Showing posts with label ĐÀO HIẾU. Show all posts
Showing posts with label ĐÀO HIẾU. Show all posts

Tuesday, October 6, 2020

ĂN CƠM TÀU, Ở NHÀ TÂY LẤY VỢ NHẬT

*Cơm Tàu thì tôi ăn nhiều, nhà Pháp, nhà Mỹ tôi cũng từng ở, còn vợ Nhật?

Chà! Ế vợ gần bốn mươi năm nay, tìm một cô vợ Việt còn bị chê, đào đâu ra vợ Nhật?

Nghe ông bà kể lấy vợ Nhật sướng lắm. Mình đi làm về, ngồi phè cho nó cởi giày, xong nó đi pha nước cho mình tắm. Mình ăn cơm nó quỳ một bên, nó hầu, có miếng ngon vật lạ nó gắp bỏ vô chén, mình uống trà, nó dâng cả hai tay mời.Cứ cho những lời đồn đại này là có thực đi, thì lấy một cô vợ như thế đã sướng chưa?

Đi ăn cỗ, tôi rất sợ phải gắp thức ăn bỏ vô chén người khác, nhưng bị người ta gắp thức ăn bỏ vô chén mình còn đáng sợ hơn. Heo quay chẳng hạn, tôi rất ớn, nhưng vị phu nhân kia lại vừa gắp một miếng to tổ bố đặt vào chén của tôi. Ăn thì không nổi, mà bỏ đi thì mất lịch sự. Nếu cô vợ người Nhật mà thường xuyên làm như thế thì có gì là hay?

Còn chuyện vợ quỳ trước mặt dâng trà cho chồng nghe cũng lạ, nhưng – nếu có vợ – tôi lại thích làm ngược lại. Trên đời này không có gì thú vị bằng quỳ lạy một mỹ nhân, lúc ấy lòng ta bồi hồi xúc động, nước mắt ta trào ra như suối, toàn thân ta tỏa hào quang như được “Phật độ”. Như vậy xem ra tôi không thích lấy vợ Nhật rồi.

*Còn chuyện ăn cơm Tàu? Chắc các bạn còn nhớ Từ Hi Thái Hậu đã tổ chức một bữa tiệc có một không hai trên thế giới để thết đãi Sứ thần 8 nước: Nga, Pháp, Mỹ, Anh, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Ý, Đức tại Bắc Kinh. Bữa tiệc kéo dài 7 ngày đêm. Từ đêm 30 tháng chạp năm Nhâm Thân (1873) đến nửa đêm mồng 7 Tết Quý Dậu. Bữa tiệc ấy quy tụ mọi tinh hoa của nghệ thuật ẩm thực Trung Quốc.

Tháng 2 năm 1972, khi tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc, ông cũng được thủ tướng Chu Ân Lai đãi món thịt bò xào lá trà độc đáo. Đó là trà Long Tĩnh ở Hàng Châu. Tôi có đến thăm các đồi trà ở đó và cũng được dịp nhấm thử một tách trà thượng hạng của làng Long Tĩnh huyền thoại này, ăn thử mấy cái lá trà tươi – thứ được dùng để xào với thịt bò đãi tổng thống Nixon – thấy quả thật là có hương vị độc đáo.

Những quan chức của làng trà Long Tĩnh bảo rằng trà ở đây chỉ được hái vào khoảng từ năm giờ sáng đến bảy giờ sáng vì đó là lúc cây trà vừa thức dậy, trên những lá trà còn đọng những giọt sương. Lá trà là dương, giọt sương là âm. Trên một lá trà phải có hai yếu tố âm dương hòa hợp như thế mới được phép hái.

Nhưng không phải ai cũng hái được. Trà ở làng Long Tĩnh phải do những thiếu nữ đồng trinh hái thì mới giữ được cái hương vị cao quý, tinh khiết của nó.

Ôi! đó là chuyện vẽ vời của người Tàu. Hồi xưa má tôi thường nói: “Người Hàn Quốc thích tạo ra bi kịch, còn người Trung Quốc thì thích tạo ra huyền thoại”. Quả không sai. Nhưng dù có huyền thoại hay không thì Trà Long Tĩnh cũng là thứ rất độc đáo.

Trở lại với cơm Tàu mà tôi đã “ăn” ở sáu thành phố bên Trung Quốc. Thực ra tôi có “ăn” đâu. Tôi chỉ “nếm thử”. Tại sao những món ăn made in China thứ thiệt tại những khách sạn sang trọng này lại hoàn toàn khác xa với những món ăn Tàu ở Chợ Lớn hay ở China Town tại New York, tại San Francisco?

Mười lăm ngày, bốn mươi lăm bữa ăn là bốn mươi lăm nỗi kinh hoàng của đời tôi. Bởi vì nó toàn mỡ. Rau luộc mà cũng xối mỡ thì có gì mà họ tha! Cá cũng mỡ, gà cũng mỡ, thịt cũng mỡ, tôm cua cũng mỡ… chỉ có độc một món không mỡ là CƠM. Và tôi đã ăn cơm với muối tiêu suốt mười lăm ngày. Một cô bạn nảy ra sáng kiến. Cô rót cho tôi một tô nước trà. Thay canh sao? Không phải. Để nhúng thức ăn vô rửa mỡ trước khi ăn. Good idea! Quả nhiên đó là ý hay. Nhưng ăn chung với mọi người mà làm cái trò đó, hơi bất lịch sự.

Tôi đi siêu thị mua một ký đào. Bữa trưa tôi ăn cơm với muối tiêu và đào. Nhưng lòng tôi không thể nguôi được nỗi ấm ức. Những món mà người Tàu ở Chợ Lớn đã cho tôi ăn đâu rồi? Những dĩa cơm chiên hải sản tuyệt vời mà người Tàu ở San Francisco đãi tôi đâu rồi? Những món Điểm Sấm độc đáo mà tôi từng được thưởng thức ở New York sao tại chính quê hương của bà Từ Hy lại không có?

*Nhà Tây thì sao? Theo cách hiểu thông thường thì đó là những ngôi biệt thự của Pháp, có nhiều mái, nhiều ngóc ngách, có sân vườn. Ở dưới rez-de-chaussée có hầm rượu, phía trên cùng, sát mái nhà, có grenier. Tường dày bốn năm tấc xây bằng gạch thẻ đặc ruột và vôi, phòng cao bốn thước rưỡi, cửa lớn cao ba thước, cửa sổ cao hơn hai thước.

Còn theo cách hiểu bây giờ thì “nhà Tây” bao gồm cả nhà Mỹ, mặc dù nhà Mỹ và nhà Tây khác nhau rất xa.

Ở Mỹ – trừ những trung tâm thương mại lớn toàn là cao ốc năm ba chục tầng – những khu dân cư đều là biệt thự. Người Mỹ thích thay đổi nhà như người ta thay đổi xe vì thế họ không xây nhà kiên cố như dân châu Âu. Nhà Mỹ xây bằng gỗ, kể cả những nhà giá một triệu đô la cũng xây bằng gỗ nhưng rất chắc chắn, đầy đủ tiện nghi và sang trọng. Nhìn từ bên trong không ai biết đó là nhà gỗ. Sàn nhà trải thảm, tầng hầm (basement) cũng trải thảm. Tường và trần nhà sơn nước phẳng lì, tất cả các cửa đều làm bằng nhôm, nhựa, hoặc gỗ quý. Bên ngoài nhà là sân cỏ xanh và landscape trồng hoa kiểng.

Nhà của Tây là những mái ấm thần tiên. Họ ở trong rừng, dưới thung lũng xanh đầy bóng mát và tiếng chim. Có lần tôi đi dạo trong một khu dân cư ngoại ô thành phố New York. Đó không phải là cõi trần gian nữa, mà là thiên đường, với rừng cây, đồi cỏ, thảm hoa, mọc quanh những biệt thự xinh xắn như trong truyện thần tiên, mới giật mình thấy sao mà khoảng cách giữa dân của họ và dân của mình xa vời đến thế!

*Ở Việt Nam, tại các thành phố lớn cũng có người ở nhà Tây, nhưng đại đa số nhân dân nhà cửa xuềnh xoàng, thiếu thốn, cho nên ở nhà Tây đối với dân mình là một mơ ước xa vời. Nhưng còn cái ăn thì chưa chắc ai đã hơn ai.

Tôi đã đi nhiều nước trên thế giới nhưng không thấy đâu có món ăn tươi tốt, phong phú và ngon lành như ở Việt Nam. Còn chuyện lấy vợ thì hạnh phúc hay không phụ thuộc vào tình yêu chứ không cứ gì phải nài cho được một cô vợ Nhật.

Đào Hiếu

Thursday, June 2, 2016






Phiếm Luận: MUA VÀ BÁN

Tác giả : Đào Hiếu  NguồnLề Trái - Đào Hiếu's blog
Thưa các bạn, có phải 3 từ này nghe rất quen không? OK. Rất quen. Nó là tên một “tờ báo” chuyên đăng tin rao vặt, bán nhà, mua nhà, cho thuê nhà, mua bán đất…
Nhưng hôm nay tôi không muốn nói chuyện mua bán lặt vặt ấy. Tôi chỉ muốn nói chuyện bán lãnh thổ, bán biển, bán vũ khí sát thương hạng nặng, bán máy bay chiến đấu thế hệ mới trị giá hàng chục tỷ đô la.
Chuyện mua và bán ấy, giới ngoại giao thường gọi là ”dỡ bỏ cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam” hoặc văn vẻ hơn là “thiết lập đối tác bền vững”…
Nghe có vẻ bay bướm và “sang” hơn tờ báo rao vặt “Mua và Bán” nhiều.
*
Việt Nam hiện nay giống như người đàn bà sồn sồn vừa chia tay với ba bốn đời chồng. Và đang ế. Đang “chổng mông mà gào”. Nhưng bọn đàn ông chúng nó đã “chơi” chán chê rồi, bỏ đi hết rồi. Gào khản cả cổ họng mà đếch có thằng nào chịu quay lại.
Chỉ còn mỗi thằng Ba Tàu láng giềng, ở ngay đầu ngõ. Tuy nó là thằng đồ tể, mặc quần xà-loõng để lòi lỗ rún và cái bụng nước lèo, tối ngày cầm con dao thái thịt, múa vung vít… nhưng ngày nào nó cũng sang tán tỉnh, ngày nào cũng cho mấy cái bánh bao, ngày nào cũng rỉ tai “mười sáu chỉ vàng” ba số chín. Thế là con mẹ nạ dòng thôi không chổng mông mà gào nữa. Bèn hạ mông xuống, ngồi dậy, mời nó vô nhà.
Nhà có nhiều phòng. Mời anh nghỉ tạm “mái Tây”, tức là Tây Nguyên bô-xít.
Ờ chung nhà, đi ra đi vô cọ quẹt riết thì lòng dục nổi lên.
Thôi, nhường thêm cái phòng Vũng Áng cho anh kinh doanh nhé, Anh sẽ cho em tiền xài, mua iPhone, laptop, iPad, xe hơi…
OK, anh hào phóng quá. Anh cứ dọn về ở Hà Tình đi. Em cho anh ở 70 năm, nếu anh có ngủm củ tỏi thì con chúng ta sẽ cai quản vùng đất đó.
Từ khi thằng Ba Tàu nó vô ở Vũng Áng rồi thì nó xây tường kín mít. Nó làm cái chó gì trong đó đếch ai biết. Nó cấm mọi người bén mảng tời đó, trừ mỗi con mẹ nạ dòng kia. Đêm nào con mẹ cũng vô ngủ với nó. Chơi nhau đúng 100 lần thì có bầu, sinh ra 100 cái trứng, nở ra một trăm thằng Tàu lai, nói xí xa xí xô, đếch ai hiểu.
Ngày kia thằng Chệt bảo con vợ:
– Chúng mình đã có một trăm đứa con rồi, tình nghĩa keo sơn, “núi liền núi, sông liền sông, mối tình hữu nghị lớn như biển Đông” thế thì không thể rời nhau được nữa rồi. Vậy còn mấy hòn đảo ở Hoàng Sa, Trường Sa em để cho anh quản lý nốt nhé. Anh sẽ xây cho em và lũ con mỗi người một cái biệt thự.
Con mụ nạ dòng lập tức gật đầu ưng thuận.
Từ đó, tay Ba Tàu chiếm mẹ nó hết cả khu Nhà Từ Đường do 18 đời Hùng Vương để lại. Gồm rừng núi, biển đảo, chiếm luôn tài khoản ngân hàng, số hồng sổ đó nó tịch thu hết. Con mẹ nạ dòng chỉ còn mỗi hai cái đùi và chòm lông ở giữa, làm của hồi môn.
*
Ngày nọ có thằng Mỹ ghé thăm nhà:
– Nghe nói em bị chồng ăn hiếp, tước đoạt hết tài sản phải không?
– Dạ đúng vậy.
– Thế em có muốn ngã vào vòng tay anh không?
– Muốn lắm những em sợ nó chém chết.
– Đừng lo, anh sẽ bán cho em “vũ khí sát thương” hiện đại để em chống lại nó.
– OK anh. Tốt quá, nhưng thưa anh, tuy ở biệt thự, nhưng em nợ như chúa chổm. Một trăm đứa con đang há mồm, đếch có gì nhét vào miệng chúng nó. Tiền mua củ khoai cho chúng nó ăn còn không có. Chủ nợ thì kêu réo hàng ngày. Tiền đâu em mua vũ khí sát thương của anh?
Thằng Mỹ nói:
– Đừng lo, anh sẽ cho em trả góp. Lãi suất 0%. Được chưa?
– Nhưng trong túi em hiện giờ không có một xu.
– Không sao. Em cứ OK đi. Anh bán chịu cũng được. Và không cần đặt điều kiện “nhân quyền” cái con mẹ gì. Em cứ mua đi. Để anh có cớ ra vào biển Đông. Nhé? Thế nhé? Vũ khí anh bán cho em toàn đồ quá đát. Nếu không bán thì anh cũng huỷ bỏ mà thôi. Vì thế anh sẽ đại hạ giá.
*
Thế là Mỹ chở vũ khí qua Việt Nam. Toàn đồ “hết hạn sử dụng”, chất đầy một kho khổng lồ.
Bữa kia, Tàu hải giám của thằng Chệt đâm chìm cả chục chiếc tàu đánh cá của Việt Nam, làm chết hàng chục ngư dân. Trên không phận thì máy bay Tàu ngang nhiên quần đảo như vào chỗ không người. Ngoài đảo thì máy bay chiến đấu lên xuống tấp nập. “Khu gang thép Vũng Áng” thì vẫn hì hục chế tạo vũ khí hoá học… Ngoài biển thì rải thuốc độc cho cá chết hàng loạt, tiêu huỷ ngư trường, buộc ngư dân Việt Nam phải bỏ biển…
Có vị tướng nọ thấy nguy quá bèn hỏi:
– Sao ta mua vũ khí của Mỹ tùm lum mà không lấy ra dùng.
Tức thì nghe câu trả lời như sau:
– Mua để làm kiểng chớ dùng cái đếch gì. Trung Quốc là láng giềng tốt, là đồng chí tốt. Sao lại đánh nhau. Vả lại ông phải nhớ rằng: “còn Trung Quốc là còn mình”. Ngu sao đánh nhau với Trung Quốc?
– Ủa, vậy mua vũ khí của Mỹ làm gì cho tốn tiền?
– Mỹ là nước kinh doanh vũ khí. Nó bán thì mình mua. Mua thì có huê hồng. Sao đồng chí ngu quá vậy?
– Thế chẳng phải Mỹ nó muốn giúp Việt Nam chống Trung Quốc, bảo vệ chủ quyền biển đảo sao?
– Lại ngu nữa! Bộ đồng chí không nghe nó nói: “Mỹ không đứng về phe nào” sao?
Vị tướng nọ đưa hai tay lên trời, rú lên một tiếng. Huyết áp tăng vọt, phải đưa đi cấp cứu.


Đào Hiếu.

Tuesday, September 1, 2015

Vân Tiên ngồi núp bụi môn

Xưa có chàng thư sinh tên là Lục Vân Tiên, văn võ song toàn, trên đường ra kinh ứng thí chàng gặp bọn cướp Phong Lai đang uy hiếp một chiếc kiệu.  
  https://daohieu.files.wordpress.com/2015/08/luc-van-tien.jpg 
                                   
Lúc ấy Lục Vân Tiên đi hai tay không nên chàng bèn bẻ cành cây làm vũ khí đánh đuổi bọn cướp, giải cứu người ngồi trong kiệu.
         
Khi bọn cướp tháo chạy, Vân Tiên đến gần chiếc kiệu thì mới biết người mình vừa cứu là một tiểu thư tên Nguyệt Nga.

Đó là đoạn đầu câu chuyện được kể trong tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu.
         
Bây giờ chúng ta thử giả định hai tình huống khác  cho câu chuyện này xem sao.

1. TÌNH HUỐNG THỨ NHẤT:
Mặc dù Vân Tiên “văn võ song toàn”, dư sức đánh đuổi bọn cướp, nhưng vì muốn cầu an nên phớt lờ bỏ đi, mặc cho Nguyệt Nga kêu khóc cầu cứu. Chàng ta tiếp tục lên đường ra kinh ứng thí và đậu trạng nguyên. Trong trường hợp này thì ông trạng nguyên ấy là người tốt hay người xấu?

 2. TÌNH HUỐNG THỨ HAI:
Vân Tiên không xông vào cứu Nguyệt Nga, Vân Tiên cũng không phớt lờ bỏ đi, nhưng Vân Tiên lại “ngồi núp bụi môn” chờ cho bọn cướp Phong Lai lột sạch vòng vàng, nhẫn kim cương, bông tai hột xoàn, laptop, điện thoại di động…và “vui vẻ” với Nguyệt Nga xong, bỏ đi hết, thì chàng ta mới xuất hiện để “hưởng xái”. Hành động “núp bụi môn để chờ hưởng xái” này, giang hồ gọi là “cơ hội.”
           
Thấy chết đã không cứu lại còn lợi dụng tình cảnh ấy để hưởng lợi, xét về mặt nhân cách thì chỉ là phường vô lại. Còn xét về mặt luật pháp thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy Vân Tiên chưa xứng đáng làm một con người chứ đừng nói là trí thức.

Ờ bên Tây có một trường hợp “thấy chết mà không cứu” đã bị dư luận lên án mạnh mẽ đến nỗi kẻ bị lên án phải tự sát. Đó là trường hợp của nhiếp ảnh gia Kevin Carter sau đây:

Kevin Carter (1960-1994) phóng viên ảnh, công dân nước cộng hòa Nam Phi. Ông chụp bức ảnh con kền kền lẽo đẽo đi theo một bé gái da đen sắp chết đói để chờ em chết thì ăn thịt.  Bức ảnh đó được chụp vào khoảng đầu tháng 3.1993 tại làng Ayod, miền Nam Sudan. Sau đó tờ The New York Times đã mua lại và công bố vào số báo ra ngày 26.3.1993. Ngày 12.4.1994 (tức hơn một năm sau khi ảnh được công bố) Carter được thông báo thắng giải Pulitzer.
             
Nhưng ngày 27.7.1994 Kevin Carter tự tử vì bị dư luận lên án đã không cứu em bé mà chỉ lo chụp hình rồi bỏ đi.
             
Kevin Carter đã tự sát vì biết xấu hổ. Nhưng với hành động tự sát này, anh thực sự là một người trí thức.
                                                                              *
Ngày 20/01/2012 khi ông Ngô Bảo Châu trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ rằng trí thức chỉ nên làm việc chuyên môn của mình và đứng ngoài thế sự, thì lập tức ông Nguyễn Quang Lập trong blog Quê Choa đã có lời nhắn nhủ như sau :
         
 “Phát biểu của Châu, dù vô tình đi chăng nữa, sẽ làm cho đám trí thức trùm chăn được thể vênh vang, tiếp tục trùm chăn kĩ hơn nữa, trong khi vẫn có cớ để dè bĩu và chỉ điểm những trí thức chân chính.

Tôi hiểu cụm từ “trí thức trùm chăn” cũng giống như cụm từ “núp bụi môn” vì cả hai cụm từ ấy đều gợi lên một hình ảnh rất buồn cười: nó vừa hèn lại vừa “gian”.
           
Và người nông dân của cái xứ Bình Định quê tôi đã có câu ca dao dí dỏm này:

Vân Tiên ngồi núp bụi môn
Chờ khi trăng lặn …SỜ VAI Nguyệt Nga
                       
Đã “cơ hội” đến thế thì còn nói chuyện trí thức trí ngủ làm cái quái gì!
       
Có lẽ chúng ta nên cố gắng sửa mình để sống cho ra con người và đừng có “núp bụi môn, chờ khi trăng lặn” đã là quý lắm rồi.


ĐÀO HIẾU
(Trích từ tác phẩm CUỘC CÁCH MẠNG BỊ THẤT LẠC)
           

Thursday, August 20, 2015

Giải cứu binh nhì Ryan

ĐÀO HIẾU

Bà Lê Thị Nghê, hiện còn sống

Tất nhiên tôi không có ý định kể lại câu chuyện trong phim "Giải Cứu Binh Nhì Ryan" của đạo diễn Steven Spielberg, do diễn viên Tom Hanks thủ vai chính.
Và tôi cũng không muốn làm công việc của một người phê bình điện ảnh để phân tích xem phim hay, dở thế nào.

Nhưng từ lâu tôi vẫn ôm ấp ý định viết về bộ phim nổi tiếng này, bởi vì ở Việt Nam, thời chiến tranh chống Mỹ cũng từng có một câu chuyện mang một thứ triết lý nhân bản kiểu như vậy nhưng lại là một thứ nhân bản lộn đầu. Nó bị đẻ ngược, với hai chân ra trước. Nó là một thứ nhân bản màu máu, mang diện mạo của “chiến tranh nhân dân” trong khi thứ nhân bản trong phim "Giải Cứu binh Nhì Ryan" có màu xanh của biển cả và bầu trời.

Chuyện giải cứu binh nhì Ryan xảy ra vào giữa năm 1944 trong Thế chiến thứ 2 khi quân Mỹ đổ bộ lên vùng Normandy nước Pháp. Một biệt đội gồm 8 người do đại uý Miller chỉ huy được thành lập chỉ để đi giải cứu một anh binh nhì tên là Ryan theo lệnh của Tổng tham mưu trưởng quân đội Hoa kỳ, tướng Marshall.
Ryan là đứa con cuối cùng còn sống sót của một bà mẹ đã có ba đứa con trai chết trận. Vì thế bằng mọi giá phải đem Ryan trở về với người mẹ đau khổ ấy.
Trong cuộc giải thoát này, sáu người trong số tám người của biệt đội do đại uý Miller chỉ huy đã chết, trong đó có Miller. Biệt đội chỉ còn lại 2 người nhưng họ đã đem được người chiến sĩ dũng cảm: binh nhì Ryan về với mẹ.

Câu chuyện ở Việt Nam thì ngược lại. Nó xảy ra trong một hang đá ở xã Quế Tân thuộc tỉnh Quang Nam mùa đông năm 1969.

Trong cái hang đá kinh hoàng ấy cũng có một người mẹ tên Lê Thị Nghê 32 tuổi và một đứa con trai tên Lê Tân, 3 tháng tuổi.

Lính Mỹ càn quét qua làng Quế Tân. Thông thường thì trong những trường hợp như thế người dân thường bồng bế nhau chạy về thành phố lánh nạn. Nhưng hôm đó những người du kích Việt cộng đã buộc dân cùng họ chạy trốn vào hang Hòn Kẽm ẩn núp. Bé Lê Tân (con của bà Lê Thị Nghê) đói sữa khóc liên tục không cách gì dỗ cho nín.

Sợ bị lộ, những người du kích đã gây áp lực để bà Nghê giết chết con mình.

Nếu những người lính Mỹ trong biệt đội của đại uý Miller đã hy sinh để bảo vệ đứa con trai của một bà mẹ đau khổ, thì ở cái hang Hòn Kẽm này, những người du kích đã buộc người mẹ phải giết con mình để cho họ được sống.

Đó là thứ đạo lý gì vậy? Sao nó lại từng được ca ngợi như một “huyền thoại mẹ”, được “cải biên” thành một sự hy sinh thần thánh của người mẹ Việt Nam anh hùng “vì đại nghĩa mà giết chết con mình”?

Báo Tuổi Trẻ Online số ra ngày 09/6/2008 đã viết lại vụ này ở góc độ là: Chính dân làng trốn trong hang đã khuyên bà Nghê hy sinh đứa con để cứu mọi người.
Nhưng đoạn văn sau đây đã để lộ sơ hở:

“Súng vẫn nổ, mọi người ngồi trong hang cứ nghĩ lính biệt kích Mỹ đang đến gần hang rồi. Lúc này mọi người ngậm ngùi đành nghe theo mấy anh du kích, lại động viên cô Năm: “Thôi cô hi sinh đứa con đi…!”.

Bà Năm hôn núm ruột đang khóc: “Mẹ không bao giờ bỏ con, nhưng vì để cứu dân làng, con phải ra đi…”. Sau khi cháu tắt thở, bà cởi chiếc áo trong người đùm con lại. Bà bế thi thể của con, bò lên khỏi miệng hang về hướng tây 100m, mặc cho mưa rơi, mặc cho đạn pháo bắn rền vang, bà dùng hai tay móc đất ướt lạnh để an táng con mình.”

Sơ hở thứ nhất:
-Rõ ràng là bà Nghê không tự nguyện giết con mà là dân làng “đành nghe theo các anh du kích” làm áp lực buộc bà Nghê giết con.



Sơ hở thứ hai:
Bà Nghê hoàn toàn có thể “ra khỏi hang 100 mét để dùng tay móc đất đào huyệt chôn con” điều đó chứng tỏ bà không sợ lính Mỹ giết (vì họ giết bà để làm gì?).
Từ khi bà Nghê bồng xác con ra khỏi hang, đi 100 mét, cho đến khi đào xong một cái huyệt bằng tay không xong, cũng mất ít nhất một tiếng đồng hồ. Điều đó chứng tỏ lính Mỹ còn ở xa. Và rõ ràng rằng lúc ấy, thay vì giết con, bà hoàn toàn có thể bế con đi ẩn náu một chỗ khác để tiếng khóc của cháu bé khỏi gây nguy hiểm cho mấy anh du kích. Hơn nữa, với đứa bé 3 tháng tuổi trên tay, bà hoàn toàn có thể đi về làng, chẳng những không bị ai giết mà có khi mẹ con bà còn được giúp đỡ.

Vậy thì tại sao bà phải giết con?
Đó chỉ có thể là do một quyết định man rợ.
Đó là một quyết định hèn nhát và phi nhân tính.

Và sự kiện ấy đã nói lên một chi tiết rất cay đắng, đó là: những người du kích không dám cho dân làng bỏ đi vì họ cần một đám đông quần chúng để trà trộn vào.

Người mẹ “huyền thoại” ấy đến nay vẫn còn sống: quắt queo, tàn héo và đói rách. Không một ai đoái hoài, không một chút tiền trợ cấp, không một lời xin lỗi.

Bài báo nêu trên cũng đã viết về gia đình người mẹ ấy hiện nay như sau:

“Bây giờ con trai của bà Năm đã ra đi gần 40 năm và 33 năm đất nước thanh bình. Gần 200 người dân thôn Trà Linh ngày ấy bây giờ nhân lên gấp ba, đời sống tuy nghèo nhưng vẫn còn may mắn hơn bà Năm. Con gái còn lại – chị Lê Thị Liên – có chồng, có một con trai, bây giờ cũng nghèo lắm. Hiện nay vợ chồng chị lên tận Nông trường Phước Đức, huyện Phước Sơn (Quảng Nam) nhận chăm sóc khoán 4ha cao su. Vì xa quá anh chị cũng ít khi về thăm mẹ.
Bà Năm giờ ở một mình trong căn nhà tạm của con gái. Hiện nay bà đang bị nhiều bệnh và sống dưới mức nghèo khổ. Ngoài sự giúp đỡ của bà con lối xóm cùng chạy trú trong hang thời đó thì bà không được Nhà nước trợ cấp một chút gì. Có mấy lần chị Liên làm đơn xin trợ cấp cho mẹ, nhưng ngành Lao động – Thương binh và Xã hội các cấp đều trả lời “không biết xếp mẹ con bà vào diện chính sách gì”.

Vì ám ảnh triền miên, nhiều năm qua tâm trí bà tỉnh điên lẫn lộn. Chiếc khăn của đứa con ngày xưa, đến nay bà vẫn còn giữ và coi đó là “báu vật” bất ly thân. Đêm cũng như ngày, khi không tỉnh bà bế chiếc khăn đó hát ru. Rồi có những khi bà đốt nhang, một mình vào rừng, miệng nói lẩm bẩm đi tìm mộ con. Nhưng mộ con của bà đã mất dấu tích sau khi an táng do mưa quá lớn.”
*
Câu chuyện “Giải cứu binh nhì Ryan” và câu chuyện “Đêm kinh hoàng ở Hòn Kẽm” là hai bi kịch chiến tranh rất thảm thương và khốc liệt.
Nhưng triết lý nhân bản trong hai câu chuyện đã khác nhau như ánh sáng và bóng tối.

Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào trên mặt đất này, trách nhiệm của người lính là bảo vệ dân chứ không phải là buộc dân giết con để bảo vệ mình.
Và tự cổ chí kim, người lớn luôn đùm bọc, bảo vệ trẻ em chứ không phải trẻ em phải chết để bảo vệ người lớn.

Những người “giải phóng” Việt Nam đã không hề thấy xấu hổ về câu chuyện ở Hòn Kẽm mà còn ca ngợi nó như một thứ “lương tâm của thời đại”.

Đó là thứ lương tâm của loài sinh vật nào vậy?

ĐÀO HIẾU
(Trích trong tập tiểu luận “MẶT ĐẤT VẪN RUNG CHUYỂN”)

Blog Archive