ĐUÔN CHÀ LÀ.
Hai Quẹo
Đuôn chà-là sinh trưởng trong đọt cây chà-là thuộc rừng nước mặn. Cùng loại đuôn này, giống nhau như một, mà sống trong đọt dừa thì được kêu là đuôn dừa.
Sau đây là vài kinh nghiệm thực tế xin kể lại quí vị nghe để khuây cũng được một vài phút giây. Nếu ai chưa hình dung được con đuôn ra làm sao thì xin nhìn thử mấy bà ở quê nựng con hay cháu trai thì biết. Bã bợ nách đứa bé lên khỏi đầu, úp mặt vô chỗ dễ nhột nhứt, vừa hôn vừa ngoạm vừa nói giọng ngọng nghịu: “Ồ chó ẽ! Dét quá i nè! Chắn nó. Bà chắn cho ứt con uôn cho dồi”. Thằng nhỏ cười ngắc ngoẽo. Cắn cho đứt “con đuôn” cho rồi? Có phải nó thiệt y vậy không thì hạ hồi phân giải.
Trước hết xin nói qua vìa cây chà là cái đã.
1- Cây chà-là. Mọc nhiều trong rừng nước mặn duyên hải miền Nam nước Việt. Nó sống chung chạ với các loại cây khác như: mắm, đước, tràm, bần, dà dẹt, dừa nước, rán chổi, v.v. Đặc biệt đất Vĩnh Bình (Trà Vinh bây giờ) có nhiều rừng chà-là nên một thời đã nổi tiếng về đuôn này.
Cây chà-là thuộc loại palm trồng làm kiểng và bà con rất xa với chà-là ăn trái Phi Châu. Thân cây bự cỡ cây tre gai và suông đon như cây cau, cao từ 3-5 thước, da màu nâu nâu tươi láng lỉnh. Khác với cây cau trong ruột mềm, chỉ dùng vỏ làm máng xối, cây chà-là cứng và chắc vì đặc ruột nên người ta dùng nó để cất nhà, làm cột kèo, đòn tay hoặc làm nhiều thứ khác như hàng rào, chuồng heo, sàn nò, sàn đáy, đóng cừ đủ thứ chuyện.Trái kết từng chùm từng buồng như cau kiểng hay quày đủng đỉnh, tròn dài nhỏ như lóng ngón tay út, vỏ mỏng te, thịt là khối hột cứng. Hái thử bỏ vô miệng nhăn chơi thấy nó chát chát lạc xèo. Trái già chín đỏ, nom cũng nên văn nên thơ lắm. Tàu lá nho nhỏ, mành hơn tàu cau, cong xuống thướt tha bóng mượt. Lại càng nên thơ hơn. Đứng xa mà nhìn, thấy cái tàn tròn vo xanh xanh vàng vàng loang loáng nắng hè hoặc óng ánh trăng đêm, hồn thơ dễ tuôn trào ra ướt.. lắm. Nói vậy để khi sáp lại gần cọ sát với thưc tế thì quí vị sẽ thấy, ới ông trời ơi, gai ơi là gai, thấy bắt lạnh mình. Gai dài cở 1, 2 tấc là thường. Nó tua tủa, nghênh ngang như thể có nhiệm vụ bảo vệ cái đọt trong đó chứa cái món quí: Con đuôn.
Những cây gai thẳng băng, bén ngót đó, dù còn trên cây hay rụng xuống đất, nếu ai sơ ý đạp lên có thể bị đâm xuyên bàn chơn như chơi. Đốn nó mới khó trần thân. Bắt tay vô đốn thử một cây mới biết đá vàng, hồn thơ sẽ bay mất, chỉ còn lại mồ hôi lai láng, có khi pha máu. Cái cây gì mà quái ác như vậy nên ít có ai muốn đem vìa nhà trồng làm kiểng, bị bỏ lại xa trong rừng. Nhưng ở mặt khác, nó lại rất gần với mơ ước, nằm trong óc tưỡng tượng của nhiều người thích của lạ: cái chút nị mà dễ thương hết chỗ nói: con đuôn!
2.- Con Đuôn. Cùng một cha một mẹ là con kiến dương mà có khi chúng bị người ta kỳ thị và đối xử bất công lắm. Kiến dương nơi nào mà hông có. Do đó đuôn cũng sồng nhiều nơi. Có con thì sống ở đọt cây dừa, đủng đỉnh, cây mía hoặc trong đọt cây mây, cây le, v.v. Dù sanh ở đâu, sống trên cây nào, tất cả họ đuôn này đều là một giống một nòi: Kiến dương.
Cũng là con đuôn y chang như nhau, từ con ấu trùng, nó tiến lên thành con đuôn, rồi ăn bạo ăn tạp để hoá kiếp thành con kiến dương trở lại. Khoảng vào cuối thu, kiến dương bay đi tìm đọt chà-là hay đọt dừa đẻ trứng lên đó. Trứng nở ra sâu. Con sâu ăn từ trên xuống rồi chui vô kho tàng thực phẩm là khối đọt ngọt mềm mà người ta kêu là củ hũ. Các loại củ hũ dừa, chà-là hay đủng đỉnh, tất cả đều trắng, ngọt, giòn như nhau, xào ăn ngon hơn măng tre. Vậy mà người ta chỉ thích con đuôn trong củ hũ chà là, cái cây ác ôn côn đồ gai không! Lạ vậy chớ. Và cũng là loại bọ còn có con bù-rầy (bọ rầy).
Trong khi kiến dương chuyên địt tửa trên ngọn cây để con cháu nó ăn đọt ngon thì con bù rầy đẻ trứng dưới đất, thành con đuôn đất, chỉ ăn rễ cỏ rễ cây. Kiến dương màu đen giống con bù hung (bọ hung). Con đực có cặp sừng trên dưới như sừng tê giác, con nít bắt chơi, cho nó chém lộn, như đá dế vậy. Nhưng mà đừng thấy con kiến dương đen thui mà nghĩ con đuôn cũng có nước da màu than đước. Không đâu.
Con đuôn chà-là trắng ngà trắng ngọc như da đùi non thiếu nắng. Hoặc dễ hiểu hơn, dù cha mẹ là Mỹ đen nhưng lại sanh ra baby da trắng. Ngộ vậy đó. Miêu tả cho ra hình dáng của nó thì thật khó. Vì nó co giản quẹo ngay bất thường lắm. Khi thì nó dài giống con sâu gòn, khi thì ngắn in như đỉa trâu bú no, ngo ngoe lăn tròn. Nói cho đẹp thì nó giống cục bột se, cái tổ kén, đầu đít khó phân, lưng bụng tròn lỉnh. Quan sát thật kỹ mới thấy: phần đầu có cái mày nhỏ hình nửa hột đậu xanh cà, vàng sậm, rất cứng, đó chính là cái đầu, cũng là bàn nạo, máy đào; phía đầu đối diện là cái đít, chỉ có cái vảy nhỏ xíú. Trên lưng có lông măng thật nhuyễn mịn mắt nhìn khó thấy. Toàn thân láng mướt như có thoa kem bà Hạnh Phước. Mình có ngấn ngang, lúc nào cũng cữ động theo dợn sóng, mấp mô mấp mô. Khi thun mình teo lại, da nó nhăn nhíu coi rất thảm hại, y chang cái mà bà mẹ nựng con so sánh.
Cắn cho đứt con đuôn. Nhưng con đuôn này thuộc loại king size, cỡ size ngón chân cái là thường. Bắt một con bỏ vô lòng bàn tay và nắm lại thì mới thật là “ấn tượng”. Nếu ai chưa quen với độ cương xìu mềm cứng của nó thi sẽ nổi da gà. Nếu quen rồi, nghe cái âm ba gờn gợn, nhột nhạt khó tả thì sẽ mê mẩn nắm hoài không buông. Và cũng chính nhờ tính đàn hồi mà lỗ lớn lỗ nhỏ gì nó cũng chui lọt hết. Lấy một lóng mía, chừa mắt một đầu, dùng chiếc đủa soi đầu kia một lổ sâu chừng 2, 3 phân, mớm mớm cái đầu con đuôn vô miệng lỗ, hồi sau nó chui vô một khúc, để yên suốt đêm, nó chun mất tiêu và đùn ra phía trên miệng lỗ xác mía khô nén cứng như nút chai. Tối tối còn ôm theo khúc mía vô mùng ngủ để nghe con đuôn xục xạo trong hang. Đó là trò chơi của tui thời con nít. Con đuôn non thì màu trắng, càng già càng đổ ra vàng. Khi nó biến ra màu nâu thì quá già, khó ăn. Bắt đuôn ra để lâu ngoài gió nó cũng sẽ bị vàng, hết trắng, như kiểu mấy tiểu thư lần đầu lột quần áo tắm biễn, da bị ăn nắng.
Sau đây, xin kể sơ qua chút kinh nghiệm vìa cách bắt đuôn.
3.- Cách đốn đuôn: Mùa đuôn bắt đầu lúc ra giêng, khi thời tiết khô ráo. Kể từ lúc mới sanh cho tới tuổi ăn được phải mất 3, 4 tháng. Muốn đốn đuôn phải biết cách tìm dấu và cần một số dụng cụ. -
Tìm dấu đuôn. Như đã nói con ấu trùng, tiền thân của đuôn, chui từ đọt ăn xuống củ hũ. Vậy thì một hay hai cái đọt đó coi như tiêu, sẽ thành cái lá khô, và cây bị cụt ngọn. Đó là dấu hiệu đầu tiên. Quan sát thêm coi chung quanh ngọn có bị thẹo gì không. Khi thấy cái thẹo hay cái lỗ bên hông thì không còn nó trong đó. Nó đã hóa kiếp kiến dương và chui ra theo cái lỗ đó đi mất tiêu rồi. Đặc biệt hơn, mỗi cây chà là chỉ có một con. Quá hiếm. So với đuôn dừa thì ngược lại, một củ hũ dừa có thể chứa cả ký cả rổ đuôn, cả nhà ăn hổng hết. Vì vậy mà ít quí chăng?
Cây dừa bị đuôn khoét cũng bị rụi đọt. Người ta có thể cứu cây dừa bằng cách kiểm soát thường ngày và khi chút đọt vừa héo thì bắt đuôn non bỏ. Nếu bỏ phế lâu ngày thì sẽ có cả bầy đuôn lập giang sơn sâu trong củ hũ, hết phương cứu tử, và cây dừa sẽ được đốn làm gổ. Trong khi đó đuôn chà-là mỗi con hùng cứ một cây. Và hổng phải mỗi cây đều có đuôn. Cho nên chuyện đốn đuôn mới trần thân. Nhiều khi quần cả mấy buội mà chưa tìm được một con.- Tìm rừng và đốn đuôn. Cái trần ai khổ nhọng trước hết là lội vào rừng, cây cối chằng chịt, mương lạch tứ tung. Tới được rừng chà-là thi gặp gai. Cây chà là mọc thành khúm có khi rộng bằng mấy chiếc giường, cây nào cũng tua tủa gai từ các bẹ lá, hoặc rơi rụng xuống gốc, khó mà đến gần được. Vậy phải đốn đuôn từ xa.
Dụng cụ đốn đuôn thường là cây dao mác lưởi thẳng với cái cán thật dài, cỡ ba bốn thước. Có người mang thêm cây câu liêm nhỏ nhưng dễ vướng và cồng kềnh quá. Dân nhà nghề chỉ cần con dao xắn cán dài nói trên. Không cần đến sát gốc. Đứng từ xa dùng dao dài phát quang, tỉa bớt gai cho gọn rồi xắn nguyên đọt đem ra, như xắn mục măng vậy. Đem xuống soát lại coi nếu trên đọt có bã phân khô như nùi thuốc rê, bên hông không có lỗ, thì là lấy ăn. Xong phải lột bớt bẹ, thẽo bỏ khúc già cho ghọn, còn lại cỡ bắp chuối, rồi dùng cật bẹ dừa nước ngoai ngoai làm dây, sỏ sâu cột chùm từng chục một. Đi tìm như vậy phải lội sình, băng buội, tránh gai, vác nặng, vượt xẽo, ô rô cóc kèn dày kín, từ khóm này qua khóm kia vòng vo mất cả chục cây số mới hy vọng có huê lợi trong ngày. Nắng, gai, sình, muỗi mòng…..mồ hôi, máu. Oâi con đuôn! Trên đời này, lắm của quí nằm trong tay người quí phái đều đi theo quá trình như vậy.
4.- Cách ăn: Có phải vì tánh hiếu kỳ thích của lạ của mấy đấng mày râu nhà giàu nên cho con đuôn thêm quí và có “chất lượng” bổ dưỡng cao, chất đạm tràn trề? Có nhiều người đáng được hưởng mà không được.
Thứ nhứt là mấy bà, vì ông chồng ham vui hoặc xã giao thường rũ rê mời mọc nhau đi nhà hàng sang như Đồng Khánh Sóai Kinh Lâm ngày trước chẳng hạng, để nhậu gan ngổng, móng vịt và đuôn chà là. It ai dẫn bà theo vì ông muốn độc quyền tăng lực, cố giữ thế thương phong cho bà khen mãi.
Thứ hai là chính những người đốn đuôn, thấy có giá, phải bán đi để xoay việc khác cho gia đình.
Bàn vìa cách thưởng thức đuôn thì nhân dân ta thường bị mấy chú Ba xỏ mũi. Giới thiệu ngon bổ thì mình tin vậy, cúc cung làm giàu cho nhà hàng Tàu. Đám cưới 10 món thì mới sang, đạt ít món sợ bị chê nhà quê.
Riêng vìa cách ăn đuôn chà-là chắc cũng được thổi phồng. Họ biến chế xào nấu nó ra sao không rõ, tui chưa bao giờ tìm tới chỗ đó để thưởng thức cho hợp thời trang. Tui chỉ biết có vài lối ăn đơn giản gản đơn như sau.
Trước hết là ăn sống tại trận. Vừa đốn ngọn chà-là xuống, chẻ bắt con đuôn ra ngay. Nắm cái đầu nó bằng 2 ngón tay, đưa lên miệng, cắn cái đít cho có lỗ rồi đưa vô giữa 2 vành môi mút mút, như mút trái mừng quân. Vừa ngon vừa có cảm giá lạ. An tươi nuốt sống kiểu made in Japan vậy đó. Thịt nó đặc sệt hơn nhũ trấp, ngọt ngọt, beo béo, lợn cợn, dòn dòn. Dứt 2 con là dư sức lội tiếp dưới nắng trưa oi bức.
Cách thưởng thức thứ hai là đem chiên. Bỏ con đuôn vô tô nước muối hoặc nước mắn nhĩ cho sang, ngâm một hồi cho nó nhả bớt chất chát, lát sau đem chiên. Không cần ướp xác gia vị hay tẩm lịm bột giòn gì cả. Chiên kiểu thiên nhiên tốt hơn. Cho lửa áp quá nó sẽ phồng nhanh như cháo quẩy hay bánh phồng tôm, mất hay. Chỉ nên cho lửa nhỏ nhỏ. Vớt ra là ăn liền mới tuyệt.
Cách thứ ba là đem nướng. Nó không phồng bự lắm nhưng hương vị nguyên chất, đậm đà hơn. Nói chung chung, dù làm cách gì, ăn cách nào, hương vị chính của đuôn là béo ngọt như nhọng, nhưng nó ngon gấp mấy con nhọng (con tầm sau khi chui vô kén). Đuôn dừa cũng có hương vị tương tợ.
Vài lời kết.- Kiến dương vẫn còn đầy nhưng con đuôn chà là đã sớm đi vào huyền thoại vì hiện nay cây chà-là gần bi tuyệt chủng. Người ta đồn rằng “sau giãi phóng có mấy ông nguỵ quân nguỵ quyền Sàigòn xuống học tập cải tạo” ở miệt rừng này, có tới hàng chục ngàn người. Mấy ổng đã phát quang, phá rừng, đốn cây, đốn hết cây cối trong đó có cây chà là, để lập nông trường tập thể, hầu tiến nhanh tiến mạnh lên CNXH.
Giờ thì vùng duyên hải đã trỡ đồng ruộng bát ngát do cán bộ và gia đình cách mạng làm chủ. Mấy ông cải tạo có công với gia đình cách mạng lắm, giúp họ có đất, hửu sản hoá cho họ, thay vì vô sản chính chiên, nhưng ngược lại đã tiếp tay phá hoại môi sinh, tiêu diệt cây rừng và nhứt là làm cho đuôn chà là vượt biên mất hết.
Ai có tới Long Toàn (Vĩnh Bình) đi qua những cánh đồng mênh mông, lắng tay nghe, chắc còn cảm thấy oan hồn của đám tù cải tạo vẫn còn vi vu trong gió. Những người sống sót tản lạc đâu mất tiêu, như đám chà-là đã giã từ đất sống tự ngàn xưa.
Ôi thời oanh liệt.
Ôi đuôn chà là.
Showing posts with label Hai Quẹo. Show all posts
Showing posts with label Hai Quẹo. Show all posts
Tuesday, April 1, 2008
Tình quê góp nhặt: Rượu đế, cốm giẹp
Tạp ghi của Hai Quẹo
Kính thưa bà con cô bác, qua mấy lần nghe tui kể chuyện, quí vị cũng dư biết tui là dân nhà quê chính hiệu, chuyên kể chuyện đồng quê. Vậy thì năm nay tui xin kể tiếp thêm hai chuyện nữa. Trước tiên, xin nói vìa rượu đế.
1. RƯỢU ĐẾ. Má tui làm nghề đặt rượu nuôi heo. Tui hay hụ hợ phụ má làm mấy chuyện đó, cho nên tui mới dám cả gan mà kể ra đây. Thấy sao nói vậy, làm gì kể nấy, chớ hổng đặt chuyện như nhà văn nhà báo. Có điều là mỗi địa phương có cách làm rượu hơi khác nhau, cho nên trúng trật gì thì xin bà con cho qua. Chỉ cầu vui. Nhớ hồi lâu lắm, có bản cổ nhạc Nam Phần bị nhái giọng đặt lời bằng mấy câu như vầy:
Rượu này là thiệt rượu rừng,
Bận này là bận thứ ba,
Uống cho đúng điệu nó ngon lạ kỳ.
Giờ uống tối nay khỏi uống.
Làm biếng uống rươu đặng đâu.
Mấy cha uống rượu là con Ngọc Hoàng
(*) Con Ngọc Hoàng? Tức là vua, là hoàng đế. Rượu hoàng đế uống là rượu đế? Tui chịu bí, hổng biết tiếng đế ở đâu ra. Xin nhờ quí thầy chỉ dùm.
Nhưng rượu trắng, rượu rừng, ba si đế, sản phẩm của lúa gạo, tuy ba mà một. Cứ kêu rượu đế cho nó gọn. Có người lại phân biệt rượu đế là rượu nếp, còn rượu trắng là rượu gạo?.Còn nếu làm bằng bo bo, hột kê, mật đường, khoai, bắp... thì hổng biết kêu là rượu gì? Và trong một đất nước chuyên vìa nông nghiệp, rượu đế là thứ quốc hồn quốc tuý. Cách uống rượu của mình cũng có vẻ cầu kỳ hết biết. Cùng là rượu, nhưng khi thì được coi là thức uống thiêng liêng, của tiên thánh trên trời trên núi; khi thì thành lễ vật tiệc tùng cưới hỏi; khi thì bị xem là chất ô uế gắn liền với dân say xỉn bên quán cốc lề đường. Từ cúng rượu, dâng rượu, thưởng rượu, rồi đi xuống tới nhậu, nhâm nhi, lai rai, đưa cay, khề khà, làm ba sợi, nhấp, hớp, nốc, vô, v.v. Ôi thôi có tới mấy chục thứ bậc và giai cấp rập khuôn theo xã hội Đại Cồ Việt ta.
Bởi vậy có khi nó cũng trở thành quốc nạn, nhứt là sau 75, cách uống rượu bị xuống cấp. Ở dưới quê thất nghiệp, buồn quá, người ta uống rượu giải sầu, giải riết bị bịnh chết cả đống. Còn nói vìa cách làm rượu thì cũng có nhiều cách gọi: nấu rượu, cất rượu, kháp rượu, đặt rượu. Và lò rượu cũng có nhiều tầm cỡ mà đây chỉ nói vìa cách nấu đơn giản trong gia đình thôi. Dù là nghề mọn, việc kháp rượu và làm muối ngày xưa đã bị hạn chế theo chính sách thuế khóa của Tây, nên bà con phải nấu lén trong buội trong rừng, tiếng rượu rừng nẩy ra từ đó.
Tới thời Ông Diệm, bà con mình nấu rượu nếp thả giàn. Cách đặt rượu. Ai cũng làm được, quê mùa dốt nát, hổng cần biết chữ quốc ngữ hay tiếng tây tiếng u gì cũng đều làm được ráo. Ở dưới quê tui, có thể nói là: nhà nhà kháp rượu. Và, người người uống rượu!
Có 3 bước chánh để làm một kháp rượu, đó là: nấu cơm da, ủ rượu và kháp.
1. Nấu cơm da. Cơm nếp lứt hay cơm gạo lứt dùng để ủ men làm rượu gọi là cơm da. Nấu nó bằng cái trã, ít ai nấu bằng nồi đồng. Trã là cái nồi đất thật bự. Hổng có ranh giới giữa nồi và trã. Nhưng coi kỹ thì hể cái nồi nào dày, có cổ lùn, miệng rộng và chứa từ 20 lít trở lên thì cứ việc kêu là trã. Đong 10 lít nếp lứt, hay gạo lứt, đem vo sạch, rồi nấu thành cơm. Nấu sao cho nó thiệt chín, nở hột và khô ráo. Phải đạt đủ 3 yêu-cầu đó thì rượu mới trúng. Nhà tui chuyên làm rượu bằng nếp. Cơm chín, xới ra, trải mỏng trên nia cho nguội. Chỉ lấy cơm rời, còn cơm cháy đem nấu mềm cho heo ăn. Cơm cháy nếp ngon dữ lắm. Cho nên hể khi nào nghe cạo trã rột rột là mấy đứa con nít như tui liền chạy vô bợ một giề đem ra chia nhau nhai rôm rốp, thơm phức giòn rụm, ăn phát ngây. Nó ngọt ngọt, béo béo, mềm và xốp hơn cơm cháy nếp trắng. Thoa thêm muối mỡ hành thì ăn quên thôi. Cơm da lúc nào cũng phải nấu cho thiệt khéo, cho nên loại cơm cháy của nó phải nói là ngon muôn năm.
2. Ủ rượu. Tức là vô men. Mua loại men rượu người ta mần sẳn bán ở tiệm, hay lựa chỗ quen mà mua, viên nó tròn và dẹp dẹp, mỏng hơn nửa trái chanh cắt. Họ sẽ chỉ mình phải xài bao nhiêu viên một lít nếp. Mấy thợ làm men giấu nghề dữ lắm. Men Bắc Trang, Tập Sơn, Đầu Bờ nổi tiếng trong tỉnh mình. Bỏ men vô cái gáo dừa bự, giã cho nhuyển như bột. Rờ thử cơm nếp, thấy còm âm ấm thì trộn men vô được. Trộn đảo cho kỹ, khi nào nó áo men đều rồi tuôn nó vô khạp da bò* để ủ. Nhà kháp rượu thường sắm rất nhiều khạp để dùng thêm trong việc như chứa nước, chứa hèm, cháo heo.
Cơm ủ rồi phải ém vừa vừa tay cho nó dẽ, sau đó khoét cái lỗ ngay chính giữa sâu tới đáy khạp, để sau này khi thăm chừng mình sẽ thấy nước rượu tươm ra và dâng lên tới đâu. Đậy khạp lại bằng cái bao bố tời* để cho nó có lỗ thở. Đặt rượu phải canh thời tiết, lựa ngày nấu cơm, chọn ngày mà kháp. Trời giông hay mưa nhiều ẩm lạnh, cơm ủ thì khó dậy, rượu kháp bị thất.
Chỗ để hàng khạp, cũng như nơi đặt ông lò để nấu phải sạch sẽ, kín gió, hổng ướt, hông khô. Bà con mình cũng đã từng kinh ngiệm về sinh môi chớ bộ. Thời gian ủ rượu phải từ 3 ngày đổ lên. Sau 2 đêm đầu, thăm thử thì sẽ thấy hơi ấm tỏa ra. Sau đêm thứ 3 thì phải chan nước rượu. Lấy một thùng nước ngọt (nước giếng) và sạch đổ vô cơm rượu, gọi là chan. Để đó thêm một đêm nữa mới đem nấu. Thường thường nấu cơm da vào buổi trưa, rồi bắt đầu kháp rượu vào giác sáng. Vậy, bấm ngón tay tính thử, thấy phải mất hết thảy là 4 ngày 4 đêm, mới có rượu uống. Nấu sớm hơn sẽ mất rượu, nhưng vì thời tiết xấu mà kháp trể 1, 2 ngày thì hổng sao. Khi thời tiết tốt, có thể nấu ngày 2 kháp.
3. Lên kháp. Cái ông lò kháp rượu có hình cong tròn như móng ngựa được đắp bằng đất thịt, đất sét móc ở trước ruộng. Bùn mà nhồi với trấu hay bui bui, làm ông táo, nó chắc hổng thua xi măng. Bộ đồ nghề cũng giản dị, ai cũng làm được. Trước hết là cái trã mẹ để nấu, bự cở 40 lít trở lên. Kế đó là cái trã con, dùng làm cái nắp đậy, úp ngược xuống, miệng con lọt lòng và nằm trong miệng mẹ, coi nó giông giống hình số 8. Trên đỉnh số 8, có khét cái lỗ tròn cở ngón tay để hơi rượu chui lên. Rồi tới cái ống dẫn hơi, làm bằng ngọn tre già, lớn hơn cùm tay một chút, nối liền nồi rượu với bồn tụ hơi. (Ống này làm bằng tre thì tốt hơn ống bằng nhôm). Bồn tụ, làm bằng cái diệm sành có trán men, miệng bự cỡ 2 gang, đặt cao hơn nồi nấu, trên cái kệ giống như ghế đai cao cẳng. Miệng diệm được đậy kín bằng cái thau nhôm lật ngữa, để chứa nước lạnh. Gặp hơi lạnh của thau nước, hơi biến thành rượu. Làm sao lấy rượu ra? Cần thêm một ống trúc con nữa. Nó chỉ có chút nị, nhỏ bằng ngón tay và dài một gang thôi, mà nếu hông có nó thì hổng thua gì bị bí đái. Đó là cái ống nhỏ giọt, đầu trên gắn meo một bên vô lỗ con dưới đít diệm, đầu dưới thòng xuống, chót ống được vót nhọn hình ngòi viết để tóm rượu lại thành sợi. Khi rượu ra thì hứng nó bằng chai lít, loại trắng trong, để có thể thấy biết chính xác màu rượu. Đó là toàn bộ hệ thống giàn kháp. Còn mấy chỗ ráp nối thì làm sao cho nó kín hơi? Phải trám lại bằng một loại khằn tự chế. Dùng xác hèm nhồi với cám chừng một hồi thì nó sẽ thành thứ hồ chắc như đất sét, trám mấy kẻ hở lại. Càng khô nó càng chắc, hổng nứt hổng xì bất tử.
Rồi thì tới cái mục sẽ cột giò chủ nhà suốt 4, 5 tiếng đồng hồ. Đó là mục nấu, hay cất. Nhưng thấy vậy mà hông phải vậy. Mới đầu cứ việc đốt lữa lớn cho mau sôi. Khi rượu sắp sôi thì bớt củi từ từ. Khi rượu bắt đầu nhỏ giọt thì bớt lửa tối đa. Giữ lửa sao cho rượu đều giọt là có thể bỏ đó cho ông lò giữ dùm để đi làm việc khác. Năm mười phút quay lại thăm chừng một lần. Khỏe re. Hay dở là ở cách cách chụm củi. Phải dùng củi khúc, chắc, lâu tàn, nhiều than. Chỉ cần 2 gốc tre khô là đủ nồi kháp. Y chang kiểu nấu cháo heo hay hầm nồi bánh tét Tết.
Kỵ nhứt là chụm lửa lớn, vì rượu sẽ bị hôi khét; mất ngon. Điều chỉnh lửa sao cho rượu nhỏ giọt thiệt nhặt, hay sợi thiệt nhỏ, đứt khoảng. Thăm chừng nước trong thau nằm trên diệm, thấy nóng thì thay nước, dùng cái gào lá múc đổ xuống khạp riêng, rồi múc nước lạnh thay vô. Rượu ra đầy chai, đổi chay, lấy ra phải sắp nó theo thứ tự chai nhứt, chai nhì, chai ba v.v. Chai rượu nhứt trong như nước mưa, mạnh trên dưới 60 chữ, thơm nồng, Martel cổ cao cổ lùn hổng đổi, Vodka Sakê lớn mồm to miệng cũng thua. Cho tới chai thứ tư thì bắt đầu đục dần.Nếu hỏi một kháp nấu được mấy lít rượu? Xin thưa, trung bình là 5 lít. Nếu nấu bằng gạo thì được 5 lít, hay ít hơn. Còn nếu nấu bằng nếp thì được hơn 5 lít. Mấy chai sau chót, kêu là rượu ngọn, cứ việc lấy cho dư ra để dành nuôi giấm.
4. Pha rượu. Để rượu cho nguội rồi đổ từng chai theo thứ tự 1, 2, 3 vô cái thau nhôm trắng và thiệt sạch. Dùng cái ca mũ khuấy khuấy, múc lên cao rồi đổ xuống. Múc lên đổ xuống nhiều lần. Nổi bọt trắng hếu. Nhìn bọt nhiều ít, quện hay rời, tan mau hay dẽo nhẹo, và coi độ trong đục là biết rượu ngon cỡ nào. Bạn thắc mắc sợ rượu hổng ngon hả? Cứ lấy ngón tay nhúng vô rồi sẹt hộp quẹt đốt thử, ngón tay bạn phát hoả ngay. Nếu thử vậy mà chưa vừa ý thì cứ lấy đồ đo mang theo đo thử. Từ 48 tới 50 độ y như rằng. Mấy bà kinh nghiệm cùng mình đó nghen. Quê tui thường pha rượu mạnh cỡ đó, bỏ mối mới đắc. Nó mạnh như vậy nên dân quê chuyên môn đốt rượu nướng khô mực, khô bò, tôm găm, khô cá khoai...
Riêng mấy bà còn nằm chỗ (ở cữ) thì đổ rượu vô dĩa, đốt lên để xông mặt, môi má bổng đỏ hồng như con gái muốn chồng. Hoặc, ngoài việc hơ bằng muối rang, mấy bà đốt thêm rượu hong khúc hạ bộ, sẽ liền da chắc thịt, xoá mất vết nhăn, trẻ lại chồng khen, khỏi cần đi điều trị vá may.
Phó sản của rượu. Như tui vừa nói, rượu ngọn đem nuôi giấm. Nuôi từ khạp này qua khạp khác. Loại giấm này ngon và tốt hơn giấm tiệm. Nhưng cái chủ ý của việc đặt rượu là lấy hèm nuôi heo. Tiền bán rượu lời rất ít, có khi chỉ huề vốn, phần lời chính là nồi hèm.
Nhà nuôi nhiều heo, trong chuồng ngoài sân đủ loại, ngoài thức ăn chánh là chão cháo thật bự nấu bằng gạo lứt, phải độn thêm chuối cây, cám và hèm nữa thì mới có lời. Nước hèm còn chút hơi nồng và có vị chua, kích thích bao tử ghê đi. Heo con được vài tháng tuổi thì tập cho nó ăn hèm. Khi nó ghiền rồi thì nó uống nước hèm thấy bắt thương. Heo nuôi hèm mau lớn như thổi, mập tròn như bong bóng, nhưng mà mập bọng và nhẹ ký. Ngoài ra hèm còn tẩy ruột heo, sán lãi cũng bị xĩn và trôi mất hết, nên hổng sợ heo bị có gạo.
Hèm! Heo ăn được thì người ăn được hông? Cũng làm láng luôn. Nè. Nước hèm nấu canh chua ngon hết xảy đó nghen. Nó đục ngào, chua lè mà vẫn còn vị ngọt ngọt, cho nên đem nấu cá ngác, trê trắng, lương, lịch thì phải kêu nó là cao lương mỹ vị mới xứng. Mấy thứ này thịt dai, đụng vô hèm nó mau mềm mà vẫn giòn và trở nên ngọt lạ kỳ. Kế tới là cá đuối, cá úc, cá lăng xếp hạng nhì. Còn cá lóc mà chơi với hèm thì kể như thua mềm mình. Đặc biệt dân miệt Cồn có món ba khía tươi nấu canh chua hèm. Khỏi chê, nó ngọt ngay ngọt ngất, vỏ giòn tan, mạnh răng nhai luôn xác mới đã.
Còn món nữa, đàng trong mình ít ai biết, là dùng xác hèm, chớ hông lấy nước, nhứt là hèm nếp than, đem nấu với cá, kêu là nấu bổng. Bạn tui, Bắc kỳ, nấu cho ăn thử. Nó bùi bùi ngót ngót, hổng chua, mà bốc hết kể. Cái món nấu bổng này cũng độc đáo như món bống (da heo sấy) ngoài ấy vậy.
Vài thứ rượu bà con. Các bạn thường nghe nói rượu đậu nành, rượu nếp than, lão tữu...mấy thứ đó đều là con cháu của rượu đế. Đậu nành đem rang cho vàng và thơm rồi xay thành bột to hột, đem gói vô miếng vải mùng, đợi khi lên kháp thì bỏ nó vô bồn tụ rượu. Rượu lên sẽ thấm đậu rang, chảy ra sẽ có màu vàng vàng, thơm phức. Nếu cần để thêm chút đường phèn. Vừa thơm vừa ngót ngót. Uống say chết bỏ. Có vậy thôi mà dám kêu là rượu đậu nành!? Má tui lời no nhờ đồ mắc dịch này.
Còn rượu nếp than thì sao? Nấu một nồi nếp than còn lứt làm cơm da, rồi ủ bằng men cơm rượu ngọt. Sau 3 ngày thì, thay vì chan bằng nước, mà lấy rượu trắng chan vô. Rồi ngâm đó đôi ba ngày hay 1 tuần cũng hổng sao, cơm rượu sẽ bã ra. Muốn xài thì lấy vải mùng lược lấy nước, chớ hổng có cái vụ cất hay nấu. Chất nước hổn hợp này đục ngừ và tím ngắt, vị nồng nồng ngọt ngay. Đó là rượu nếp than! Uống say hết ngồi dậy. Tuỳ lương tâm, người ta pha chất nếp than nhiều ít, thêm đường hay nước lạnh vô hay không.
Còn rượu lão tữu là rượu bổ, dành cho ông già bà cả và người mới sanh. Cách làm giống như rượu nếp than nhưng có thêm thang thuốc bắc bỏ chung vô ngâm. Chan rượu loại ngon vô rồi hạ thổ chừng vài tháng, càng củ hơn càng tốt. Hồi nhỏ tui ăn cắp uống hoài nhưng có lẻ vì chưa tới tuổi biết bổ, hay chưa có chỗ để bổ, nên chỉ nghe nó ngọt dịu như rượu con mèo tây cổ ẹo. Nói nhỏ nghe, má tui nhờ uống lão tữu dài dài nên sanh 13 đứa con mà vẫn còn khỏe như gái xuân.
Còn món rượu thuốc? Vị nào mà muốn cường dương bổ gân bổ cốt, muốn ngâm toa thuốc Minh Mạng hay ngâm rắn, rết, cắc kè, sâm nhung, hải mã, xuyên đỗ trọng, cao xương cọp, vân vân, thì tui bày cho, cứ vô giồng vô sóc mà mua rượu chính gốc loại chai nhứt hay chai nhì đem vìa ngâm cho đáng đồng tiền bát gạo, đừng mua rượu chợ.
Tới đây hai tui xin dứt vụ này. Xin kể tiếp món cốm dẹp.
2. COM GIEP. Cái món này nó lạ đối với bà con vùng ngoài, nhưng lại rất là phổ biến ở xứ ruộng, miệt Sóc Trăng và Trà Vinh của mình. Riêng đối với tui, nó là món ruột, vì tui sống ở trong ruột của nó: xứ Miên. Ừa, cốm giẹp là món ăn truyền thống của người Khmer và là đặc sản của Trà Vinh. Vụ này tui cũng rành 6 câu, xin kể sơ sơ cho bà con nghe chơi.
Mùa cốm giẹp. Mỗi năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều...À không, bắt chước trật rồi. Phải nói như vầy mới trúng: Tui sẽ kể cho bạn nghe, hồi đó khi mùa đông vừa chớm, vào những buổi sớm mai, tui đi học trên con đường giồng cát bũn, bên phải là ruộng đồng bao la, bên trái là hàng rào tre xanh ngắt. Chân trần dậm cát lụp bụp mà mắt lo nhìn quanh quất đâu đâu. Khí trời mát rượi, cây cỏ nằm im, Những giọt sương trong veo còn ôm cái đuôi nhọn của muôn ngàn hoa lá. Hàng tre cúi đầu gật gù say ngủ, dưới gốc, dây bìm bìm giăng kín như đấp mền, điểm đầy bông tím, từng khúm rải rác, lan xa. Đối lại, bên kia đường là ruộng đồng đầy ắp lúa chín, thoang thoảng hương thơm, cũng đang còn ngủ, hột lúa cũng ngậm sương. Ở đây làm lúa mùa, loại thân cao, phủ khỏi đầu đám nhỏ chơi cút bắt trong đó, giờ chín thân nặng ngọn oằn. Có lẻ vài cơn gió chướng đầu mùa đã lướt qua, nhè nhẹ vuốt ve, nhẹ thôi, cũng khiến nó ngoan ngoản cùng nhau nằm rạp xuống ngủ, xuôi theo một chiều, gối đầu lên nhau, thấy toàn hột, mà hàng cuối dựa đầu lên bờ, coi thiệt tội nghiệp và dễ thong làm sao. Những mảnh màu vàng, màu nâu đen của nhiều loại lúa khéo trang trí cho tấm thảm mênh mông này. Có nhiều chỗ lõm xuống, gốc rạ trơ lên. Ruộng đã khô nước. Mùa gặt đã bắt đầu. Tháng 10 âm lịch rồi. Và, bấy giờ cũng chính là mùa cốm giẹp.
Cách làm cốm giẹp. Cốm giẹp làm ra từ nếp, nhưng phải là nếp non, hay nếp mới thì mới đúng điệu, chớ dùng nếp củ là trật sách vỡ. Khi nào cần, chạy ra ra đám ruộng vàng gặt vài bó đem vìa, loại nếp vừa già mà chưa chín tới, rồi trải đệm ra, lấy hai chưn đạp từng bó, trẹo qua trẹo lại, giũ lấy hột, đem sẫy sơ bằng cái nia, sẽ có thúng nếp mềm mềm thơm phức. Đem rang làm liền.
Nhưng trước khi vô chuyện giã hay đâm cốm giẹp, xin nhắc sơ qua vìa cái cối. Xưa có bài hát: “Trong đêm trăng, tiếng chày khua, ai hát vang trong đêm trường mênh mang..”. Ông Hoàng thi Thơ giã gạo kiểu đó là giã bằng cái cối vuông, làm bằng khối cây bự, nhưng lùn xịt, cao chưa tới một thước, cọng với cái chày mổ có cái cán tầm vong lụi vô ngang hông, tạo thành hình chữ T, dùng hai tay nắm cán bổ lên bổ xuống như đóng cọc nhà. Thỉnh thoảng gỏ chày nghiêng vô miệng cối cái kinh cho rơi gạo dính, đứng xa nghe cụp-kinh, cụp cụp-kinh, kinh-cụp, đó là tiếng chày khua, hay lắm. Mà cũng mệt lắm.
Thường phải giã chày đôi, cho mau. Kiểu giã này phổ biến ở vùng ngoài và người ta vừa giã vừa hát hò “là-hụ là-khoan, là-hụ là khoan” cho xì hơi bớt mệt. Trà Vinh thì khác. Cũng là cối vuông, hình dáng y chang vậy, nhưng bự hơn, giã lần cả giạ gạo, dùng chân đạp thay tay. Cái chày này bự lắm, nhưng được gắn vô đầu to của cái đòn bẫy làm bằng trọn 1 thân cây lớn gần 1 ôm, dài ba bốn thước, tạo thành hình chữ “L” hay cái ống điếu. Đó là chày đạp, nó được nâng bằng cả cái giàn cây cứng chắc, có lót sàn hai bên bàn đạp để đứng, hai ba người leo lên hổng nhằm nhò gì. Đứng trên sàn cao, chỉ cần 1 người lớn cũng đủ, dùng một chân đạp, chỉ có việc bước lên bước xuống, chày ngóc lên mổ xuống, một cái rột là gạo trắng liền. Đây nó chỉ kêu ình ịch mà hông khua cụp-kinh, cho nên lâu lâu người giã phải ngừng chân nhảy xuống, lấy cây chóng đầu chày cho hỏng lên, để trộn nghẹn, tức là lấy tay moi moi gạo khắn dưới đáy cối lên trộn cho đều và rời ra. Cối này tiện lợi hơn thấy rỏ, già trẻ lớn bé gì đều giã được ráo.
Làm cốm giẹp hổng có xài hai thứ vừa nói. Mà phải dùng cối dọt và chày dọt. Cái cối này được làm bằng thân cây tròn, cao cả thước, khoét cái lỗ rộng từ 2 gang trở lên, cạn sâu tùy thích, hông cối đẽo cho eo eo, đít cối giữ nguyên cái bàn tọa bự để ngồi cho vững. Cái chày cũng bằng cây tròn, bự hơn bắp chân, dài cở thước rưỡi, giữa thì eo thon làm chỗ nắm, hai đầu chờ vờ mum múm, đầu nào dọt cũng đặng.
Nhìn hai người đàn bà Bahnar hay Seđang miền núi, mình ngực trần, đứng đối diện nhau sát cối, cùng dọt chày đôi một cối lúa, dáng điệu nhịp nhàng, phía trước tưng tưng, cái mình ưởn ẹo tới lui, như 2 con hải mã khiêu vũ, tui đã từng nhớ nhà muốn đứt ruột, nhớ bà con tui ở quê đâm cốm giẹp. Nói vậy có nghỉa là cái cối dọt này hông phải của riêng ai, từ Bắc vô Nam, từ đồng lên tới núi, đâu đâu cũng biết xài. Nhưng mà, tui dám cam đoan, nghề đâm cốm dẹp là của riêng quê tui, vùng ruộng giồng Trà Vinh. Cái cối dọt là chánh. Còn phải có thêm nia, thúng, 1 cái vừng và 1 cái sàng.
Một người không thể làm được. Phải cần ít nhứt là 4 người để làm nhiều việc nối tiếp nhau, mà Mỹ kêu là phương pháp Taylor dây chuyền gì đó, thì mới mong làm được nhiều đem bán. Nè hén, 1 người đứng rang nếp, hai người kế đứng giã, và cuối cùng là 1 hay 2 người nữa lo sẫy, sàng và lựa thóc. Phải làm ngoài trời, tốt nhứt là vìa chiều hay đầu hôm, cho mát.
Đổ nếp vô cái mẽ nồi đất bự đang nóng trên bếp, chừng 1,2 lít mỗi lần, rang cho lẹ và đều tay. Khi nghe thấy vài hột bắt đầu nổ lốp bốp thì bưng lên trút vô cối, để đâm ngay. Hột cốâm chuồi nửa vời đó còn nóng hổi xốp xộp. Trong khi người kia tiếp tục rang mẻ kế thì hai người thợ giã phải dọt cho gấp cho nhanh, hông thôi nếp nguội sẽ bị cứng, giòn, mất dẽo, khó đâm. Mấy chày đầu nghe xột xột vì còn xốp. Rồi chuyển qua bụp bụp, cụp cụp, liên hồi. Đặc biệt là cốm dẹp dễ bị nghẹn, dễ bị dính nhau. Cho nên 1 trong hai người, tay này thì đâm, tay kia thì cầm cái đũa bếp tre dài cả thước nạy lia nạy lịa để chống mắc nghẹn. Tiếng nạy chen giữa tiếng chày dộng, rất ăn nhịp, tạo nên âm thanh ngồ ngộ: bụp, cà-xẹt, bụp, cà-xẹt, bụp... Hông biết tụi Tây có thấy vụ này hông mà họ chế ra nhịp disco nghe y chang. Giã xong cối, đổ cốm xuống nia, chuyển qua khâu thứ 3, để sàng sẫy cho sạch trấu, bóp rời hột dính, rồi vừng để bắt cốm lép.
Nếu làm vào mùa gặt, dùng được nếp non, hột cốm có xanh lợt hổng đều, nhưng đó mới chính là loại cốm ngon, nó dẽo mềm và thơm phức, để lâu hổng thiêu hổng hư. Còn nếu làm trái mùa, dùng nếp già khô, thì phải ngâm trước nhiều giờ cho nếp mềm trước khi rang, nhưng nó cho ra loại cốm màu trắng ngà đều trân, mà lại giòn và lạt xèo. Dân buôn vì mưu câu lợi nhuận thường bỏ màu, nhuộm xanh, biến cốm thành màu cỏ non xanh tận chân trời, coi thấy phát ghê. Ai mà khùng mới mua loại này.
Sau đây nói vìa cách ăn cốm giẹp. Cách ăn cốm giẹp thì nói hổng hết. Tui xin phân loại làm 2 cách: Cách thứ nhứt theo nghi thức lễ ăn ót của đồng bào tui, người Khmer, và 1 loại khác phàm phu tực tử của người An Nam mình.
Lể Ok ombok của đồng bào Khmer. Mùa cốm giẹp chính là mùa ót-ombok. Mình kêu gọn là mùa ăn ót. Chỉ ở Sóc Trăng và Trà Vinh mới có. Cốm giẹp (tiếng Miên kêu là Ombôk) là món lễ vật chính, như kiểu bánh chưng bánh dày của con cháu Hùng Vương. Hằng năm, sau khi xong mùa màng (xứ mình chỉ làm ruộng 1 mùa, tháng 9 tháng 10 là chín hết), đồng bào Khmer tổ chức nhiều lễ lộc, kể từ tháng 9 ta trở đi, nào là He ca thinh, Đuônn Ta rồi tới ót-ombok*.
Lễ ăn ót tổ chức đúng ngày rằm tháng mười. Mục đích là tạ ơn trời đất, giúp mưa thuận gió hòa, được mùa no ấm, cùng thần thánh đã phò hộ cho mạnh giỏi bình an, và cùng lúc cầu xin được phò hộ tiếp cho mùa tới. Sau lễ ăn ót, đồng bào tui còn thả thững lên trời cũng với điều cầu nguyện tương tự như trên. Hầu hết mỗi nhà tự đâm cốm giẹp để cúng. Nhiều nhà ở chung vuông thì gom lại cúng chung cho xôm tụ. Chuẩn bị xong, đợi trăng lên khỏi ngọn tre, gia đình đặt bàn thờ giữa sân, sân rất rộng và sạch vì đã được dọn dẹp để làm bãi đạp lúa, trên bàn có nhang đèn, cốm giẹp trộn dừa, trái cây, dừa xiêm, bình bông, nước mía ép v.v. và cây mấy mía tươi lá cong cong để trang trí. Ít có ai cúng bánh, vì đây từa tựa như cúng ông thiên. Phía sau có trải tấm đêm bự. Ông Dượng tui, người Khmer chánh hiệu, sau khi cúng vái rất lâu, lẩm bẩm bằng tiếng Miên mà tui chưa hiểu nổi, rồi mới kêu gia đình con cháu đứng hay quỳ xuống sau bàn thờ, nhắm hướng mặt trăng mà lạy.
Sau cùng là cái mục ót. Cái muc ót nay có phải dành ưu tiên hay bắt buộc cho con nít? Trong khi người lớn được miễn, chỉ đứng coi. Còn tụi nhỏ như tui, dù đang chạy giỡn vòng vòng, đều bị kêu lại, bắt quỳ gối xuống, ngước mặt lên, hả họng ra cho bự, rồi thì được một bụm cốm trút vô miệng, đầy cứng. Trời đất. Mắc nghẹn chết. Nhưng được cưng mới cho ăn nhiều như vậy. Aên nhiều được phước nhiều. Như ăn bánh thánh trong nhà thờ? Đằng kia chỉ le cái lưỡi ra nhận mình Thánh, chút nị. Đằng này phải ngốm phùng mang!? Phải nghiêm trang nhận lấy, phải lấy tay bụm lại rồi nhai chậm chậm, nuốt vô từ từ. Tinh hoa phước lộc trời cho mà. Tiếng ót, phát âm Khmer cho thật trúng là ook, có nghỉa là ăn một dốc đầy miệng, như Hai tui vừa được ăn. Đó là nghi thức. Chỉ cần một ót như vậy là đủ lễ. Rồi sau đó muốn ăn kiểu nào thì ăn.
Cốm dẹp mới, trộn dừa rám nạo, ủ nước mía mềm mịn, ngon hết biết. Hoặc chan nước mía vô làm chè, kiểu ăn corn flake sữa tươi, cũng hấp dẫn chưa từng. Còn nước mía! Bà Dì năm của tui dùng cái máy ép giống cái khuôn bàn bào thợ mộc, rồi bỏ từng lóng mía ngắn như khúc mía ghim vô, lấy miếng đòn bẫy giẹp như lưỡi bào, nạy nạy, nước mía chảy xuống diệm ro ro, mặc sức uống. Mùa trăng mùa gặt tháng mười và Ok-ombok là vậy đó bạn ạ. Nhắc lại mà thèm mà nhớ. Hồn ở đâu bây giờ?
Còn cách ăn cốm giẹp của người Việt thì nói ra chắc sẽ thừa. Tùy khẩu vị, biến chế ra đủ thứ. Đây tui chỉ dám khoe mấy điều. Trước hết là bà nhạc của tui chuyên nghề bánh tét, bánh ú, bánh dừa, một thời vang bóng, mà trong đó hổng thiếu món bánh tét cốm giẹp. Bánh tét cốm giẹp nhưng đậu xanh! Tui dám dứt 1 lần 2 xâu, tức 1 chục cái, tỉnh bơ. Đặc sản Trà Vinh đó bà con.
Rồi tới chuyện bà chị dâu vợ bất hủ nữa. Có đồng hương TV đã nhắc tới tiếng rao hàng ngày xưa mà đành quên mất tiếng rao của chị vợ tui. Xin nhắc lại. “Ai ăn đậu đen nấu đư.ư ừ ờ.ờng hôn” Tiếng “đường” vang lên cao tới ngọn cây dầu lớn. Chè đâu đen mà rao kiểu vậy nghe mới đã. Đó là về ban đêm. Lúc đó chưa làm em chị, ngồi học bài mà nghe chị rao thì tỉnh ngủ, và còn sửa lại “ Ai...em giữa đường” gì đó, rồi xúm nhau cười như quỷ xứ. Nhưng mà chưa bằng cái câu rao sau đây, vìa cốm giẹp, bán ban ngày, thường vào xế trưa, như vầy nè: Ai ăn chuối- chưng- chuối- xào- dừa- sa- kê- cốm- giẹp- trộn- dừa đường ca.a.at.át hôôôn. Nghe đã quá xá đã. Tiếng rao dài nhằng, cao vút, trong veo, ngọt còn hơn đường phèn nữa chứ đừng nói đường cát.
Cốm giẹp, dù đã trộn dừa nạo, ướp nước dừa tươi, trộn đường cát, đã “cực kỳ” ngon rồi, mà lại chan nước chuối chưng nước cốt dừa vô nữa, thì ây dôi, mèn ơi, chu choa...ăn thử một lần sẽ nhớ luôn mấy kiếp. Đó có lẻ là món độc chiêu của bà chị nghèo nàn, ngày lẩn đêm vất vả buôn gánh bán bưng, một trong những người chị của đất Trà Vinh thân yêu xa lắc. Rồi còn cái trái sa kê nữa. Sa kê trộn dừa. Ôi! Càng nhắc lại càng cách chi rựa.
Tản mạn vìa cốm giẹp. Sau cùng, xin phép bà con cho tui nói thêm chút xíu. Là hổng biết làm sao mà nghề cốm giẹp lại bùng nổ sau 75, nhứt là đầu vào thập niên 80. Gạo hông có đủ để ăn mà cốm dẹp bán đầy trời, xuất tỉnh lan đi khắp nước. Chở hơn 5, 10 kí là bị tịch thu, nhưng cốm giẹp lại lọt khe. Có lẻ bà con mua cốm giẹp ăn trừ cơm. Hay chính nó đã trỡ thành món ăn quý hiếm giàu chất lượng dinh dưỡng đối với những “dân tộc tiến bộ” nào đó. Còn bọn vượt biên phản quốc thì mua cốm giẹp làm lương khô, lềnh bềnh trên biển cả 2 tháng vẫn chưa hư. Tui hổng tìm ra câu kết.
Riêng phần cá nhân tui, nhờ cái đà đó, cũng đã kiếm ăn được chút chút. Số là sau khi đậu tiến sỹ sơn lâm, vìa nhà bị coi như người cùi sứt móng, ít ai dám lại gần. Và giữa cái thời XHCN tiến nhanh tiến mạnh lên đỉnh cao bo bo đó, tui cũng thành vô sản chiên giòn, hổng còn gì ráo ngoài quần xà loỏn và một cái áo ka ki công nhân viên củ kỷ do thằng em cho. Tui bèn mượn chiếc xe đạp đầm và cái quần dài của thằng em vợ, đi buôn trong sóc. Ngày đạp cả trăm cây số trên những nẽo đường làng tồi tệ. Tui cỡi xe, rồi xe cỡi tui.
Bán bột ngọt, thuốc hút, trà, kim chỉ, nước tương v. v., bận vìa thì lén giấu vài kí gạo, đi luồn đường trong. Đem vìa nuôi con. Có lần ghé nhà em tui dưới quê, tui nghe tiếng đâm cốm giẹp rân trời. Hỏi ra, toàn là bà con tui, họ đang làm để bán. Tui bèn mua chịu, hôm sau xuống trả, chở bằng xe đạp lên tỉnh bỏ mối. Lần đầu chở 2 giạ. Ngon hơ. Lần 2 cố chở 3 giạ, đường quá xấu, xe đạp gẫy, đem lại ông ba Chập-lác, ba của anh Phước và Lộc, ở đường số 3 hàn lại, đi tiếp. Xe lại bị gẫy trở lại. Đành hàn sơ trả cho chủ, cắn môi mắc cở. May trong nhà còn cái sườn xe hiệu anh-sông (alcon) củ từ thời Bảo Đại treo trên giàn khói. Lấy xuống lau chùi sơ, kiếm 2 cái bánh ráp vô, hông thắng, hông vè, vừa chạy vừa la vô vô, đi làm ăn tiếp. Lại bị gẫy nữa. Hai chiếc xe đạp tội nghiệp, bắt nó chịu khổ hơn tui sao đặng. Cái quần dài thì bị rách đáy, làm sao mà trả, giựt luôn. Thằng em vợ cười thông cảm.
Cốm giẹp! Ôi cốm giẹp. Tưởng nó giúp tui, hông dè nó làm tui choáng váng. Bây giờ, tui chỉ dám nhớ thương ok-ombôk mà thôi.
Tôi vừa kể cho bà con cô bác nghe chơi về 2 loại đặc sản làm từ lúa gạo, nét độc đáo của đồng quê Trà Vinh. Chuyện đồng quê kể biết cho tới chừng nào mới hết. Thôi, tới đây thì: “Tình quê góp nhặt đã dài“ Mua vui cũng đặng một vài.. phút giây.“Hẹn quang năm cũng mùa này... Giờ thì xin kiếu, chia tay... cũng vừa. /.
Hai Quẹo Tuyết Lê, Bính Tuất niên, 2006.
Cước chú:
(*) Bài cổ nhạc Nam phần, không có lời, thường dùng để đờn bái tổ, mở đầu tuồng hát cải lương, gọi là bài Tam pháp nhập môn. Trẻ con còn đặt thêm lời để giỡn như sau:
Chị này là chị đưa đò.
Chị này là chị có con.
Có con chị có con chị đò.v.v.
Xự hò xề xự xang hò..gì đó.
(*) He ca thanh, hay He Takhanh cũng vậy, là lể làm phước và dâng bông, cúng dường cho chùa. Sau mấy ngày dựng rạp tiệc tùng cho chòm xóm ăn free tại nhà, là dâng bông. Những cây bông đội trên đầu những cô thiếu nữ lủng lẳng đơm đầy vàng bạc, để dâng đi. Họ nối đuôi từng đoàn sau giàn trống nhạc ngủ âm khlên-xiêm tùng tung lên chùa lể bái. Còn Đuônn Tà là lể tạ ông bà, tổ tiên. Chi-Đuônn là Bà, Chi-Ta là Ông.
(*) Bao bố tời. Là bao đong lúa, bằng bố, ngoài kia kêu là bao tải bằng đay. Còn kêu là bao chỉ xanh hay bao tạ, vì nó có hiệu in màu xanh, có thể chứa 3gịa3 lúa, khoảng 100kí, hay chứa gạo, lưng bao, cũng vừa đủ 100k.
(*) Khạp da bò. Khạp trán men màu vàng da bò, chứa được 2 đôi nước, đôi 40lít X 2= 80 lít. Khạp đường= 1 đôi 40lit. /
Tạp ghi của Hai Quẹo
Kính thưa bà con cô bác, qua mấy lần nghe tui kể chuyện, quí vị cũng dư biết tui là dân nhà quê chính hiệu, chuyên kể chuyện đồng quê. Vậy thì năm nay tui xin kể tiếp thêm hai chuyện nữa. Trước tiên, xin nói vìa rượu đế.
1. RƯỢU ĐẾ. Má tui làm nghề đặt rượu nuôi heo. Tui hay hụ hợ phụ má làm mấy chuyện đó, cho nên tui mới dám cả gan mà kể ra đây. Thấy sao nói vậy, làm gì kể nấy, chớ hổng đặt chuyện như nhà văn nhà báo. Có điều là mỗi địa phương có cách làm rượu hơi khác nhau, cho nên trúng trật gì thì xin bà con cho qua. Chỉ cầu vui. Nhớ hồi lâu lắm, có bản cổ nhạc Nam Phần bị nhái giọng đặt lời bằng mấy câu như vầy:
Rượu này là thiệt rượu rừng,
Bận này là bận thứ ba,
Uống cho đúng điệu nó ngon lạ kỳ.
Giờ uống tối nay khỏi uống.
Làm biếng uống rươu đặng đâu.
Mấy cha uống rượu là con Ngọc Hoàng
(*) Con Ngọc Hoàng? Tức là vua, là hoàng đế. Rượu hoàng đế uống là rượu đế? Tui chịu bí, hổng biết tiếng đế ở đâu ra. Xin nhờ quí thầy chỉ dùm.
Nhưng rượu trắng, rượu rừng, ba si đế, sản phẩm của lúa gạo, tuy ba mà một. Cứ kêu rượu đế cho nó gọn. Có người lại phân biệt rượu đế là rượu nếp, còn rượu trắng là rượu gạo?.Còn nếu làm bằng bo bo, hột kê, mật đường, khoai, bắp... thì hổng biết kêu là rượu gì? Và trong một đất nước chuyên vìa nông nghiệp, rượu đế là thứ quốc hồn quốc tuý. Cách uống rượu của mình cũng có vẻ cầu kỳ hết biết. Cùng là rượu, nhưng khi thì được coi là thức uống thiêng liêng, của tiên thánh trên trời trên núi; khi thì thành lễ vật tiệc tùng cưới hỏi; khi thì bị xem là chất ô uế gắn liền với dân say xỉn bên quán cốc lề đường. Từ cúng rượu, dâng rượu, thưởng rượu, rồi đi xuống tới nhậu, nhâm nhi, lai rai, đưa cay, khề khà, làm ba sợi, nhấp, hớp, nốc, vô, v.v. Ôi thôi có tới mấy chục thứ bậc và giai cấp rập khuôn theo xã hội Đại Cồ Việt ta.
Bởi vậy có khi nó cũng trở thành quốc nạn, nhứt là sau 75, cách uống rượu bị xuống cấp. Ở dưới quê thất nghiệp, buồn quá, người ta uống rượu giải sầu, giải riết bị bịnh chết cả đống. Còn nói vìa cách làm rượu thì cũng có nhiều cách gọi: nấu rượu, cất rượu, kháp rượu, đặt rượu. Và lò rượu cũng có nhiều tầm cỡ mà đây chỉ nói vìa cách nấu đơn giản trong gia đình thôi. Dù là nghề mọn, việc kháp rượu và làm muối ngày xưa đã bị hạn chế theo chính sách thuế khóa của Tây, nên bà con phải nấu lén trong buội trong rừng, tiếng rượu rừng nẩy ra từ đó.
Tới thời Ông Diệm, bà con mình nấu rượu nếp thả giàn. Cách đặt rượu. Ai cũng làm được, quê mùa dốt nát, hổng cần biết chữ quốc ngữ hay tiếng tây tiếng u gì cũng đều làm được ráo. Ở dưới quê tui, có thể nói là: nhà nhà kháp rượu. Và, người người uống rượu!
Có 3 bước chánh để làm một kháp rượu, đó là: nấu cơm da, ủ rượu và kháp.
1. Nấu cơm da. Cơm nếp lứt hay cơm gạo lứt dùng để ủ men làm rượu gọi là cơm da. Nấu nó bằng cái trã, ít ai nấu bằng nồi đồng. Trã là cái nồi đất thật bự. Hổng có ranh giới giữa nồi và trã. Nhưng coi kỹ thì hể cái nồi nào dày, có cổ lùn, miệng rộng và chứa từ 20 lít trở lên thì cứ việc kêu là trã. Đong 10 lít nếp lứt, hay gạo lứt, đem vo sạch, rồi nấu thành cơm. Nấu sao cho nó thiệt chín, nở hột và khô ráo. Phải đạt đủ 3 yêu-cầu đó thì rượu mới trúng. Nhà tui chuyên làm rượu bằng nếp. Cơm chín, xới ra, trải mỏng trên nia cho nguội. Chỉ lấy cơm rời, còn cơm cháy đem nấu mềm cho heo ăn. Cơm cháy nếp ngon dữ lắm. Cho nên hể khi nào nghe cạo trã rột rột là mấy đứa con nít như tui liền chạy vô bợ một giề đem ra chia nhau nhai rôm rốp, thơm phức giòn rụm, ăn phát ngây. Nó ngọt ngọt, béo béo, mềm và xốp hơn cơm cháy nếp trắng. Thoa thêm muối mỡ hành thì ăn quên thôi. Cơm da lúc nào cũng phải nấu cho thiệt khéo, cho nên loại cơm cháy của nó phải nói là ngon muôn năm.
2. Ủ rượu. Tức là vô men. Mua loại men rượu người ta mần sẳn bán ở tiệm, hay lựa chỗ quen mà mua, viên nó tròn và dẹp dẹp, mỏng hơn nửa trái chanh cắt. Họ sẽ chỉ mình phải xài bao nhiêu viên một lít nếp. Mấy thợ làm men giấu nghề dữ lắm. Men Bắc Trang, Tập Sơn, Đầu Bờ nổi tiếng trong tỉnh mình. Bỏ men vô cái gáo dừa bự, giã cho nhuyển như bột. Rờ thử cơm nếp, thấy còm âm ấm thì trộn men vô được. Trộn đảo cho kỹ, khi nào nó áo men đều rồi tuôn nó vô khạp da bò* để ủ. Nhà kháp rượu thường sắm rất nhiều khạp để dùng thêm trong việc như chứa nước, chứa hèm, cháo heo.
Cơm ủ rồi phải ém vừa vừa tay cho nó dẽ, sau đó khoét cái lỗ ngay chính giữa sâu tới đáy khạp, để sau này khi thăm chừng mình sẽ thấy nước rượu tươm ra và dâng lên tới đâu. Đậy khạp lại bằng cái bao bố tời* để cho nó có lỗ thở. Đặt rượu phải canh thời tiết, lựa ngày nấu cơm, chọn ngày mà kháp. Trời giông hay mưa nhiều ẩm lạnh, cơm ủ thì khó dậy, rượu kháp bị thất.
Chỗ để hàng khạp, cũng như nơi đặt ông lò để nấu phải sạch sẽ, kín gió, hổng ướt, hông khô. Bà con mình cũng đã từng kinh ngiệm về sinh môi chớ bộ. Thời gian ủ rượu phải từ 3 ngày đổ lên. Sau 2 đêm đầu, thăm thử thì sẽ thấy hơi ấm tỏa ra. Sau đêm thứ 3 thì phải chan nước rượu. Lấy một thùng nước ngọt (nước giếng) và sạch đổ vô cơm rượu, gọi là chan. Để đó thêm một đêm nữa mới đem nấu. Thường thường nấu cơm da vào buổi trưa, rồi bắt đầu kháp rượu vào giác sáng. Vậy, bấm ngón tay tính thử, thấy phải mất hết thảy là 4 ngày 4 đêm, mới có rượu uống. Nấu sớm hơn sẽ mất rượu, nhưng vì thời tiết xấu mà kháp trể 1, 2 ngày thì hổng sao. Khi thời tiết tốt, có thể nấu ngày 2 kháp.
3. Lên kháp. Cái ông lò kháp rượu có hình cong tròn như móng ngựa được đắp bằng đất thịt, đất sét móc ở trước ruộng. Bùn mà nhồi với trấu hay bui bui, làm ông táo, nó chắc hổng thua xi măng. Bộ đồ nghề cũng giản dị, ai cũng làm được. Trước hết là cái trã mẹ để nấu, bự cở 40 lít trở lên. Kế đó là cái trã con, dùng làm cái nắp đậy, úp ngược xuống, miệng con lọt lòng và nằm trong miệng mẹ, coi nó giông giống hình số 8. Trên đỉnh số 8, có khét cái lỗ tròn cở ngón tay để hơi rượu chui lên. Rồi tới cái ống dẫn hơi, làm bằng ngọn tre già, lớn hơn cùm tay một chút, nối liền nồi rượu với bồn tụ hơi. (Ống này làm bằng tre thì tốt hơn ống bằng nhôm). Bồn tụ, làm bằng cái diệm sành có trán men, miệng bự cỡ 2 gang, đặt cao hơn nồi nấu, trên cái kệ giống như ghế đai cao cẳng. Miệng diệm được đậy kín bằng cái thau nhôm lật ngữa, để chứa nước lạnh. Gặp hơi lạnh của thau nước, hơi biến thành rượu. Làm sao lấy rượu ra? Cần thêm một ống trúc con nữa. Nó chỉ có chút nị, nhỏ bằng ngón tay và dài một gang thôi, mà nếu hông có nó thì hổng thua gì bị bí đái. Đó là cái ống nhỏ giọt, đầu trên gắn meo một bên vô lỗ con dưới đít diệm, đầu dưới thòng xuống, chót ống được vót nhọn hình ngòi viết để tóm rượu lại thành sợi. Khi rượu ra thì hứng nó bằng chai lít, loại trắng trong, để có thể thấy biết chính xác màu rượu. Đó là toàn bộ hệ thống giàn kháp. Còn mấy chỗ ráp nối thì làm sao cho nó kín hơi? Phải trám lại bằng một loại khằn tự chế. Dùng xác hèm nhồi với cám chừng một hồi thì nó sẽ thành thứ hồ chắc như đất sét, trám mấy kẻ hở lại. Càng khô nó càng chắc, hổng nứt hổng xì bất tử.
Rồi thì tới cái mục sẽ cột giò chủ nhà suốt 4, 5 tiếng đồng hồ. Đó là mục nấu, hay cất. Nhưng thấy vậy mà hông phải vậy. Mới đầu cứ việc đốt lữa lớn cho mau sôi. Khi rượu sắp sôi thì bớt củi từ từ. Khi rượu bắt đầu nhỏ giọt thì bớt lửa tối đa. Giữ lửa sao cho rượu đều giọt là có thể bỏ đó cho ông lò giữ dùm để đi làm việc khác. Năm mười phút quay lại thăm chừng một lần. Khỏe re. Hay dở là ở cách cách chụm củi. Phải dùng củi khúc, chắc, lâu tàn, nhiều than. Chỉ cần 2 gốc tre khô là đủ nồi kháp. Y chang kiểu nấu cháo heo hay hầm nồi bánh tét Tết.
Kỵ nhứt là chụm lửa lớn, vì rượu sẽ bị hôi khét; mất ngon. Điều chỉnh lửa sao cho rượu nhỏ giọt thiệt nhặt, hay sợi thiệt nhỏ, đứt khoảng. Thăm chừng nước trong thau nằm trên diệm, thấy nóng thì thay nước, dùng cái gào lá múc đổ xuống khạp riêng, rồi múc nước lạnh thay vô. Rượu ra đầy chai, đổi chay, lấy ra phải sắp nó theo thứ tự chai nhứt, chai nhì, chai ba v.v. Chai rượu nhứt trong như nước mưa, mạnh trên dưới 60 chữ, thơm nồng, Martel cổ cao cổ lùn hổng đổi, Vodka Sakê lớn mồm to miệng cũng thua. Cho tới chai thứ tư thì bắt đầu đục dần.Nếu hỏi một kháp nấu được mấy lít rượu? Xin thưa, trung bình là 5 lít. Nếu nấu bằng gạo thì được 5 lít, hay ít hơn. Còn nếu nấu bằng nếp thì được hơn 5 lít. Mấy chai sau chót, kêu là rượu ngọn, cứ việc lấy cho dư ra để dành nuôi giấm.
4. Pha rượu. Để rượu cho nguội rồi đổ từng chai theo thứ tự 1, 2, 3 vô cái thau nhôm trắng và thiệt sạch. Dùng cái ca mũ khuấy khuấy, múc lên cao rồi đổ xuống. Múc lên đổ xuống nhiều lần. Nổi bọt trắng hếu. Nhìn bọt nhiều ít, quện hay rời, tan mau hay dẽo nhẹo, và coi độ trong đục là biết rượu ngon cỡ nào. Bạn thắc mắc sợ rượu hổng ngon hả? Cứ lấy ngón tay nhúng vô rồi sẹt hộp quẹt đốt thử, ngón tay bạn phát hoả ngay. Nếu thử vậy mà chưa vừa ý thì cứ lấy đồ đo mang theo đo thử. Từ 48 tới 50 độ y như rằng. Mấy bà kinh nghiệm cùng mình đó nghen. Quê tui thường pha rượu mạnh cỡ đó, bỏ mối mới đắc. Nó mạnh như vậy nên dân quê chuyên môn đốt rượu nướng khô mực, khô bò, tôm găm, khô cá khoai...
Riêng mấy bà còn nằm chỗ (ở cữ) thì đổ rượu vô dĩa, đốt lên để xông mặt, môi má bổng đỏ hồng như con gái muốn chồng. Hoặc, ngoài việc hơ bằng muối rang, mấy bà đốt thêm rượu hong khúc hạ bộ, sẽ liền da chắc thịt, xoá mất vết nhăn, trẻ lại chồng khen, khỏi cần đi điều trị vá may.
Phó sản của rượu. Như tui vừa nói, rượu ngọn đem nuôi giấm. Nuôi từ khạp này qua khạp khác. Loại giấm này ngon và tốt hơn giấm tiệm. Nhưng cái chủ ý của việc đặt rượu là lấy hèm nuôi heo. Tiền bán rượu lời rất ít, có khi chỉ huề vốn, phần lời chính là nồi hèm.
Nhà nuôi nhiều heo, trong chuồng ngoài sân đủ loại, ngoài thức ăn chánh là chão cháo thật bự nấu bằng gạo lứt, phải độn thêm chuối cây, cám và hèm nữa thì mới có lời. Nước hèm còn chút hơi nồng và có vị chua, kích thích bao tử ghê đi. Heo con được vài tháng tuổi thì tập cho nó ăn hèm. Khi nó ghiền rồi thì nó uống nước hèm thấy bắt thương. Heo nuôi hèm mau lớn như thổi, mập tròn như bong bóng, nhưng mà mập bọng và nhẹ ký. Ngoài ra hèm còn tẩy ruột heo, sán lãi cũng bị xĩn và trôi mất hết, nên hổng sợ heo bị có gạo.
Hèm! Heo ăn được thì người ăn được hông? Cũng làm láng luôn. Nè. Nước hèm nấu canh chua ngon hết xảy đó nghen. Nó đục ngào, chua lè mà vẫn còn vị ngọt ngọt, cho nên đem nấu cá ngác, trê trắng, lương, lịch thì phải kêu nó là cao lương mỹ vị mới xứng. Mấy thứ này thịt dai, đụng vô hèm nó mau mềm mà vẫn giòn và trở nên ngọt lạ kỳ. Kế tới là cá đuối, cá úc, cá lăng xếp hạng nhì. Còn cá lóc mà chơi với hèm thì kể như thua mềm mình. Đặc biệt dân miệt Cồn có món ba khía tươi nấu canh chua hèm. Khỏi chê, nó ngọt ngay ngọt ngất, vỏ giòn tan, mạnh răng nhai luôn xác mới đã.
Còn món nữa, đàng trong mình ít ai biết, là dùng xác hèm, chớ hông lấy nước, nhứt là hèm nếp than, đem nấu với cá, kêu là nấu bổng. Bạn tui, Bắc kỳ, nấu cho ăn thử. Nó bùi bùi ngót ngót, hổng chua, mà bốc hết kể. Cái món nấu bổng này cũng độc đáo như món bống (da heo sấy) ngoài ấy vậy.
Vài thứ rượu bà con. Các bạn thường nghe nói rượu đậu nành, rượu nếp than, lão tữu...mấy thứ đó đều là con cháu của rượu đế. Đậu nành đem rang cho vàng và thơm rồi xay thành bột to hột, đem gói vô miếng vải mùng, đợi khi lên kháp thì bỏ nó vô bồn tụ rượu. Rượu lên sẽ thấm đậu rang, chảy ra sẽ có màu vàng vàng, thơm phức. Nếu cần để thêm chút đường phèn. Vừa thơm vừa ngót ngót. Uống say chết bỏ. Có vậy thôi mà dám kêu là rượu đậu nành!? Má tui lời no nhờ đồ mắc dịch này.
Còn rượu nếp than thì sao? Nấu một nồi nếp than còn lứt làm cơm da, rồi ủ bằng men cơm rượu ngọt. Sau 3 ngày thì, thay vì chan bằng nước, mà lấy rượu trắng chan vô. Rồi ngâm đó đôi ba ngày hay 1 tuần cũng hổng sao, cơm rượu sẽ bã ra. Muốn xài thì lấy vải mùng lược lấy nước, chớ hổng có cái vụ cất hay nấu. Chất nước hổn hợp này đục ngừ và tím ngắt, vị nồng nồng ngọt ngay. Đó là rượu nếp than! Uống say hết ngồi dậy. Tuỳ lương tâm, người ta pha chất nếp than nhiều ít, thêm đường hay nước lạnh vô hay không.
Còn rượu lão tữu là rượu bổ, dành cho ông già bà cả và người mới sanh. Cách làm giống như rượu nếp than nhưng có thêm thang thuốc bắc bỏ chung vô ngâm. Chan rượu loại ngon vô rồi hạ thổ chừng vài tháng, càng củ hơn càng tốt. Hồi nhỏ tui ăn cắp uống hoài nhưng có lẻ vì chưa tới tuổi biết bổ, hay chưa có chỗ để bổ, nên chỉ nghe nó ngọt dịu như rượu con mèo tây cổ ẹo. Nói nhỏ nghe, má tui nhờ uống lão tữu dài dài nên sanh 13 đứa con mà vẫn còn khỏe như gái xuân.
Còn món rượu thuốc? Vị nào mà muốn cường dương bổ gân bổ cốt, muốn ngâm toa thuốc Minh Mạng hay ngâm rắn, rết, cắc kè, sâm nhung, hải mã, xuyên đỗ trọng, cao xương cọp, vân vân, thì tui bày cho, cứ vô giồng vô sóc mà mua rượu chính gốc loại chai nhứt hay chai nhì đem vìa ngâm cho đáng đồng tiền bát gạo, đừng mua rượu chợ.
Tới đây hai tui xin dứt vụ này. Xin kể tiếp món cốm dẹp.
2. COM GIEP. Cái món này nó lạ đối với bà con vùng ngoài, nhưng lại rất là phổ biến ở xứ ruộng, miệt Sóc Trăng và Trà Vinh của mình. Riêng đối với tui, nó là món ruột, vì tui sống ở trong ruột của nó: xứ Miên. Ừa, cốm giẹp là món ăn truyền thống của người Khmer và là đặc sản của Trà Vinh. Vụ này tui cũng rành 6 câu, xin kể sơ sơ cho bà con nghe chơi.
Mùa cốm giẹp. Mỗi năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều...À không, bắt chước trật rồi. Phải nói như vầy mới trúng: Tui sẽ kể cho bạn nghe, hồi đó khi mùa đông vừa chớm, vào những buổi sớm mai, tui đi học trên con đường giồng cát bũn, bên phải là ruộng đồng bao la, bên trái là hàng rào tre xanh ngắt. Chân trần dậm cát lụp bụp mà mắt lo nhìn quanh quất đâu đâu. Khí trời mát rượi, cây cỏ nằm im, Những giọt sương trong veo còn ôm cái đuôi nhọn của muôn ngàn hoa lá. Hàng tre cúi đầu gật gù say ngủ, dưới gốc, dây bìm bìm giăng kín như đấp mền, điểm đầy bông tím, từng khúm rải rác, lan xa. Đối lại, bên kia đường là ruộng đồng đầy ắp lúa chín, thoang thoảng hương thơm, cũng đang còn ngủ, hột lúa cũng ngậm sương. Ở đây làm lúa mùa, loại thân cao, phủ khỏi đầu đám nhỏ chơi cút bắt trong đó, giờ chín thân nặng ngọn oằn. Có lẻ vài cơn gió chướng đầu mùa đã lướt qua, nhè nhẹ vuốt ve, nhẹ thôi, cũng khiến nó ngoan ngoản cùng nhau nằm rạp xuống ngủ, xuôi theo một chiều, gối đầu lên nhau, thấy toàn hột, mà hàng cuối dựa đầu lên bờ, coi thiệt tội nghiệp và dễ thong làm sao. Những mảnh màu vàng, màu nâu đen của nhiều loại lúa khéo trang trí cho tấm thảm mênh mông này. Có nhiều chỗ lõm xuống, gốc rạ trơ lên. Ruộng đã khô nước. Mùa gặt đã bắt đầu. Tháng 10 âm lịch rồi. Và, bấy giờ cũng chính là mùa cốm giẹp.
Cách làm cốm giẹp. Cốm giẹp làm ra từ nếp, nhưng phải là nếp non, hay nếp mới thì mới đúng điệu, chớ dùng nếp củ là trật sách vỡ. Khi nào cần, chạy ra ra đám ruộng vàng gặt vài bó đem vìa, loại nếp vừa già mà chưa chín tới, rồi trải đệm ra, lấy hai chưn đạp từng bó, trẹo qua trẹo lại, giũ lấy hột, đem sẫy sơ bằng cái nia, sẽ có thúng nếp mềm mềm thơm phức. Đem rang làm liền.
Nhưng trước khi vô chuyện giã hay đâm cốm giẹp, xin nhắc sơ qua vìa cái cối. Xưa có bài hát: “Trong đêm trăng, tiếng chày khua, ai hát vang trong đêm trường mênh mang..”. Ông Hoàng thi Thơ giã gạo kiểu đó là giã bằng cái cối vuông, làm bằng khối cây bự, nhưng lùn xịt, cao chưa tới một thước, cọng với cái chày mổ có cái cán tầm vong lụi vô ngang hông, tạo thành hình chữ T, dùng hai tay nắm cán bổ lên bổ xuống như đóng cọc nhà. Thỉnh thoảng gỏ chày nghiêng vô miệng cối cái kinh cho rơi gạo dính, đứng xa nghe cụp-kinh, cụp cụp-kinh, kinh-cụp, đó là tiếng chày khua, hay lắm. Mà cũng mệt lắm.
Thường phải giã chày đôi, cho mau. Kiểu giã này phổ biến ở vùng ngoài và người ta vừa giã vừa hát hò “là-hụ là-khoan, là-hụ là khoan” cho xì hơi bớt mệt. Trà Vinh thì khác. Cũng là cối vuông, hình dáng y chang vậy, nhưng bự hơn, giã lần cả giạ gạo, dùng chân đạp thay tay. Cái chày này bự lắm, nhưng được gắn vô đầu to của cái đòn bẫy làm bằng trọn 1 thân cây lớn gần 1 ôm, dài ba bốn thước, tạo thành hình chữ “L” hay cái ống điếu. Đó là chày đạp, nó được nâng bằng cả cái giàn cây cứng chắc, có lót sàn hai bên bàn đạp để đứng, hai ba người leo lên hổng nhằm nhò gì. Đứng trên sàn cao, chỉ cần 1 người lớn cũng đủ, dùng một chân đạp, chỉ có việc bước lên bước xuống, chày ngóc lên mổ xuống, một cái rột là gạo trắng liền. Đây nó chỉ kêu ình ịch mà hông khua cụp-kinh, cho nên lâu lâu người giã phải ngừng chân nhảy xuống, lấy cây chóng đầu chày cho hỏng lên, để trộn nghẹn, tức là lấy tay moi moi gạo khắn dưới đáy cối lên trộn cho đều và rời ra. Cối này tiện lợi hơn thấy rỏ, già trẻ lớn bé gì đều giã được ráo.
Làm cốm giẹp hổng có xài hai thứ vừa nói. Mà phải dùng cối dọt và chày dọt. Cái cối này được làm bằng thân cây tròn, cao cả thước, khoét cái lỗ rộng từ 2 gang trở lên, cạn sâu tùy thích, hông cối đẽo cho eo eo, đít cối giữ nguyên cái bàn tọa bự để ngồi cho vững. Cái chày cũng bằng cây tròn, bự hơn bắp chân, dài cở thước rưỡi, giữa thì eo thon làm chỗ nắm, hai đầu chờ vờ mum múm, đầu nào dọt cũng đặng.
Nhìn hai người đàn bà Bahnar hay Seđang miền núi, mình ngực trần, đứng đối diện nhau sát cối, cùng dọt chày đôi một cối lúa, dáng điệu nhịp nhàng, phía trước tưng tưng, cái mình ưởn ẹo tới lui, như 2 con hải mã khiêu vũ, tui đã từng nhớ nhà muốn đứt ruột, nhớ bà con tui ở quê đâm cốm giẹp. Nói vậy có nghỉa là cái cối dọt này hông phải của riêng ai, từ Bắc vô Nam, từ đồng lên tới núi, đâu đâu cũng biết xài. Nhưng mà, tui dám cam đoan, nghề đâm cốm dẹp là của riêng quê tui, vùng ruộng giồng Trà Vinh. Cái cối dọt là chánh. Còn phải có thêm nia, thúng, 1 cái vừng và 1 cái sàng.
Một người không thể làm được. Phải cần ít nhứt là 4 người để làm nhiều việc nối tiếp nhau, mà Mỹ kêu là phương pháp Taylor dây chuyền gì đó, thì mới mong làm được nhiều đem bán. Nè hén, 1 người đứng rang nếp, hai người kế đứng giã, và cuối cùng là 1 hay 2 người nữa lo sẫy, sàng và lựa thóc. Phải làm ngoài trời, tốt nhứt là vìa chiều hay đầu hôm, cho mát.
Đổ nếp vô cái mẽ nồi đất bự đang nóng trên bếp, chừng 1,2 lít mỗi lần, rang cho lẹ và đều tay. Khi nghe thấy vài hột bắt đầu nổ lốp bốp thì bưng lên trút vô cối, để đâm ngay. Hột cốâm chuồi nửa vời đó còn nóng hổi xốp xộp. Trong khi người kia tiếp tục rang mẻ kế thì hai người thợ giã phải dọt cho gấp cho nhanh, hông thôi nếp nguội sẽ bị cứng, giòn, mất dẽo, khó đâm. Mấy chày đầu nghe xột xột vì còn xốp. Rồi chuyển qua bụp bụp, cụp cụp, liên hồi. Đặc biệt là cốm dẹp dễ bị nghẹn, dễ bị dính nhau. Cho nên 1 trong hai người, tay này thì đâm, tay kia thì cầm cái đũa bếp tre dài cả thước nạy lia nạy lịa để chống mắc nghẹn. Tiếng nạy chen giữa tiếng chày dộng, rất ăn nhịp, tạo nên âm thanh ngồ ngộ: bụp, cà-xẹt, bụp, cà-xẹt, bụp... Hông biết tụi Tây có thấy vụ này hông mà họ chế ra nhịp disco nghe y chang. Giã xong cối, đổ cốm xuống nia, chuyển qua khâu thứ 3, để sàng sẫy cho sạch trấu, bóp rời hột dính, rồi vừng để bắt cốm lép.
Nếu làm vào mùa gặt, dùng được nếp non, hột cốm có xanh lợt hổng đều, nhưng đó mới chính là loại cốm ngon, nó dẽo mềm và thơm phức, để lâu hổng thiêu hổng hư. Còn nếu làm trái mùa, dùng nếp già khô, thì phải ngâm trước nhiều giờ cho nếp mềm trước khi rang, nhưng nó cho ra loại cốm màu trắng ngà đều trân, mà lại giòn và lạt xèo. Dân buôn vì mưu câu lợi nhuận thường bỏ màu, nhuộm xanh, biến cốm thành màu cỏ non xanh tận chân trời, coi thấy phát ghê. Ai mà khùng mới mua loại này.
Sau đây nói vìa cách ăn cốm giẹp. Cách ăn cốm giẹp thì nói hổng hết. Tui xin phân loại làm 2 cách: Cách thứ nhứt theo nghi thức lễ ăn ót của đồng bào tui, người Khmer, và 1 loại khác phàm phu tực tử của người An Nam mình.
Lể Ok ombok của đồng bào Khmer. Mùa cốm giẹp chính là mùa ót-ombok. Mình kêu gọn là mùa ăn ót. Chỉ ở Sóc Trăng và Trà Vinh mới có. Cốm giẹp (tiếng Miên kêu là Ombôk) là món lễ vật chính, như kiểu bánh chưng bánh dày của con cháu Hùng Vương. Hằng năm, sau khi xong mùa màng (xứ mình chỉ làm ruộng 1 mùa, tháng 9 tháng 10 là chín hết), đồng bào Khmer tổ chức nhiều lễ lộc, kể từ tháng 9 ta trở đi, nào là He ca thinh, Đuônn Ta rồi tới ót-ombok*.
Lễ ăn ót tổ chức đúng ngày rằm tháng mười. Mục đích là tạ ơn trời đất, giúp mưa thuận gió hòa, được mùa no ấm, cùng thần thánh đã phò hộ cho mạnh giỏi bình an, và cùng lúc cầu xin được phò hộ tiếp cho mùa tới. Sau lễ ăn ót, đồng bào tui còn thả thững lên trời cũng với điều cầu nguyện tương tự như trên. Hầu hết mỗi nhà tự đâm cốm giẹp để cúng. Nhiều nhà ở chung vuông thì gom lại cúng chung cho xôm tụ. Chuẩn bị xong, đợi trăng lên khỏi ngọn tre, gia đình đặt bàn thờ giữa sân, sân rất rộng và sạch vì đã được dọn dẹp để làm bãi đạp lúa, trên bàn có nhang đèn, cốm giẹp trộn dừa, trái cây, dừa xiêm, bình bông, nước mía ép v.v. và cây mấy mía tươi lá cong cong để trang trí. Ít có ai cúng bánh, vì đây từa tựa như cúng ông thiên. Phía sau có trải tấm đêm bự. Ông Dượng tui, người Khmer chánh hiệu, sau khi cúng vái rất lâu, lẩm bẩm bằng tiếng Miên mà tui chưa hiểu nổi, rồi mới kêu gia đình con cháu đứng hay quỳ xuống sau bàn thờ, nhắm hướng mặt trăng mà lạy.
Sau cùng là cái mục ót. Cái muc ót nay có phải dành ưu tiên hay bắt buộc cho con nít? Trong khi người lớn được miễn, chỉ đứng coi. Còn tụi nhỏ như tui, dù đang chạy giỡn vòng vòng, đều bị kêu lại, bắt quỳ gối xuống, ngước mặt lên, hả họng ra cho bự, rồi thì được một bụm cốm trút vô miệng, đầy cứng. Trời đất. Mắc nghẹn chết. Nhưng được cưng mới cho ăn nhiều như vậy. Aên nhiều được phước nhiều. Như ăn bánh thánh trong nhà thờ? Đằng kia chỉ le cái lưỡi ra nhận mình Thánh, chút nị. Đằng này phải ngốm phùng mang!? Phải nghiêm trang nhận lấy, phải lấy tay bụm lại rồi nhai chậm chậm, nuốt vô từ từ. Tinh hoa phước lộc trời cho mà. Tiếng ót, phát âm Khmer cho thật trúng là ook, có nghỉa là ăn một dốc đầy miệng, như Hai tui vừa được ăn. Đó là nghi thức. Chỉ cần một ót như vậy là đủ lễ. Rồi sau đó muốn ăn kiểu nào thì ăn.
Cốm dẹp mới, trộn dừa rám nạo, ủ nước mía mềm mịn, ngon hết biết. Hoặc chan nước mía vô làm chè, kiểu ăn corn flake sữa tươi, cũng hấp dẫn chưa từng. Còn nước mía! Bà Dì năm của tui dùng cái máy ép giống cái khuôn bàn bào thợ mộc, rồi bỏ từng lóng mía ngắn như khúc mía ghim vô, lấy miếng đòn bẫy giẹp như lưỡi bào, nạy nạy, nước mía chảy xuống diệm ro ro, mặc sức uống. Mùa trăng mùa gặt tháng mười và Ok-ombok là vậy đó bạn ạ. Nhắc lại mà thèm mà nhớ. Hồn ở đâu bây giờ?
Còn cách ăn cốm giẹp của người Việt thì nói ra chắc sẽ thừa. Tùy khẩu vị, biến chế ra đủ thứ. Đây tui chỉ dám khoe mấy điều. Trước hết là bà nhạc của tui chuyên nghề bánh tét, bánh ú, bánh dừa, một thời vang bóng, mà trong đó hổng thiếu món bánh tét cốm giẹp. Bánh tét cốm giẹp nhưng đậu xanh! Tui dám dứt 1 lần 2 xâu, tức 1 chục cái, tỉnh bơ. Đặc sản Trà Vinh đó bà con.
Rồi tới chuyện bà chị dâu vợ bất hủ nữa. Có đồng hương TV đã nhắc tới tiếng rao hàng ngày xưa mà đành quên mất tiếng rao của chị vợ tui. Xin nhắc lại. “Ai ăn đậu đen nấu đư.ư ừ ờ.ờng hôn” Tiếng “đường” vang lên cao tới ngọn cây dầu lớn. Chè đâu đen mà rao kiểu vậy nghe mới đã. Đó là về ban đêm. Lúc đó chưa làm em chị, ngồi học bài mà nghe chị rao thì tỉnh ngủ, và còn sửa lại “ Ai...em giữa đường” gì đó, rồi xúm nhau cười như quỷ xứ. Nhưng mà chưa bằng cái câu rao sau đây, vìa cốm giẹp, bán ban ngày, thường vào xế trưa, như vầy nè: Ai ăn chuối- chưng- chuối- xào- dừa- sa- kê- cốm- giẹp- trộn- dừa đường ca.a.at.át hôôôn. Nghe đã quá xá đã. Tiếng rao dài nhằng, cao vút, trong veo, ngọt còn hơn đường phèn nữa chứ đừng nói đường cát.
Cốm giẹp, dù đã trộn dừa nạo, ướp nước dừa tươi, trộn đường cát, đã “cực kỳ” ngon rồi, mà lại chan nước chuối chưng nước cốt dừa vô nữa, thì ây dôi, mèn ơi, chu choa...ăn thử một lần sẽ nhớ luôn mấy kiếp. Đó có lẻ là món độc chiêu của bà chị nghèo nàn, ngày lẩn đêm vất vả buôn gánh bán bưng, một trong những người chị của đất Trà Vinh thân yêu xa lắc. Rồi còn cái trái sa kê nữa. Sa kê trộn dừa. Ôi! Càng nhắc lại càng cách chi rựa.
Tản mạn vìa cốm giẹp. Sau cùng, xin phép bà con cho tui nói thêm chút xíu. Là hổng biết làm sao mà nghề cốm giẹp lại bùng nổ sau 75, nhứt là đầu vào thập niên 80. Gạo hông có đủ để ăn mà cốm dẹp bán đầy trời, xuất tỉnh lan đi khắp nước. Chở hơn 5, 10 kí là bị tịch thu, nhưng cốm giẹp lại lọt khe. Có lẻ bà con mua cốm giẹp ăn trừ cơm. Hay chính nó đã trỡ thành món ăn quý hiếm giàu chất lượng dinh dưỡng đối với những “dân tộc tiến bộ” nào đó. Còn bọn vượt biên phản quốc thì mua cốm giẹp làm lương khô, lềnh bềnh trên biển cả 2 tháng vẫn chưa hư. Tui hổng tìm ra câu kết.
Riêng phần cá nhân tui, nhờ cái đà đó, cũng đã kiếm ăn được chút chút. Số là sau khi đậu tiến sỹ sơn lâm, vìa nhà bị coi như người cùi sứt móng, ít ai dám lại gần. Và giữa cái thời XHCN tiến nhanh tiến mạnh lên đỉnh cao bo bo đó, tui cũng thành vô sản chiên giòn, hổng còn gì ráo ngoài quần xà loỏn và một cái áo ka ki công nhân viên củ kỷ do thằng em cho. Tui bèn mượn chiếc xe đạp đầm và cái quần dài của thằng em vợ, đi buôn trong sóc. Ngày đạp cả trăm cây số trên những nẽo đường làng tồi tệ. Tui cỡi xe, rồi xe cỡi tui.
Bán bột ngọt, thuốc hút, trà, kim chỉ, nước tương v. v., bận vìa thì lén giấu vài kí gạo, đi luồn đường trong. Đem vìa nuôi con. Có lần ghé nhà em tui dưới quê, tui nghe tiếng đâm cốm giẹp rân trời. Hỏi ra, toàn là bà con tui, họ đang làm để bán. Tui bèn mua chịu, hôm sau xuống trả, chở bằng xe đạp lên tỉnh bỏ mối. Lần đầu chở 2 giạ. Ngon hơ. Lần 2 cố chở 3 giạ, đường quá xấu, xe đạp gẫy, đem lại ông ba Chập-lác, ba của anh Phước và Lộc, ở đường số 3 hàn lại, đi tiếp. Xe lại bị gẫy trở lại. Đành hàn sơ trả cho chủ, cắn môi mắc cở. May trong nhà còn cái sườn xe hiệu anh-sông (alcon) củ từ thời Bảo Đại treo trên giàn khói. Lấy xuống lau chùi sơ, kiếm 2 cái bánh ráp vô, hông thắng, hông vè, vừa chạy vừa la vô vô, đi làm ăn tiếp. Lại bị gẫy nữa. Hai chiếc xe đạp tội nghiệp, bắt nó chịu khổ hơn tui sao đặng. Cái quần dài thì bị rách đáy, làm sao mà trả, giựt luôn. Thằng em vợ cười thông cảm.
Cốm giẹp! Ôi cốm giẹp. Tưởng nó giúp tui, hông dè nó làm tui choáng váng. Bây giờ, tui chỉ dám nhớ thương ok-ombôk mà thôi.
Tôi vừa kể cho bà con cô bác nghe chơi về 2 loại đặc sản làm từ lúa gạo, nét độc đáo của đồng quê Trà Vinh. Chuyện đồng quê kể biết cho tới chừng nào mới hết. Thôi, tới đây thì: “Tình quê góp nhặt đã dài“ Mua vui cũng đặng một vài.. phút giây.“Hẹn quang năm cũng mùa này... Giờ thì xin kiếu, chia tay... cũng vừa. /.
Hai Quẹo Tuyết Lê, Bính Tuất niên, 2006.
Cước chú:
(*) Bài cổ nhạc Nam phần, không có lời, thường dùng để đờn bái tổ, mở đầu tuồng hát cải lương, gọi là bài Tam pháp nhập môn. Trẻ con còn đặt thêm lời để giỡn như sau:
Chị này là chị đưa đò.
Chị này là chị có con.
Có con chị có con chị đò.v.v.
Xự hò xề xự xang hò..gì đó.
(*) He ca thanh, hay He Takhanh cũng vậy, là lể làm phước và dâng bông, cúng dường cho chùa. Sau mấy ngày dựng rạp tiệc tùng cho chòm xóm ăn free tại nhà, là dâng bông. Những cây bông đội trên đầu những cô thiếu nữ lủng lẳng đơm đầy vàng bạc, để dâng đi. Họ nối đuôi từng đoàn sau giàn trống nhạc ngủ âm khlên-xiêm tùng tung lên chùa lể bái. Còn Đuônn Tà là lể tạ ông bà, tổ tiên. Chi-Đuônn là Bà, Chi-Ta là Ông.
(*) Bao bố tời. Là bao đong lúa, bằng bố, ngoài kia kêu là bao tải bằng đay. Còn kêu là bao chỉ xanh hay bao tạ, vì nó có hiệu in màu xanh, có thể chứa 3gịa3 lúa, khoảng 100kí, hay chứa gạo, lưng bao, cũng vừa đủ 100k.
(*) Khạp da bò. Khạp trán men màu vàng da bò, chứa được 2 đôi nước, đôi 40lít X 2= 80 lít. Khạp đường= 1 đôi 40lit. /
Rau Càng Cua
Hai Quẹo kể
Trời tháng bảy rồi đó ngheo bà con. Ở cái xứ nào đó có tháng bảy mưa Ngâu chứ tại Trà-Vinh tui thì chỉ thấy mưa dầm. Bây giờ lúa mùa đã cấy xong. Hầu hết dân ruộng đang nghỉ xả hơi. Trời mưa! Mưa cho lúa tốt cho cây xanh. Những trận mưa già rào rào dầm dập suốt ngày. Người lớn bị nhốt trong nhà, đám con nít thì tự do chạy nhảy, vui chơi ngoài sân. Tắm mưa. Ư`a, ở truồng tắm mưa, mê lắm! Tắm tới quên hết giờ khắc. Ông trời chạy trốn hay đang đấp mền ngủ đâu rồi? Buổi trưa hay buổi chiều bầu trời đều xám ngắc như nhau. Hai tui thì cứ việc tắm, cứ việc giỡn, cho tới chừng nào bị đánh bù-cạp, môi tái xanh, ngón tay móp xọp, thì mới chịu chạy vô. Cũng có khi bị má cầm roi dọa thì mới bỏ cái tật mê mưa.
Bữa nay má đang nấu cơm. Thay vì cầm roi, má đưa cho cái rổ, biểu chạy ra bui tre ngắt rau càng cua vô luộc ăn cơm. Hái rau càng cua vô luộc ăn? Chắc quí vị gốc thị thành nghe nói vậy thì lấy làm lạ. Rau càng cua luộc? Dà. Mà đâu phải có bây nhiều thôi. Còn nhiều thứ nữa, rau mờ-om, rau đắng ruộng, rau bồng-bồng chẳng hạng, mấy thứ thường dùng ăn sống, cũng phải luộc ăn cho khỏi phí của trời. Nó đều là rau hoang, do trời đãi. Nhiều quá, phải nhổ bỏ để giữ phân cho lúa.
Rau càng cua cũng vậy, nếu hổng ai ăn thì cũng bỏ đó cho nó già nó rụi, uổng lắm. Mùa mưa thì dưới nước cá tép thiếu gì, trên bờ thì ngàn trùng rau cỏ. Trà Vinh tui hồi trước khi được “tiếp thu” và bị phỏng ...thì như vậy đó. Đặc biệt cái cọng rau hiền khô dễ thương được biết tới và mến chuộng hơn hết lại chính là rau càng cua. Nó mọc dày khắp các buội tre quanh vuông ở miệt giồng.
Tui xách rổ chạy ra bui tre sát nhà, quơ từng nắm thiệt bự nhổ lên, trốc rễ, nhẹ re, rồi lấy tay nọ nắm đầu kia, vặn một cái là đứt làm hai, bỏ khúc gốc, lấy khúc ngọn. Một cái rột là có đầy rổ rau non èo sạch trơn. Bưng chạy đi đứng dưới máng nước mưa ở đầu song sốc sốc cho trôi cát rồi đem vô. Má tui đang nấu sẳn nước, má bỏ rau từ từ vô nồi nước đang sôi. Như hóa phép, một rổ rau vun từ từ xộp xuống teo lại còn chỉ một dĩa bàn. Rồi là một bữa cơm đạm bạc ngay trong nhà bếp, bên cạnh ông táo còn tỏa lửa âm ấm khói cay cay và ngọn đèn dầu ống khói sáng trưng. Mưa vẫn rồ rồ trên nóc nhà. Eănh ương uênh-oang xa xa...
Cơm nóng hổi với rau càng cua luộc chấm nước cá kho, có dầm ớt hiểm xanh, vậy thôi. Lâu cắn trúng một miếng ớt, nghe kim chích da đầu, ngứa rêm chưn tóc, nóng râng vành tai và tươm tươm mồ hôi trán. Am cúng quá. Nồi cơm bự bị vét hông còn một hột cơm cháy. Dà! Tui đã được lớn lên một phần nhờ những bữa cơm kỳ cục như vậy!
Rau càng cua! In như là nó vẫn còn trong máu tui đây. Bởi vậy bây giờ, sống ở xứ người, thay vì thèm vịt quay heo khìa chả lụa mà có hồi phát nhớ lại rau càng cua tới bắt nằm chiêm bao. Rồi tui cố gắng lần mò tìm cho đươc hột giống để trồng. Nhưng mà, rau càng cua tự nó mọc thì trời cản cũng hông nổi chớ mình mà trồng nó thì coi bộ hơi căng.
Có lẽ ít có ai mà hổng biết rau càng cua, nhứt là những người sống ở vùng quê miền Nam. Nó chẳng phải là đặc sản của Trà-Vinh quê tui đâu. Ở miệt trên, vùng Gia Định đổ lên, đâu cũng có. Nhưng ở đó người ta kêu nó là Rau tiêu. Vùng đó là đất gò, như Hóc Môn, Trãng Bàng, Tây Ninh chẳng hạng, người ta trồng nhiều tiêu và trầu. Có lẽ vì cái vòi và lá coi giống giống trái tiêu lá tiêu nên nó bị kêu như vậy. Còn bà con tui thấy chùm bông cong cong giống cái ngoe cua rôi kêu nó là rau càng cua? Đúng là xứ của cá tép tôm cua! Rau càng cua sống được ở nhiều thế đất lắm, trên liếp dừa miệt vườn, trên giồng khoai miệt giồng, cạnh buội chuối, sát gốc bầu, đâu đâu cũng có. Ngoài ra nó còn mọc trong chậu kiểng, bên gốc cây và cả trên nóc đình, trên mái ngói âm dương hoặc trên vách tường nứt vân vân. Đất cát đất thịt nó hổng sợ, mà nó chỉ sợ chỗ ẩm ướt hay ngập nước. Tội nghiệp ghê! Nó cần cù và thiết tha với kiếp sống như vây đó. Nhưng để ý một chút thì thấy cái chỗ lý tưởng cho nó chính là vùng đất giồng, khô ráo như Trà-Vinh vậy.
Dưới gốc tre mát mát, lá tre khô rụng dày cả gang rồi mục ra thành đất mùn xốp xộp; mưa xuống, chỗ đó rau càng cua mọc tốt phải biết. Dày mịt, khít rịt, xanh um, như cái mền, có khi nó phủ kín hết gốc tre và ôm mất luôn mấy mục măng non. Cọng nào cọng nấy dài 5, 6 tấc, thẳng tưng, non èo, giòn rụm. Nó cần mưa, thích ẩm cho nên mỗi năm nó chỉ nhởn nhơ có một lần theo mưa. Rồi mùa nắng khô, hột nó rụng xuống và nằm ngủ 6 tháng liền trong cát trong lá mục để chờ mưa năm tới. Cái hột tròn vo nhỏ rức như hột cát đó nằm chung với cát thì đố có con mắt nào nhận ra. Gió thổi mạnh một cái là nó bay theo bụi theo cát lên trời, rồi đáp xuống ngọn cây, đậu trên nóc đình, khỏe re. Rồi khi nó mọc thành cây, cái lá mướt rượt của nó mới thiệt là mặn mà tình tứ làm sao. Hình trái tim! Có người biểu nó giống lá trầu lá tiêu tí hon? Dân cờ bạc thì nói nó giống nút Bích, ách Bích bài cào tây gì đó. Tui thì thích nói nó hình trái tim hơn. Mặt trên lá màu xanh mướt, mặt dưới xanh bạc, nham nhám. Thân nó xanh xanh, trong trong, như cẩm thạch, nhưng mà bở rệu giòn rụm như cọng bông súng lột rồi. Nếu bức một cọng bỏ vô miệng nhai thử thì chỉ thấy nó ngòn ngọt pha chút vị the the nồng nồng của trầu, mọng nước như bông súng, nghe nó là lạ mà hổng dám quả quyết là ngon cỡ nào. Vậy mà sao nó lại hấp dẫn quá chừng? Có phải vị nồng làm cho say và bắt ghiền như ghiền trầu? Cũng chưa chắc là tại hay nhờ cách chế biến nó mới ngon.
Ở đây hổng nói tới việc dùng nó làm ghém chung với lá cát lồi, đọt sộp, đọt xoài, mã đề, đọt cơm nguội, rau thơm, v. v. để ăn bánh xèo, bánh giá (bánh cống), mà chỉ nhắc món độc chiêu của nó mà thôi. Rau càng cua bóp giấm. Làm gì thì cũng phải bóp cho nó xộp cái đã, như kiểu bóp rau cresson. Rồi tùy giàu nghèo mà có phủ thêm lên trên, hoặc là lớp thịt bò xào, hoặc mấy lát trứng luộc, hay ít tôm khô giã nhuyễn. Hà tiện hơn thì chỉ rắc lên chút đậu phộng rang đập giập, hoặc, hổng cần gì ráo, chỉ dùng rau tươi nguyên chất mà chấm nước tương, nước chao, nước cá kho hay mắm kho. Chỉ có vậy. Đơn sơ, đạm bạc. Đặc biệt ở miệt giồng quê tui, còn thêm món càng cua luộc, như tui nói hồi nảy. Dù ăn theo kiểu cách nào nó cũng đều hấp dẫn khó quên. “Cái đơn giản là cái đẹp nhứt”. Mình làm bộ nhái theo, nói như vầy: “An uống đơn giản là cái ăn ngon nhứt”.
Nhưng lý do mà tui mê loại rau này chắc hổng phải ở chỗ ngon dở mà còn nằm ở chỗ khác. Rồi bà con sẽ hiểu tại sao mà tui cứ rị mọ ráng trồng cho được nó ở cái xứ mà thời tiết tréo ngoe lạ quắc như vầy.Tui có anh bạn cố gầy cho được mấy cọng “rau-tiêu” để làm thuốc. Aũnh nói rằng rau tiêu trị mụn bọc công hiện thần kỳ. Đem giã với chút muối rồi đấp lên mụn bọc hay mụn bạc đầu, nó sẽ rút hết mủ và bữa sau mụn sẽ xẹp mất. Đó là môn thuốc bí truyền của dân Gò Dầu biên giới.
Còn tui, trồng nó vì nhớ. Tui đã từng ươn mấy lần hột giống được gởi lén từ Việt Nam qua, đều thất bại thảm thê. Sau này, tình cờ có được một ít hột từ rau trồng tại chỗ do người quen khác cho, kèm theo lời chỉ dẫn cách trồng thì tui đã lập được “thành tích tốt” để kể cho bà con nghe đây. Nè hén. Mình đừng phơi hột ngoài nắng gắt, nó sẽ chết khô, mà chỉ rắc nó vô thùng giấy, phơi trên giấy chớ hông phơi trên đồ sắt, chỉ cần để trong hàng ba vài bữa nó cũng khô mà hông hư. Xong bỏ vô ve đem cất. Đợi chừng nào có thời tiết ấm như Việt Nam thì đem ra trồng. Cái thời hạn gọi là quá “đát” của hột giống này chắc hổng quá 2 năm.
Ở Úc trồng rất dễ. Nhưng ở Canada, Bắc Mỹ Ngũ Đại Hồ hay Na Uy lạnh cóng coi bộ khó. Thú thiệt là tui bù trất về vụ cất nhà kiếng, đặt máy sưởi. Ở xứ ấm như Ốc-sờ-trây-li-a này, vấn đề thổ nhưỡng hông quan trọng lắm, chỉ cần đất xốp trộn với một chút potting-mix bán sẳn trong tiệm, hoặc với chút cỏ mục và chút phân chuồng thật quay là đủ. Chọn chổ nào gần đám cây để có bóng mát và độ ẩm cao một chút. Lấy hột giống trộn với cát mịn, gần 100%, tức là trôn nhiều cát vô. Rối nắm từng nắm cát hổn hợp đó rắc đều trên ô đất đã dọn. Rồi rắc thêm lớp mỏng đất thường lên trên. Rồi lấy giấy bìa đậy lại vài hôm. Mỗi ngày tưới nước sương sương như mưa phùn. Chỉ non tuần lễ là nó nẩy mầm lẳn mẳn chi chít như giá con, thấy mê luôn. Vài tuần sau là có đám rau càng cua. Nó sợ nắng như con gái nhà giàu và thích ở chỗ cao ráo mà lại có độ ẩm nhiều. Lớn lên trong bóng mát nó sẽ trắng ngọc trắng ngà pha màu cẫm thạch, thân dáng thon dài mảnh mai dễ thương lắm. Nếu phơi nắng quá nó sẽ bị lùn, nhánh nhóc lung tung và mau có bông, ăn có vị nồng và cay nhiều hơn. Chỉ cần gầy được mùa đầu tiên, mấy năm sau tự nó mọc lên hoài hoài y tại chỗ cũ, miễn là mình đừng đào xới làm xáo trộn vùng đất hứa của nó một cách quá đáng. Nếu khéo chăn bón, sau nhà có thể có vườn rau càng cua ăn tới quên lững chuyện nhớ nhà. Bà con cô bác làm thử coi. Chúc bà con gặt hái được... chút niềm vui.
Cũng may mắn, bên nhà rau càng cua dù bị hiếm nhưng chưa bị diệt chũng, chưa được-giải-phóng hay tiếp-thu-toàn-bộ. Chỉ tội cho rau đắng ruộng, hồi trước nó bị coi là cỏ hoang, làm mất công nhà nông không ít. Vừa nhổ bỏ vừa chửi thề. Rau mờ-om cũng vậy. Nhưng bây giờ thì nó đi đâu gần hết, trở nên “hiếm-quí”. Có lẽ vì nó tranh thủ góp công vô nghĩa vụ xóa-đói-giảm-nghèo, cái đói hổng biết ai mang từ đâu tới, làm bà con mình đói theo. Và cứ y như trong kinh: “Đói ăn rau, đau uống thuốc”. An sạch trơn rau. Sạch sành sanh. Đau thì uống rượu cho chết luôn.
Rau đắng ruộng được “nâng cấp” với “chức năng” quan trọng vậy đó, và nó nghênh ngang nhảy vô tô cháo cá của những người như đói-ăn từ mấy kiếp, đói từ tiềm thức, đói từ trong xương, giờ họ thích nhâm nhi rắn rít đuôn dế châu chấu bù cào ở quán bên đường.
Rau mờ-om thì nhảy vô tô phở lai hũ tíu miệt vườn hay trong sóc. Chỉ có rau càng cua được tha vì nó trốn trong vuông tre người dân quê, khó có ai ngang nhiên vô đó mà lặt. Nhưng nó cũng sắp hiếm rồi. Vì nó đang trở thành tấm nệm lót cho tôm chiên, gà rô-ti chình ình bên trên, để phục vụ “du lịch sinh thái”.
Cũng buồn!
Ở đời có nhiều cái rất nhỏ nhặt tầm thường thì mình thấy nhàm, rồi quên lững nó đi. Chừng nào mất nó rồi mình mới biết quí biết nhớ. Sống tha phương, nhiều khi nhớ mấy cọng rau quê mùa bình dị thân thương đó hung lắm. Nhưng gẫm đi gẫm lại, nhớ là chuyện nhỏ. Cái liên tưởng mới vĩ đại. Nỗi nhớ mới phát thì nhỏ xíu như mụn cám, rồi nó ăn lan ra, truyền nhiễm qua vùng chuyện khác, biến thành ra chuyện lớn. Nó bao phủ cả gia đình, làng mạc, ruộng đồng. Nó đưa mình về mái nhà lá đơn sơ, những bữa cơm gia đình đầm ấm, gợi nhớ lại cuộc sống yên bình, một quê hương xa mút tí tè. Nó dám ôm luôn cả vùng trời kỷ niệm! Tất cả mấy cái vĩ đại như vậy bỗng dưng bị giựt dậy chỉ nhờ một cọng rau càng cua tí tẹo. Lạ thiệt. Rồi bỗng dưng tui nhớ món rau càng cua luộc quá chừng chừng, và thương nhớ má tui tới thót ruột!!!
HQ, Central Coast
2/2008.
Hai Quẹo kể
Trời tháng bảy rồi đó ngheo bà con. Ở cái xứ nào đó có tháng bảy mưa Ngâu chứ tại Trà-Vinh tui thì chỉ thấy mưa dầm. Bây giờ lúa mùa đã cấy xong. Hầu hết dân ruộng đang nghỉ xả hơi. Trời mưa! Mưa cho lúa tốt cho cây xanh. Những trận mưa già rào rào dầm dập suốt ngày. Người lớn bị nhốt trong nhà, đám con nít thì tự do chạy nhảy, vui chơi ngoài sân. Tắm mưa. Ư`a, ở truồng tắm mưa, mê lắm! Tắm tới quên hết giờ khắc. Ông trời chạy trốn hay đang đấp mền ngủ đâu rồi? Buổi trưa hay buổi chiều bầu trời đều xám ngắc như nhau. Hai tui thì cứ việc tắm, cứ việc giỡn, cho tới chừng nào bị đánh bù-cạp, môi tái xanh, ngón tay móp xọp, thì mới chịu chạy vô. Cũng có khi bị má cầm roi dọa thì mới bỏ cái tật mê mưa.
Bữa nay má đang nấu cơm. Thay vì cầm roi, má đưa cho cái rổ, biểu chạy ra bui tre ngắt rau càng cua vô luộc ăn cơm. Hái rau càng cua vô luộc ăn? Chắc quí vị gốc thị thành nghe nói vậy thì lấy làm lạ. Rau càng cua luộc? Dà. Mà đâu phải có bây nhiều thôi. Còn nhiều thứ nữa, rau mờ-om, rau đắng ruộng, rau bồng-bồng chẳng hạng, mấy thứ thường dùng ăn sống, cũng phải luộc ăn cho khỏi phí của trời. Nó đều là rau hoang, do trời đãi. Nhiều quá, phải nhổ bỏ để giữ phân cho lúa.
Rau càng cua cũng vậy, nếu hổng ai ăn thì cũng bỏ đó cho nó già nó rụi, uổng lắm. Mùa mưa thì dưới nước cá tép thiếu gì, trên bờ thì ngàn trùng rau cỏ. Trà Vinh tui hồi trước khi được “tiếp thu” và bị phỏng ...thì như vậy đó. Đặc biệt cái cọng rau hiền khô dễ thương được biết tới và mến chuộng hơn hết lại chính là rau càng cua. Nó mọc dày khắp các buội tre quanh vuông ở miệt giồng.
Tui xách rổ chạy ra bui tre sát nhà, quơ từng nắm thiệt bự nhổ lên, trốc rễ, nhẹ re, rồi lấy tay nọ nắm đầu kia, vặn một cái là đứt làm hai, bỏ khúc gốc, lấy khúc ngọn. Một cái rột là có đầy rổ rau non èo sạch trơn. Bưng chạy đi đứng dưới máng nước mưa ở đầu song sốc sốc cho trôi cát rồi đem vô. Má tui đang nấu sẳn nước, má bỏ rau từ từ vô nồi nước đang sôi. Như hóa phép, một rổ rau vun từ từ xộp xuống teo lại còn chỉ một dĩa bàn. Rồi là một bữa cơm đạm bạc ngay trong nhà bếp, bên cạnh ông táo còn tỏa lửa âm ấm khói cay cay và ngọn đèn dầu ống khói sáng trưng. Mưa vẫn rồ rồ trên nóc nhà. Eănh ương uênh-oang xa xa...
Cơm nóng hổi với rau càng cua luộc chấm nước cá kho, có dầm ớt hiểm xanh, vậy thôi. Lâu cắn trúng một miếng ớt, nghe kim chích da đầu, ngứa rêm chưn tóc, nóng râng vành tai và tươm tươm mồ hôi trán. Am cúng quá. Nồi cơm bự bị vét hông còn một hột cơm cháy. Dà! Tui đã được lớn lên một phần nhờ những bữa cơm kỳ cục như vậy!
Rau càng cua! In như là nó vẫn còn trong máu tui đây. Bởi vậy bây giờ, sống ở xứ người, thay vì thèm vịt quay heo khìa chả lụa mà có hồi phát nhớ lại rau càng cua tới bắt nằm chiêm bao. Rồi tui cố gắng lần mò tìm cho đươc hột giống để trồng. Nhưng mà, rau càng cua tự nó mọc thì trời cản cũng hông nổi chớ mình mà trồng nó thì coi bộ hơi căng.
Có lẽ ít có ai mà hổng biết rau càng cua, nhứt là những người sống ở vùng quê miền Nam. Nó chẳng phải là đặc sản của Trà-Vinh quê tui đâu. Ở miệt trên, vùng Gia Định đổ lên, đâu cũng có. Nhưng ở đó người ta kêu nó là Rau tiêu. Vùng đó là đất gò, như Hóc Môn, Trãng Bàng, Tây Ninh chẳng hạng, người ta trồng nhiều tiêu và trầu. Có lẽ vì cái vòi và lá coi giống giống trái tiêu lá tiêu nên nó bị kêu như vậy. Còn bà con tui thấy chùm bông cong cong giống cái ngoe cua rôi kêu nó là rau càng cua? Đúng là xứ của cá tép tôm cua! Rau càng cua sống được ở nhiều thế đất lắm, trên liếp dừa miệt vườn, trên giồng khoai miệt giồng, cạnh buội chuối, sát gốc bầu, đâu đâu cũng có. Ngoài ra nó còn mọc trong chậu kiểng, bên gốc cây và cả trên nóc đình, trên mái ngói âm dương hoặc trên vách tường nứt vân vân. Đất cát đất thịt nó hổng sợ, mà nó chỉ sợ chỗ ẩm ướt hay ngập nước. Tội nghiệp ghê! Nó cần cù và thiết tha với kiếp sống như vây đó. Nhưng để ý một chút thì thấy cái chỗ lý tưởng cho nó chính là vùng đất giồng, khô ráo như Trà-Vinh vậy.
Dưới gốc tre mát mát, lá tre khô rụng dày cả gang rồi mục ra thành đất mùn xốp xộp; mưa xuống, chỗ đó rau càng cua mọc tốt phải biết. Dày mịt, khít rịt, xanh um, như cái mền, có khi nó phủ kín hết gốc tre và ôm mất luôn mấy mục măng non. Cọng nào cọng nấy dài 5, 6 tấc, thẳng tưng, non èo, giòn rụm. Nó cần mưa, thích ẩm cho nên mỗi năm nó chỉ nhởn nhơ có một lần theo mưa. Rồi mùa nắng khô, hột nó rụng xuống và nằm ngủ 6 tháng liền trong cát trong lá mục để chờ mưa năm tới. Cái hột tròn vo nhỏ rức như hột cát đó nằm chung với cát thì đố có con mắt nào nhận ra. Gió thổi mạnh một cái là nó bay theo bụi theo cát lên trời, rồi đáp xuống ngọn cây, đậu trên nóc đình, khỏe re. Rồi khi nó mọc thành cây, cái lá mướt rượt của nó mới thiệt là mặn mà tình tứ làm sao. Hình trái tim! Có người biểu nó giống lá trầu lá tiêu tí hon? Dân cờ bạc thì nói nó giống nút Bích, ách Bích bài cào tây gì đó. Tui thì thích nói nó hình trái tim hơn. Mặt trên lá màu xanh mướt, mặt dưới xanh bạc, nham nhám. Thân nó xanh xanh, trong trong, như cẩm thạch, nhưng mà bở rệu giòn rụm như cọng bông súng lột rồi. Nếu bức một cọng bỏ vô miệng nhai thử thì chỉ thấy nó ngòn ngọt pha chút vị the the nồng nồng của trầu, mọng nước như bông súng, nghe nó là lạ mà hổng dám quả quyết là ngon cỡ nào. Vậy mà sao nó lại hấp dẫn quá chừng? Có phải vị nồng làm cho say và bắt ghiền như ghiền trầu? Cũng chưa chắc là tại hay nhờ cách chế biến nó mới ngon.
Ở đây hổng nói tới việc dùng nó làm ghém chung với lá cát lồi, đọt sộp, đọt xoài, mã đề, đọt cơm nguội, rau thơm, v. v. để ăn bánh xèo, bánh giá (bánh cống), mà chỉ nhắc món độc chiêu của nó mà thôi. Rau càng cua bóp giấm. Làm gì thì cũng phải bóp cho nó xộp cái đã, như kiểu bóp rau cresson. Rồi tùy giàu nghèo mà có phủ thêm lên trên, hoặc là lớp thịt bò xào, hoặc mấy lát trứng luộc, hay ít tôm khô giã nhuyễn. Hà tiện hơn thì chỉ rắc lên chút đậu phộng rang đập giập, hoặc, hổng cần gì ráo, chỉ dùng rau tươi nguyên chất mà chấm nước tương, nước chao, nước cá kho hay mắm kho. Chỉ có vậy. Đơn sơ, đạm bạc. Đặc biệt ở miệt giồng quê tui, còn thêm món càng cua luộc, như tui nói hồi nảy. Dù ăn theo kiểu cách nào nó cũng đều hấp dẫn khó quên. “Cái đơn giản là cái đẹp nhứt”. Mình làm bộ nhái theo, nói như vầy: “An uống đơn giản là cái ăn ngon nhứt”.
Nhưng lý do mà tui mê loại rau này chắc hổng phải ở chỗ ngon dở mà còn nằm ở chỗ khác. Rồi bà con sẽ hiểu tại sao mà tui cứ rị mọ ráng trồng cho được nó ở cái xứ mà thời tiết tréo ngoe lạ quắc như vầy.Tui có anh bạn cố gầy cho được mấy cọng “rau-tiêu” để làm thuốc. Aũnh nói rằng rau tiêu trị mụn bọc công hiện thần kỳ. Đem giã với chút muối rồi đấp lên mụn bọc hay mụn bạc đầu, nó sẽ rút hết mủ và bữa sau mụn sẽ xẹp mất. Đó là môn thuốc bí truyền của dân Gò Dầu biên giới.
Còn tui, trồng nó vì nhớ. Tui đã từng ươn mấy lần hột giống được gởi lén từ Việt Nam qua, đều thất bại thảm thê. Sau này, tình cờ có được một ít hột từ rau trồng tại chỗ do người quen khác cho, kèm theo lời chỉ dẫn cách trồng thì tui đã lập được “thành tích tốt” để kể cho bà con nghe đây. Nè hén. Mình đừng phơi hột ngoài nắng gắt, nó sẽ chết khô, mà chỉ rắc nó vô thùng giấy, phơi trên giấy chớ hông phơi trên đồ sắt, chỉ cần để trong hàng ba vài bữa nó cũng khô mà hông hư. Xong bỏ vô ve đem cất. Đợi chừng nào có thời tiết ấm như Việt Nam thì đem ra trồng. Cái thời hạn gọi là quá “đát” của hột giống này chắc hổng quá 2 năm.
Ở Úc trồng rất dễ. Nhưng ở Canada, Bắc Mỹ Ngũ Đại Hồ hay Na Uy lạnh cóng coi bộ khó. Thú thiệt là tui bù trất về vụ cất nhà kiếng, đặt máy sưởi. Ở xứ ấm như Ốc-sờ-trây-li-a này, vấn đề thổ nhưỡng hông quan trọng lắm, chỉ cần đất xốp trộn với một chút potting-mix bán sẳn trong tiệm, hoặc với chút cỏ mục và chút phân chuồng thật quay là đủ. Chọn chổ nào gần đám cây để có bóng mát và độ ẩm cao một chút. Lấy hột giống trộn với cát mịn, gần 100%, tức là trôn nhiều cát vô. Rối nắm từng nắm cát hổn hợp đó rắc đều trên ô đất đã dọn. Rồi rắc thêm lớp mỏng đất thường lên trên. Rồi lấy giấy bìa đậy lại vài hôm. Mỗi ngày tưới nước sương sương như mưa phùn. Chỉ non tuần lễ là nó nẩy mầm lẳn mẳn chi chít như giá con, thấy mê luôn. Vài tuần sau là có đám rau càng cua. Nó sợ nắng như con gái nhà giàu và thích ở chỗ cao ráo mà lại có độ ẩm nhiều. Lớn lên trong bóng mát nó sẽ trắng ngọc trắng ngà pha màu cẫm thạch, thân dáng thon dài mảnh mai dễ thương lắm. Nếu phơi nắng quá nó sẽ bị lùn, nhánh nhóc lung tung và mau có bông, ăn có vị nồng và cay nhiều hơn. Chỉ cần gầy được mùa đầu tiên, mấy năm sau tự nó mọc lên hoài hoài y tại chỗ cũ, miễn là mình đừng đào xới làm xáo trộn vùng đất hứa của nó một cách quá đáng. Nếu khéo chăn bón, sau nhà có thể có vườn rau càng cua ăn tới quên lững chuyện nhớ nhà. Bà con cô bác làm thử coi. Chúc bà con gặt hái được... chút niềm vui.
Cũng may mắn, bên nhà rau càng cua dù bị hiếm nhưng chưa bị diệt chũng, chưa được-giải-phóng hay tiếp-thu-toàn-bộ. Chỉ tội cho rau đắng ruộng, hồi trước nó bị coi là cỏ hoang, làm mất công nhà nông không ít. Vừa nhổ bỏ vừa chửi thề. Rau mờ-om cũng vậy. Nhưng bây giờ thì nó đi đâu gần hết, trở nên “hiếm-quí”. Có lẽ vì nó tranh thủ góp công vô nghĩa vụ xóa-đói-giảm-nghèo, cái đói hổng biết ai mang từ đâu tới, làm bà con mình đói theo. Và cứ y như trong kinh: “Đói ăn rau, đau uống thuốc”. An sạch trơn rau. Sạch sành sanh. Đau thì uống rượu cho chết luôn.
Rau đắng ruộng được “nâng cấp” với “chức năng” quan trọng vậy đó, và nó nghênh ngang nhảy vô tô cháo cá của những người như đói-ăn từ mấy kiếp, đói từ tiềm thức, đói từ trong xương, giờ họ thích nhâm nhi rắn rít đuôn dế châu chấu bù cào ở quán bên đường.
Rau mờ-om thì nhảy vô tô phở lai hũ tíu miệt vườn hay trong sóc. Chỉ có rau càng cua được tha vì nó trốn trong vuông tre người dân quê, khó có ai ngang nhiên vô đó mà lặt. Nhưng nó cũng sắp hiếm rồi. Vì nó đang trở thành tấm nệm lót cho tôm chiên, gà rô-ti chình ình bên trên, để phục vụ “du lịch sinh thái”.
Cũng buồn!
Ở đời có nhiều cái rất nhỏ nhặt tầm thường thì mình thấy nhàm, rồi quên lững nó đi. Chừng nào mất nó rồi mình mới biết quí biết nhớ. Sống tha phương, nhiều khi nhớ mấy cọng rau quê mùa bình dị thân thương đó hung lắm. Nhưng gẫm đi gẫm lại, nhớ là chuyện nhỏ. Cái liên tưởng mới vĩ đại. Nỗi nhớ mới phát thì nhỏ xíu như mụn cám, rồi nó ăn lan ra, truyền nhiễm qua vùng chuyện khác, biến thành ra chuyện lớn. Nó bao phủ cả gia đình, làng mạc, ruộng đồng. Nó đưa mình về mái nhà lá đơn sơ, những bữa cơm gia đình đầm ấm, gợi nhớ lại cuộc sống yên bình, một quê hương xa mút tí tè. Nó dám ôm luôn cả vùng trời kỷ niệm! Tất cả mấy cái vĩ đại như vậy bỗng dưng bị giựt dậy chỉ nhờ một cọng rau càng cua tí tẹo. Lạ thiệt. Rồi bỗng dưng tui nhớ món rau càng cua luộc quá chừng chừng, và thương nhớ má tui tới thót ruột!!!
HQ, Central Coast
2/2008.
Subscribe to:
Posts (Atom)
Blog Archive
-
▼
2026
(2009)
-
▼
August
(172)
- NGƯỜI DƯNG NGOÀI PHỐ"Mỗi nhân duyên gặp gỡ ai đó đ...
- Vài năm trở về trước, Trung Quốc từng xảy ra một v...
- GẠC MA: 38 NĂM NHÌN LẠI16/8/2026---Ngày 14/3/1988,...
- GIỚI THIỆU TÁC GIẢNguyễn Phúc Hậu rời Việt Nam năm...
- VÌ CHỈ “MƯỢN” ĐỠ …… cái poncho lính của anh hai tr...
- 10 quy tắc nhìn người trên bàn tiệc để chọn đối tá...
- Có thể phú quý sinh lễ nghĩa; rách quá, đôi khi cũ...
- Chữ nghĩa thời nayLứa tuổi của tui được liệt vào t...
- "Sự Nổi Giận" hèn hạ của những kẻ thất bại.Lắm lúc...
- “Chiếc Thánh Giá Rơi Từ Trời”[Một lời hứa giữa chi...
- Gà trống nuôi conĐể tui kể sơ về cái nghề nghiệp c...
- Tại sao Nhật không thể xâm lăng Úc năm 1942!Một bà...
- Tiếng Nam Kỳ ! ...
- SÔNG HẰNG LUÔN CHẢY KHÔNG NGỪNGMột hôm, Đức Phật đ...
- CHỒNG HÁN VỢ TAY TẠNG ...
- Một chuyến bay của Vietnam Airlines thoát nguy tại...
- Tin VắnFB Le Hoang-Tuỳ viên báo chí Bạch Ốc, K...
- THỢ XÂY TẠI BỈ TÌNH CỜ ĐÀO ĐƯỢC KHO VÀNG TRỊ GIÁ H...
- Sóc, "Nhà Lâm Nghiệp" Nhỏ BéThái-Phúc NguyễnTrong ...
- HERCULES VÀ NESSUS – CÁI CHẾT ĐÃ ĐƯỢC GIEO TỪ MỘT ...
- NHỚ VỀ KỸ SƯ CHU VĂN HỢP: "ÔNG TỔ CỦA LÀNG BÁO VIỆ...
- CHẾT RỒI MỚI ĐƯỢC THỪA NHẬNNăm 1996, Michael DeBak...
- ĐÊM QUA, TAO GẶP MỘT THẰNG ĐI BỘ TỪ NGHỆ AN VÀO… Đ...
- TRUMP LẤY LẠI BỨC TƯỜNG BIÊN GIỚIBiden đã bán 350 ...
- DÂNG MẸ!I. HT. THÍCH QUẢNG ĐỘ - MỘT BẬC CHÂN TUHT....
- 'Niềm tự hào' của Trung Quốc bị dột?Chiếc phản lực...
- Người đàn ông Australia bị cáo buộc dội nước sôi l...
- Về Che GuevaraQuả thực vào những năm 1960 hình ảnh...
- Công dân Hoa Kỳ Robert Gilman trên đường trở về Mỹ...
- Cô này là Sanija Ameti, một chính trị gia Hồi giáo...
- Jason Arday, giáo sư da đen trẻ nhất lịch sử ĐH Ca...
- Nỗi đau Geraldton!Người phụ nữ Việt và tiếng kêu c...
- Ở PHÁP, KHÔNG PHẢI CHIẾC BAGUETTE NÀO CŨNG ĐƯỢC GỌ...
- Ngày ông gặp bà lần đầu, cả hai đều đã ngoài sáu m...
- Hủ tiếu Sài GònHủ tiếu Sài Gòn là hủ tiếu Sài Gòn....
- Thử đi cho biết"Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt...
- BỘ NGÂN KHỐ PHÁT GIÁC GẦN $5 TỶ MỸ KIM GIAO DỊCH N...
- SÀI GÒN BỐN XẸT VÀ MỘT CUỘC HẸNSài Gòn những năm ấ...
- LỖI HẸNMột ngày, tôi nhận được một tin nhắn lạ: " ...
- Nhớ nàng Hoàng Dung Tòa Bạch ỐcChư vị độc giả từng...
- CÔNG CHÍNH và DỐI TRÁXem phim Hong Kong xưa lúc nà...
- Cách người Mỹ yêu nướcBữa nay kể chuyện xứ Mỹ cho ...
- NHỮNG LÁ ĐỎ ĐENCó những gia đình, nhìn từ bên ngoà...
- Về Vụ Đại Biểu Quốc Hội Nguyễn Sỹ Cương Tông C.hết...
- Hơn 1.000 vụ kết hôn giả bị phơi bày, 11 người bị ...
- Đài Truyền Hình số 9 Việt Nam Cộng HòaĐây là một t...
- Hot girl "Athena" đã gặp phải chuyện gì ở Philippi...
- TÔ PHỞ ĐẶC BIỆTVõ Ngọc TríBà mẹ hỏi nhỏ cô chủ quá...
- TANG LỄ THẬT RA LÀ DÀNH CHO AI?Bố tôi mất lúc 7 gi...
- MỲ QUẢNG VÀ MỲ QUOẢNG, MỲ NÀO NGON HƠN(Nhân sắp có...
- Ngư ời Nhặt Lại Những T h a n h  m SàiGòn Đ ã M ấ...
- Chiến tranh lớn ở Texas và California vì luậ...
- Dư Âm Xưa Còn Đâu?Có những đêm ngồi một mình giữa ...
- Lời thú tội muộn màn..Vụ phản đối ca sĩ QT tui địn...
- NGƯỜI TÌM TỰ DONgười Tìm Tự Do" đầu tiên từ Cộng H...
- Những tiết lộ mới về FBI từ phó bộ trưởng tư p...
- Vì sao cuộc sống của tôi dạo này luôn tránh xa đám...
- Tin VắnFB Le Hoang- Văn phòng Thượng nghị sĩ Mit...
- Chiến thắng ý nghĩaCuộc bỏ phiếu để phê chuẩn ông ...
- TRUMP WORLD ORDER...!Trong địa chính trị, có một q...
- NHỜ CÂU NÓI LÚC SAY RƯỢU CỦA ÔNG BỐ LÀM NGHỀ NUÔI ...
- Buông tay! ...
- "Nữ thần từ thiện dỏm" bị phát hiện bịa ra cả một ...
- NHỮNG LỖI DỊCH THUẬT ANH-VIỆT VỀ QUÂN ĐỘI MỸ5/8/20...
- Cafe Seattle Tôi dụi mắt lồm cồm thức dậy khi tiến...
- Chăm sóc tuổi già - xin đừng nửa thương nửa nợ1.Tô...
- JAMES CARVILLE PHẢN CÔNG CÁNH CẤP TIẾN DÂN CHỦ SAU...
- GIANG..VÀ NHỮNG TÔ PHỞ KHÔNG KỂ HẾT CHUYỆN ĐỜIỞ We...
- TIẾNG MÔ TÔ Ở CUỐI HÀNH LANGĐêm ấy, bệnh viện gần ...
- XIN ĐÓ, ĐỪNG LÀM HỔ THẸN NGƯỜI VIỆT THÊM NỮA!Lại t...
- Y tế ở ÚcCó lẽ… nói về y tế ở Úc, không nhiều ngườ...
- CẢNH BÁO RẤT CẦN THIẾTNguyễn Danh Lam một nhà văn ...
- Dự án Trung tâm Hồi giáo được đề xuất tại McKinney...
- TÒA BẠCH ỐC CÔNG BỐ FRAUD LEDGER, NÊU $229.9 TỶ NG...
- Obama, lợi bất cập hại…Theo dõi chính trị Mỹ là mộ...
- Chính phủ Pháp đóng cửa nhà thờ Hồi giáo ở khu vực...
- THE ODYSSEY LESSONS 02"Không phải cái gì cũng ăn. ...
- Kỹ sư người Mỹ gốc Trung Quốc Li Xuochen đã bị Elo...
- Chú chó không chịu sủa nữa… cho đến khi nghe thấy ...
- Viện dưỡng lãoTôi tên là Massimo, năm nay 47 tuổi....
- TÔI LÀ AI?Ns Tuấn KhanhPhú Quý bất năng dâmBần Tiệ...
- "Xin lỗi Nước Mỹ"Phải mất 20 năm bà ấy mới rời bỏ ...
- Ai là vua ở Mỹ? Ông Trump, trật lất. Tối cao...
- Giáo dục ở MỹMấy năm truớc bà thống đốc Kate Brow...
- Chân dung của một người Cộng sản thật sựCô ...
- Tình Hình Tại Úc Đại Lợi | 09.08.26
- Giấc Mơ Mỹ Lời tác giả: Dạo gần đây, những câu c...
- Nhà Có Hoa Anh ĐàoKhi mở cửa bước ra sân sau, cả h...
- NGƯỜI XƯA BÊN BẾN CŨMùa đông xứ người lạnh một các...
- ELON MUSK CÔNG BỐ TERAFAB TẠI TEXAS, SIÊU NHÀ MÁY ...
- Công việc yêu thích- Hôm nay CiCi kể cho các bạn n...
- Trăm năm nghĩa tìnhÔng Võ Hương An thời sinh viên,...
- KHÁM PHÁ CÂY THÁNH GIÁ KHỔNG LỒ GIỮA ĐỒNG BẰNG TEX...
- Món Ăn Tinh Thần Của Dân Việt | 07.08.26
- Giải mật tiến trinh hạ bệ TT Donald TrumpNhững...
- Quân ta hạ quân mìnhSau 1 năm giấu giếm, giờ đây q...
- Chi $60 ngàn đô để ái nữ khỏi ra toà vì tông ch.ết...
- Cánh tả thua cuộc quyết phá buổi nhậm chức của Tổn...
- Cách người Trung Quốc nhìn nhận thế giới qua Lăng ...
- CÂN SỨC*với La Trinh TườngBài viết này rất hay và ...
- Vườn rau của BaNăm 1994 gia đình tôi đặt bước chân...
- Nghề Nói tới nghề chúng ta thường nghĩ tới chuyện...
- Mỹ chính thức bãi bỏ luật "ở lại không giới hạn" c...
- THỜI SỰ 24H | TT TRUMP SIẾT “DU LỊCH SINH CON”, FA...
- Nông nghiệp ở ÚcFrank Nguyen là một nông dân và do...
- Ông không được đào tạo để trở thành kiến trúc sư, ...
- CÓ ĐƯỢC TRI KỶ TRONG ĐỜI MỚI LÀ ĐIỀU ĐÁNG GIÁ NHẤT...
- Phút Hối Hận Muộn MàngÔng gốc Việt chờ bị trục xuấ...
- Thế Giới Này Và Con Người Thật Đáng SợBạn ơi,-Vì t...
- John Walton và cuộc chiến Việt NamJohn Walton con ...
- Bảo vệ Gia đìnhTháng 2 năm 1948, tại Seattle, tiểu...
- Chế độ cộng sản CubaHôm nay 6/8/2026 Ngoại trưởng ...
- Lòng trung thành của loài chimSuốt nhiều tháng, nh...
- Đúng Tương Lai, Sai Thời Điểm: Cú Ngã 45 Tỷ Đô Của...
- TIN NÓNG: Một nhà gây quỹ hàng đầu của Đảng Dân Ch...
- MARSEILLE – THÀNH PHỐ CÓ “NGƯỜI MẸ” ĐỨNG TRÊN CAOĐ...
- Người Thợ Săn Khôn Ngoan Không Đuổi Theo Con Mồi Đ...
- Vào hang cọpÔng dượng đi Cali. Tui nói là vào hang...
- ĐÔI BÔNG TAI(Một góc khuất của kiếp làm dâu thời p...
- Liệu 400 lá phiếu của người không phải là công dân...
- KHI SA CƠ MỚI BIẾT AI LÀ BẠNKhi miền Nam sụp đổ ng...
- Hồ sơ liên bang phơi bày nỗ lực của Bắc Kinh nhằm ...
- Một vụ mưu sát TT Trump tại Nam California bị bại ...
- Chính trị Mỹ đang chứng kiến một làn sóng đỏ rực t...
- Mỹ treo thưởng $102 triệu đô dành cho thông tin gi...
- Ông Kyle Shideler mới làm chứng rằng ứng cử viên H...
- Cảnh báo về router Trung QuốcNếu nhà hoặc doanh ng...
- Các tướng lĩnh cấp cao của Mỹ đã tham gia vào tổ c...
-
▼
August
(172)