Showing posts with label Châu Hà. Show all posts
Showing posts with label Châu Hà. Show all posts

Tuesday, February 16, 2021

Tết Của Trái Chín

Châu Hà

***
Để tưởng nhớ Cụ Bà Liên Ngẫu, xin Thành Kính Phân Ưu cùng các con và các cháu của Cụ.

Quý mến mời các con cháu của Cụ cùng độc giả đọc bài viết nhớ về kỷ niệm đẹp một thời may mắn được chăm sóc Cụ.

***
“Chăm người già mỗi ngày một ngại, chăm trẻ dại mỗi ngày một vui.”

Đó là lời chào của vị khách hàng tôi đến chăm sóc trong ngày đầu tiên gặp mặt. Bà đẹp thanh lịch, đằm thắm hiền hòa. Ngay sau khi chào tôi, bà nhỏ nhẹ nắm tay tôi và nói:

“Này đừng gọi chị là bác nhé. Chị chị em em nghe thân mật gần gũi nhau hơn…”

Tôi vâng dạ nhưng cứ giữ gọi bác xưng con vì con gái lớn của bà là bạn của cô bạn tôi. Tôi khen:

“Bác đẹp quá, nét đẹp hiền dịu.”

Bà cười hiền:

Đẹp như cái tép kho tương, kho đi kho lại nó trương phình phình…”

Bà cụ xem ra thích văn chương, mỗi lời nói đều có vần điệu. Sau một thời gian chăm sóc bà, tôi nghiệm ra rằng bà cụ dường như có một kho tục ngữ ca dao trong đầu. Bà nhớ nhiều câu ngày xưa hay lắm. Từ đó ngoài chiếc điện thoại tôi bỏ trong chiếc túi áo đem theo bên mình để gọi khẩn cấp, tôi lại kèm thêm cây bút và quyển sổ nhỏ để ghi chép những câu hay do bà cụ đọc.

Ông bà cụ trước đó ở cùng con gái út, con rể Mỹ và hai cháu ngoại. Họ rất có hiếu và tin tưởng rằng nghề nghiệp y tá của họ sẽ giúp chăm sóc bố mẹ tốt hơn. Con rể luôn giúp chở bố mẹ vợ đi khám bệnh. Khi ông cụ mất, bà cụ gần như “không biết buồn”. Khách gần, xa đến thăm viếng, hỏi thăm ông mất ra sao thì bà trả lời: “Để tôi mở cuốn sổ ghi chép ra xem lại.”

Tôi được biết bà cụ bị bệnh Alzheimer, một căn bệnh sa sút trí tuệ ở người lớn tuổi. Người bệnh bắt đầu với triệu chứng rối loạn trí nhớ, thoạt đầu thoáng qua, sau càng lúc càng tệ hại. Có lần, tôi thấy bà ngắm nghía chai nước rửa chén màu cam dán nhãn hiệu một quả cam nguyên vẹn kế bên nửa quả mọng ngọt trông rất bắt mắt. Bà lẩm bẩm:

“Rõ lạ! Chai nước cam ngon vậy mà lại để nơi cái bồn rửa bát.”

Rồi bà cụ cầm lấy cái chai nước rửa chén đi đến mở cửa tủ lạnh để cất. Do được huấn luyện cách chăm sóc người bị bệnh Alzheimer nên tôi không nói năng gì. Chờ lúc bà cụ khuất tầm mắt, tôi lẳng lặng lấy “chai nước cam” ra khỏi tủ lạnh và để lại vị trí cũ.Tôi giúp bà cụ gần như 8 tiếng một ngày. Các con, cháu bà sáng ra đi làm, đi học, ai cũng bận rộn. Tôi theo bà cụ từng bước trong căn nhà rộng nhiều phòng. Chỉ có mình bà và tôi đi lại trong căn nhà đẹp, trang trí nhiều tranh ảnh của gia đình và những bức tranh của các họa sĩ nổi tiếng. Hai bác cháu đi tới đi lui như một hình thức tập thể dục. Sau những lúc đi bộ lòng vòng trong ngôi nhà chúng tôi nghỉ chân nơi xô-pha, bà vui miệng kể chuyện ngày xưa. Mỗi ngày một câu chuyện.

“Ngày xưa ấy, chị cùng quê Thái Bình với ông nhà văn “Con sáo của em tôi” đấy.

“Vâng ạ.”

“Ông cụ thân sinh của chị có cử nhân Hán học nên cụ cứ thích dùng Hán Văn đặt tên cho các con. Chị gái của chị được cụ đặt tên là Phượng Chủy tức là cái mỏ của con chim phượng.”

Cái tên nghe lạ quá làm tôi thêm tò mò muốn hỏi tên thời con gái của bà. Bà cụ có lẽ đoán được điều tôi muốn hỏi, vẫn thủng thỉnh:

“Ôi dào giá mà đặt tên Thị Mâm, Thị Mẹt, Thị Bèo nghe có phải dễ nuôi dễ gọi hay không. Đằng này cụ lại đặt tên cho chị là Liên Ngẫu.”

Tôi nghe lạ thêm. Bà cụ giải thích:

“Liên Ngẫu tức là cái thai, cái nôi, cái nhụy của hoa sen đấy.”

Thấy tôi vẫn ngơ ngẩn, bà cười hiền hòa:

“Nói huỵch toẹt ra thì tên của chị nghĩa là cái ngó sen. Ngày xưa đi học chị bị chúng bạn cười nhiều vì cái tên “Ngẫu” của mình, chị mắc cỡ. Có đứa còn trêu gọi chị là “Liên Nẫu” tức cái hoa sen úa rữa, hỏi em có ức không chứ.”

“Vâng.”

“Nhưng không việc gì vì khi gia đình chị theo tàu há mồm di cư vào Nam năm 1954 thì ông cụ đổi tên khai sinh cho chị thành chữ Ngân cho dễ gọi. À mà em tên là gì ấy nhỉ?”

“Dạ tên con là Hà ạ.”

“Hay đấy. Tên hai chị em mình ghép lại là cả một giải Ngân Hà ấy chứ.”

Hai bác cháu tôi cùng cười vang. Bà cụ kể thêm:

“Ông cụ chị mỗi khi có dịp đi ra ngoài các bà các cô trong làng nhác thấy cụ phải trốn xa xa kẻo nhỡ cụ hỏng việc lại đổ vì ra ngõ gặp gái.”

Tôi nói đùa:

“Vậy là cụ có bao giờ thấy được các cô đẹp trong làng đâu ạ, tiếc quá.”

Bà chép miệng:

“Tục lệ ngày xưa mà, em ơi. Ông cụ chị có học vị cao nhất làng nên được nhiều người kính nể. Này nhé, Chánh Tổng là trông nom nhiều làng, Lý Trưởng nom một làng, còn đầu làng là ông Tiên Chỉ.“Một mình một cõi thảnh thơi ngồi là cái ông Tiên Chỉ.” Mà cái lệ của làng là ông Tiên Chỉ chỉ được ngồi một mình, ngồi cho có lệ chứ có làm gì đâu. Ông Tiên Chỉ thì lại hay kéo người này người kia lên ngồi chung cho vui.”

Có khi tôi đưa bà cụ ra ngoài đi bộ trong nắng ấm, tôi thấy bà ngẩng đầu nhìn khi nghe tiếng máy bay. Do bà cụ ngẩng khá lâu nên tôi sợ khi cúi xuống bà sẽ bị quay mòng, nên vội nhắc:

“Bác ơi, bác cẩn thận kẻo bị quay quay khi ngẩng nhìn lâu quá đấy.”

Bà nghe tôi nói chữ quay quay thì đứng yên, thẳng đầu, mắt nhìn xa vắng. Bất chợt bà cất tiếng hát chậm rãi, giọng êm như nhung và còn trong trẻo lắm:

Quay quay, thương nhớ quyến vào tơ
Quay quay, se áo rét dâng chàng
Rộn ràng tơ lướt tới người chiến sĩ yêu
Quay quay, thương nhớ quyến vào tơ
Quay quay, chăn ấm cuốn thân chàng
Mỗi một đường tơ là mối dây tình
Trong lòng em dâng người hiên ngang...

Thì ra bà cụ hát bài “Tiếng hát quay tơ” của nhạc sĩ Tử Phác, bài hát tôi cũng rất thích. Chắc cụ không thuộc hết bài nên chỉ hát đoạn cuối, hoặc cụ chỉ cảm hứng đoạn này khi tôi nhắc đến chữ quay quay chăng.

Nhà thơ nhìn sự vật, con người mà xuất khẩu thành thơ còn bà cụ mà tôi chăm sóc thì xổ “nho chùm” chứ chẳng chơi. Bà bắt vần bắt vò đọc thơ với những gì vừa trông thấy. Nhưng cũng nhờ những câu ca dao, tục ngữ này mà tôi học hỏi thêm và đoán được ý tứ của mỗi câu bà đọc. Đặc biệt là trong các bữa cơm dọn cho bà cụ có lẽ là lúc bà có hứng nhiều hơn bất cứ lúc nào khác. Tính bà cụ ưa gọn gàng, ngăn nắp nên thường nhắc:“Cái nào ra cái đó. Cái chén để uống nước, cái bát để ăn cơm…” Còn hễ ăn thì phải “cơm chín tới, cải ngồng non” mới đúng ý bà cụ. Nhìn thấy bát canh trong mâm cơm bà đọc luôn: “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn”. Nhìn chén cháo, bà phán: “Trời quả báo, ăn cháo gẫy răng.” Một hôm, bất chợt nghe bà cụ đọc: “Vợ dại không hại bằng đũa vênh”, tôi cảm giác cụ muốn ám chỉ điều gì đó. Nhìn ra tôi hiểu ý cụ nhắc khéo có một chiếc đũa vênh nên vội tìm đổi đôi đũa khác cho cụ.

Khi cùng bà ra vườn hái quả, bà đọc:

Cái cây nhà ta, cái quả nhà ta
Muốn ăn thì vác sào ra mà cời
Cái cây nhà người, cái quả nhà người
Đừng trông mỏi mắt, đừng cời mỏi tay.

Lại nhân thấy những con chim nhỏ lượn trên cành, bà lại đọc:

Con chim sáo sậu
Là cậu sáo đen
Sáo đen là em tu hú
Tu hú là chú bồ các
Bồ các là bác chim ri
Chim ri là dì sáo sậu

Từ lối nói bắt qué như thế, bà cụ nhắc nhớ xa xưa nơi quê bà ruộng lúa mênh mông nên có nhiều bồ chứa thóc. Thóc bán được thì một phần để mua thức ăn, một phần để cúng chùa. Xung quanh nhà bà có mấy cái ao nuôi cá. Bà kể chuyện mẹ bà thường mua cá con về nuôi lớn.

“Này, em có biết không, chị vẫn nói “đếm như đếm cá con” khi nhớ đến những người bán cá cho nhà chị ấy. Họ đếm nhanh và ăn gian vì vừa đếm vừa hỏi chuyện, chẳng hạn “hai mốt hai hai năm ngoái bà mua cá ai năm lăm năm sáu…” Vậy đấy, lướt qua một câu chuyện là họ đếm xong, điểm lại dễ thiếu đến khoảng hơn ba chục con chứ ít gì.”

Nhưng bà cụ lại thở dài:

“Ấy chẳng qua họ nghèo, cần tiền nuôi đàn con nheo nhóc. Ngày tết nhà chị mổ lợn đãi tất cả những gia nhân đầy tớ quanh năm giúp mình cấy lúa, chăm sóc vườn hoa cây cảnh, chim muông, chẳng thiếu con vật gì. À, vườn cảnh nhà chị có cả con khỉ nữa đấy.”

Tôi hình dung cả một bức tranh quê sống động khi lắng nghe bà cụ kể chuyện. Bà cụ có lòng thương người và thường bảo tôi bỏ CD hoặc DVD vào máy để bà nghe thuyết pháp. Bà cụ ăn chay trường nên tôi không mất nhiều thì giờ chuẩn bị bữa ăn, miễn sao đủ dinh dưỡng và hợp ý cụ. Bà thích dùng bột dinh dưỡng và hoa quả cho bữa sáng, bữa cơm chính thì cũng đơn giản với muối mè lạc rang, canh đậu hũ với hẹ, rất thích dĩa rau tươi cùng dưa leo chấm nước tương.

Vào dịp tết, tôi giúp bà cụ bày biện hoa quả. Bà dặn thế nào cũng phải có quả dưa hấu xanh to cho ra ngày tết. Trông thấy tôi đang sắp những trái hồng giòn vỏ đậm tươi rói, bà ngâm nga:

Mình nói dối ta mình chửa có chồng,
Để ta mang cốm mang hồng sang sêu.
Ta sang mình có chồng rồi,
Để cốm ta mốc, để hồng long tai.
Ngỡ là long một long hai,
Ai ngờ long cả trăm hai quả hồng.

Tôi đề nghị đẩy xe cho cụ xem cảnh chợ Tết nhưng cụ ngại chỗ đông người. Các con cụ kể ngay khi cụ trẻ cũng chẳng chịu du lịch đó đây dù người thân có kỳ nài cách mấy. Bày cúng tết, cụ nhắc tôi nấu xôi vò hoặc xôi lạc, xôi gấc và dặn tìm mua bánh chưng chay có nhân màu đỏ là trái chuối.

Sáng ngày đầu năm cụ chuẩn bị nhiều bao giấy đỏ lì xì, háo hức chờ các con cháu đến chúc tết. Hai con dâu người Mỹ của cụ mặc áo dài đến mừng tuổi, cụ vui ra mặt. Tôi vui lây, mong cụ tỉnh táo để vui hưởng bên con cháu càng lâu càng tốt. Nhưng tôi không tránh được nỗi lo lắng vì tôi là người chăm sóc cụ trực tiếp nên biết rõ cụ đã yếu nhiều.

Mỗi sáng khi tôi đến chăm sóc bà cụ, bà đều nói: “Cho chị ôm em một cái xem nào. Sáng sáng đến gieo niềm vui, chiều chiều lấy đi nỗi khổ.” Tôi chỉ là người giúp chăm sóc bà cụ nhưng nghe rất xúc động. Tuổi già yếu như trái chín có thể rụng bất cứ lúc nào. Xin nâng niu trái chín với trái tim rộng mở. Mong là không khí xuân với nắng rực rỡ, gió mơn man có thể giữ trái chín tươi lâu

Monday, April 13, 2020

Tâm Trí Lang Thang


Gần hai mươi năm trong nghề chăm sóc người già và người bệnh tật về tâm trí như trí nhớ của họ lang thang đâu đó, Tôi mới nghiệm ra rằng nghề của tôi rất cần sự bao dung và kiên nhẫn.

Không chỉ tuổi già thì đầu óc mới "có vấn đề", mà theo tôi hiểu ngày nay con số người trẻ hoặc trung niên bệnh về thần kinh cũng tăng cao. Bệnh tật không chừa một ai hay một quốc tịch nào cả.

Một hôm, tôi nhận một cú điện thoại từ một bà c , yêu cầu tôi giúp chăm sóc cháu nội của bà. Tôi nhận lời bà ghé đến nơi ở của cháu bà trước khi quyết định nhận lời hay không. Hôm đó tôi gặp chàng trai trẻ cỡ tuổi con trai tôi, trong căn apartment u ám, tối tăm, nhiều bụi như lâu ngày không ai dọn dẹp. Nhìn cháu cầm tờ danh sách những người chăm sóc với nhiều lằn gạch ngang trên một số tên, tôi thầm nghĩ đã có nhiều người từ
chối không nhận chăm sóc cháu. Bản thân tôi thực sự cũng ngần ngừ vì mùi hôi của mèo trong căn apartment của cháu.

Nhưng khi thấy bà nội của cháu khóc nấc vì hoàn cảnh già yếu không đủ sức lo cho cháu nội bị bệnh tâm thần, tôi cầm lòng không được, đồng ý nhận lời và cùng bà ký giấy tờ gửi đến cán sự xã hội. Bà run run nắm lấy tay tôi nói lời cám ơn, những giọt nước mắt lăn xuống đôi gò má nhăn nheo. 

Bà mời tôi cùng ăn trưa trong khu chợ gần nhà trước khi bắt tay làm việc vào ngày hôm sau. Bà cho tôi biết cháu là đứa con duy nhất của con trai bà và con dâu. Bố mẹ cháu đang sống ở vùng biển xa xôi và con dâu bà cũng đau bệnh. Nghe bà tâm sự, tôi tránh nhìn vào mắt bà vì tôi biết mình sẽ khóc theo. Tôi hiểu rằng một người mẹ, một người bà bất kể chủng tộc nào cũng đều khổ với nỗi đau của người thân.

Bắt đầu công việc chăm sóc, tôi xắn tay dọn các ngăn tủ trước vì mùi mèo cộng với mùi thuốc lá ám khắp phòng. Tôi phải dùng khăn bịt mũi và đeo găng tay. Trong một ngăn tủ tôi đã bần thần khi lôi ra một khung ảnh có hình của cháu những ngày còn nhỏ. Hình chụp cậu bé đẹp như thiên thần, mắt đẹp, da trắng, mũi cao, đang chơi trượt nước trên biển sóng mênh mông. Nhưng qua ngày hôm sau cháu không bằng lòng khi thấy tôi trưng khung hình trên bàn. Cậu úp khung hình đó xuống và yêu cầu tôi vất vào thùng rác. Tôi nhanh tay cất đi và chuyển cho bà nội cậu sau đó.

Tôi hút bụi và mở tung các cửa sổ cùng kéo màn nhựa che cửa cho ánh nắng vào khắp nhà. Chỉ sau một ngày thì căn nhà lại tối âm u như ban đầu. Thì ra cậu đã dùng băng keo dính chặt hết các màn nhựa lại nên tôi không thể kéo màn ra cho ánh nắng vào nhà được nữa. Tôi cũng tìm mua cho con mèo của cậu loại cát dùng để lót trong chuồng cho tiện việc vệ sinh. Nhờ đó mà tôi có dịp đi chợ thú cưng lần đầu tiên. Tôi thấy bất ngờ vì nơi này bán đủ loại thức ăn cùng đồ chơi, thuốc men, áo quần cho các thú cưng không thua gì các chợ phục vụ nhu cầu của con người.

Thấm thoát mà tôi đã giúp việc cho cậu được năm năm, thời gian đủ dài để hiểu cậu và giúp cậu sống tốt hơn. Cậu rất hiền, lịch sự nhưng ở dơ vì hầu như không chịu tắm nếu tôi không giục giã. Chưa bao giờ tôi nhìn rõ khuôn mặt của cậu vì cậu ta luôn mặc áo có mũ sau lưng trùm kín đầu, lại dùng khăn che mặt, chỉ để hở đôi mắt đẹp trong veo.

Cho đến một hôm, cậu phải chuyển qua chỗ thuê mới vì chủ nhà cũ biết được cậu ta hút thuốc gây đốm cháy nhiều chỗ trên thảm phòng khách. Mặc dù hàng ngày tôi tôi nhắc nhở cậu phải ra ngoài hút thuốc, nhưng cũng chỉ được vài giờ khi có mặt tôi, còn thì bà nội cậu có nhắc thêm cũng bằng thừa. Ngày hôm sau chuyển sang chỗ ở mới, cậu chưa kịp dùng băng keo dán chặt các màn nhựa nơi các cửa sổ, ngay cả màn cửa sổ phòng ngủ của cậu ta nên ánh sáng lùa vào phòng. Đó cũng là lần đầu tiên tôi thấy rõ khuôn mặt trắng bệch thiếu ánh nắng của cậu khi cậu ta đang nằm ngủ, trông sợ lắm.

Sau đó, tôi vào bếp lo cho cậu bữa ăn trưa, ghé mắt vào phòng ngủ gọi cậu thức dậy. Cậu nghe tiếng tôi liền gọi tôi vào để mát-xa chân cho cậu. Một phần do linh cảm điều bất trắc và một phần do đã được huấn luyện trong nghề nghiệp, tôi bắt đầu tự vệ. Tôi tìm con mèo của cậu cho vào chuồng, mở khóa cửa nhà, tay cầm sẵn cell phone để gọi cảnh sát khi khẩn cấp. Tôi bình tĩnh đứng ngoài cửa phòng ngủ và nói vọng vào " Trong hợp đồng chăm sóc không cho phép tôi mát-xa chân cho cậu, vả lại khi tôi dọn phòng ngủ thì cậu phải ở ngoài phòng khách. Cậu cãi ngay " Cô phải cọ chân cho tôi. Cô đọc lại hợp đồng đi." Tôi nghĩ đúng vậy nhưng tôi chỉ có nhiệm vụ cọ chân cho cậu ta từ đầu gối trở xuống. Việc này chỉ thực hiện trong nhà tắm khi cậu ta mặc đủ áo quần và ngồi trên ghế ngắn vì vùng bụng cậu ta quá to, không thể tự cúi xuống rửa chân được. Qua ngày hôm sau cậu ta nghĩ lại và xin lỗi tôi ngay và từ đó không hề tỏ ý xách nhiễu gì thêm .

Sau năm năm với biết bao buồn vui chăm lo cho "thằng bé hai mưoi tám tuổi" , rồi cũng một ngày cậu theo bà nội về ở cùng ba mẹ nơi miền biển xa xôi.

Nghỉ ngơi được vài hôm, tôi nhận điện thoại từ một cô khách hàng mời tôi đến cho cô phỏng vấn trước khi quyết định để tôi chăm sóc hay không. Sau khi chuyện trò với cô này, tôi được biết Sở Xã Hội xét hoàn cảnh và cho cô được nhận hai mươi giờ chăm sóc một tháng. Cô còn được cho danh sách những người chăm sóc và cô đã mời tôi để phỏng vấn. Nhìn qua thấy căn nhà cô ở khá gọn, cô lại nói năng nhỏ nhẹ lịch sự nên tôi nhận lời giúp cô một tuần hai ngày, mỗi ngày hai tiếng rưỡi.

Ngày đầu tiên trên đường lái xe đến giúp cô, lòng tôi thấy vui vui. Nhưng khi gõ cửa bấm chuông vào nhà, tôi thấy hụt hẫng vì căn nhà bề bộn, nhiều bọc chứa đồ chất đầy nhà choán cả lối đi, cộng thêm mùi khét trong bếp, và soong chảo đen thui chất đống không dọn rửa. Hoá ra là cô vừa chính thức dọn đến ngày hôm trước, còn hôm hẹn gặp để phỏng vấn tôi thì cô ta chưa vác các vật dụng về nơi này. Tôi ngán ngẩm cho căn nhà chỉ môt phòng chỉ một người ở mà không hiểu ở đâu ra quá nhiều các thứ linh tinh như vậy. Tôi không biết mình phải dọn dẹp sao đây? Cô muốn tôi mở bung các bọc đồ để tìm đôi giày đẹp. Chúng tôi cùng lục tung ngần ấy bọc mà vẫn chưa thấy bọc nào chứa đôi giày cô ưng ý .

Tôi trở về nhà ngày đầu tiên mệt nhoài. Đêm đến tôi ngủ lơ mơ thì giật mình nghe tiếng gọi điện thoại. Lúc ấy khá khuya, tôi nghe một giọng khàn khàn xưng là Ma, thì ra đó là cô gái tôi giúp vào buổi sáng. Tên của cô rất đẹp mang ý nghĩa "món quà của Thượng Đế" , nhưng cô muốn tôi gọi cô bằng tên tắt là Ma do chính cô yêu cầu tôi gọi. Tôi nghe điện thoại cô mà nghĩ mà thầm nghĩ tên tắt của cô theo tiếng Việt cũng có lý lắm, vì nhiều đêm hôm khuya khoắt "Ma" đã gọi chửi rủa tôi .

Tôi vội hỏi ngay:

"Chuyện gì vậy Ma ?" Sao cô gọi tôi khuya vậy ? "

Giọng nói Ma giận dữ từ bên kia điện thoại :

"Sáng nay cô ăn cắp cái bàn ủi của tôi."

Tôi ít nhiều hiểu tính nết những người bệnh tâm thần nên không lấy làm giận, chỉ khuyên cô hãy bình tĩnh, từ từ tìm vào hôm sau, còn thì ngay lúc đó nên đi ngủ. Nghe tôi khuyên nhiều lần, Ma dần dần dịu giọng, không còn bực bội cao giọng nữa.

Ngày hôm sau khi tôi đến chăm sóc Ma, tôi chỉ tay vào góc nhà cho Ma thấy cái bàn ủi còn lù lù ở đó. Cô ta cãi ngay : " Tui gọi phone la mắng cô ăn cắp cái bàn ủi hồi nào ?" . Tôi chỉ biết cười cho qua chuyện. Đêm hôm khác Ma lại gọi đến tôi la hét trong máy : " Cô ăn cắp của tôi cái bếp điện cá nhân nè." . Vì biết tính cách một người bệnh như Ma rất dễ bị kích động, hay tìm chuyện gây gỗ, la hét khi không được đáp ứng yêu cầu, nhất là thường nghi ngờ người khác nên tôi lại an ủi Ma để cô dịu từ từ và nhắc cô lên giường ngủ ngay. Ngày hôm sau sự việc lại tái diễn tương tự khi tôi chỉ cho cô cái bếp điện còn y nguyên và cô cũng dữ tợn y hệt : " Tui gọi cho cô hồi nào?".

Tôi chỉ biết nhắc mình nhẫn nhịn. Tôi luôn sẵn sàng đối phó với những tình huống bất ngờ. Một lần nọ Ma yêu cầu tôi ra thùng rác chung của khu nhà Ma ở, đem theo một cái ghế cao, để tôi đứng trên đó mà bới rác tìm lại thứ gì đó mà Ma nghĩ bị đánh cắp vất vào trong. Dĩ nhiên tôi không làm theo yêu cầu của Ma vì việc này không có trong danh sách những điều tôi phải giúp cô ta.

Một hôm , tôi đến chăm sóc cô theo theo lịch nhưng bấm chuông mãi vẫn không thấy cô mở cửa. Tôi thấy trong lòng bất an, sợ điều xấu xảy ra cho cô, nên liền vòng ra sau bếp thấy đèn còn sáng. Tôi hơi yên tâm nên vòng ra cửa trước bấm lại chuông và đợi. Bất thình lình cửa mở giật và giọng nói giận dữ của Ma vang lên : "Tui đang tiếp bạn trai mà."

"Tôi đến đúng giờ. Xin lỗi tôi không biết cô có khách."

Cứ như thế, tôi bị Ma la hét và dường như sự rối loạn trí nhớ cô càng tệ hại hơn. Có khi Ma nhờ tôi đưa đi chợ hoặc ra nhà băng rút vài chục đô-la qua cái máy và trong lúc ngồi trên xe cô thường tự hạ kính xuống để chửi rủa những người đi bộ thật vô cớ. May là họ không phản ứng gì, bằng không nguy cho cả cô lẫn tôi.

Một lần khác, tôi cũng bấm chuông đợi cửa thật lâu. Mãi sau Ma mở cửa nhưng lại dập đóng sầm ngay. Tôi đứng như trời trồng như thể ai vừa tát mặt mình. Tôi suy nghĩ chắc hẳn đây là lần cuối tôi đến giúp Ma. Khi tôi còn dùng dằng nửa ở ở đi thì Ma lại giật sầm cửa như lần trước, lần này là la lối chửi tôi làm phiền cô khi cô đang ta trong khi cô đang nghe nhạc nhảy đầm .

Khi tôi dợm quay bước đi thì cô ta lại mở cửa và lần này tránh người sang một bên, mời tôi vào nhà. Bước vào nhà cô tôi há hốc miệng trước cảnh tượng các bạn bè của cô nằm ngủ ngang dọc khắp nhà trong tiếng nhạc thật to và ồn. Hãi hùng hơn nữa là có hai bé gái sinh đôi thật đẹp, nhưng chỉ tiếc là mặt mũi hai bé bẩn thỉu và quần áo thì lem luốc . Hai bé đang giành nhau con dao cắt bánh sinh nhật. Vậy ra đêm hôm trước là sinh nhật của Ma. Tôi bèn vội chụp con dao mà hai bé đang giành nhau. Cặp trẻ sinh đôi là con của một cô bạn Ma. Người mẹ vẫn còn ngủ li bì giữa nhiều chai rượu, bia lăn lóc trên sàn nhà và lối đi.

Tôi bình tĩnh mời Ma ngồi vào xô-pha nói chuyện, cho cô biết hôm nay là ngày cuối cùng của tôi với lý do tôi đã lớn tuổi nên muốn nghỉ hưu. Ma nghe xong thì khóc rống lên làm đám bạn đang ngủ say giật mình thức giấc. Tôi vẫn cương quyết bước ra khỏi căn nhà của cô. Bước vào xe ngồi, tôi gọi điện thoại cho cán sự xã hội của ma để xin nghỉ việc. Trong khi chờ hai tuần nữa sẽ có người khác thay thế tôi giúp chăm sóc cho Ma. Ma may mắn đuợc Department of Housing Service cấp cho cô căn nhà nhỏ nơi chung cư mà cô đã nộp đơn chờ từ nhiều năm qua .

Ngày chia tay, tôi giúp chở Ma về căn nhà mới. Ma nhìn tôi với nắm tay xiết chặt như một lời cám ơn.

Nghề chăm sóc người già, người bệnh đối với tôi là cái nghiệp. Cái nghiệp đã khơi dậy lòng trắc ẩn trong tôi suốt gần hai mươi năm theo đuổi, dù là đôi lần lực bất tòng tâm, mỏi mệt. Nhưng rồi tôi cũng ráng rèn thêm cho mình lòng kiên nhẫn. Đó là sự thể hiện tấm lòng con người đối với con người mà ai cũng cần có, tôi nghĩ vậy.

Thursday, August 1, 2019

Nâng Bước Tuổi Bóng Xế

Châu Hà

Năm đó, tôi theo bạn dự lễ ở nhà thờ, tình cờ ngồi bên cạnh một ông cụ trông ốm yếu, ho hen. Tan buổi lễ, ông cụ quay sang tôi cười hiền hòa và hỏi: 

“Cô có biết ai muốn chăm sóc người ốm? Vợ tôi sức khoé kém rồi.”

“Thưa bác, con đang muốn tìm thêm công việc trong mấy ngày nghỉ trong tuần đây ạ.”

“Vậy thì bà nhà tôi may mắn quá.”

Ông cụ mừng rỡ ra mặt, vội trao đổi số điện thoại với tôi và đồng thời đưa tôi số điện thoại liên lạc với Sở Xã hội để làm hẹn nộp đơn cho dịch vụ chăm sóc người già và tàn tật. 

Đến hẹn, tôi đến Sở Xã hội để điền đơn, ký giấy tờ và được yêu cầu tham gia huấn luyện cách chăm sóc. Buổi hướng dẫn rất chi tiết, học viên phải thực hành cho người huấn luyện xem các thao tác chăm sóc có đúng cách không trước khi được cấp giấy chứng nhận làm việc. Chẳng hạn như tôi phải biểu diễn thuần thục cách nâng người bệnh từ giường qua ghế ngồi và ngược lại bằng cách xốc nách, một chân của mình giữ tư thế cho người bệnh thẳng lưng để còn xoay người họ đặt lên giường.

Do đã có đề nghị từ ông cụ tôi gặp ở nhà thờ nên tờ hợp đồng chăm sóc bà cụ được thực hiện không lâu sau với chữ ký của cán sự xã hội, con gái của ông bà cụ, và tôi. Trong hợp đồng có ghi rõ số giờ do Sở Xã hội qui định khách hàng được nhận sự chăm sóc và nội dung công việc tôi cần phải làm cho khách hàng. 

Ngày đầu tiên đến nhà ông bà cụ, tôi bấm chuông mãi không thấy ai ra mở cửa, tôi đành đi vòng bên hông nhà vì nghĩ chắc hai cụ ngồi ở vườn sau. Bất chợt có tiếng la khiến tôi hoảng kinh: “Trời ơi! Sao tôi không đứng lên được?” 

May mắn là cánh cửa gỗ vào vườn không khoá nên tôi đẩy cửa bước nhanh vào. Tôi nhìn thấy bà cụ ngã sõng soài lên người ông cụ và không thể tự đứng lên được trong khi ông cụ thở dốc cố đẩy bà ra khỏi thân hình ốm yếu của ông. Tôi chụp vội cái ghế gần đó kéo sát lại, đoạn xốc nách bà cụ nâng lên để bà ôm chân ghế nhằm có tư thế chống hai chân mà tự đứng dậy. Công việc chăm sóc tại tư gia của ông bà cụ bắt đầu là như vậy. 

Thỉnh thoảng người cán sự xã hội đến thăm bà cụ, cô luôn gọi điện thoại và gửi giấy tờ báo trước cho biết ngày, giờ đến thăm. Có một lần, người cán sự xã hội thấy tôi khệ nệ vác cái máy hút bụi lên lầu, cô nhẹ nhàng nhắc:

“Chị nên đọc lại nội dung hợp đồng. Công việc của chị là chỉ giúp dọn dẹp trong phòng riêng của bà cụ ở dưới nhà mà thôi, không phải dọn phòng các con của bà.”

À, thì ra là vậy. Tôi thầm cám ơn cô cán sự xã hội đồng hương đã nhắc nhở tôi ngay lúc bỡ ngỡ vào nghề chăm sóc người già. Hiểu rõ giới hạn của nhiệm vụ mình được giao đã giúp tôi cân đối giữa nghỉ ngơi và làm việc. 

Càng trụ lâu với công việc chăm sóc người già tôi càng hiểu được tầm quan trọng của quyền lợi người làm việc vì một số khách hàng đã lợi dụng giao cho tôi làm thêm những việc không nêu trong hợp đồng.

Bữa ăn trưa của bà cụ được chương trình Meals on Wheels tài trợ, không những miễn phí mà còn được mang đến tận nhà. Tôi ngạc nhiên thấy mấy ông cụ già người Mỹ còn khỏe mạnh tình nguyện lái xe đến từng nhà những người già yếu để giao thức ăn. Cung cách của họ rất lịch thiệp, áo quần thì đẹp, gọn gàng. Lần đầu tôi thấy điều này và thán phục vô cùng.

Đến khi ông bà cụ theo các con chuyển qua tiểu bang khác, tôi nghỉ việc và đồng thời cũng thất nghiệp từ công việc chính do biến cố khủng bố toà tháp đôi World Trade Center năm 2001. Tôi ghi danh học ở một đại học cộng đồng gần nhà. 

Một buổi chiều từ trường về nhà, tôi nhận một cú điện thoại từ một phụ nữ cần tìm người giúp mẹ của cô ta. Cô ấy gọi đến tôi qua sự giới thiệu của văn phòng Sở Xã hội, họ cho cô danh sách những người chăm sóc. Sau khi xem danh sách, cô quyết định chọn tôi. Tôi thu xếp thì giờ của mình: buổi sáng đến trường, buổi chiều trông chừng bà cụ. 

Khách hàng của tôi lần này là bà cụ tên Nancy, bà người Hoa và không biết tiếng Việt nhưng tôi và bà có thể chuyện trò qua lại bằng tiếng Anh. Thời đó phương thức giải trí thịnh hành là những cuốn băng video. Bà Nancy xem đi xem lại cuốn phim “Gone with the Wind” mà không chán. Bà thích nhất đoạn bà quản gia da màu đứng nơi cửa sổ gầm gừ gọi nhân vật chính về dùng bữa. Trong khi nhân vật chính là cô nàng Scarlett O’Hara đỏng đảnh chưa chịu về thì bà cụ Nancy đã kịp gầm gừ trước. Bà lập lại nhiều đoạn trong phim một cách chính xác, chứng tỏ bà thuộc lòng từng câu nói của từng nhân vật để đủ biết sự nhập vai tài tình của bà.

Lần đầu gặp bà Nancy, tôi còn nhớ bà khen cái áo màu hồng tôi mặc. Ấy vậy mà vài tháng sau bà đã không phân biệt được các màu, ngay cả màu đen trắng trên tấm hình gia đình treo trên tường mà bà quý nhất. Tôi nghe bà lẩm nhẩm trong miệng điều gì đó, nếu lắng nghe thì ra đó là địa chỉ căn nhà bà đang ở và số điện thoại của cô con gái trực tiếp lo cho bà nhưng các con số lộn xộn, không chính xác. Thường thì bà lẩm nhẩm gọi đủ, nhớ đủ hết tên của chín người con. Vậy mà sau này bà chỉ còn gọi được tên người con trai út. 

Đến một hôm, tôi đang loay hoay dọn giường cho bà thì bất chợt thấy hai ông cảnh sát cao to đang lù lù tiến vào nhà. Thì ra bà gọi 911 báo tin có người lạ trong nhà bà nên cảnh sát vội đến ngay lập tức. Họ nhìn khắp nhà xem xét có bàn ghế bị xô đẩy không rồi yêu cầu tôi ra ngoài để lấy lời khai. Sau đó hai viên cảnh sát buộc tôi phải ra khỏi nhà bà ngay lập tức vì chủ nhà báo cáo với họ rằng tôi là người lạ. Họ đồng thời liên lạc với con gái của bà yêu cầu cô phải đến ở tạm với bà trong ngày. Tối cùng ngày, con gái của bà gọi tôi xin lỗi và yêu cầu tôi tiếp tục công việc chăm sóc bà. 
Ngày hôm sau, tôi thấy các ngăn tủ bếp phải dán kín hết lại như niêm phong. Nghe kể rằng đêm hôm trước con gái bà ngửi mùi khét, chạy ra kịp phát hiện bà đặt nồi cơm điện rồi bật bếp. Những nắm vặn bật tắt lò bếp cũng được gỡ ra và dấu luôn. Cô con gái bà cũng đồng ý cho tôi giữ điện thoại trong người để gọi khi có trường hợp khẩn cấp.

Sang ngày hôm sau nữa thì bà cụ Nancy không tự mở cửa cho tôi vào nhà. Dù tôi bấm chuông nhiều lần và thấy bà cụ từ trong nhà nhìn qua cửa kính thấy tôi nhưng bà nhất định không mở cửa. Bà nhìn tôi lẩm bẩm điều gì như chửi rủa và nét mặt bà dữ tợn. Tôi đành gọi cho con gái của bà, cô cho mã số của nhà để xe. Khi cửa nhà xe mở, tôi bước vào, đi qua phòng giặt rồi vòng ra cửa chính chào bà. 

Vừa khi bước đến cửa chính, tôi sững sờ kinh ngạc khi thấy bà nhìn tôi trừng trừng. Nơi bà đang đứng được chắn bởi một hàng ghế xô-pha ở phòng khách. Làm sao một mình bà có thể kéo, đẩy những thứ đồ đạc nặng nề này? Lại còn chất chồng lên cao để che chắn cửa chính không cho ai vào nhà bà. Tôi hiểu tâm bệnh của bà là sợ. Bà sợ ai đó ám hại mình. Bà bị ảo giác, nhìn nhầm người nhà, bạn bè hay người thân.

Đối với tuổi già, mới ngày hôm trước và ngày hôm sau đã khác nhau xa. Bệnh lú lẫn ở người già đã khiến bà không còn khả năng suy nghĩ một cách bình thường. Bà bắt đầu không tự chủ trong vệ sinh cá nhân nữa. Bà không tự nhấc chân lên để bước vào bồn tắm. Sau khi nằm nghỉ trên giường và đến lúc thức giấc thì bà không thể tự ngồi dậy được. Nghe tôi thuật lại sự việc, các con bà bàn nhau đưa bà vào Viện dưỡng lão vì xem ra tình trạng của bà càng ngày tệ hại thêm. 

Ngày đến tiễn bà Nancy qua “nhà mới”, tôi ngậm ngùi nhìn bà ôm khư khư thứ đồ vật mà bà thích nhất. Đó là chiếc đèn kéo quân nhỏ gọn. Nhớ ngày đầu đến giúp việc cho bà, tôi đã được nghe tiếng kính coong vui tai phát ra lúc bà vặn nút cho chiếc đèn quay. Tôi mường tượng đến viễn cảnh bà phải đối diện với sự cô đơn trong Viện dưỡng lão. Biết đâu chiếc đèn kéo quân với đoàn ngựa giấy và quân lính xung trận chạy vòng quanh cùng tiếng kính coong có thể giúp bà khuây khỏa phần nào. 

Xem ra tôi có duyên với nghề chăm sóc người ốm vì vừa thôi việc là nhận ngay một cú điện thoại tìm người chăm thân nhân. Người con gái của vị khách hàng tương lai tâm sự với tôi qua điện thoại: 

“Con tiếc quá cô ơi, má của con bệnh mà cả nhà không hay biết nên cứ trách má con là tửng tửng để má con thêm buồn. Bây giờ con hối hận quá khi bác sĩ nói má con bị bệnh Alzheimer, bệnh lú lẫn. Cô ráng đến giúp tụi con nhen cô.”

Tôi là người dễ xúc động. Câu trả lời của tôi với cô con gái không gì khác hơn là sự đồng ý. Ngày đầu đến chăm sóc, tôi thấy khách hàng của mình là người rất vui tính. Bác cười rổn rảng, nói ngay:

“Cứ gọi tui là Chế đi nhen vì tui thích ca sĩ Chế Linh, ổng hát bài gì đó như là… để tui nhớ… À, bài “Thành Phố Buồn”, mà ông chồng tui lại tên Linh nữa chớ.”

Bác Chế sống một mình trong căn apartment nhỏ gọn. Bác nói chuyện rất có duyên. Bệnh của bác là luôn quên và hay đòi ăn. Bác cứ nhắc tôi liên tục: “Sáng nay tui chưa ăn mà” dù mới vừa ăn xong. 

Một ngày nọ, khi tôi dọn dẹp mâm cơm trưa bác Chế vừa ăn xong thì nghe tiếng gõ cửa. Tôi nhìn qua cửa sổ thì thấy một bà cụ lạ hoắc, ngoắc tôi lại gần và nói oang oang: 

“Cô ơi, tui là bà Năm Sa-Đéc. Ngày xưa tui ở đây nè. Tui đi xe Bớt ngang qua đây ngó thấy quen quen nên tui nói ông tài xì-tốp cho tôi xuống.”

Thời trước năm 1975 tôi đã từng xem qua màn hình ti-vi đen trắng một số thoại kịch và cải lương có bà Năm Sa-Đéc đóng. Nhưng sao tôi không thấy bà cụ này có vài nét tương tự bà Năm Sa-Đéc. Tôi ngờ ngợ, xin bà chờ chốc lát vì phải gọi điện thoại hỏi ý kiến cô con gái bác Chế: 

“Cô ơi, có một bà xưng tên bà Năm Sa-Đéc nói là người hàng xóm cũ của bác Chế vậy cô có đồng ý cho bà vào thăm bác Chế không?”

“Dạ, đúng là có bà Năm hàng xóm. Bả khoái bỏ thêm cái tên Sa-Đéc chớ không phải là bà Năm Sa-Đéc thiệt đâu cô. Cô làm ơn cho bà Năm vô để gợi nhớ chuyện cũ cho má con vui.”

Gác máy điện thoại, tôi mở cửa mời bà Năm vào. Bà Năm tay bắt mặt mừng với bác Chế rồi đi loanh quanh trong nhà, nhìn khắp mọi nơi, đoạn dừng lại ở chậu cây kiểng và đọc to tờ giấy “Cây già đừng tưới” gắn trên cây. Bà cất giọng sang sảng:

“Chèng ui, ai mà chê bà già dzậy nè bà Chế?” 

Bác Chế trả lời: 

“Kệ mẹ nó đi, ai chê tui già nhưng tui vẫn thích tưới cây, kệ tui!” 

Tôi đâm tò mò, tiến lại gần chậu cây xem “cây già” như thế nào mà không cho tưới và không thể nhịn được cười. Hóa ra đó là cây kiểng giả. Các con của bác Chế biết bác thích tưới cây, nhưng dặn hoài bác cứ quên nên phải gắn lên cây tờ giấy “Cây giả đừng tưới”. Bác Chế cũng chẳng đọc tới, cứ tưới mãi thành thử màu viết lông phai và nhoè, biến dấu hỏi thành dấu huyền. 

Quay trở lại ghế ngồi, bà Năm và bác Chế nói chuyện rôm rả: 

“Chèng ơi, bà không nhớ tui sao? Tui là bà Năm Sa-Đéc nè.” 

“Vậy hả, hồi xưa trên tidi đài chiềng hình có kịch, có phim bà đóng, tui thích bà đó nghe bà, nhưng nghe đâu bả chết rồi.”

“Dzậy hả, mà bà bi nhiêu tuổi rồi?” 

“Tôi trả lời bà rồi mà. Tui hỏi bà nhen, bà tên gì dzậy?” 

“Chèng ơi tui nói tên tui rồi mà, sao bà hay quên dzậy?” 

“Tui chưa ăn cơm, bà ăn cơm chưa?” 

“Chèng ơi, tui nói cho bà nghe, thằng con trai tui nó sợ tui lắm bà ơi. Nó không cho tui dẫn con trai của nó đi đâu hết, nó sợ tui làm lạc mất con nó đó bà.” 

“Dậy hả tui hỏi bà là bà tên gì dzậy, bi nhiêu tuổi rồi? Bà ăn cơm chưa?” 

“Chèng ơi tui nói tên tui rồi mà…”

Hai bà cứ chuyện trò không đầu không đuôi, nhớ nhớ quên quên. Tôi vui lây với câu chuyện ngây ngô của hai bà. Bác Chế nhờ tôi đem rác ra đổ vào cái thùng rác to đùng cho cả khu chung cư này. Bất chợt tôi giật mình thấy một người cảnh sát dắt tay thằng nhỏ khoảng năm, sáu tuổi. Thằng nhỏ vừa khóc vừa chỉ tay vào khu chung cư. Tôi linh tính thằng bé có người thân ở đây. Rồi khi nghe tiếng nói oang oang của bà Năm vọng ra từ căn nhà bác Chế, nó vụt giật tay ông cảnh sát chạy ào vào căn apartment mà tôi vừa mở cửa để đi ra đổ rác. 

Tôi vội đi nhanh theo thằng bé và ông cảnh sát cũng bước nhanh kịp vào nhà lúc thằng bé chạy đến ôm chầm lấy bà Năm òa khóc. Hóa ra là bà Năm xuống xe buýt cùng với cháu nội để đi chợ Việt ngay bên cạnh khu chung cư nhà bác Chế. Khi bà Năm mơ hồ nhận ra khu phố quen mà bà từng ở trước đây thì liền đi xăm xăm đến nhà bác Chế. Bà quên bẵng thằng cháu nội còn ở trong chợ. 

Ông cảnh sát nhờ tôi hỏi bà có số điện thoại liên lạc của người thân để họ gọi đến đón hai bà cháu về. Bà Năm luýnh quýnh lấy cái thẻ đeo trên dây cổ có ghi các thông tin cần thiết để trình cho cảnh sát. Tôi thở phào mừng cho bà Năm. Rất may hai bà cháu gặp lại nhau, còn không thì hậu quả khó lường. 

Khi bệnh của bác Chế đến giai đoạn nặng, bác té ngã nhiều lần hơn và không thể nhớ đã té ngã ở đâu. Sau một lần ngã nguy hiểm bầm tím đen trên mặt, Sở Xã hội quyết định tăng giờ chăm sóc cho bác nên tôi có dịp ở với bác lâu hơn và nghe bác tâm sự nhiều thêm. Bác luôn kể về những ngày sau biến cố đau buồn 1975. 

“Căn nhà của tui bị Việt cộng chiếm đoạt, tui tiếc và tức quá đi. Sau này khi tui trở về Việt Nam thăm bà con, đi qua căn nhà cũ, tui khóc quá chừng, khóc ơi là khóc.”

Rồi bác khóc thật sự. Bác khóc mùi mẫn, nhắc đi nhắc lại căn nhà của một đời cơ cực mà bác cùng chồng gầy dựng lo toan. Tôi an ủi bác rằng gia đình bác đã may mắn có được một số tiền và vòng vàng nên hùn hạp đóng tàu vượt biển với bà con. Mà bác lại còn may mắn hơn vì tàu đi xuôi rót đến bến bờ tự do an toàn trong khi biết bao thân phận bất hạnh khác còn là nạn nhân của hải tặc hoặc làm mồi cho cá mập. 

Đang kể về chuyến tàu vượt biển thuận buồm xuôi gió thì tự dưng bác nắm tay tôi và nhắn nhủ một lời chắc nịch như phải làm theo bác ngay:

“Nè, nhớ nhen, nếu có đi vượt biển nữa thì đừng bao giờ mặc quần sa-teng đó.” 

Tôi buồn cười quá, muốn hỏi bác Chế là đã sang đến Mỹ mà còn vượt biển đi đâu nữa? Chưa để tôi nói lên ý nghĩ của mình thì bác nói một hơi:

“Quần sa-teng khi bị sóng biển bắn vô là nó rít chịt à. Ù mẻ nó ơi, sao mà hồi đó tui ngu dữ dội, điệu như con gái nên diện quần sa-teng và đeo vòng vàng nữa chớ. May mà không bị hải tặc mần thịt đó nghen.”

Tôi luôn cười vui với lối kể chuyện của bác Chế. Tuy vậy, không phải luôn luôn tôi được vui như vậy. Khi con trai của bác bị vợ ly dị, anh ta không còn nhà nên về ở với mẹ. Mỗi khi chủ nhà đến kiểm tra (có báo trước), anh ta nhờ tôi dọn hết áo quần vật dụng của anh ta cất vào ngăn tủ đóng khoá lại. Nhớ đến hợp đồng làm việc, tôi từ chối không làm theo yêu cầu của anh ta. 

Chưa hết, anh ta nhờ tôi nhuộm tóc, lại còn nhờ “bạo” hơn nữa là muốn tôi đứng trên lưng của anh ta để mát-xa. Thật là quá quắt! Tôi từ chối tất cả. 

Gã con trai của bác Chế bắt đầu khó chịu và sinh sự với tôi. Một hôm tôi vừa tắm cho bác Chế xong, hai bác cháu đến ngồi xô-pha xem ti-vi. Lúc đó hắn đang đứng ở bàn ăn, nhìn tôi và nói như ra lệnh:

“Cô phải mát-xa cánh tay cho má tui nữa.”

“Trong hợp đồng chăm sóc mà tôi đã ký cùng em gái của anh và cán sự xã hội thì tôi không có nhiệm vụ phải mát-xa và cũng không có chuyện giúp ai khác ngoài bác Chế.”

Hắn xem chừng nổi điên khi nghe tôi đáp trả, đứng phắt lên cầm cái điện thoại treo ở góc tường và lớn tiếng:

“Tôi gọi hỏi cán sự xã hội của má tui liền cho cô biết tay.”

Tôi yên lặng xem hắn hành động. Không rõ nghĩ sao đó mà hắn lại đặt điện thoại vào vị trí cũ, không gọi. Phần ngày còn lại của hôm đó tôi cứ nhìn đồng hồ mong cho hết giờ chăm sóc bác Chế. 

Về đến nhà tôi gọi điện thoại ngay cho con gái út của bác, kể mọi chuyện ấm ức bấy lâu nay tôi phải chịu đựng về anh trai của cô ta và yêu cầu nghỉ việc. Bên kia điện thoại tôi nghe tiếng thở dài não ruột. Biết rằng thuyết phục cách mấy tôi cũng không quay lại chăm sóc bác Chế, con gái bác đành khẩn khoản nhờ tôi đến lần cuối để chỉ dẫn người thay thế tôi cách chăm sóc má cô. 

Trong hợp đồng chăm sóc người già không có khoản bắt buộc người chăm sóc trước phải huấn luyện người đến sau vì Sở Xã hội đã chịu trách nhiệm huấn luyện cho những ai nhận nghề này rồi. Nhưng vì tôi cũng quí bác Chế và muốn nói lời chia tay nên đồng ý. Ngày hôm đó tôi đem đến bánh mì thịt là món khoái khẩu của bác Chế. Bác bịn rịn nắm tay tôi không nỡ rời xa.

Nhiều năm sau tôi tình cờ gặp con gái bác Chế khi đi chợ và biết tin bác đã mất. Tôi nghe mắt mình cay cay khi thầm chào bác Chế: “Vĩnh biệt bác ra đi thanh thản. Con nhớ mãi những câu chuyện vui của bác.”

Vui buồn lẫn lộn khi ôn lại những kỷ niệm với những người tôi đã chăm sóc. Tôi đã có thể đổi một nghề an nhàn hơn nhưng nếu ai cũng như tôi thì những con người với tâm trí lãng đãng và thể lực héo mòn sẽ như thế nào đây, tôi tự hỏi. Thôi thì tôi phải đến với họ bằng trái tim như đối với người thân của tôi. Họ đáng thương hơn là đáng giận. Họ đáng được chăm sóc hơn là bị ruồng bỏ. Tuổi xế chiều luôn cần những bàn tay nâng bước. 

Đó là lý do tôi vẫn chờ các cuộc gọi của khách hàng với nụ cười và cái gật đầu vui vẻ.
Châu Hà

Blog Archive