Showing posts with label Phùng Annie Kim. Show all posts
Showing posts with label Phùng Annie Kim. Show all posts

Thursday, July 24, 2025

Công tử Du học

Cách đây 5 năm, trong một chuyến về Việt nam thăm gia đình, tôi gặp bà Liên ở nhà một người bạn. Biết tôi ở Mỹ, nhà còn trống 2 phòng ở khu Westminster nơi có cộng đồng người Việt đông, bà Liên làm quen và kết thân với tôi. Ông bà là chủ một cơ sở tiện có hàng chục công nhân, có nhà cao cửa rộng cho thuê ở đường Trần Hưng Đạo. Họ có thằng con trai sắp qua Mỹ du học tên là Tuấn. Bà muốn gửi gấm nó cho tôi. Ông bà có cái xe “van” mới tinh, ngày nào cũng có tài xế sẵn sàng chở tôi đi đâu, bất cứ lúc nào. Ông bà o bế, chiêu đãi tôi ăn uống, đi chơi gần trong thành phố, đi chơi xa ở các tỉnh. Trong lúc vui miệng, tôi... lỡ hứa sẽ cho Tuấn ở trọ nhà tôi và xem Tuấn như con cháu trong nhà. Tôi về Mỹ, ông chồng càm ràm:

- Thế là bà... “há miệng mắc quai” nhá!” “Xôi chùa ngọt miệng” có khác!

Bà chép miệng thở ra:
- Thôi thì lỡ... hứa rồi. Nhà mình 2 phòng bỏ trống cũng uổng. Bề gì mỗi tháng nó nộp cho ông 300 đồng để ông rủng rỉnh có tiền tiêu vặt. Thằng này tôi thấy nó hiền ông à.

Tuấn qua đây lúc nó 17 tuổi, đang học junior tương đương với lớp 11 ở Việt nam. Nó đi học trường Fairmont là trường tư bằng xe bus và ăn cơm... ngón, còn gọi là cơm... chỉ ở khu người Việt. Nó ít bạn, học nhiều hơn chơi, ăn ở sạch sẽ, tỏ ra biết điều, không sử dụng đồ đạc và bếp núc trong nhà. Ngoài thì giờ học và chơi tennis, nó quanh quẩn trong phòng chơi game, nghe nhạc, xem phim. Cũng may, nó là đứa du học sinh ngoan. Nhà có hai vợ chồng già, có Tuấn cũng yên tâm nhất là mỗi khi đi đâu xa, nhờ Tuấn coi nhà và tưới dùm mấy chậu kiểng cũng đỡ.

Học xong lớp 12, ba má Tuấn qua Mỹ tìm cách cho Tuấn về Irvine học đại học cộng đồng gần chú nó để chú chăm sóc nó. Được năm thứ nhất, bà Liên qua Mỹ, năn nỉ vợ chồng tôi cho nó ở trọ tiếp. Bà nói nó quen thức ăn Việt nam ở khu người Việt. Lý do chính là nó không thích ở với chú, bị chú kềm kẹp mất tự do, bị bà thím khó tính “đì” nên nó bất mãn. Nó rất thích ở nhà tôi.

Tôi nghe thấy tội nghiệp. Tôi nghĩ thằng con mình mấy năm trước đi học xa nhà, cũng phải “share” phòng. Con mình may mắn đều gặp quý nhân giúp đỡ. Thôi thì người khác giúp con mình, mình giúp nó nhưng tôi ra điều kiện không được dắt bạn gái về nhà. Tôi bắt nó hứa trước mặt tôi và má nó. Dù sao, lý do chính vẫn là mỗi lần về Việt nam, đúng như ông chồng nói tôi cứ bị “xôi chùa ngọt miệng”cho nên “há miệng mắc quai” hoài mà vẫn không... chừa!

Xa Tuấn hơn một năm thấy chàng ta trổ mã, cao lớn, râu mọc lún phún, nói chuyện tỏ ra sành đời, thỉnh thoảng vỏ chai bia vất tùm lum ngoài vườn, tàn thuốc lá rơi vãi đầy sân sau. Nó chuyển về đại học Fullerton, đi học bằng chiếc xe mới toanh má nó mới tậu cho. Con nhà “đại gia” du học Mỹ có khác. Má nó nói mua xe mới để đi học an toàn. Mới ở có vài tháng, một ngày đẹp trời, nó dẫn một cô bạn gái về nhà, giới thiệu bạn học cùng lớp. Cái thằng xí trai, có cái môi thâm xì, nước da xám xịt, hàm răng cái chìa ra, cái thụt vô thế mà có cô bạn gái xinh ra phết.

Tôi để ý canh me con nhỏ bằng... đôi giày. Hôm nào có đôi giày ở sân vườn là biết có “Em đến thăm anh một chiều mưa”. Lâu ngày, đôi giày của “em” “...để quên đường về” càng ngày càng xuất hiện đều đặn làm tôi và ông chồng “bốn mắt nhìn nhau... trào máu họng.” Ông cằn nhằn:

- Nó hứa hẹn với bà thế nào mà bây giờ dắt gái về nhà? Con nhỏ... khôn lắm. Nó sợ mình biết nên xách đôi giày lên phòng. Nó ở lại hằng đêm bà biết không? 5 giờ sáng, con nhỏ “dù” về sớm. Mình còn ngủ đâu có thấy! Sáng nay, tình cờ tôi dậy kiếm viên thuốc, nó từ phòng thằng Tuấn đi ra. Nó còn cười chào tôi làm tôi... mắc cỡ. Tôi mắc cỡ dùm nó đó bà. Bà coi chuyện ngược đời chưa?

Bà nhỏ nhẹ:
- Tôi không thấy nhưng tôi biết. Từ từ ông để tôi lựa lời nói thằng Tuấn. Nó biết tôi không chấp nhận cái chuyện cho bạn gái ngủ đêm. Ban ngày thì... ô-kê cho tụi nó học hành với nhau. Tôi sẽ nói chuyện với nó. Má nó giao nó cho tôi. Nó hứa phải giữ lời.

Ông ngồi nhìn ra vườn. Cửa vườn mở. “Đôi trẻ” tung tăng đi học về, vai trĩu nặng chiếc ba lô đầy sách vở. Thằng Tuấn tay xách hai túi “to go” thức ăn, con nhỏ xách hai ly nước. Hai đứa đùa giỡn trông thật hồn nhiên, vô tư và hạnh phúc. Chúng như đôi chim non ríu ra ríu rít thật là dễ thương, không biết hai ông bà đang giương cung sắp... bắn vào chiếc tổ ấm của... đôi uyên ương. Thấy hai đứa, ông bỏ lên lầu còn thòng thêm một câu:

- Ông bà xưa nói “Tối lửa tắt đèn, nhà ngói cũng như nhà tranh”. Đêm với chả ngày! Tranh, ngói, ngày, đêm cũng... “xêm xêm”. Vấn đề là nó hứa với bà. Nguyên tắc nhà này không có chứa... phụ nữ. Con cái nhà ai mới nứt mắt ra mà tự do thế không biết! Con gái mình đâu có vậy!

- Xưa rồi ông ơi! Nó không phải “nứt mắt ra” như ông nói đâu! Con cái sinh ra và lớn lên ở xứ Mỹ này, đúng 18 tuổi, nó có đủ thứ... quyền nhất là quyền tự do sống cuộc đời của nó. Con gái ông là trường hợp đặc biệt vì nó lớn lên ở Việt nam. Nó qua Mỹ năm 18 tuổi. 18 năm ông “gò”, ông “uốn” con ông theo kiểu Việt nam thì được. Qua đến xứ này, ông dạy con kiểu đó, nó “bứt” ra mấy hồi. Thôi, không bàn nữa. Nó vô nhà rồi kìa.

Con nhỏ vào nhà. Nó “chuyên trị” cái quần “sọt”, vải “jean” te tua, ngắn ngủn, bao đủ cái mông cong vòng và cái áo hai dây lòi bộ ngực to như hai trái cam sành. Đôi khi nó không mặc áo lót lộ ra hai núm vú dưới làn áo mỏng như hai nút áo. Nó đi núng na núng nính theo từng bước chân tung tăng như con chim sáo. Mùa hè, trông nó “mát trời ông địa”. Lần nào gặp ông bà, nó cũng khoanh tay cúi đầu chào lễ phép. Ông vắng nhà, chỉ có bà dưới bếp, nó xà rà hỏi han gợi chuyện, khi thì khen con chó “Sugar”dễ thương, khi thì chậu hoa ngọc lan mới nở thơm quá, khi thì bác mới cắt tóc trông thật là trẻ, khi thì giúp bà tắm chó khi không có ông ở nhà. Nó biết ông “gờm” nên gặp ông, nó chào xong rồi đi một mạch lên phòng. Ông nhìn theo, lắc đầu, “xì” một tiếng rồi bắt đầu “comment” bằng những lời lẽ văn chương ví von, hay ho nhất mà ký ức ông còn nhớ được:

- Con nhỏ này “giả nai” đó bà. Không “giả nai” thì “giả mù sa mưa”. Không “giả mù sa mưa” thì là “cáo già đội lốt nai tơ”. Nó “khôn lỏi”. Đâu phải cứ khoanh tay cúi đầu chào là con nhà lành. Con gái có cặp mắt lá răm dài có đuôi, đưa đẩy như thế làm gì thằng Tuấn không mê mệt. “Gái phải hơi trai như thài lài phải cứt chó”. Con nhỏ bám thằng Tuấn vì thằng này cha mẹ giàu có tiền. Rồi bà coi nó “bắt địa” thằng nhỏ tới... bến đò Thủ Thiêm luôn.

Bà bênh nó:
- Ông sao có thành kiến quá! Còn làm thầy tướng nữa. Con cái gốc Việt, sinh ra và lớn lên ở xứ Mỹ biết khoanh tay cúi đầu chào lễ phép như vậy...hiếm lắm ông à. Gia đình nó chắc cũng đàng hoàng. Con nhỏ phải được giáo dục trong một môi trường và văn hóa Việt nam mới biết chào người lớn theo “truyền thống” khoanh tay, cúi đầu như nó. Tuy sống theo kiểu Mỹ nhưng nó cũng có những tính cách dễ thương như lễ phép, quan tâm đến người già. Ông nói ác coi chừng mang khẩu nghiệp đó nha.

- Nhờ nó đi Tây ninh bỏ dấu... nặng nên bà cho nó ở đây với thằng Tuấn chớ gì. Cả tháng nay tui chưa thấy bà nói gì về chuyện con nhỏ. Tui không ham 300 bạc của nó đâu bà ơi! Chuyện khoanh tay cúi đầu chào đứa nào làm chả được. Con nhỏ đóng tuồng giỏi. Môi trường, văn hóa Việt nam hả? Con nhà lành không có cái kiểu sống Mỹ và ăn mặc như nó.

- Ông khó và cổ lỗ sĩ quá! May là con ông lấy chồng, cưới vợ đàng hoàng nếu không hai đứa ở vậy làm trai già, gái già vì ảnh hưởng cái khó tánh như ông. Thôi dẹp. Nói nữa thành gây lộn...

Ở xứ Mỹ, con cái Mỹ gốc Việt, nếu biết chút tiếng Việt, được cha mẹ dạy dỗ, nó sẽ nói “Chào bác, bác khỏe không” là quý lắm rồi. Có đứa khi gặp: “Hi! Bác”. Khi về: “Bye! Bác”. Ngôn ngữ chào hỏi các bậc trưởng thượng ngang hàng với bố mẹ chúng, đối với con cái sinh ra ở Mỹ, ít nói tiếng Việt ở nhà, có khi hiếm hoi và đơn giản có thế nhưng không phải vì vậy mà nó vô lễ với người lớn. Tiếng Việt của chúng nó “nghèo” quá! Ngược lại, con bé này nó khôn khéo, biết xã giao, tỏ ra từng trải, hiểu đời và khôn lanh hơn thằng Tuấn “gà tồ” nhà ta nhiều. Nói cho cùng đâu phải lỗi của nó. Lỗi thằng Tuấn. Bà chưa biết phải nói gì với thằng Tuấn. Bà ngắm kỹ con bé. Nó trông tròn trịa, tươi mát, da thịt trắng trẻo, nét mặt thanh tú, xinh xắn, nói tiếng Việt rành sáu câu. Bà cứ thắc mắc về gốc gác “tiểu thơ con cái nhà ai” mà đến ở với bạn trai, có lối sống như con gái Mỹ? Bố mẹ nó thuộc thành phần nào, có bao giờ tìm hiểu về con gái mình sống ở đâu, ở với ai, học hành thế nào? Văn hóa Mỹ khác với văn hóa Việt nam trong cách sống của giới trẻ và cách suy nghĩ của các bậc làm cha mẹ. Con cái các gia đình còn giữ được nề nếp Việt nam, sau 18 tuổi, chúng vẫn ở với cha mẹ để học tiếp lên đại học trừ phi phải dọn đi vì học trường xa. Các bậc cha mẹ cũng muốn con cái đi học gần nhà và ở gần mình càng... lâu càng tốt để chăm sóc và kiểm soát chúng theo kiểu “áo mặc không qua khỏi đầu”. 

Cách suy nghĩ này đã gây nhiều mâu thuẫn và rạn nứt trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Vài năm trước đây, trong cộng đồng người Việt có trường hợp cậu con trai sống bên cạnh bà mẹ bệnh hoạn, bị bà kềm kẹp về chuyện học hành, cậu bị ẩn ức sinh ra bệnh trầm cảm, căng thẳng thần kinh. Trong lúc nóng giận, cậu vô tình bóp cổ mẹ. Cậu bị kết tội giết người. Cái chết này một thời đã gây dư luận tranh cãi về những xung đột trong gia đình Việt nam và sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Mỹ -Việt. 

Trái lại, văn hóa Mỹ tạo cho con cái có tinh thần tự lập. Sau 18 tuổi, chúng thích bay nhảy, thường tìm cách đi học xa hoặc thuê phòng ở riêng với bạn gái hoặc bạn trai, vừa học vừa đi làm tự kiếm sống nhưng nếu... kẹt về tài chánh thì lại về cầu cứu bố mẹ. Bố mẹ Mỹ cũng quen với “truyền thống” “moving” và tinh thần tự lập nên họ không “ôm ấp” con cái như bố mẹ Việt. Khi chúng muốn “tung cánh chim... đừng về tổ ấm” nữa, họ xem đó là chuyện bình thường. Có các bậc cha mẹ Mỹ còn muốn cho con cái... mau đến tuổi 18 để chúng có trách nhiệm, ra đời, học kinh nghiệm cho biết mùi đời. Con cái gốc Việt sinh ra và lớn lên ở Mỹ sau này cũng ảnh hưởng lối sống theo Mỹ làm cho bố mẹ Việt nam nhức đầu không ít. 

Giữa hai nền giáo dục tự do, cởi mở, thực tiễn của Mỹ và nền giáo dục Á đông gò bó, khép kín, bảo thủ, cấm đoán với những nguyên tắc khắt khe như “nam nữ thọ thọ bất thân (sau này được sửa lại cho hợp với thời đại mới “nam nữ thọ thọ...sướng thân!), không phải là vấn đề đúng sai nữa mà các bậc cha mẹ Việt nam, đa số chọn phương pháp dung hòa, dựa trên tình thương yêu và hiểu biết để giữ chân con cái gần với mình càng lâu càng tốt nhất là sau khi chúng sắp lên đại học, cầm chắc thời gian sống gần với con không còn bao xa.

Dung, bạn gái của Tuấn là trường hợp điển hình. Do nhu cầu về tâm, sinh lý, chúng gặp nhau, yêu nhau, kết làm “boy friend”, “girl friend”, sống chung với nhau. “So far so good”. Đến đâu hay đến đó. Chúng không ký hợp đồng hôn nhân hay hứa hẹn yêu thương suốt đời hoặc có những ràng buộc gì về xã hội hay pháp lý. Chúng được giáo dục kỹ thời còn học trung học các phương pháp để đừng có “baby” và ngăn ngừa bệnh tật trong quan hệ nam nữ. Nền giáo dục thực dụng ở xứ Mỹ này có điểm lợi là cung cấp tất cả kiến thức cho giới trẻ để chúng làm hành trang ra đời khác hẳn với văn hóa Á đông. Giới trẻ thời “teen” như ông bà ngày xưa chỉ âm thầm tìm hiểu qua sách vở, phim ảnh hay bạn bè các vấn đề nhạy cảm như giới tính, bầu bì, bệnh hoạn... hoặc các vấn đề cấm kỵ khác. Cái thời của cụ Khổng “nam nữ thọ thọ bất thân” đã lạc hậu lắm rồi. Anh chàng Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu ngây ngô, hoảng hốt khua tay bảo với nàng Kiều Nguyệt Nga “Khoan khoan ngồi đó chớ ra. Nàng là phận gái ta là phận trai” trở thành một huyền thoại ở xứ Mỹ này. Chữ “trinh” bây giờ được các con, các cháu ca bài “xưa” quá rồi “Diễm”ơi! Cô dâu nào còn trinh tiết về nhà chồng được xem như “quê một cục” và đếm trên đầu ngón tay. Chúng đều trải qua “trial marriage” trước khi đi đến quyết định kết hôn. Vậy mà tỷ lệ ly dị vẫn là một con số đáng làm cho các bậc cha mẹ và các nhà xã hội học suy nghĩ.

Từ khi có bạn gái, thằng Tuấn càng ngày càng ốm o gầy mòn. Mắt nó trũng sâu, thâm quầng. Khuôn mặt hốc hác, hai gò má nhô lên làm khuôn mặt nó dài ra như mặt ngựa. Da dẻ xám xịt như người mắc bệnh sốt rét. Trái lại, con nhỏ càng ngày càng nõn nà, tươi mát, đầy sức sống. Dạo này, thời tiết chuyển mùa. Trời sắp sang thu. Có những ngày Cali trời trở gió, thằng Tuấn hắt hơi sổ mũi, sụt xà sụt xịt xin bà thuốc uống hoài. Một hôm, quần áo của nó còn sót lại vài cái quần lót nhỏ xí có hai sợi dây mỏng te, vài chiếc vớ màu trong máy sấy, bà gom lại đưa cho Tuấn bảo:
- Tuấn, đồ này của bạn gái con, không phải của bác.

Thằng này miệng mồm lanh chanh chối bai bải:
- Không phải của bạn gái con đâu bác? Của ai...

Bà nổi nóng, sẵn dịp “tới luôn bác tài”, bà vô đề luôn:
- Nhà có hai người đàn bà, không phải của bạn gái con chớ của ai? Bác không có cái loại..dây này. Bác nói cho con biết cả mấy tháng nay bạn gái con đến đây cả ngày cả đêm. Hồi mới dọn về con hứa gì với bác? Bác chỉ cho một mình con ở trọ thôi. Con cho bạn gái về, ăn ở dầm dề. Đồ đạc nhà bếp như dao, kéo, đũa, muỗng, ly, tách... lạc mất hoài, bác cứ phải đi tìm. Hỏi con thì ra con lấy xài rồi cất trong phòng. Có cái mất luôn. Bác trai đổ rác thấy ly bể, chén bể rồi đũa quăng trong thùng rác. Chén dĩa ăn xong để qua đêm, sáng sớm, bác trai phải rửa... Đồ ăn thức uống trong tủ lạnh mới mua, con ăn uống tự do không cần hỏi qua bác một tiếng. Đi sớm về khuya, đèn nhà bếp không tắt, cửa vườn không đóng. Thôi nha, con ở một mình thì được, còn muốn có bạn gái ở chung thì tìm nơi khác. Hai bác không muốn nhà bác có người lạ.

Thằng nhỏ đứng lặng im một hồi và bất ngờ trước một tràng... đại liên bắn xối xả vào nó. Bấy lâu nay, bà chưa nỡ nói thẳng với nó.Nói xong bà thấy hả hê nhưng nghĩ lại cũng tội nghiệp. Nó lớn rồi cũng phải có bạn gái. Đã xem nó như con cháu trong nhà thì tiếc gì ba cái chuyện ăn uống trong tủ lạnh nhưng từ khi có bạn gái nó đâm ra hư đốn. Hai đứa sống tự nhiên, thoải mái vượt qua giới hạn giữa chủ nhà và người thuê phòng. Đã đến lúc có thể hết “duyên” ở trọ rồi.

Lần vừa rồi bà Liên qua Mỹ nói với tôi vật giá ở Mỹ leo thang, học phí tăng nên tháng nào cũng gửi thêm cho nó cả ngàn xài thêm. Bà kể 1 tháng tính ra tiền học, ăn ở, chi tiêu lặt vặt cho thằng công tử đi du học này sương sương cũng cỡ 3 ngàn đô gần bằng lương kỹ sư mới ra trường ở Mỹ. Tôi nghe mà bàng hoàng, ngao ngán. Ở Việt nam bây giờ có nhiều người giàu quá! Tôi nghiệm thấy bà con ở Việt nam giàu như ông bà Liên đều có chung cách sống giống nhau. Họ tìm cách cho con đi du học Mỹ từ lúc còn học trung học vì đi học trong lúc này xin visa Mỹ dễ hơn. Họ đi Mỹ như đi chợ. Vừa có tiền, vừa có thời gian, mỗi lần nhớ con, họ có thể đi Mỹ chơi thăm con bất cứ lúc nào. Họ mua nhà ở xứ Mỹ trả bằng tiền mặt. Họ đi du lịch khắp xứ Mỹ. Họ biết nhiều về xứ Mỹ nhiều hơn người Việt sống ở đây quanh năm ngày tháng chỉ biết cày để trả nợ “bill”. Họ khoái mua hàng hiệu ở Mỹ vì rẻ và bảo đảm hơn ở Việt nam. Họ xài hàng Mỹ chính hiệu con nai, chê hàng Mỹ “made in China”. Họ nói chuyện toàn là tiền đô la Mỹ. Họ tiêu xài rộng rãi như tầng lớp trung lưu Mỹ trong khi bà con Việt nam lao động mình ở xứ Mỹ này cày chết bỏ, quanh năm ngày tháng quay quắt vì cơm, áo, gạo, tiền. 

Đối với ba má thằng Tuấn, chuyện chuyển tiền hàng tháng vài ngàn đô la cho Tuấn không phải là vấn đề. Thằng con biết bố mẹ có tiền nên sống tha hồ vung vít. Bây giờ nó đang kéo thêm cái “rờ-mọt” là em Dung nên hao tốn thêm chút đỉnh có là bao. Ba má nó đủ sức bao bọc. Hai đứa đi shopping quăng mấy hộp giày, bao, bì, toàn là hàng hiệu để ngoài phòng. Lâu lâu vắng nhà vài hôm thì ra hai anh chị lái xe đi Las Vegas chơi bài. Cuối tuần, hai đứa ăn nhà hàng đem sushi và đủ các loại thức ăn thừa để cả mấy ngày trong tủ lạnh, bà phải vất đi. Phòng nó lúc nào cũng vang lên phim bộ Hàn quốc hoặc tiếng cười giòn giã của Dung. Không biết chúng học hành gì mà cứ thấy xem phim, nghe nhạc cả ngày.

Ông bà tắm cho con chó “Sugar” ở sân vườn. Ông nhìn lên phòng nó lắc đầu.

- Thôi kệ ông ơi. Tụi nó lớn rồi. Nó không phải là con ông. Ông xót xa và để ý làm gì cho bận tâm. Con “đại gia” nó phải ăn chơi, tiêu xài như một “thiếu gia” chớ!

Ông có dịp... làm thơ cho bà nghe:
- Học gì mà học! Đêm với chả ngày! Đêm... bảy, ngày... ba thì có! “Trời cho anh có hai tay. Tay nào ôm sách, tay nào... ôm em?” Học hành như nó chừng nào mới ra trường? Con cái đại gia du học có khác! Có biết đâu “Cơm cha, áo mẹ, công thầy. Lấy tiền bao gái có ngày... te tua”. Bà thấy thằng Tuấn càng ngày càng giống cái xác ve không?

- Chuyện của thằng Tuấn mà ông cũng có... thơ? Cơm áo có cha mẹ nó lo. Công thầy có ba má nó đóng học phí. Ông hơi đâu mà lo nó... te tua. Nó gầy như xác ve đã có ba má nó “bơm” vitamin T cho nó. Ông không nghe nó kể ba má nó sắp mua nhà ở xứ Mỹ này à? Nhà “single house” còn ngon hơn cái “town house” của mình.

Chiều hôm đó, tôi nghe tiếng ói mửa ọc ọc trong phòng tắm. Về khuya, tôi nghe tiếng nôn ọe. Thằng Tuấn hỏi tôi mượn chai dầu gió xanh, nói Dung bị trúng gió. Tôi thấy tội nghiệp nên đưa chai dầu, dặn uống nước nhiều, nếu thấy sốt phải đi bác sĩ. Sáng sớm, trong khi cả nhà còn đang yên giấc, tiếng nôn ọe của Dung vang lên thật rõ, nhiều lần. Tôi thức dậy, nằm yên, lát sau mở hé cửa nhìn sang phòng bên kia thấy Dung đi ra đi vào trong buồng tắm. Cả mấy ngày con bé ở trong phòng. Thằng Tuấn đi đi về về mua thức ăn. Nó phóng lên cầu thang, nét mặt lo âu, hai con mắt sâu hoắm, quầng đen như người mất ngủ. Vài ngày sau, Tuấn gặp riêng tôi dưới bếp, ấp úng mãi mới ngỏ lời:

- Bác ơi, con bị rớt cái bóp, mất mấy cái thẻ. Bác giúp con, cho con mượn 3 ngàn. Con cần tiền lắm. Má con sẽ gửi sau cho con, con sẽ trả bác.

- Trời đất! Mất bóp ở đâu? Chuyện gì mà mượn tới... 3 ngàn? Bác đâu có một lúc... 3 ngàn. Con cần xài gì với số tiền lớn vậy?

- Con không giấu bác, em Dung có bầu. Mai con đi Las Vegas làm đám cưới gấp. Cuối tuần này tụi con “move”. Tụi con mượn tiền để đặt cọc thuê appartement và nhiều chuyện phải tính. Tuần tới ba má con qua coi nhà mới, con có tiền gửi trả bác. Con phải dọn liền vì không muốn Dung có bầu ở trong nhà bác sợ bác kiêng cữ. Con cám ơn bác cho tụi con ở từ bấy lâu nay. Bác cho con gửi lời cám ơn bác trai nữa. Con mang ơn bác nhiều lắm.

******
Sau đây là vài dòng tâm sự của các nhân vật trong câu chuyện. Trước hết là công tử du học:

Tôi là Tuấn. Đi Mỹ du học chỉ là cái cầu bắc qua cho tôi ở lại xứ Mỹ. Mục đích của ba má tôi là phải tìm cách cho tôi vô quốc tịch Mỹ bằng bất cứ giá nào. Cách thông dụng nhất là làm hôn thú giả với một đứa con gái có quốc tịch Mỹ. Khi có thẻ xanh tạm, 2 năm sau có thẻ xanh chính thức trở thành thường trú nhân, 5 năm sau vô quốc tịch Mỹ, lúc đó ra tòa làm giấy ly dị. Cả hai được tự do. Thời giá trên thị trường bây giờ khoảng từ 4 đến 5 chục ngàn cho một “dịch vụ trọn gói”. Tiền bạc sẽ trả dần theo từng giai đoạn. Làm xong hôn thú, đưa trước 10 ngàn. Có thẻ xanh tạm đưa thêm 10 ngàn. Có thẻ xanh chính thức đưa tiếp 10 ngàn nữa. Khi nào vô quốc tịch Mỹ đưa nốt số tiền còn lại.

Tôi gặp con nhỏ này trong lớp toán. Con nhỏ dốt toán. Tôi tuy xấu trai, lười học nhưng được cái thông minh nên môn nào cũng điểm A. Con nhỏ tới làm quen nhờ chỉ bài. Tôi để ý nó từ hồi học lớp này vì nó đẹp nhất trong số sinh viên Á châu. Nó là người Việt, qua Mỹ lúc 10 tuổi, cha mẹ ly dị, ở với mẹ và bà ngoại từ nhỏ nên nói tiếng Việt giỏi. Ba nó có vợ mới. Má nó làm “neo” đi làm từ sáng đến tối, có bạn trai nhưng chưa làm đám cưới. Bà ngoại nuôi nó từ nhỏ. Bà già rồi, đi nhà thờ cả ngày nên sau này nó ít gần với bà ngoại. Nó ghét cha vì cha bỏ mẹ, nó xa mẹ vì mẹ có bồ. Nó chỉ thương bà nhưng bà già rồi, bà gần Chúa hơn là gần nó. Nó kể nó mất trinh với một thằng bạn Mỹ năm lớp 12. Lên đại học bị “accident” với một thằng bạn Mỹ khác. Thằng này nhất định bắt nó phá thai. Nó theo đạo Công giáo nhưng không sợ mang tội. Nó phá thai rồi cắt đứt liên lạc với thằng này luôn. Chơi với con nhỏ này tôi nói tiếng Việt suốt ngày và tôi cũng bị mất... trinh nhờ con nhỏ này. Tôi mê nó vì nó dịu dàng, xinh đẹp, chịu chơi, thẳng thắn, có nhiều kinh nghiệm sống, dạy tôi nếm đủ mùi đời ở cái xứ Mỹ văn minh và hưởng thụ mà tôi mơ ước. Tôi mang tiếng là con nhà giàu, học giỏi, bậc “trượng phu nam tử hán” (mấy chữ này tôi nghe trong phim Tàu) được tiếng có tiền, lại đi du học ở Mỹ, tôi tiếc gì mà không bao nó ăn, ở, đi chơi, shopping. Tiền sách vở tôi cũng trả cho nó. Tiền túi để đổ xăng, tiêu vặt tôi cũng nhét cho nó vài trăm hàng tuần. Tất cả đã có nguồn tài chánh của ba má tôi ở Việt nam viện trợ dài dài. Nó gọi tôi là “công tử Bolsa”. 

Tóm lại, tôi là đứa hạnh phúc và may mắn có một đứa con gái “đồng hương” dạy tôi biết yêu đầu tiên. Tôi tự hào có một “partner” đủ “tiêu chuẩn” để vui chơi với bạn bè. Tôi hãnh diện có một người bạn học chia xẻ kiến thức với tôi trong môi trường văn hóa ở một đất nước văn minh và cuối cùng, tôi có một cô y tá chăm sóc sức khỏe tôi trong những lúc trái gió trở trời. Tôi ở nhà trọ, rủ Dung về ở chung cho tiện việc ăn, ở, học hành và đi lại nhưng bà bác không bằng lòng. Chắc bả sợ chứa gái trong nhà... xui cũng như ra ngõ gặp gái... xui. Bác gái chủ nhà vui vẻ, xởi lởi, thoải mái. Ông chồng già khó tính, bảo thủ, mặt... hình sự như công an. 

Ba má tôi tính mua nhà ở Mỹ nhưng còn ngần ngại vì chưa biết nhờ ai đứng tên nhà. Ba nhờ ông chú bên nội nhưng không tin bà thím nên lừng chừng. Má nhờ dì Lan bên ngoại, dì ậm à ậm ừ. Tiền bạc trong trương mục của má đã sẵn sàng. Nếu chưa mua nhà, sớm muộn gì tôi cũng phải thuê “appartement” ở riêng vì con nhỏ đang có bầu. Tôi phân vân và rầu rĩ quá chừng. Tôi khuyên nó phá thai cho rồi nhưng nó nói còn chờ xét nghiệm cho chắc ăn. Nó nói vì thương tôi nên muốn giữ cái thai làm tôi cảm động. Tôi thương yêu, chết mê chết mệt con nhỏ này. Nó là mối tình đầu của tôi. Tôi quen con nhỏ hơn năm nay rồi. Lúc đầu chỉ là tình bạn. Dần dà, thân mật, gần gũi, hai đứa sống với nhau như vợ chồng ở nhà bác Hai được mấy tháng nay thôi. Dung có bầu? Tôi sắp có con? 22 tuổi còn trẻ quá, chưa gì đã dính vào đường vợ con? Tôi và Dung còn muốn tiếp tục việc học. Tôi yêu Dung nhưng không muốn có con trong lúc này. Bí quá, cần tiền, tôi gọi về Việt nam kể hết sự tình với má. Má mừng quá, dặn chờ Má qua giải quyết. Má sẽ qua Mỹ sớm nhất vì visa còn hạn. Có 4 việc má tính cho hai đứa: thứ nhất, tôi và Dung lên Las Vegas làm đám cưới gấp. Thứ hai, tôi lên mạng hoặc xem quảng cáo tìm một căn nhà vào khoảng 300 rưỡi cho đến 400 ngàn. Thứ ba, má sẽ sòng phẳng chuyện tiền bạc cho Dung sau khi làm hôn thú. Thứ tư, Dung phải giữ cái thai này. Kèm theo là số tiền chuyển 10 ngàn để tôi tạm chi xài chờ má qua. Chỉ một cú phone của má làm cho tôi nhẹ người. Má tôi là bà tiên phất tay áo như trong chuyện cổ tích. Bao nhiêu những phiền muộn, khó khăn, các vấn đề nan giải sẽ được má... phất một cái êm đẹp theo chiều hướng thuận lợi cho cả Dung và tôi.

*******
Người thứ hai tâm sự trong câu chuyện này là má thằng Tuấn:

Nghe tin thằng Tuấn có bồ tên Dung, ở nhà bà Hai hổm rày mà bả giấu tôi. Lần nào về Việt nam hỏi chuyện bồ bịch thằng Tuấn, bả đánh trống lãng, trả lời lòng vòng, nửa nạc nửa mỡ “Trai, gái ở tuổi này không có bồ mới là chuyện lạ. Thằng Tuấn có bồ, có gì mà chị ngạc nhiên”. Bả kín tiếng hay bả học cái tính tôn trọng sự riêng tư của người Mỹ, không “đi guốc” vào đời tư của người khác? Tôi cũng không hỏi thêm. Bề gì tôi cũng biết chuyện con nhỏ đang có bầu. Tôi cho thằng Tuấn đi du học là để tính cho nó học hành xong rồi lập nghiệp luôn ở xứ Mỹ này. Tôi đi du lịch nhiều. Cái gì Mỹ cũng nhất. Tôi mê Mỹ lắm. “Quê hương là chùm khế ngọt” của ai chớ không phải của tôi mặc dù tôi sinh ra và lớn lên ở xứ đất đai trước 1975 rẻ như bèo. 

Thời chính sách mở cửa, đúng thời điểm giá đất tăng vùn vụt, tụi tư bản qua đầu tư, cái mảnh đất vườn ở Bình Dương tôi xẻ ra bán cho tụi tư bản Nhật cả trăm tỷ. Tôi giàu mau quá chừng. Ba thằng Tuấn giỏi nghề tiện. Xưởng tiện của ổng ở Bình chánh, hợp đồng vô như nước làm không kịp giao hàng. Hai vợ chồng tôi kiếm tiền xài không hết. Vợ chồng tôi chỉ có một đứa con trai là thằng Tuấn, kiếm tiền để cho nó xài chứ để cho ai? Nó là con cầu tự. Tôi cầu Chúa, cầu Phật, cầu bà Chúa Xứ, cầu Mẫu Mẹ, cầu Phật bà Quan Âm ở chùa Hương...Tôi sanh thằng Tuấn rồi... tịt luôn. Vì là con cầu tự nên nó học thông minh nhưng đau yếu quặt quẹo hoài... 

Tôi qua Mỹ lần này gặp Dung để cho, đúng hơn là chung tiền sòng phẳng cho nó 40 ngàn đô la theo hợp đồng làm hôn thú với thằng Tuấn. Tưởng là làm hôn thú giả nào ngờ tụi nó thương nhau nên giả mà thành thiệt. Trước sau gì nó cũng là dâu con, tôi đưa cho nó luôn một lần 40 ngàn đô. Tôi còn chứng tỏ cho nó biết tôi thương và tin dâu nên nhờ nó đứng tên cái nhà trong khi chờ thằng Tuấn có thẻ xanh. Chuyện đời “lộng giả thành chơn” như trường hợp thằng Tuấn và con Dung xưa nay thiệt hiếm. Thằng Tuấn có phước. Không cầu mà được. Con Dung đang có bầu. Đứa con dù trai hay gái là sợi dây nối kết vợ chồng với nhau. Có đứa con, việc cấp thẻ xanh cho thường trú nhân càng nhanh hơn. Con Dung không cần học hành để có bằng cấp. Cái bằng lớn nhất của nó là làm mẹ. Tôi nuôi nó. Nó ở nhà nuôi con. Thằng Tuấn học được tới đâu thì tới nhưng tôi muốn nó học đến nơi đến chốn. Con Dung đẻ xong, nếu nó muốn, tôi nuôi cháu cho nó đi học tiếp. Con nhỏ khôn lanh, xinh đẹp. Thằng Tuấn không xứng với con Dung chút nào. Ngược lại tôi có tiền. Có tiền, tôi có được hết mọi thứ: nhà, xe, quốc tịch Mỹ, con dâu đẹp, cháu nội tương lai... Thằng Tuấn có vợ Mỹ gốc Việt, con Mỹ gốc Việt, công dân Mỹ tương lai. Người Mỹ có “American dream”, ước mơ của họ là mua được cái nhà. Tôi có nhiều ước mơ. Ước mơ nào cũng mua bằng tiền cả. Có một điều mà sau này dù có tiền tôi cũng không mua được. Khi tôi biết thì tất cả đã muộn màng.

******
Nhân vật thứ ba là Dung, nhân vật phụ mà là chính trong câu chuyện này:

Tên tôi là Dzung có chữ “z”. Tên Mỹ là Suzie. Tôi không có thì giờ nhiều để... sống chớ đừng nói chi là kể chuyện. Chuyện quá khứ tôi quên rồi nhưng nếu nhắc lại chuyện chồng cũ của tôi, thằng Tuấn thì tôi còn nhớ vài điều. Tôi đâu có yêu Tuấn. Tôi yêu tiền của nó thôi. Nó xấu trai, ngu ngơ, khờ khạo như con nít nhưng được cái nó hiền và... yêu tôi nên khi bỏ nó, tôi cũng tội nghiệp. Tôi chỉ sợ nó nổi khùng kiếm súng kè vào đầu tôi thì “tàn đời trong ngõ hẹp” (Câu này tôi nghe bà ngoại hay nói). 

Ai bảo tôi có con với nó? Tôi có ngu không mà để có con? Đó chỉ là màn kịch cho má thằng Tuấn qua Mỹ sớm, mua nhà cho mau chớ bả cứ chần chờ mấy tháng nay rồi. Có cái thai bả mừng muốn chết. Tôi muốn gì mà chẳng được. Nói cho cùng thì không có ai ngoài tôi, con dâu tương lai để bả tin đứng tên mua nhà. Tôi chờ thủ tục nhà xong tôi phá thai cho rồi. May quá, tôi không có thai. Hiện giờ tôi đang đứng tên cái nhà và đã làm xong thủ tục ly dị với thằng Tuấn. 

Còn chuyện làm hôn thú giả... tập hai, bả sẽ có dịp xài tiền, lo tiếp cho Tuấn. Bả giàu quá mà! Một cái nhà mà nhằm nhò gì! Tôi muốn nhắn bả một điều. Bả khoe bả có tiền mua được hết mọi thứ nhưng có một thứ bả không mua được cho con trai bả, đó là... tình yêu của tôi. Còn gì để kể nữa không? Chắc là không. Tôi mau quên chuyện cũ. Tôi không thích dây dưa. Tôi không “care” chuyện “bà Tám”. (Chữ này tôi nghe bà ngoại nói). Tôi không tin ai ngoài... tôi. Với Tuấn, tôi muốn mượn một câu trong đoạn cuối phim “Cuốn theo chiều gió”. Khi ông chồng Buttler bỏ đi, bà vợ Scarlett tự an ủi “To morrow is another day”. Ngày mai là một ngày khác. Chắc chắn nó sẽ khác hơn ngày hôm qua. Có thể nó sẽ tốt đẹp hơn. Tuấn, you hãy quên quá khứ đi!

******
Tính ra cũng gần một năm, từ ngày Tuấn và Dung dọn qua nhà mới, vợ chồng ông bà Hai không nhận tin tức gì của hai đứa. Má nó cũng biệt tăm. Một hôm ông bà Hai gặp chú thằng Tuấn tên Vinh ở khu Little Saigon. Hồi còn ở trọ nhà ông bà, mỗi khi đi chợ dưới khu người Việt, chú nó hay đến thăm Tuấn và rất quý vợ chồng ông bà Hai. Ông bà biết được kết thúc câu chuyện là do chú thằng Tuấn kể miên man cả tiếng đồng hồ ở bãi đậu xe.

Bà Hai nhớ hồi xưa khi con Dung còn mặn mà với thằng Tuấn, ông Hai có con mắt tinh đời. Ổng nhìn con Dung nói con Dung là “Cáo già đội lốt nai tơ” hoặc ổng nói một câu bà còn nhớ hoài “Con nhỏ đóng tuồng giỏi”. Cuộc đời là một sân khấu thu nhỏ. Các diễn viên, mỗi người đóng một vai nhưng chắc không ai diễn xuất sắc như con Dung. Nó còn là đạo diễn, viết kịch bản và là diễn viên nữ chính “đóng tuồng giỏi”. Nếu không, làm sao nó “chớp” được 40 ngàn đô la khỏe re? Nếu không, làm sao cái nhà đứng tên nó? Diễn viên nam chính là thằng Tuấn. Cái thằng “công tử du học” ngây ngô hăm hở vô xứ Mỹ, gặp phải “ma nữ đa tình”. Thằng con cầu tự đáng thương và cũng là nạn nhân của vở bi kịch tình và tiền này. Vở kịch này có thật ở ngoài đời. Chỉ tiếc rằng nó chưa có một “happy ending”. Vở kịch nào có một “happy ending” hay còn gọi là kết thúc có hậu làm cho mọi người khi xem xong, cảm thấy cuộc đời này còn có nhiều điều lạc quan, đáng tin, đáng sống và mục đích để sống là đạt 3 điều: cái Thật (Chân), cái Tốt, Lành (Thiện), và cái Đẹp (Mỹ).

Phải chi có Tình Yêu (viết hoa) của nhân vật nữ, kịch bản này sẽ khác đi.

Phùng Annie Kim


comment: Hắn sống ở Bỉ (Belgique) chưa thấy trường hợp như thế này xảy ra, tại có lẽ dân VN chê Bỉ nghèo nên ít người muốn con mình đến Bỉ, một số thanh niên ở VN mượn đường quá cảnh Bỉ để tìm cách đi nước khác, nhất là sang Anh để hành nghề "trồng cỏ", nhiều nhất là những người dân Nghệ An...

Thường thường qua Bỉ thường họ qua với tư cách thành hôn với người ở VN...ngày trước trường hợp này sang Bỉ khá nhanh...chung sống tạm với nhau hoặc chỉ lấy địa chỉ nơi đó mà ở chỗ khác... cũng có giá cả vài chục ngàn tiền Âu, mọi thủ tục ở VN người đi lo giải quyết, sang đây hợp thức hóa, có căn cước tạm rồi một thời gian quy định xin quốc tịch ăn theo chồng (vợ), sau đó ly dị.

Chính quyền Bỉ, đặc biệt là các cơ quan đăng ký hộ tịch, rất lưu ý đến tình huống này và có thể từ chối tổ chức hôn lễ nếu nghi ngờ có gian lận.

Nay vấn đề xin vào quốc tịch khó khăn hơn, người được bảo lãnh qua theo diện hôn nhân phải đi làm có khai báo toàn thời gian trong 5 năm mới được cho phép thi vào quốc tịch (thời của hắn không có tổ chức thi). Không chỉ có VN làm đám cưới giả, mà những dân Phi châu, trung đông cũng nhiều, nay còn thêm Ukraine và những nước của cộng hòa liên bang xô viết cũ.

Chuyện ở Mỹ hắn chỉ nghe, đọc truyện trên mạng như câu chuyện hắn chuyển hôm nay nên hắn không có ý kiến.

Ara


Friday, March 22, 2024

GIỌT MÁU RƠI CỦA NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA CHẾT TRẺ


Bài viết mới nhất của Phùng Annie Kim là câu chuyện hơn 40 năm sau của chiếc trực thăng U-H1 bị bắn rơi trong cuộc hành quân Hạ Lào năm 1971.

Sự việc, khung cảnh chuyện kể là có thật nhưng danh tính nhân vật trong truyện do tác giả hư cấu.

1. Bà Tư nằm trăn trở hoài trên chiếc giường nệm thấp. Chăn êm nệm ấm, thân thể mát mẻ, thoải mái mà bà vẫn trằn trọc chưa ngủ được. Với cái tuổi tám mươi này, đôi khi bà hay quên những chuyện lặt vặt vừa mới xảy ra như ăn rồi mà nhất định bảo chưa ăn, chưa uống thuốc mà quyết liệt không chịu uống nữa, chưa đi tắm mà bảo vừa tắm xong.Thế mà sáng nay, có một chuyện bà không quên. Quyền, con trai bà cho biết Sơn, thằng cháu nội bên Minnesota gọi phone về báo tin sẽ về Cali thăm bà vào dịp lễ Giáng sinh.

Cả ngày nay, bà nôn nóng, cứ đi ra rồi lại đi vào. Bà cầm quyển lịch trong tay đếm từng ngày. Còn hơn một tháng nữa. Sao mà lâu quá! Bà bảo Quyền và Quyên phải dọn cái này, dẹp cái kia, sửa soạn nhà cửa để đón thằng nhỏ.

Nói đến bộ nhớ và sức khỏe của bà cụ tuổi ngoài tám mươi như bà Tư kể cũng hiếm. Chuyện quá khứ, bà nhớ vanh vách các chuyện gia đình xa xưa thời ông cố bà sơ nào hay những kỷ niệm thuở hàn vi ở Việt nam. Nếu có bà con nào đến chơi gợi nhắc chuyện xưa, bà kể lan man hàng giờ không dứt và không sót chi tiết nào. Bà thuộc kinh Phật làu làu. Tiền để dành đi cúng chùa, bà đếm chính xác và biết sắp xếp thành từng loại. Bà dặn cô con gái may cái túi lớn phía trước trong áo lót, bà cất tiền và gài kỹ bằng nút bấm. 

Việc di chuyển, bà đi lại chậm chạp nhưng vững vàng không cần đến cây gậy. Ban đêm, bà không cần đánh thức các con, tự đi restroom trong căn phòng lớn gần giường ngủ của bà. Bà ăn chay, tập hít thở, đi bộ đều đặn với Quyền mỗi ngày trong khu townhouse. Bà còn xỏ kim được bằng sợi chỉ trắng. Tai bà còn nghe rõ người khác chuyện trò. Mỗi đêm, bà chỉ chợp mắt vài tiếng đồng hồ. Thì giờ của bà hầu hết là những thời công phu sớm tối trước bàn thờ Phật. Bà tọa thiền, tụng kinh, thì thầm cầu nguyện dưới ngọn đèn vàng trong căn phòng ngủ chung quanh trang trí toàn là hình, tượng Phật.

Hơn mười năm nay, nhà bà là một cái chùa nhỏ thanh tịnh và yên tĩnh. Bà xuống tóc, tịnh tu tại gia, sống an lạc, mặc các bộ quần áo màu nâu hoặc màu lam. Các con gọi bà bằng "Cô Diệu" thay vì gọi bằng "Má".

Trong bốn cái cửa "sinh, lão, bệnh, tử" của cuộc đời ai cũng phải trải qua, bà Tư đã vượt qua cái cửa thứ hai và thứ ba một cách nhẹ nhàng. Ai hỏi bà về tuổi già và bệnh tật, bà nói bà chẳng có bệnh gì ngoài bệnh của người già nghĩa là sức khỏe bà một ngày một yếu đi như ngọn đèn dầu, hết dầu thì đèn tắt.

Còn cái cửa "tử" cuối cùng? Bà đang chuẩn bị đấy thôi. Ngoài tám mươi rồi, bà Tư không mong kéo dài tuổi thọ thêm nữa. Ai hỏi cụ bà sợ chết không, bà lắc đầu nói chỉ sợ bệnh nằm liệt giường khổ cho cái thân già và cho con cháu. Trước đây, bà thường nói với các con bà chuẩn bị sẵn cho chuyến đi cuối đời nhưng từ khi gặp lại thằng cháu nội sau bốn mươi năm trăn trở vì nó, bà như được hồi sinh. Bà vui nên càng ngày trông bà càng khỏe ra. Bà yêu đời và ham sống. Vợ chồng thằng Quyền lấy nhau bốn mươi năm không có con, thằng cháu nội đích tôn lưu lạc này như cục vàng quý đối với bà, mang đến tuổi già của bà cả một mùa xuân.

Trong đêm khuya, bà Tư nằm nhớ lại cuộc đời khổ cực của bà trong sáu mươi năm từ lúc lấy ông Tư là hạ sĩ quan nghèo cục Quân nhu thuộc bộ Tổng Tham mưu, lương lậu không đủ nuôi bốn đứa con ăn học, cả nhà sống nhờ vào lò bún thủ công của bà. Bà thức khuya dậy sớm làm bún. Ông Tư và các con bà chia phiên nhau vừa đi học, đi làm, vừa chạy Honda bỏ mối bún ở chợ và các quán ăn ở Sài gòn. Thời chiến tranh leo thang, luật tổng động viên ra đời, Quyền bị đổi ra vùng một chiến thuật ngành quân vận. Quang, đứa con trai thứ hai theo anh ra Đà nẵng nộp đơn vào sư đoàn một không quân phục vụ ngành an ninh và phòng thủ phi trường. Đêm đêm, bà mẹ già chỉ biết cầu nguyện cho hai đứa con đi lính xa nhà thoát khỏi cảnh bom đạn trong cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt.

Được tin trong một chuyến vận chuyển vũ khí, đoàn xe của Quyền rơi vào ổ phục kích của Việt cộng. Quyền bị gẫy nát một chân, được xếp vào loại tàn phế và được giải ngũ. Bà vui mừng vì Quyền vừa thoát được bàn tay tử thần, được chuyển vào Sài gòn cũng là lúc một nỗi lo khác lại đến. Quang tình nguyện chuyển sang ngành tác chiến, trở thành xạ thủ trực thăng của phi đoàn 213. Thời gian này, Quang yêu Phượng, cô y tá nổi tiếng là người đẹp của bệnh viện Đà nẵng. Mối tình này đã đơm hoa kết trái đó là thằng Sơn, cháu nội của bà Tư bây giờ.

Sáng ngày mười tháng hai năm một chín bảy mốt, trong một phi vụ tại Hạ Lào, gia đình bà được tin chiếc trực thăng U-H1 bị bắn rơi, Quang và phi hành đoàn tổng cộng mười một người đều tử trận, không thể tìm được xác..

Tin con trai tử nạn một cách thảm khốc, sau đó là nhận giấy báo tử chính thức và tiền tử tuất của Quang, lòng bà mẹ thương con vẫn thầm nuôi niềm hy vọng. Biết đâu chừng thằng Quang còn sống sót và sẽ trở về. Quang là một thằng lanh lợi và thông minh. Biết đâu chừng nó nhảy dù ra khỏi máy bay trước khi máy bay trúng đạn, bốc cháy. Biết đâu chừng nó còn sống và bị bắt làm tù binh tại Lào hoặc bị đưa ra ngoài Bắc. Biết đâu chừng nó chỉ bị thương ở đầu và mất trí nhớ nên sống lang bạt, không tìm được đường về với gia đình. Bà đi tìm người giúp bà câu trả lời. Bà đi xem bói. Ông thầy bói quả quyết thằng Quang còn sống. Số nó đào hoa nếu lấy vợ sớm sẽ có cháu cho bà ẵm bồng. Bà sống, chờ đợi, tin tưởng và hy vọng mỏi mòn với ba chữ "biết đâu chừng"...

Sau khi mất nước, bà Tư nghe tin đồn có nhiều tù binh Việt Nam Cộng Hòa được chính phủ Hà nội thả về theo quy ước quốc tế về việc trao đổi tù binh. Quyền nói với bà Tư làm gì có chuyện thả tù binh trong khi hàng trăm ngàn sĩ quan, hạ sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, các viên chức chế độ cũ gọi chung là "ngụy quân", "ngụy quyền" bị kẹt lại, phải ra trình diện và bị giam giữ ở các trại tập trung để "học tập cải tạo". Quyền may mắn là hạ sĩ quan đã giải ngũ nên không nằm trong số đó. Nếu không, bà Tư lại phải lê lết trong các khu rừng để thăm nuôi thằng con tù.

Tin đứa con tử trận chưa làm ráo nước mắt bà mẹ thì hai năm sau ông Tư mất vì tai biến mạch máu não. Thằng Quốc, con trai thứ ba học hành và lớn lên dưới chế độ xã hội chủ nghĩa vừa tốt nghiệp trung học. Năm một chín bảy tám, mặc dù có hai anh đi lính và tử trận dưới chế độ "Mỹ ngụy", nhà nước Cộng sản vẫn bắt con "ngụy" không đủ tiêu chuẩn vào đại học được "ưu tiên" thi hành nghĩa vụ quân sự ở chiến trường Campuchia. Bà khóc hết nước mắt. Bà tính đường lui, trở về quê ở Gò công cho thằng Quốc trốn nghĩa vụ. Nào ngờ mạng lưới công an ở các xã, huyện còn dầy đặc hơn thành phố. Bà bị công an địa phương bắt giam trong trại tù cải tạo lao động thời hạn hai năm vì tội không thi hành luật pháp và cố tình bao che cho tội phạm.

Nếu bị ở tù để cho thằng con không phải đi lính, bà Tư sẵn sàng hy sinh cái mạng già để cứu con. Nào ngờ bọn chúng, một mặt bắt giam bà đi lao động, một mặt ruồng bắt Quốc và làm áp lực để Quốc ra trình diện. Thời đó, cuộc chiến tranh biên giới giữa hai nước Cộng sản Việt nam và Campuchia được sự hậu thuẫn của Trung Quốc càng ngày càng ác liệt. Thằng nhỏ mười tám tuổi vừa tốt nghiệp trung học, không biết gì về súng ống trận mạc, không biết gì về chiến tranh, không có chút lý tưởng gì về tổ quốc, niềm mơ ước duy nhất của nó là được vào đại học thất bại, bà mẹ đang ở tù, Quốc chấp nhận trình diện, lên đường ra trận để bà mẹ già được tha về sớm.

Một năm sau, Long, người đồng đội của Quốc bị thương về phép, kể lại cho gia đình bà Tư về cái chết của Quốc. Trong một chuyến vượt sông Mekong qua ngả Neak Luang phía bắc tỉnh Kompong Cham, chưa kịp tiến vào Phnom Penh, trước khi được tiếp viện, sư đoàn 7 của Quốc đã đụng độ một trận lớn với quân Khmer Đỏ. Toàn bộ sư đoàn bị tiêu diệt chỉ còn sống sót một người là Long. Thi thể Quốc và cả sư đoàn được chôn cất ở nghĩa trang liệt sĩ Tây Ninh. Ít lâu sau, giấy báo tử gửi về. Cuối năm giấy chứng nhận là gia đình liệt sĩ đến tay bà. Bà Tư được ủy ban nhân dân truy tặng là "mẹ chiến sĩ", "mẹ anh hùng".

Hàng năm, vào những ngày lễ thương binh liệt sĩ, cán bộ của ủy ban nhân dân đến thăm hỏi, tặng quà và khen thưởng những gia đình liệt sĩ như bà. Bà treo cái khung gỗ có lộng tờ giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ hình cờ đỏ sao vàng trên tường. Ít hôm sau, bà lấy xuống, cất vào ngăn tủ. Cứ như thế cho đến ngày bà qua Mỹ.

Cuộc đời bà Tư là một chuỗi dài những giọt nước mắt vì mất mát. Bà chỉ là một bà mẹ Việt nam bình thường, nghèo khổ, ít học. Bà không biết gì về các từ ngữ chính trị dao to búa lớn như lý tưởng, tổ quốc, ý thức hệ, cộng sản, tư bản, cộng hòa xã hội chủ nghĩa, độc lập, tự do, hạnh phúc, liệt sĩ, anh hùng, hy sinh... Bà chỉ là một bà mẹ thương con, một nạn nhân chịu nhiều nỗi đau thương trong chiến tranh. Chiến tranh đã làm một đứa con bà bị tàn phế, tật nguyền. Chiến tranh cướp mất hai đứa con bà, một đứa gửi nắm xương tàn trên chiến trường Hạ Lào xa xôi còn một đứa được vinh danh là liệt sĩ.

Trước khi đi Mỹ, Long đưa gia đình bà đã đến nghĩa trang liệt sĩ ở Tây Ninh thăm mộ Quốc. Cơn mưa làm cho con đường đi vào nghĩa trang lầy lội, ướt át. Mộ Quốc và năm người đồng đội nằm ngay gần lối đi, xây quanh nhau thành một vòng tròn, chính giữa là một bồn hoa. Trước cái chết, mọi người đều bình đẳng. Hàng ngàn những ngôi mộ thấp, mộ bia màu trắng, xây cùng một kiểu. Dòng chữ màu vàng khắc trên mộ bia "Nơi an nghỉ của liệt sĩ Trần Hưng Quốc, hai mươi tuổi, sinh ngày hai mươi tháng ba năm một chín năm mươi tám, hy sinh tại chiến trường Campuchia".

Năm một ngàn chín trăm tám mươi chín, Quyền may mắn được gia đình bên vợ bảo lãnh qua Mỹ. Năm năm sau, Quyền bảo lãnh cho bà Tư và Quyên. Quyền muốn bốc mộ Quốc đem tro cốt qua Mỹ nhưng bà Tư lắc đầu:

-Thôi con ơi, thằng Quốc đã nằm xuống nơi mảnh đất Tây Ninh này. Hãy để nó yên nghỉ ở quê hương với đồng đội của nó. Không mang tro cốt nó theo nhưng nó vẫn gần Cô trong những câu kinh tiếng kệ hàng ngày.

Rồi bà ngậm ngùi:

- Cô chỉ còn một nỗi ray rứt về số phận thằng Quang ở Hạ Lào. Không một dấu tích gì về chiếc máy bay trực thăng bị bắn rớt thì làm sao biết được. Không chừng nó còn sống, không chừng gì đắp cho nó một nấm mộ.

2. Sau một tai nạn xe hơi, chân bên trái bị bó bột làm Phượng đi lại khó khăn phải dùng cây nạng gỗ. Mỗi ngày có một cô "care giver" đến chăm sóc sức khỏe cho Phượng, giúp Phượng ăn uống, tắm rửa, dọn dẹp nhà cửa. Một cô khác đến làm vật lý trị liệu cho cái chân bên phải đã hồi phục dần. Căn nhà bây giờ vắng vẻ chỉ có hai mẹ con. Chị Phương đã dọn về Cali từ lâu. Bà mẹ Phượng mất đã năm năm. Ông Daniel mất năm ngoái. Thằng Sơn ly dị vợ, về ở với Phượng. Nó bận bịu suốt ngày trong bệnh viện. Năm ngoái, lễ Thankgivings hai mẹ con về thăm bà Tư. Năm nay, chân đau, không về được, Phượng nhắc con nhớ lấy phép nghỉ về Cali thăm bà nội vào dịp lễ Giáng sinh. Bà nội già yếu rồi. Bà sống không còn bao nhiêu năm nữa.

Từ ngày tìm được tông tích của người cha quá cố, thằng Sơn gắn bó với gia đình bên nội. Vào những ngày nghỉ, Sơn gọi về thăm bà nội, hai bà cháu nói chuyện rất lâu, có khi cả tiếng đồng hồ. Nó nói tiếng Việt giỏi nhờ sống gần bà ngoại từ bé.

Phượng hồi tưởng lại bốn mươi năm trôi qua, ngày đó cả hai đều rất trẻ. Phượng hơn Quang hai tuổi, là y tá ở bệnh viện Đà nẵng, gặp Quang trong một buổi tiệc của sư đoàn hai không quân tổ chức tại câu lạc bộ trong phi trường. Trai tài gái sắc gặp nhau. Quang vừa đẹp trai lại tài hoa, biết chơi đàn guitar, hát rất hay những bản nhạc về lính của nhạc sĩ Nhật Trường. Hai đứa dự định sẽ làm một cái đám cưới đơn giản. Quang sẽ lấy thời gian nghỉ phép đưa Phượng vào Sài Gòn ra mắt gia đình Quang. Thời gian đó Quang bận đi học khóa bắn súng và trở thành người xạ thủ gan lì và dũng mãnh của không đoàn 41, phi đòan 213. Những cuộc hẹn hò ở bến sông Hàn, những cuộc đi chơi xa ở đồi Bà Nà, chùa Non Nước, bảo tàng Chàm ở Mỹ Sơn...đưa đến kết quả là Phượng có thai.

Phượng chưa kịp báo tin mừng cho Quang thì một hôm, người bạn trong phi đoàn của Quang đến cho hay cuộc hành quân 719 Lam Sơn tại Hạ Lào ngày mười tháng hai năm một ngàn chín trăm bảy mốt, chiếc trực thăng U-H1 Huey bị bắn rơi. Tất cả những người có mặt trong chuyến bay gồm hai vị sĩ quan cấp tá, hai phi công, ba phóng viên Mỹ, một phóng viên Nhật, một phóng viên người Việt, hai nhân viên phi hành đoàn trong đó có trung sĩ thiện xạ Trần Vinh Quang, tất cả mười một người đều tử trận.

Tin đến như một cú sét đánh. Đất trời như nổ tung trước mắt Phượng. Phượng chỉ biết khóc và khóc. Phượng ôm cái bụng bầu ba tháng. Không có một tờ hôn thú. Không có một liên hệ hay tin tức gì liên quan với gia đình Quang ở Sài gòn. Quang chết thật bất ngờ. Quang chết ở lứa tuổi đôi mươi. Quang chết không để lại một dấu tích gì ngay cả một hạt bụi. Phượng chỉ còn giữ lại những kỷ niệm đẹp của một thời yêu nhau còn lưu lại trong ký ức và qua những bức hình hẹn hò xưa cũ.

Có lúc đau khổ và tuyệt vọng quá, Phượng nghĩ mình không còn sức để giữ cái thai, "giọt máu rơi của người lính chết trẻ". Quang đi qua cuộc đời Phượng như một cơn gió thoảng. Có lúc Phượng muốn chết theo Quang nhưng nghĩ đến một sinh vật bé nhỏ đang lớn dần từng ngày trong bụng mình, Phượng không có quyền từ chối trách nhiệm làm mẹ với nó. Có lúc Phượng muốn bỏ cái thai vì dư luận xã hội, vì tương lai của người mẹ trẻ nhưng đứa bé kia có tội tình gì. Nó là mật ngọt của hương vị tình yêu đã đơm hoa kết trái. Phượng phải sống để thay Quang bù đắp cho đứa trẻ mồ côi mất tình thương cha. Phượng phải sống, sống để nuôi con, vì con.

Phương làm đơn xin nghỉ việc, ở nhà nghỉ ngơi, dưỡng thai chờ đến ngày sinh nở. Kinh tế gia đình trông mong vào cửa hàng bán thực phẩm lấy từ các PX Mỹ của chị Phương. Chuyện sinh nở và chăm sóc bé đã có bà ngoại. Thằng Sơn ra đời trong sự thương yêu, đùm bọc của mẹ, bà ngoại và dì Phương. Sơn khỏe mạnh, dễ nuôi, càng lớn nó càng giống Quang. Phượng đặt tên nó là Trần Mỹ Sơn, tên vùng đất lịch sử của người Chàm, một thắng cảnh du lịch ở Đà Nẵng, kỷ niệm một chuyến du lịch ba ngày phép với Quang và cũng là nơi thằng Sơn tượng hình trong bụng Phượng.

Thằng Sơn lẩm chẩm biết đi cũng là lúc Phượng phải gửi con cho bà ngoại để đi làm phụ với chị Phương nuôi thằng Sơn. Với vốn liếng sinh ngữ khá và nghề y tá trước đây, Phượng được người quen giới thiệu vào làm tại bệnh viện Hải Quân Mỹ chuyên chữa cho các thương binh Mỹ từ chiến trường chuyển về.

Những ngày đầu tiên chứng kiến những chiếc trực thăng đậu ở sân trước bệnh viện, những nhân viên tải thương vội vã chuyển những chiếc cáng phủ lá cờ Mỹ từ trên trực thăng xuống, những người lính Mỹ giơ tay chào vĩnh biệt, Phượng không cầm được nước mắt. Phượng khóc cho ai, Phượng hay cho những người vợ, những ông bố, bà mẹ ở bên kia bờ đại dương một ngày nào đó sẽ nhận những chiếc quan tài phủ lá cờ Mỹ?

Còn Quang, người chồng chưa cưới của Phượng, có "hạt bụi nào..." hay chiếc "...hòm gỗ cài hoa" nào cho anh?

Phượng quen dần với công việc của người y tá lúc nào cũng bận rộn và căng thẳng trong bệnh viện. Là một y tá giỏi, siêng năng, chịu khó học hỏi, Phượng có thêm những đức tính cần thiết đó là sự ân cần, kiên nhẫn và dịu dàng với bệnh nhân. Phượng được bác sĩ Daniel trưởng khoa mổ đặc biệt lưu ý và chấp thuận cho Phượng là y tá phụ trong ê kíp mổ của ông. Có những ca mổ kéo dài đến khuya hoặc những ca trực đêm, Phượng có dịp kể cho ông nghe về cuộc đời bất hạnh của mình. Phượng biết thêm về đời tư của vị bác sĩ ít nói này. Ông lớn hơn Phượng mười hai tuổi, là bác sĩ giỏi trong ngành hải quân, vợ và đứa con gái chết vì tai nạn xe hơi, ông tình nguyện sang Việt nam công tác. Sang năm ông sẽ về Mỹ vì hết hợp đồng. Với chính sách "Việt nam hóa chiến tranh" và Hiệp Định Paris sắp ký kết, người Mỹ đang chuẩn bị rút dần về nước.

Vào một đêm trực chỉ có vài người y tá, Daniel cùng có mặt, Phượng đã suýt bật khóc vì cảm động trước lời cầu hôn bất ngờ của Daniel. Vị bác sĩ này thố lộ đã để ý đến cô y tá người Việt nam xinh đẹp và hiền hòa này trong những ca mổ. Ông tình cờ chứng kiến hình ảnh Phượng chăm sóc những người thương binh làm ông xúc động. Ông nói không phải chỉ là hoàn thành công việc mà thôi, Phượng đến với các bệnh nhân bằng tất cả trái tim của mình. Cô chia sẻ nỗi đau đớn về thể xác và tinh thần của họ trong từng mũi kim nhẹ nhàng, từng viên thuốc khó uống, từng lời nói an ủi dịu dàng, từng cử chỉ vỗ về, dỗ dành. Những người thương binh Mỹ trong bệnh viện Hải Quân này đều quý mến cô y tá người Việt có cái tên Mỹ Sophie dễ thương này. Họ chưa hiểu hết cảnh đời của Phượng. Chồng Phượng cũng là lính. Cô thương những người lính như thương Quang, thương bản thân và thương cuộc đời bất hạnh của mình.

Phượng chấp nhận lời cầu hôn của Daniel với một điều kiện Daniel bảo lãnh bà mẹ, chị Phương và bé Sơn cùng sang Mỹ. Căn nhà lớn năm phòng ở đường North Smith, Minnesota là tổ ấm của gia đình Phượng. Chị Phương vừa đi học vừa đi làm một thời gian, sau đó chị dọn về Cali mở một tiệm ăn với người yêu cũ. Phượng đi học lại. Bà mẹ ở nhà nội trợ trông nom nhà cửa, chăm sóc Sơn. Daniel làm việc ở United Hospital gần nhà. Bé Sơn càng lớn càng quấn quít Daniel. Suốt ngày Sơn đeo theo ông bố dượng vui tính. Daniel rất thương thằng con nuôi học giỏi và lễ phép. Theo gương học tập và chỉ dạy của ông bố dượng, Sơn học ngành y, sau này trở thành bác sĩ Shawn Tran chuyên khoa mổ tim ở St John' s Hospital. Bốn mươi năm trôi qua, cái chết thảm khốc của Quang và niềm đau nỗi khổ của Phượng dần dần phôi pha theo thời gian nhờ vào tình yêu, sự bao dung và lòng tử tế của người chồng Mỹ tốt bụng đã cưu mang gia đình Phượng, mang đến cho Phượng một cuộc sống mới, êm đềm và hạnh phúc.

Một ngày, Phượng nhận được cú phone bất ngờ của chị Phương. Bên kia đầu dây, giọng chị lanh lảnh:

- Phượng ơi, tao nói chuyện này mầy bình tĩnh nghe đừng có xỉu nghen. Tao vừa đọc báo. Có người viết về cái chết của thằng Quang chồng mày hồi xửa hồi xưa. Có tấm hình thằng Quang chụp hồi còn trẻ. Mày tin không, má thằng Quang còn sống. Gia đình thằng Quang qua Mỹ ở khu Việt nam gần tiệm của tao. Bài báo kể người ta đào được xác chiếc máy bay rớt và hốt cốt mang về để ở viện bảo tàng nào đó trên Washington D.C. Chuyện dài dòng lắm. Tao ra bưu điện gửi cho mầy bài báo này liền. Overnight mai mầy nhận được. Bình tĩnh nghen mậy. Chuyện đâu còn đó. Khoan nói cho thằng Sơn biết. Mầy đọc báo xong rồi mình tính.

Suốt đêm qua Phượng mất ngủ, mong cho trời mau sáng để nhận thư tốc hành của bưu điện. Người đưa thư trao bì thư hình con én màu xanh và yêu cầu Phượng ký tên. Tay Phượng run run khi cầm cây viết. Cầm tờ báo trong tay, Phượng lật tới, lật lui, tìm mãi mới thấy cột báo. Tấm hình Quang hồi hai mươi tuổi, nét mặt đẹp trai, nghiêm nghị, ánh mắt buồn xa xôi, oai vệ trong bộ treillis, túi áo trái có in tên "Quang" màu trắng. Bài báo viết chi tiết về chuyến bay bị bắn rơi ở Hạ Lào, về bà mẹ chồng Phượng chưa hề gặp mặt và một chi tiết quan trọng là viện bảo tàng Newseum ở Washington D.C hiện nay đang lưu trữ hài cốt của những người tử nạn.

Phượng nói với Shawn Phượng về Cali thăm dì Phương. Hai chị em đến tòa soạn gặp người phóng viên và xin địa chỉ nhà má Quang. Cuộc gặp gỡ đầu tiên, cả nhà bà Tư nhìn Phượng với cặp mắt tò mò, xa lạ và nghi ngờ. Bà Tư, vợ chồng Quyền và Quyên không tin có chuyện một người phụ nữ, hơn bốn mươi năm đến gia đình bà tự nhận là vợ của Quang. Họ không tin Quang có một đứa con trai ngoài bốn mươi tuổi. Họ không tin bốn mươi năm trôi qua trên đất nước Mỹ này lại có cuộc gặp gỡ ly kỳ ngoài sự tưởng tượng của mọi người. 

Khi Phượng đem tất cả hình ảnh của Quang và Phượng chụp hồi còn trẻ ở Đà nẵng, hình thằng Sơn hồi còn nhỏ cho đến khi tốt nghiệp ra trường đậu bằng bác sĩ, nhất là tấm hình Quyền cung cấp cho người phóng viên đăng trên báo so với tấm hình ố vàng Phượng cầm trong tay là một, bà Tư bật khóc nức nở như một đứa trẻ. Xúc động, mừng vui, hạnh phúc dâng trào trong lòng bà mẹ già vào cuối đời. Từ đó, Phượng thường xuyên gọi điện thoại về Cali thăm bà. Tháng sau, Phượng dẫn Shawn về giới thiệu thằng cháu đích tôn của dòng họ Trần. Năm ngoái hai mẹ con về Cali. Năm nay, thằng Shawn về một mình thăm bà nội

3. Sau đây là lời kể chuyện của nhân vật chính Trần Mỹ Sơn.

Tôi tên là Shawn Tran. Daddy đặt tên "Shawn" có nghĩa là "God is gracious". Daddy nói tôi là ân sủng của Chúa mang đến cho Daddy. "Shawn" nghe giống như tên "Sơn", Trần Mỹ Sơn. Ngoại nói "Mỹ" có nghĩa là đẹp, "Sơn"có nghĩa là ngọn núi. Tên tôi là một ngọn núi đẹp. Mẹ nói Daddy chỉ là cha nuôi, cha ruột của tôi mất từ khi tôi còn trong bụng mẹ. Daddy đưa mẹ, bà ngoại, dì Phương và tôi qua Mỹ. Họ nuôi tôi khôn lớn. Tôi theo học nghề bác sĩ mổ tim của Daddy. Cả nhà ai cũng muốn tôi học nghề này để sau này chữa tim cho mọi người.

Sau chuyến đi Cali thăm dì Phương, mẹ kể rằng mẹ đã gặp gia đình bà nội ở Cali qua một tờ báo Việt ngữ. Trong chương trình POW (prisoners of war) và MIA (missing in action) tìm hài cốt của những người Mỹ mất tích thời chiến tranh Việt nam, họ đã tìm được những dấu tích về cái chết của ba tôi. Hiện nay, chúng được lưu giữ ở Viện Bảo Tàng Newseum ở Washington D.C. Mẹ đọc bài báo cho tôi nghe. Dù mẹ chưa nói, qua ánh mắt của mẹ, tôi hiểu rằng tôi phải đi một chuyến về Cali với mẹ, đến thăm bà nội, người đàn bà đã khóc nhiều về cái chết của ba tôi.

Từ Cali về, tôi tìm đọc những tài liệu về POW, MIA, những bài viết của các ký giả trong chuyến đào bới tìm dấu tích của chiếc trực thăng lâm nạn, về chiến tranh, cuộc hành quân Lam Sơn nhất là về buổi lễ tưởng niệm và vinh danh những người bị mất tích tổ chức ngày mười tháng tám năm hai ngàn mười ở viện Bảo Tàng Newseum.

Bài viết của ký giả Richard Pyle viết về buổi lễ và những người tham dự. Họ là ai? Là những người mẹ, những người vợ, những đứa con đến từ Việt nam, Canada xa xôi, tay cầm những tấm "plaque", đầm đìa những giọt nước mắt khi ban tổ chức nhắc đến tên tuổi và vinh danh những người thân của họ đã hy sinh. Xạ thủ Trần Vinh Quang không được nhắc đến. Gia đình bà nội, mẹ tôi và tôi không được mời đến. Ban tổ chức buổi tưởng niệm này đâu biết rằng sau bốn mươi năm, gia đình trung sĩ xạ thủ Trần Vinh Quang đang sống ở nước Mỹ? Và tôi, đứa con rơi của xạ thủ Trần Vinh Quang là một công dân Mỹ, tìm được tông tích của bà nội và ba tôi năm ngoái trong một bài báo Việt ngữ ở cộng đồng người Việt ?

Sau khi thăm bà nội ở Cali, tôi đã đến thăm Viện Bảo Tàng Newseum ở Washington D.C. Trong chuyến bay bị bắn rơi ở Hạ Lào, có ba người ký giả Mỹ và một người Nhật. Tôi đã đọc thấy tên tuổi và hình ảnh họ được gắn trên bức tường kính gọi là "Journalists Memorial Wall 1971 Vietnam War". Viện bảo tàng này là nơi lưu giữ những chứng tích và vinh danh những ký giả Mỹ và những ký giả quốc tế đã hy sinh trong khi thi hành nhiệm vụ. Điều gì đã khiến họ lao vào cái nghề nguy hiểm này? Sự đam mê nghề nghiệp, sự khao khát muốn ghi nhận những tin tức mới, nóng hổi nhất, trung thực nhất. Họ muốn những có "big shot" là những tấm hình ý nghĩa, độc đáo, đầy ấn tượng về sự tàn khốc của chiến tranh gửi đến những người ở sau mặt trận. Viện bảo tàng Newseum đã làm công việc đầy tính nhân đạo khi vinh danh những người chiến sĩ không mang súng gan dạ và thầm lặng này.

Nhắc đến bà nội, tôi mê những câu chuyện bà kể về ba tôi. Bà có tài kể chuyện sống động, chi tiết và hấp dẫn. Tôi không ngờ bà nhớ nhiều kỷ niệm về ba tôi đến thế. Hình như trong ba người con trai, ba tôi là đứa con cứng đầu và làm cho bà khóc nhiều nhất nhưng cũng là đứa con bà thương nhất. Ba tình nguyện chuyển ngành an ninh sang học bắn súng để ra tác chiến ngoài mặt trận đối với bà là một sự chọn lựa kinh khủng và ngu xuẩn làm bà đau lòng. Bà không muốn mất con.

Điều gì khiến ba tôi chọn lựa giữa công việc an ninh nhàn nhã ở hậu phương với đời lính gian khổ đầy hiểm nguy ngoài mặt trận? Lý tưởng? Tổ quốc? Hay cả hai? Lần đầu tiên đi với mẹ về Cali gặp bà nội, bà đã cho tôi nguồn cảm hứng muốn tìm hiểu về ba,về cái chết của ba, về cuộc chiến tranh trên quê hương mà bấy lâu nay tôi hững hờ, quên lãng. Tôi lớn lên ở xứ Mỹ. Tôi không có quá khứ. Tương lai của tôi là những dự tính và ước mơ.

Tôi sinh ra tại Đà nẵng, vùng đất của quê ngoại, trên bản đồ quân sự thuộc vùng một chiến thuật. Cuộc chiến bắt đầu từ năm một chín năm mươi lăm đến một chín bảy lăm. Năm một chín bảy mốt là năm ba tôi mất, lúc đó tôi còn trong bụng mẹ được ba tháng tuổi. Thật là trễ tràng làm sao! Hơn bốn mươi năm trôi qua, bây giờ tôi mới có dịp tìm hiểu về chiến tranh ở đất nước tôi và biết đây là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai thế lực, hai chủ nghĩa tư bản và cộng sản kéo dài hai mươi năm. Ở miền nam, Mỹ và phe Đồng Minh ủng hộ chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Bên kia dòng sông Bến Hải, Liện Xô và Trung quốc ủng hộ hai phe, tuy hai mà là một: Cộng sản Bắc Việt và tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Trải qua nhiều giai đoạn, cuộc chiến tranh này có những cái tên như là "chiến tranh đặc biệt" (1960-1965) "chiến tranh cục bộ" (1965-1968) "Việt nam hóa chiến tranh" (1969-1972). Ngày ba mươi tháng tư năm một chín bảy lăm là ngày cuộc chiến tranh chấm dứt. Toàn bộ miền Nam rơi vào tay Cộng sản.

"Việt nam hóa chiến tranh" có thể hiểu đây là cuộc chiến của người Việt nam. Có người nói người Mỹ đã bỏ rơi miền Nam và đồng minh. Họ rút lui, không chủ động tham gia cuộc chiến bằng nhân sự. Họ chỉ viện trợ vũ khí. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa phải tự lực chiến đấu. Theo lời mẹ kể, với lý tưởng chiến đấu quyết bảo vệ miền Nam và lòng yêu nước chân thành, ba tôi tình nguyện lao vào cuộc chiến đầy hiểm nguy này và biết rằng sự ra đi không hẹn ngày về.

Vào thời điểm đó, Cộng sản miền Bắc và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chuyển mục tiêu sang chiến trường Lào và Cam puchia, xây dựng căn cứ địa làm bàn đạp tấn công miền Nam. Cuộc hành quân Lam Sơn 719 bắt đầu vào ngày tám tháng hai năm một chín bảy mốt. Hai ngày sau, chiếc máy bay trực thăng H- U1 Huey không phải là trực thăng chiến đấu hay trực thăng võ trang có bọc thép tốt và chống đạn xe tăng. Đây chỉ là loại trực thăng vận tải vỏ thép mỏng, võ trang yếu, chở các phóng viên và các cấp chỉ huy đi thị sát chiến trường. Trong chuyến bay có mười một người, ba tôi là tay súng giỏi nhưng bất ngờ lọt vào mạng lưới phòng không mạnh và dầy đặc của địch, lại thêm sương mù, chiếc trực thăng trúng đạn và bốc cháy.

Năm 1992, những người trong chương trình POW và MIA có nhiệm vụ tìm kiếm những người Mỹ mất tích đã đến Hạ Lào nơi chiếc trực thăng rớt. Năm 1994, họ tiếp tục công việc đào bới. Cùng với một số tin tức được cung cấp từ những bạn đồng đội trong không đoàn 41, phi đoàn 213 còn sống ở Mỹ, họ đã định vị đúng tọa độ và đã tìm được những mảnh kính của máy chụp hình, đồng hồ và những mảnh thép vỡ của máy bay. Họ đã sàng lọc những khúc xương cốt lẫn lộn với đất đá và đem về lưu trữ tại Viện Bảo Tàng. Xương cốt này không phải của một ai mà là của mười một người hy sinh trong đó có ba tôi. Nó không thuộc về cá nhân hay gia đình nào, nó thuộc về lịch sử của nước Mỹ.

Món quà tôi mang về cho bà nội lần này là những hình ảnh của Viện Bảo Tàng Newseum. Tôi sẽ nói với bà nội ba tôi đã được an nghỉ ở một ngôi nhà gần nhà của Tổng Thống Mỹ. Ngôi nhà ấy vĩ đại, có mười tầng lầu, mười lăm rạp chiếu bóng, mười bốn hành lang và hàng ngày có hàng chục ngàn người đến đây thăm viếng. Bà nội hãy yên lòng. Con trai cứng đầu của bà được an nghỉ ở một trong những nơi danh dự nhất của nước Mỹ. Còn một điều nữa, bà nội hãy tin rằng với tất cả chứng cứ về liên hệ huyết thống và hình ảnh, với sự công bằng và trung thực, tôi sẽ làm đủ mọi cách để Viện Bảo Tàng Newseum cần phải có một buổi lễ tưởng niệm cho ba tôi. Người cuối cùng phải là người đặc biệt. "The last but not the least". Bà nội hãy giữ sức khỏe để một ngày không xa, gia đình bà nội, mẹ và tôi sẽ đếnViện Bảo Tàng Newseum tham dự buổi lễ vinh danh trung sĩ Trần Vinh Quang. Nỗi đau khổ của bà nội và mẹ sau bốn mươi năm phải được đền bù xứng đáng trong lịch sử nước Mỹ.

Tôi sẽ nói với cậu Quyền lần này tôi muốn cậu dẫn tôi đến thăm một địa danh lịch sử ở khu Little Saigon nơi có cộng đồng người Việt sinh sống đó là tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ "Vietnam War Memorial" ở Westminster. Hai người lính Mỹ, Việt cầm súng đứng bên nhau bên cạnh hai lá cờ Việt, Mỹ vẫn là hình ảnh đẹp, oai hùng và ý nghĩa. Trong tâm tôi sẽ không dấy lên chút tình cảm căm hận nào. Trái lại, đầy sự ngưỡng mộ và biết ơn. Người lính Việt Nam Cộng Hòa đó cũng chính là hình ảnh của ba tôi ngày xưa. Ba tôi chiến đấu vì lá cờ vàng cũng như những người lính Mỹ đã chiến đấu vì nền độc lập, tự do của nước Mỹ và cho nhân loại trong khối tự do.

Năm nay tôi đã bốn mươi ba tuổi. Đã hơn nửa đời người. Không quá muộn màng cho tôi khi tôi tìm về với cội nguồn của gia đình, quê hương và dân tộc mà trước đây tôi như một người xa lạ. Tôi muốn cám ơn bà nội, cậu mợ Quyền, dì Quyên những thân tộc đã nối lại sợi dây huyết thống thiêng liêng của dòng họ Trần. Tôi cảm nhận được tình thương quá bao la và đặc biệt bà dành cho ba tôi và đứa cháu nội này. Một ngày nào đó bà sẽ từ giã cõi đời. Tôi biết chắc một điều bà sẽ ra đi thanh thản, bình yên vì theo lời di chúc của bà, tôi sẽ thay ba tôi ôm chiếc hình của bà trong ngày tang lễ.

Tôi muốn cám ơn bà ngoại, mẹ tôi và dì Phương đã chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ tôi từ tấm bé cho đến khi tôi trưởng thành. Những chai sữa ngọt đầu đời là những ngày dì Phương dãi dầu mưa nắng ngoài chợ trời đem về cho tôi. Tôi nói và đọc được tiếng Việt là nhờ những buổi hai bà cháu cùng ngồi rù rì học với nhau ngoài vườn và từ những câu chuyện cổ tích tôi nghe hoài không chán. Và mẹ tôi, người mẹ tuyệt vời, tôi không có lời lẽ nào hơn để ca ngợi bà. Bà đã mạnh mẽ đứng lên vượt lên trên nổi khổ đau giữ lại cho tôi hình hài này.

Từ trong đáy lòng, tôi chân thành cám ơn Daddy Daniel, cha nuôi người Mỹ của tôi. Ông là cây cổ thụ cho gia đình tôi nương dựa bốn mươi năm qua. Danh vọng, địa vị, tiền bạc, hạnh phúc, tình thương tôi có được ngày hôm nay phát xuất từ tấm lòng nhân hậu và bao dung của ông.

Cuối cùng là những lời xin lỗi muộn màng của tôi với Ba.

Hơn bốn mươi năm qua, trong tâm tưởng, tôi đã quên tôi còn một người cha. Tôi không giữ chút kỷ niệm gì trong ký ức về ông vì ông đã ra đi trước khi tôi cất tiếng khóc chào đời. Thật là kỳ diệu khi gặp lại bà nội. Bà là chiếc cầu nối vững vàng, là bàn tay nắm dịu dàng và ấm áp dẫn tôi đến với Ba, là chất keo dính ngọt ngào làm cho hình ảnh Ba như sống dậy trong lòng tôi. Giờ đây, nhắm mắt lại, tôi có thể hình dung hình ảnh ông hiện ra rõ ràng, thân thiết, gần gũi và đầy tình yêu thương.

Tôi rất hãnh diện về Ba tôi, người lính Việt Nam Cộng Hòa, anh dũng, kiêu hùng đã hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ miền Nam. Lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công ơn ông và những người đồng đội. Ông mãi mãi là hình ảnh đẹp nhất trong lòng tôi, giọt máu rơi của ông, người lính chết trẻ.

Phùng Annie Kim

Thursday, March 11, 2021

"Thuở Trời Đất Nổi Cơn Gió Bụi”

Xin vinh danh những người mẹ, người vợ của một thời...khốn nạn

Thuở trời đất nổi cơn gió bụị
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?”

Cách đây ba thế kỷ, người phụ nữ Việt nam trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của bà Đoàn thị Điểm đã nghẹn ngào oán than với ông “xanh kia” về nỗi đau khổ của nàng có người chồng đi chiến trận xa mãi chưa về. Câu hỏi “vì ai…” đã tạo “nên nỗi này”đã làm cho biết bao cặp vợ chồng sống không được gần nhau, chết mãi mãi xa nhau.

Cuối tháng Tư, nhìn những lá cờ vàng sọc đỏ tung bay trên phố Bolsa, tôi lại nhớ một người phụ nữ đặc biệt trong những ngày các sĩ quan cấp bực thiếu úy và trung úy trong chế độ cũ phải trình diện học tập tại trường trung học Taberd.

Đi đâu? Lúc nào? Không ai biết! Đi bao lâu? Con số “10 ngày” thật mơ hồ! “Tập trung cải tạo” có khác gì đi tù? Lương thực, vật dụng cá nhân gọn nhẹ dồn trong một cái túi xách. Sau khi các anh lần lượt khuất sau chiếc cổng sắt lớn từ buổi trưa, tôi vẫn tiếp tục ngồi dưới gốc cây với một ổ bánh mì cầm cự cho đến chiều. Cổng trường Taberd đã thưa người. Chiều đang xuống. Thấy tôi một mình ũ rũ, chị đến gần hỏi han, tâm sự:

- Tên chị là Thư. Chị đoán vài ngày nữa tụi nó mới chở mấy ảnh đi. Tối nay chưa chắc. Đi đâu thì mình chưa biết. Tụi nó di chuyển toàn là ban đêm và bí mật lắm. Nhà em gần đây không? Chị sẽ chờ ở đây đến sáng mai. Chị canh đêm nay, nếu tụi nó bất ngờ chở mấy ảnh đi thì mình còn biết? Kế hoạch của Việt cộng khó lường lắm em à.

Tôi nhìn người bạn cùng cảnh ngộ:
- Lát nữa em phải về vì mỗi ngày em phải đến trường trình diện và học tập chính trị. Nếu họ chở mấy ảnh đi, làm sao mình biết tin tức hả chị? Em chỉ sợ họ đem đi thủ tiêu…

Chị trầm ngâm:
- Chính vì vậy mà chị phải chờ đây. Dù cho mấy ảnh đi, đi sống hay đi chết, mình phải biết thì mới giúp được chồng mình em ạ. Mạng sống của mấy ảnh bây giờ như cỏ rác. Luật của kẻ mạnh và kẻ chiến thắng. Muốn biết tin, em cứ liên lạc với chị.

Tình thân giữa tôi và chị nảy sinh thật nhanh xoay quanh những câu chuyện về hoàn cảnh hai ông chồng tình cờ cùng trùng tên Long, đều là giáo chức biệt phái cấp bực trung úy, cùng đi trình diện cải tạo một ngày. Trông chị khỏe mạnh và năng động. Chị đẩy nhẹ chiếc xe Honda, chọn một chỗ sạch sẽ, lấy ra một tấm bạt cũ nhỏ, quấn chiếc khăn quàng vào túi xách khá to kê làm gối và ngã lưng, bảo tôi ngồi chơi với chị chốc lát, chờ Phú, cậu em trai sắp trở lại. Chị Thư và Phú sẽ ở suốt đêm tại đây để biết họ đưa các anh đi đâu.

Trời đã sụp tối, các thân nhân đã về nhà gần hết. Con đường Nguyễn Du thông ra Hai bà Trưng giờ này vắng vẻ, yên tĩnh, héo hắt vài ngọn đèn vàng. Chị nằm nghiêng, co ro trong chiếc áo len mỏng phủ trên người. Ngắm chị ngủ thật dễ dàng trên nền gạch, hơi thở đều hòa, bây giờ tôi nhìn kỹ mới thấy chị Thư đẹp. Chị có giọng nói miền Nam mạnh và rõ. Vóc dáng cao, thon, gọn. Mái tóc đen, dầy, cắt kiểu tém ngắn vẫn còn giữ nếp bồng bềnh. Đôi mắt xếch, sắc như dao. Nét thanh tú của cái mũi cao và thẳng. Đôi môi hồng, làn da trắng tự nhiên không son phấn. Đẹp nhất có lẽ là bàn tay búp măng thon dài. Chị kể từ khi bộ đội Cộng sản vào, chị không sơn màu và cắt móng ngắn. Đôi tay mềm mại, nõn nà của một thời khá giả, nhàn hạ, “ăn trắng mặc trơn”. Thấy cậu con trai ngồi sau chiếc xe giống chị như đúc đang đảo mắt tìm ai, tôi đoán là Phú. Tôi đánh thức chị dậy. Chị gọi lớn“ Phú ơi, Phú ơi, chị đây nè”. Thấy Phú đến, tôi ngồi chuyện trò với Phú một lúc rồi ra về, hẹn chiều mai ghé lại trường Taberd gặp chị để biết thêm tin tức.

Chiều hôm đó tôi không đến trường Taberd như lời hứa với chị vì về trễ. Nghe các anh đã được đưa đi khỏi trường Taberd, tôi ghé nhà chị Thư. Má chị cho biết 10 chiếc xe cam- nhông đã chở đầy ắp số người trình diện ngày hôm đó khởi hành về hướng Tây ninh vào lúc 4 giờ sáng hôm sau. Chị đã chờ đợi hai ngày và theo suốt đoàn xe đến Tây Ninh bằng xe Honda. Đó là tin tức đầu tiên và mới nhất về tù cải tạo mà tôi nhận được từ gia đình chị. Chị và Phú hiện giờ đang ở Trảng Lớn Tây Ninh cách Sài Gòn 90 cây số. Bà má nói: “Con Thư nó gan lì lắm con ơi. Nó đi tìm tin tức thằng chồng. Bác lo lắm.Thời buổi này nhiều bất trắc. Rừng rú bao la, chị em nó biết thằng Long đâu mà tìm. Bác không biết bao giờ nó về. Thỉnh thoảng con ghé chơi, may ra gặp nó.”

Sáng chủ nhật nghỉ, tôi đèo con gái bằng xe đạp đến nhà thăm chị. Trong căn nhà lớn có vườn rào, yên tĩnh ở Dakao tôi nghe chị kể về chuyến đi Tây Ninh. Hơn hai tuần lễ dãi nắng dầm mưa ở vùng đất khô cằn sau chiến tranh, chị thay đổi nhiều. Mặt mày hốc hác và già sọm. Làn da rám nắng, đen đủi. Tóc tai bờm xờm, xơ xác. Chị gầy hẳn trong chiếc áo bà ba rộng thùng thình. Chị kể các anh đang bị cô lập trong một cái “trảng” tên là Trảng Lớn. Đó là một khu đất trống rộng mênh mông như bãi đáp của phi trường trong đó có các khu nhà rộng lớn bỏ hoang, chung quanh có hàng rào kẽm gai, cách nhà dân khá xa. Như vậy có nghĩa là các anh vẫn còn sống. Những tin tức này được truyền đi trong số các chị có chồng đi tù làm cho các chị ở nhà yên tâm phần nào. Chị Thư an ủi:

- Ổn định xong chỗ ăn ở, thế nào tụi nó cũng cho mình đi thăm nuôi tiếp tế mấy ảnh. Tụi nó nuôi không nổi mấy ảnh đâu. Ráng đi em. “Nín thở qua sông” rồi có ngày chị em mình sẽ gặp lại mấy ảnh.

Hai tháng sau tôi ghé thăm, mẹ chị cho biết chị đi Tây Ninh mấy tuần nay không biết bao giờ về. Tuần sau tôi trở lại may mắn gặp chị. Chị cho biết thêm một tin mới, các anh đã di chuyển đến một địa điểm khác. Từ Trảng Lớn đi sâu vào rừng Cà-Tum cũng thuộc tỉnh Tây Ninh mất khoảng 60 cây số, nơi các anh sẽ phải lao động, tự túc lương thực, xây lán trại và “học tập” để “cải tạo tốt”. Chị đang tìm cách buôn bán, lân la, trà trộn sống ở nhà dân gần đó như người địa phương, mục đích liên lạc với các anh đi lao động. Từ đó, chị sẽ hỏi han tin tức để chuyển tiền và thuốc cho chồng.

Trong khi nhà nước Cộng sản âm thầm khủng bố tinh thần các thân nhân ở nhà bằng cách dấu nhẹm tin tức về các anh, gây nỗi lo sợ, hoang mang về thân phận các tù nhân thì chị Thư là người cung cấp những nguồn tin đầu tiên, chính xác và nhanh nhất cho các chị ngoài này. Chị kể chuyện hay, rất chi tiết và hấp dẫn. Những ngày tháng đến chơi với chị, nghe chị kể về những chuyến đi tìm các anh, tôi có cảm tưởng như mình cũng tham gia trong các chuyến đi ấy. Chị còn hứa sau khi liên lạc với chồng chị là anh Long Lê (anh họ Lê), chị sẽ hỏi tin tức về anh Long Đào (chồng tôi họ Đào). Chị rủ tôi sắp tới cùng vào rừng Cà- Tum kiếm gặp các anh. Chị bảo chờ khi được lệnh thăm nuôi của cộng sản, các anh sẽ chết rũ vì đói và bệnh tật trong tù. Anh Long Lê bị bệnh suyễn kinh niên. Nếu không có thuốc xịt và thuốc uống thường xuyên, chị sợ anh ấy không sống nổi mỗi khi lên cơn suyễn. Nỗi lo sợ về bệnh của anh, sự thiếu ăn, lao động cực nhọc nhất là lòng thương yêu chồng vô hạn đã giúp chị vượt qua các hiểm nguy, gian khổ, tìm đủ mọi cách đưa đến tận tay anh thuốc và tiền.

Thời buổi khó khăn, an ninh chặt chẽ, đường xa xứ lạ, thân gái dặm trường, vô rừng tìm chồng là một việc làm hết sức táo bạo, liều lĩnh và vô cùng nguy hiểm chưa bao giờ tôi dám nghĩ đến. Vậy mà chị Thư dám nghĩ dám làm. Chị Thư đội cho tôi xem mái tóc giả dài màu đen, chụp trên đầu và quấn thành một búi như củ hành phía sau ót. Mái tóc này làm chị già đi vài chục tuổi. Chị phải bôi một thứ bột đen, chà trên mặt, trên cổ, trên tay để che bớt làn da tuy sạm nắng nhưng vẫn còn mượt mà.

Điều ly kỳ là sau nửa năm xa cách, chị được gặp anh trong rừng mà bọn cán bộ quản giáo không hề hay biết. Chị kể cuộc hẹn gặp anh tưởng như chỉ có trong tiểu thuyết. Cạnh con suối vào buổi trưa trong giờ nghỉ ngơi, những người bạn tù đã bí mật sắp xếp cuộc gặp gỡ này. Vài chục con mắt đang âm thầm theo dõi bọn quản giáo để giúp anh chị dễ dàng trò chuyện. Không một giọt nước mắt của an ủi, vỗ về. Không có những cử chỉ âu yếm, chăm sóc hay nụ hôn nhớ thương. Cách nhau một lùm cây, anh hỏi han và dặn dò chị đủ điều. Chị đứng đó, mắt vừa nhìn anh vừa liếc xa xa canh chừng cán bộ, tai lắng nghe lời anh dặn và chỉ biết gật đầu lia lịa. Chị kể lúc gặp anh, chị vừa mừng vừa sợ nên quên hết những câu định hỏi anh chẳng hạn như không thấy anh đeo kiếng. Không có kiếng làm sao thấy đường để đi lao động. Anh có bị lên cơn suyễn nặng không. Thuốc còn đủ không. Cái nhẫn cưới bằng vàng sao không thấy đeo. Cái đồng hồ còn hay mất… Anh chủ động, nói nhiều và dặn dò chị đủ điều nhưng lời dặn dò duy nhất mà anh nhắc đi nhắc lại nhiều lần là phải tìm mọi cách cho hai đứa con trai vượt biên.

Từ đó, mỗi tháng đi Tây Ninh, chị đều hẹn gặp để chuyển thuốc, tiền và tin tức cho anh Long Lê và bạn tù. Anh Long Đào cũng có tiền xài rủng rỉnh và được ăn ké. Những lần tiếp tế ấy vẫn bí mật kéo dài cho đến cả năm sau mới có lệnh thăm nuôi chính thức. Tôi và chị cùng lúc nhận được giấy phép thăm nuôi.

Thời bấy giờ, chị tìm đâu được chiếc xe La Dalat, tài xế là Phú em trai chị chở chị và tôi cùng với hai bà má chồng và hai bao tải lớn đầy thức ăn khô đi Tây Ninh. Không ai ngờ con đường vào rừng vào mùa mưa quá xấu nên chuyến xe đi thăm nuôi thật là vất vả, gian nan, đi từ sáng sớm, suốt một ngày trời không những chỉ vượt qua những chặng đường gập ghềnh đầy đá tảng vì bom đạn cày xới mà còn là những hố bom sâu ngập bùn tưởng như không đến được lán trại. Nếu không có Phú giỏi nghề máy xe, sự lanh lợi, tháo vát của chị bỏ tiền ra huy động dân chúng địa phương giúp đổ đá, lót ván và đẩy xe, chiếc xe vẫn còn ngập trong những hố bom lầy lội, không kịp đến vào buổi tối để gặp các anh sáng hôm sau.

Ảnh chụp trộm cảnh tù cải tạo ở trại K4 Long Khánh đi lao động, đăng trên Lebération ngày 30-4-85.

Đi thăm nuôi hai anh chính thức được hai lần cách nhau ba tháng, một hôm chị mang về một tin mới, các anh sẽ chuyển trại, không biết ngày nào, đi nhiều nơi khác nhau. Mắt chị sáng lên, nhìn xa xăm:

- Chị nghe mấy ảnh nói họ thanh lọc xong các thành phần sẽ có kế hoạch chuyển trại. Từ bộ đội áo xanh, họ sẽ chuyển giao cho công an áo vàng thuộc bộ nội vụ quản lý rồi sẽ thả tù. Hay thiệt! Mấy ảnh ở tù mà biết tin Mỹ đang thương lượng với Việt cộng để thả tù chính trị. Có nhiều hy vọng lắm em ơi. Ai về trước cũng mừng, miễn có thả, có về.

Tôi biết được tin hai anh may mắn cùng chuyển trại đến Hàm Tân Z 30 C là do chị Thư liên lạc tin tức từ các anh tù lao động. Tôi mừng đến phát khóc vì còn cơ hội đi thăm hai anh chung với chị. Tại trại này, tôi còn nhớ mãi một kỷ niệm tôi và chị tình cờ bị rơi vào hoàn cảnh thật éo le và đau lòng vì hai anh trùng tên Long.

Nhận được giấy thăm nuôi, buổi sáng hôm ấy, hai chị em chúng tôi cùng với hai bà má chồng có mặt tại nhà chị Lệ từ 4 giờ khuya. Chồng chị Lệ là tài xế xe đò đi Hàm Tân, họ đứng ra tổ chức cho từng nhóm các gia đình đi thăm tù cải tạo. Từ Sài gòn đến Hàm Tân khoảng 200 cây số, đi mất hơn 4 tiếng. Đến nơi, trời đã hừng sáng. Trước mắt tôi là khu rừng sâu hun hút. Từ đường cái đi vào lán trại mất khoảng 12 cây số đường rừng. Những người dân địa phương đã chờ sẵn xe Honda, xe bò, quang gánh, võng để chở thuê, gánh thuê, cáng người. Họ bày bán và mời chào trái cây, nước uống, thức ăn… Từ khi tù cải tạo chuyển về đây, thị xã này trở nên sầm uất, dân địa phương có thêm phương tiện sinh sống bằng nghề buôn bán và chuyên chở thân nhân thăm tù. Chúng tôi thuê một chiếc xe bò, tuy chậm nhưng có chỗ cho 4 người ngồi và bốn bao tải toàn là thức ăn khô. Cũng may đi vào mùa nắng, con đường khô ráo, bụi đỏ mịt mù, quanh co, gập ghềnh đất đá. Tội nghiệp cho hai bà mẹ già, bị dằn xóc, lắc lư, tưng lên tưng xuống bởi những ổ voi, ổ gà. Tôi nghiệp cho hai con bò già gầy trơ xương. Có lúc tưởng chừng như chúng không còn sức để kéo và chiếc xe như muốn đổ sụp xuống.

Gần đến cổng trại cũng là lúc mọi người nhìn thấy cột cờ, nón cối và bộ kaki vàng của công an quản giáo. Khói bốc lên từ những khu nhà, lán trại lợp tranh xa xa. Những luống rau tươi xanh ngắt và từng đội tù nhân ra sắp hàng điểm danh để đi lao động.Thân nhân đến trại đều nộp giấy phép thăm nuôi và chờ ở nhà khách.Cán bộ sẽ liên lạc với các đội trưởng các đội lao động nhắn các anh có tên trong danh sách thăm nuôi được về sớm. Ai cũng dõi mắt nhìn theo những thân hình gầy gò, tay cầm cuốc xẻng trong những bộ quần áo cũ kỹ, rách rưới, vá chằng vá đụp. Họ cố gắng tìm ra trong số các anh một khuôn mặt thân quen.

Mọi người đang nằm nghỉ lưng trên chiếc giường đan bằng tre trong phòng chờ..Cán bộ đang gọi tên từng thân nhân vào phòng khách để gặp tù nhân bỗng hai tiếng nổ “bùm” “bùm” từ xa làm ai cũng giật mình, hốt hoảng chạy ùa ra khỏi phòng. Cán bộ bồng súng hò hét chạy về phía khu rừng. Trốn trại? Không phải. Tiếng này không phải là tiếng súng. Đây là tiếng bom. Mọi người đều la to “Tù cải tạo đi lao động đạp trúng mìn rồi.”

Trong cơn hoảng loạn ấy, một tên cán bộ mồ hôi nhễ nhại, mặt mày xanh lét, vai khoác khẩu súng từ rừng chạy về, xông vào phòng hét lớn:

- Ai là thân nhân của anh “Nong”? (Long nhưng hắn phát âm là “nong”)

Đứng gần tên cán bộ, nghe tên Long, tôi run rẩy, ôm mặt khóc òa. Trước đám đông thân nhân vây quanh tên cán bộ, tôi thu hết can đảm và bình tĩnh, mếu máo nói với hắn:

- Tôi là vợ của anh Long. Có chuyện gì thưa cán bộ? Chồng tôi…Chồng tôi có… sao không cán bộ.

- Chị sắp xếp đồ đạc đi theo tôi. Nhanh lên. Anh “Nong” bị mìn.

Tôi còn đang bối rối chưa biết tính sắp xếp đồ đạc thế nào thì bà má chồng tôi bất ngờ lảo đảo xỉu ngay tại chỗ. Chị Thư đứng gần, đỡ bà trong tay, xoa dầu, giựt tóc, vỗ má, gọi tên cho bà tỉnh lại.Tên cán bộ bỏ chạy về phía doanh trại. Tôi chạy đến bà vừa khóc vừa an ủi:

- Mợ ạ, mợ ở đây với chị Thư và bác Tùng. Con phải theo cán bộ vào rừng xem chuyện gì. Đến nước này, mợ phải khỏe và bình tĩnh để con còn lo cho ảnh. Tôi quay sang chị Thư, ôm chị khóc ròng:

- Chắc là em phải ở lại đây để xem tai nạn thế nào. Chiều nay em nhờ chị đưa mợ em về Sài gòn và báo tin cho ba má em biết. Đây là địa chỉ của ba má em.

Chị Thư moi trong túi đưa cho tôi hết số tiền và nói:
- Trong hoàn cảnh này em cần tiền hơn anh Long. Em cứ giữ xài. Chị em mình tính sau. Chị sẽ gửi tiền cho anh Long sau.

Vừa nghe chị nhắc anh Long, tôi chợt nhớ ra còn một anh Long nữa là chồng chị Thư. Đúng rồi. Đội lao động có hai anh Long. Cán bộ đâu nói là anh Long nào. Linh tính? Bản năng sinh tồn? Hy vọng mong manh? Kinh nghiệm sống? hay là tất cả đã khiến tôi trở nên bình tĩnh, sáng suốt và liều lĩnh. Tôi chạy nhanh đến các phòng tìm tên cán bộ lúc nãy. Hỏi thăm không được, tôi dùng khổ nhục kế khóc mùi mẫn. Cuối cùng có một tên thương tình dẫn tôi đi tìm hắn.

- Thưa cán bộ, tôi là vợ anh Long. Lúc nãy cán bộ nói có anh tên Long bị mìn. Chồng tôi tên là Đào ngọc Long. Cán bộ hỏi lại dùm có phải đúng tên họ là Đào ngọc Long không?

Tên cán bộ mở to mắt nhìn tôi đăm đăm. Không còn gì để sợ, để mất nữa, tôi lên giọng và nhìn thẳng vào mắt hắn:

- Tôi đã sẵn sàng đi theo cán bộ nhưng trước khi đi, xin cán bộ xác nhận rõ lần nữa, tên họ người bị mìn có phải là Đào ngọc Long không?

Thấy mắt tôi còn đỏ hoe, giọng nói cương quyết và dứt khoát, hắn nghĩ một lúc rồi quay sang gọi một anh tù gần đó, nói nhỏ một cái gì đó. Một lát sau, anh tù trở lại. Hắn xởi lởi:

- “Lày”, cái chị vừa “lói” tên chồng chị “nà” Đào ngọc “Nong” hả? Thế thì không phải rồi! May cho chị nhé. Tên anh bị mìn “nà” “Nê văn Nong”. Chị về nhắn vợ anh “Nê văn Nong” “nên” gặp tôi ngay. Tôi không chờ đâu nhé. Muộn rồi.

Vừa nghe xong, tôi nghĩ ngay đến chị Thư. Lê văn Long đúng là tên chồng chị, người phụ nữ tôi quý mến, kính trọng và mang ơn. Cái may của tôi bây giờ là cái rủi của chị. Hạnh phúc của tôi bây giờ là sự bất hạnh của chị. Niềm vui của tôi bây giờ là nỗi đau khổ của chị.Tôi biết phải nói thế nào với chị ? Chỉ trong mười phút đồng hồ, chúng tôi cùng nếm chung với nhau hương vị của hạnh phúc và đau khổ, của niềm vui và nỗi buồn, của cái có và cái không, của cái còn và cái mất,của cái sống và cái chết, cùng trải nghiệm chung hai mặt của cuộc đời nhiều éo le và nghiệt ngã. Thân phận những người đàn bà chịu nhiều nỗi “truân chuyên” trong “cơn gió bụi”,của cái gọi là “dòng thác cách mạng” tại xứ sở này là “vì ai” ? “Vì ai gây dựng cho nên nổi này?”

Ảnh cảnh thăm nuôi tù.

Tên cán bộ hồ đồ giao cho tôi công việc nhắn chị đi gặp hắn ngay. Thời gian đâu còn nữa. Vừa lúc đó chị Thư cũng chạy đi tìm và gặp tôi ở phòng cán bộ. Giác quan thứ sáu của người phụ nữ thông minh, dày dạn kinh nghiệm sống này giúp chị hiểu tất cả. Tôi nghẹn lời:

- Chị ơi, tên cán bộ nói anh Lê văn Long bị mìn. Em có thể làm gì giúp chị? Nếu chị ở lại đây lo cho anh Long, em đưa bác về Sài gòn Chị giữ lại số tiền này. Chị có nhắn gì Phú không? Chị có cần ngày mai em và Phú đi Hàm Tân phụ chị lo cho anh Long không?

Nói xong, tôi ôm chị khóc nức nở. Tôi khóc thương cho chị, cho tôi, cho những người đàn bà đi thăm nuôi chồng hôm nay, cho các anh đã nằm xuống hay đang lao động ngoài vườn rau kia hay cho tất cả…?

Chị đứng lặng yên một lúc lâu, vỗ nhẹ vào vai tôi:
- Em phải về. Con còn nhỏ, còn bận đi làm. Định mệnh đã sắp đặt cả rồi. Em nhắn Phú sáng mai đi Hàm Tân sớm đem tiền cho chị. Em đưa má chị về nhà dùm. Đừng khóc nữa em. Nước mắt không giúp được gì trong lúc này.

Chị ôm bà má, lau nước mắt cho bà và dặn dò bà đôi điều. Chị gửi bao tải đựng thức ăn khô cho cán bộ cất dùm trong góc nhà khách và theo tên cán bộ và vài anh tù vào rừng cùng với ba cái cáng.

Hai quả mìn làm chết hai người dân vô tội. Anh Long lao động gần đó may mắn chỉ bị thương ở chân nhưng vết thương khá nặng, máu ra nhiều, bắt buộc cán bộ trại phải chở anh vào bệnh viện Phan Thiết chữa trị. Tin anh bị thương đến cùng lúc với tin vui, hai đứa con anh đã vượt biên đến Thái Lan an toàn. Chị Thư nói với tôi:

- Luật bù trừ đó em, Anh Long ảnh gánh cho hai đứa con ảnh.

Lúc đầu, ban quản giáo trại cử hai tên cán bộ canh gác anh trong bệnh viện đề phòng tù nhân trốn thoát. Vài ngày sau chỉ còn một cán bộ miền Nam tập kết rất trẻ tên Năm Ròng. Hắn đi ra đi vào, buồn chán, tánh ham vui nên thờ ơ, thỉnh thoảng có mặt để nhắc nhở, hăm he cho có lệ rồi phóng xe Honda của chị Thư cho mượn đi chơi cả ngày. Chị Thư kể xăng lúc nào cũng đổ đầy bình cho xe chạy thả giàn. Chị điếu đóm, chiều chuộng tên Ròng không còn thiếu thứ gì từ cái “đài”, cái “đổng” thuốc hút, thuốc bệnh, nhiều nhất là tiền để hắn dễ dãi cho anh chút tự do. Lâu dần, Năm Ròng tin chị. Hắn mê cái xe Honda. Cái xe Honda của chị đang trong tay hắn. Hơn một tháng nằm bệnh viện Phan Thiết, Anh Long bình phục dần, được đi lại dễ dàng thoải mái trong bệnh viện Mối quan hệ giữa vợ chồng chị Thư và Năm Ròng càng ngày càng thân tình đến mức một hôm, Ròng tâm sự với chị Thư một tin bí mật trong nội bộ là một tuần nữa, anh Long có lệnh phải trở về trại Z30 C.

Vừa biết tin xong, ba ngày sau, chị Thư và Phú, người chân trong, kẻ chân ngoài, Phú lái xe La Dalat chở anh Long trốn bệnh viện về Saigon từ sáng sớm.

Chuyện anh Long trốn khỏi bệnh viện cũng ly kỳ không kém chuyện chị vô rừng tìm chồng. Mãi đến sáng hôm sau bệnh viện mới phát giác. Cô Mai, y tá bệnh viện sau này về Saigon gặp chị kể lại chuyện trốn khỏi bệnh viện của anh Long làm chấn động cả bệnh viện và tù cải tạo. Trong vụ này, người bị “sốc” nhất có lẽ là Năm Ròng, kế đó là ban quản giáo. Bệnh viện Hàm Tân, trừ các cán bộ cộng sản, ai cũng mừng thầm cho anh Long thoát nạn. Năm Ròng không hay biết gì cho đến khi sáng hôm sau khi bệnh viện thông báo, hắn còn không tin vì đinh ninh xe Honda còn đây thì người còn đó. Có ngờ đâu “của đi thay người”.Chị Thư hy sinh cái xe Honda để đổi lấy sinh mạng cho anh Long trốn về Sài gòn tìm đường vượt biên.

Một tháng sau, chị nhận tin vui. Anh Long và Phú đến Thái Lan an toàn. Còn chị? Chị phải ở lại. Chị là chuyến tàu chót để gánh chịu và đối phó với những bất trắc xảy ra cho gia đình trong các chuyến vượt biên. Bà má chị dọn về ở với cô em gái. Chồng con chị được đi định cư ở Canada. Căn nhà đã bán. Anh Long đi thoát. Từ đó, tôi ít liên lạc với chị và sau này không biết tin tức gì về chị nữa.

Chúng tôi qua Mỹ năm 1991, gặp lại người bạn cũ có quen một giáo viên trường LVD, nơi anh Long dạy trước 75. Tôi nhờ người bạn tìm tòi, hỏi han số phone. Anh Long đang định cư ở Canada.Tôi hồi hộp, cầu may gọi cho anh và mừng quá khi nhận ra giọng nói ngày xưa của anh sau bao nhiêu năm xa cách. Hai con anh, cháu Tí và Nu đã có gia đình. Anh đã có cháu nội và ngoại. Đến khi nhắc đến chị Thư, giọng anh nghẹn ngào. Anh kể chị Thư vượt biên sau anh vài tháng. Cũng là đường giây tổ chức cho anh và hai cháu vượt biên tới Thái Lan trước đây nhưng chuyến đi của chị hơn ba mươi năm rồi, cho đến bây giờ vẫn không có tin tức.

Cuộc đời ly kỳ của người phụ nữ ấy đã khép lại. Trong chuyến tàu sinh tử cuối cùng, chị đã ra đi mãi mãi. Người phụ nữ làm những chuyện phi thường đã không để lại một dấu vết gì. Có chăng là tấm lòng bao dung, rộng mở tràn đầy tình thương và sự hy sinh cho chồng, cho con, cho gia đình, bạn bè, những người thân và những ai cần đến chị. Suốt đời, chị sống quên mình để dâng hiến cho người, cho đời những đóa hoa thơm ngạt ngào hương sắc.

Đọc lại bốn câu thơ mở đầu của một tác phẩm văn học lớn viết về thân phận người phụ nữ vào những ngày cuối tháng tư để ngậm ngùi nhớ đến chị.

Phùng Annie Kim

Blog Archive