Showing posts with label Thái Anh / QNA. Show all posts
Showing posts with label Thái Anh / QNA. Show all posts

Tuesday, January 29, 2019

Chút Tâm Tình Những Ngày Cuối Năm





Tôi không nhớ đã thấy người nhạc sĩ già ấy từ lúc nào, hình như cũng lâu lắm rồi, dễ chừng đã ba, bốn năm nay. Tôi đoán tuổi ông có lẽ khoảng quá 70 một chút.

Từ lần đầu thấy ông đến bây giờ, lúc nào ông cũng ngồi duy nhất một chỗ, trước hàng hiên của một tiệm bán món ăn Việt Nam, như một loại tiệm fast food của Mỹ, bên mình ông có cây đàn mandolin và chiếc kèn harmonica. Có thể tôi sẽ ít chú ý đến ông nếu tôi không thấy hai vật ông cầm trên tay, vì tôi có nhiều kỷ niệm với hai nhạc cụ đó, nhất là chiếc kèn harmonica.

Hồi nhỏ ở Việt Nam, thằng em kế tôi rất mê thổi harmonica, nó không đi học trường lớp nhạc nào hết, chỉ tập tài tử ở nhà thổi bản nhạc nào nó thích; có lần nghe nó thổi bài Donna Donna, điệu buồn mà nghe réo rắt hay quá, tôi nghe riết đâm ghiền, cứ thấy nó cầm kèn là năn nỉ nó thổi bài Donna trước cho tôi nghe rồi hãy thổi bài khác, thấy tôi thích quá nó kêu tôi ráng tập thổi nó sẽ dạy; Mà nào tôi có tập được gì đâu, chẳng rành một nốt nhạc, hơí lại ngắn, tập mãi chẳng tiến bộ chút nào, thằng em đâm nản không dạy nữa, thế là chị cứ tiếp tục năn nỉ em thổi cho nghe.

Một kỷ niệm đáng nhớ nữa về kèn harmonica là lúc bắt đầu vào lớp đệ thất, tôi có qua ở nhà người dì em ruột kế mẹ, dì tôi không có gia đình ở một mình làm thợ may nên thương tôi như con;  tôi ở đấy học 7 năm trung học ở một trường dòng các Ma Soeur gần nhà dì.

Trong xóm nhà dì có một ông nhạc sĩ thổi kèn harmonica hay lắm, tôi đi ngang nhà ông nghe tiếng kèn hoài, ông hay thổi bài Hạ trắng, tiếng kèn réo rắt trầm bổng cao vút tuyệt vời. Sau nầy tôi mới biết ông chính là nhạc sĩ Tòng Sơn, chuyên thổi harmonica danh tiếng cả nước, sự kiện ông vừa  thổi kèn vừa ăn chuối thường được  nhắc tới trong giới nhạc sĩ Việt Nam cho đến bây giờ.

Hiện nay chắc nhạc sĩ Tòng Sơn đã cao tuổi rồi tôi được biết hình như ông vẫn còn nhớ nghề thỉnh thoảng vẫn đi trình diễn tài tử thôi chứ không thường xuyên như hồi còn trẻ. có lần thấy quãng cáo ở khu Bolsa ông có qua Mỹ trình diễn nữa.

Còn về cây đàn mandolin, hồi còn đi học có cô bạn chung lớp đã tốt nghiệp trường nhạc Sai gòn về đàn mandolin, lúc cuối năm lớp tổ chức liên hoan lúc nào cũng có tiếng đàn của cô tham gia, cô đàn không ngưng tay vì trong lớp bạn nào cũng thay phiên yêu cầu cô đàn hết bài này đến bài khác. Tôi nhớ tôi đã yêu cầu bài Domino, bài này mà chơi mandolin thật đúng điệu, âm thanh thánh thót cao vút vang lên hút hồn người nghe. Cô bạn thuộc rất nhiều bài, dù mệt nhưng cô vẫn đàn theo đề nghị cuả các bạn. Cô bạn dễ thương cuả tôi hiện định cư ở Canada, thỉnh thoảng nói chuyện với nhau tôi vẫn nhắc lại kỷ niệm đáng nhớ này với nỗi bùi ngùi luyến tiếc tuổi học trò đáng yêu hồi đó.

Trở lại với người nhạc sĩ già tôi đã gặp nhiều lần ở phố Bolsa, ông ông nhạc sĩ cứ lặng lẽ hết đàn rồi thổi kèn, những bản nhạc tiền chiến   Việt Nam , hay những bài ngoại quốc nổi tiếng xa xưa ;tôi chưa nghe ông nói một tiếng nào, nên tôi không đoán được ông là người miền nào của Việt Nam. Trước mặt ông có để một cái nón lật bề lõm lên trên , mọi người đi qua đi lại ai có lòng thì bỏ tiền vào đấy, tôi cũng bắt chước  mọi người bỏ tiền vào nón mỗi lần đi ngang qua chỗ ông ngồi, lần nào tôi cũng thấy ông gật đầu  cám ơn trong khi tay tiếp tục đàn hay miệng tiếp tục thổi harmonica nhưng vẫn lặng lẽ không nói một tiếng nào. Thường tôi chỉ ghé qua khu chợ Việt Nam nầy vào buổi sáng nên không biết ông nhạc sĩ ngồi đấy đến mấy giờ.Có lúc tôi cũng thắc mắc là ông không có gia đình con cháu gì sao mà phải mưu sinh bằng cung đàn tiếng nhạc của mình ở lề đường, ở hàng hiên của các tiệm quán bình dân mà lẽ ra ông phải được trình diễn trên sân khấu để tài nghệ của ông được mọi người trân trọng  thưởng thức.
 
Người ở khu Bolsa gọi bà là bà Tư bán báo. Bà bán các tờ báo tiếng Việt xuất bản hàng ngày hay hàng tuần, không biết làm sao bà lại sở hữu được chiếc xe mà các bà nội trợ mỗi khi vào chợ mua hàng chất lên xe.

Lần nào có dịp vào khu chợ nầy, nếu là buổi sáng, tôi hay ghé mua báo của bà Tư, dù trong chợ hay tiệm liquor gần đó có bán báo Việt Nam, có lẽ vì tôi, cũng như khách qua lại muốn mua ủng hộ khi thấy một bà già đáng lẽ ở tuổi nầy đã sống an vui đoàn tụ với con cháu, chớ có lý đâu bà phải cực khổ hàng ngày đứng còng lưng bán từng tờ báo kiếm sống qua ngày.

Có buổi sáng đi làm sớm tôi ghé ngang chỗ bà để xe bán báo, định mua mấy tờ báo Việt mới đầu ngày, vì ông xã tôi có thói quen chiều đi làm về hay đọc báo trong khi chờ bữa cơm tối. Tôi ngừng xe ngó quanh quất không thấy bà Tư bán báo đâu, mà chợ  và tiệm liquor còn sớm quá chưa mở cửa, tôi định nổ máy chạy đi thì nghe có tiếng gọi “cô ơi cô..”, tôi đảo mắt nhìn mãi mới thấy bà Tư đang ngồi khuất giữa hai chiếc xe đậu ngoài parking, tay bà vẫy tôi lia lịa. Tôi đến gần hỏi lý do thì bà cho biết bị bảo vệ của khu phố thương mại không cho bán, chắc do sự khiếu nại của các tiệm  bị mất khách mua báo. Mấy ngày gần Tết bà Tư cũng có bán báo Xuân hay lịch năm mới, tôi cũng ghé mua để ủng hộ cho bà. Có vài lần bận tôi không ghé mua báo, hôm sau gặp bà tôi hỏi mua lại báo ngày hôm trước, chỉ khi nào bà hết báo cũ thì thôi, chứ nếu còn bao giờ bà cũng biếu cho tôi không lấy tiền dù tôi cố trả …

Bẵng đi một thời gian dài tôi không đi ngang khu Bolsa vì không tiện đường đi làm, tôi chỉ ghé mua báo ở chỗ nào có bán trên đường đi, và tôi cũng quên mất bà Tư bán báo. Cho tới một ngày, chắc cũng hơn một năm rồi, tôi đọc báo thấy hình bà Tư và một bài dài mấy kỳ báo nói về bà do một nữ phóng viên của tờ báo viết. Càng đọc tôi càng thấy xúc động về cuộc đời của bà Tư.

Theo bài viết thì bà chỉ có hai mẹ con ở Mỹ, người con trai cũng trên ba mươi, chưa có gia đình sống với bà suốt bao nhiêu năm, gia cảnh hai mẹ con thiếu thốn chật vật; nhưng có một điều không ai có thể ngờ được là tiền bà bán báo hàng ngày, bà dành dụm lâu lâu gom lại gửi về Việt Nam làm từ thiện, giúp trẻ em nghèo, người già neo đơn khốn khổ.

Tác giả bài viết kể cô đã có dịp tìm gặp chính người con trai của bà mới biết mọi chuyện về bà mà đưa lên báo. Cuối cùng bà mang bệnh ung thư gan quá nặng nên đã từ trần.

Đám tang bà thật nghèo nàn thiếu thốn đến nỗi không có được một cái quan tài rẻ nhất để quàn, lòng hảo tâm của con người cũng có giới hạn, nên lúc đem thiêu, thân xác bà đựợc cho vào một áo quan bằng giấy carton rẻ tiền nhất. Sau đó người con trai đem gửi tro cốt của mẹ ở một ngôi chùa nhỏ, cô phóng viên tường thuật lại sau khi mọi việc đã xong xuôi.

Lần đó tôi đã xúc động khóc khi đọc bài báo, tự trách mình sao không biết chuyện sớm hơn, để có chút gì thực tế tiếp sức với gia đình bà, hay ít nhất cũng đến thắp một nén hương cho ấm lòng người quá cố, dù sao tôi cũng từng nói chuyện vài lần và hay mua báo cuả bà mà, một kiếp người sao khốn khổ quá! Bây giờ mỗi lần ghé khu Bolsa mua báo tôi vẫn thấy bồi hồi nhớ hình ảnh bà Tư đứng còng lưng bên xe báo  mời khách qua lại!
. . .
 
Ở một khu chợ Việt Nam khác, cũng gần khu Bolsa, một lần ghé đi chợ tại đây, lúc từ trong chợ bước ra, tôi thấy có hai ông bà, có lẽ họ là hai vợ chồng,  bán bánh tét ngay đó. Có một điều hơi lạ là cả hai đều bị tật cả, người vợ đứng bán, chống nạng hai bên, bà mượn chiếc xe cuả chợ chất thùng bánh lên đó, người chồng ngồi trên chiếc xe lăn hơi khuất xa vợ một chút.

Ba mẹ tôi gốc người ở miền tây nên thích ăn bánh tét lắm, hồi tôi còn nhỏ ở Việt nam, mỗi năm đến tết nguyên đán mẹ tôi hay gói một ít bánh tét nhỏ để trong nhà ăn mấy ngày tết, vì thế tôi thích ăn bánh tét từ nhỏ. Sau này qua Mỹ, khi đi ngang qua khu chợ Việt Nam nào thấy ai bán bánh tét  là tôi ghé qua nhìn, có khi mua vài cái về ăn thử. Lần này thấy hai ông bà  bán bánh tét tôi cũng ghé qua, hai vợ chồng cũng chưa già lắm, chắc chỉ  lớn hơn tôi một vài tuổi thôi, cả hai đều nói giọng người miền tây.

Thấy  người vợ nói chuyện vui vẻ, nét mặt hiền hậu, sau khi mua bánh, tôi nán  lại trò chuyện với cả hai. Qua câu chuyện trao đổi, tội được biết hai vợ  chồng chỉ mới qua Mỹ gần hai năm, do em gái cuả người vợ bảo  lãnh, hai người con cuả họ đã trên 21 tuổi nên không đủ điều kiện đi cùng cha mẹ.

Tôi còn được biết hai ông bà đã mang tật từ nhỏ, chị phải chống hai nạng mới đi lại được, còn anh ngồi xe là phương tiện di chuyển duy nhất ở Việt Nam đã mấy chục năm nay , vì thế hai anh chị đi lại thật khó khăn vô cùng.

Vì thời gian  có mặt ở Mỹ chưa đủ lâu để được hưởng những sự giúp đỡ toàn phần cuả chính  phủ, nên hai anh chị phải vất vả tìm cách tự sinh sống, không thể nhờ cậy hoàn toàn vào người em gái đã bảo lãnh họ, vì hai người cũng đang ở  một phòng trong nhà của gia đình cô em gái.

Người vợ biết gói bánh tét từ lúc còn ở Việt Nam, bây giờ qua Mỹ, họ nghĩ đến việc gói bánh tét đem bán ở các chợ người Việt cuối tuần, chỉ có việc này là khả thi nhất đối với tình trạng bệnh tật cuả hai vợ chồng. Người chủ  chợ mà hai vợ chồng đến bán bánh chắc cũng thông cảm cho hoàn cảnh đặc biệt đó, nên không thấy ông bảo vệ ngăn cản họ bán như mấy người khác.

Ca ûhai ông bà nói chuyện thành thật lắm, tôi biết thêm chút về tình trạng bệnh tật của họ, một trong hai người bệnh tật đã là một sự khó khăn cho người kia, vậy mà cả hai vợ chồng đều cùng tật nguyền cả thì có bất công cho họ không? cuộc đời con người sao lắm trớ trêu!
 …
Gia đình tôi ba người có thói quen cùng nhau đi bộ mấy vòng quanh khu nhà tôi ở mỗi buổi chiều mùa hè sau bữa cơm. Nhiều lần đi tới góc đường dẫn vào khu nhà dưỡng lão gần đấy, tôi hay gặp một bà cụ già dáng đi lom khom chống gậy chậm chạp bước. Chiều nào đi bộ cũng gặp nên tôi lân la đến gần đi chung với cụ để làm quen. Cụ cho biết cụ đã 90 tuổi, ở một mình trong nhà dưỡng lão nói trên, con cái bận đi làm mỗi ngày, nhà không có ai giúp cụ, nên con gửi cụ vào viện, cuối tuần mới đến thăm hay đón cụ về nhà chơi, rồi chiều chủ nhật lại đưa cụ vào.

Cụ nói chuyện với tôi xem ra đầu óc còn minh mẫn lắm, cụ kể cụ ông mất lâu rồi, bà đã ở vậy nuôi các con ăn học thành danh, rồi dựng vợ gả chồng cho các con đàng hoàng. Cụ nói chuyện không tỏ vẻ gì trách móc con cái đã đưa cụ vào viện dưỡng lão, mà còn có vẻ rất cảm thông với nỗi khó khăn của  các con vì không lo được cho mẹ lúc về già.

Có lần cụ còn dắt tôi về phòng của cụ ở khu dưỡng lão. Thấy phòng cụ chỉ có một giường, tôi hỏi bộ cụ chỉ ở một mình không buồn sao? Cụ nói cụ quen một mình rồi không sợ gì hết, có chuyện gì bấm chuông gọi nhân viên trực. Cụ nói các con cụ cũng muốn làm vui lòng mẹ nên mỗi đứa phụ thêm tiền trả chi phí để giữ phòng một mình cho mẹ. Tôi đã có vài lần đến thăm và nói chuyện với cụ, bà rất vui mỗi lần thấy tôi đến, bà kể rất nhiều chuyện về cuộc đời bà cho tôi nghe.

Rồi mùa đông đến buổi tối trời lạnh sớm nên tôi không đi bộ nữa, có lẽ cụ bà cũng được lưu ý người già không nên ra ngoài khi trời lạnh, nên tôi không gặp cụ nữa.

Một thời gian sau tôi có ghé qua viện dưỡng lão định thăm cụ thì mọi người nói cụ không còn ở đây lâu rồi, không biết con cái đưa cụ về nhà hay cụ đã trăm tuổi già dứt xong gánh nợ trần ai!
 
Từ lâu tôi có góp mặt vào Hội của những người bệnh Alzheimer’s, chi nhánh Việt Nam. Hội tổ chức sinh hoạt mỗi tháng từ 10 đến 12 giờ vào buổi sáng ngày thứ năm của tuần lễ thứ nhì trong tháng. Hội viên toàn là những ông bà lớn tuổi có thân nhân, hoặc vợ hoặc chồng hoặc cha mẹ bệnh, chỉ có tôi duy nhất là đến hội có một mình, vậy mà tôi thích như thế.

Những câu chuyện được nghe kể về các người bệnh, có khi ngây ngô bật cười, nhưng cũng có lúc cảm động đến chảy nước mắt. Một bác gái tuổi đã bước qua gần con số 8, đã nuôi chồng bệnh mười mấy năm rồi năm rồi, vậy mà lần nào gặp, tôi thấy bác luôn vui vẻ cười nói, trông còn rất trẻ so với số tuổi của  bác, không thấy bác than van chán nản với việc chăm sóc người bệnh lâu như thế, nhất là cái bệnh “lẫn trí”, đòi hỏi người nuôi bệnh phải hết sức kiên nhẫn dịu dàng.

Bác nói phải chăm chút cho chồng như một đứa trẻ, lo từng miếng ăn giấc ngủ, rồi chơi đùa với chồng như trẻ lên ba. Bác kể có lúc bác đùa gọi ông là “Hoàng đế” và xưng là “Hoàng Hậu” với ông, thế là mặt mày ông vui vẻ hẳn lên, lấy làm sung sướng lắm. Có lúc thấy vợ cực khổ lo vệ sinh cho ông, ông cảm động vuốt má vợ nói “tội nghiệp hoàng hậu quá”, làm bác gái cảm động rơi nước mắt.  Bác “hoàng đế” có thể kể vanh vách mạch lạc nguyên nhân đã gây ra căn bệnh lẫn của bác, khiến người nghe hoàn toàn không thấy bác bệnh chút nào; nếu không có bác gái sau đó đính chính rằng ngay cả bác cũng không biết tại sao  ông lại có thể nghĩ ra được một câu chuyện có đầu đuôi tình tiết hợp lý và kể lại cho người khác nghe một cách thông suốt như vậy; trong khi sự thật là ông bị tai nạn xe trúng đầu, sau khi bình phục thì trí nhớ của ông kém hẳn đi,  ông quên nhiều chuyện lắm.

Mấy năm trước mỗi tháng đến sinh hoạt hai bác còn đi chung, bác trai ăn mặc rất lịch sự, lúc nào cũng tươm tất bộ veste, đội mũ tây, ngó bác đẹp lão ra phết, gặp ai bác cũng chào rất lịch sự, thỉnh thoảng còn pha thêm vài tiếng “tây’’trong câu nói, tôi đoán chắc lúc còn trẻ đi làm bác giỏi ngoại ngữ lắm đây.

Bây giờ thì chỉ có bác gái đến mỗi tháng thôi, bác trai đã được nhận vào ‘’Day care’’mỗi ngày rồi, và sẽ về nhà lại vào buổi chiều, tối ngủ ở nhà, sáng hôm sau có xe đến nhà đón bác đi, chiều lại đưa về. Nhờ vậy bác gái có thời gian nghỉ ngơi trong ngày, mới có sức khoẻ để tối lại tiếp tục lo cho bác trai nữa, phải thật sự ở trong cùng hoàn cảnh mới thông cảm với nhau được.

Có trường hợp một chị tuổi mới ngoài năm mươi, nhưng đã nuôi chồng bệnh Alzheimer’s từ hơn 7, 8 năm rồi. Mới đây chồng chị đã mất, nhưng chị vẫn tiếp tục duy trì đi sinh hoạt với Hội mỗi tháng sau thời gian chị vắng mặt vì anh mất. Hôm gặp lại chị mọi người mới biết tin buồn nầy, ai cũng bùi ngùi thương cảm, chị kể lại chuyện mà mắt chị đỏ hoe khiến mọi người ngồi nghe đầy cảm kích,  nỗi ngậm ngùi lan toả khắp gian phòng, có người cũng đã lau vội mắt khi nghĩ đến đấy cũng có thể là hoàn cảnh cuả chính mình trong thời gian tới lúc nào đó.

Lại có một cô dáng người cao thon thả, khuôn mặt đẹp đẽ thanh tú, đến chỉ có một mình, cô nói đi theo hai vợ chồng bạn, tiếng Huế cô nói nghe rất êm tai. Bác gái bạn cô nói nhỏ với mọi người là hình như đầu óc của cô cũng có vấn đề thoảng nhớ thoảng quên, nên bà bạn muốn rủ cô theo cùng sinh hoạt mong ngăn ngừa căn bệnh mới phát hiện trong cô.

Bác cho biết cô rất thích hát và hát hay lắm, thế là cả phòng nhao lên yêu cầu cô hát. Cô không ngần ngại hát ngay một bài nhạc tiền chiến; nhưng mới hát nửa chừng cô im bặt nói quên mất rồi, người nghe cũng thông cảm với cô; Nhưng rồi cô chợt cất tiếng hát một bài khác. Thế đấy triệu chứng không được bình thường về trí óc của một con người.

Một bác trai chăm sóc vợ cũng đã lâu năm, mỗi  tháng hai vợ chồng cùng có mặt, bác gái rất ít khi nào nói chuyện, ai hỏi cũng chỉ mỉm cười. Bác trai chăm chút đút vợ ăn, rồi lau mặt sạch sẽ cho vợ khi ăn xong, vuốt tóc vợ suông sẻ. Tôi thấy rất cảm phục bác khi nhìn thấy bác chăm sóc vợ chu đáo như thế, nếu không phát xuất từ tình thương yêu vợ đậm đà thì thật khó khăn lắm cho một người đàn ông khi phải làm những việc đó!

Cô phụ trách Hội thật tốt, tháng nào Cô cũng nghĩ ra một đề tài để trong buổi sinh hoạt nêu lên cho mọi người cùng góp ý, tạo cơ hội cho người bệnh vận động trí nhớ của mình. Ngoài ra Cô còn mang chút quà, một ít món ăn nhẹ nhàng cho các bác cùng ăn uống vui chơi thoải mái với nhau trong hai giờ đồng hồ, và có những thông tin mới về y tế cô cũng phổ biến cho mọi người biết.

Tôi vốn thích những buổi sinh hoạt có ý nghĩa nầy nên mỗi tháng dù bận tôi cũng cố thu xếp thì giờ đi sinh hoạt với Hội, vậy mà tôi đến với Hội cũng được bốn năm rồi, bốn năm với nhiều thay đổi.

Một bác bệnh lẫn mà gia đình nhờ tôi đến giúp lo cho bác mỗi ngày,  săn sóc cho tới gần bốn năm thì bác mất, tôi có mặt trong đám tang đưa bác đến nơi hoả táng, sau đó gia đình gửi tro cốt vào chùa, thỉnh thoảng tôi đến chuà thắp nén hương tưởng nhớ. Hàng tháng đến sinh hoạt với Hội, tôi đi một mình, có vài người thắc mắc khi thấy tôi không đi chung với người bệnh, bản thân tôi cũng không bị bệnh, cớ sao tôi lại chịu khó đến với Hội như vậy? Tôi chỉ lắc đầu mỉm cười, cứ  “đến hẹn lại lên” chứ tôi biết trả lời sao bây giờ!

Mỗi tháng đến Hội, tôi gặp thêm vài khuôn mặt mới, nhưng đồng thời lại thấy vắng đi vài người cũ, cuộc đời thật vô thường sắc sắc không không!

Mỗi lần gần tới những ngày lễ hội lớn, cô phụ trách đã cẩn thận email hay gọi điện thoại nhắc nhở các hội viên trước vài ngày. Cô muốn buổi họp mặt sẽ đông đủ các gương mặt quen thuộc của Hội, như buổi  họp mặt tháng 12, trước ngày Christmas, coi như là buổi sinh hoạt cuối  năm dương lịch. 

Mới đây hôm 10 tháng 1 là buổi tất niên âm lịch của  nhóm, buổi họp mặt hôm ấy thật vui và cảm động, hầu hết các ông là người bệnh; các  bà vợ đã chăm chút miếng ăn cho các ông chồng thật chu đáo, phần ẩm thực do các hội viên tự nguyện đóng góp rất dồi dào; có chụp ảnh lưu niệm; cuối cùng trước khi chia tay mọi người vui vẻ chia nhau “to go” phần thức ăn còn lại mang về cho các bác vui, gọi là chút lộc cuối năm, mọi người chúc  nhau sức khoẻ, may mắn, bình an trong năm mới sắp đến, lưu luyến chia tay hẹn tháng sau gặp lại, hôm đó là một buổi gặp gỡ  ý nghĩa và đáng ghi nhớ.
 . . .
Ngày 25 Tết, đối với các gia đình Việt Nam là ngày đi cúng mộ thân nhân đã qua đời. Vào ngày nầy hồi đó, lúc còn ở Việt Nam, tôi và em gái thường mang hoa quả trái cây vào chùa đốt nhang cho ba mẹ tôi và các thân nhân có gửi các hũ cốt trong chùa. Chúng tôi lau chùi các bình đựng tro cốt, tôi chưng bình hoa vạn thọ trên bàn, lúc còn sống mẹ tôi thích hoa này lắm. Rồi chị em chúng tôi đốt nhang tưởng nhớ các người đã khuất.

Khi tôi rời Việt Nam, việc thờ cúng ba mẹ nhờ chị tôi còn ở lại nhà lo lắng dùm. Ngày 30 tết, tôi gọi về chúc tết khi các gia đình tụ họp bên mâm cơm đón ông bà về ăn tết. Còn ở Mỹ, ngày tết Việt Nam, nhất là khu tôi ở, gọi là thủ-đô tị nạn của người Việt, ngày tết cũng nhộn nhịp không thiếu một thứ gì giống như ở Việt Nam, nên người ta mới gọi là khu “Sàigòn nhỏ”, cũng chợ hoa, bánh mứt, trái cây, nhang đèn, ngũ quả  cầu, dừa, đủ , xoài, sung…, ngoài phố Bolsa cờ vàng ba sọc đỏ phất phới bay trong nắng xuân ấm áp, bao nhiêu năm ly hương, người Việt vẫn không quên tập tục ngày Tết cổ truyền.

Buổi chiều 30, đi về ngang khu phố Bolsa, trời đã sẩm tối, mọi người qua lại có vẻ vội vã mua sắm thêm để kịp về nhà cúng giao thừa đón năm mới, tôi quẹo một vòng trong parking của khu tiệm Việt Nam, thoảng nghe có tiếng harmonica cao vút giữa tiếng ồn ào của phố đông người qua lại.

Tôi tìm chỗ đậu xe xa tít sát lề đường rồi bước vào hàng hiên trước chợ, hình ảnh quen thuộc của ông nhạc sĩ già ngồi như say mê thổi không để ý đến người qua kẻ lại, ông thổi bài “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao. Tôi  cúi người để tiền vào chiếc nón trước mặt ông rồi bước đi thật nhẹ, không dám làm bận tâm người nhạc sĩ đang chăm chú với bài nhạc. Tôi thầm nghĩ không biết  giờ nào ông mới trở về nhà khi trời chiều cuối năm đã dần tối, hay là ông không có được một mái ấm trú chân trong đêm nay trước giờ phút giao mùa đến.

Tôi lái xe về nhà, lòng vương chút bồi hồi khi nhớ đến hình ảnh người nhạc sĩ già ngồi cô đơn lặng lẽ với chiếc harmonica của mình mong được chút lòng hảo tâm của người qua lại. Tôi bật máy CD trong xe, thoảng vang bản nhạc “Xuân muộn” tôi rất thích nghe mỗi dịp xuân về, qua giọng hát nhẹ nhàng buồn man mác cuả cố ca sĩ Hà Thanh:
 
“… Chiều ba mươi tết ta còn gì cho nhau,
lại thêm xuân nữa rơi nhẹ vào mái đầu,
chân bước trong đêm tàn ngõ vắng,
giao thừa xuân muộn và không vui,
có người đón xuân quên cười. “
 
(Cuối năm Mậu-Tuất 2018)

Thái Anh QNA

Friday, December 14, 2018

Tháng 12, Nhớ






An đã trải qua một thời thơ ấu với gia đình thật may mắn, lúc đó ba đi làm cho một hãng xuất-nhập-cảng tư nhân, chủ là một gia đình người Pháp gốc Hoa, cái tên Chú Hỏa (Hui-Bon-Hoa) hồi đó ở Sài gòn ai mà không biết tiếng, họ giàu có cả dòng họ từ tổ tiên cho đến con cháu. Cái khu phố ở đường Phó-Đức-Chính, trước năm 1975 có một cái nhà thật to lớn như một lâu đài xây cất kiểu Âu Châu đã là một huyền thoại cho biết bao câu chuyện huyền bí, chả trách một hãng phim thời đó đã lấy bối cảnh của ngôi nhà nầy để dựng thành phim “Con ma nhà họ Hứa” chiếu ở Sài gòn, và An đã có dịp được xem qua.

Khi ba vào làm ở hãng thì chủ nhân là một thanh niên người Pháp còn rất trẻ, không biết là con cháu đời thứ mấy của chú Hỏa, ba hay kể về người chủ nhỏ nầy với mẹ mỗi khi cả nhà quây quần bên mâm cơm tối. Ba gọi là “thằng Philip con”, “nó” giống y chang người Pháp phảng phất đôi nét Á đông, tuy còn trẻ mà “nó” rất biết cách điều hành hãng, “nó” đối xử với nhân viên cấp dưới thật tốt, thưởng phạt công bằng.

Đặc biệt ông chủ con nầy rất nể trọng ba, nhờ lợi điểm đầu tiên là ba nói được tiếng Pháp trôi chảy (vì hồi đó An có nghe kể ba học chương trình Pháp nhưng  chưa thi bằng diplôme), rồi ba còn nói và hiểu được kha khá tiếng Hoa (Triều châu), hồi đó gia đình ông nội ở quê sống chung trong làng với rất nhiều gia đình người Hoa, và với tiếng Việt, ba có thể là thông dịch viên giữa chủ nhân và nhân viên trong hãng, vì thế ba rất được lòng “ông chủ con”. Hơn nữa tính ba làm việc ngăn nắp trật tự và tinh thần trách nhiệm của ba rất cao, ba lại cương trực thẳng thắn không kiêu ngạo phách lối với mọi người vì được chủ tin dùng.

Mỗi lần “ông chủ con” vắng mặt  đi về Pháp, ông ta rất yên tâm giao phó mọi việc cho ba, và lần nào ba cũng chu toàn nhiệm vụ nên ba được chủ đối xử rất hậu hĩ, lần nào về hãng lại ông cũng có quà cho ba, là hộp bánh LU nổi  tiếng, hay hộp bơ Bretagne thơm béo,  cuộc sống gia đình cũng nhờ đó đỡ vất vã, các con của ba được ăn học đầy đủ.

An nhớ lúc An lên năm, mẹ cho An đến học mẫu giáo của một trường nhỏ trong xóm nhà An. Gọi là trường chứ thật ra chỉ là nhà của một cô giáo ở độc thân, An nghe người lớn gọi là cô Tám. An thấy cô cũng lớn bằng mẹ, nhà của cô nhỏ xíu, vuông vức, có cái gác nhỏ ở trên; bên dưới cô kê chừng năm, sáu bàn học dài. Cô chỉ dạy mẫu giáo, là lớp sắp chuẩn bị vào lớp một trường công, An đoán chắc hồi trước cô đã từng dạy học, vì An học cô không thấy chán, ngược lại thích là khác. Cô dạy a, b, c cho học trò, rồi cô dạy hát, mấy bài hát trẻ con hồi đó An rất thích. Cô còn tập cho tụi An mấy bài hát ngắn tiếng Pháp thật dễ thương, cô giải thích nghĩa tiếng Việt cho tụi An hiểu.

Trong phòng học,  phía trên tấm bảng có treo bức hình người đàn bà rất đẹp tay bồng đứa trẻ xinh xắn, cô nói là hình Đức Mẹ bồng Đức Chúa, cô còn nói cô đạo Chúa nữa, có lúc cô còn hát cho cả lớp nghe những bài hát thật dài, giọng cô cao vút thánh thót, cô nói là bài hát trong nhà thờ do các ca đoàn trình diễn. Lúc đó An không hiểu cô nói gì hết, chỉ thấy là mỗi lần nhìn hình Đức Mẹ An thấy thật dễ chịu, có cảm giác lâng lâng nhẹ nhàng khó diễn tả. An thích học trường cô Tám để mỗi ngày vào lớp An say mê nhìn hình Đức Mẹ, vì nhà An đâu có treo hình nầy. Có lần An hỏi mẹ thì mẹ nói “nhà mình đâu có đạo Chúa con ạ!”.

Sau đó An vào lớp một trường tiểu học gần nhà, không còn học trường cô Tám nữa, nhưng An vẫn thường đi bộ ngang qua nhà cô Tám, ghé vào thăm cô, để được nhìn bức ảnh “Đức Mẹ bồng Đức Chúa” mà ngày đó An rất thích.

Khi An bắt đầu vào lớp đệ thất của bậc trung học, An học trường của các Soeur Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán, trường nằm khuất trong một góc ngó ra ngã ba đường Nguyễn Biểu và Phan văn Trị thuộc Quận 5 ( trước 1975). Ban Giám -Đốc nhà trường toàn là các Nữ Tu của Dòng; trường nhỏ nhưng đủ các cấp lớp từ tiểu học cho đến trung học, nghiã là từ mẫu giáo cho đến lớp đệ nhất. Ngoài ra trường còn có nhận học sinh nội trú nhưng không nhiều, phần lớn là học sinh từ đệ thất trở lên, có một ít em nội trú cấp tiểu học nữa.

Trường còn có khu nhà tập để nhận các chị muốn vào tu ở Dòng, các chị phải qua một thời gian dài vừa học văn hóa chung với học sinh ngoại trú như An, vừa học giáo lý của Dòng và tập sống đời sống đạo như các Soeur trong Dòng. Lúc An học đệ thất ( hồi đó còn gọi đệ thất là lớp 6, đệ lục là lớp 7…) thì trường đã đổi tên là Trường Trung-Tiểu Học Tư Thục Thánh-Linh từ lúc nào rồi, An được biết trường hồi đó đã từng có tên tiếng Pháp là L’ecole de Saint-Esprit.

Trường chia ra từng khu riêng rẽ, khu tiểu học , khu trung học, khu nhà nội trú, khu nhà tập cho các chị đệ tử, khu nhà ở của các Soeur.. mỗi khu đều giữ được vẻ yên tĩnh không bị ồn ào bởi khu tiểu học của các em nhỏ. Có lẽ vì muốn tránh mọi phiền toái có thể xảy ra,  nên từ đệ thất trở lên trường chỉ nhận nữ sinh, tuyệt đối không nhận nam sinh.

Vì là trường đạo, nên mỗi sáng vào lớp trước khi bắt đầu các tiết học thì cả lớp phải làm dấu thánh giá và đọc một bài kinh ngắn. Lúc đầu An đâu có thuộc bài kinh nào nên chỉ đứng yên nghe các bạn khác đọc, nhưng dần dần rồi An cũng thuộc và đọc theo. Mỗi tuần An còn có học giờ giáo lý về đạo do môt Cha dạy. Trường còn có một nhà nguyện nhỏ rất ấm cúng nhưng không mất vẻ trang nghiêm thành kính. Hồi đó  mỗi lần có dịp vào nhà nguyện,  bên trong có tượng Đức Mẹ lớn mặc áo xanh da trời rất đẹp, vẻ trang trí chung quanh cũng toàn màu trắng và xanh, tạo cho An một cảm giác thật bình an nhẹ nhàng. Có lẽ vì từ nhỏ An đã ảnh hưởng nhiều của mẹ An vì bà rất thích màu thiên thanh, và An cũng đã thích màu xanh. Thêm nữa đồng phục của trường cho học sinh trung học là áo dài màu xanh da trời, màu áo của Đức Mẹ.

An còn nhớ lúc gần ngày tựu trường, người dì em gái của mẹ vốn là thợ may đã may cho An hai chiếc áo dài bằng vải, hồi đó gọi là vải petit là loại vải dệt sợi rất mịn, không mỏng lắm cũng chẳng dày cộm như vải kaki. Lúc An xúng xính trong chiếc áo dài đầu tiên trong đời, cả nhà ai cũng bật cười làm An mắc cở chết được, chỉ muốn chui góc nào trốn cho xong. Rồi khi đến trường, thấy chung quanh các bạn khác ai cũng mặc giống nhau, nên dần  An cũng đỡ ngượng ngùng khi mặc áo.

Trường còn có chương trình gia nhập phong trào sinh hoạt Thanh-Sinh-Công (Thanh-niên Học sinh Công-giáo) họp mặt nhau mỗi chiều thứ bảy mỗi tuần để sinh hoạt chung , học những nghề  thủ công, để trao đổi kinh nghiệm học tập hay có những buổi đi làm thiện nguyện như đi thăm cô nhi viện hay những buổi văn nghệ gây quỹ mua quà, viết thư quỹ lạo các chiến sĩ tiền đồn nhân dịp Noel hay xuân về.

Học ở một trường đạo nên An có dịp thường xuyên tham gia vào các buổi lễ bên đạo, và An mới nhớ ra là những bài hát mà hồi đó Cô Tám hay hát cho tụi An nghe là những bài hát của các ca đoàn hát trong nhà thờ. Trong các buổi lễ, tiếng hát của các ca viên cất lên quyện vào tiếng piano đệm thánh thót réo rắt dễ chinh phục lòng người. An rất thích cái không khí yên ắng của ngôi nhà nguyện nhỏ trong trường, có nhiều lần đi ngang qua không biết có một sức thu hút nào khiến An phải bước vào bên trong giây lát. An có cái cảm giác quen thuộc  khi thấy lại bức ảnh Đức Mẹ bồng Đức Chúa, gương mặt thánh thiện hiền từ trong tà áo màu thiên thanh. Cái cảm giác bình yên nầy An đã có hồi An còn học ở trường Cô Tám, nhưng hồi đó An còn nhỏ quá đâu biết tại sao, bây giờ vào học trường các Soeur, An đã tìm lại được cảm giác bình yên đó. An có đem chuyện nầy kể lại cho Soeur hướng dẫn lớp, Soeur nói vây là An đã được ơn Thiên Triệu kêu gọi, Soeur kêu An về xin phép gia đình cho theo đạo Chúa, và sau nầy nếu được thì An có thể trở thành như các Soeur, nghĩa là một Nữ Tu sống đời phục vụ. Soeur phụ trách rất thương An, Soeur nói qua việc hướng dẫn lớp, Soeur thấy tính An rất thích hợp cho việc tu tập sống trong tu viện, Soeur đã tạo điều kiện cho An tham gia các buổi lễ trong nhà nguyện. Suốt 7 năm của bậc trung học ở trường, năm nào An cũng được Cha dạy môn giáo lý khen là học sinh giỏi môn nầy. Cuối cùng khi rời trường An vẫn chưa trở thành một con chiên mới ,An biết mình đã phụ lòng của Soeur phụ trách, nhưng hình như ở trong An vẫn có cái gì vướng mắc đã khiến An còn ngập ngừng chưa quyết định.

Sau khi tốt nghiệp trung học, An ghi danh học Văn-khoa, có những ngày học buổi chiều, sau giờ tan lớp, An đạp xe dọc theo con đường Cường Để, ngược lại hướng trường Văn khoa, cuối đường thật vắng vẻ, yên tĩnh, nơi đây tọa lạc Dòng Tu Kín, An hay vào ngôi nhà nguyện nhỏ nằm trong khuôn viên tu viện, bên trong có tượng Bà Thánh Têrêsa đặt nằm trong một lồng kính to trong suốt, pho tượng trông như người thật đang nằm ngủ, nét mặt bà Thánh thật thánh thiện nhân từ. 

Chiều nào cũng vậy, khoảng 5 giờ là có lễ cho các nữ tu, tiếng chuông đỗ vang lên An nhìn vào phía xa xa bên trong tu viện, các nữ tu xếp hàng dài chậm rãi vừa đi vừa lần chuỗi đọc kinh. Lần nào cũng thế An nhìn cho đến người cuối đi khuất mới đứng dậy về, An thấy tâm trạng buồn buồn, làm sao các nữ tu lại chịu đựng nỗi cuộc sống lặng lẽ như vậy nếu không có một ơn kêu gọi đặc biệt vì họ còn quá trẻ, dù tính An cũng rất thích sự yên tĩnh, lặng lẽ, nhưng để quyết định chọn một cuộc sống thầm lặng như thế An cũng không dám, có lẽ An còn nặng lòng trần nhiếu quá. An còn nhớ lúc học lớp đệ tứ, cuối năm đó có cô bạn cùng lớp đã từ giã bạn bè để vào sống đời nữ tu trong một tu viện ở Đà lạt, bạn bè ai cũng lưu luyến cô vì cô học rất giỏi theo chương trình Pháp từ nhỏ, gia đình lại giàu có, vậy mà cô bỏ hết để chọn con đường trở thành một nữ tu. An không biết tin cô bạn từ lúc đó, không biết cô có đi hết con đường đã chọn không ?...           

Trong gia đình An, bố mẹ chỉ thờ cúng tổ tiên ông bà, chứ không chọn theo một tôn giáo nào, vì thế khi An theo học trung học ở một trường đạo bố mẹ cũng không phản đối, ngay cả hai đứa em kế An cũng theo học Trường Nguyễn Bá Tòng của các Cha, nên trong nhà An và hai em nói chuyện có vẻ hợp nhau hơn, An kể chuyện các Soeur, còn hai em nói về các Cha, những câu chuyện rất tương đắc. Sau nầy An với em gái hợp tánh nhau hơn với em trai, hai chị em hay nói chuyện đạo với nhau.

Sau năm 1975, vì thời cuộc gia đình An cũng như bao gia đình khác ở miền Nam lâm cảnh ly tán mất mát, thời gian nầy An và em gái do sự giới thiệu của người bạn, hai chị em hay vào nhà thờ Đắc Lộ gặp chị linh hướng ở đây để sinh hoạt cùng chị học hỏi về đạo, hình như có một cái gì đã thôi thúc hai chị em An tìm đến Chúa. Chị linh hướng thật dễ thương, chị đã hết lòng hướng dẫn hai chị em.

Cuối năm 79, em gái An có cơ hội đi vượt biên với gia đình người quen, nó quyết định xin chị linh hướng nói với Cha sở nhà thờ Đắc Lộ năm đó là Cha Linh cho nó làm lễ rửa tội đêm Giáng Sinh. Nó muốn mang theo trong lòng một đức tin vững mạnh trước khi bắt đầu chuyến đi định mạng.

Nhờ sự giúp đỡ tận tình của Chị linh hướng, cùng sự thông cảm của Cha sở, đêm Giáng Sinh năm ấy hai chị em An đã trở thành hai con chiên mới của Chúa, hai chi em An trong bộ áo dài trắng tinh khiết quỳ trước bàn thờ lãnh nhận ơn Thánh, An đã khóc vì cảm động khi Cha rót nước rửa tội lên đầu An, giọt nước Thánh và giọt nước mắt đã hoà lẫn vào nhau trong khi An mỉm nụ cười sung sướng…Sau lễ một số ít bạn bè của hai chị em đã họp mặt chung vui. An đã chọn tên thánh là Têrêsa, bà Thánh nằm trong lồng kiếng ở tu viện Dòng Kín năm nào, vị Thánh Nữ mà An đã hết lòng kính phục và mong muốn được sống như đời sống của Bà, dù chỉ giống một phần rất nhỏ nhoi khiêm nhường 

Tháng 12, bây giờ, mấy chục năm sau, An đang ở nước Mỹ. Những ngày đông lạnh, buổi sáng trời hay có sương mù, sáng chủ  nhật đi lễ sớm chạy xe trong màn sương trắng toát, mênh mông như đi vào một cảnh giới xa lạ nào, quanh quất trước sau chỉ có một chiếc xe mình dung rũi, An hay tức cảnh sinh tình,  miên man suy nghĩ, hồi tưởng chuyện xưa chuyện nay.

An còn nhớ, năm đầu tiên đón lễ Giáng Sinh ở Mỹ, đêm 24 tất cả mọi người trong gia đình chồng cuả An tụ họp ỏ nhà ông anh rể người Mỹ ăn “Réveillon”; ông anh rể nầy rất chu đáo, ông đã chuẩn bị tất cả các món ăn, nướng một con gà tây thật to, vì bên chồng An anh chị em rất đông, số người hiện diện cũng khoảng 15. Anh rể lo đủ món ăn với gà, khoai nghiền, bánh mì tròn, nước chấm, bánh apple pie tráng miệng.. An rất thích loại bánh mì tròn, mỗi lần mở hộp nó nổ tiếng “bóc’ nhỏ nghe vui tai, An thấy ông ngắt từng cục bột xếp lên khay nhôm cho vào lò, lát sau lấy ra bánh mì nở chin vàng mùi bơ thơm phức. Sau đó moị người tụ laị thay phiên chụp hình bên con gà tây gọi là một chút hình ảnh kỷ niệm dịp lễ, trước khi anh rể cắt nhỏ con gà mời moị người nhập tiệc, trước đó ai cũng cùng nâng ly chúc nhau những lời tốt đẹp nhất trong tương lai.

Thời gian mấy năm sau đó việc họp mặt mừng lễ nầy cũng thưa dần vì cuộc sống, có người đã đi nơi khác làm việc, hay ở tiểu bang xa không về được, người lại bận rộn sinh kế gia đình; còn ông anh rễ năm xưa giờ cũng lớn tuổi lắm rồi, An có biết ông cũng lắm phen trải qua những giờ phút sinh tử vì căn bệnh tim trầm trọng cuả ông.

Thêm một kỷ niệm đáng nhớ tháng 12, năm đó con trai bé cuả An lên 5 tuổi, nó bị sốt đi sốt laị hoài, bác sĩ khuyên đưa nó vào bệnh viện sẽ an tâm hơn. Sau mọi xét nghiệm thấy bạch huyết cầu trong máu nó tăng nhiều, bác sĩ đề nghị rút nước trong tuỷ sống xét nghiệm vì sợ nó vị viêm màng não. Vợ chồng An nghe nói mà rụng rời chân tay, vì An lúc sinh nó khó khăn phải mổ, nó là đứa con duy nhất cuả An mà. An run rẩy ký tên đồng ý cho con xét nghiệm tuỷ, bác sĩ yêu cầu hai vợ chồng ra phòng ngoài đợi, bác sĩ có báo cho biết bé sẽ phải chiụ đau khi chích kim vào tuỷ vì không thể gây mê được, An nghe mà tim thắt laị vì lúc sinh nó An đã bị chích thuồc tê vào tuỷ, lúc đâm kim vào An đau xé ruột, người lớn mà còn đau như vậy, huống chi thằng bé mới có 5 tuổi. Nước mắt An chảy ràn ruạ khi nghĩ tưởng tượng hình ảnh đó sẽ xảy đến với con trai bé nhỏ của mình.

Chồng An siết chặt tay An như chia sẻ nỗi đau, sau đó có tiếng con trai thét lớn vang ra, tay An run rẩy trong tay chồng, nước mắt ràn ruạ, tim An thắt lại từng hồi “con ơi, tội nghiệp con quá !”. Rồi An vào phòng , thấy con nằm yên, đinh tới ôm con thì bác sĩ cản để nó ngủ yên. An noí với chồng An sẽ về nhà trước tắm rửa cho tỉnh táo người rồi sẽ trở vào với con cho chồng về ngủ sáng hôm sau đi làm việc.

Trời khuya 2 giờ đường vắng tanh, tháng 12 đang đông lạnh lẽo, lái xe dọc đường An không ngừng cầu xin cho con trai không mắc phải căn bệnh hiểm nghèo kia, con đường Euclid moị lần trước An vẫn thường đi ngang sao không dài, mà lần nầy chạy hoài chưa tới nhà. Khi ngừng ngã tư đèn, nhìn thấy có một nhà thờ, An mới chợt nhận ra nhà thờ nầy An có lần An đến đi lễ tại đây, An nhớ có một tượng Đức Mẹ bên hông nhà thờ, thế là An quẹo vào sân.

An nhớ đúng, có một tượng Đức Mẹ nhỏ trên cao bên dưới là cái hang nhỏ nước chảy róc rách ngày đêm. An bước xuống, lúc đó An không cảm thấy một chút sợ hãi nào khi chỉ có một mình thân đàn bà yếu đuối trong đêm khuya vắng vẻ, tình thương con đã thắng moị nỗi sợ lúc đó. An quỳ trước hang đá, ngước nhìn tượng Đức Mẹ nhân từ mà cầu xin sự bình an cho con trai, nước mắt An tuôn trào theo từng lời cầu xin. Sau đó An quay người định bước lên xe, An bỗng giật mình thót tim khi thấy có một bóng người mờ mờ trước mặt, An sợ điếng người thầm cầu xin đừng có chuyện gì không may xảy ra cho An. Bóng đen tiến lại gần An, chân An tê cứng không nhấc lên nỗi đễ chạy, miệng cũng không cử động vì quá sợ.

Bóng đen đi đến trước mặt An thì ngừng lại, dưới ánh đèn mờ mờ, hình như là một người homeless đàn ông. Ông ta ăn mặc cũng hơi lếch thếch, ngó An rồi chợt mỉm cười, đưa tay có vẻ muốn bắt tay An làm quen. An lúc nầy nước mắt còn đầm đìa trên má, nhưng đã bớt sợ, cũng đưa tay ra bắt bàn tay lạnh buốt của ông ta, người ấy vỗ nhè nhẹ vào tay An như an ủi miệng vẫn cười, không phải là người Việt Nam, có lẽ là ngươì Spanish. An đã thấy hết sợ, cố gắng diễn tả cho ông ta hiểu tại sao giờ khuya như vậy mà An vẫn dám một mình ở đó. Chẳng biết ông ta có hiểu hết không điều An nói mà thấy gật đầu liên tục. An chỉ tay lên tượng Đức Mẹ rồi chắp tay lại quỳ xuống, ông ta cũng làm theo An. Sau đó An chào từ giả ông sau khi chúc bình an cho ông (“God bless You”). Ông gật đầu cũng chúc lại An như thế, An đi về lòng thấy an ủi một chút vì găp được một người bạn giữa đường đồng cảm!

Với An tháng 12 còn có nhiều kỷ niệm đáng nhớ, giới văn nghệ hải ngoại đã có nhiều mất mát: ngày 13/12/2013 nhạc sĩ Huỳnh-Anh từ trần;  Việt-Dzũng mất ngày 20/12/2013, rồi mấy năm sau nhà văn Bùi Bảo Trúc ra đi ngày 16/12/2016.

Với nhạc sĩ Huỳnh-Anh, An đã nghe tên Ông từ lúc nhỏ. Chuyện là An có ông cậu, em ruột của bà ngoại, ông biết chơi đàn kìm bên cổ nhạc; lúc An nhỏ khoảng 6,7 tuổi hay qua nhà ông chơi vào những dịp lễ, Tết. Ông cậu ở chung với mấy người con An gọi là Cậu, Dì, nhà ở gần chợ Nancy thuộc quận 5. Ông cậu thích đàn cổ nhạc lắm, thỉnh thoảng buổi tối ông rủ thêm mấy người bạn cùng sở thích đến nhà, mỗi ông một loại đàn, thế là An được nghe một bữa hòa đàn cổ nhạc của các nhạc sĩ tài tử; cũng từ đó An đâm ra mê cải lương, và cũng biết lõm bõm một vài điệu hát như Lý con sáo, Nam ai, Nam xuân, hay xuống sáu câu vọng cổ.

Ông cậu  có quen với ông nhạc sĩ Văn Khánh làm trong đoàn hát Thanh minh Thanh Nga, nên nhiều lần ông cậu có vé coi cải lương đoàn trình diễn hằng đêm ở rạp hát Hưng Đạo và lúc nào An cũng được ông cậu dắt theo xem hát. An biết rất nhiều tuồng cải lương có cô Thanh Nga đóng vai chánh vì là sân khấu nhà của cô mà. An mê coi cô Thanh Nga lắm, cô đẹp quá lại hát hay diễn tuồng giỏi, vai nào cô đóng cũng xuất sắc hết.

Trong tuồng cải lương Mưa Rừng, cô Thanh Nga đóng vai sơn nữ Klay thật dễ thương, nhạc sĩ Huỳnh Anh đã sáng tác bài hát Mưa Rừng cùng tên cho Thanh Nga hát, cô hát bài nầy giọng không điêu luyện như các ca sĩ tân nhạc chuyên nghiệp, nhưng giọng cô rất mộc mạc dễ thương, cô Thanh Nga đóng vai sơn nữ Klay; An nhớ hoài cảnh chót lúc Klay buồn hiu đứng nhìn theo thầy cai Hữu Phước lên ngựa về miền Kinh thì Klay ngâm bốn câu thơ :

Thầy cai lên ngựa đi rồi, sao Klay còn đứng ngậm ngùi ngó theo. Mưa rừng xứ thượng đìu hiu, em mang gùi nhỏ đựng nhiều nhớ thương.”

Còn trong phim Mưa Rừng thì cảnh chót Klay đứng ngó theo thầy cai, có tiếng hát của Thanh Nga bài Mưa Rừng vẳng lên đoạn cuối bài “Mưa rừng ơi mưa rừng, tìm đâu hỡi ơi bóng người xưa. Mỗi khi mưa rừng về muộn màng, bóng chiều tàn dần tàn lòng thương nhớ nào nguôi.” An đã thích và thuộc bài hát Mưa Rừng của nhạc sĩ Huỳnh Anh từ đó. An còn xem phim Loan Mắt Nhung cũng do  cô Thanh Nga và Huỳnh Thanh Trà đóng vai chính, nên biết qua bài hát cùng tên phim cũng cuả ông Huỳnh Anh.

Chỉ một tuần lễ sau cùng năm, tới lượt Việt Dzũng cũng lặng lẽ rũ sạch nợ trần khi tuổi đời so với nhạc sĩ Huỳnh Anh thì còn quá trẻ. Sự ra đi của Việt Dzũng đã để lại bao tiếc thương mất mát cho gia đình và cho cả người Việt Nam trên thế giới, cả An cũng rất thương tiếc Việt Dzũng.

Sau đám tang An có đến viếng mộ Việt Dzũng, nghĩa trang ngày thường rât vắng người, không gian thật tĩnh mịch, cái yên lặng chết người. An đặt một bó hoa cẩm chướng trắng lên mộ, An vẫn có thói quen thích hoa cẩm chướng trắng, loài hoa mà mẹ hồi còn sống rất thích, An đọc một bài kinh cho người dưới mộ. Một lúc có ba người tới bên mộ, hai vợ chồng và đứa con gái nhỏ; người đàn bà làm dấu thánh rồi mở cuốn sách nhỏ, chị nhìn trong sách hát nho nhỏ với thái độ thật thành kính, hát xong cả ba người lại lâm râm đọc kinh, làm dấu rồi lặng lẽ rời mộ, có lẽ họ muốn giữ sự tôn trọng vì thấy An còn ngồi bên mộ. Chắc họ cũng như An, là những khán thính giả thầm lặng của Việt Dzũng, một lần tới viếng mộ người  ca-nhạc-sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh, họ chào từ biệt một người con của mẹ Việt-Nam vừa trở về với lòng đất lạnh, cát bụi lại trở về cát bụi.

Bất giác An nhớ lại trong những lần đi lễ tro bên đạo, lúc lên rước lễ khi các tín hữu sắp hàng đi lên ngang chỗ cha xứ, thì cha nhúm chút tro tượng trưng rắc nhẹ trên đầu mỗi người, trong lúc ca đoàn hát những lời kinh ngụ ý cát bụi rồi cũng trở về cát bụi, lần nào đi lễ tro An cũng thấy trong lòng buồn buồn, ra về mà thấy thật thắm thía, rồi cứ tự nhủ cuộc đời là “ sắc sắc không không “, khi buông tay nằm xuống thì rủ sạch hết mọi thứ trên đời, có mang theo được chút nào đâu, tiền tài danh vọng cũng là hư không, thân xác rồi cũng thành đất thành tro, còn chăng là cái tiếng tốt hay tiếng xấu sẽ theo mình ngàn đời mỗi khi người thế gian có dịp nào nhắc đến tên mình, khen hay chê từ đấy. Như Việt Dzũng đã sống một kiếp người thật đáng sống, một cuộc đời đầy cống hiến, phục vụ, có lý tưởng để theo, từ đây mỗi lần nhắc đến tên “Việt Dzũng “, người đời sẽ nhắc đến bằng một sự nể phục, ngưỡng mộ một tấm gương tốt xứng đáng cho lớp trẻ ngày sau noi gương.

Bẵng đi mấy năm sau, ngày 16/12/2016 nhà báo Bùi Bảo Trúc qua đời, An nghe tin Ông mất với nhiều xúc động, An rất cảm phục tài uyên bác  thông thái cùng trí nhớ kinh khủng cuả Ông. An đã không bỏ sót một buổi phát thanh “Câu chuyện ngày nầy năm xưa’ trên đài mỗi ngày lúc 10 giờ sáng, rồi chương trình nhạc chủ đề với cô Quỳnh Anh, những bài học Anh văn trong báo Việt Tide mà An còn trân trọng cất giữ cho tới bây giờ.

An có đến viếng Ông với bó hồng trắng, nhìn chung quanh quan tài toàn là những khuôn mặt quen thuộc cuả Cộng đồng Việt Nam ở khu Bolsa nầy, An chỉ là một thính giả vô danh mến mộ thương tiếc một bậc tài năng uyên bác đã ra đi, An đặt bó hoa ở một góc bàn thờ, thắp cho người quá cố nén hương tưởng nhớ, rồi An lặng lẽ quay bước xua tay lắc đầu khi người nhà chỉ cuốn sổ nói An ghi tên vào. Một kiếp người vừa khép lại!

Sáng nay khi mở email, có một bạn đã gửi cho An một bài viết cuả Ông, như một câu chuyện tiếu lâm, có chút châm biếm, An chợt ngước lên nhìn lịch, quả có sự trùng hợp, sắp đến ngày giỗ hai năm cuả Ông. Nhanh thật, thời gian đi có bao giờ chậm lại. Bây gìờ cũng là tháng 12, những kỷ niệm, những nhung nhớ tháng 12 lại hiện về trong An.

Tháng 12. Lễ Giáng Sinh rồi thêm một năm mới. Bao năm rồi vẫn chỉ mình An lặng lẽ cô đơn đi lễ một mình, ở Việt Nam rồi ở Mỹ vẫn một mình một bóng, như cái hạnh-phúc chưa trọn vẹn trong An, như câu kết cuả bài nhạc “Có những niềm riêng muôn đời dấu kín, nên khi xuôi tay còn chút ngậm ngùi …”

Thái Anh QNA

Friday, October 5, 2018

Năm Tháng Hoàng Hôn



viet ve nuoc My 01

Buổi đi bộ gây quỹ của Hội Alzheimer’s VN hồi cuối tháng 10/2017.

viet ve nuoc My 02
Sinh hoạt hàng tháng của hội , ngày thứ 5 trong tuần lễ thứ nhì mỗi tháng.


Trước khi đề cập tới nước Mỹ, tôi muốn kể cho bạn nghe câu chuyện của một gia đình người Nhật, ở tại nước Nhật.  Đây là câu chuyện hết sức đau lòng về cụ Shigezo, một tư chức về hưu đã 20 năm, goá vợ và ở chung với gia đình con trai tên Nobutoshi, con dâu Akiko và cháu nội trai Satoshi.

Con dâu Akiko vừa đi làm, vừa lo việc nội trơ, lại vừa chăm sóc đứa con trai còn học trung học. Ông cụ Shigezo, 85 tuổi đang tiến dần đến tình trạng suy nhược của tuổi già, là một gánh nặng hết sức to lớn mà Akiko phải gánh vác, một cuộc sống hết sức căng thẳng mà Akiko phải lãnh đủ, không có một sự cảm thông nào của chồng, dù chồng cô là con trai trưởng của cụ Shigezo.

Ông cụ đang từ từ quay về tuổi ấu thơ, Akiko phải xem  cụ như à một đứa trẻ mà cô phải bảo vệ và chăm sóc bằng  những cố gắng phi thường.

Cụ Shigezo bị bệnh lãng trí của người già ngay từ khi cụ bà còn sống. Rất nhiều lần cụ đã đi ra ngoài và không nhớ đường về nhà, có lần cảnh sát chở về hộ. Ông cụ lẫn đến nỗi lúc bà vợ bị té nằm chết trong nhà, có thể là do bị stroke thình lình, ông cũng không hề biết, lại bỏ đi ra ngoài.  Akiko đi làm về thấy bố chồng đứng ngoài trời lạnh không áo khoác, cô đưa ông về nhà mới phát giác bà mẹ chồng đã nằm bất động từ lúc nào và, thảm kịch bắt đầu từ đây….

Sau khi vợ mất, bệnh lãng trí của cụ Shigezo càng trở nặng, Akiko phải chăm sóc cho cụ mọi việc, đến nỗi buổi tối cô phải ngủ cạnh để canh chừng. Nhiều lần trong đêm ông đã ra ngoài lúc trời có trăng sáng, vừa đứng tiểu tiện vừa nhìn trăng Akiko đi tìm gặp đưa ông vào nhà. Chính vì Akiko gần gũi chăm sóc cho cụ Shigezo nên trong gia đình cụ chỉ quen mặt và nhớ tên một mình Akiko thôi, sự kiện nầy đã khiến một đôi lần chồng và cô em chồng đã có vẻ ganh tị với Akiko, vì họ cho họ là con ruột lại không được bố nhớ mặt nhớ tên, trong khi Akiko là con dâu lại khiến cụ Shigezo nghe lời và còn luôn gọi tên cô nữa.

Người ta không biết rằng người bị bệnh lãng trí thì mọi việc đối với họ như một thói quen, một sự lập đi lập lại nhiều lần, y hệt như một đứa trẻ lúc nào cũng ở gần bên mẹ, mẹ cho ăn chăm sóc lo lắng đủ điều thì việc đứa trẻ quen  thuộc với mẹ hơn với bố là lẽ thường thôi. Thoạt đầu Akiko rất khó chịu, phiền hà khi phải chăm sóc cho bố chồng, cô không còn chút thì giờ nào cho riêng mình, cả ngày đi làm; chiều về đến nhà thì cả trăm công ngàn việc đang chờ cô; tối đi ngủ cũng chẳng yên giấc lại phải trông chừng ông cụ. 

Theo thời gian qua, bệnh tình của cụ Shigezo càng nặng hơn, đến nỗi cụ ăn rất nhiều mà chẳng biết ngừng nếu không có ai thấy mà cản ngăn. Trong đám tang của vợ, cụ ông vào bếp ăn cả nồi súp nấu cho khoảng chục người ở lại đêm trong tang lễ dùng. Tai hại kinh khiếp hơn là trong một đêm Akiko tỉnh giấc, cô rất đỗi kinh hoàng khi thấy bình tro cốt của mẹ chồng từ lâu vẫn đặt trên bàn thờ lại nằm dưới đất, nắp bình mở ra và trên hai tay cụ Shigezo cầm một vật mà Akiko nhìn như là mảnh xương lấy từ trong bình. Thật là khiếp đảm không thể tưởng tượng nỗi!  Akiko nghĩ không biết ông cụ đã có ăn miếng xương nào của vợ chưa ? Cuối cùng một sự kiện không tưởng nữa là cụ Shigezo đi vệ sinh trong tả, cụ cởi tả rồi bóc phân quẹt đầy tường, đầy thảm trong phòng. Thế là Akiko một phen vất  vả tắm rửa cho bố chồng, vừa phải dọn dẹp, tẩy uế phòng. Akiko không chịu đựng nổi nữa, cô đề nghị với chồng phải gửi cụ vào nhà dưỡng lão.

Vấn đề chưa được giải quyết thì cụ Shigezo đã trở bệnh nặng, dường như lúc nào bệnh có những biểu hiện kỳ lạ chính là dấu hiệu những ngày cuối cùng của bệnh, và sau một lần rời nhà đi lạc được tìm về, cụ bị cảm nặng nằm liệt mấy ngày rồi trút hơi thở cuối cùng sau đó không lâu.

Akiko trong đêm khuya, ngồi một mình bên thi hài của cụ Shigezo chưa tẩm liệm, tay cô ôm chặt chiếc lồng nhốt con chim mà lúc sinh thời cụ Shigezo rất ưa thích, cô chợt thấy một nỗi trống vắng cô độc vô cùng. Lúc nầy cô mới cảm thấy bố chồng đã là một hình ảnh rất thân thuộc với cô;  nhưng khi cô cảm nhận được điều nầy thì hình ảnh thân quen đó từ nay đã xa rời cô mãi mãi, bất giác cô bật khóc nức nở. Cô khóc vì thương cụ Shigezo, khóc vì hối hận những lần cô đối xử không tốt với cụ, hay cô khóc cho chính số phận mình không biết ngày sau sẽ ra sao?!

Câu chuyện kể trên dựa theo bản dịch tiếng Việt từ nguyên tác bằng tiếng Pháp “Les années du crépuscule” của nhà xuất bản Stock, Paris 1986 (tiếng Mỹ tựa là The Twilight Years), một trong những tiểu thuyết bán chạy nhất của Nhật. Ngay năm 1972 là năm đầu tiên tác phẩm đã bán trên một triệu bản. Tác phẩm đề cập dến một vấn đề xã hội nóng bỏng ở Nhật, cũng như ở nhiều nước khác trên thế giới đó là cuộc sống của người già, vị trí xã hội và quyền lợi mà họ xứng đáng được hưởng sau nhiều năm cống hiến công sức làm việc của mình cho cộng đồng xã hội.

Tác giả của quyển truyện nổi tiếng trên là nữ văn sĩ Nhật Sawako Ariyoshi, sinh năm 1931, mất năm 1984 ở Tokyo.

Thảm kịch trong câu chuyện trên không chỉ xảy ra ở nước Nhật, mà chính là một thảm trạng chung của nhân loại. Các trường hợp mất trí nhớ trên toàn thế giới sẽ gia tăng gấp 3 lần vào năm 2050 với 135 triệu người bệnh theo phúc trình mới nhất của Alzheimer’ s Disease International, được công bố trong cuộc họp G8 về bệnh Alzheimer’ s tại London.

Riêng tại Hoa kỳ được báo động hơn 5 triệu người Mỹ đang mắc bênh nầy, người ta ước đoán trong năm 2013 ở Hoa kỳ có 450,000 người chết  vì bệnh trên (theo tài liệu của Alzheimer’ s Association Hoa kỳ ). Các thống kê chính thức về bệnh lãng trí Alzheimer’ s cho thấy bệnh nầy là nguyên nhân làm chết người nhiều thứ 6 tại Hoa kỳ, với khoảng 83,000 người chết mỗi năm. Nhưng nghiên cứu mới nhất cho thấy con số thật có thể nhiều gấp 6 lần, theo tin CNN.

Cuộc nghiên cứu đăng trên tạp chí Neurology ước tính rằng bệnh lãng trí Alzheimer’s làm chết 503,000 người mỗi năm, và con số nầy là nguyên nhân làm chết người nhiều thứ 3 tại Mỹ, chỉ sau bệnh tim (600,000), và bệnh ung thư (575,000). Các nhà nghiên cứu hướng dẫn bởi Bryan James, giáo sư dịch tể học tại Alzheimer’s Disease Center ở Chicago nói rằng giấy chứng tử báo cáo thiếu sót về bệnh lãng trí Alzheimer’ s  thường ghi nguyên nhân chết vì bệnh trực tiếp hơn, như là bệnh hoại huyết (pneumonia). Cuộc nghiên cứu kéo dài 8 năm về người tuổi 65 trở lên, những người đồng ý cho thử nghiệm về bệnh mất trí nhớ và đã tặng não bộ để nghiên cứu khi chết.

Bệnh Alzheimer’ s là một căn bệnh của tuổi già, là hình thức phổ  biến nhất của chứng bệnh mất trí nhớ mà nhân loại đang đối diện, bệnh phá huỷ tế bào não và chức năng của não bộ rồi làm người bệnh thiệt mạng.  Căn bệnh nầy được đặt tên theo Bác Sĩ Tâm Thần và Thần Kinh Học người Đức tên Alois Alzheimer khi ông đã nghiên cứu và xác định căn bệnh bất trị nầy

Bệnh có những dấu hiệu như  sau:

- Trí nhớ sụt giảm, ảnh hưởng đến công việc hàng ngày.

- Mất định hướng về thời gian và không gian.

- Có vấn đề với cách dùng ngôn ngữ như xáo trộn từ ngữ thông thường.

- Để lạc đồ đạc và mất khả năng nhớ lại.

- Thay đổ tính tình hay tâm trạng.

Rồi dần dần bệnh nhân không còn biết tự kiểm soát mình nữa, đến nằm liệt và  chết dần.

Từ trước đến nay y khoa vẫn chưa tìm ra phương pháp chữa trị dứt bệnh ngoài những khuyến cáo nên làm đối với người mới nhuốm bệnh, như tập thể dục, chữa mất ngủ, chữa bớt quên sót. Giới y khoa chỉ biết là bệnh liên quan đến việc thoái hóa những mảng xám của thần kinh não (neocortex), nơi điều hành những suy nghĩ và lý luận của con người.

Từ sự thoái hóa nầy, bệnh Alzheimer’ s sẽ đem đến một cái chết khổ sở, kéo dài, và đau đớn về cả thể xác lẫn tinh thần cho cả người bệnh và thân nhân…

Theo tin AP, ở Decatur, Alabama ( AP), có một cụ bà mắc bệnh Alzeimer’s đã sống cạnh xác của ông chồng suốt một tháng sau khi ông qua đời mà không biết việc gì đã xảy ra.

Ngày 10 tháng 3 năm 2014, thi thể cụ ông Jesse Kirby, 76 tuổi, được tìm thấy trưa ngày thứ sáu tuần trước trên giường, sau khi cảnh sát đến nhà để xem xét tình trạng của hai vợ chồng.

Cùng sống trong nhà là bà vợ, Doris Kirby, 78 tuổi, được đưa vào bệnh viện sau đó. Ông chồng có nhiều căn bệnh khác nhau, kể cả bệnh tim, và có vẻ đã chết trong khi ngủ khoảng 4 tuần trước đó, theo giám đốc văn phòng giảo nghiệm tử thi, ông Jeff Chunn. Ông Chunn cho hay cánh cửa dẫn vào phòng ngủ của người chồng đã đóng; và người vợ tiếp tục sống trong phía khác của căn nhà và vẫn có đồ ăn đầy đủ.

Ông Chunn cho biết hai vợ chồng có hai người con đều trưởng thành, sống ở vùng Decatur, nhưng không ai biết chuyện gì vì ông bà Kirby sống rất khép kín. 

Bệnh Alzheimer’s cũng từ lâu không còn xa lạ với cộng đồng Việt tại hải ngoại. Theo báo chí Việt ngữ tại miền Nam Cali, trước đây có hai vợ chồng Giáo Sư Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh và Nguyễn Hoàng Lan, đã nghiên cứu dùng sinh tố D (loại bắt buộc có toa bác sĩ chứ không phải loại tự do bán ngoài thị trường) để chữa trị bệnh Alzheimer’s. Tạp chí Y Khoa chính thức của giới Y Sĩ Hoa Kỳ “American Journal of Alzheimer’ s Disease & Other Dimentias “, Volume 26(7): 510, đã cho đăng bài khảo cứu  nầy.

Bác sĩ Khanh là cựu Giáo Sư Bác Sĩ Y Khoa tại University of Southern California (USC), Keck Medical School, Los Angeles, California. Ông còn là Chủ Tịch sáng lập VAMA (Vietnamese American Medical Research Foundation).

Nhưng thật trời không chìu lòng người, số phận vô cùng trớ trêu vì Bác Sĩ Khanh, người đã từng đạt danh hiệu “Khoa Học Gia Thế Giới Hàng Năm” (International Scientist of the Year) đã đột ngột từ trần ngày 02 tháng 10 năm 2013, trong khi công trình nghiên cứu về cách chữa trị bệnh Alzheimer’s của Ông đang tiến triển.  

*                                    
Theo mẹ tôi kể về ông cố, mới đầu ông ở dưới quê đi ra khỏi nhà mấy lần rồi quên đường về nhà. Lúc bà ngoại mất trước 75 vì bệnh, bà cô tôi (em ông ngoại) đưa ông cố từ dưới quê lên Sài gòn dự tang lễ, ông cố cứ ngồi kế bên quan tài  con dâu, đốt hết cây nhang nầy đến cây nhang khác.

Sau ngày 30/4/75 ông cố lên Sai gòn ở nhà người con trai lớn là ông ngoại tôi; Sau đó, người em ruôt của ông ngoại tôi đi theo miền Bắc từ năm 1954, gọi theo tiếng  miền bắc là “đi tập kết” trở về.  Ông chú ‘’cách mạng” này khẳng định bố mình mất trí như người điên, nên đưa ông vào bệnh viện tâm thần Biên hòa. Ông cụ bị nhốt chung phòng với những người điên thật sự, chỉ thời gian ngắn ngủi sau, tinh thần cụ bị khủng hoảng sa sút trầm trọng, cụ bỏ cả ăn uống kiệt sức dần dần. Ông ngoại tôi hay tin đến xin đón cụ về nhà, cụ nằm mê man, chỉ môt ngày sau là qua đời, có thể vì kiệt sức cả về tinh thần lẫn thể xác.

Sau nầy ở Hoa kỳ, lúc tôi còn nhỏ học tiểu học, bà nội của tôi cũng mất vì bệnh nầy năm 2004. Lúc ấy bà nội về ở chung nhà với bố mẹ và tôi, tôi chỉ nhớ bố hay bảo tôi lại gần nói chuyện, rồi ôm bà cho bà thấy vui; mà nào tôi có thấy bà cười đâu. Cô út tôi có hai con gái rất xinh, ba mẹ con cô đến thăm bà cuối tuần rồi ở lại nhà tôi chơi mấy ngày. Tôi và hai đứa em họ cứ vây quanh bà, đứa nắm tay, đứa hôn má bà, rồi lại làm trò hề cố chọc bà cười, vậy mà sao thấy bà vẫn dửõng dưng, ánh mắt bà như ngó tận đâu đâu xa vắng. Lúc đó tôi mới học lớp 2, nên cũng chẳng biết gì về bệnh của bà, bố tôi chỉ nói bà lớn tuổi rồi nên mắc bệnh hay quên của người già. Sau đó tôi chỉ nhớ mơ hồ bà không ở nhà tôi nữa, mẹ nói bà bệnh nhiều nên phải vào bệnh viện để chữa bệnh. Rồi một hôm đi học về tôi thấy nhà tôi có các bác, anh chị của bố từ các tiểu bang xa về, mẹ khóc nói với tôi bà mất rồi, con sẽ không bao giờ thấy được bà nữa đâu.

Mẹ tôi không phải là một bác sĩ, cũng không phải là một chuyên gia nghiên cứu y khoa; nhưng bà hay để ý tìm hiểu và đọc những tài liệu nói về bệnh  Alzheimer’s, bà cũng là một thành viên của nhóm hổ trợ người bệnh và người nuôi bệnh (Alzheimer’s Vietnamese Caregiver Support Group). Bà sinh hoạt hàng tháng với nhóm nầy vào mỗi ngày thứ năm trong tuần lễ thứ nhì.

Công việc của mẹ tôi cũng có gần 4 năm săn sóc cho một bà cụ bị bệnh lú lẫn. Lúc đầu mới tiếp xúc với bà, mẹ gặp rất nhiều khó khăn do phản ứng lần đầu tiên gặp người lạ, bà la lối, xua đuổi, có khi còn mắng, còn nói nặng lời với mẹ.

Mẹ nói thời gian đầu nầy mẹ bị rất nhiều stress, có lúc mẹ tưởng phải bỏ việc ngang, nhưng rồi mẹ hiểu là bà cụ bị ảnh hưởng của căn bệnh Alzheimer’ s; không hề ý thức được việc làm của mình, cũng giống như ông cố hồi đó hay giống như bà nội của tôi lúc bệnh, và cũng giống y như ông cụ Shigezo trong truyện Nhật kể trên. 

 Mẹ nói mẹ rất buồn vì phải chứng kiến bệnh bà cụ ngày một nặng thêm. Cuối cùng, bà cụ đã từ trần sau mấy ngày hôn. Vậy là chỉ tới khi chết, bà cụ đã được giải thoát khỏi căn bệnh Alzheimer’ s quái ác

Cũng như mẹ, tôi không có ý định thành một bác sĩ, hay một nhà nghiên cứu y khoa, nhưng lớn lên trong gia đình có ông cố, bà ngoại là bệnh nhân Alzheimer’s, tôi muốn  theo gương mẹ góp một phần nhỏ vào  việc vận động mọi người mở lòng nhân ái, đóng góp chút công sức và vật chất vào những buổi đi  bộ gây quỹ của hội Alzheimer’s.

Cùng với các bạn học, tôi đã nhiều  lần tham gia vào những buổi đi bộ gây quỹ của Hội. Khi nắm tay nhau trong những cuộc đi bộ, chúng tôi cùng quyết tâm thực hiện như lời kêu gọi của Ông Jim McAleer, President/CEO của Hội Alzheimer’s, “Cùng nhau, chúng ta hy vọng ở một thế giới không còn bệnh Alzheimer’s.”  

Còn nhớ, mỗi lần đi bộ, tôi lại được phát một áo T-shirt màu tím có chữ trắng tên của Hội. Tôi từng nói với mẹ, “Sao Hội lại chọn màu tím buồn quá vậy!” Mẹ nói màu tím giống như buổi hoàng hôn của tuổi già, buồn như căn bệnh Alzheimer’s  thời kỳ cuối cùng. Mẹ nói mẹ cũng cố gắng tham gia sinh hoạt Hội mỗi tháng, góp mặt đi bộ mỗi năm theo hội, thường vào tháng 10 hay 11, đó cũng là chút thiện chí nhỏ cuả mẹ.

Mẹ kể trong mỗi kỳ sinh hoạt hội mỗi tháng, mẹ đã tận mắt chứng kiến hay tận tai nghe kể những câu chuyện thật cảm động, thương  tâm: có ông đã kiên nhẫn nuôi vợ bệnh ở nhà gần chục năm; có bà cũng đã kề cận ông chồng bệnh trên mười năm, tưởng đã có lúc kiệt sức chết trước người bệnh rồi…

Trong câu truyện về cụ  Shigezo lú lẫn, có đoạn kể là Nobutoshi, cháu nội của cụ đã thốt ra trong một  lúc bực dọc chán nản khi cuộc sống bình thường của gia đình bị xáo trộn vì  hệ lụy do ông nội bị bệnh gây ra, đã nói “Bố mẹ đừng bao giờ sống già như thế!”

Tôi cầu mong các nhà nghiên cứu về Y Khoa trên thế giới sớm tìm ra thuốc khống chế được căn bệnh Alzheimer’ s quái ác, để con cháu không bao giờ phải  không phải bật lên câu nói bất hiếu đau lòng, để rồi  phải ân hận, như Nobutoshi cuối cùng nói lời hối tiếc muộn màng với mẹ Akiko “Giá mà ông nội sống thêm vài năm nữa !”

(Bài viết từng được phổ biến hạn chế, ký tên Phạm Duy An. Đây là một bút hiệu khác của Thái Anh/QNA).

Thái Anh/QNA

Blog Archive