cơm trắng, hạt nếp thơm nuôi sống tinh thần những người lính miền Nam sa cơ thất thế.

Những năm sau đó, bài hát, như tác giả của nó và hàng triệu người Việt khác lên đường ra biển tìm tự do. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ lại được hát lên giữa Thái bình dương giông bão, hát lên ở các trại tỵ nạn Palawan, Paula Bidong, Panat Nikhom trong nỗi nhớ nhà, hát lên ở Sungai Besi, White Head trong những ngày chống cưỡng bách hồi hương, hát lên ở San Jose, Santa Ana, Boston, Paris, Oslo, Sydney trong những cuộc biểu tình cho tự do dân chủ Việt Nam, hát lên ở các trại hè, trại họp bạn Hướng đạo, các tổng hội sinh viên Việt Nam tại hải ngoại.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, trong buổi phỏng vấn dành cho chương trình Tiếng Nói Trẻ đã kể lại câu chuyện ra đời của Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ trong âm nhạc Việt Nam: 

“…Thế bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ cũng vậy, nó không phải là một bài ca tôi nghĩ là quá lớn, nhưng lúc bấy giờ khi tôi kết thúc tập Trường Ca vào năm 1965, cuối 1965 hay đầu 1966 gì đó, khoảng thời gian đó, 10 bài trường ca, những bài như Nỗi buồn nhược tiểu, Tiếng rống đàn bò, Lìa nhau, Thảm kịch khó nói v.v. những bài nói về đất nước của mình rất là khổ sở, tôi nghĩ nên kết nó bằng một bài hát có tiếng gọi hùng tráng và tha thiết hơn. Thành ra tôi viết bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ một cách rất là dễ dàng. Tất cả những ý đó tôi đem vào hết trong bài hát đó để nó vượt qua cái khốn khó, vượt qua cái quê hương nhỏ bé, nhược tiểu mà trở thành một nước to lớn, và lòng người cực kỳ dũng mãnh. 

Viết xong bài đó tôi nghĩ chỉ kết thúc tập Trường Ca mà thôi, không ngờ về sau càng ngày đi các nơi càng thấy nhiều người ưa thích bài đó, có lẽ đáp được ước vọng của nhiều người, tôi nghĩ tiếng gọi đáp ứng đúng được tiếng của nhiều người, không riêng gì giới trẻ đâu, cả người lớn tuổi ở các hội đoàn về sau này, rồi đi vào trong quân đội, đi rất nhiều nơi. Thành ra, tôi cho đó là một bài hát tự nó trưởng thành nhưng khi viết tôi chỉ đúc kết cho tập Trường Ca lúc đó mà thôi.”

Thật đơn giản và tự nhiên như thế. Không một ông Bộ trưởng Bộ Chiêu hồi nào đặt hàng hay một ông Tổng ủy trưởng Dân vận nào chỉ thị anh phải viết. Anh viết không phải để thi đua sáng tác hay mong mang về giải thưởng, huân chương. Trong tâm hồn của một nghệ sĩ chân chính, tình yêu nước bao giờ cũng là sự thôi thúc tự nguyện. Anh viết Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ để kết thúc tập trường ca của riêng anh nhưng cũng nối tiếp tập trường ca lớn hơn của đất nước.

Sau ba mươi năm, nhiều nhạc sĩ, ca sĩ đã trở về qua nhiều ngả, trong nhiều tư cách khác nhau, một số tình ca sáng tác trước 1975 đã được nghe lại trong nước, nhưng đây là lần đầu tiên một bài hát đã về lại quê hương qua ngả của trái tim, trở về trong vòng tay nồng ấm của tuổi trẻ Việt Nam.

Bất ngờ và cảm động, một buổi sáng tuần trước, khi đi dạo một vòng qua các blog Việt ngữ, tôi bắt gặp không chỉ những mẩu tin nóng viết vội vàng trên đường phố, những đoạn phim biểu tình vừa mới đưa lên YouTube, những tấm hình ghi lại cảnh xô xát giữa đồng bào, sinh viên với công an, nhưng còn được nghe lại bài hát quen thuộc Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Tôi cảm nhận qua lần gặp gỡ đó một niềm vui chung khi có một bản nhạc mà các em sinh viên Việt Nam ở California, Washington DC, Oslo, Paris, Hà Nội, Sài Gòn cùng hăng say hát trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc bành trướng bá quyền mà không cảm thấy ngần ngại, nghi ngờ, xa cách.

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian.

Trong số một trăm em đang hát trong nước hôm nay có thể hơn chín mươi em chưa hề nghe đến tên Nguyễn Đức Quang lần nào, và nếu có nghe, có đọc qua bộ máy tuyên truyền của đảng, cũng chỉ là một “nhạc sĩ ngụy đã theo chân đế quốc”. Biết hay không biết, nghe hay không nghe không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là bài hát đã đáp ứng được ước vọng về tương lai và tình yêu tổ quốc của tuổi trẻ. Tổ quốc, vâng, không có gì lớn hơn tổ quốc. Văn hoá không phải chỉ là đời sống của một dân tộc mà còn là những gì giữ lại được sau những tàn phá, lãng quên.

Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ sau 30 tháng Tư 1975 hẳn đã nằm trong danh sách các tác phẩm “văn hoá đồi trụy” mà đảng tìm mọi cách để xóa bỏ, tận diệt. Thế nhưng, như giọt nước rỉ ra từ kẽ đá và như bông hoa mọc giữa rừng gai, bài hát đã sống sót, đã ra đi và đã trở về. Để tồn tại, một bài thơ, một bản nhạc cũng phải trải qua những gạn lọc, những cuộc bỏ phiếu công bằng không chỉ của người nghe, người đọc dưới một chế độ chính trị nào đó mà còn của cả lịch sử lâu dài. Bài hát phát xuất từ tình yêu nước trong sáng như Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ sẽ ở lại rất lâu trong lòng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay và nhiều thế hệ mai sau.

Là một người thích tham gia các sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, bài hát mang tôi về thời trẻ tuổi của mình.

Tôi còn nhớ, mùa hè 1973, khi còn là sinh viên năm thứ nhất, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ cũng là nhạc sinh hoạt chính của trại hè sinh viên toàn quốc quy tụ đại diện sinh viên các trường đại học và cả sinh viên du học về nghỉ hè, do Bộ Giáo dục và Thanh niên tổ chức lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối tại trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu. Đêm trước ngày chia tay, chúng tôi không ai ngủ được. Ngày mai sẽ mỗi người mỗi ngả, chị về Huế, anh về Đà Lạt, em về Cần Thơ và đa số chúng tôi sẽ trở lại Sài Gòn. Cùng một thế hệ chiến tranh như nhau, khi chia tay biết bao giờ còn gặp lại. Những ngày tháng đó, cuộc chiến vẫn còn trong cao điểm. Mỹ đã rút quân nên máu chảy trên ruộng đồng Việt Nam chỉ còn là máu Việt Nam. Thảm cảnh của “mùa hè đỏ lửa” chưa qua hết. Trên khắp miền Nam, đâu đâu cũng có đánh nhau, đâu đâu cũng có người chạy giặc. Mơ ước của tuổi trẻ chúng tôi là được thấy một ngày đất nước hoà bình, một ngày quê hương không còn nghe tiếng súng. 

Đêm cuối trại hè, chúng tôi ngồi quây quần thành một vòng tròn rộng quanh cột cờ trường Thiếu Sinh Quân và hát nhạc cộng đồng như để vơi đi những vương vấn, lo âu đang trĩu nặng trong lòng. Bài hát được hát nhiều nhất trong đêm đó là Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, và khi điệp khúc cất lên cũng là khi chúng tôi hát trong nước mắt:

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng ngày qua
Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi.
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam
Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.

Những giọt nước mắt của tuổi sinh viên nhỏ xuống xót thương cho dân tộc mình. Tại sao có chiến tranh và tại sao chiến tranh đã xảy ra trên đất nước chúng tôi mà không phải tại một quốc gia nào khác? Mấy tháng sau, tháng Giêng năm 1974, bài hát Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đã được hát vang trên đường phố Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ sau khi Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc. Những bản tin đánh đi từ Đà Nẵng, danh sách những người hy sinh được đọc trên các đài phát thanh làm rơi nước mắt.

Và hôm nay, ba mươi ba năm sau, trong cái lạnh mùa đông trên xứ người, những lời nhạc Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ từ YouTube phát ra như xoáy vào tim.

Tôi lại nghĩ đến các anh, những người đã hy sinh ở Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974, ở Trường Sa tháng Ba năm 1988. Các anh khác nhau ở chiếc áo nhưng cùng một mái tóc đen, một màu máu đỏ, một giống da vàng, cùng ăn hạt gạo thơm, hạt muối mặn, cùng lớn lên bằng giòng sữa mẹ Việt Nam, và cùng chết dưới bàn tay hải quân Trung Quốc xâm lăng.

Việt Nam, sau ba mươi ba năm “độc lập, tự do” vẫn chưa thoát ra khỏi số phận nhược tiểu bị xâm lược, vẫn chưa tháo được cái vòng kim cô Trung Quốc trên đầu. Việt Nam có một lãnh hải dài trên ba ngàn cây số nhưng thực tế không còn có biển. Cả hành lang Đông hải rộng bao la từ Hải Nam đến Hoàng Sa và xuống tận Trường Sa đã bị Trung Quốc chiếm. Nếu vẽ một đường cung dọc theo lãnh hải đó, ngư dân Việt Nam chỉ còn có thể đi câu cá ven bờ chứ không thể đánh cá như ngư dân Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan hay các quốc gia khác trong vùng biển Đông. Phía sau tấm bảng in đậm “mười sáu chữ vàng” hữu nghị thắm thiết giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc là thân xác của ngư dân Việt Nam trôi bềnh bồng dọc các hải đảo của tổ tiên mình để lại.

Trong suốt dòng lịch sử, hoạ xâm lăng từ phương Bắc vẫn là mối đe doạ thường xuyên. Khác với các thời đại trước đây, cái bất hạnh của Việt Nam ngày nay không phải chỉ là mất đất nhưng mất đất mà không đòi lại được ngay. Cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất trong hàng vương tước nhà Trần chỉ có mỗi Trần Nhật Hiệu chủ trương “Nhập Tống” và lần thứ hai chỉ có Trần Ích Tắc và đám hầu tước Trần Kiện, Trần Văn Lộng, Trần Tú Viên chủ trương “Hàng Nguyên” nhưng ngày nay, về mặt lập trường quan điểm, Việt Nam có đến 14 Trần Ích Tắc và 160 Trần Kiện. Trận đụng độ giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra tại Trường Sa năm 1988 theo tác giả Daniel J. Dzurek trong biên khảo Xung Đột Trường Sa: Ai có mặt trước? (The Spratly Islands Dispute: Who’s on First?) chỉ kéo dài vỏn vẹn 28 phút và Việt Nam chịu đựng hầu hết thương vong. Với một giới lãnh đạo tham quyền cố vị và sự chênh lệch quá xa về kỹ thuật chiến tranh như thế, cuộc đấu tranh giành lại hai quần đảo sẽ vô cùng khó khăn.

Dù sao, tuổi trẻ Việt Nam, khác với các thế hệ Tân Trào, Pác Bó trước đây, thế hệ Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay có nhiều cơ hội tiếp xúc, học hỏi và so sánh giữa chế độ các em đang sống với các tư tưởng tự do dân chủ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ đó, hy vọng các em sẽ có những chọn lựa đúng cho mình và cho đất nước phù hợp với dòng chảy của văn minh nhân loại.

Trong cuộc chiến Việt Nam dài mấy mươi năm đảng đã sản xuất ra không biết bao nhiêu bài hát, bài thơ kích động lòng yêu nước nhưng tại sao các em không đọc, không hát nữa? Như một độc giả trong nước đã trả lời, đơn giản chỉ vì chúng nhạt nhẽo. Ý thức sâu sắc đó đã được thể hiện không chỉ trong khẩu hiệu các em hô mà ngay cả trong những bài hát các em hát. Sau những Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, Dậy mà đi, Nối vòng tay lớn của những ngày đầu phong trào, các bạn trẻ trong nước đã đi tìm những nhạc phẩm nói lên lòng yêu nước trong sáng, tích cực, không bị ô nhiễm, chưa từng bị lợi dụng và họ đã tìm được Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân tươi
Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời.

Mỗi khi nhắc đến những khó khăn đất nước, chúng ta thường nghe đến những “bất hạnh”, “nỗi đau”, “tính tự ti mặc cảm”, vâng đó là một thực tế hôm nay, thế nhưng dân tộc Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu, nước non bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” như Nguyễn Trãi khẳng định, không phải chỉ biết đau, biết tự ti mặc cảm mà thôi nhưng từ những nỗi đau đã biết lớn lên bằng tự hào và kiêu hãnh làm người Việt Nam. Chỗ dựa tinh thần của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay không có gì khác hơn là lịch sử. Không thể làm nên lịch sử mà không cần học lịch sử. Lịch sử sẽ là vũ khí, là hành trang trong hành trình tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, cũng như để xây dựng một Việt Nam tươi đẹp sau nầy.

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên.

Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ như giọt nước mắt bi tráng của tuổi trẻ Việt Nam ngày nào nhỏ xuống trên quê hương chiến tranh khốn khổ, đã bốc thành hơi, tụ thành mây và sau bao năm vần vũ khắp góc bể chân trời đã trở về quê hương qua ánh mắt của em, qua nụ cười của chị, qua tiếng hát của anh, hồn nhiên và trong sáng.

Từ “vết thương rỉ máu” của một dân tộc đã từng bị nhiều đế quốc thay phiên bóc lột, lợi dụng và hôm nay còn đang chịu đựng trong áp bức của độc tài đảng trị, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ cất lên như một lời khuyên, hãy sống và hãy vững tin vào lịch sử.

Sẽ có một ngày, sẽ có một ngày.

Trần Trung Đạo

Blog Archive