Showing posts with label Hồ Nguyễn. Show all posts
Showing posts with label Hồ Nguyễn. Show all posts

Wednesday, August 10, 2022

Chúng Ta Đi Mang Theo Quê Hương

Tôi đã có bài viết Mang Theo Quê Hương, nói về tâm tình người xa xứ, dù quê hương thứ hai này vẫn là nơi đáng sống, an bình, thịnh vượng. Chúng tôi hài lòng với những điều đã đạt được ở đây, nhờ chính sách tự do, luật pháp rõ ràng, tạo nhiều cơ hội cho bất cứ ai ham học, chăm làm, cộng thêm tấm lòng của người dân Mỹ đã cưu mang nâng đỡ cho các di dân nói chung và cá nhân chúng tôi thuở ban đầu. Trong lòng tôi vẫn luôn ghi nhớ, cảm tạ, tri ân quê hương mới này.Tuy nhiên trong sâu thẳm của con tim, ai trong chúng ta mà không nhớ về quê cũ với bao kỷ niệm từ tuổi thơ ấu đến khi trưởng thành. Vì vậy tôi mới tìm về Orlando, FL sinh sống. Vườn cây, ao cá sau nhà chúng tôi chỉ là tâm tình cá nhân, để vơi bớt nhung nhớ những ngày xưa thân ái.

Hôm nay tôi muốn giới thiệu đến bạn đọc một tâm tình khác, một ước mơ to lớn hơn mang tính cách cộng đồng. Hoài bão của một người bạn mà tôi tình cờ quen biết mới đây, có dịp viếng thăm khu vườn cây trái đang hình thành và một ước mơ, muốn khơi dậy tâm tình của cộng đồng người Việt rất đáng khích lệ của anh.Truyện bắt đầu từ vài năm trước, anh liên lạc và đến khu vườn của chúng tôi mua các loại cây giống như: Mận chuông, sapoche, chuối sứ...dần dần nói đến việc mò cua, bắt ốc, câu cá trong hồ, các loại cá anh thích ăn, thỉnh thoảng bắt được các loại cá này thì tôi nhắn tin anh đến lấy.Đường Colonial là trục lộ chính của Orlando, đặc biệt của người Việt. Chúng tôi đi lại trên con đường này hầu như mỗi ngày, trông thấy tấm bảng hiệu để tên Việt Plaza, lại có tượng đức Trần Hưng Đạo thật to ở ngay lối vào. Biết là của người Việt nhưng cũng không để ý lắm. Mới đây anh đến lấy cá và biếu lại một bọc trái trứng cá. Cái xe tải anh lái có dán chữ VIET PLAZA. Hỏi ra mới biết anh chính là chủ của khu thương mại này.

VIET PLAZA tọa lạc tại 1100 W Colonial Dr. Orlando FL 32804. Kể như nằm ở giữa của hai khu thương mại của người Việt trên đại lộ Colonial Dr. Đông và Tây. Chỉ khu này thôi đã có diện tích hơn 110 ngàn bộ vuông (SF), với hai toà building gần 30 ngàn SF. Phía bên kia đường còn có một nhà hàng Wendy ngày xưa, nay thuộc quyền sở hữu của VIET PLAZA, tạm thời đang cho người Mỹ mướn.

Rồi từ từ thân nhau hơn, anh vẫn vắn véo mời vợ chồng tôi ghé chơi. Trước hôm đi Seattle, ngoài vài loại trái cây trong vườn nhà, tôi hỏi về trái trứng cá mà anh đem cho bữa trước. Anh nói: Mùa này nó chín nhiều mỗi ngày, cứ việc đến hái. Khi chúng tôi đến, cây trứng cá cao, đứng với không tới, anh vào trong building lấy thang ra cho mượn, rồi còn chỉ vẽ cách hái cho mau mà không bị rơi rụng.

Thịnh tình của anh đã làm tôi cảm mến hơn, rồi đứng ngó chung quanh, thấy nguyên một vòng bao quanh thấp thoáng các loại cây trái Việt Nam quê mình. Tôi ngỏ ý muốn đi "thăm quan", anh bảo chờ tí rồi vào lấy chiếc xe điện hai chỗ (golf car) kêu tôi lên ngồi cạnh.

Hãy nói về vườn cây trái tượng trưng cho văn hóa quê hương mình.

Ngay cổng vào, có hai cây phượng vĩ gốc đã to như cái cột nhà, sau mấy lần cắt bớt chiều cao, tàn lá nở ra theo chiều rộng và rất xanh tốt. Mùa Hè đến từng chùm phượng đỏ trổ hoa nhắc nhở chúng ta bao mộng mơ của tuổi học trò.

Hiện tại đã có 4 cây trứng cá, cây to nhất gốc có đường kính khoảng 6", cao 4-5 thước, cây nào cũng có hoa trái vào mùa này. Ôi tuổi thơ! Lá trứng cá được chúng tôi hái ép vào cuốn vở cho mỗi mùa nghỉ hè rồi tặng nhau như những kỷ niệm vui buồn, thương mến.

Rất nhiều loại tre, trúc được trồng đan xen đó đây xung quanh khu parking rộng lớn. Một số khác được trồng trên các chậu thật to (50-100 gl) để tiện việc di chuyển khi cần. Như nhiều người đã biết, cây trúc cao, dẻo dai chịu đựng giông gió, bão táp...Cha ông ta thường dùng nó tượng trưng cho tinh thần kiên cường, bất khuất của dòng dõi Lạc Việt.

Cây dừa. Tôi không dám chắc dừa có sống được ở miền Bắc, nhưng miền Nam nước Việt thì được trồng đều khắp ở các vùng thôn dã, trái dừa non, già ...thật gần gũi với ẩm thực quê mình. Ở Orlando ít ai trồng được nó, vì thỉnh thoảng độ lạnh xuống dưới 32 độ F cây dừa chết toi. Vậy mà cũng có mấy cây được chăm bón xanh tốt ở đây.

Các loại cây ăn trái khác như: Xoài, mận chuông, mít, ổi, sapoche, vải, nhãn, bơ, sung, măng cầu...được trồng đan xen nhau, đều khắp chu vi cái sân parking rộng. Các loại rau: Ngò om, húng quế, rau răm, tiá tô, bầu bí mướp...vào mùa này không thiếu thứ gì.

Ngay khoảng giữa vườn có chuồng chim bồ câu tượng trưng cho sự thân thiện, hiền hòa của người Việt ngày xưa. Lại có hai bệ xi măng được chính tay chủ nhân kiến tạo để nhớ về các bệ cột cây số trên khắp các nẻo đường miền Nam trước năm 1975.

Khi chúng tôi đến thì cái khung của một mái nhà tranh đã hình thành. Vâng, túp lều tranh tượng trưng cho mái ấm đồng quê của những ngày xưa thân ái, nay nó đã được lợp bằng lá dừa, ghép trúc đá chung quanh.Ngay phía trước của toà building rộng lớn, song song với lối đi bộ trên đường chính Colonial Dr, hàng cây cảnh chuyên trồng để làm hàng rào, lá có màu xanh lợt, hơi vàng...nay đã xanh tốt và cao ngang thắt lưng. Nó sẽ được uốn nắn, cắt tiả để trở thanh hai con rồng chầu.

Những nét văn hóa khác.
Như trên đã nói, ngay cổng vào là bức tượng Đức Trần Hưng Đạo, một danh nhân bậc nhất của lịch sử nước Việt, người anh hùng trí-dũng song toàn đã chiến thắng Nguyên Mông. Bức tượng to hơn người thường, sắc nét, đứng trên bệ đá với ánh đèn chiếu sáng khi đêm về. Chỉ công trình này thôi đã tốn phí khá lớn (sáu số).

Mặt tiền của VIET PLAZA được một người Việt mướn mở tiệm Nails Supply. Phía sau và một building nằm riêng biệt do chính chủ nhân cai quản, sử dụng.Hiện tại cái nhà kho rộng khoảng vài chục ngàn bộ Anh (sf) được chia làm hai, một nửa đang chứa khoảng vài trăm pallets những nguyên-vật liệu cung cấp cho công việc sản xuất và bán sỉ yard Sign của gia chủ.

Phân nửa còn lại có hai tầng, gồm nhiều phòng. Mỗi phòng chứa đựng một số món hàng tượng trưng cho các nét văn hoá, hoặc lịch sự nước Việt. Thí dụ:

- Tượng bán thân của vua Hùng Vương.

- Mấy bộ trống đồng cổ với hoa văn sắc sảo.

- Các bộ sưu tầm hình ảnh của các sinh hoạt thời Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hoà Việt Nam.

- Hình ảnh các sĩ quan anh hùng đã tuẫn tiết ngày 30-04-1975.

- Các đồng tiền thời VNCH.

- Các loại xe cộ ngày xưa như: Velo solex, Mobilet, Cyclo máy...

- Quang gánh, gánh hàng ngày xưa

- Đâu rồng. V.v và V.v

Tôi ước tính. Bộ sưu tập này chủ nhân không chỉ bỏ nhiều thời gian, công sức mà còn tốn phí khá nhiều về tài chánh. Rồi ra, nếu tất cả khu nhà kho được dùng để trưng bày các sản phẩm đã có sẵn trong kho một cách có hệ thống ở ngay đó hay một nơi nào thuận tiện khác, chắc chắn sẽ thu hút những ai muốn chút tình tự quê hương, muốn tìm lại những kỷ niệm ngày xưa ... đến thăm viếng. Đăc biệt các bạn trẻ muốn tìm hiểu về lịch sử cha ông, và các khía cạnh khác của văn hoá Việt Nam. Nói về thời gian anh mới làm chủ khu thương mại này khoảng 3 năm. Khu vườn cây trái mới hình thành ở những nét chính, phân chia khu vực và trồng các loại cây. Một vài năm nữa cây sẽ phát triển xum xuê, sinh hoa kết trái. Chỉ khu vườn này thôi cũng hấp dẫn khách du lịch xa gần đến thăm viếng, chiêm ngưỡng hoa trái, chụp hình lưu niệm v.v.Một điều khá thú vị mà chủ nhân cho biết: Ước mơ của anh là bảo tồn nền văn hóa VN. Anh cố gắng thực hiện điều này bằng khả năng mà anh có thể, chưa dám nghĩ đến sự hỗ trợ của ai khác.

Tôi trộm nghĩ: Công việc anh đang kinh doanh là sản xuất giá sỉ những tấm bảng quảng caó bằng nhựa cắm ở lề đường và trong sân cho những ai cần quảng cáo. Thị trường rất rộng lớn, thân chủ ở khắp các tiểu bang Hoa Kỳ, đăt hàng trên mạng, nên việc sản xuất có thể thiết lập ở các khu công nghiệp, không cần phải nằm ở một khu thương mại sầm uất như thế này.Khi ấy vườn cây trái đã sầm uất, các dãy building sẽ được thiết kế, chỉnh sửa để trở thành một trung tâm thương mại bao gồm: Siêu thị, nhà hàng, văn phòng bác sĩ... và các dịch vụ khác của cộng đồng người Việt thì chắc sẽ hấp dẫn cả du khách lẫn bà con ta ở đây.

Hồ Nguyễn

Thursday, April 25, 2019

Đem Theo Quê Hương


cay roi
Cây mận (roi) đơm trái.
Ho Nguyen & trai mit
Và trái mít 50 pound.


***
Không biết ông nhà văn di cư nào đã viết một câu xúc động “Chúng ta đi, đem theo quê hương.” Với gia đình chúng tôi, quê hương gần gụi nhất là là vườn cây, ao cá... là tình làng nghiã xóm của cô bác thân thương.

Những hình ảnh và ký ức ấy vẫn bám theo tôi suốt mấy chục năm bôn ba đó đây. Dù bươi trải kiếm sống trên quê mới, vẫn hàng mơ có ngày tìm được một nơi dựng lại vườn quê cũ.

Cho đến năm hai ngàn không trăm... hồi đó, tôi đang sống và mở nhà hàng ở Buffalo, NY., nhân một chuyến nghỉ hè đưa gia đình đi Florida chơi, thấy khung cảnh và khí hậu ở đây sao giống Việt Nam quê hương mình quá. Với bản tính nông dân, cứ thấy chỗ nào có nước, có cá, có đất làm vườn là tôi mê tít. 

Thế là tôi quyết định tìm đường dọn về đây. Chuyện di dời nhà hàng, tìm kiếm chỗ nương náu khá tốn phí, nhưng rồi cũng xong. Tiệm “Phở K5” khai trương ở vùng Orlando được bà con đồng hương chiếu cố, giấc mộng làm vườn cũng từng bước thành hình.

Căn nhà đầu tiên có vườn, có hồ khá lớn mà có rất nhiều cá sau nhà, nhưng mảnh vườn hơi nhỏ. Sau gần 5 năm gầy dựng, trồng tỉa, vườn cây trái tuy ít nhưng cũng xum xuê. Xoài ổi đã có trái được vài năm, mía thì năm nào cũng có. Cây saboche rất nhiều trái, cây vải năm rồi hái được chừng 50 pound.

Riêng cây mít năm đầu lạnh quá nó chết mất tiêu, rồi năm sau từ gốc cũ nó chồi lên mầm mới, sau đó mỗi năm đến mùa đông tôi phải trùm chăn cho nó. Đến năm rồi mới bói được một quả, lúc hái cân được 50 pound. 

Được cái mùa đông vùng Orlando này chỉ kéo dài chừng vài tháng, mà hầu hết nhiệt độ cũng lòng vòng ở khoảng trên dưới 40 F nên dù cây nhiệt đới cũng có thể cầm cự được. Thỉnh thoảng bị vài ngày xuống đến 30 độ F thì các cây nhiệt đới mới lâm nguy. Vì vậy các giống không chịu được lạnh như: mận chuông, măng cầu, vú sữa... thì phải trồng trong chậu lớn, đến mùa đông thì đem vô garage cho chắc ăn.

Chưa thoả chí trồng trọt nên tôi tìm mua thêm được một căn nhà khác có đất rộng hơn. Hôm bà con anh em ở nhiều tiểu bang đến dự đám cưới con Lily nhà tôi, có người than thở: "Sao chú Hồ lại tìm đến chỗ khỉ ho, cò gáy này? Nhà thì ở bìa rừng, hồ thì chả thấy nước, toàn bèo với cỏ lác đan kín..." Nghe thanh, tôi nghĩ trong đầu việc di dân lập ấp của cụ Dinh Điền Sứ thủa nào và câu thơ của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ.

May mà có  ông anh cũng hào hứng góp ý "Nhà ngươi phải làm như vầy...như vầy...." Nghe lời anh nên tôi sắp đặt một kế hoạch lâu dài.

Ở ngay bià rừng là chuồng gà.  Muốn cho an toàn không bị thú rừng như: chồn, chó sói, chuột chù hay cá sấu tấn công, chuồng phải làm chắc chắn, bao phủ bằng lưới thép B40 và cao hơn đầu người, phải đủ rộng để vài chục chú gà tung tăng ban ngày; bên trong có một chuồng nhỏ hơn để phòng khi mưa nắng, giông bão và phải có hai tầng để có chỗ cho gà mái đẻ.

Sau khi làm xong thì trồng vài gốc dưa tây, chỉ mấy tháng là dây leo tươi tốt, lá bao phủ hầu hết phần mái, rồi hoa trái sẽ xum xuê. Tôi rất thích loại dưa này. Mỗi lần về thăm quê thế nào các cháu cũng kiếm cho vài quả ăn lấy thảo. Cái vị chua chua ngọt ngọt mà thơm lừng cuả dưa tây chín,  nạo ra dằm với chút đường và nước đá bào là hết ý. 

- Bờ hồ thì phải làm cỏ cho sạch rồi thả rau muống. Rau muống xanh thì xào tỏi, luộc chấm nước chanh ớt, đôi khi có thèm thì làm một cái lẩu canh chua cá, rồi tả pí lù với các loại rau thì cũng đỡ nhớ quê nhà.

Còn có loại rau muống đỏ ngày xưa mọc tràn đồng ở miền Tây, cọng rất to nên chẻ ra để ăn sống với bún riêu- bún bò. 

Sau này khi rau muống mọc và lan ra rất nhanh, chả làm gì cho xuể, đành cắt rồi thái nhỏ cho gà ăn. 

Cạnh lối đi bộ quanh vườn thì trồng mấy bụi bạc hà, để thỉnh thoảng nấu nồi canh chua còn có rau tươi mà dùng. Loại bạc hà mình trồng ở vườn nhà sao mà nó dòn và ngọt ngào, không giống như mua ngoài chợ, nhiều khi dai nhách mà ăn cứ ngưa ngứa ở cổ họng.

Đồ ăn cho gà là: rau, bún, cơm, phở... thừa từ nhà hàng đem về, trộn với rau muống nhà thì chuồng gà lúc nào cũng phải có dăm chục con ăn mới hết. Bởi vậy phải có hai chuồng, một bên là gà đẻ, một bên gà thịt.

Phân gà cào ra đem ủ với cỏ và lá cây độ vài tháng thì nó biến thành đất phân, loại này mà đem bón cho dưa gang, dưa hấu và cây ăn trái thì tốt hơn phân hoá học, lại được coi là organic.

Trên bờ thì trước hết là trồng một hàng đu đủ. Trái xanh hầm gà, chín hường hường gọi là mỏ vịt thì làm gỏi khô bò, chín thì xẻ ra làm món tráng miệng.

Phần quan trọng nhất là lá, hái xuống thái nhỏ, phơi khô rồi gửi xuống cho bà Lang, bà ấy sẽ bán  ̣hoặc tặng cho người đang mắc bịnh ung thư. Nghe nói vị thuốc này  trị bịnh ung thư rất...hiệu nghiệm. 

Kế bên chuồng gà tôi trồng ít bụi riềng, dăm bụi sả để có gia vị mà làm món rựa mận thịt dê. Đặc biệt là lá mơ, đinh lăng và lá nghệ để ăn gỏi cá. 

Florida là một bán đảo, xung quanh có quá nhiều bờ biển, các loại cá to nhỏ sống bên bờ biển rất nhiều. Đêm đêm bạn bè rủ nhau chạy ra bờ biển câu thì chả thiếu gì cá tươi, bắt được cá măng thì đem về làm chả, ăn cũng gần giống như chả cá thác lác bên nhà. Câu được cá lù đù thì ướp xả ớt chiên hay xẻ ra trụng nước muối rồi phơi một nắng. Ôi! Còn gì ngon bằng. 

Cái hồ sau nhà tôi thì quá nhiều cá nước ngọt: lóc, rô, phi, lươn ...thứ nào cũng có  y như vùng U Minh thời xưa.

Tuổi già mà sáng sáng xách cần câu đi nhắp cá vừa vui vừa vận động cho có sức khỏe... Nhất là chèo thuyền ra giữa hồ mà câu ba-ba còn thích thú hơn nữa, chỉ chừng một tiếng đồng hồ là bắt được mấy chú, từ vài, ba pound đến mấy chục pound. Loại này mà nấu cái lẩu cari, chuối xanh thì lai rai cũng được vài-ba xị.

Củ nghệ là vị thuốc chữa lành các vết bỏng vì dầu ăn, nước sôi...mà người làm bếp như chúng tôi vẫn thường gặp. Bây giờ thì củ nghệ lan ra rất nhiều, nay mai phải quảng cáo "Hay liên lạc với Cô Vân Thuốc Nghệ" để may ra kiếm được chút tiền để đi làm phúc.

Bên trên vườn rau muống là dàn bầu và mướp, mỗi bên một gốc. Lúc đầu tôi vẫn đinh ninh và ngâm nga câu: "Bầu ơi thương lấy mướp cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn". Nào ngờ dây mướp mọc nhanh lại sống lâu nên chen lấn bao phủ cả giàn. Không hiểu tại đất hay tại khí hậu phù hợp mà giống mướp ở đây rất tốt và nhiều quả. Mỗi ngày hái vài chục quả thì ăn làm sao cho hết. Có mấy người thân quen đem cho riết rồi họ cũng chán không thèm lấy nữa. Ngược lại bầu chỉ sống chừng ba tháng rồi héo úa dần.

Nói về chuối sứ, Mỹ gọi là chuối Thái, nhưng ở quê tôi họ gọi là chuối Tây. 

Như đã nói ở trên, hồi chúng tôi mới về Orlando anh bạn ở Cali gửi cho 3 gốc để mừng nhà mới. Thật qúi hóa nhưng nhìn gốc chuối héo hon, lăn lóc sau khi vận chuyển từ Cali đến Orlando mà tội nghiệp. Tôi đem trồng cả tháng mà chả thấy nhúc nhích thay đổi gì, phần trên cứ càng ngày càng thối đi. Không ngờ sau này phần củ mọc mầm rồi lớn dần. Bây giờ sau 8 năm nó lây lan ra mấy chục cây mẹ và hàng trăm cây con. Cây con thì bứng lên trồng vào chậu để bán cây giống.

Chuối sứ dùng được từ lá, hoa đến quả: lá bán cho người ta gói bánh chưng, bánh tét; hoa chuối đem ra tiệm thái mỏng trộn với rau sống để bán bún bò, bún riêu; quả thì chiên, luộc, nấu chè, gói bánh... món nào cũng là đặc sản.

Anh bạn còn khuyến khích nhớ nuôi bầy vịt để lâu lâu bạn bè ở xa về thì làm cái lẩu vịt nấu chao - rau muống, hoặc anh nào bạo miệng thì làm dĩa tiết canh mà  đãi. Nuôi vịt thì chỉ cần làm chuồng sát bờ hồ, chúng sẽ lội xuống hồ tìm nghêu sò, ốc hến, cá con... mà xơi.

Nói đến tiết canh vịt thì cần gừng, hành, rau răm, húng cây, tía tô, ngò om... tóm lại tất cả các loại rau thơm tôi cũng đã chuẩn bị mỗi thứ vài chậu để phòng khi... Nhưng một hôm ra cầu ao thì thấy chú cá sấu gác mỏ mà ngó trừng trừng, sau này mới biết có 4-5 chú thay nhau mỗi sáng ghé đến thăm hỏi, chào đón khi mẹ các cháu đem rửa khay đồ ăn gà. Kể ra vì chúng còn nhỏ, chỉ từ 3-4 feet nên còn vô hại đối với con người, nhưng chắc chúng không tha đàn vịt, nên giấc mộng nuôi vịt đành gác lại.

Riêng mía thì trồng được 3 luống, hiện nay đã cao chừng thước rưỡi. Mấy năm trước đã mua một cái máy ép, đã sắm sửa được dao róc vỏ.

Đã thấy mấy bụi khóm đơm trái ở góc vườn.

Bây giờ mà có khách thì có ngay ly nước mía nguyên chất thơm mùi khóm, trái quất (trái tắc).

Họ nhà cam như: Chanh, quít, bưởi, quất, cam chua ...rất dễ trồng và mau có trái. Mấy cây quất vừa làm cảnh trông vui mắt mà vắt lấy nước cũng thơm ngon. Nhất là ép chung với nước miá thì chả khác gi nước mía Viễn Đông ở Saigon hay Bolsa.

Người bạn còn dặn: Phải buôn tận gốc, bán tận ngọn.

Gần một năm nay tôi đã cố làm theo lời anh: Nuôi gà lấy thịt bán Phở, trứng thì chiên lên bán cơm.

Đồ ăn thừa ngoài tiệm thì đem về nuôi gà. Gà lớn lên, đẻ trứng ấp nở ra gà con như truyện cô Bennett bán sữa của La Fontaine... thì cứ thế mà kiếm tiền, chả mấy chốc sẽ giàu quật lên.

Nhưng rồi  mình tính là một chuyện, còn làm được hay không là việc khác.

Gần đây bà lão nhà tôi có hơi vất vả hơn hồi trước, nên nay kêu nhức vai, mai kêu mỏi cổ.  Tối đi làm về nay kêu đấm chỗ này, mai bắt bóp chỗ kia...Mệt bở hơi tai.

Còn có mỗi một đứa con gái theo đuổi nghề "Phở" của cha, cũng than thở với mẹ nó: "Má ơi! Con học xong đại học rồi mà không đi làm được, mai mốt không chừng phải học lại.

Tôi tâm sự việc này với người bạn làm nghề địa ốc, tính bán tiệm. Rồi vừa buồn ngủ thì gặp chiếu manh: Có ông kia cũng đang làm chủ một cái nhà hàng, đến ngỏ ý muốn mở mang thêm vài cái nữa.

Và việc phải đến đã đến.

Chúng tôi đã dự tính "Âm thầm đóng cửa", nên gần đến ngày giao tiệm mới thông báo và có lời cám ơn khách hàng trên facebook. //www.facebook.com/phok5orlando/

Vậy mà hai ngày cuối cùng khách hàng  kéo đến thật đông đảo. Hầu hết ai cũng nói lời chia tay và chúc may mắn. Cũng có một số người rơi nước mắt sau khi ăn bữa tiệc ly thật cảm động. Thế là:

Phở K. 5 đóng thật rồi
Không còn đâu nữa để mời bà con
Từ nay muốn có phở ngon
Muốn tô tái béo vè dòn... tìm đâu?

Cũng từ nay: vườn rau quế, lá lốt, rau răm, tía tô...không còn chỗ xài, đặc biệt đàn gà chắc là bị ế. Hai con khỉ già chúng tôi thì bắt đầu thất nghiệp. Cứ quanh quẩn trong nhà không chừng lại chạo nhau suốt ngày. 

Nhưng có một điều an ủi. Quê hương thì đã ngàn dặm xa xôi, muốn về thăm mồ mả tổ tiên, thăm làng xưa lối cũ, thăm cô bác xóm giềng... phải mất hai ngày đường, chuyển đổi ba chuyến bay. Nhất là vừa mới đến phi trường đã gặp những bộ mặt khó dễ của bọn cán bộ hải quan muốn ăn hối lộ; rồi mỗi ngày phải chứng kiến những bất công của nhà cầm quyền đối với dân lành... thì lại thấy nản chí.

Thôi thì đành đem theo hương vị quê nhà bằng cách làm vườn, trồng cây, câu cá, nấu các món ăn một thời,  để tìm lại chút hạnh phúc ngày xưa.

Hồ Nguyễn

Monday, December 31, 2018

Dựng Nghiệp





Biết bao nhiêu chuyện phải làm khi muốn dời nhà từ miền Tây sang Đông với khoảng cách gần 3 ngàn dặm. Trước hết là hoàn tất thủ tục mua căn tiệm bên thành phố Buffalo, tiền đã vậy còn cần thời gian để hoàn tất giấy tờ thủ tục. Sau đó mới trở lại Seattle để bán các cơ sở thương mại bên đó.

Nghe tin tôi di chuyển đi nơi khác, một ông bạn thân bàn rằng: Chuyện làm ăn thì có khi này khi khác, lúc khó lúc dễ, hãy cố chịu đựng để chờ thời cơ mới. Bây giờ cậu bỏ Seattle mà đi xa như vậy thì thật khó thành công!

Mà khó thật.

*
Đầu thế kỷ trước Buffalo là một trong 10 thành phố lớn nhất nước Hoa Kỳ với hơn 1 triệu dân. Rồi không biết vì ảnh hưởng khí hậu hay sự quản lý yếu kém của chính quyền mà dân số cứ sụt giảm dần.

Năm 1999 chỉ còn khoảng 300 ngàn người. Nhà cửa, các cơ sở thương mại bị bỏ trống nhiều. Nhà thờ, trường học cùng chung số phận. Vì vậy tất cả con em các di dân đều được tập trung vào học trường 45, còn có tên gọi là International school. Ở đây có các thầy cô giáo đủ mọi sắc dân, riêng Việt Nam cũng gần chục người.

Nhôi nhai dọn nhà mất vài tháng mọi việc mới xong. Tôi định ngày 1-1-1999 thì khai trương cửa tiệm,  là 99 FAST FOOD RESTAURANT.

Cái thực đơn đầu tiên của chúng tôi có hơn 40 món ăn. Món ăn Việt thì quanh đi quẩn lại cũng bún- cơm- phở làm căn bản, rồi biến chế thay đổi qua lại. Phở thì có:  Tái, nạm, gầu, gân, sách, bò viên... rồi cộng qua cộng lại cũng được cả chục món rồi.. Bún cũng thế, thêm mấy món cơm chiên. Món ăn Nhật thì có mấy món gà, heo, bò...nấu kiểu nướng, rim và xào với các loại rau, mà món nào cũng có loại sauce teriyaki nghe cho nó giống mấy anh Nhật.

Vị trí của tiệm ăn này có thể nói là đắc địa, vừa nằm sát freeway 90 bắt đầu từ Seattle là cực tây lên đến đầu Boston là cực đông, rất tiện đường cho khách xa đi qua. Lại nằm ngay đầu đường Niagara St (số 93) được coi là một trục lộ chính của Buffalo. Quan trọng nhất là đối diện với City Hall, nơi có vài ngàn công- tư chức đến làm việc mỗi ngày. Một điểm nữa là gần trung tâm phố (down town)... Mà có lẽ bất cứ nơi đâu, cứ ở trung tâm phố là chỗ đông người sẽ bán đồ ăn được.

Vậy mà khi tiệm khai trương chẳng có mấy người khách ngoại quốc ghé thăm! Lâu lâu mới có vài người ngồi lại ăn thử. Khách chính hàng ngày chỉ có người Việt, mà dân số Việt Nam ở Buffalo cũng có đâu chừng trên dưới ngàn người mà thôi. Vì vậy muốn sống được chúng tôi phải xin license bán bia (lại bia nữa), cho các chú đồng hương cuối tuần đến vui vẻ.

Rất may, gần downtown có một hãng may khá lớn với mấy trăm công nhân, chuyên may nón cho các đội baseball, cả cho trường Đại học lẫn chuyên nghiệp. Người Đông Nam Á làm công nhân ở đây cả trăm người. Mỗi ngày họ đặt vài ba chục phần và chúng tôi phải đem giao vào buổi trưa.

Rồi chúng tôi cũng mua được nhà. Như trên đã nói, vì dân số Buffalo cứ giảm dần nên, có quá nhiều nhà trống mà ít người ở nên giá nhà rẻ rề, rẻ và cũ. Mặc, ở căn nhà cũ cũng được và chẳng ai muốn sửa chữa nhiều, có chăng cũng đôi chút trông cho sạch sẽ, kín đáo là được.

Căn nhà tôi mua hai tầng, chừng trăm tuổi, phía trên có 2 chung cư, một cái 3 phòng ngủ một cái 2. Phía dưới trước đây là cái chợ rộng chừng 3,000sqf, có các loại tủ lạnh, kệ chất hàng và nhà kho... nay đã đóng cửa. Mua xong tôi dọn dẹp lại phần trên cho các cháu có chỗ chui ra chui vào.

Chỗ ở vừa ổn định, chú tâm hơn vào cửa tiệm. Rồi một chiều cuối tuần bỗng thấy khách tấp nập kéo đến,  càng lúc càng đông. Tôi phải gọi thêm người làm đang nghỉ ở nhà ra phụ tiếp mà vẫn không kịp, khách còn xếp hàng dài dài chờ ở ngoài.

Hỏi ra mới biết là bà phóng viên chuyên viết về món ăn ở Buffalo News tên Janise Orken mới có bài tường trình và giới thiệu về món ăn Việt Nam ở nhà hàng của chúng tôi trên tờ báo. Bài viết nhiều chi tiết về gỏi cuốn, chả giò, phở, thịt nướng... còn khen món bún bò xào là món bà ấy thích nhất nữa.

Thực ra sau một thời gian mở cửa, nhiều người đến ăn thử rồi chuyền miệng nhau nên quán mỗi ngày mỗi đông hơn, nhưng chưa bao giờ khách phải xếp hàng.

Cũng từ ngày ấy mỗi buổi trưa chúng tôi phải chuẩn bị giao đồ ăn cho hãng may sớm, để sau đó chuẩn bị cho giờ ăn trưa mỗi ngày vài trăm khách. Hầu hết là luật sư, nhân viên chính phủ ở ngay City Hall và các toà building lớn xung quanh, cứ buổi trưa là họ kéo đến ăn.

Sau này thỉnh thoảng các tờ báo nhỏ ở địa phương như Buffalo Beat cũng đăng các bài viết về món ăn Việt Nam mới xuất hiện như một hình thức nhắc nhở khách hàng. Đến một ngày cô phóng viên của đài truyền hình NBC tại Buffalo ghé quán ăn, order một ly sinh tố bơ, cô uống rồi khen tíu tít, bảo vừa tươi ngon vừa đầy dinh dưỡng (healthy). Hỏi thăm biết nó được làm từ trái bơ tươi, đường, sữa, nước đá... xay chung. Cô đề nghị xin quay phim đưa lên chương trình "Unique Food" của đài được trình chiếu mỗi đầu tháng. Trong chương trình ấy lúc quay không chỉ có cách làm ly sinh tố mà nhân cơ hội được lên đài tôi giới thiệu luôn các món ăn khác.

Rồi mạng internet phát triển nhanh chóng, người ta kể chuyện giao lưu trên đó hàng ngày, khen chê đủ mọi chuyện. Quán ăn cũng vậy, ai thích thì khen ai không thích thì chê. Tôi cũng vào google, đọc các lời khen chê của khách hàng, cái nào được khen thì cố làm tốt hơn, lúc bị phê phán chê bai thì phải coi lại, cái nào sửa được thì sửa. món nào đổi được thì đổi, với ước mong khách hàng sẽ hài lòng hơn. Từ đó quán ăn của chúng tôi càng ngày càng đông khách hơn.

Như trên đã nói, tầng dưới của căn nhà chúng tôi đang ở trước đây là cái chợ bị đóng cửa, các thiết bị dù cũ nhưng vẫn còn nằm đó. Tôi gọi thợ đến định giá để tân trang lại, xin phép làm thêm hệ thống bếp nữa rồi mở thành cái chợ Á Đông. Hàng tạp hóa tôi order thẳng từ California của An Hing, Vĩnh Sanh... nên thật rẻ so với các công ty khác tại New York. Chợ chúng tôi lại có cá phi, cá bông lau sống, có thể mua, làm sạch và chiên luôn tại tiệm. Những thành phố đông người Việt, có các siêu thị lớn thì dịch vụ này rất bình thường, nhưng ở Buffalo thì đây là một dịch vụ mới, thức ăn tươi, nóng cung cấp tiện lợi cho không chỉ người Á đông mà các sắc dân khác cũng rất thích.

Buffalo nằm sát biên giới Canada. Từ đây qua Mississauga, Toronto chỉ hơn 1 giờ lái xe. Năm 2001 thì 1 Mỹ kim đổi ra được hơn 1.6 Canada kim, mà một ổ bánh mì thịt ở Canada giá có 1.00; một tô mì vịt, hay cháo cá ở những nhà hàng Tàu có 3.00 - 4.00 mà thôi. Đơn cử một vài thí dụ để biết du khách Mỹ rất thích sang Canada mua sắm, chi tiêu.

Toronto cũng là nơi cư dân Việt-Tàu đông thứ 2 sau California. Đặc biệt về các loại trái cây ở vùng Đông nam Á như: Sầu riêng, vú sữa, na, nhãn, măng cụt, mận chuông... được nhập vào Canada dễ dàng, nên vừa ngon vừa nhiều. Du khách Á châu đến China town của hai thành phố trên rất đông đảo, vừa được ăn đồ ăn rẻ, vừa được thưởng thức nhiều loại cây trái quê mình.

Tuần 2 lần tôi lái xe sang Toronto mua những thứ cần thiết về bán. Xin mách một mẹo nhỏ cho bà con mình khi ghé thăm bên đó, rồi muốn mua chút ít trái cây về làm quà cho người ở nhà, (vì luật lệ ở Mỹ không cho đem trái cây từ nước ngoài vào). Hãy lột hết vỏ rồi bỏ vào các hộp bằng foam, loại đựng đồ ăn to go. Nếu các kiểm soát viên có hỏi thì cứ bảo đó là dessert, sẽ cho đi, họ mà thấy còn hình thù trái cây thì tất cả sẽ vào thùng rác.

Ai cũng biết ở Hoa Kỳ thì trên có luật liên bang, mỗi tiểu bang hay thành phố có những bộ luật riêng. Những bộ luật địa phương sẽ không trái với luật liên bang là được. Thí dụ tiêu chuẩn (code) xây nhà của NY sẽ khác với FL, vì NY là xứ lạnh, FL là xứ nóng...

Cũng vậy các hàng hoá về lương thực được bày bán ở NY đôi khi những kiểm soát viên đòi hỏi khắt khe kiểu khác, không giống những tiêu chuẩn ở California. Tôi biết được điều này thì đã muộn. Một năm đôi lần các kiểm soát viên (inspector) ghé thăm, lôi ra nhiều mặt hàng không có con dấu (stamp) của NY rồi phàn nàn không đủ tiêu chuẩn bày bán, yêu cầu lấy xuống khỏi kệ. Rồi càng ngày càng bị chuyện này nhiều hơn, có khi bị phạt tiền nữa.

Tôi tham khảo luật sư rồi khởi kiện. Lý do là hàng hoá đã được kiểm soát bởi chính phủ liên bang khi nhập vào Hoa Kỳ rồi thì không có lý do gì bị từ chối rồi bị phạt tại NY. Đại diện của FDA tại NY không đủ bằng chứng nên bị xử thua kiện. Quan Tòa còn tuyên bố: ông không muốn nhìn thấy việc này xảy ra tại tòa lần nữa. Các giấy phạt bị hủy bỏ. Ông còn mỉm cười bảo tôi: "Chú" cứ về tiếp tục làm ăn.

Độ một tháng sau, trên FDA gửi xuống không phải một người mà 6 người. Họ đi coi từng cái hộp, từng gói bún, quẹt ngón tay tìm bụi... mà tôi gọi là bới lông tìm vết. Những đồ ở Canada mua về thì 1-2-3 vô thùng rác trước. Sau đó hàng tuần có ông hay bà ghé lại trông chừng, áp dụng rất kỹ những tiêu chuẩn của NY. Tôi chán quá nên kêu bán lại hàng hoá rồi đóng cửa chợ. Cái dại lần này là: Dám chống lại các cơ quan công quyền.

Cho chừa cái tật con kiến (đầu đen) mà kiện củ khoai.
 
Một ngày đẹp trời vào cuối năm 2002 tôi nhận được thư của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ cho biết: Họ sẽ lấy nguyên block đường, trong đó có tiệm ăn của tôi để xây tòa án liên bang tại đó.

Trong số khách hàng ghé tiệm mỗi tuần vài lần có ông Steven là chủ của một tập đoàn luật sư chuyên về địa ốc (The Real Estate Law Firm). Ông và nhóm nhân viên rất thích đồ ăn ở nhà hàng. Trước đây có những việc liên quan đến bất động sản ông đứng ra giúp đỡ mà không tính tiền, chỉ cười bảo: để nhân viên công ty luật của ông đến ăn rồi trừ dần.

Tôi đem việc Federal gửi thư đòi lấy tiệm ra hỏi thì ông trả lời rằng: Hết cách vì đó là luật, chính phủ liên bang họ có quyền trưng mua bất cứ chỗ nào họ muốn. Bây giờ chúng ta chỉ tìm cách bán được giá nào thôi. Ông bảo deal với chính phủ liên bang thì đòi hỏi một luật sư đặc biệt và hứa sẽ giới thiệu cho tôi một công ty luật chuyên trách về vụ này.

Một thời gian ngắn sau liên bang gửi thư trả giá (offer) căn tiệm chúng tôi 125 ngàn, với điều kiện chúng tôi phải có luật sư đại diện, phía chính quyền sẽ không thương lượng (deal) trực tiếp với khổ chủ (owner) huhu.. Trong khi bốn năm trước tôi mua nó 250 ngàn, cộng với tiền sửa chữa và xây dựng thành nhà hàng tốn phi thêm cả trăm ngàn nữa. Rồi bao nhiêu công sức bỏ ra mới có ngày nay, vậy mà...

Khi nghe tin này dư luận xôn xao phản ứng. Hội đồng thành phố Buffalo gửi thư cho Thượng nghị sĩ liên bang Chuck Schumer, đại diện của ông gọi điện thoại trao đổi, sau đó ông gửi một lá thư hứa sẽ can thiệp để việc mua lại tài sản của chúng tôi được công bằng.

Báo Buffalo News, đài truyền hinh cùng loan tin rồi phàn nàn là chính quyền liên bang làm như vậy là không công bằng... Thậm chí có một cha (linh mục) người Mỹ ghé đến tiệm, ông cầm một cái bao thư đưa cho tôi rồi chia sẻ rằng:

- Tôi nghe tin ông bị nạn thật buồn mà không biết làm sao được. Đời linh mục tôi không có nhiều tiền, chỉ có chút đỉnh đây để giúp gia đình ông vượt qua lúc khó khăn này. Tôi trả lời:

- Con cám ơn cha, nhưng chúng con có thể tự lo được. Con nghĩ cứ từ từ rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đấy.

Ngài nhất định gửi cho tôi cái phong bì rồi ra về. Suy nghĩ vài ngày, tôi muốn dùng số tiền 500 đô này gửi về cho cha Chu, một LM gốc Kinh 5 quê tôi, Ngài đang phục vụ một xứ đạo rất nghèo ở Hòn Chông gần cuối nước VN. Tôi ngỏ ý này với cha người Mỹ và Ngài đồng ý. Sau đó cha Chu nhận được và cũng đã biên thư cảm ơn cha Mỹ bên này.

Tập đoàn luật sư Barklay do ông Steven giới thiệu đã liên lạc và đặt điều kiện rằng. Họ sẽ đại diện chúng tôi tranh đấu để lấy được càng nhiều tiền càng tốt. Nhưng bất cứ khoản tiền nào trên 125 ngàn (là giá của chính phủ offer ban đầu) họ sẽ lấy 33%. Tôi không đồng ý và nói lại với ông Steven. Hai người bàn bạc rồi sau đó đổi lại. Barklay Law firm sẽ lấy 15% số tiền từ 125 đến 250 ngàn và 33% nếu đòi được hơn 250 ngàn. Đường nào cũng khốn, cũng khổ, không thấy đường nào lắm mỡ, béo bở!

Tiếp đó tôi mua được cái building ở số 295 đường Niagara St nghĩa là chỉ cách tiệm cũ hai block đường. Chuyện xảy ra như sau:

Chắc nhiều người cũng biết đấu giá là việc mua bán một số mặt hàng mà người sở hữu khó bán trên thị trường, hoặc không chắc chắn được giá trị của tài sản mà mình có, thì họ đem nó giao cho các công ty bán đấu giá. Tiếng anh gọi là Auctioneer. Đây là một dịch vụ mà người đứng làm trung gian mua bán, các Auctioneers kiếm khá nhiều tiền.

Ở Buffalo vì nhà cửa ế ẩm nên công ty Cash Auctioneer còn bán cả các căn nhà mà ngành địa ốc không bán được nữa. Ông Cash là chủ của công ty này, trước đây từng là lính chiến tại Việt Nam, có vợ người Việt và sanh được 2 con. Tôi đi mua đồ auction tại công ty ông nhiều lần nên quen biết.

Lúc ấy khoảng năm 2002, đọc báo thấy công ty Cash Auctioneer sẽ bán đấu giá cái building lớn gần downtown. Tôi đang cần chỗ để di dời nhà hàng của mình nên đến tham dự, nhưng trong lòng không hy vọng sẽ mua được nó, cai building 5 tầng thật lớn nằm trên đường Niagara st ngay lối vào từ freeway 90 là địa điểm tốt, chắc phải trả giá cao lắm mới mua được.

Khi tôi đến nơi đã có khá đông người chờ đợi bên ngoài, sau đó được biết khách hàng và cả ông Cash cũng đang chờ người đại diện bên chủ building đem chìa khóa đến mở cửa,  tiếng anh gọi là preview, coi rồi mới biết mà mua, mà đấu chứ!

Đã qua thời gian ấn định mà chờ hoài không thấy người cầm chìa khóa đến, ông Cash bực bội tuyên bố huỷ bỏ cuộc đấu giá hôm nay.

Mọi người thất vọng lần lượt kéo nhau ra về. Tôi đến khều ông Cash đề nghị:

- Hay là ông bán cho tôi đi?

- Chú em muốn mua hả? Được thôi, chú muốn trả bao nhiêu?

Tôi nhún vai cười:

- Tôi không biết, nhưng phải rẻ.

- 35 ngàn OK? Đồng ý thì theo anh về văn phòng ký giấy tờ.

Mỗi công ty auction có điều lệ (policy) khác nhau, nhưng có một điểm chung là sẽ bán hàng cho người trả giá cao nhất. Khi ký hợp đồng với người bán cũng vậy, người bán phải đồng ý bán cho người trả giá cao nhất, nếu không thì bị phạt, phạt thế nào thì tùy hai bên cam kết lúc ký hợp đồng.

Tôi lái xe theo ông đến văn phòng trên đường Main St cách đó độ 20 phút, trong lòng hồi hộp không biết còn chuyện gì xảy ra nữa không?

Độ tuần lễ sau ông Cash gọi tôi:

- Họ không chịu bán chú em ơi! Nói rẻ qúa.

- Rồi sao? Bác. (So what is next? Brother)

- Chú trả thêm chút nữa được không?

- Nhiêu?

- Thêm 10K nữa, anh sẽ bắt chúng phải bán, nếu không anh hủy hợp đồng và họ phải bồi thường.

- Ok.

Vài ngày sau thì ông Cash gọi cho hay họ đã ký giấy bán. Hãy đem tiền cọc 10% lên bỏ vào escrow rồi kêu luật sư tiến hành thủ tục.

Tôi liên lạc với văn phòng Steven Law Firm và ông Ron Zackem cũng là cựu binh Việt Nam phụ trách case này. Ông hỏi tôi:

- Sao chú mua được giá rẻ vậy? Cái Building này theo biểu thuế của thành phố, mỗi năm phải đóng hơn 18 ngàn... tức giá trị của nó phải 6-7 trăm ngàn. Mà giá trị ngoài thị trường lúc nào cũng cao hơn mức định giá của chính phủ?

Hỏi vậy nhưng ông đâu cần câu trả lời, mà tôi cũng ú ớ chả biết trả lời ra sao cho xuôi.

Sau này khi đã hoàn thành giấy chủ quyền, tôi mở cửa đi một vòng. Thì ra chỗ này trước đây là kho lưu trữ các hồ sơ, giấy tờ của thành phố. Bây giờ dân số ít đi, nhu cầu lưu trữ cũng giảm nên công ty chủ di chuyển đi chỗ khác. Bên trong 5 tầng lầu mỗi tầng hơn 10 ngàn sqf, còn nguyên các kệ sắt (shelves) để xếp hồ sơ. Với hàng ngàn các kệ này thôi nếu phải mua mới cũng tốn cả trăm ngàn.

Một bữa ông Mark là nghị viên thành phố ghé tiệm ăn. Tôi rề đến than thở về tiền thuế nhà đất của cái building này. Tôi mua có bằng đó, định sẽ di dời cái nhà hàng này về chỗ mới, mà sao thành phố tính thuế nhiều vậy. Ông nói:

- Ừ, sao kỳ! Đúng ra thành phố phải giúp chú em chứ. Rồi ông chỉ tôi sang City Hall gặp bà Nancy là nhân viên của ông. Bà ấy sẽ giúp tôi điền đơn, rồi ông ấy sẽ đem ra hội đồng thành phố trong phiên họp tới để giám định, xem xét lại.

Vài tháng sau ông Mark lại đến ăn và cho hay:

- Rồi, bây giờ đã giảm xuống, gia trị cái building (asset value) đó chỉ còn có 250 ngàn thôi.

- Nhưng mà tôi mua nó có 45 ngàn! (Cười cười).

- Hết cỡ rồi chú em. Như vậy mỗi năm chú đóng khoảng 6 ngàn tiền thuế, có 1/3 so với trước đây.

Tôi kêu kiến trúc sư đo đạc, tính toán để dời nhà hàng về đây. Nhưng sau khi architect vẽ bản blue print thì bên xây dựng đòi cả nửa triệu để biến nó thành nhà hàng. Thấy tốn kém nhiều quá nên tôi lại đi tìm và mua được ở số 3396 đường Bailey một cái building khác nhỏ thôi, lại không có parking, nhưng vì nó là cái nhà hàng cũ nên tiền tân trang sẽ tốn phí ít hơn rất nhiều. Chỗ này theo tôi nghĩ có tiềm năng vì gần cả hai trường đại học North va South Buffalo.

Khi lên xin phép xây dựng tôi đã được sự quan tâm đặc biệt của hội đồng thành phố Buffalo, giám đốc Cơ quan xây dựng (Contruction Dept), giám đốc Sở cứu hỏa (Fire Dept)... Những người này vừa là khách hàng quen biết trong nhà hàng gần City Hall, vừa (có lẽ) cảm thương cho số phận long đong, lận đận của tôi nên chỉ thị cho các nhân viên dưới quyền giúp đỡ tận tình để việc tân trang được dễ dàng và mau chóng.

Đầu tháng 3 năm 2003 tôi khai trương nhà hàng này, trong khi cái nhà hàng trên phố vẫn còn hoạt động đến cuối năm 2003 mới phải giao lại cho chính quyền liên bang.

Khi cả hai nhà hàng hoạt động thì lại vất vả hơn. Phải kiếm thêm người làm, mình thì chạy tới chạy lui hai chỗ. Tiền bán được nhiều hơn chút đỉnh nhưng chi phí cũng nhiều gấp bội nên tính ra tiền lời lại ít đi.

Có điều an ủi là mấy thầy giáo trẻ và các em sinh viên người Á châu đến thăm tiệm ăn, thấy tôi thì chào hỏi chúc mừng: "Congratulation. You made it, man. We will be here everyday". Mà họ kéo đến ăn gần như mỗi ngày thật.

Chuyện căn nhà  làm  cửa tiệm của tôi bị đòi trưng mua với giá rẻ đơn từ qua lại hoài không xong.

Khoảng tháng 9 năm 2002, BUFFALO SPREE là một nguyệt san khá nổi tiếng, bìa rất nhiều màu và bên trong được in trên giấy láng, phát hành khắp nước Mỹ, có đăng một phần chuyện gia đình tôi.

Có thể câu chuyện của tờ báo ảnh hưởng phần nào đến những người quyết định về giá trị tài sản mà họ sắp trưng mua.

Cuối tháng 10 năm 2003 họ đồng ý trả tôi 250 ngàn. Nếu muốn thêm thì phải đi xuống Albany hầu tòa để được phân xử. Tòa án cách 4 tiếng lái xe. Ông luật sư đề nghị tôi nhận số tiền ấy.

Từ ngày đóng cửa tiệm trên phố, khách trên đó yêu cầu chúng tôi giao (delivery) đồ ăn cho họ, nhưng vì khách dưới này càng ngày càng đông. Một phần mình không giao thì họ cũng vẫn xuống ăn, thay vì trước đây 1 tuần 2 lần còn bây giờ 2 tuần một lần. Thầy cô giáo, các sinh viên, y sĩ ở các bịnh viện, luật sư ở khắp nơi trong thành phố.. đến ăn rất đều. Họ phải đậu xe ở hai bên đường rồi lội bộ đến, có khi đi xa đến ba block đường. Mùa thi tốt nghiệp không chỉ các em sinh viên mà gia đình từ các nơi đến tham dự, tất cả cùng đến thăm quán của chúng tôi.

Phía sau nhà hàng có căn nhà rách nát treo bảng bán. Tôi hỏi mua rồi sửa sơ sơ lại, xong dọn về đó ở. Vợ chồng tôi đi về chỗ làm cho gần gũi, còn các cháu sắp sửa vào đại học đến trường cũng thuận tiện. Tiện nhất là sau mỗi buổi trưa đi bộ về nhà ngơi một giấc trước khi tiếp tục công việc bận rộn vào bữa ăn tối. Điều không tiện là mùa Đông phải chạy máy thổi tuyết từ nhà ra tiệm chừng 50 mét. Một tháng đôi lần lái xe qua Toronto một buổi, ăn uống và mua sắm rồi gần tối chạy về.

Ở Buffalo có thác Niagara Falls là thắng cảnh nổi tiếng, nhưng chỉ vào mùa Hè thôi, mùa Đông vừa lạnh vừa nhiều tuyết đâu có du khách tới nên buồn lắm.

Rồi một hôm có ông khách đến tìm, hỏi mua căn building lớn gần trên phố, cái mà tôi mua được từ auction mấy năm trước. Tôi hỏi:

- Sao bạn biết tôi ở đây?

- Tôi là broker địa ốc kiêm về nhà kho chứa (storage). Tôi phải biết tìm người chủ ở đâu. Hơn nữa nhà hàng 99 FAST FOOD rất nổi tiếng. Muốn tìm là có người chỉ ngay.

Trở lại việc cái building trên phố, tôi trả lời chưa muốn bán. Ông ấy dặn khi nào muốn bán thì gọi cho ông.

Thời gian ngắn sau lại có người gọi hỏi mua. Tôi hẹn cả hai ông dẫn đi coi bên trong rồi về ăn trưa tại nhà hàng và cho biết: Nếu ông nào trả giá cao thì tôi bán. Kết quả:

- Ông gọi sau offer 450 ngàn tiền mặt.

- Ông gọi trước offer 485 ngàn nhưng chỉ có 100 ngàn down payment, phần còn lại sẽ chia làm 10 năm với lãi suất 9.5%. Nhưng phải trả off trong 3 năm. Tôi chọn ông này rồi giao cho ông luật sư Ron Zackem làm thủ tục mua bán và giao kèo nợ nần.

Tháng 10 năm 2006 Buffalo bị một con bão tuyết sớm, gây lụt lội, cúp điện và nhiều thảm họa khác cho vùng này. Xin đọc bài Bão Tuyết ở Buffalo tôi đã tường trình vào năm ấy.

Giáng Sinh năm 2007 chúng tôi đóng cửa tiệm nghỉ Đông và xuôi Nam một chuyến. Cả gia đình đi NY, Washington DC rồi ghé Atlanta và Orlando. Mùa này ở Buffalo thì tuyết rơi lạnh lẽo, đi lại bất tiện khó khăn, vậy mà ở Orlando trời đẹp vì nắng ấm, cây cỏ tốt tươi. Ở khách sạn các cháu xuống hồ bơi tắm cả tiếng không thấy lạnh lẽo gì.

Nhà tôi mắc bịnh suyễn, ở xứ lạnh lâu nay cứ bị tức ngực khó thở hoài. Thế là chúng tôi tìm đường về sống tại Orlando.

Hồ Nguyễn

Friday, November 16, 2018

Khởi Nghiệp Trên Đất Mỹ





Gia đình tôi trải qua 10 tháng trong các trại ty nạn, ở đâu cũng ráng mở một quán buôn bán mấy đồ lặt vặt và nước ngọt, không làm giàu nhưng lúc nào cũng có "đồng ra, đồng vào". Thỉnh thoảng anh chị em hoặc bạn bè vẫn gửi cho chút đỉnh nữa, nên khi xách va li lên máy bay đi định cư trong túi cũng có được đúng 50 đô la.

Chúng tôi đến Mỹ vào ngày 12/09/1981. Ra đón tại phi trường Seattle có cô em gái và người bảo trợ của em, bà Margie. Tôi sẽ kể về tấm lòng thật tử tế của ông bà bảo trợ khi có dịp.

Vào mùa Thu ánh nắng vàng nhạt của buổi chiều se lạnh khác hẳn với độ nóng hừng hực của các nước vùng Đông nam Châu Á, đặc biệt nước Philippines nơi chúng tôi vừa rời khỏi, sau khi đã được phái đoàn Mỹ chấp thuận (approved) ở Thailand và đưa qua trại chuyển tiếp bên đó để học thêm tiếng Anh và văn hóa mới của Hoa Kỳ.

Hôm bà bảo trợ dẫn chúng tôi đi làm thẻ vàng ở chỗ tìm việc làm, vừa điền đơn xin việc thì bác cán sự (nhà thơ TTH) hỏi tôi:

- Cậu thích làm gì?

- Cháu cũng không biết, nhưng nếu được thì xin bác tìm cho cháu chỗ nào đứng tính tiền bán hàng (cashier).

- Bán hàng? Người đứng bán hàng thì phải miệng bằng tay, tay bằng miệng chứ... tướng tá cậu như vậy thì làm sao mà bán hàng được!

Chúng tôi ra về mà lòng ngao ngán.

Rồi sáng sáng vẫn đi bộ ra đầu đường đón xe bus lên downtown học tiếng Anh, mỗi ngày vài giờ do cô giáo trong khu nhà thờ Tin Lành dậy miễn phí. Trường này do những nhà hảo tâm tổ chức, họ rất có lòng nhưng không chuyên nghiệp nên việc học tiếng Anh tiến bộ rất chậm chạp.

Sau giờ học thì về nhà học bài. Nhiệm vụ của chúng tôi khi ở nhà ông bà bảo trợ ngoài việc dọn dẹp nhà của, làm vệ sinh khu mình ăn ở, thì cứ cách một ngày phải nấu một bữa ăn tối cho cả nhà. Hồi ấy đâu có biết người Mỹ họ thích ăn cái gì? Tìm thông tin cũng đâu đã có gu-gồ gu-giếc dễ dàng như bây giờ!

Tôi ra tiệm Saigon Book Store mua cuốn sách dạy nấu ăn của bà Quốc Việt rồi dò dẫm theo đó mà làm. Chắc chắn đồ ăn không được ngon vì nhiều lý do: Đồ cung cấp chưa đúng, nêm nếm chưa chính xác, tay nghề chả ra cái gì, nhưng gia đình họ cũng cố gắng ăn, và hầu như bữa nào cũng khen. Mình chỉ biết họ không vừa miệng khi đồ ăn thừa còn lại nhiều. Điều an ủi là ông bà vẫn khuyến khích và hướng dẫn chỉ bảo tận tình, nhất là chỉ cho những chợ mua được thịt, cá, rau tươi...

Cuối tháng 10 thì bà Magie cho hay đã kiếm được căn nhà trên phố có 2 phòng ngủ giá 300 đô một tháng và hẹn chủ chung cư ngày giờ viếng thăm. Thấy căn chung cư sạch sẽ lại tiện đường đi lối về, đi đó đi đây, nhất là gần trường học Central Community College nơi chúng tôi đã ghi danh nên tôi gật đầu.

Tiền trợ cấp xã hội chúng tôi được mỗi tháng 452.00 cộng với 157.00 phiếu thực phẩm. Kể ra nếu tiết kiệm thì cùng tạm đủ vì bịnh hoạn thì đã có chính phủ lo cho, phiếu thực phẩm đã trả tiền đồ ăn.

Tôi ghi danh và thi đậu vào học chương trình CETA nên mỗi tuần nhận thêm được 50.00 trợ cấp. Nhà ở cách trường học nếu đi bộ theo đường tắt thì chừng 1.5 mile, nên để tiết kiệm chúng tôi thường đi bộ. Chỉ cuối tuần khi phải đi mua sắm đồ ăn thức uống, tã lót cho con mới lội xuống phố rồi leo xe bus đến chợ.

Seattle ngày ấy ngó bộ cũng nghèo nàn. Ngay downtown mà còn nhiều căn phố bị bỏ trống, trên đường 12th có căn để lâu quá không được dùng nên đã bị mục nát.. Đi qua đi lại nhiều lần tôi nhìn, ngắm nghía những căn phố ấy rồi ước ao: Mình mà có cái building này thì sẽ...thì sẽ làm việc nọ, việc kia ... và nghĩ sẽ kiếm được khối tiền.

Tiền đâu chưa thấy mà mẹ cháu lại sắp sanh em bé nữa, bụng càng ngày càng to và đi đứng càng ngày càng nặng nhọc nên nàng đành thôi học. Phần tôi có chỗ kia dán giấy ngoài cửa sổ kiếm người làm, lương 3.00/giờ trả bằng tiền mặt. Tôi gọi hỏi người bảo trợ thì họ khuyên không nên, hãy cố mà học để có lấy cái nghề rồi hãy kiếm việc làm thì tốt hơn.

Nhà tôi sinh cháu An vào đầu tháng sáu. Tôi cũng hoàn tất chương trình tiếng Anh và thi đậu vào ngành tiện. Cũng định rằng học xong chương trình 2 năm (6 quaters) rồi kiếm việc làm, có đồng ra đồng vào ổn định được đời sống rồi mới tính toán tiếp.

Ở Seattle năm đó các hoạt động thương mại của người Á Châu nói chung và người Việt Nam còn thưa thớt, lèo tèo lắm. Ngã tư đường 12 và đường Jackson do anh em ông Tâm, Đức, Trí hùng cứ. Mà cũng chỉ có ngôi chợ Saigon, một tiệm sách và trên lầu đặt 4 bàn bi-da cho bà con giải trí. Ngôi chợ rộng chừng hơn ngàn ft vuông, sau này là tiệm bánh mì Saigon.

Buổi chiều những ngày rảnh rỗi sau khi học hành làm bài home work xong. Mấy anh em tôi hay đi bộ ra đây thụt bi da. Quan sát các sinh hoạt trong khu vực và sự bận rộn của anh em ông Tâm tôi ngưỡng mộ lắm. Họ cũng chỉ sang định cư nơi đây trước tôi mấy năm thôi. Thế mà anh em biết chung tay hợp tác, mỗi người mỗi việc, tạo lập được một chỗ đứng ngay khu đắc địa này, bây giờ lại mới mở thêm tiệm ăn tên Cook Book trên khu trung tâm phố, nghe nói rất đông khách.

Biết nhu cầu của mình, hoàn cảnh của gia đình nên tôi cố gắng hoàn tất việc học càng nhanh càng tốt. Học tiện thì sau khi học phần lý thuyết trong lớp xong phải xuống thực hành ở phòng lab, làm các project mà các chương trình học đã đề ra, các project này được hoàn thành và chấm điểm. Khi passed thì qua cái kế tiếp, ai chưa pass thì phải làm lại đến bao giờ pass thì thôi.

Về thời gian tôi mới học xong 3 khoá nhưng đã hoàn tất phần lý thuyết và thực hành xong chương trình khóa 4. Hy vọng xong sớm sẽ có thời gian học thêm về điện toán để áp dụng cho chương trình máy CNC thì khi đi làm đồng lương sẽ cao hơn.

Tháng 2 năm 1983 thì chương trình trợ cấp của chính phủ cho gia đình tôi chấm dứt.  Tiền đâu mà đi học tiếp? Đành "túng thì phải tính" thôi!

Ngó qua ngó lại vốn liếng chẳng bao nhiêu nên tôi tính mở bàn bi da và quán cà phê xem sao.

Đi chợ Safe Way trên đường Empire (bây giờ là đường M-L-King) thấy có chỗ cho mướn. Tôi gọi hỏi thì người đại diện (real estate agent) đòi bản báo cáo tín dụng (credit report). Tôi đưa hết thông tin cá nhân cho họ, vài ngày sau họ gọi bảo tôi không có tín dụng nên không cho mướn. Nếu muốn mướn thì cần người có tín dụng cao bảo lãnh. Tôi trình bày việc này với ông bà bảo trợ, họ đồng ý ký giấy bảo lãnh...

Lúc ấy nhờ có tiền trợ cấp học CETA và tiết kiệm (phải nói là hà tiện) gần một năm rưỡi vừa qua, tôi để dành được gần 2 ngàn. Một người bạn ở Portland đồng ý bỏ vốn 3 ngàn để làm người chung vốn ngầm (silent partner), cũng chưa đủ đâu vào đâu! Tôi ngồi biên thư cho bạn bè khắp nơi, đặc biệt những người từng đi trên những chuyến tàu do tôi tổ chức. Thú thực tôi cũng không dám hy vọng nhiều, vì hoàn cảnh của những người này cũng giống tôi, qua đây chưa được bao lâu, vẫn còn đi học thì đâu có vốn liếng gì nhiều. Vậy mà nhờ Trời và lòng thương mến của các bạn mà tôi có thêm được hơn 5 ngàn nữa. Rất nhiều người kẻ một hai trăm, người nhiều nhất là 700... Một số trong các bạn ấy cho đến hôm nay tôi vẫn chưa trả lại được, vì sau này khi kiếm được tiền thì thất lạc địa chỉ không còn gặp lại họ nữa. Dù đã có cơ hội hoàn lại những số tiền này hoặc chưa, tôi luôn biết ơn và trân trọng những ân tình mà các bạn đã dành cho trong những ngày khó khăn ấy. Thí dụ Nguyễn Phát Vinh cùng với Sáu Hậu là thợ máy nhập trại SongKhla tháng 10/ 80, hồi mới đến Mỹ định cư ở Atlanta, Georgia. Xin nhắn Vinh có đọc được bài viết này thì làm ơn liên lạc với tôi.

Tiền mướn chỗ để mở bàn bi da là 1,000/tháng mà ngay lúc ký hợp đồng mình phải trả tháng đầu, tháng cuối. Tôi đi Portland đặt 4 cái bàn bida hết 6 ngàn. Người bạn học chung lớp giúp làm bảng hiệu lấy tên là Bi Da Thái Bình Dương, chữ được sơn trên tấm bảng nhỏ bằng mi ca màu trắng đục treo trước cửa. Tiệm không cần phải sửa chữa nhiều nên chỉ sau 10 ngày ký hợp đồng thuê chỗ là chúng tôi mở cửa.

Tôi cũng không hiểu tại sao mà hồi ấy chính quyền thành phố Seattle cấp giấy phép cho tôi được mở cửa làm ăn. Vì thiếu thốn mọi phương tiện để làm việc như: phần bếp làm cà phê đâu có hood hay sink để rửa chén. Chúng tôi dùng nồi nấu cơm để nấu nước nóng. Dùng nhiều cái sô i-nốc vào bathroom lấy nước ra để rửa máy xay sinh tố, ly, phin cà phê.... Xong thì lén lúc vắng khách lại xách vào bathroom đổ.

Phòng cà phê có sẵn, cũng đặt được 6 cái bàn mỗi bàn 4 ghế. Tiền giờ chúng tôi thu 2.40/g cho mỗi bàn. Nếu có khách đầy đủ cho 4 bàn, cộng với tiền bán cà phê, sinh tố, bánh mì, thuốc lá...nữa, mỗi ngày kiếm được vài trăm thì sống được.

Ấy là dự tính như vậy, nhưng thực tế xảy ra đâu có giống! Buổi trưa thường vắng khách vì họ bận đi làm, chiều tối và cuối tuần mới đông khách nên vợ chồng thường phải thức khuya. Bảng đề 10 giờ đóng cửa nhưng khách hàng là những người bạn trẻ đâu chịu ra về, mà mình cũng trẻ nữa nên cùng thức với khách, chơi với khách... Cuối tuần thì thâu đêm suốt sáng.

Buổi sáng mỗi ngày vợ chồng tay xách, nách mang cùng với hai đứa con (8 tháng với 2 tuổi) xuống tiệm. Chồng lo dọn dẹp vệ sinh, hút bụi bàn... còn vợ thì kiểm soát hàng hoá rồi trèo xe bus đi mua đồ. Buổi chiều hai chị em cháu bé mỗi đứa nằm trong một cái hộc tủ, cũng là chỗ đứng tính tiền mua ở Good Will, mẹ các cháu đã làm ổ sẵn để các cháu nằm vào vừa bú vừa ngủ trong khi ba má phải làm việc.

Cái khó khăn nhất là đối với khách hàng. Có một số em sang đây tuổi còn rất trẻ mà không có gia đình, bầu bạn từng nhóm sống chung với nhau, được chỉ vẽ bởi vài anh lớn hơn. Tiền kiếm được ít nhưng muốn thụ hưởng nhiều, thường đến bàn bi da chơi, ăn uống rồi "ký sổ". Mỗi em đứng nhận lãnh cái bill và ký sổ một lần, hết một lượt thì lập lại!

Thời gian đầu chúng tôi cũng ừ, à cho qua chuyện, nhưng càng ngày chuyện ấy càng tệ hại hơn, ngày nào cũng bị thiếu thì  đâu còn vốn mà làm ăn. Có lần nhà tôi liều mạng ra đứng chặn ngay đầu xe không cho dời đi trong lúc tôi gọi 911 cho cảnh sát đến. Ngặt nỗi đây chỉ là những chuyện vặt, nên dù cảnh sát có bắt các cậu vào tù thì cũng có người bảo lãnh ra, hoặc vài hôm cũng được thả, chớ nhà tù chỗ đâu mà chứa hết! Sau khi đuợc thả ra thì "vũ như cẩn" và rồi, ngày càng trầm trọng hơn, nhiều màn đập phá, hăm dọa và cả nổ súng nữa.

 
Chỗ vui chơi thì có đông người, mà đông người trẻ tuổi nữa thì thường hay có chuyện nọ chuyện kia cãi vã rồi đánh...lộn (hay trúng). Hầu hết là cùng người Việt với nhau, nhưng thỉnh thoảng cũng có đụng độ giữa nhóm trẻ Việt với những nhóm khác.

Một bữa không biết các cậu gây nhau ở đâu và hồi nào, khoảng 8-9 giờ tối thì một đám Samoan toàn những tên to béo kéo đến tiệm, chúng la hét rồi đập phá lung tung. Khi cảnh sát đến nơi thì chúng đã chạy biến đâu hết. Cảnh sát chụp hình làm báo cáo rồi kêu chúng tôi dọn dẹp những đổ vỡ.

Hôm sau nhóm cảnh sát điều tra đến và cầm theo một cuốn album có rất nhiều hình, kêu chúng tôi điểm mặt xem có tên nào phá hoại hôm qua ở đây không. Chỉ mấy phút sau chúng tôi điểm mặt là cánh sát bỏ đi, vài giờ sau họ đã còng tay những tên phá hoại mang lại tiệm và chúng ký tên nhận tội. Dù sau đó chúng vào tù và cảnh sát hứa hẹn rằng: Sẽ truy tố và bắt buộc chúng phải bồi thường những tổn thất, thiệt hại của tiệm, nhưng chả bao giờ thấy.

Rồi thời gian trôi đi. Tuy không khá giả nhưng chúng tôi cũng kiếm sống được qua ngày.

Chú em tôi cùng với nhóm bạn đang làm việc ở Dallas Texas, cho một cơ sở gọi là Animal Plant. Công việc bắt đầu bằng cách hàn các khuôn giây sắt lại thành hình thù các con vật như: Nai, voi, chó, mèo, gà, vịt... Sau đó dùng moss là một loại rong đã phơi khô, cuốn vào các khuôn đó bằng giây cước, khi hoàn thành thì trồng cây ivy vào rồi tưới nước cho chúng. Ngày qua ngày những cây Ivy đâm rễ phát triển thành giây leo chung quanh hình thù các con vật mà mình dự tính làm. Hồi ấy ở Dallas công việc làm ăn này rất thịnh hành.

Tiệm của chúng tôi còn dư một phòng, các chú ấy muốn đem công việc làm ăn này về phát triển tại Seattle. Việc đầu tiên là tìm nguồn vật liệu: rong (moss) và cây Ivy. Hồi ấy các thông tin về thương mại thường tìm trên cuốn phone book màu vàng, nhưng chỉ ở địa phương thôi. Các thông tin khác phải đến thư viện thành phố mò mẫm, tìm tòi... Khi biết chỗ sản xuất rồi đâu có số điện thoại, lại phải gọi số tổng đài chuyên về thông tin: 1+ số vùng+ 555-1212 mới tìm được số phôn mà mình muốn. Kể là kỳ công nhưng rồi cũng tìm mua được mọi thứ: Moss mua từ Wisconsion, cây Ivy từ San Francisco...Nhưng họ không bán lẻ, mỗi lần đặt hàng phải từ 3-5 pallets...

Các chú ấy lo khâu sản xuất còn tôi chở đi chào hàng ở các tiệm hoa (Flower Shop). Đây là một loại hàng mới trông đẹp đẽ dễ thương nhưng sợ không bán được nên rất nhiều tiệm ngại ngùng không dám đặt mua. Họ chỉ nhận bằng cách ký gửi và thanh toán sau khi đã bán được (consignment). Chúng tôi có gắng duy trì công việc này được 1 năm thi ngừng hẳn, vì không đủ sở hụi và lợi tức để kéo dài.

Căn nhà chúng tôi mướn là một phần của một tòa nhà lớn, lúc ấy được bán lại cho người chủ mới, phần còn lại của tòa nhà được người này dùng làm nhà thờ cho một họ đạo Tin Lành. Từ chiều thứ Sáu đến hết ngày Chúa Nhật khi chúng tôi đông khách thì bên họ cũng có các sinh hoạt về tôn giáo rất bận rộn. Ngoài việc đụng chạm về thiếu chỗ đậu xe, tiếng ồn ào của nơi vui chơi giải trí rất không phù hợp với các hoạt động tôn giáo đòi hỏi sự nghiêm trang lặng lẽ... Cả hai, đặc biệt phía chủ nhà muốn chúng tôi dời đi.

Buồn ngủ thì gặp chiếu manh! Khu phố trước mặt Safe Way gần đó gồm 7-8 căn, mà căn lớn nhất treo bảng cho mướn với giá $520.00/tháng, tính ra chỉ có phần nửa giá mướn của chỗ cũ, mà căn mới này lại thông thoáng, vuông vắn và rộng rãi hơn. Thật là tiện lợi nếu di chuyển về chỗ mới, nhưng sẽ tốn phí rất nhiều trong khi gần 2 năm qua chúng tôi đâu có để dành được bao nhiêu. Tôi ngỏ ý mời người bạn từ xa về cộng tác làm ăn. Anh chị đồng ý và công việc di dời được bắt đầu.

Cũng sơn phết, lót nền mới... Bây giờ thì cái bếp mới toanh có giấy phép đàng hoàng, nơi nấu nướng đúng tiêu chuẩn, phòng ăn để bán phở, lại có thêm một kệ sách lớn mấy ngàn cuốn cho mướn, tủ kiếng bán băng nhạc và cho thuê phim... Nguồn thu chính vẫn là 7 bàn bida và phục vụ giải khát. Ít lâu sau phòng ăn để bán phở coi bộ không phù hợp nên chúng tôi loại bỏ và đặt thêm 2 bàn bi da vào chỗ đó để có 9 bàn. Bây giờ giá mướn bàn đã lên được 3.00/giờ. Rất đông khách. Nhìn vào căn tiệm có vẻ bề thế, chuyên nghiệp chứ không lôi thôi như tiệm cũ hồi mới bắt đầu. Ngày ngày hai cặp vợ chồng (trẻ) chia nhau ra chăm sóc tiệm, có giờ rảnh rỗi tôi còn luyện thêm cách cầm cơ để lâu lâu so tài cao thấp với khách hàng. Những chiều cuối tuần có mấy người khách cũng là bạn bè thường hay họp lại đánh cờ tướng, domino ... Ngó bộ cũng an vui.

Việc mấy chú em quậy phá vẫn còn đó, mỗi ngày mỗi tệ hại hơn. Có lần nguyên băng kéo đến cứ 2 người lấy một bàn trải dài ra hết 9 bàn, làm cho những khách hàng bình thường đến muốn chơi nhưng không có bàn, đứng ngó một chút rồi phải bỏ đi. Khi xong xuôi họ quăng cơ và để nguyên bi trên bàn, cũng chẳng thèm nói một lời rồi kéo nhau đi. Chuyện cứ lặp đi lặp lại nhiều lần.

Có lần chúng cũng đến đông như vậy và vào cuộc chơi, lại đem theo mấy thùng bia vào công khai chia nhau uống. Tôi gọi nhóm detective chuyên về băng nhóm tội phạm, nhóm này đã đến chỗ chúng tôi nhiều lần, họ yêu cầu chúng tôi gọi ngay cho họ mỗi khi cần giúp đỡ. Chúng tôi ngại ngùng không gọi vì 2 lẽ:

- Mình không muốn họ nghĩ xấu về người Việt, đến quê hương mới có được mọi điều kiện thoải mái mà không lo học hành, làm ăn! Cứ lo tụ tập quậy phá. Xin nói thêm là không chỉ có tiệm chúng tôi mà một số cơ sở làm ăn khác cũng bị tình trạng bất ổn này.

- Chúng tôi ở ngoài ánh sáng còn họ trong bóng tối, tuổi trẻ hăng say nhưng liều lĩnh, hành động ngoài kiểm soát, e bất lợi cho chúng tôi nên cố nhẫn nhịn.

Nhưng hôm nay thì hiểm nguy quá! Say sưa rồi không biết chuyện gì sẽ xảy ra nên đành phải gọi báo cáo. Nhóm Cảnh sát cho biết: Họ sẽ đậu xe chờ bên ngoài. Nếu mọi chuyện yên ổn thì chúng tôi tự nhiên ra về, bằng không thì chớp đèn tiệm làm hiệu, họ sẽ can thiệp ngay.

Y như rằng. Chơi và kêu đồ ăn uống chán, một người lại kêu ghi sổ, chúng tôi không đồng ý họ vẫn bỏ đi. Chúng tôi vừa chớp đèn tiệm là xe cảnh sát quay đèn, vài phút sau thì mấy xe cảnh sát nữa kéo đến còng tay và bắt cả bọn trở vào tiệm chúng tôi.

Dù bị còng tay chúng vẫn lên tiếng đe dọa bằng tiếng Việt, rằng: Tụi tao sẽ trở lại và cho tụi bây biết. Thủ tục giấy tờ do cảnh sát điền và yêu cầu chúng tôi ký vào rồi họ giải nhóm người trẻ tuổi đó đi.

Chiều 12-12-1985 họ đến và lại đem theo bia vào trong lúc hai bà coi tiệm. Nhà tôi gọi hai người đàn ông ra thay ca. Tôi cương quyết không cho họ uống bia vì không có giấy phép bán bia. Chuyện bất hòa xảy ra, họ đập phá tủ, bàn bi da, dùng trái bi chọi vào cửa sổ kiếng 2 mặt tiền và hậu của tiệm.

Một tên ngó bộ đã qúa chén, tay cầm búa đóng đinh đến, tôi hãi quá chạy quanh bàn bi da còn hắn thì rượt đuổi, cũng may hắn say quá nên không rượt kịp. Chắc vì giận không đuổi kịp tôi nên hắn cầm búa đập xuống mặt bàn làm bằng xi măng lủng một lỗ bằng cái chén. Thấy nguy quá, bạn tôi lấy cây súng Shotgun ra bắn một viên chỉ thiên lên tường đuổi chúng ra. Xong chưa kịp khóa cửa thì hai tên say quay trở lại và nhảy vào dành giật cây súng với bạn tôi, trong lúc tôi đứng kêu 911 bằng phôn trong bếp vì phôn ngoài đã bị phá hỏng. Hai bên đang dành giật như vậy thì súng bị cướp cò và nổ trúng một tên cùng bọn.

Chuyện kể lại thì chậm rãi chứ lúc xảy ra rất dồn dập, nhanh chóng, người trong cuộc như chúng tôi rất hoang mang, hoảng loạn mà không phản ứng kịp. Khi cảnh sát kéo đến thì khung cảnh trông rất tiêu điều, khủng khiếp: Bàn ghế ngả đổ, các cửa sổ, cửa ra vào bằng thủy tinh, dàn tủ chứa băng nhạc đã vỡ tan tác, rơi vãi đầy nền nhà. Thằng bé bị trúng đạn nằm trên nền nhà được xe cứu thương chở đi. Nhóm detective đến sau, nhìn cảnh tượng trong tiệm rồi lắc đầu nói với tôi:

- Chúng tôi biết chuyện như thế này sẽ xảy ra, nếu không ở đây cũng sẽ xảy ra ở chỗ khác. Biết vậy mà không làm sao tránh được. Dù thế nào chúng tôi cũng chia sẻ sự đổ vỡ mất mát của các bạn.

Rồi hỏi tôi:

- Có thể giúp gì cho các bạn lúc này?

Tôi lo lắng cho nhà tôi và hai cháu đang ở khu chung cư ngoài mặt đường gần tiệm mà khách hàng ai cũng biết, có thể bị trả thù nên yêu cầu một xe cảnh sát đến nhà tôi ngay để đưa mẹ con cháu sang nhà bạn ở tạm.

Sau biến cố ấy, gia đình bạn tôi cũng dời khỏi Seattle. Tiệm phải đóng cửa mấy ngày để sửa sang lại những đổ vỡ vật chất. Nhưng sự mất mát của tình người thì không thể hàn gắn được. Hai cháu bé con tôi được bà bảo trợ đưa về nuôi trong những ngày chờ tiệm được sửa chữa lại.

Cảnh sát đến đặt một máy báo động đặc biệt trong tiệm và giao cho tôi cái remode bằng cỡ bao thuốc lá, dặn rằng: Hãy luôn luôn để trong túi, khi nào cần thì bấm nút, tất cả các xe cảnh sát trong vòng 2 dặm sẽ chạy đến ngay... Mà đồn cảnh sát nằm trên đường Othelo cách tiệm đâu có xa. Dù vậy tôi vẫn phải đề phòng, gắn hệ thống an ninh để phòng thân. Thiết kế một cái giường 2 tầng ngay trong nhà kho của tiệm. Vợ chồng con cái nằm ngủ ở đó, chuyện tắm rửa thì mỗi ngày phải thay nhau xuống nhà cô nó dùng đỡ. Ít lâu sau căn kế bên được bỏ trống. Tôi mướn luôn, đục tường làm cửa xuyên qua, xây phòng ngủ nhà tắm ở phía sau, phía trước thì mở thêm tiệm bán hàng hoá để gửi về Việt Nam.

Tôi ít đi ra ngoài, đặc biệt là những chỗ đông người, nơi vui chơi, giải trí của người Việt. Việc mua sắm đồ cung cấp về bán hàng ngày thì mẹ cháu nay đã có bằng lái xe, khi cần thì tự lái xe đi shop.

Thỉnh thoảng cũng có súng nổ và đạn xuyên qua cửa sổ mặt tiền ngoài đường lớn vào ban đêm lúc vắng người, nên chỉ bể kiếng chứ không có các tổn thất khác. Một hôm nhóm bạn tôi đang ngồi đánh cờ domino thì Toàn (một trong nhóm quậy phá) mở của sau chạy vào chộp ba trái bi chọi ra phiá trước rồi tiến tới chỗ đánh domino kiếm chuyện. Tôi vội bấm nút máy báo động, hắn chưa kịp bước ra thì nhiều xe cảnh sát hú còi bao vây cả hai phía của tiệm. Bốn năm ông tay súng lăm lăm bước vào bắt Toàn nằm xuống còng tay rồi dẫn đi.

Lần khác có người gọi vào số phôn của tiệm đòi tiền. Tôi hỏi:

- Bạn là ai?

- Không cần biết tao là ai. Mày không giao tiền thì hết đường làm ăn.

- Giao bao nhiêu?

- Năm trăm.

- Ở đâu?

- Sau chợ Safe Way. (Cách tiệm tôi chừng vài trăm mét).

- Tôi không ra ngoài. Muốn thì hẹn giờ rồi đến tiệm mà lấy. Xong cúp phôn.

Không thấy hắn gọi lại và cũng chẳng thấy đến gặp mặt bao giờ. Thỉnh thoảng cũng có người gọi phôn đến chửi bới tục tĩu, hoặc đe dọa này nọ... Nhà tôi cũng lo lắng lắm nhưng biết làm sao! Mình lỡ lập nghiệp bằng con đường này rồi, đành phải đeo đuổi.

Xin hẹn trong một kỳ tới, sẽ kể chuyện khởi nghiệp thứ hai: Làm Shop May Công Nghiệp.

Hồ Nguyễn

Blog Archive