Showing posts with label Nguyễn Trần Diệu Hương. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Trần Diệu Hương. Show all posts

Tuesday, January 27, 2026

Một Lần Nhìn Lại

Năm thứ nhất sau khi VNCH bị bức tử

Thành phố trở nên xa lạ ngay trong mắt lũ con nít. Cùng là tiếng Việt, nhưng tiếng Việt của người từ Bắc vô Nam xa lạ, từ ngữ lạ lùng với người miền Nam. Chẳng hạn "đăng ký" (dùng để chỉ việc ghi danh, ghi tên), tĩnh từ ghép "hồ hởi phấn khởi"(nghĩa là hào hứng).

Trật tự của đời sống bị đảo lộn, ngay cả một số động từ cũng bị "phe thắng cuộc" đảo ngược thứ tự, như "bảo đảm" bị gọi thành "đảm bảo". Cùng với sách báo bị đốt, bị tịch thu, chừng như người ta muốn tiêu hủy cả một nền văn hóa của miền Nam.

Quái đản nhất là đồng hồ có một ô vuông cho ngày tháng, và hai kim dài, kim ngắn được người thắng cuộc gọi là đồng hồ có "một cửa sổ và hai người lái".

Người miền Nam, nhất là lũ con nít chúng tôi, nghe tiếng Việt mà cứ như nghe ngoại ngữ, vừa nghe, vừa đoán. Rồi còn phải quen dần với những từ mới toanh như "hộ khẩu" mà người miền Nam với óc khôi hài sẵn có đã nói lái thành "hậu khổ".

Trong lúc bà Nhà Văn Dương Thu Hương (lúc đó mới 28 tuổi) ở một lề đường nào đó trong Thành phố Sài gòn "ngồi xuống vỉa hè ôm mặt khóc như cha chết, một cảm giác vô cùng hoang mang và cay đắng", vì thấy mình đã bị lừa dối: Sài gòn không hề đói rách, cơ cực, bị "Mỹ Ngụy" kìm kẹp cần được giải phóng như những câu hát đầy kích động "giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước"... thì có cả triệu người miền Nam mắt hoen lệ, hay cố nuốt nước mắt vào lòng.

Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, tiếng hát của ông Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn vang lên từ đài phát thanh Sài gòn, ông hát một ca khúc nổi tiếng của chính mình "Nối vòng tay lớn". Trong bối cảnh tan hoang, hoài nghi lúc đó, người Sài gòn tự hỏi vòng tay lớn có thực sự được nối lại không khi mà thủ đô của miền Nam cũng bị mất tên?

Sinh viên VN tại Pháp để tang cho Miền Nam Việt Nam ngày 27 tháng 4 năm 1975

***
Niên khóa 1974-1975, anh Hợp đang học lớp 12 ban Toán. Là con đầu lòng, "đầu máy xe lửa, kéo theo những toa xe lửa khác", anh hiểu đầu máy mà trật đường rầy thì những toa xe lửa theo sau cũng văng khỏi đường rầy, nên anh cố gắng học. May mà anh được thừa hưởng gen giỏi Toán từ bên ngoại, lẫy lừng nhất là ông cậu em út của Mẹ được lãnh phần thưởng danh dự toàn trường Trung học Võ Tánh từ Tổng thống, rồi đậu vào cả Quốc gia Hành chánh, Sư phạm, lẫn Phú Thọ. Cậu chọn học Phú Thọ vì giỏi Toán. Anh Hợp biết mình chưa bằng Cậu được, nhưng suốt 12 năm đi học, anh luôn được phần thưởng. Những tờ giấy bóng kính đủ màu đỏ (cho hạng nhất),vàng (hạng nhì), và xanh (hạng ba) một cách nào đó đã tô màu cho tương lai của các học sinh được phần thưởng. Đó là thời Đệ nhị cộng hòa (1964-1975), hồ sơ xét tuyển du học cho các học sinh đậu tú tài hạng Bình (tương đương B plus ở Mỹ) chỉ có thành tích biểu của lớp 12, và một bài essay nói lên ước vọng của người dự tuyển.

Không có hồ sơ lý lịch ba đời như những năm sau tháng 4 năm 1975. Nên xuất thân từ gia đình nào không quan trọng, cứ học giỏi là đường tương lai thênh thang rộng mở. Nếu khả năng ngoại ngữ giỏi, thì học bổng toàn phần bốn năm du học nằm trong tầm tay. Thời đó, học sinh lớp mười hai, nhất là các nam sinh, có một năm cuối trung học miệt mài đèn sách. Anh cũng không ngoại lệ, tự hứa với lòng là "đầu máy xe lửa" sẽ kéo được đoàn tàu đến nơi cần phải đến.

Anh đã nhắm đến học bổng du học, hay ít nhất cũng vào được Phú Thọ (là Đại học Bách khoa sau này). Ăn Tết Ất Mão xong, anh đã lao đầu vào học hơn mười hai tiếng mỗi ngày, học với Thầy Cô ở trường, tự học ở nhà, và chịu khó đi xe lửa từ Biên Hòa vô Sài Gòn mỗi cuối tuần để luyện giọng ở Hội Việt Mỹ, ở Trung tâm Văn hóa Pháp. 

Nhưng "mưu sự tại nhân thành sự tại thiên", chưa kịp thi Đệ nhị lục cá nguyệt (tương đương second midterm ở Mỹ), đất nước đổi chủ. Những người chủ mới xét tuyển tất cả mọi thứ dựa trên lý lịch, theo nguyên tắc "hồng thắm chuyên sâu". "Hồng" là lý lịch ba đời màu đỏ như màu cờ búa liềm, lý lịch không thuộc "thành phần cơ bản", bản thân người mới tốt nghiệp Trung học không phải là "Đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản" đã khó vô Đại học. Trường hợp của anh, Ba là cựu Sĩ quan Quân lực VNCH, đang bị "học tập cải tạo dài hạn", bị chế độ mới xếp vào thành phần thứ 14 trong một xã hội có 15 thành phần thì tương lai bỗng chốc tối đen như đêm ba mươi bị mất điện

***
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.

Chưa đến hai mươi tuổi, anh Đăng trông già như một người gần ba mươi, da sạm đen sau vài tháng hành nghề lơ xe, một công việc mà anh chưa bao giờ nghĩ là mình sẽ phải làm, và làm tốt hơn nhiều người lơ xe khác. Vì anh biết cách sửa những bệnh vặt của một chiếc xe đò chuyển từ chạy bằng xăng qua chạy bằng than. Khách đi xe đò thời đó, đa số là những người đi buôn đường dài liên tỉnh, có thiện cảm với anh lơ xe dù hốc hác, đen sạm vẫn còn phảng phất nét thư sinh, rất lễ phép, nhanh nhẹn, luôn giúp đỡ họ mà không hề vòi vĩnh xin tiền tip.

Khách đi xe đò cảm thấy một chút bình yên sau cuộc đổi đời vì có những người như anh Đăng. Họ không ngạc nhiên vì sau tháng 4 năm 1975 đến giữa năm 1985, mười năm ròng rã, người dân miền Nam đã quen với hình ảnh những người làm công việc tay chân, nhưng mặt mày sáng sủa, và hành xử rất lịch thiệp. Họ cũng đã từng lên những chiếc xích lô mà người phu xe mặt mũi rất trí thức, khi ngồi chờ khách vẫn đọc những quyển Readers' Digest.

Trật tự xã hội đảo lộn đến quái dị: các ông bà cán bộ của "bên thắng cuộc" vào tiếp quản miền Nam, nhiều người viết chữ xấu, đôi khi sai lỗi chính tả căn bản, nhưng đều giống nhau ở chỗ nói những giáo điều giống nhau, giọng đều đều, ngắt câu không đúng chỗ, như một cô, cậu học trò học thuộc lòng bài học, mà không hiểu nội dung của bài học.

***
Là con đầu lòng của gia đình, đang học năm thứ ba ở Đại học Dược khoa Sài gòn, chị Thảo hiểu mình không thể tiếp tục học trình sau khi phải làm bản tự khai lý lịch để nộp cho những người lãnh đạo mới của trường. Chị khai chân thật Ba là Sĩ quan tham mưu cao cấp của Quân Khu I, Mẹ là nhân viên Ty Bưu Điện Huế. Dù bản thân không chưa hề đi làm, chị Thảo cũng bị Đoàn Thanh niên ở trường "để mắt cẩn thận". Đời sống sinh viên khác xa trước tháng 4 năm 1975, họ phải đi lao động nhiều hơn đi học. Phòng thí nghiệm đóng cửa im ỉm, không biết lúc nào mới mở lại. Đến khi Ba của Chị phải vào trại cải tạo tập trung, Mẹ chị cũng phải đi học tập cả tháng ở địa phương thì Chị Thảo quyết định bỏ học, về nhà thay cha mẹ nuôi các em.

Căn nhà nhỏ có hoa phượng, có hoa giấy, có cây cau trong cư xá Sĩ quan nơi gia đình Chị sống hạnh phúc gần mười năm qua cũng bị chính quyền mới lấy lại. Chỉ một tuần sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền cách mạng đến từng nhà trong cư xá đọc "quyết định đuổi nhà".

Như câu nói của ông bà ngày trước "nước mất nhà tan". Nhờ một người thân cho ở nhờ trong một căn phòng nhỏ ở Sài gòn, gia đình chị Thảo bắt đầu cuộc sống đổi đời với đủ nghề để sống. Thoạt đầu, Chị làm bánh bao, bánh ít để bán. Bánh thì có ngon nhưng dạo đó chừng như không ai làm ra tiền, nên người ta ăn sáng bằng cơm nguội, hay sang hơn thì cơm chiên, nên các em chị Thảo phải ăn bánh trừ cơm.

"Bần cùng tất biến", chị Thảo theo bạn bè, những người dân miền Nam cùng cảnh ngộ, đi buôn đường dài trên những chuyến tàu Bắc Nam. Những chuyến tàu dạo đó nhếch nhác và tội nghiệp như những người thua cuộc, đầy dẫy người buôn hàng chuyến. Những chuyến tàu đầy người và đủ thứ hàng hòa, ban đêm không có đèn, lấp lánh ánh dạ quang của những cái đồng hồ đeo tay (cũng là một loại hàng hóa) như ánh ma trơi trong những đêm không trăng sao ngoài nghĩa địa. Điều duy nhất sáng trên những chuyến "tàu chợ" năm đó là khuôn mặt của những người đi buôn vì "thời thế, thế thời phải thế" (1) như chị Thảo.

Chính quyền mới lên án những người buôn bán nhỏ là thành phần không biết sản xuất, ăn bám xã hội. Xã hội nào nuôi con cái của ngụy quân, ngụy quyền??? Trong khi cha mẹ của họ là những người tù không tội. Họ bị xếp vào thành phần thứ 14 trong 15 thành phần của xã hội. Họ bị xếp loại là công dân bậc hai của xã hội, "chính quyền cách mạng" không cho họ đi học, cũng không cho đi làm (vì suy bụng ta ra bụng người, sợ bị phá hoại?).

***
Bằng tuổi chị Thảo, anh Phiến đang học năm thứ ba khoa Toán ở trường Đại học Khoa học. Ba anh nguyên là tỉnh trưởng một tỉnh miền Tây, đã tử trận trong một lần đi thị sát mặt trận bị quân miền Bắc đặt mìn trên đường đi vào những năm cuối cuộc chiến. Xác ông và hai đồng đội hòa tan cùng đất của quê hương. Các con của ông (anh em của anh Phiến) được vào học trường Quốc gia nghĩa tử, nơi nuôi dạy con của những lính tử trận. Là trưởng nam, anh Phiến hiểu mình phải học giỏi để thay Cha giúp Mẹ nuôi dạy, làm gương cho các em. Anh là một trong những học trò cưng của Giáo Sư Đặng Đình Áng

Biến cố 30 tháng tư năm 1975 làm đảo lộn mọi thứ, anh Phiến thất vọng đến độ tự kết liễu đời mình vào tháng 9 năm đó, đúng ngày sinh nhật 21 tuổi của anh. Trong nỗi đau mất con của Mẹ anh, chính quyền địa phương cho người đến nhà anh, với danh nghĩa là giúp đỡ gia đình anh trong cảnh tang gia bối rối, nhưng thật ra là để rao giảng về "đạo đức cách mạng", họ còn "kết tội" người quá cố là "chết ngu".

Trên bàn thờ mới lập, di ảnh của anh Phiến được phóng to từ thẻ sinh viên của anh, với hai con mắt thông minh, to tròn, chừng như đang có nét buồn phiền khi thấy chính quyền địa phương vẫn không chịu để yên cho người quá cố.

Một lần nữa, gia đình anh Phiến, cùng cả xóm bất mãn, nhưng cam chịu như họ đã từng nhẫn nhục từ tháng tư.

Ngày đưa anh Phiến về lòng đất, cả xóm bùi ngùi đưa tiễn, trong ánh mắt hằn học của những người mang băng đỏ ở địa phương. Các Thầy Cô giáo ờ trường Tiểu học nơi anh theo học ngày xưa, mắt hoe đỏ nhìn qua khung cửa sổ lớp học, nhớ đến người học trò cũ thông minh, bạc mệnh của mình.

Có bao nhiêu người đã tự kết liễu đời mình sau cái chết của Việt Nam Cộng Hòa. Chắc là cả trăm người? Hay nhiều hơn nữa? Không ai biết chính xác nhưng hẳn là con số không nhỏ.

***
Tháng 4 năm 1975, Dũng và Huân đang học lớp một. Hai thằng nhóc cùng sinh ra trong cư xá, nhà ở cạnh nhau, học cùng lớp nên rất thân nhau. Cứ tưởng là sẽ học cùng lớp ít nhất là hết bậc Tiểu học, nhưng biến cố tháng 4 năm 1975, tách rời hai đứa nhỏ vì gia đình cùng bị chính quyền mới đuổi ra khỏi cư xá. Chưa đến bảy tuổi, không hiểu nhiều về tình hình đất nước, nhưng nhìn cha mẹ, hàng xóm, người lớn ai cũng buồn, Dũng và Huân tự nhiên cùng tắt tiếng cười. Hai đứa nhỏ không hiểu điều gì đang xảy ra, nhưng cùng hiểu là cha mẹ mình đang lo lắng, Dũng và Huân đều tự lo thân, ngoan ra, không dám làm điều gì để cha mẹ phải phiền lòng. Cả hai đều cố gắng những việc nhỏ khi gia đình dọn nhà ra khỏi cư xá.

Bước vào niên khóa 1975-1976, ngôi trường Tiểu học Nguyễn Du đã bị đổi tên thành trường cấp một Lê Văn Tám, một cái tên lạ hoắc lạ huơ không những đối với học trò mà còn đối với người dân miền Nam. Học trò Tiểu học đến trường không chỉ để học, mà còn phải sinh hoạt trong đội thiếu nhi quàng khăn đỏ. Môn công dân giáo dục cũng "được giải phóng" khỏi chương trình học, được thay bằng môn chính trị. Con nít miền Nam, phần lớn là con của "ngụy quân, ngụy quyền" khôn ra, hiểu là cha anh mình không hề xấu như những bài học chính trị ở trường, hay ở địa phương.

Vào trường, khăn quàng đỏ đeo lên, nhưng ra khỏi trường, học trò tháo khăn ra đút túi.

Khi bị chất vấn về điều này, học trò dưới mười tuổi đã trả lời rất lễ phép, rất khôn ngoan:

- Thưa em phải giữ kỹ khăn quàng, vì nếu khăn dơ sẽ không có xà phòng để giặt.

Ít ra chính quyền cách mạng đã thành công trong việc làm cho tụi con nít khôn ra, trưởng thành hơn tuổi thật của mình.

***
Tháng 5 năm 1975 là tháng trăng mật của một số dân nghèo thành thị với chính quyền mới của bên thắng cuộc.. Một số ít người lao động nghèo chào đón các anh "giải phóng quân" đội mũ tai bèo, mặt mày ngơ ngác (vì Sài gòn và miền Nam không nghèo đói như họ được dạy) bằng chân tình. Họ tưởng đổi chế độ là đổi đời, cuộc sống mình sẽ khá hơn, tương lai sẽ tươi đẹp hơn, nhưng tháng trăng mật chấm dứt nhanh chóng. Chưa thấy đổi đời như thế nào nhưng việc buôn bán của họ ế ẩm hơn trước. Thúng xôi, xe bánh mì, rổ trái cây không còn bán được như trước, người miền Nam không còn công việc ổn định, không còn tiền để mua quà sáng. Họ ăn sáng bằng cơm nguội, hay bằng sắn, khoai tự nấu

Chưa hết, đội quản lý thị trường cũng đeo băng đỏ cũng không cho họ bán hàng rong, vận động họ đi lao động sản xuất, khai hoang ở các vùng kinh tế mới. Đâu rồi các khuôn mặt giải phóng quân, cán bộ nằm vùng thiểu não nhờ họ giấu truyền đơn, đôi khi cả vũ khí dưới đôi quang gánh của họ?

Những người này trở về xóm lao động xưa, mặt mày vênh váo, nhìn họ bằng nửa con mắt, làm mặt lạ như chưa từng gặp nhau. Có bà cụ miền Nam bộc trực, đã nói lớn giữa chợ :

- Biết vậy hồi đó cơm gạo tiếp tế cán bộ nằm vùng, tao nuôi heo còn có lợi hơn.

Người miền Nam bảo nhau họ đã “sáng mắt sáng lòng”. Như thế đó, những người dân lao động ở miền Nam nhanh chóng nhận ra "cứu vật, vật trả ơn/ cứu nhân, nhân trả oán" .

Tháng trăng mật nhanh chóng chấm dứt, chỉ còn nỗi uất ức vì đời sống khó khăn hơn nhiều. Ca dao đương thời ở miền Nam có câu

“Đả đảo Thiệu Kỳ mua gì cũng có
Hoan hô cách mạng mua cái đinh cũng xếp hàng"

***
Đậu vào lớp sáu ngôi trường công lập lớn nhất miền Đông Nam phần, từ xã Tân Vạn về tỉnh lỵ đi học khá xa, Chuyên được Ba mua cho một chiếc xe Mobylette Cady màu vàng nâu làm phương tiện đi học. Nửa thế kỷ trước, dân số không đông như bây giờ, đường vắng, nên Chuyên đi học bình yên. Chiếc Cady đó là "niềm mơ ước bốn mùa" của cả lớp, nên Chuyên cho các bạn cùng lớp thay phiên nhau chạy Cady trên một con đường nhỏ gần trường vào mỗi giờ ra chơi. Cả lớp quý cả Chuyên lẫn chiếc xe.

Chiếc xe gắn máy mini đó chỉ có con nhà giàu như Chuyên mới có. Chuyện giàu nghèo đối với học trò lớp bảy không phải là chuyện đáng lưu tâm. Nhưng không ngờ chỉ vài tháng sau biến cố 30 tháng 4 đó lại là chuyện lớn. Ngày 22 tháng 9 năm 1975, bên thắng cuộc cho đổi tiền: 500 đồng của miền Nam chỉ đổi được một đồng của miền Bắc. Cuộc sống dĩ nhiên là không còn như xưa. Chưa dừng ở đó, đợt "đánh tư sản mại bản" đầu tiên là một ký ức không bao giờ phai trong tâm trí những người chứng kiến. Cùng nghe/ đọc lại ký ức của một em bé mười tuổi vào năm 1975:

"Khi đó tôi lên 10 nhưng tôi nhớ rất rõ là bị đánh thức vào lúc 2 hay 3 giờ sáng gì đó… và rồi người ta đã sục sạo nhà tôi. Họ kiểm tra từng viên gạch, từng bát nhang trên bàn thờ, từng chân nến, từng khe cửa, từng bộ quần áo. Và chúng tôi ra khỏi nhà đúng nghĩa là hai bàn tay trắng.” (2)

Năm đó, Chuyên 13 tuổi, không chịu nỗi nghịch cảnh, nhìn cha mình (một ông chủ nhà máy sản xuất gạch được tiếng nhân từ) bị giải giao khỏi nhà như một tội phạm. Tiền bạc, của cải bị tịch thu, cả gia đình bị đuổi đi "vùng kinh tế mới", Chuyên uống thuốc ngủ tự tử. Lúc đó, lớp 7/1 của Chuyên cũng tan tác theo vận nước. Không đứa nào biết chuyện để đến tiễn Chuyên lần cuối, chỉ biết gửi lời cảm ơn vào hư không về chuyện chiếc Cady ngày nào, và thầm cầu nguyện cho Chuyên được thanh thoát ở một nơi không còn hận thù, không còn áp bức.

Nhiều, nhiều năm sau này, những cô bé lớp 7/1 năm xưa còn ở lại thành phố cũ, mỗi lần đi qua nhà Chuyên - đã trở thành Xí nghiệp sản xuất gạch ngói của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa từ cuối năm 1975- vẫn không hiểu tại sao Chuyên hiền lành, tốt bụng năm xưa lại vắn số như vậy!!!???

***
Giữa tháng 3 năm 1975, trong khi rút khỏi Pleiku, ba của anh Hiển, một Sĩ quan QL VNCH tử trận, thân xác ông hòa vào đất đỏ của cao nguyên. Gia đình anh Hiển chưa kịp nguôi ngoai với mất mát đó, chỉ bốn mươi lăm ngày sau, đất nước cũng không còn. Năm đó, anh Hiển học lớp 12, chuẩn bị thi tú tài. Tuổi 18 của anh không còn nhỏ nên anh hiểu rõ vị thế của gia đình mình trong xã hội mới. Nhưng tuổi 18 cũng chưa phải là người lớn để có thể vạch ra một hướng đi cho riêng mình. Nhìn quanh, ai cũng đang lo buồn tập thích nghi với xã hội mới, anh Hiển thu mình ở một góc nhà gặm nhấm tang chung của Việt Nam Cộng Hòa, tang riêng của gia đình.

Như một con đà điểu chúi đầu vào cát, anh Hiển chúi đầu vào mấy quyển Giải tích, và Hình học của lớp 12B (tài sản quý giá nhất còn sót lại của anh) giải các đề Toán, không phải để chuẩn bị thi vào Đại học như ước vọng mới mấy tháng trước, mà là để tìm quên, để quên đi thực tại. Không thể chia sẻ với ai, vì ai cũng đang ngổn ngang trăm mối, buồn bã và bế tắc lấy dần đi tinh anh, và sáng suốt của anh.

Trầm cảm như thế khoảng một năm, anh Hiển mất dần trí nhớ dù vẫn vẽ các đường tiệm cận của Parabol, Hyperbol rất đẹp, và vẫn có thể giải các phương trình Lượng giác. Buồn thay, sau khi Mẹ anh qua đời, không thể chăm sóc cho em, các anh chị của anh (ai cũng nặng nợ áo cơm với gia đình riêng) đành gửi anh Hiển vào Dưỡng trí viện Biên Hòa.

Trầm cảm vì thay đổi lớn của đất nước và gia đình trong khoảng 45 ngày, đã biến anh Hiển khỏe mạnh, tinh anh, thông minh, vui vẻ trở thành một người điên ốm yếu, xanh xao phải sống những ngày còn lại của cuộc đời trong thế giới của người mất trí…


***
Những năm đầu của Xã Hội Chủ nghĩa ở miền Nam

Nhiều năm sau này, chúng tôi vẫn còn nhớ cảm giác đói triền miên vì cả một thời nhỏ dại, sau năm 75, không có gì để ăn sáng. Ăn tối từ sáu giờ chiều hôm qua, sáng ngủ dậy ôm cặp đi học với cái bụng rỗng, nên khoảng mười giờ sáng là "trường ca bụng rỗng" cùng hòa âm từ hầu hết bạn học cùng lớp. Chúng tôi cứ đùa, ai đói nhiều nhất được cử làm nhạc trưởng. Đó cũng là cách để "cười quên đói".

Những đứa trẻ miền Nam như chúng tôi - có cha đang trong tù cải tạo, mẹ vất vả ngược xuôi nuôi chồng, nuôi con nhỏ- khôn ra nhiều, không dám than thở sợ mẹ buồn. Ăn uống thì thiếu thốn, đời sống tinh thần cũng không có. Sách báo của con nít như báo Thiếu nhi, báo Tuổi hoa cũng bị cán bộ mang băng đỏ tịch thu, và đốt sạch.

Trong lớp thì bị cán bộ Đoàn (ở bậc Trung học) và cán bộ đội (ở bậc Tiểu học) để ý từng hành động của những học sinh có cha đang đi "học tập cải tạo". Khi một đứa trẻ dưới mười lăm tuổi phải nghe các thầy cô dạy Chính trị ra rả mỗi ngày cha của mình có "nợ máu với nhân dân" thì đứa trẻ đó không thể có tuổi thơ !!!

Các anh chị lớn hơn thì sau khi ra Bắc thăm cha trong các trại tù cải tạo ở núi rừng miền Bắc, họ hiểu là mình không còn chốn dung thân ngay trên quê hương mình. Người cha cao lớn, hiền từ, uy nghi trong quân phục ngày xưa, bây giờ trông nhếch nhác tội nghiệp trong bộ đồ tù chính trị vá chằng, vá đụp, ốm yếu, già trước tuổi.

(Vì vậy, nhiều em bé dưới mười tuổi đã thốt lên "không phải ba" như trong huyền thoại "vợ chàng Trương" năm xưa.)

Họ hoàn toàn kinh ngạc và thất vọng với lối nói chuyện ngạo mạn, thiếu văn hóa, thiếu lễ độ của các cán bộ, thanh niên ở miền Bắc, với câu nói trên đầu môi "Mày có biết Bố mày là ai không?".

Nhất là sau khi gặp lại cha mình chỉ sau gần ba năm trong tù cải tạo, họ không thể tin ở mắt mình.

Như thế đó, chúng tôi lần lượt vượt biển ra đi, để tìm một chỗ dung thân cho mình, tìm được một nơi chốn mình có thể được học hành đàng hoàng, không bị xếp vào thành phần thứ 14 trong 15 thành phần của xã hội .

Cùng với những người tìm đường ra biển lớn, một lượng lớn chất xám Việt Nam cũng theo đại dương đến quê người.

Các thuyền nhân Việt Nam vào cuối thập niên 70, đầu thập niên 90 thế kỷ 20

Như "bóng câu qua cửa sổ”, 50 năm trôi qua như một giấc mơ dài, có nước mắt nhiều hơn nụ cười, có nhẫn nhục, cam chịu nhiều hơn là hạnh phúc, ước mơ.

Nhiều người trong số những thuyền nhân năm xưa (đang ở khắp mọi nơi trên thế giới tự do) chọn cách không quay lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình như câu hát "một lần đi là một lần vĩnh biệt", một số người đã gửi thân nơi quê người.

Nửa thế kỷ trôi qua, chúng tôi đã tha thứ cho những người đã chia cách gia đình chúng tôi, đã đẩy chúng tôi ra biển lớn, sống đời lưu vong. Tha thứ từ rất lâu, nhưng quên thì chắc chẳng bao giờ quên những ngày u ám năm xưa. Và cho đến bây giờ cũng chưa hề nghe thấy một lời xin lỗi chính thức với cả ngàn cựu Công chức, cựu Sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chết trong các trại tù cải tạo, hay với ít nhất là 250 ngàn thuyền nhân đã gửi thân vào lòng Thái Bình dương trên đường tìm tự do.

Chưa nghe được một lời xin lỗi chính thức, hẳn là thân nhân, con cháu của những người bất hạnh luôn có một "nỗi niềm mang theo".

Nếu người ta biết đặt mình vào vị trí của người khác thì đời sống sẽ bình an và hạnh phúc hơn nhiều …

Nguyễn Trần Diệu Hương
Tháng 4 năm 2025

Thursday, May 8, 2025

Một Lần Nhìn Lại

Năm thứ nhất sau khi VNCH bị bức tử.

Thành phố trở nên xa lạ ngay trong mắt lũ con nít. Cùng là tiếng Việt, nhưng tiếng Việt của người từ Bắc vô Nam xa lạ, từ ngữ lạ lùng với người miền Nam. Chẳng hạn "đăng ký" (dùng để chỉ việc ghi danh, ghi tên), tĩnh từ ghép "hồ hởi phấn khởi"(nghĩa là hào hứng).

Trật tự của đời sống bị đảo lộn, ngay cả một số động từ cũng bị "phe thắng cuộc" đảo ngược thứ tự, như "bảo đảm" bị gọi thành "đảm bảo". Cùng với sách báo bị đốt, bị tịch thu, chừng như người ta muốn tiêu hủy cả một nền văn hóa của miền Nam.

Quái đản nhất là đồng hồ có một ô vuông cho ngày tháng, và hai kim dài, kim ngắn được người thắng cuộc gọi là đồng hồ có "một cửa sổ và hai người lái".

Người miền Nam, nhất là lũ con nít chúng tôi, nghe tiếng Việt mà cứ như nghe ngoại ngữ, vừa nghe, vừa đoán. Rồi còn phải quen dần với những từ mới toanh như "hộ khẩu" mà người miền Nam với óc khôi hài sẵn có đã nói lái thành "hậu khổ".

Trong lúc bà Nhà Văn Dương Thu Hương (lúc đó mới 28 tuổi) ở một lề đường nào đó trong Thành phố Sài gòn "ngồi xuống vỉa hè ôm mặt khóc như cha chết, một cảm giác vô cùng hoang mang và cay đắng", vì thấy mình đã bị lừa dối: Sài gòn không hề đói rách, cơ cực, bị "Mỹ Ngụy" kìm kẹp cần được giải phóng như những câu hát đầy kích động "giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước"... thì có cả triệu người miền Nam mắt hoen lệ, hay cố nuốt nước mắt vào lòng.

Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, tiếng hát của ông Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn vang lên từ đài phát thanh Sài gòn, ông hát một ca khúc nổi tiếng của chính mình "Nối vòng tay lớn". Trong bối cảnh tan hoang, hoài nghi lúc đó, người Sài gòn tự hỏi vòng tay lớn có thực sự được nối lại không khi mà thủ đô của miền Nam cũng bị mất tên?

Sinh viên VN tại Pháp để tang cho Miền Nam Việt Nam ngày 27 tháng 4 năm 1975

***

Niên khóa 1974-1975, anh Hợp đang học lớp 12 ban Toán. Là con đầu lòng, "đầu máy xe lửa, kéo theo những toa xe lửa khác", anh hiểu đầu máy mà trật đường rầy thì những toa xe lửa theo sau cũng văng khỏi đường rầy, nên anh cố gắng học. May mà anh được thừa hưởng gen giỏi Toán từ bên ngoại, lẫy lừng nhất là ông cậu em út của Mẹ được lãnh phần thưởng danh dự toàn trường Trung học Võ Tánh từ Tổng thống, rồi đậu vào cả Quốc gia Hành chánh, Sư phạm, lẫn Phú Thọ. Cậu chọn học Phú Thọ vì giỏi Toán. Anh Hợp biết mình chưa bằng Cậu được, nhưng suốt 12 năm đi học, anh luôn được phần thưởng. Những tờ giấy bóng kính đủ màu đỏ (cho hạng nhất),vàng (hạng nhì), và xanh (hạng ba) một cách nào đó đã tô màu cho tương lai của các học sinh được phần thưởng. Đó là thời Đệ nhị cộng hòa (1964-1975), hồ sơ xét tuyển du học cho các học sinh đậu tú tài hạng Bình (tương đương B plus ở Mỹ) chỉ có thành tích biểu của lớp 12, và một bài essay nói lên ước vọng của người dự tuyển.

Không có hồ sơ lý lịch ba đời như những năm sau tháng 4 năm 1975. Nên xuất thân từ gia đình nào không quan trọng, cứ học giỏi là đường tương lai thênh thang rộng mở. Nếu khả năng ngoại ngữ giỏi, thì học bổng toàn phần bốn năm du học nằm trong tầm tay. Thời đó, học sinh lớp mười hai, nhất là các nam sinh, có một năm cuối trung học miệt mài đèn sách. Anh cũng không ngoại lệ, tự hứa với lòng là "đầu máy xe lửa" sẽ kéo được đoàn tàu đến nơi cần phải đến.

Anh đã nhắm đến học bổng du học, hay ít nhất cũng vào được Phú Thọ (là Đại học Bách khoa sau này). Ăn Tết Ất Mão xong, anh đã lao đầu vào học hơn mười hai tiếng mỗi ngày, học với Thầy Cô ở trường, tự học ở nhà, và chịu khó đi xe lửa từ Biên Hòa vô Sài Gòn mỗi cuối tuần để luyện giọng ở Hội Việt Mỹ, ở Trung tâm Văn hóa Pháp. Nhưng "mưu sự tại nhân thành sự tại thiên", chưa kịp thi Đệ nhị lục cá nguyệt (tương đương second midterm ở Mỹ), đất nước đổi chủ. Những người chủ mới xét tuyển tất cả mọi thứ dựa trên lý lịch, theo nguyên tắc "hồng thắm chuyên sâu". "Hồng" là lý lịch ba đời màu đỏ như màu cờ búa liềm, lý lịch không thuộc "thành phần cơ bản", bản thân người mới tốt nghiệp Trung học không phải là "Đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản" đã khó vô Đại học. Trường hợp của anh, Ba là cựu Sĩ quan Quân lực VNCH, đang bị "học tập cải tạo dài hạn", bị chế độ mới xếp vào thành phần thứ 14 trong một xã hội có 15 thành phần thì tương lai bỗng chốc tối đen như đêm ba mươi bị mất điện

***
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.

Chưa đến hai mươi tuổi, anh Đăng trông già như một người gần ba mươi, da sạm đen sau vài tháng hành nghề lơ xe, một công việc mà anh chưa bao giờ nghĩ là mình sẽ phải làm, và làm tốt hơn nhiều người lơ xe khác. Vì anh biết cách sửa những bệnh vặt của một chiếc xe đò chuyển từ chạy bằng xăng qua chạy bằng than. Khách đi xe đò thời đó, đa số là những người đi buôn đường dài liên tỉnh, có thiện cảm với anh lơ xe dù hốc hác, đen sạm vẫn còn phảng phất nét thư sinh, rất lễ phép, nhanh nhẹn, luôn giúp đỡ họ mà không hề vòi vĩnh xin tiền tip.

Khách đi xe đò cảm thấy một chút bình yên sau cuộc đổi đời vì có những người như anh Đăng. Họ không ngạc nhiên vì sau tháng 4 năm 1975 đến giữa năm 1985, mười năm ròng rã, người dân miền Nam đã quen với hình ảnh những người làm công việc tay chân, nhưng mặt mày sáng sủa, và hành xử rất lịch thiệp. Họ cũng đã từng lên những chiếc xích lô mà người phu xe mặt mũi rất trí thức, khi ngồi chờ khách vẫn đọc những quyển Readers' Digest.

Trật tự xã hội đảo lộn đến quái dị: các ông bà cán bộ của "bên thắng cuộc" vào tiếp quản miền Nam, nhiều người viết chữ xấu, đôi khi sai lỗi chính tả căn bản, nhưng đều giống nhau ở chỗ nói những giáo điều giống nhau, giọng đều đều, ngắt câu không đúng chỗ, như một cô, cậu học trò học thuộc lòng bài học, mà không hiểu nội dung của bài học.

***
Là con đầu lòng của gia đình, đang học năm thứ ba ở Đại học Dược khoa Sài gòn, chị Thảo hiểu mình không thể tiếp tục học trình sau khi phải làm bản tự khai lý lịch để nộp cho những người lãnh đạo mới của trường. Chị khai chân thật Ba là Sĩ quan tham mưu cao cấp của Quân Khu I, Mẹ là nhân viên Ty Bưu Điện Huế. Dù bản thân không chưa hề đi làm, chị Thảo cũng bị Đoàn Thanh niên ở trường "để mắt cẩn thận". Đời sống sinh viên khác xa trước tháng 4 năm 1975, họ phải đi lao động nhiều hơn đi học. Phòng thí nghiệm đóng cửa im ỉm, không biết lúc nào mới mở lại. Đến khi Ba của Chị phải vào trại cải tạo tập trung, Mẹ chị cũng phải đi học tập cả tháng ở địa phương thì Chị Thảo quyết định bỏ học, về nhà thay cha mẹ nuôi các em.

Căn nhà nhỏ có hoa phượng, có hoa giấy, có cây cau trong cư xá Sĩ quan nơi gia đình Chị sống hạnh phúc gần mười năm qua cũng bị chính quyền mới lấy lại. Chỉ một tuần sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền cách mạng đến từng nhà trong cư xá đọc "quyết định đuổi nhà".

Như câu nói của ông bà ngày trước "nước mất nhà tan". Nhờ một người thân cho ở nhờ trong một căn phòng nhỏ ở Sài gòn, gia đình chị Thảo bắt đầu cuộc sống đổi đời với đủ nghề để sống. Thoạt đầu, Chị làm bánh bao, bánh ít để bán. Bánh thì có ngon nhưng dạo đó chừng như không ai làm ra tiền, nên người ta ăn sáng bằng cơm nguội, hay sang hơn thì cơm chiên, nên các em chị Thảo phải ăn bánh trừ cơm.

"Bần cùng tất biến", chị Thảo theo bạn bè, những người dân miền Nam cùng cảnh ngộ, đi buôn đường dài trên những chuyến tàu Bắc Nam. Những chuyến tàu dạo đó nhếch nhác và tội nghiệp như những người thua cuộc, đầy dẫy người buôn hàng chuyến. Những chuyến tàu đầy người và đủ thứ hàng hòa, ban đêm không có đèn, lấp lánh ánh dạ quang của những cái đồng hồ đeo tay (cũng là một loại hàng hóa) như ánh ma trơi trong những đêm không trăng sao ngoài nghĩa địa. Điều duy nhất sáng trên những chuyến "tàu chợ" năm đó là khuôn mặt của những người đi buôn vì "thời thế, thế thời phải thế" (1) như chị Thảo.

Chính quyền mới lên án những người buôn bán nhỏ là thành phần không biết sản xuất, ăn bám xã hội. Xã hội nào nuôi con cái của ngụy quân, ngụy quyền??? Trong khi cha mẹ của họ là những người tù không tội. Họ bị xếp vào thành phần thứ 14 trong 15 thành phần của xã hội. Họ bị xếp loại là công dân bậc hai của xã hội, "chính quyền cách mạng" không cho họ đi học, cũng không cho đi làm (vì suy bụng ta ra bụng người, sợ bị phá hoại?).

***
Bằng tuổi chị Thảo, anh Phiến đang học năm thứ ba khoa Toán ở trường Đại học Khoa học. Ba anh nguyên là tỉnh trưởng một tỉnh miền Tây, đã tử trận trong một lần đi thị sát mặt trận bị quân miền Bắc đặt mìn trên đường đi vào những năm cuối cuộc chiến. Xác ông và hai đồng đội hòa tan cùng đất của quê hương. Các con của ông (anh em của anh Phiến) được vào học trường Quốc gia nghĩa tử, nơi nuôi dạy con của những lính tử trận. Là trưởng nam, anh Phiến hiểu mình phải học giỏi để thay Cha giúp Mẹ nuôi dạy, làm gương cho các em. Anh là một trong những học trò cưng của Giáo Sư Đặng Đình Áng

Biến cố 30 tháng tư năm 1975 làm đảo lộn mọi thứ, anh Phiến thất vọng đến độ tự kết liễu đời mình vào tháng 9 năm đó, đúng ngày sinh nhật 21 tuổi của anh. Trong nỗi đau mất con của Mẹ anh, chính quyền địa phương cho người đến nhà anh, với danh nghĩa là giúp đỡ gia đình anh trong cảnh tang gia bối rối, nhưng thật ra là để rao giảng về "đạo đức cách mạng", họ còn "kết tội" người quá cố là "chết ngu".

Trên bàn thờ mới lập, di ảnh của anh Phiến được phóng to từ thẻ sinh viên của anh, với hai con mắt thông minh, to tròn, chừng như đang có nét buồn phiền khi thấy chính quyền địa phương vẫn không chịu để yên cho người quá cố.

Một lần nữa, gia đình anh Phiến, cùng cả xóm bất mãn, nhưng cam chịu như họ đã từng nhẫn nhục từ tháng tư.

Ngày đưa anh Phiến về lòng đất, cả xóm bùi ngùi đưa tiễn, trong ánh mắt hằn học của những người mang băng đỏ ở địa phương. Các Thầy Cô giáo ờ trường Tiểu học nơi anh theo học ngày xưa, mắt hoe đỏ nhìn qua khung cửa sổ lớp học, nhớ đến người học trò cũ thông minh, bạc mệnh của mình.

Có bao nhiêu người đã tự kết liễu đời mình sau cái chết của Việt Nam Cộng Hòa. Chắc là cả trăm người? Hay nhiều hơn nữa? Không ai biết chính xác nhưng hẳn là con số không nhỏ.

***
Tháng 4 năm 1975, Dũng và Huân đang học lớp một. Hai thằng nhóc cùng sinh ra trong cư xá, nhà ở cạnh nhau, học cùng lớp nên rất thân nhau. Cứ tưởng là sẽ học cùng lớp ít nhất là hết bậc Tiểu học, nhưng biến cố tháng 4 năm 1975, tách rời hai đứa nhỏ vì gia đình cùng bị chính quyền mới đuổi ra khỏi cư xá. Chưa đến bảy tuổi, không hiểu nhiều về tình hình đất nước, nhưng nhìn cha mẹ, hàng xóm, người lớn ai cũng buồn, Dũng và Huân tự nhiên cùng tắt tiếng cười. Hai đứa nhỏ không hiểu điều gì đang xảy ra, nhưng cùng hiểu là cha mẹ mình đang lo lắng, Dũng và Huân đều tự lo thân, ngoan ra, không dám làm điều gì để cha mẹ phải phiền lòng. Cả hai đều cố gắng những việc nhỏ khi gia đình dọn nhà ra khỏi cư xá.

Bước vào niên khóa 1975-1976, ngôi trường Tiểu học Nguyễn Du đã bị đổi tên thành trường cấp một Lê Văn Tám, một cái tên lạ hoắc lạ huơ không những đối với học trò mà còn đối với người dân miền Nam. Học trò Tiểu học đến trường không chỉ để học, mà còn phải sinh hoạt trong đội thiếu nhi quàng khăn đỏ. Môn công dân giáo dục cũng "được giải phóng" khỏi chương trình học, được thay bằng môn chính trị. Con nít miền Nam, phần lớn là con của "ngụy quân, ngụy quyền" khôn ra, hiểu là cha anh mình không hề xấu như những bài học chính trị ở trường, hay ở địa phương.

Vào trường, khăn quàng đỏ đeo lên, nhưng ra khỏi trường, học trò tháo khăn ra đút túi.

Khi bị chất vấn về điều này, học trò dưới mười tuổi đã trả lời rất lễ phép, rất khôn ngoan:

- Thưa em phải giữ kỹ khăn quàng, vì nếu khăn dơ sẽ không có xà phòng để giặt.

Ít ra chính quyền cách mạng đã thành công trong việc làm cho tụi con nít khôn ra, trưởng thành hơn tuổi thật của mình.

***
Tháng 5 năm 1975 là tháng trăng mật của một số dân nghèo thành thị với chính quyền mới của bên thắng cuộc.. Một số ít người lao động nghèo chào đón các anh "giải phóng quân" đội mũ tai bèo, mặt mày ngơ ngác (vì Sài gòn và miền Nam không nghèo đói như họ được dạy) bằng chân tình. Họ tưởng đổi chế độ là đổi đời, cuộc sống mình sẽ khá hơn, tương lai sẽ tươi đẹp hơn, nhưng tháng trăng mật chấm dứt nhanh chóng. Chưa thấy đổi đời như thế nào nhưng việc buôn bán của họ ế ẩm hơn trước. Thúng xôi, xe bánh mì, rổ trái cây không còn bán được như trước, người miền Nam không còn công việc ổn định, không còn tiền để mua quà sáng. Họ ăn sáng bằng cơm nguội, hay bằng sắn, khoai tự nấu

Chưa hết, đội quản lý thị trường cũng đeo băng đỏ cũng không cho họ bán hàng rong, vận động họ đi lao động sản xuất, khai hoang ở các vùng kinh tế mới. Đâu rồi các khuôn mặt giải phóng quân, cán bộ nằm vùng thiểu não nhờ họ giấu truyền đơn, đôi khi cả vũ khí dưới đôi quang gánh của họ?

Những người này trở về xóm lao động xưa, mặt mày vênh váo, nhìn họ bằng nửa con mắt, làm mặt lạ như chưa từng gặp nhau. Có bà cụ miền Nam bộc trực, đã nói lớn giữa chợ :

- Biết vậy hồi đó cơm gạo tiếp tế cán bộ nằm vùng , tao nuôi heo còn có lợi hơn.

Người miền Nam bảo nhau họ đã “sáng mắt sáng lòng”. Như thế đó, những người dân lao động ở miền Nam nhanh chóng nhận ra "cứu vật, vật trả ơn/ cứu nhân, nhân trả oán" .

Tháng trăng mật nhanh chóng chấm dứt, chỉ còn nỗi uất ức vì đời sống khó khăn hơn nhiều. Ca dao đương thời ở miền Nam có câu

Đả đảo Thiệu Kỳ mua gì cũng có
Hoan hô cách mạng mua cái đinh cũng xếp hàng"

***
Đậu vào lớp sáu ngôi trường công lập lớn nhất miền Đông Nam phần, từ xã Tân Vạn về tỉnh lỵ đi học khá xa, Chuyên được Ba mua cho một chiếc xe Mobylette Cady màu vàng nâu làm phương tiện đi học. Nửa thế kỷ trước, dân số không đông như bây giờ, đường vắng, nên Chuyên đi học bình yên. Chiếc Cady đó là "niềm mơ ước bốn mùa" của cả lớp, nên Chuyên cho các bạn cùng lớp thay phiên nhau chạy Cady trên một con đường nhỏ gần trường vào mỗi giờ ra chơi. Cả lớp quý cả Chuyên lẫn chiếc xe.

Chiếc xe gắn máy mini đó chỉ có con nhà giàu như Chuyên mới có. Chuyện giàu nghèo đối với học trò lớp bảy không phải là chuyện đáng lưu tâm. Nhưng không ngờ chỉ vài tháng sau biến cố 30 tháng 4 đó lại là chuyện lớn. Ngày 22 tháng 9 năm 1975, bên thắng cuộc cho đổi tiền: 500 đồng của miền Nam chỉ đổi được một đồng của miền Bắc. Cuộc sống dĩ nhiên là không còn như xưa. Chưa dừng ở đó, đợt "đánh tư sản mại bản" đầu tiên là một ký ức không bao giờ phai trong tâm trí những người chứng kiến. Cùng nghe/ đọc lại ký ức của một em bé mười tuổi vào năm 1975:

"Khi đó tôi lên 10 nhưng tôi nhớ rất rõ là bị đánh thức vào lúc 2 hay 3 giờ sáng gì đó… và rồi người ta đã sục sạo nhà tôi. Họ kiểm tra từng viên gạch, từng bát nhang trên bàn thờ, từng chân nến, từng khe cửa, từng bộ quần áo. Và chúng tôi ra khỏi nhà đúng nghĩa là hai bàn tay trắng.” (2)

Năm đó, Chuyên 13 tuổi, không chịu nỗi nghịch cảnh, nhìn cha mình (một ông chủ nhà máy sản xuất gạch được tiếng nhân từ) bị giải giao khỏi nhà như một tội phạm. Tiền bạc, của cải bị tịch thu, cả gia đình bị đuổi đi "vùng kinh tế mới", Chuyên uống thuốc ngủ tự tử. Lúc đó, lớp 7/1 của Chuyên cũng tan tác theo vận nước. Không đứa nào biết chuyện để đến tiễn Chuyên lần cuối, chỉ biết gửi lời cảm ơn vào hư không về chuyện chiếc Cady ngày nào, và thầm cầu nguyện cho Chuyên được thanh thoát ở một nơi không còn hận thù, không còn áp bức.

Nhiều, nhiều năm sau này, những cô bé lớp 7/1 năm xưa còn ở lại thành phố cũ, mỗi lần đi qua nhà Chuyên - đã trở thành Xí nghiệp sản xuất gạch ngói của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa từ cuối năm 1975- vẫn không hiểu tại sao Chuyên hiền lành, tốt bụng năm xưa lại vắn số như vậy!!!???

***
Giữa tháng 3 năm 1975, trong khi rút khỏi Pleiku, ba của anh Hiển, một Sĩ quan QL VNCH tử trận, thân xác ông hòa vào đất đỏ của cao nguyên. Gia đình anh Hiển chưa kịp nguôi ngoai với mất mát đó, chỉ bốn mươi lăm ngày sau, đất nước cũng không còn. Năm đó, anh Hiển học lớp 12, chuẩn bị thi tú tài. Tuổi 18 của anh không còn nhỏ nên anh hiểu rõ vị thế của gia đình mình trong xã hội mới. Nhưng tuổi 18 cũng chưa phải là người lớn để có thể vạch ra một hướng đi cho riêng mình. Nhìn quanh, ai cũng đang lo buồn tập thích nghi với xã hội mới, anh Hiển thu mình ở một góc nhà gặm nhấm tang chung của Việt Nam Cộng Hòa, tang riêng của gia đình.

Như một con đà điểu chúi đầu vào cát, anh Hiển chúi đầu vào mấy quyển Giải tích, và Hình học của lớp 12B (tài sản quý giá nhất còn sót lại của anh) giải các đề Toán, không phải để chuẩn bị thi vào Đại học như ước vọng mới mấy tháng trước, mà là để tìm quên, để quên đi thực tại. Không thể chia sẻ với ai, vì ai cũng đang ngổn ngang trăm mối, buồn bã và bế tắc lấy dần đi tinh anh, và sáng suốt của anh.

Trầm cảm như thế khoảng một năm, anh Hiển mất dần trí nhớ dù vẫn vẽ các đường tiệm cận của Parabol, Hyperbol rất đẹp, và vẫn có thể giải các phương trình Lượng giác. Buồn thay, sau khi Mẹ anh qua đời, không thể chăm sóc cho em, các anh chị của anh (ai cũng nặng nợ áo cơm với gia đình riêng) đành gửi anh Hiển vào Dưỡng trí viện Biên Hòa.

Trầm cảm vì thay đổi lớn của đất nước và gia đình trong khoảng 45 ngày, đã biến anh Hiển khỏe mạnh, tinh anh, thông minh, vui vẻ trở thành một người điên ốm yếu, xanh xao phải sống những ngày còn lại của cuộc đời trong thế giới của người mất trí…


***
Những năm đầu của Xã Hội Chủ nghĩa ở miền Nam

Nhiều năm sau này, chúng tôi vẫn còn nhớ cảm giác đói triền miên vì cả một thời nhỏ dại, sau năm 75, không có gì để ăn sáng. Ăn tối từ sáu giờ chiều hôm qua, sáng ngủ dậy ôm cặp đi học với cái bụng rỗng, nên khoảng mười giờ sáng là "trường ca bụng rỗng" cùng hòa âm từ hầu hết bạn học cùng lớp. Chúng tôi cứ đùa, ai đói nhiều nhất được cử làm nhạc trưởng. Đó cũng là cách để "cười quên đói".

Những đứa trẻ miền Nam như chúng tôi - có cha đang trong tù cải tạo, mẹ vất vả ngược xuôi nuôi chồng, nuôi con nhỏ- khôn ra nhiều, không dám than thở sợ mẹ buồn. Ăn uống thì thiếu thốn, đời sống tinh thần cũng không có. Sách báo của con nít như báo Thiếu nhi, báo Tuổi hoa cũng bị cán bộ mang băng đỏ tịch thu, và đốt sạch.

Trong lớp thì bị cán bộ Đoàn (ở bậc Trung học) và cán bộ đội (ở bậc Tiểu học) để ý từng hành động của những học sinh có cha đang đi "học tập cải tạo". Khi một đứa trẻ dưới mười lăm tuổi phải nghe các thầy cô dạy Chính trị ra rả mỗi ngày cha của mình có "nợ máu với nhân dân" thì đứa trẻ đó không thể có tuổi thơ !!!

Các anh chị lớn hơn thì sau khi ra Bắc thăm cha trong các trại tù cải tạo ở núi rừng miền Bắc, họ hiểu là mình không còn chốn dung thân ngay trên quê hương mình. Người cha cao lớn, hiền từ, uy nghi trong quân phục ngày xưa, bây giờ trông nhếch nhác tội nghiệp trong bộ đồ tù chính trị vá chằng, vá đụp, ốm yếu, già trước tuổi.

(Vì vậy, nhiều em bé dưới mười tuổi đã thốt lên "không phải ba" như trong huyền thoại "vợ chàng Trương" năm xưa.)

Họ hoàn toàn kinh ngạc và thất vọng với lối nói chuyện ngạo mạn, thiếu văn hóa, thiếu lễ độ của các cán bộ, thanh niên ở miền Bắc, với câu nói trên đầu môi "Mày có biết Bố mày là ai không?".

Nhất là sau khi gặp lại cha mình chỉ sau gần ba năm trong tù cải tạo, họ không thể tin ở mắt mình.

Như thế đó, chúng tôi lần lượt vượt biển ra đi, để tìm một chỗ dung thân cho mình, tìm được một nơi chốn mình có thể được học hành đàng hoàng, không bị xếp vào thành phần thứ 14 trong 15 thành phần của xã hội .

Cùng với những người tìm đường ra biển lớn, một lượng lớn chất xám Việt Nam cũng theo đại dương đến quê người.


Các thuyền nhân Việt Nam vào cuối thập niên 70, đầu thập niên 90 thế kỷ 20

Như "bóng câu qua cửa sổ”, 50 năm trôi qua như một giấc mơ dài, có nước mắt nhiều hơn nụ cười, có nhẫn nhục, cam chịu nhiều hơn là hạnh phúc, ước mơ.

Nhiều người trong số những thuyền nhân năm xưa (đang ở khắp mọi nơi trên thế giới tự do) chọn cách không quay lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình như câu hát "một lần đi là một lần vĩnh biệt", một số người đã gửi thân nơi quê người.

Nửa thế kỷ trôi qua, chúng tôi đã tha thứ cho những người đã chia cách gia đình chúng tôi, đã đẩy chúng tôi ra biển lớn, sống đời lưu vong. Tha thứ từ rất lâu, nhưng quên thì chắc chẳng bao giờ quên những ngày u ám năm xưa. Và cho đến bây giờ cũng chưa hề nghe thấy một lời xin lỗi chính thức với cả ngàn cựu Công chức, cựu Sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chết trong các trại tù cải tạo, hay với ít nhất là 250 ngàn thuyền nhân đã gửi thân vào lòng Thái Bình dương trên đường tìm tự do.

Chưa nghe được một lời xin lỗi chính thức, hẳn là thân nhân, con cháu của những người bất hạnh luôn có một "nỗi niềm mang theo".

Nếu người ta biết đặt mình vào vị trí của người khác thì đời sống sẽ bình an và hạnh phúc hơn nhiều …

Nguyễn Trần Diệu Hương
Tháng 4 năm 2025

Footnote:

1) Vì có thù riêng, Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế câu đối cho Ngô Thời Nhiệm như sau: “Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai”. Vế đối hiểm hóc ở chỗ có 5 chữ ai và có một chữ “trần” là tên đệm của Đặng Trần Thường.

Vừa nghe xong, Ngô Thời Nhiệm khảng khái đáp ngay rằng: “Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.” Vế đối lại cũng có 5 chữ thế, nói lên được hoàn cảnh và khí phách của người anh hùng. Và vế đối cũng có chữ “thời” là tên đệm của Ngô Thời Nhiệm.






Saturday, April 29, 2023

Tháng Tư- Môi Tắt Nụ Cười


Tìm được một nụ cười trên môi một người VN lưu vong vào tháng 4 hàng năm không dễ dàng. Cả 30 ngày của tháng tư, "những ngày mây xám giăng trên đỉnh trời", hình ảnh những người đã bỏ mình cho 20 năm tự do của miền Nam, những người mãi mãi nằm lại dưới đáy đại dương , không đặt chân được bến bờ tự do hiện về trong ký ức của chúng tôi rõ mồn một như mới hôm qua.
Mỗi người có một cách riêng để thắp nén hương lòng đến những người đã khuất, những người đã hy sinh hay mất một phần thân thể vì đất nước, những người chết tức tưởi trong ngục tù cải tạo, những người bỏ mình trên đường tìm tự do. Chúng tôi thì thường lái xe ra ven biển Thái bình dương chạy dọc California, ngồi trên bãi cát, hướng về quê nhà ở bên kia bờ đại dương để gởi lời cầu nguyện vào hư không cho những người quá cố.

***
Đôi mắt màu nâu của anh Dũng hàng xóm ngày xưa, và nụ cười hiền hòa của anh chợt hiện về trong ký ức chúng tôi. Anh Dũng hiền lành, hay cho kẹo tụi nhóc trong xóm đã "xếp bút nghiên theo việc đao cung" sau mùa hè đỏ lửa của năm 1972. Từ đồng phục của học sinh lớp 12 chuyển qua quân phục, anh Dũng vẫn "hiền như bụt", hay cho tụi con nít chúng tôi những gói kẹo ngọt ngào thơm mùi trái cây. Vậy mà anh đã bỏ gia đình, bỏ cuộc đời vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, chưa kịp bước vào tuổi 21.

Nghe kể lại, sau khi chiến tranh chấm dứt, mãi không thấy anh về, ba mẹ của anh đến nơi đóng quân của anh. Hai bác được nghe kể lại, ở cái tiền đồn ven đô Sài gòn có mười hai người lính trẻ cùng tự sát. Anh Dũng là tiểu đội trưởng, sau khi tự kết liễu đời sống của mình, đôi mắt màu nâu của anh vẫn mở to nhìn bầu trời đầy mây xám của ngày 30 tháng 4 năm 1975. Một người dân tốt bụng ở gần đó, đến vuốt mắt anh, đôi mắt màu nâu vẫn mở to, ông phải khấn, và đến lần thứ ba vuốt mắt, đôi mắt màu nâu của người lính trẻ mới khép lại.

48 năm trôi qua rồi anh Dũng ơi, một trong những đứa nhóc ở cư xá Đoàn Văn Cự, Biên Hòa ngày xưa vẫn nhớ anh, nhớ những viên kẹo đủ màu anh cho thời nhỏ dại. Và đôi mắt nâu mở to nhìn bầu trời ngày 30 tháng 4 năm 1975 vẫn hiện về trong trí tưởng của chúng tôi.

Chân thành thắp mười hai nén hương lòng cho anh Dũng và đồng đội của anh. Tên của những người lính trẻ hào hùng tự sát trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 chưa phai nhạt trong lòng rất nhiều người. Tên các anh dù không được ghi trong lịch sử nhưng các anh được những người Việt Nam lưu vong tưởng nhớ vào đúng ngày giỗ 30 tháng 4 của các anh.

***
Vào một ngày cuối tháng 7 năm 2019, chúng tôi về VN thăm mẹ. Một cơ duyên tình cờ, được sự ủy nhiệm của Nhà Thơ Trần Mộng Tú, chúng tôi ghé nhà thờ Tân Định, nơi để những hủ tro cốt của người quá cố để "thăm" chú Thái Hoàng Cung, một Thiếu Úy VNCH tử trận ở Bình Thủy năm 1969 lúc Chú vừa bước vào tuổi 26. Nhờ một giáo dân hay đi lễ ở Nhà Thờ Tân Định, chúng tôi tìm ra bình đựng tro cốt của Chú có dòng chữ "Thái Hoàng Cung 1943-1969". Đúng là Chú Cung.

Đặt tay lên một chút tro tàn còn lại của Chú (vốn là bạn thân của Thầy dạy Toán của chúng tôi năm lớp 8 ở Ngô Quyền- Biên Hòa). tôi không "khuỵu chân ngồi xuống giữa lối đi của hai hàng kệ, khóc như chưa bao giờ được khóc" như Cô Trần Mộng Tú, người vợ mới cưới của Chú vào tháng 4 năm 1969, nhưng nỗi ngậm ngùi, xót xa dâng lên ngút ngàn. Nỗi ngậm ngùi vẫn kéo về khi tôi đứng trước di vật, hay di ảnh của những người lính trẻ đã bỏ mình vì tự do.

Chú tử trận ngày 30 tháng 7 năm 1969, nên dù bận rộn trong hai tuần về thăm Mẹ ở Việt Nam, tôi vẫn sắp xếp đến thăm Chú vào ngày 30 tháng 7 năm 2019, nửa thế kỷ sau khi chú tử trận ở miền Tây VNCH. Dù không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo, tôi cũng đã gởi một số tiền nhỏ xin lễ cho chú Thái Hoàng Cung, một trong những người lính trẻ đã bỏ mình cho hai mươi năm tự do của miền Nam.

Chúng tôi tin là không chỉ có Cô Trần Mộng Tú, mà vào ngày 30 tháng tư hàng năm, cả triệu người VN lưu vong cũng thầm thắp nén hương lòng cho Chú Thái Hoàng Cung, cho những người đã hy sinh thân mình cho hai mươi năm tự do non trẻ của miền Nam. Những người lính dù đã nằm xuống nhưng với những người dân miền Nam, sự hy sinh của họ vẫn được trân trọng bây giờ và mãi mãi.

***
Không ai có thể ngờ được một Sử gia có tấm lòng với đất nước, người đã biên soạn bộ Việt Sử tân biên, gồm 7 quyển, ròng rã từ năm 1956 đến năm 1972 đã bị đày đọa đến chết trong trại "tù cải tạo" Tân Lập (Vĩnh Phú) vào năm 1980. Ở tuổi 65, sống trong hoàn cảnh tù đày, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, có nhiều bệnh mãn tính, nhà sử học có tài của VNCH bị buộc khiêng vác những giỏ than đá vào bếp. Ông kiệt sức qua đời trong thương tiếc của học trò và đồng đội ở trại tù Tân Lập.

VIỆT SỬ TÂN BIÊN tác giả PHẠM VĂN SƠN

Vì vậy đừng hỏi tại sao có những người Việt Nam lưu vong không bao giờ trở về quê cha đất tổ khi nào đất nước vẫn còn rất nhiều tù nhân lương tâm, nhiều người tù không tội từ tháng 4 năm 1975 mãi cho đến bây giờ.

Sử gia Phạm Văn Sơn đã khuất bóng từ hơn 40 năm qua, nhưng bộ Việt Sử Tân Biên được biên soạn bằng kiến thức, và bằng tấm lòng của tác giả vẫn được lưu truyền trên nhiều trang web khác nhau của người Việt ở khắp nơi trên thế giới. Đó là cả một gia sản quý báu ông để lại cho các thế hệ sau.


Di ảnh Cố Đại Tá Sử Gia PHẠM VĂN SƠN (1915-1980)

Với lòng thành kính, vô cùng tưởng tiếc Sử gia Phạm Văn Sơn, và trân trọng công trình biên soạn của ông để lại cho dân tộc và đất nước.

***

Một nén hương tưởng niệm của mùa quốc hận năm nay xin gởi vào lòng đại dương cho Thống và Túy, hai trong số vài người bạn cùng thời của chúng tôi không đặt chân được đến bờ bến tự do.

Đó là "tình đầu là tình cuối", Thống và Túy có một đám cưới nhỏ sau hai năm rời Trung học. Không lâu sau đó, cả hai vợ chồng rời Việt Nam trên một cái ghe nhỏ chỉ có khoảng 50 thuyền nhân. Chiếc ghe rời cửa biển Nha Trang vào một ngày không trăng cuối tháng 4 năm 1985 trời yên biển lặng. Nhưng mãi mãi không có một tin tức gì về những người trên ghe.

Một năm trôi qua, gia đình của Thống và Túy chọn ngày 30 tháng 4 là ngày giỗ của đôi vợ chồng trẻ. Đau đớn hơn, Túy đã mang thai ba tháng trước lúc rời VN.

Trong nỗi đau chung của tháng 4 đen có nỗi đau riêng của nhiều gia đình.

***
Tháng 4 năm 2025, chúng tôi sẽ thả 50 chai nhỏ từ nhiều cửa biển khác nhau ở khắp thế giới. Trong mỗi cái chai sẽ có một câu chuyện thật, một hệ quả đau buồn từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 bằng ba thứ tiếng Việt, Anh và Pháp. Có thể cả bài này cũng sẽ lênh đênh trên biển như tác giả của nó đã là một thuyền nhân vượt đại dương vào một ngày đầu tháng 6 năm 1988.

Đó là tất cả những gì chúng tôi có thể làm để các thế hệ sau hiểu tại sao các em phải sống đời lưu vong, tại sao người VN nào cũng yêu mảnh đất hình chữ S nhưng vẫn phải sống ở ngoài Tổ quốc.

Gần 50 năm qua, chúng tôi đã tha thứ (dù chưa bao giờ nghe thấy lời xin lỗi), nhưng chắc là suốt đời không bao giờ quên được những hệ quả đau xót của ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Như đồng cảm với chúng tôi, ngày 30 tháng 4 hàng năm, giữa mùa Xuân ở Mỹ, mà trời vẫn đầy mây xám. Và nỗi đau năm xưa vẫn nhói lên vào ngày cuối của tháng 4....

Nguyễn Trần Diệu Hương
Cuối tháng 4/2023

Sunday, April 24, 2022

Đây đó dấu chân Việt

Nguyễn Trần Diệu Hương
Minh họa: leonard-von-bibra-unsplash

Chia tay nhau ở cổng trường sau khi xong trung học, hơn hai mươi cô cậu học trò tuổi mười bảy, mười tám lớp 12 chuyên toán, mỗi đứa đi mỗi đường, “đời cua cua máy, đời cáy cáy mò”, chúng tôi bặt tin nhau trong nhiều năm dài. Mùa hè năm 1996, lần đầu chúng tôi gặp lại nhau từ khi xong trung học không phải là ở cổng trường xưa mà là ở Phi trường LAX, Nam California. Xin ghi lại những thăng trầm theo những bước chân Việt Nam in dấu khắp địa cầu.

Chưa xong năm đầu Y khoa ở Huế, Huyên vượt biển qua Galang, Indonesia. Ở đó chỉ hai tháng, nhờ vốn liếng tiếng Pháp từ trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn, Huyên đến Pháp và làm lại từ đầu bằng nghề “serveuse”, bưng bê thức ăn cho một tiệm ăn sang trọng bên cạnh sông Seine. Sáng đi học, trưa đeo “tạp dề”, lấy order, dọn thức ăn cho dân Tây, và du khách ngoại quốc đến thăm Paris; chiều làm bài trong lab (thời thập niên 1980, computer cá nhân dù còn thô kệch và chậm như rùa, nhưng rất đắt giá, ngoài tầm tay sinh viên, nhất là sinh viên tỵ nạn); tối theo học những lớp đại học ban đêm…

Hai năm cuối ở trường Nha, phải học và đi thực tập tốn nhiều thời gian hơn, Huyên đổi việc khác, chẳng liên quan gì đến quá khứ lẫn tương lai: Chăm sóc người già. Cô gái Việt Nam lưu lạc xứ người ở mùa Xuân của cuộc đời tập làm quen với việc chăm sóc cho một bà cụ người Pháp ở mùa Đông của đời người nhưng không muốn vào sống ở nơi dành cho người lớn tuổi. Vậy mà tuổi tác và màu da không tạo ra khoảng cách nào hết.

Với tiếng Pháp lưu loát, đúng giọng gần như người bản xứ, và quan niệm “kính lão đắc thọ” học được từ trước năm 1975 của Huyên nên cô được bà cụ thương vô cùng. Ngoài tiền công trả hàng tháng, bà còn cho Huyên những món quà đắt giá, những thứ xa xỉ phẩm nằm ngoài khả năng tài chánh của một cô sinh viên tỵ nạn. Nhiều lần Huyên đưa bà đi mua sắm ở các cửa hàng sang trọng đắt tiền, lúc về, bà cho Huyên khi thì chai nước hoa Christian Dior, lúc thì cái áo khoác Dom Perignon. Biết giá trị các món quà, biết mình không có khả năng đáp trả, Huyên không dám nhận. Nhưng bà cụ – giàu cả tiền lẫn từ tâm – cứ ép Huyên phải nhận, còn bảo Huyên: Con gái đương thì rất cần mấy thứ này, cháu cứ lấy về dùng. Khi nào cháu ra trường trả lại cho bà cũng được.

Sáu năm ròng rã như vậy. Là một học sinh giỏi một thời đi học ở Việt Nam, qua Pháp, Huyên thành một nha sĩ với tấm bằng ra trường loại giỏi. Huyên ra trường đi làm, không còn chăm sóc cho bà cụ người Pháp nhân hậu nữa, đã định ra trong đầu một chương trình trả nợ ân tình cho cụ. Chưa kịp lãnh tháng lương nha sĩ đầu tiên, bà cụ đã ra đi trong giấc ngủ ngàn đời. Từ đó mỗi năm đến ngày giỗ bà cụ, dù không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo, Huyên vẫn không quên gửi tiền đến nhà thờ ngày xưa bà cụ vẫn đi lễ mỗi tuần để xin lễ cho bà và để trả lại món nợ ân tình thời chân ướt chân ráo ở quê người.

***
Ở Canada, Chung vất vả không kém, một thân một mình, làm đủ việc, từ nghề bellman chuyên đẩy hành lý cho khách ở các khách sạn sang trọng vùng Ontario, nghề cào tuyết trên driveway mùa Đông, đến nghề giao báo ròng rã ba năm trời để học xong y khoa. Khó khăn lớn nhất với Chung không phải là ngoại ngữ (thời đi học Chung đứng nhất lớp nhiều môn, kể cả Anh và Pháp văn) mà là cái lạnh thấu xương của Canada. Mặc bao nhiêu lớp áo quần cũng bị cái lạnh dưới độ đông đá của mùa Đông Bắc Mỹ len lỏi vào tận xương tủy (cold to the bone), nhất là khi Chung phải đi bỏ báo từ 4 giờ sáng mùa Đông.

Vượt biển muộn hơn Huyên, Chung học hết năm thứ tư y khoa ở Sài Gòn, nên có “vốn lận lưng” nhiều hơn Huyên. Ở Canada, chi phí học đại học rẻ hơn Pháp và Mỹ nên Chung kiên quyết đi theo ước mơ từ nhỏ, mặc dù biết mình sẽ mất tám năm dài một mình “tả xung hữu đột” với cả nợ áo cơm lẫn nợ đèn sách. Hai năm đầu chân ướt chân ráo, Chung phải học mọi thứ ở quê người. May là chương trình học còn dễ nên thời gian đi làm nhiều hơn đi học. Càng lên cao, học càng khó, phải đi thực tập, thời gian đi làm ít dần. Sang đến năm thứ sáu, Chung không tìm ra thời gian để sinh nhai, học bổng không đủ sống, không có thân nhân bên cạnh để giúp đỡ, Chung đành sống bằng student loan, nợ chính phủ cho sinh viên mượn.

Là đàn ông con trai, nhắc lại “thuở ban đầu khốn khó” đó, Chung chỉ diễn tả ngắn gọn “Cực và lạnh hết biết!”. Chỉ đơn giản như thế nhưng phải là người trong cuộc hoặc có hoàn cảnh tương tự mới hiểu hết nỗi niềm của hai chữ “hết biết”. Đúng tám năm sau ngày đến Canada, Chung ra trường, hoàn thành gần hết ước mơ từ thời nhỏ dại, chỉ thiếu phần “vinh quy bái tổ” vì không còn quê hương tự do dân chủ để về.

Những năm gần đây, mỗi năm, Chung vẫn về Việt Nam vài tuần, về vùng quê nghèo khám bệnh và phát thuốc cho các em nhỏ, người già. Hơn ai hết, Chung biết điều đó không thể có tác dụng hoàn hảo như kiểu khám sức khỏe định kỳ và follow up như ở Canada nhưng theo cách nói bình dị của Chung thì chẳng thà “có còn hơn không”.

***
Tận “miệt dưới”, Nam bán cầu, chính sách lương bổng của Úc không có khoảng cách giữa người khoa bảng và người không có bằng cấp nên Tuân đỡ vất vả hơn bạn bè lưu lạc ở các nước khác. Dù cũng đến xứ người tay trắng như chúng tôi, Tuân không có “thời hàn vi” mà đã “nhà cao cửa rộng” từ năm thứ ba, nhờ công việc coi kho hàng cho một công ty vận tải. Tuân đùa: Người miệt dưới chúng tôi sống an phận hơn không bon chen như các ông bà ở “cõi trên”.

Dù biết có bằng đại học ở Úc cũng không kiếm được nhiều tiền hơn làm công việc lao động phổ thông, Tuân cũng có bằng master về nông nghiệp với ước mơ một ngày nào đó rất gần, được về hướng dẫn nông dân miền Tây canh tác khoa học hơn, có hiệu quả hơn.

***
Cuối cùng xin được nói một chút về tôi vì “đời mong manh lắm, kể chi chuyện mình”. Cũng như các bạn, tôi là một thuyền nhân, đến Mỹ với một cái xách tay của Cao ủy tỵ nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) phát. Không may mắn như các bạn, thuộc “thành phần thứ 14” vào thập niên 1980 ở Việt Nam, tôi bị “cấm cửa đại học” nên chỉ có kiến thức lớp 12 của “xã hội chủ nghĩa”. Mọi thứ ở quê người bắt đầu từ số không. Để nuôi thân, tôi phải đi làm nhiều nghề, từ bán xăng, bán hàng cho các cửa tiệm từ Ross, Sears, đến Macy’s trong lúc đi học. Thời gian đó, cuối tuần nào tôi cũng “chạy show” từ cửa hàng này qua cửa hàng khác, không phải để đi mua sắm mà để đi làm. Đời sống lúc đó thu gọn trong một hình tam giác mà ba đỉnh là nhà, trường, và nơi làm việc. Không có giờ giải trí và không có giờ để nhớ nhà và… buồn.

Có một lần vội vã chạy ra từ một lớp học đến nơi làm việc, tôi không ngừng full stop ở một chỗ quẹo phải khi có đèn đỏ, bị cảnh sát chặn. Nhìn trong xe thấy sách vở ngổn ngang bên cạnh một thùng mì gói và vài hộp mì ly, thấy mặt mày tôi thiểu não vì nghĩ đến số tiền nộp phạt và hệ quả của nó, và có lẽ cũng chạnh lòng nghĩ đến “thời hàn vi” của chính mình, ông cảnh sát chỉ “lên lớp” vài câu về luật giao thông mà không ghi giấy phạt. Tôi rất vui và thấy câu “cảnh sát là bạn dân” đúng vô cùng. Còn nhớ ông cảnh sát đã bật cười khi tôi buộc miệng “You make my day, my week and even my month”.

Ngày ra trường, một ngày trọng đại của đời sinh viên, tôi vẫn phải tất tả chạy đến một department store để làm việc, không có giờ để tự thưởng cho mình một chuyến vacation ngắn hạn như hầu hết bạn học bản xứ. Lòng cũng chùng xuống khi ra bãi đậu xe, thấy có vài chiếc xe mới được trang trí bằng bong bóng đủ màu, và một cái nơ đỏ rất lớn là quà mừng cho một số tân khoa cùng ra trường với mình. Nỗi buồn chỉ thoáng qua khi nghĩ đến các bạn cùng hoàn cảnh vẫn còn sống cam chịu ở quê nhà.

May mắn hơn các bạn cùng lớp thời trung học, tôi ở gần San Jose, California, nơi có cộng đồng Việt Nam tỵ nạn đông nhất nhì thế giới nên sách báo tiếng mẹ đẻ và thông tin về cộng đồng, về quê nhà rất nhiều. Một trong những mục tôi đặc biệt quý là mục giới thiệu sách mới, củng cố niềm tin “tiếng Việt còn người Việt còn” cho cộng đồng Việt Nam lưu vong. Ở quê người, ở thời đại mà người ta đọc mọi thứ trên internet, cầm và đọc một quyển sách hay, nhất là những tác phẩm có gửi cả tấm lòng của tác giả với quê nhà, với riêng tôi, vẫn là một hạnh phúc tinh thần quý hiếm. Ở khắp năm châu bốn biển, mỗi lần về California, các bạn của tôi vẫn khuân về Pháp, Úc, Canada, Thụy sĩ… cả một túi sách tiếng Việt.

Sau lần tái ngộ lần đầu ở quê người giữa thập niên 1990, lúc đã học hành xong xuôi, có điều kiện đi thăm nhau, vài ba năm chúng tôi gặp lại nhau một lần, khi thì ở Pháp, ở Úc, ở Mỹ, khi thì Canada. Tuy nhiên, chúng tôi chưa thể gặp lại nhau ở quê nhà vì tôn trọng “lời nguyền” của Tâm “chỉ về nước khi nào đất nước có tự do dân chủ”. Dù vậy bằng cách này hay cách khác, bạn tôi vẫn làm tròn bổn phận với quê hương chôn nhau cắt rốn của mình.

Trong thùng thuốc của Chung mỗi lần về khám bệnh ở quê nhà, luôn có phần đóng góp của Tâm từ California. Mỗi lần quê nhà gánh chịu thiên tai, vẫn có check của Tâm gửi đến Hội Hồng Thập Tự ở Mỹ với memo cụ thể “for Vietnamese natural disaster victims”. Mỗi lần có dịp hội ngộ, chúng tôi thấy mình hồn nhiên, vô tư như năm xưa. Vì nhìn vào mắt nhau, chúng tôi thấy lại cả một quê nhà với tuổi thơ hạnh phúc trước năm 1975. Đâu đó trên khắp thế giới, có những con chim thiên di luôn hướng lòng về nơi mở mắt chào đời.

Santa Clara, California, Tháng Tư Đen 2022

Blog Archive