Showing posts with label Chúc Thanh. Show all posts
Showing posts with label Chúc Thanh. Show all posts

Saturday, February 22, 2025

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng

Bánh chưng ngày Tết _Ảnh Nguyễn Lập Hậu

Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều.

Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.

Cậu xa gia đình, rồi trong quân ngũ, cậu có một người đồng đội thân tình như anh em, nên ngày đó, dịp cuối tuần hay được nghỉ phép, cậu hay theo người bạn thân tên Hiệp về nhà anh ở Bình Hòa.

Chú Hiệp gốc người miền Nam, gốc quê Vườn Lài, Cầu Hang, tính tình chân chất cũng như cả gia đình chú vậy, họ bao dung ưu ái đón Cậu Hà về sum họp thỉnh thoảng nếu tiện dịp cùng đại gia đình họ.

Cũng ở nơi đó chơn tình ấm cúng của Hiệp mà cậu Hà đã gặp cô Hoa, em chú Hiệp. Họ quen nhau, yêu thương nhau, lâu ngày nên duyên chồng vợ.

Cô Hoa, sau ngày cưới, gọi là mợ Hà, vui vẻ, hiền hòa và trọng lễ nghi. Đại gia đình họ theo đạo phật và thờ cúng ông bà.

Cô Hoa thuộc lớp người xưa, chăm lo nữ công nữ hạnh, tuy nhiên cô được đi học chữ và học quanh quẩn trong các trường tiểu học và trung học bán công loanh quanh trong vùng Cầu Hang Vườn Lài. Sau khi học trung học, thi đậu bằng trung học đệ nhứt cấp, thì cô đổi ý đi học nghề.

Cô đi học may và mở tiệm may sau đó. Cô may vá khéo tay tỉ mỉ và khá đắt khách. Tánh tình cô vui vẻ ôn hòa nên gia đình, bạn bè và khách hàng quý mến.

Khi thành chồng vợ với cậu Hà, cô đã có một tiệm may khang trang và kiếm đủ, đến dư sống.

Sau bốn năm lập gia đình, cậu mợ Hà có hai con, một trai, Tâm ba tuổi và Tú hai tuổi.

Từ khi các con đi học thì cô ít may vá đi một phần, dành chút thì giờ chăm nuôi con cái, cuối tuần thì dắt theo các con đi lễ xa hơn, lễ đền, lễ chùa, có lúc lấy xe buýt, mẹ con lễ bái lạy và xin xăm ở Lăng Ông Bà Chiểu, bên kia Cầu Bông… chiều về mẹ con ríu rít vui vẻ trò chuyện trên xe buýt, hai đứa bé ngắm sông nước sóng sánh dưới cầu, hứng chí, có lúc cùng ca lên :

“Ai đang đi trên Cầu Bông…
Té xuống sông, ướt cái quần nylon!“

Những ngày vui sướng hạnh phúc qua mau… rồi chiến tranh về gần thành phố và có lúc cũng ở ngay trong thành phố Saigon Gia Định Chợ Lớn… tình hình kinh tế và cuộc sống dần khó khăn nặng nề hơn. Xã hội co mình và người ta ít mua sắm, may vá, tiêu dùng tiết kiệm hơn. Mợ Hà tự an ủi, ai sống sao mình sống vậy, chỉ cầu xin trời phật ông bà tổ tiên phù trợ cho người miền Nam, ai cũng được mạnh giỏi. Cầu sao cho cộng sản thua đi, kém cạnh, để người dân Nam Kỳ được sống yên lành. Trong nhiều bữa ăn sum họp, mợ Hà hay nói giỡn với cậu Hà :

Tại là Bắc Kỳ, mấy người di cư vô đây, làm cho mầy đứa cộng sản nó theo vô, phá rối Nam Kỳ chán quá!

Nam Kỳ lúc này thành cộng sản cũng bộn rồi. Tụi anh đi ứng chiến bắt được vô số cộng sản, chúng quê quán Nam Kỳ, lục tỉnh, nhứt là vùng Bến Tre… nói nào xa, ngay cái ruộng Vườn Lài thơ mộng của em ở một bên Cầu Hang đó, cũng là một ổ, nhiều ổ việt cộng nằm vùng khít khao.

… Khi mà cuộc tranh luận của cậu mợ tới hồi hung hăng, thì đã liền có hai đứa con nhỏ sáp tới, mỗi đứa bịt một bên miệng của ba má chúng lại, xin can xin can đi…

Rồi tụi nhỏ ngây thơ tự nhận:

Tụi con là Trung Kỳ vậy, làm Trung Kỳ để hòa giải, hai bên Bắc Kỳ Nam Kỳ, không nên không phải, trúng bùa ngải chết trôi…

Cậu Hà cười lớn:

Mấy đứa này ngu quá và xạo tổ cha rồi, nè nè… Trung Kỳ là thâm căn cố đế cộng sản gộc, cộng sản chánh hiệu con nai vàng… không chối vô đâu nổi nhe.

Những bữa cơm tranh luận ồn ào và thân mật ấm cúng đó rồi cũng có ngày hết. Điều nói qua nói lại rồi cũng ngưng. Những hiểu lầm hay đùa giỡn của hai đứa nhỏ rồi cũng có ngày sáng tỏ. Đó là ngày ba chúng nó chết trận.

Đó là năm 1968 khi mà cậu Hà bị tử trận trong một trận chiến giằng co ác liệt ở Đồng Ông Cộ giữa lực lượng Biệt Động Quân và quân cộng sản nằm vùng miệt ngoại ô Gia định vào dịp hưu chiến tết Mậu Thân. Cậu Hà ở trong đội tiền thám báo nên bị VC phục kích một loạt súng AK đầu tiên và bị chết ngay bên cạnh ba đồng đội khác.

Mợ Hà khi được tin dữ, vội vã lặn lội đi tìm xác chồng, thay vì đi về phía Vườn Lài, Cầu Hang, mợ bị thất điên bát đảo, đi ngược chiều không định hướng chạy qua Cầu Bông, chạy và kêu khóc một hồi, mất sức, không còn tỉnh trí, chạy giạt vào một bên đường Lăng Ông Bà Chiểu và trụ lại ở cổng tam quan. Mợ ôm gốc cây dừa sụt sịt khóc, rồi lại nức nở khóc, mợ ôm chặt gốc dừa, mếu máo, gọi, có lẽ mợ tưởng cây dừa là chồng mợ. Cái cây dừa mà người ta vừa quét vôi trắng xóa để đón tết. Đến một lúc mệt lả, mợ ngồi xuống dựa đầu nghoẻo cổ bên một rễ cây.. vô hồn… người qua lại chợt thấy, thương tình, dìu mợ vào trong sân lăng cho bớt nắng, cho uống nước và gọi. Sau dần mợ cũng tỉnh lại, lần đi đủng đỉnh về nhà.

Về nhà, cả mấy tháng sau, mợ Hà còn nói như trong mơ: «bữa đó ông và bà cứu, cho uống thuốc khỏi điên và dặn dò rằng: khi nào khỏi bệnh thì trở lại lăng mần công chuyện, cứ trở lại đây sẽ tìm thấy người chồng quét lá sân ở đây.» Mợ nói như đanh đóng cột, chắc là vậy… đinh ninh là vậy.

Gia đình, cha mẹ, con cái thương cho là mợ mất trí phần nào và dở người. Nhưng rồi, ít tuần lễ sau, sau lễ làm thất tuần cho chồng, mợ tỉnh táo hơn, mợ tỉnh táo đặng thu xếp việc nhà.

Qua tết 1968 một tháng, mợ Hà phục tang chồng xong, thu dẹp tiệm may và giải nghệ. Mợ vẫn chuyên tâm lo lắng chu đáo hơn cho các con, nhưng nói là bớt đi trách nhiệm với công việc kiếm tiền, mợ rời nghề may sau khi cúng tổ tạ ơn.

Sau đó một mùa hè oi ả qua đi. Mợ lên Lăng Ông Bà Chiểu, xin vào làm việc bảo quản, thu vén và săn sóc đèn nhang trong lăng.

Lúc rảnh tay trong nội điện, mợ ra sân ra công viên thu gom lá khô và rác rơi rớt, lo sao cho cảnh quang lúc nào lúc sạch sẽ, khang trang và thoáng mắt.

Khác với những lăng miếu ở nơi xa xôi thành phố, ở nơi này, mợ thấy Lăng Ông Bà Chiểu thật gần gũi, ấm áp… nhứt là đối với hoàn cảnh có phần tang thương của gia đình mợ sau khi người chồng qua đời.

Trong những ngày vía, ngày lễ hội, mợ cảm thấy lăng thờ như nhộn nhịp, trang nghiêm, kính cẩn khác thường. Người người tới lễ bái như trở về nhà ông bà, cha mẹ, lễ lạy xong họ kính cẩn đi lùi ra.

Đúng vậy, người dân Saigon Gia Định coi lăng thờ đức tả quân danh tiếng Lê Văn Duyệt là nơi thân quý như thờ một vị thần hoàng làng, Hoàng Tỉnh, cũng như thờ ông bụt trong cảnh chùa, vừa xa lạ và cũng và cũng rất gần gũi, vừa kính cẩn, vừa quý mến, như khói hương nghi ngút hàng hàng lớp lớp… dâng lên không ngừng.

Mợ cứ kể với các con và với người quen lối xóm nhiều lần là từ thế kỷ thứ 19, đức ông đã làm tổng trấn Gia Định thành. Đức ông đã truyền dậy người dân sống đạo đức, đức ông đã xây dựng sửa sang cuộc đất hoang vu thành một miền đất trù phú, an bình và hưng thịnh với nhà cửa đường phố, thị thành khang trang hòa hợp và đẹp mắt…

Mợ cứ nhớ lại lễ vật bà con mang tới thì tùy tâm, bông hoa, trái cây, bánh, tiền… mùa nào thức ấy rồi van vái khấn lễ và xin xâm. Quẻ sâm nào cũng tốt cả, đầy những lời răn dậy khuyên bảo tu nhân tích đức, làm lành lánh dữ như cha mẹ dậy con cái.

Vui nhất là những ngày cuối năm hay đầu năm đón xuân. Người ta đua nhau đi xem lễ thượng nêu ngày tết. Đêm giao thừa trước năm 1975, người ta phải đi bộ loanh quanh lòng vòng xuyên qua các khu phố Bà Chiểu thơm mùi nhang, và có khi phải xuống xe từ rất xa mới mong từ từ tiến vào khuôn viên lăng để hái lộc, lễ bái dâng hương. Hai nấm mộ của đức ông, đức bà đắp nổi, đơn sơ, giản dị như mộ cổ của ông bà ta ở quê vậy. Rất Việt Nam.

Xung quanh tường của lăng cẩn nhiều tranh nổi bằng sứ, bằng sành hình long ly quy phụng y trong tuồng tích sử sách xa xưa. Xa xưa đấy mà vẫn gần trong tầm mắt.

Mợ Hà coi lăng mộ như là căn nhà thứ hai để đi về, có thể là căn nhà chánh thì đúng hơn.

Sớm sớm mẫi ngày mợ dậy lo cho hai con ăn uống và áo quần tươm tất cặp sách tới trường. Sau đó tất tả thay áo quần trang nghiêm, chụp nón lên đầu, sách giỏ ra ngoài lộ lớn đón xe bus đi Bà Chiểu.

Mợ vô lăng từ sớm, việc đầu tiên là mở cổng, kéo dây xích. Rồi đi quét lá sân trước, sân sau, hai bên tả hữu. Thay nước cúng, thay nhang nơi các bàn thờ lộ thiên, đợi ngài thủ từ đến pha trà, dâng cúng và thỉnh chuông… chuông, mõ, buông bỏ…

Cùng làm việc với mợ, còn có hai người đồng sự, vì lăng miếu khá rộng. Công viên bao quanh cũng cần làm cỏ và trông bông bốn mùa. Buổi xế trưa, vãng khách thập phương, cả ba người đồng sự coi kiểm lại các phẩm vật, lễ vật cúng, còn nhiều mà khách để lại trên các bàn thờ thượng trung và hạ. Họ gom lại, chia thành nhiều phần đều nhau, mang ra cổng phân phát cho những người vô gia cư đến chầu ngoài các cổng, và ai ai cũng có phần lộc thánh, vui vẻ. Mợ Hà hay nhận phần quét lá ở công viên bao quanh nhằm lúc vắng vẻ… với hy vọng mơ hồ có khi nào chồng mợ cũng về cửa thánh làm công quả. Dĩ nhiên đó chỉ là điều mơ ước hoang tưởng, người đã mất đã đi xa rồi… còn đâu!

Chiều chiều lối 6, 7 giờ mợ đi kiểm lại các bát nhang trong, ngoài, trên, dưới, rút các chân nhang còn đang cháy dở để dập tắt trước khi ra về, để phòng tránh hỏa hoạn.

Khi xong mọi việc, xuống nhà ngang, là mợ đã nhận được từ ông, bà thủ từ cho một bọc đồ ăn chia phần sẵn gồm oản, xôi, chuối, cam, quýt và nhiều loại bánh… bánh cốm, bánh ít, thơm lừng. Có lúc có cả phong bao tiền.

Khi ra về, lễ lạy tạm biệt, khi nào mợ cũng không quên ghé ngang thùng phước xương, khom mình kính cẩn để lại bao tiền vô thùng tiền, để lại để ông thủ từ và ban quản trị có quỹ mà trùng tu lăng mộ, tường, cổng môt khi lỡ hư hỏng. Mợ chỉ mang lộc về, tối tối mẹ con quây quần vui vẻ chia nhau ăn.

Nhưng rồi, ít năm sau, ngày 30-04-1975 ập tới ngỡ ngàng. Làm thêm được nửa năm ở lăng miếu, tự nhiên mợ xin nghỉ việc. Ai hỏi tại sao, có ai cho nghỉ việc không? Nhưng mợ nói là không, mợ tự ý xin nghỉ vì đau bệnh.

Mà thấy có đau bệnh gì đâu. Mãi sau này, khi bà ngoại gạn hỏi mãi, mợ phải thú thiệt là: «con không thích làm việc với ban quản trị mới, là ban quản trị của người cộng sản.»

Mấy năm đầu, từ 1975 tới 1980, việc cúng lễ sa sút, cảnh quang lăng mộ tiêu điều lắm. Nhưng những chục năm về sau này, thành phố có bộ mặt đổi mới, khu lăng mộ coi đông người lui tới hơn xưa ít nhiều nhưng ý nghĩa và cảm nhận đã đổi thay. Nhưng mợ vẫn không trở lại với công việc thờ tự, dù thỉnh thoảng, ngày vía, vẫn vào thăm và dâng hương. Có khi là sám hối.

Mà cũng đúng như mợ Hà nói, nhiều đổi thay thiệt, khác xưa nhiều nhiều lắm, ban quản trị và điều hành kiểm soát từng chân nhang, từng hộc tủ, họ cân đo đong đếm từng lon gạo, từng đồng bạc với thánh thần thì còn đâu là lòng thành kính và thiêng liêng. Tiến tới nữa là họ khóa và niêm phong các thùng công đức và các cửa nẻo ra vào. Hình như họ bắt chước, mô phỏng làm kinh tế thị trường vào việc khuyến khích thờ tự, tín ngưỡng và tôn giáo ở mọi nơi… họ kêu gọi siêng năng việc thờ cúng và phát triển tâm linh! Rầm rộ! Ầm ỹ! Nhưng có lẽ vì thế đó mà các đấng thiêng liêng đã rời đi xa, xa lắm rồi.

Tường hoa, mái ngói, biểu, trướng, hoành phi, câu đối… vô hồn, chúng tồn tại đó mà chứng kiến nhiều đổi thay… ít ai chăm sóc, coi bề loang lổ.

Mợ cũng thay đổi, đã già nua với tuổi gần 80 năm. Hai con mợ đã đi xa làm ăn, chúng cũng muốn mợ ra ngoại quốc sống cuộc đời vật chất đầy đủ và tự do suy nghĩ. Nhưng mợ đi ít năm, giờ già lại xin con về sống ở quê nhà.

Mợ sống ở khu Cầu Bông, hàng ngày nhìn quê hương đổi màu đổi cảnh quá mau. Mợ như hơi chóng mặt, sửng sốt vì sợ người ta sẽ mang lăng ông của thành phố đi mất một ngày nào đó chăng? Thì cảnh quang nào chẳng phải thay đổi với thời gian. Để gạt nhẹ đi lớp bụi mờ bao phủ tâm hồn, mợ điện thoại nhắc nhở các con cháu ở xa là: «sắp tết rồi, ngày 22 tháng 12 âm lịch là nhớ dọn dẹp cửa nhà, ngày 23 nấu xôi chè hay mua kẹo thèo lèo đưa tiễn ông bà táo về trời,, ngày 24 nhớ cắt hay mua mấy cành mai vàng cắm lọ, ngày 25 bầy mâm ngũ quả và ngày 30 tết nhớ cúng gia tiên về tống cựu nghênh tân… đừng quên gì cả.» Ở đây, mẹ già bộn rồi, nhưng vẫn còn đủ sức tới thăm lăng mộ xem có thay đổi gì nữa không? Mẹ còn đi khá khỏe và cũng lo lắng.

Các con mợ ở xa, còn bận rộn với cuộc sống loay hoay nào có để ý mấy tới lời mẹ dặn, rồi thì cuối năm, ngày cùng tháng tận, cơ may còn có đứa con gái gọi điện về mà an ủi:

Má ơi, tội nghiệp má quá, má quên đi, đừng ở đó mà cứ lo sợ cái thành phố, lăng mộ, chùa, đền, miếu mạo nơi má sống… dần dần sẽ thay hình đổi cảnh hay tan biến đi mất nhe, nó đã thay lần lần lâu rồi, chớ có phải mới đây đâu mà tiếc nuối. Má ơi, mọi thay đổi là quy luật thời gian, đó là cái giá phải trả cho sự phát triển của xã hội. Nè, má, cả thế giới còn đang thay hình nữa là cái quê hương bé tí tẹo của má!

… Con nói đúng, thiệt, rồi đây má cũng sẽ chết đi. Nhưng mà quy luật gì thay đổi cả quê hương quá mau, quá vội, quá hỗn độn… để phải liệng đi, dấu đi tất cả kỷ niệm, tất cả ký ức trăm năm về một hình hài quê quán ngàn đời thì là một nỗi buồn muôn thuở. Còn đâu cảnh cũ người xưa:

Đêm khuya nơi xóm Bạch Vân
Mấy người luộc bánh chưng xuân chuyện trò
Lửa bừng lách tách reo hò
Chú mèo nằm cạnh co ro sưởi mình
Một chàng mảnh khảnh thi nhân
Một người áo vải nông dân hiền từ
Một tráng sĩ một thiền sư
Vây quanh bếp lửa hồng như ráng chiều
Thuốc lào nhả khói đăm chiêu
Quay người sư bác lẩy Kiều ngâm nga
“Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.“

… Đoạn thơ này ông Phạm Thiên Thư viết ra mới ba chục năm nay thôi, mà dè chừng nghe như ở thế kỷ nào vọng lại.

Mùa Xuân Ất Tỵ 2025
Chúc Thanh


Sunday, April 28, 2024

Bỏ lại

Ở cái xứ sở Âu Tây này cũng có quá nhiều tự do, thành ra cuộc sống có lúc thành bất cập, công đoàn ra sức nhiều lần đình công, yêu sách này kia, đòi tăng lương, đòi làm ít thời giờ hơn, đòi nghỉ hưu sớm v.v… nhất là công đoàn CGT vận chuyển công cộng người đi làm việc như métro, RER, tramway, bus… Một lần đó họ đình công vào dịp mùa đông, trời rất lạnh và mọi người đều e ngại co ro.

Thời buổi này thất nghiệp nhiều, nếu ai đã có một chỗ làm, phải cố gắng bám trụ. Khi xe lửa báo hiệu đình công là phải chuẩn bị tinh thần để hôm sau phi thân ra đường sớm, mong làm sao ra sức len lỏi được lên xe để đến chỗ làm việc khỏi mất một ngày lương.

Buổi mai hôm ấy, không phải là một buổi mai có sương thu và gió lạnh, có mẹ tôi âu yếm nắm tay đi tới trường, mà là một buổi mai u ám, mưa, gió và mây đen vần vũ như một cái vung to lớn sắp úp chụp xuống đầu… lại thêm xe lửa, métro, bus tuyên bố đình công 4/5. Sáng ngủ dậy, thu xếp, giục giã mang con cái tới trường xong, là tất cả chạy ra đường lớn, người người đều chạy ra xe, đeo theo xe và chịu khó chen lấn để mong lên bất cứ một phương tiện chuyên chở nào. Ngoài đại lộ, xe nườm nượp đông hơn mọi ngày, vì cả đa số xe hơi riêng cũng được mang ra sử dụng. Thành phố được dịp biểu dương lực lượng xe cộ đủ loại, từ xe cũ mèm đến những xe sang trọng, mới như mercedès, BMW, hình như có cả Rolls Royce… tuy nhiên vận tốc xe xê dịch không khá hơn bộ hành là bao. 

Trên vỉa hè, người đi bộ lũ lượt, họ rủ nhau đi từng đoàn, có người hăng hái cho là mình thừa khả năng đi bộ tới sở làm. Có một số tìm một trạm xe điện ngầm tụt xuống, cầu mong bất chợt có một chuyến xe không lãng công chạy tới. Đa số tụt xuống, chờ vô vọng, lại chui lên, lại đi bộ. Trên mặt đường, đoàn xe rùa bò vẫn rùa bò một cách bình tĩnh đến nghênh ngang, vì vậy có người đi bộ vẫy vẫy tay xin quá giang, có lẽ mỏi chân rồi, nhưng không được, xe nào cũng đã đầy nhóc người là người, thất vọng họ phát lên cùng nhau cười rộ. Nói đúng ra người Âu Mỹ ít va chạm nhiều bi thảm, họ vẫn nhìn cuộc đời độ lượng và khá khoan hòa.

Như mọi người, tôi ra đường rất sớm với sắc tay nhẹ chỉ với một cái dù nhỏ. Tôi cắm đầu cuốc bộ ra gare. RER báo hiệu trong một giờ sau mới có một chuyến xe từ ngoại ô Marne la Vallée vào Paris. Cô đầm, phát ngôn viên ở gare, giọng ấm áp, rất dịu dàng, lịch sự, không làm vơi đi niềm ngao ngán của khách chờ xe. Khách đứng chật hai bên quai. Đông người quá, khó nhúc nhích, tôi chán nản bỏ train RER leo lên lầu chờ trạm. Cũng may, khi RER đình công thì train chạy, dù là rất giới hạn, vẫn có ít người không thể ngưng làm việc dù chỉ một ngày vì cuộc sống của con cái họ. Tuy train chạy chậm hơn RER nhưng còn hy vọng xê dịch được, còn hơn đợi chờ mòn mỏi mà không chắc leo lên RER được không.

Khi tôi vừa lên được quai của train, thì cả rừng người đang ồn ào chợt im lặng nghe thông báo : vẫn cái giọng một cô đầm gợi cảm và lễ độ : « đường số 1, hướng về Paris, có một train sắp tới trong năm phút, merci de votre compréhension! » Không ai có thể cảm thông nổi một ngày phiền toái như một ngày xe điện đình công, vì ai ai cũng vừa bỏ tiền ra mua vé xe tháng! Có lúc người ta cười rộ lên. Người ta chửi thề, người ta chế nhạo công đoàn phá bĩnh ! Làm khó !

Thiệt ra có xe, có đến hai lần, trong khoảng cách 45 phút tới 1 giờ. Nhưng rất ít người có thể lên được. Nhứt là đàn bà, con gái yếu đuối và cả một số nam giới không thích chen lấn… người yếu xô đẩy cũng bị đẩy lùi, lùi dần, như là càng lúc càng bị đẩy văng ra xa hơn cửa xe… Tôi chợt cảm nhận như đây là một cuộc tranh giành xô lấn, y hệt cái vượt trội kinh hoàng của ngày 30-04-1975 của quê hương tôi! À không, ở đây, không có đạn pháo kích nổ vang trời… không có người bị chết ở giờ thứ 25. Tôi vẫn còn nhiều ám ảnh, ấn tượng dù đã bao năm qua. Có lẽ tôi đã mòn mỏi tuổi đời và thần kinh yếu kém đi !

Cứ thế tôi bị xô lùi dần về phía sau. Vô lý quá, tôi bực bội nhìn quanh… tôi bị đẩy lùi hai ba lần liên tiếp, không chống đỡ nổi làn sóng người như nước vỡ bờ. Lần lùi tới, tôi lùi thật lẹ vì sợ người ta đạp nát chân mình, tôi hơi cáu rồi đó, nhìn sang phải, sang trái, bất mãn và lần này tôi bắt gặp một đôi mắt cũng đầy vẻ bất mãn ở ngay áp sát bên sườn tôi. Cô ta đang nhìn tôi vẻ thương hại và ái ngại, cũng đúng thôi. Một đôi mắt Á Đông, dịu dàng, yếu đuối bị xô đẩy đến tụt cả mũ len choàng đầu. Cô sợ hãi vì không tìm ra chỗ bám, phảng phất ánh hoảng hốt:
"Cơ khổ, kẹt quá, chị ơi ! Mình cứ bị đẩy lùi xa mãi… "

Rồi… đúng là một giọng nói Việt Nam… tôi an ủi cô và cũng là tự an ủi: "Không sao đâu, rồi mình cũng lên được à. Đến sỡ trễ cũng không sao, miễn là mình có tới.

"Đành thế, mà em ngại, tại vì em mới tới đây có hai năm, em đã ở không gần hết hai năm dài đó, giờ em mới tìm được việc làm, em mới đi làm…"

"Không hề chi, chủ nghe tin tức, métro đình công, sẽ hiểu… nhưng mà cách nay hai năm thì mọi sự đều đã khó khăn, giấy tờ thủ tục làm đâu có dễ gì. Làm sao em có thể qua đây được. Em giỏi quá. May quá."

Người thiếu phụ trẻ, đồng hương tôi mới quen, vẫn phải đứng dán chặt vô người tôi, chớp chớp rèm mi cảm động và sung sướng thổ lộ chuyện riêng:

"Kể ra em may thiệt chị à. Em không bao giờ ngờ có ngày mẹ con em tới đây. Em có chồng đi cải tạo ba năm mấy, về, rồi vợ chồng gom góp cho anh đi vượt biên, chẳng may, chồng em mất tích, không còn tin tức. Mẹ con em đã tưởng là sống mỏi mòn với cộng sản VN. Rồi may quá, cuối cùng, cách nay hơn hai năm, em nhập hộ khẩu của ông hàng xóm của em ở Việt Nam, làm giấy tờ hôn thú, thông hành, rồi cùng ra đi với ông ấy. Tới đây, tụi em sống chung, bây giờ chúng em là vợ chồng. Em có một đứa con gái riêng với chồng trước em, 12 tuổi. Chồng nay của em có một cháu gái riêng 19 tuổi, trước ngày sống với mẹ nó, nay ưng về sống chung với chúng em, cả thẩy là bốn người, gồm đủ con anh, con em, nhưng chưa có con chúng ta."

"Rồi sẽ có thôi."

"Không đâu, em còn trẻ, nhưng chồng em hiện giờ đã già rồi. Anh thương em lắm, nhưng không muốn có thêm con mọn. Ảnh sợ cha già con cọc, rồi mình mệt nhọc mà cũng không nuôi nấng được con đàng hoàng."

"Ổng cũng đúng thôi. Đứa bé nhỏ ở trong tay cha mẹ già như lúc nào cũng điên đầu mệt mỏi, đâu có sung sướng bằng ở trong vòng tay nâng niu của cha mẹ trẻ còn yêu đời vô tận."

"Vâng chồng em có lý. Vả lại, cô có ý nói nhỏ nhỏ giọng xuống, ảnh cũng có một con trai lớn bộn với chị lớn rồi. Trai gái đủ cả. Thêm nữa, ở đây lúc này kiếm sống cũng khá khó khăn…"

"Thế tại sao anh nhà lại thôi sống với chị lớn, họ không cùng đi vượt biên sao?" Tôi tò mò nhích tới.

"Không, chuyện rắc rối lắm, lôi thôi hơn cả tiểu thuyết chị à,… là như vầy, hồi đó, là lúc 30-04-1975, ảnh là sĩ quan miền nam đi cải tạo, năm 1979 vợ anh và hai con anh, một trai, một gái được phép hồi hương về Pháp. Chỉ phải ra tận trại tù ở miền Bắc xin quản giáo nhiều lần cho gặp chồng, chồng ký giấy ưng thuận cho vợ mang con đi. Chị ấy và hai cháu đi. Sang Pháp, chị tần tảo đi làm, nuôi con, gửi quà về nuôi chồng và có làm giấy bảo lãnh cho chồng. Nhưng thật đáng tiếc là nhà nước cộng sản giữ ảnh lâu quá lâu… chị coi giữ tới 15 năm trời. Hình như là sau năm 1990 anh ra trại, vợ lớn anh chờ lâu quá, rồi nghiệp duyên đưa đẩy, chị đã gặp và yêu thương người khác. Chị ấy liền sang tên cho đứa con trai lớn nhờ bảo lãnh cha nó. Tội nghiệp anh, người trở về chiều ngày 30 tết năm 1990. Em, đầu tiên dòm thấy anh thất thểu bước vào xóm cũ, người xưa đã đi xa, cảnh cũ đã đổi thay, anh ngồi bần thần dưới hàng hiên nhà cũ… mẹ con em cũng đang côi cút, chúng em mở cửa gọi và đón anh cùng ăn tết qua ba ngày đầu năm. Sau đó chúng em thông cảm và làm thành một gia đình mới. Ngày xưa, trước 1975, em gọi anh là chú, bác gì đó… nay thì là chồng mới của em."

"Bà vợ lớn tử tế và đầy tình nghĩa…"

"Vâng, chồng em đâu dám trách cứ chị lớn một câu nào. Bây giờ vẫn hòa thuận, chị tới giúp đỡ gia đình chúng em hoài. Cô gái con chị ưng về sống với tụi em."

"Gia đình hòa thuận như thế đó là có phước đức lớn. Nơi đây, ít nhà ai có được."

Nhưng rồi người thiếu phụ bỗng sa sầm nét mặt:
"Không đâu chị ơi, cũng có lúc tụi em buồn lắm. Tụi em thì không có chi bất hòa. Mà lỗi là ở hai đứa con gái, con ảnh và con em, con nhỏ không chịu con lớn, con lớn không nhường con nhỏ. Chúng cãi nhai đánh nhau hà rầm, có lần em nghe được chúng xỉ vả nhau như vầy: tao với mầy, không anh chị em ruột thịt chi, không nợ nần, không cùng cha mẹ… tại sao cứ phải ở với nhau ? Cái bản mặt mày thấy ghét quá!"

Nói xong, mặt cô đỏ bừng, vừa giận vừa buồn, luống cuống hai bàn tay run run…
"Con nít gây lộn là thường, rồi chúng lại làm hòa, người lớn mỗi ngài mỗi giảng giải thêm một chút, rồi chúng sẽ hiểu ra lần lần."

"Không xong chị ơi, tụi em đã nói rất nhiều lần, chẳng đi tới đâu…"

"Vậy anh ấy nên mang con lớn về giao cho phía má nó."

"Không xong vì nó không ưng ông dượng nó."

"Vậy thì phần lỗi là ở cô gái lớn rồi. Muốn sống chung phải thương nhau, người này nhường người kia một chút."

"Cha nó đã giải thích đến khô cổ họng, đến phát chán."

"Thôi, em, đợi vài năm nữa, tuổi mới lớn qua đi, nó sẽ dịu dàng trở lại, tính tình sẽ đằm thắm hơn…"

Cô bạn trẻ thở dài nhè nhẹ:
"Biết em có chịu được một vài năm nữa không, nhiều khi mình hang hái làm một công việc, vậy mà gần xong, mình lại không còn muốn làm cho xong, mới kỳ lạ chớ! Có trời mà hiểu! Chồng em vẫn nói với em “phải ráng" và ảnh cũng ráng khuyên con, nhưng em vẫn sợ, em cần phải có công việc làm, em phải làm việc, cho quên sợ!"

Lạ lùng, vừa quen nhau, mà chúng tôi tâm sự thật lâu. Trên quai xe, train như đến mau hơn. Tôi không biết khuyên thêm điều gì, liền hỏi bâng quơ xem cô ở đâu ?

"Em ở Gagny xuống. Còn chị?"

"Tôi ở Brie sur Marne."

Chúng tôi tần ngần đứng yên lặng bên nhau. Vẫn rất sát nhau vì xe quá chật. Nhờ câu chuyện vãn, cả hai chúng tôi đều đỡ sốt ruột điên đầu. Rồi cũng có một chuyến tàu xịch đậu lại. Người ta lại xô đẩy giành giựt nhau lên… cửa xe đóng không nổi vì kẹ ngay lối lên một ông tây quá lớn con. Giằng co thu xếp không xong, ba giây sau, ông tây phải tụt xuống… tôi lợi dụng mình nhỏ người tí tẹo trám ngay vào chỗ trống.

Ồ không một giây chậm trễ, une petite place svp, tôi thành công trong tíc tắc, một niềm vui nho nhỏ, rất nhỏ. Nhưng kìa, tôi đã phải bỏ lại cô bạn đồng hành ở sau lưng, cô bạn vn đứng đó, bất động, bùi ngùi… rồi đưa tay lên vẫy vẫy, như cái máy, tôi cũng đưa tay lên vẫy từ biệt cho tới khi khuất dạng. Vâng, trong tíc tắc tôi bỏ lại người bạn đồng hành một đồng hương sau lưng tôi. Cũng vậy, mấy mươi năm trước, cũng trong một sát na, tôi đành bỏ lại quê hương yêu dấu, quê hương tôi ngàn trùng xa cách ở bên kia bờ đại dương…


– Chúc ThanhParis, nhớ về 30-04-1975

Thursday, November 23, 2023

Niềm vui lễ hội

Cách nay đã hai tuần lễ, hôm đó là cuối tháng mười dương lịch, 30 tháng 10, mùng 1 tháng 11, dịp lễ hội Halloween. Chúng tôi đi mua bánh biscuit gói nhỏ nhỏ, loại petit beure pocket, kẹo chocolat đủ loại đủ màu, tất cả làm thành từng gói để chờ tối ngày lễ Halloween làm một màn phát quà cho các em nhỏ gõ cửa các nhà làm ma xin quà. Chúng tôi đã sẵn sàng sửa soạn hai bọc khá lớn để góc nhà chờ đợi.

Tới tối đúng ngày, sau bữa cơm chiều, trời xẩm tối, các em trong xóm, gọi là Village Plaisance, tụ tập từng nhóm 5, 7 đứa, có khi đông hơn, có khi ít hơn tùy ý thích, thường là chúng học chung trường chung lớp. Chúng được nghỉ lễ các thánh, mà tụ tập đi xin kẹo bánh theo phong tục, chớ chưa hẳn là chúng thiếu thốn, nhiều đứa thích ăn mặc hóa trang, có đứa làm công chúa, nhưng nhiều đứa thích áo quần dị hợm hay đen ngòm, thùng thình làm như ma quỷ, vẽ mặt dữ dằn, râu ria tùm lum. Thiệt là có lần mở cửa, nhìn chúng hiện ra lạ, mình phải lùi lại giựt mình. Ma quỷ mà, có đứa mang theo cái búa lớn hay cái mỏ neo to hơn người, cũng tạo được cảm giác lạ và chúng tôi vui vẻ nhập gia tùy tục với người địa phương.

Có lễ hội là một dịp vui, vì ai cũng biết sau lễ các thánh là người ta rộn rịp chờ đón Giáng Sinh, rồi Tết năm mới, may mắn thay giữa mùa thu sang đông u tối mịt mùng, lại có những ngày vui nhộn như để xua đi phần nào cái lạnh lẽo cơ hàn của dịch bệnh, cái đe dọa tàn sát ghê gớm của chiến tranh đang tràn lan làm chao đảo cả thế giới.

Lúc 7 giờ chiều, giờ ăn cơm tối, chúng tôi tắt đèn bếp, ăn trong bóng mờ của đèn hành lang len qua, kẻo các em nhỏ thấy đèn cửa sổ bếp sáng rỡ lại tiến tới đập cửa ầm ầm lối ra vào.

Ăn xong và dọn dẹp xong bữa chiều tối, chúng tôi lôi các bọc bánh kẹo ra coi lại thì chợt nghe tiếng gõ cửa nhè nhẹ, gõ kiểu này thì chắc chắn không phải là lũ khách con nít rồi, ai thế nhỉ? Tôi nhón gót chân, ngó qua lỗ đục nhỏ, à là hai ông cảnh sát, họ muốn gì giờ này? Tôi vội gọi con gái xuống lầu với mình, rồi mới yên trí mở cửa. Thì ra hai người nhân viên công lực này tới, ưu ái nhắc nhở chúng tôi, « Buổi tối lúc này an ninh không bảo đảm lắm, khi mở cửa đón khách xin bánh kẹo, coi chừng có thể có kẻ gian lợi dụng xông vô nhà cùng lúc để hành hung ». Họ nói hai lần rất chu đáo.

Chúng tôi cám ơn họ và nhìn nhau, họ đi rồi, vậy thì sao? Có làm fête nữa thôi? Má cứ làm, chớ má đã mua và sửa soạn tới hai túi, không lẽ vì sợ, mà giờ mình để mình ăn một mình! OK, con gái đề nghị, má cứ làm, thì mình lên lầu, có cửa sổ từ phòng trên dòm xuống là hành lang phía ngoài bếp, mình sẽ thả một tấm bạt từ lầu cao chạy xuống, đụng thảm lá cây bụi cây jasmin ngay cửa bếp ngoài đường, theo cái bạt đó, mình sẽ thả kẹo bánh lăn xuống tặng quý vị con nít nhe má… má khỏi mở cửa, khỏi sợ kẻ gian tấn công bất ngờ.

Hai mẹ con tôi đồng ý kiểu thả dù quà tặng như vậy, rùm beng vui vẻ đâu được ba lần. Tới lần thứ tư thì có chuyện, thiệt gọi là lễ của con nít, mà có cả con nít lớn bự 15, 16 tuổi, chúng muốn lớn hơn cả người lớn, khó phân biệt được rõ trong cảnh tranh tối tranh sáng ở ngoài trời, xe hơi chạy vụt qua và đèn đường thì lấp ló, lúc tỏ, lúc mờ. Đám trẻ thứ tư tới, chúng múa may ca hát trước cổng ra vào, rồi đập cửa ình ình, chúng tôi phải gọi chúng từ trên cao, chừng vài giây, rồi một hai phút sau, chúng mới tập trung và chú ý nhìn lên: Ici, là-haut, chào, tụi tôi ở trên này, tụi tôi vì cái cửa hư, kẹt, không mở nổi, alors, tụi tôi thả cadeaux xuống cho các em nhe, đón này, bonnes fêtes! Allez-y, allez-y! Một vài em nhảy cẫng lên, rất vui. Chúng tôi cũng hào hứng vui lây, quên đi, không để lướt theo tấm bạt, mà chúng tôi nhắm thẳng vào những bàn tay bé bé xinh xinh đó, cứ thế liệng bánh xuống. Có đứa bắt trúng, bravo, và có đứa bắt hụt, và bọc kẹo rớt xuống đất, bộp! Thế là trận chiến xẩy ra vì bất thình lình, có hai bà mẹ tây, tây hay arabe thì không rõ lắm, vì trời tối và loang loáng ánh đèn khi có khi không. Hai bà ấy xồ ra từ trong bóng mờ, họ cự nự rồi xỉa xói hai mẹ con tôi một tràng líu lo khá gay go: Các vous cho quà trẻ con kiểu sauvage như thế đó hả ? Các vous rất mất dậy, mal élévé. Các vous không có quyền làm thế! Các vous làm fêtes đâu! Các vous khinh người và bạc đãi các con chúng tôi ! Tôi hoảng và nghe tiếng được tiếng mất. Họ nói tiếng Pháp rất khó nghe, tôi cũng không hơn gì họ, vừa nghe vừa đoán mò, để hiểu loạng quạng!

Tôi khựng người, đứng như trời trồng, không biết làm sao cho họ hiểu, may mà con gái nó lanh trí, nó lật đật chạy xuống lầu, qua cửa sổ bếp, gần nhau hơn, nó phân bua rõ ràng: Quý bà hiểu cho, chúng tôi rất yêu mến trẻ con nên chúng tôi mới tham dự vô lễ hội này. Nhưng kẹt nhà chúng tôi neo đơn, ít người, mẹ tôi già lắm rồi, lại nữa vấn đề trộm cướp an ninh ràng buộc, nên xin lỗi quý vị, chúng tôi phải tự vệ, xin lỗi, vì vui quá, vui lây với các em mà chúng tôi đã thẩy bánh xuống, thay vì để glisser xuống rất từ từ, xin lỗi quý bà.

Nghe xong, hai người lớn đấy đong đỏng bỏ đi vội, nhưng đám con nít vẫn ở lại, chúng có gần 10 đứa. Chúng vẫn ngửng mặt lên cao nhìn và chờ đợi, dường như đã hiểu phần nào câu chuyện lôi thôi giữa người lớn với người lớn, nhưng chúng vẫn cười vui ồn ào, chúng giơ tay lên vẫy ra hiệu chờ đón, vẫy vẫy tay, còn bao nhiêu, donnez-nous tous!

Mười lăm phút sau thì đường phố vắng lặng trở lại. Mẹ con tôi đóng hết các cửa. Tắt đèn và đổi phòng khác, coi truyền hình. Thôi nhe, má, từ nay má đừng làm lễ hội bánh bánh kẹo kẹo Halloween hallowu nữa nhe, mấy cái bà gazoilles đó, họ khó chịu lắm!

Nhưng rồi sáng hôm sau, tôi phải đi chợ, phải mua khá nhiều đồ cho một tuần lễ, nước uống, sữa tươi, sữa đặc để pha café, yaourt, thịt, khoai, rau, đồ hộp, thêm mấy bọc giấy lớn, gần đầy xe đẩy. Nặng và cồng kềnh là mấy thùng nước suối. Tôi đang lúng túng xếp hàng đã mua lên quầy tính tiền, còn đang bối rối tìm mấy cái giỏ xách đặng xếp đồ, chưa kịp khuân ba cái bao nước evian lên kịp thì có một người đàn bà đậm người chợt đến sát gần, áo quần bà ta hơi dài, hơi thậm thượt, tôi không nhìn rõ mặt, vì bà ta đứng nghiêng nghiêng, nhưng tôi cũng kịp nghe được bà ta nói, đúng là nói với tôi: Để tôi giúp bà một tay nhe, mấy cái bịch nước này nặng lắm, tôi phải giúp bà thôi. Miệng nói, hai tay bà ta thoăn thoắt chuyển mấy bịch nước suối đặt lên chỗ tính tiền. Tôi cảm ơn và vừa kịp nhận ra là một trong hai người đàn bà tối hôm qua đã dừng chân ở trước cửa bếp nhà tôi…

-- Chúc Thanh

Thursday, October 20, 2022

Mẹ tôi đi lấy chồng

Mẹ tôi tính đi lấy chồng vào dịp xuân này, mẹ tôi tính đến Tết là sẽ về nhà chồng.

Hình như mẹ tôi đã ra khỏi nhà. Tôi không còn nghe tiếng động tịnh nào, cũng không còn tiếng bước chân nhè nhẹ kéo lê trên sàn nhà. Bà đã ra khỏi nhà rồi, bà đi đánh tennis với Skyle, có lẽ, người tình của bà. Hôm nay hơi lạ, từ 7 giờ sáng thức dậy, mẹ tôi đã sửa soạn hí hửng như một đứa bé con lâu ngày mới được đi chơi. Độ này mẹ tôi như một con người mới. Bà hồi xuân hơi trễ? Bà ngây thơ vô tội một cách đáng yêu, dĩ nhiên là đối với tôi thôi. Có lẽ vậy. Tôi thấy tôi người lớn và mẹ tôi đổi chỗ cho tôi, bà trở thành con nít, một thiếu nữ trẻ thì đúng hơn. Tôi kính trọng tình cảm náo nức của mẹ và thấy mẹ trong sáng như ở tuổi 18 vừa lớn lên. Bà trẻ ra yêu đời và hầu như hết hẳn bệnh tật, một số bệnh mãn tính và cấp tính bà đeo sẵn như món trang sức cố hữu từ ngày còn ở Việt Nam.

Bà đổi mới, đổi mới như thoát xác, không e dè, không sợ sệt, không ngại ai bình phẩm. Bà giờ là một con người mới, mới từ hình thức đến nội dung. Tôi xin phép nói theo nhà Phật: Bà đã hóa kiếp, hóa thân! Cha tôi lui vào căn phòng thiền của ông. Không vui không buồn, ông sống bình thản với hàng chồng sách vở. Ông viết, đọc, hết ngày này sang ngày khác. Ông như quên cuộc sống xung quanh. Ông im lặng, thỉnh thoảng chỉ nói với chúng tôi những điều cần thiết. Nhưng ông không buồn.

Cuối tuần có bác Bẩy, bạn cũ của ông ghé chơi, ông vui vẻ đón bác. Tôi thấy bác Bẩy mang tới một hai gói gì nho nhỏ. Cha tôi bày ra hai cái đĩa, xuống bếp lấy hai đôi đũa, hai cái ly và chai rượu. Thế rồi họ rì rầm nói chuyện tới khuya.

Gia đình tôi như thế đó! Một gia đình Việt Nam sống ở Mỹ mất hết cả phong độ Việt Nam. Chúng tôi có thể sống được ở đây, hòa nhập được vào xã hội Mỹ này để kiếm tiền, để đi học, đi làm nhưng chúng tôi chưa hẳn thấm nhuần được cái hay ho của người bản xứ, mà hình như chúng tôi đang xa dần dần nền tảng gia đình Á Châu! Không biết rồi những thập niên tới chúng tôi sẽ đi về đâu? Sẽ tấp vào những bờ bến mới nào ở đâu? Hiện tại thì chúng tôi sống biệt lập tình cảm dù vẫn ở cạnh nhau.

Mẹ tôi đi làm đều. Mẹ tôi là cột trụ gia đình. Cha tôi yếu không thể làm việc thường xuyên. Mẹ tôi kiếm khá đủ tiền trang trải tiền nhà, tiền chợ, tiền học hành cho chúng tôi. Bà làm việc suốt tuần. Thứ bẩy bà đi chợ mua cả đống đồ hộp gồm thịt, rau, cá và nước uống. Xếp đầy trong tủ lạnh và trong ga-ra.

Xong bà viết một bản tin trên trang giấy mang dán trước cửa bếp, đại ý ai muốn ăn một thứ gì tự soạn lấy, nói là sửa soạn chứ chỉ việc khui đồ hộp và hâm nóng là sẵn có ăn ngay. Mẹ tôi chu đáo lắm. Chúng tôi cần mua sắm gì, sách vở, áo quần, tiền túi cứ ghi lên bảng đó, cuối tháng bà thỏa mãn ngay. Ngày cuối tuần còn lại, mẹ tôi ra ngoài và sống với người tình của bà. Ít khi nào chúng tôi gặp mẹ và cha một lần. Chúng tôi bốn anh em, tôi có 3 anh trai và tôi là gái, chúng tôi rất ít, hiếm lắm một cuộc họp mặt gia đình như xưa.

Bận rộn. Ai cũng bận rộn. Ba anh tôi, một đi làm, hai còn đi học trung học. Ai cũng có việc riêng của mình, thì giờ chênh lệch nhau. Mọi người vội đi vội về, tắm rửa, ăn gấp gáp, ngủ, nghỉ rồi thức dậy, lại ra đi. Thỉnh thoảng, gặp mặt chào hỏi vài câu rồi tránh lối nhường nhau, kẻ đi trước, người đi sau, đi hết. Họ bỏ tôi bơ vơ một mình.

Tôi ở đây chứng kiến họ xoay tròn vòng vòng, mẹ và ba anh tôi. Họ là những con rối, thay nhau đến và đi, đi và đến, như mấy cái hình nộm xoay xoay trong lồng đèn kéo quân làm tôi chóng cả mặt! Cha tôi đứng riêng và tách biệt. Ông khép kín trong thư phòng. Có lúc tôi tức mình, gõ cửa vào phòng. Nhưng tôi không thể ở lâu bên cha tôi được vì ông không để ý gì đến sự có mặt của tôi. Có lúc tôi cũng muốn dọn một phòng tự tu cho tôi. Nhưng không lâu, tôi phải nhẩy vọt ra vì tôi thích nhìn những chiếc xe hơi qua lại trên con đường xa xa vòng vèo bên ngọn đồi trước nhà tôi. Tôi cũng thích ngắm những rặng hoa đào rung rinh đón gió. Tôi thích ngó bà đầm hàng xóm mang chăn mền ra giũ giũ ngoài nắng, và tôi thích thấy những người già co ro đi dạo dưới đường. Tôi cần xem lũ trẻ con đu xích đu và đi xe đạp trong công viên nho nhỏ. Nếu không có họ tôi đã hóa đá, có lẽ, từ mấy năm nay rồi!

Tôi cũng không muốn đi học nữa, tại vì việc tôi đi học hay không đi học đối với cha mẹ tôi như không cần thiết và dửng dưng. Tôi đến trường vài tuần rồi chán, tôi tự cho phép tôi ở nhà ít ngày, rồi không biết làm gì hay ho hơn, tôi lại đi học trở lại, thầy cô tôi hỏi tại sao? Tại tôi “bệnh” kèm theo một cái giấy nghỉ bệnh, đơn giản thôi, nói sao cha tôi làm cho tôi vậy.

Thỉnh thoảng có những lá thư từ Việt Nam của thân thuộc bay sang, đây là gia vị thay đổi tí chút cho cuộc sống, tôi vừa đọc vừa đoán, lơ mơ nhưng rốt cuộc tôi cũng hiểu. Họ chỉ muốn xin đồ vì họ thiếu thốn quá, có người thiếu thật sự, có người thiếu giả dối! Họ sống với cộng sản mà! Tội nghiệp cả nước đi ăn xin thì ai có thể cưu mang mãi mãi được. Những lá thư đó lạc hậu quá rồi. Mẹ tôi đã chán nản cái chuyện đó, ngựa nản chân bon rồi, nên bà không thèm đọc. Chỉ còn tôi là ngồi táy máy đọc như chơi ô chữ. Chú Bẩy là ai? Dì Năm? Dượng Tám? Chịu, trí nhớ tôi lù mù, hạn hẹp, và bao năm tháng đã xa mờ và tôi đã lớn lên ở đây.

Có lần tôi nghịch ngợm nhấc máy điện thoại, bấm đại số của dì Năm ở bên kia bờ đại dương, máy kêu ù ù o o một vài giây, rồi có tiếng hỏi gắt gỏng: “Quỷ sứ, ác ôn không, đứa nào đó, bây kêu giờ này, tao vừa ngủ, mới 2 giờ đêm há…” Tôi hoảng quá bỏ vội cái máy xuống, đi ra ngoài phòng. Thôi dẹp dẹp, không phải việc của mình. Giờ đây nhiều thay đổi lắm, ai biết tôi là ai, mà tôi làm gì có tiền đâu gởi về, tôi lớn rồi, tôi còn là con bé Sáu lùn lếch thếch mang gà mèn đi mua nước đá cục như những năm xưa nữa đâu, có chăng tôi còn nhớ là lối hẻm bên hông nhà tôi có bán nhiều thứ bánh ngon lắm, bánh xèo tôm chấy, bánh cuốn nhân tôm thịt, bánh bột lọc in nguyên con tôm, chè bà ba, chè đậu đỏ bánh lọt. Mấy thứ đó ở quê ngon hơn ở Mỹ này.

Những lá thư Việt Nam ấy, những món ăn ngon lành ấy gợi nhớ căn nhà Việt Nam của chúng tôi ở đường Trương Tấn Bửu, gợi nhớ trong tôi cuộc sống của gia đình tôi mấy chục năm trước.

Độ ấy mẹ vẫn kể cho tôi nghe chuyện của mẹ, tôi không mấy chú ý lúc đầu. Nhưng ngày qua ngày, lớn lên tôi lại thích nghe, vì bản tính tò mò con nít sắp lớn, thích biết chuyện người lớn. Nhứt là người lớn ấy lại là mẹ mình.

Mấy lúc gần đây mẹ bận rộn. Mẹ sắp đi lấy chồng. Người không còn thì giờ kể thêm một lần nào nữa. Tôi cũng muốn quên mà cũng muốn nhớ, lúc muốn nhớ tôi góp nhặt lại đầy đủ chi tiết vì mẹ tôi cứ bảo làm đàn bà con gái khổ lắm ! Khổ là khổ như thế nào?

Mười bẩy tuổi mẹ lấy cha tôi. Mẹ đi lấy chồng sớm để tránh bà ngoại sau khó khăn. Về nhà chồng mẹ ngây thơ vụng dại, nhưng có bố ở tuổi chín chắn ở tuổi tam thập nhi lập, mẹ tin bố vì tìm đúng chỗ dung thân. Bố thương mẹ và kín đáo bảo bọc. Cuộc sống đầm ấm tình cảm nhưng rất đạm bạc đến nghèo nàn. Bố tôi dậy học, đồng lương rất khiêm nhường. Sao cái xã hội Việt Nam, nghề dậy học ai cũng quý mà đồng lương quá ít ỏi. Mẹ tôi không thể đi làm phụ bố vì học hành dang dở. Vả lại bà bận con mọn, liên tiếp sáu năm liền với sự ra đời của bốn anh em tôi. Làm sao mẹ tôi đi làm phụ bố tôi nổi.

Cái nghèo quả là truân chuyên hết chỗ nói. Tôi oán hận cái nghèo và nhắc tới nó ở mọi khía cạnh tôi vẫn rưng rưng muốn khóc. Và ở một phía rất nhỏ của tôi thôi, mẹ tôi kể rằng mỗi lần bà sinh nở, không có tiền mua thịt nạc kho tiêu, chỉ ăn cơm với muối rang mặn nên mặt cứ vàng khè. Phải đợi tới cuối tháng có lương của ba tôi mới mua được ít thịt ba rọi. Bữa cơm ba tôi ngồi lấy đũa tách riêng từng chút thịt nạc kho lùa vô chén cơm của mẹ tôi, còn da heo và thịt mỡ chia đều cho anh em tôi. Mẹ tôi ăn từ từ nhẩn nha, chờ chồng quay đi, bà gắp vội thịt trong bát chia cho các con. Cứ thế có mấy lát thịt chạy qua chạy lại khắp lượt mọi người.

Thời đó, 1970-1975, mà đối với gia đình tôi, rau muống là xa xỉ phẩm. Mẹ tôi chỉ dám mua rau lang, rau dền, rau càng cua về luộc lấy nước chan cơm ăn để có sữa cho con bú. Bố tôi, một ông giáo dạy học nhiều năm, trong vùng Phú Nhuận ai cũng biết bố tôi nghèo, nghèo từ khi mới đến nhận lớp dậy, cho đến lúc có vợ và có 4 con.

Hay thật, nghèo mà sao đẻ nhiều con cái như vậy? Tết Tết, chúng tôi hau háu chờ phụ huynh học trò mang đến nhiều đòn bánh tét và nhiều hộp mứt đủ màu. Họ nhân hậu quá, chứ tuyệt nhiên có bao giờ bố mẹ tôi dám mua đồ ăn Tết. Quần áo tụi tôi chuyền nhau mặc đến sờn rách. Nhưng những chuyện nhì nhằng gì trong nhà cũng không thảm bằng chuyện mẹ tôi đi ăn quà. Người ăn một bát bánh canh có tôm khô, giò heo và tiết. Tôi nhớ mẹ tôi cứ kể và nước mắt cứ rơi lã chã là mẹ tôi thèm ăn một tô bánh canh từ lâu lắm rồi, từ ngày có mang anh tôi kia, nhưng lần nào bà cũng nhịn thèm. Vì tiền mua một bát bánh canh là tiền chợ cho cả nhà một ngày đó, thì bà thèm quay quắt, lý trí không còn thắng nổi.

Ngồi trong nhà nghe tiếng rao mà mẹ ứa nước miếng, nhưng không dám ăn ở nhà. Sáng hôm sau, xách giỏ ra chợ mua rau, mẹ tôi lại gặp ngay chị bán bánh canh quái quỷ ngồi ngay cổng chợ. Bà hóa liều, ngó trước ngó sau, thấy không có ai quen, bà làm bạo mua một chén ăn vội vàng, húp cạn láng không còn một chút nước. Ngon quá chừng!

Tội thay, lúc bà vừa trả tiền đứng lên, thì có bà nội tôi thấy, nội cự nự mẹ là mua về nhà mà ăn, đàn bà ăn quà giữa chợ, ăn vụng chồng con, không hay đâu. Mẹ tôi vừa xấu hổ, vừa tủi thân, giận và uất. Về nhà bà khóc và ói. Trong cơn buồn xót xa, bà nhìn thấy tất cả sự hèn hạ, khó khăn của nỗi cơ hàn!

Đi làm thì mẹ không đủ bằng cấp nghề nghiệp. Làm lao công thì mẹ bảo lương không đủ trả người giữ con và quán xuyến việc nhà. Muốn đi buôn thúng bán mẹt, không có vốn, vay mượn ư? Ai dám cho người nghèo vay? “Thằng cho vay là thằng dại, Thằng trả lại là thằng ngu!” Những ý tưởng lộn xộn làm mẹ tôi đau ốm mất ít ngày. Khi ốm no bò dậy, mẹ quyết định nhờ cô hai Tuyết dắt bà đi làm phu sở Mỹ ở Long Bình. Nhà cửa bà thuê người thu vén. Bà xông đi như vũ bão, ai có cản cũng không được.

Đời sống chúng tôi vài tháng sau và những ngày sau đó khá hơn. Được ăn cơm với canh và cá thịt. Mỗi lần trái gió trở trời, lỡ mà ốm đau chúng tôi đã được nhìn thấy ông bác sĩ và những viên thuốc tây, thay vì lúc trước toàn là cạo gió bầm lưng và uống nước gừng, nước xả nóng cổ kinh hồn. Cũng có lời khen, cũng có lời chê bai, bình phẩm, nhưng mẹ tôi đi sớm về trễ, đâu có thì giờ để ý. Cha tôi chăm sóc chúng tôi hơn và luôn luôn tận tụy, “gõ đầu trẻ” là nghề của chàng. Mẹ tôi có thêm tiền, cha tôi cũng không có gì thay đổi. Nói vậy chớ áo quần ông cũng tươm tất hơn một chút và đồng nghiệp nhìn ông, có người khé né hơn. Nhưng mặc cái áo mới, ông cũng ngại ngùng, tính ông dè dặt kín đáo.

Hai năm sau, cha mẹ tôi mua lại căn nhà đã thuê đã ở từ bao lâu. Ông bà xây cất lại khang trang hơn vì tụi tôi đã lớn lên một chút. Ba mẹ cũng ít còn eo sèo nhau nữa. Cuối năm 1974 bắt sang 1975, đúng lúc nhà tôi đi lần lần ra cuối đường hầm thì không may tiếng súng giao tranh quốc cộng ở quê hương mỗi ngày mỗi tiến về gần thành phố hơn và quyết liệt hơn. Tết 1974 qua đi, cộng sản mù quáng và tàn ác pháo kích lung tung vào các thành phố, nhất là thủ đô Sài Gòn. Cả Miền Nam lên cơn sốt. Cộng sản lấn chiếm đến nơi rồi. Những gia đình có thế lực và giàu có đã lần hồi di tản ra ngoại quốc.

Bố mẹ tôi thì thầm bàn tán nhiều ngày nhiều đêm báo chí Sài Gòn đăng tải cảnh Nam Vang ở Miên bị pháo kích đẫm máu, dân miền nam càng kinh hoàng thất đảm. Nay mai đây Sài Gòn sẽ chịu chung số phận thủ đô Cam Bốt?

Cha tôi có ý định ở lại quê hương, vả lại bà nội tôi già cả không muốn ra đi. Nhà tôi không giầu có để có thể tự túc. Cha mẹ tôi giằng co bàn tán. Có lúc đã cãi nhau to tiếng. Tiếng súng nổ càng gần hơn, gần thật gần đến nỗi cả hai không dám cãi qua cãi lại xô xát nhau nữa.

Cuối cùng mẹ tôi cứ dứt khoát mang cả nhà ra đi. Cha tôi nhường vì thấy tình hình quá nguy kịch! Mẹ tôi đi ra đường rồi lại về nhà rất nhiều lần. Rồi một ngày gần sát cuối tháng 4 may mà chưa quá muộn, mẹ tôi dắt được cả nhà vào phi trường Tân Sơn Nhứt.

Nhờ một chiếc xe của sở Mỹ mẹ tôi làm việc, nhờ ông Kyle, người đồng nghiệp của mẹ tôi lái, cả nhà tôi thoát được nhiều vòng rào kẽm gai kiên cố và cả biển người tội nghiệp, nhốn nháo ở cổng trại Phi Long, trực chỉ ra phi đạo, hướng về chiếc phi cơ khổng lồ Mỹ chờ sẵn.

Tôi nhớ như in, mẹ tôi vội vã lắm, bà rất tháo vát và nhanh nhẹn, nhỏ bé trong bộ áo quần cũ nát. Cái sắc tay giấy tờ, chỉ có thế, bà luôn đeo bên sườn. Kyle và mẹ tôi trao đổi vài câu nói vội vàng. Tôi có cảm giác mẹ đang chỉ huy việc di tản. Bà gọi là đi tản cư! Đi mau lên, lẹ lên…

Chúng tôi, 4 đứa bé được lên cầu thang trước tiên, cha tôi đi theo chúng tôi, theo sau là bà nội kéo chéo áo vừa đi lên vừa lau nước mắt. Mẹ tôi lên sau cùng. Kyle lên sau rốt. Một vài người nữa đi tập hậu. Máy bay đầy nhóc người và nhấp nhổm rồ máy, chạy lướt để cất cánh. Hình như có nhiều tiếng súng bắn theo. Chúng tôi ra đi như có phép mầu của bà tiên phù hộ.

Rồi mấy chục năm qua đi như gió lốc!

Thời gian đi vùn vụt mà mình không có cách nào nắm bắt. Kyle và mẹ tôi vẫn làm chung sở. Ông không có vẻ gì là đáng ghét, nhưng ông không thể đến gần chúng tôi như những đồng hương Việt Nam. Bây giờ anh em tôi đã lớn. Mẹ tôi vào tuổi 63, 64 gì đó. Vì bà đang xin về hưu. Cha tôi già nua, nay ông được 75, 76 tuổi. Ông vẫn đi lại khó khăn, nhưng ý nghĩ còn khá minh mẫn tuy có một đôi khi lẩn thẩn. Nhưng ông không quên nhắc chừng mẹ tôi là hãy nghiêm chỉnh thi hành những điều khoản bất thành văn mà bà đã cam kết trong “hiệp định di tản“ ngày nào… với người thi ơn cho chúng tôi.

Vì lẽ đó, mùa xuân này, mẹ tôi đi lấy chồng. Tôi biết nói gì nữa đây, hỡi trời?

Tôi không trách ai cả, kể cả trách cha trách mẹ. Lòng tôi rưng rưng như tuyết rơi ngoài trời, hoa tuyết… hoa tuyết đọng nước, những giọt nước đọng đầy trên cửa kính… lăn dài xuống… xuống mãi.

Chúc Thanh

Friday, May 24, 2019

Chuyện Mẹ Và Con: Mom and Me, Inc.

Chúc Thanh

Chú tôi gầy cao hay cười!
Cô tôi thấp bé hay nói! 

Cô cao khoảng 1m50 cân nặng 37 hay 38 ký là nhiều. Cô bé vậy nên cả nhà hay gọi cô Tý. Đó là cô út tôi. 

Bà tôi mất sớm, khoảng dưới 50 tuổi. Ông nội tôi một mình mồ côi nuôi ba tôi, ba cô kế tiếp và cô út tôi. 

Tháng 6 tháng 7 năm 1945, sau kỳ chết đói thảm thiết, lúa chín vàng ối cánh đồng thiếu người gặt, rồi chim tu hú kêu vang vang gọi nhau ngoài ngõ thì mẹ tôi ngã bệnh thương hàn và đi luôn. Ông nội tôi phải nuôi thêm tôi, đứa cháu mồ côi mẹ sớm. Vì lẽ đó cô út tôi và tôi sống bên nhau rất lâu và rất yêu thương nhau. 

Cô út trong trong khai sanh tên là Sướng, cô bảo tao chả sướng tí nào, nên bỏ dấu sắc đi, cô bảo cứ gọi cô là Sương. Nói chung Sương hay Sướng đều có thể rất đúng với cô. Trước năm 1975 cô Sướng vì có nhà cho Mỹ thuê, cho thuê một tầng ở một tầng, cô lúc đó chỉ ở nhà nuôi con, lo công việc nội trợ, 7 đứa con cho một bà mẹ loắt choắt thấy cũng không nhàn, nhưng cô vui với các con, đúng, trong những năm ấy cô Sướng… sung sướng! 

Rồi tiếp đến sau cái đại nạn 30/04/1975 hầu như tất cả mọi người đều bấn loạn, đã mất nước, mất tự do sống với cộng sản là mất tất cả. 

Mỹ "cút" không còn ai thuê nhà! Chồng đi tù cải tạo, cô tất bật ra ngoài buôn buôn bán bán, xoay sở nuôi bầy con, lúc này đúng là hai sương một nắng, không là sướng mà là phong sương. Cô tự an ủi, ai cũng như mình cùng khổ cùng buồn. 

Hồi nào tới giờ, không buôn bán, vậy mà lúc đói bụng đầu gối phải bò, cô tháo vát khá, không thua ai… Cô có cái hay là chấp nhận tất cả, không than, không buồn. Cô bảo làm gì có thì giờ mà buồn với vui… Sáng sớm 5 giờ thức dậy ra xa cảng miền tây lấy xe lam hay xe đò lên Tây Ninh mua gạo và thịt về Sài Gòn bán lại, gạo mua 5 đồng một ký về bán được 15 đồng, thịt heo 10 đồng một ký về bán lại 30 đồng/ 1 ký. Cô nói đi không vất vả vì có chị em bạn hàng cũng vui, ríu rít nói chuyện cà kê, nhưng ở những trạm kiểm soát phải dừng chân lâu ở dọc đường thật nản. Dần rồi cô không dám buôn thịt nữa, sợ hư không bán được. Công an trạm xét khám rất kỹ và hàng sẽ bị tịch thu nếu không biết hối lộ thỏa đáng… Cho nên, mỗi lần xe chạy là bạn hàng với nhau toàn kể chuyện vui và chế nhạo công an và xã hội chủ nghĩa. 

Thậm chí cô út nói đi buôn vui lắm, cô kể cô có một chị bạn hàng, trái với cô cô chỉ mua gạo, chị bạn chỉ mua thịt, mỗi lần chị đi được 10 ký, vì có mối bán liền, mau hơn bán gạo, lời khá hơn. 

Cô khôi hài lắm, cô kể lại có một lần kia, hàng đem về Sài Gòn đã trễ, mọi người bị công an quây lại, hai bên chưa mặc cả xong… Cô mỏi chân ngồi xuống vỉa hè đường. Chợt có một anh áo vàng ngồi bên cô, vừa hút thuốc xong là hỏi: 

Tại sao các chị cứ thích đi buôn lậu, đi phe phẩy vậy? 

Cô trả lời vắn tắt: để có đủ gạo ăn vì gạo tổ bán thiếu không đủ ăn, đói lắm! 

Hình như cô có nghe đối phương bảo là "ở ngoài bắc, cũng thiếu gạo mà người ta vui ve ăn độn… có sao đâu!" Cô làm như không nghe rõ, cô chỉ tay về phía chị bạn buôn thịt đứng gần đó, kéo áo anh công an: 

Này, nhà anh nên cho chị này về đi, nhìn gót chân chị ấy đỏ đỏ máu chẩy không… Tôi đoán chị ấy có tháng, đang đau bụng, cái mặt xanh mét là sắp té sỉu rồi… 

- Chị kia, chị được về trước, đi mau đi, đồ thứ đàn bà vô ý vô tứ. 

Buổi tối, cô nói đã khuya, có tiếng gõ cửa nhà, thì ra người bạn lúc chiều mang đến tặng cô một ký thịt. Cô cảm động gói 3 ký gạo tặng trao đổi với bạn, họ ôm nhau bồi hồi chung cảnh ngộ. 

Cô út tôi tự nhiên như đếm, cô hay kể lần ấy cô đi Ban Mê Thuột mua hàng, khi đến ngã ba Thành (Nha Trang) trời đã tối mù mịt, cả đoàn xe đò đỗ sát gần nhau, họ cùng nhau nghỉ đêm bên kia rừng, đợi sáng sớm mai cùng nhau đi tiếp. Mọi người túa ra bãi cỏ, chọn gốc cây nào êm êm, vài người một chỗ ngả lưng thưởng thức khác sạn ngàn sao. Nhưng cô thì cô chui vào xe đò, nằm ngủ trên băng ghế… Cô thích có cái mái che trên đầu, ban đêm ngủ cô phải luôn nằm sấp, đè lên để giữ kỹ bọc tiền bọc ở túi áo dưới bụng. 

Cũng đêm đó, cô nghe có tiếng lục lọi lào rào trong xe, cô thấy hình như có ai đó quờ quạng sờ vào chân cô. Cô thản nhiên co cẳng đạp mạnh và bạo dạn nói như ban ngày: “Này, đứa nào nhát tao đó. Tao không có sợ ma đâu, tao cũng không có máu buồn đâu mà hòng cù léch tao… lui ra ngay, đụng tới tao là tao cho một cái gậy này là vỡ đầu!” 

Rồi thôi, mọi sự im lặng trở lại, cô ngủ cho tới sáng mới hay mọi người kể khi đêm có trộm mò lên xe tính ăn cắp hàng. Cái hay là lúc trộm mò lên xe, cô không có cảm giác sợ. Cô hay nói đùa, “cứ bổ đầu tôi ra mà nhét cái sợ hãi hay cái lo buồn vào cũng không xong, rồi nó lại đi ra.” 

Nói vậy chứ có một lần cô phải sợ, sợ hãi đến khóc lóc và gần đứng tim. 

Đấy là lần ấy cô đi Ban Mê Thuột buôn café, café lời hơn, nhẹ tuy hơi lồm cồm lạo xạo. Cô và con trai lớn của cô, cu Phương, mỗi người ôm 10 ký. Vào bìa rừng về thành phố quốc lộ 1, cô ngồi lại trên xe chạy thẳng băng xuyên rừng chấp nhận đóng thuế, còn em Phương nó tình nguyện và xin cô để nó xuống xe, nó đi bộ, đi đường vòng bọc theo bìa rừng để tránh nộp tiền mãi lộ, nó hẹn co ở quán cơm bụi “gà rừng nướng.” 

Thế rồi cô đến quán cơm đã lâu, đã ăn cơm… và chờ mãi, 4 giờ, rồi 5 giờ, chiều xuống cô vẫn chưa thấy Phương trở về… Cô bắt đầu lo lắng, hối hận đã để con đi một mình. Rồi cô hoảng hốt, òa khóc, gào lên… Phương ơi! Bây giờ con ở phương nào? 

Ai khuyên can, cô vẫn khóc, vẫn đi vòng vòng từng gốc cây, vẫn gọi con: Phương ơi, bây giờ con ở phương nào? 

Mãi vậy, rồi may sao, có một bác đồng cảnh, bác đến đó chuyến sau cùng trong ngày, bác cùng mọi người vây lại an ủi cô: này chị Bình, đừng khóc nữa, đừng lo sợ thái quá thế, vì bao năm rồi vùng này chiến tranh khốc liệt, súng đạn nổ vang trời, cọp beo biến hết rồi… Cháu nó sắp về tới, nếu không chừng một chập nữa tụi mình se đi kiếm nó. 

Ô may quá, nó về kìa… 

Nó bảo nó về hơi trễ vì phải né tránh nhiều người lạ. Kể cả người thiểu số hay là người đi tìm thuốc. 

Mọi người và cô út mừng rỡ, hè nhau đi mua nếp, thịt, đậu và lá dong… Họ vào buôn thuê và cùng với người thượng gói và nấu bánh chưng bánh tét. Khi bánh chín, hôm sau, họ mang về Sài Gòn cùng con cái, cùng gia đình ăn tết là kịp chiều 30 tết, chiều cuối cùng của một năm. 

Đại để những chuyện như thế đều xẩy ra theo năm tháng. 

Rồi bất chợt đến biến cố chú theo các cha nhà thờ Vinh Sơn phản kháng cộng sản, rồi bị bắt, chú đi tù thêm 5 năm. Hai bàn chân nhỏ bé của cô lại đi bắc về nam thăm nuôi người cải tạo. 

Cô thành thạo kể tao vượt qua vượt lại Trường Sơn mấy lần. Trường sơn Đông Với Trường Sơn Tây… Chả có gì hay ho cả! Chỉ có gió và gió và gà rừng đủ loại chạy qua chạy lại. Rừng đại ngàn ư? Nếu không mang theo ít chai nước thì phải khát khô cổ trong rừng đại ngàn của chúng nó. 

Bực mình thì nói vậy chứ rừng núi cũng là của cả mọi người chúng ta, nhờ rừng đại ngàn mà cô có chỗ để hàng như những bịch trà Thái Nguyên, ra buôn từ bắc vào nam, mang quần jean từ trong nam ra Hà Nội. 

Cô về làng quê cũ ở Thái Bình xây và tu sửa các phần mộ gia tiên, ông bà. Đi vào làng, cô có ý tìm cái ao đình rộng lớn để định hướng rẽ vào ngõ cũ… 

Ngó mãi không thấy ao, chẳng thấy đình, cô bất chợt hỏi thăm một người trong thôn đi ra. Họ hỏi lại cô: “Nhà chị từ đâu đến đây? Nhà chị có điên khùng ngớ ngẩn không, tôi ở đây mấy chục năm, chả thấy có ao hồ nào cả!?" 

Cô tôi cứ cu ky đi đi về về, buôn buôn bán bán… Mãi mười năm sau, năm 1987 cô nghe tin chú đả đi xa, đi ra khỏi Việt Nam, cô phất tay qua trán nói, “Tao không tin tưởng lắm, vì người đến cho tin không gặp tao, tao đi vắng, con nít nói lại, hơi đâu mà nghe… nhảm!” 

Chợt đến một ngày, cô ở nhà và tự tay nhận được thư chú, cùng với giấy tờ xin bảo lãnh cho mẹ con cô xuất ngoại sang Mỹ. Đi Mỹ à? Cô phân vân, nếu đăng ký cô chỉ được phép dắt theo hai đứa con nhỏ. Năm đứa lớn phải ở lại. 

Nhưng rồi cô quyết định cũng đi, đi cho biết với người ta, cô nghĩ ra nước ngoài, cô mới xoay sở cho các con một cuộc sống tự do và tốt đẹp hơn, con người hơn, ở với cộng sản làm sao chúng phát triển thành những con người bình thường? 

Năm 1990 cô ra đi với hai hàng nước mắt rưng rưng. Cô ân cần dặn các con tạm thời như thế và dứt khoát bước đi. 

Sang My, về Little Saigon được 4 tuần lễ, nhờ nhà thờ và người bảo trợ lo xong giấy tờ và tạm yên chỗ ở. Khi hai đứa con đem theo vừa yên ổn vào trường học, là cô dự trù việc làm của cô. 

Cô loay hoay đi hỏi dò chỗ may, ráp quần áo. Vì ở Việt Nam một thời còn trẻ cô đã làm thợ may áo dài. Hồi đó cô khoe cô là học trò của bà Cát Long… Bà Cát Long là ai? Bà Cát Long là em bà Cát Tường, ngố ơi là ngố, chả biết gì cả… Cô cháu tôi vui và trò chuyện với nhau giản dị lắm. 

Cô út tôi may mắn, tấp vào Little Saigon, Westminster, như dạt vào quê hương mới chờ đợi sẵn. Dù không giỏi ngoại ngữ, chỉ học lõm bõm anh văn vài chữ mà cô vẫn lo giỏi giang việc kiếm tiền kiếm sống… 

Trong cái nhà housing nhỏ xíu mà cô khuân về 2 cái máy may kỹ nghệ chạy điện, cả ngày cô ráp, vắt sổ, nối các mảnh quần áo cắt sẵn, cô làm confection. 

Vì chạy luôn luôn một máy, sợ quá tải và quá nóng, cô cho máy 1 nghỉ, cô nhảy lên máy 2 cho chạy tiếp, cô làm việc suốt ngày, trừ lúc ăn cơm ngắn ngủi và thỉnh thoảng cô mở cái tủ lớn chứa đo ở phòng bên ra xem “Ông chồng ngủ hay đọc sách trong đó có bình an không!” Nha ồn, hơi ồn, ông ngủ, nghỉ và làm việc riêng của ông trong cái “cốc” là cái tủ lớn. 

Sự thật thì 2 cái máy may phản lực của cô có gây tiếng động khá, đến nỗi cô phải kê lên trên hai cái chăn len dầy. Sợ làm phiền chồng, con và cả lối xóm nữa. 

May quá, một ngày kia khi chú có nhà riêng trong khu gia binh thì cô an tâm và tự do chạy máy hơn nhiều. Buổi tối, duỗi cẳng chân tay cho đỡ mỏi xong, cô nhờ con chở đi giao hàng đã may và nhận hàng mới, nhân tiện ghé mang chút đồ ăn Việt Nam cho chồng.

Chú có việc của chú. Chú muốn ở một nơi yên tĩnh một mình. Ông đọc, viết, vẽ tranh, làm nhạc và ông có vài người bạn thân… Chú cũng nói với cô là chú bận suy nghĩ và chú cũng nhận ra như nhiều người khác là chẳng có cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nào mà thành công ở ngoài lãnh thổ cả. 

Nghe những ý nghĩ đó, cô chỉ cười, cô cho là viển vông, mơ mộng hão huyền. 

Tuy nhiên, cô chú tôi vẫn là hai người thân thiết, gắn bó, nhưng mỗi bên theo một công việc, một con đường riêng. Cô tôi bận rộn lắm, cô bảo đừng ai làm buồn lòng ai, không kỳ đà cản mũi nhau là O.K.

Cô cứ hăng hái lái "2 máy may phản lực" hàng ngày, sung sướng nhìn từng đống quần áo may xong xếp cao tụ trên mấy cái bàn trước mặt là cô khoan khoái, xoa tay, uống ực một hơi một ly nước đầy!

Suốt 2, 3 năm ròng, một ngày kia cô bảo : hồi đó ở Việt nam, cô theo gia đình, theo đạo ông bà, theo đạo phật, rồi vì duyên nợ vợ chồng, lấy chồng đạo công giáo, vậy thôi, thoạt đầu chẳng mấy tin tưởng có chúa lắm… Thì chúa cũng như phật, lãng đãng xa gần gần xa, mà đã gọi là Thượng Đế thi là chúa hay là phật là toàn năng… 

Hồi mới lấy chồng, theo gia đình chồng đi lễ chủ nhật là làm cho có hình thức. Cô vào giáo đường rồi qua cửa hẹp về nhà. Nhưng sau bao nhiêu năm nay vật lộn với cuộc đời, bây giờ chẳng cần ai giảng giáo lý, chẳng ai thúc dục, cô cũng phó mặc mọi việc cho chúa… Mọi việc chúa định cả, kể cả việc cô sang nước Mỹ này và đem được cả đàn con đi theo nhờ chúa đặt để cả.

Không, cô không quên phật tổ dậy con người cách sống chân như với nghiệp quả, có vay có trả, cô không quên hình tượng Phật Quan Âm như bà mẹ hiền cứu độ khi cô mồ côi mẹ sớm… Cô nhắc lại đấng toàn năng chỉ mặc áo khác nhau, đi hai lối khác nhau chút đỉnh, lúc có thể là người này lúc có thể là vị kia, họ là Bồ Tát cả đấy, nhưng mà mọi việc giờ này cô đều phó thác cho chúa!

Tôi đoán thầm cô đã gặp chúa trong một giấc mơ lành hay đã thầm lặng xin xỏ một điều gì đó với đức mẹ và được toại nguyện. Có thêm đức tin càng sống vững, có sao đâu. Chúa bận rộn nhiều việc, chúa đâu thể nào làm hết mọi việc cho mọi người?

Nhưng mà kệ, cô cứ phó mặc cho người, người ở trong đầu mình, người sẽ chỉ vẽ xui khiến mình cách làm việc này ra sao, việc kia thế nào…

Cô cứ lý luận thế và cứ cắm cúi ráp nối may quần áo ăn công. Sau vài bốn năm miệt mài gia công, có một ngày đó cô thoáng nhìn thấy một tập quảng cáo bán áo quần trẻ em vào dịp Noel 1985-1986. Cô nhìn mãi những đứa con nít Mỹ và những bộ áo quần chúng mặc vì thấy xinh đẹp và ngộ nghĩnh quá!

Chúng thật giống như thiên thần. Cô cầm theo về nhà coi đi coi lại… Rồi nhét xuống dưới gối. Trong một đêm ngủ say và ngủ mê, cô mơ thấy mình có một hãng may áo quần con nít đủ màu đủ kiểu rất lộng lẫy. 

Tỉnh dậy, cô thích thú và khoan khoái bàn bạc với Thanh, con gái cô: "Chúng ta phải mở một hãng may thôi. Má muốn tự mình làm với ý kiến của mình. Má không muốn đi làm thuê nữa!"

Em đang còn đi học, nhưng em đồng ý ngay:

- Đúng, mẹ ơi, nhưng mình chỉ may quần áo của em bé thôi. Chỉ có con nít thôi. Vì bố mẹ hay hà tiện không mua cho người lớn, nhưng luôn luôn họ hào phóng mua sắm cho con cái!

- Đúng thế, Thanh ơi, mẹ thích đồ của trẻ con lắm, rất dễ thương.

- Mẹ này, mình sẽ mang về Việt Nam làm tổ hợp may cho được nhiều, chứ một mình mẹ may thì ít quá, có bao nhiêu mà bán cho ai. Con sẽ vẽ mẫu, kèm theo thêu, mạng, móc… Rất nhiều kiểu.

- Để xem, mình tính sao cho vốn, nhân công, chuyển vận giá thành 4 đôla và sẽ làm giá bán là 7,5 hay 8 đô hay hơn chút đỉnh tùy ý họ…

Nói là làm, hai mẹ con cô chỉ dựng nghiệp với vốn vỏn vẹn 5000 đô. Cô chỉ có thế thôi… Cô bàn với hai cô con gái lớn còn ở Việt Nam đi xem mẫu mã vải, kiếm người may, chỉ và máy may… Khởi đầu là thành lập một khung may gia đình với 4 hay 5 người may.

Rồi cũng có trục trặc về kiểu và mẫu, cô và Thanh phải đích thân về Việt Nam vài ba lần hướng dẫn cho cả khâu cắt và khâu ráp, khâu trang trí sao cho hợp với sách mẫu và chỉ dẫn của các bản in ngoại quốc mà cô đã góp nhặt sưu tầm.

Để có thể bán ở Mỹ cô phải ở lại Việt Nam ít tuần lễ chỉ dẫn tường tận chi tiết cho thợ cách may áo ngoài, áo đầm, áo trong sous-pull bé trai, sous-pull bé gái các độ tuổi.

Khi hàng may xong, khâu Việt Nam thuê đóng thùng gửi sang Mỹ, cô và con gái mở các containers, phải xếp bóc rỡ hàng, xếp và ủi, gấp lồng đầy từng cartons theo số tuổi và số thứ tự, những lần đầu, cô làm đến nỗi hai bàn tay đen sẫm như lọ nghẹ…

Kế tiếp mang đi làm mẫu, chào mời, tiếp cận thị trường, quảng cáo và quảng bá nhiều nơi, Santa Ana, Garden Grove, Ventura sang tới Sea Side, Monteray, Los Gatos… Vốn anh ngữ ít oi cô làm việc xếp đặt ở nhà, nhưng Thanh, con gái tình nguyện và phải bỏ học ngang, em mua hình tượng, mặc áo và chụp ảnh cho các mẫu rồi gửi đi chào mời khắp các cửa hàng, các chợ xa gần.

Mới đầu, đầy khó khăn và có lúc bị từ chối luôn luôn, nhưng sau bao ngày cố gắng, bắt đầu có khách mua hàng và đặt hàng kha khá, lịch làm việc, sản xuất, gửi hàng và thâu tiền tạm ổn, cô xin mở một xí nghiệp gia đình bán áo quần, tên gọi Mom &Me inc

Whole sale children apparel
Specialized in classic, monogrammed
And fine hand smocked clothes
At affordable pricing.

Cô út nói lung tung, vốn liếng tiếng anh tiếng mỹ tôi học từ năm nảo năm nào ghi cố gắng vỏn vẹn được thế là hết. 

Cô nói những năm đầu rất khó bán hàng, bị trả lại và bị mất tiền nữa. Khâu đòi tiền chậm chạp nhất.

Từ năm thứ ba trở đi, hàng chạy khá lần, số bán lên hàng chục rồi hàng trăm thùng. Cô vững tâm khai thuế nộp thuế với nhà nước. Cũng nhờ cái công ty con ấy mà cô mở hồ sơ xin bảo lãnh cho các con và các cháu từ Việt Nam sang Mỹ xum họp với cô chú được kết quả mau lẹ không ngờ.

Bây giờ toàn gia đình cô, con, cháu, dâu, rể gần 30 người, cả nhà xúm sít làm và bán quần áo… Họ vẫn may ở Việt Nam nhưng ở nhà cô, ở Westminster city, việc giao tiếp thị trường mở rộng hơn, điện thoại reo lui tới và các em lái xe gần như suốt ngày nơi này nơi kia mua mua bán bán.

Lâu lâu cô lại kể thêm, khi chúa thương thì cái gì cũng mau mắn, như hôm cô đi thi vào quốc tịch Mỹ, cô học yếu và nghe tiếng anh không thông lắm, cô sợ, sợ thi rớt, vậy mà đậu, may, khi vào gặp người sát hạch, là một ông mỹ trẻ, gầy, cao, có vẽ hiền và vui. Tự nhiên cô cảm động, cô lúng túng… Sao ổng giống chú quá, giống là giống chú ngày xửa ngày xưa mới gặp nhau ở độ tuổi đôi mươi kìa!

Cô mắc cở và hơi lúng túng. Qua một vài câu hỏi về địa lý, dân số, chính thể nước Mỹ cô thuộc nằm lòng và đi qua khá tốt, tiếp đến người hỏi hỏi cô có mấy người con?

Cô từ từ run run xòe 2 bàn tay ra, đếm từ từ từng ngón một để trả lời rõ ràng:

One, two, three, four, five, six, seven! ông Mỹ gầy có vẻ hài lòng nhìn cách cô đếm con:

"Tôi chúc mừng bà, bà thi đậu. Bà nhỏ bé thế và phải mang cả hai bàn tay ra đếm con…" Cả phòng thi ai cũng vui mừng cho cô.

Năm nay cô cũng lớn tuổi rồi, mà cô vẫn năng động trong mọi công việc của công ty. Cô nói bây giờ cô phải ổn định việc may mặc như khi xưa ông bà làm mùa màng nông vụ ở Việt Nam. Mỗi năm cô tổ chức làm hai đợt: 

- Đợt mùa xuân hè mà cô gọi là ‘vụ chiêm’: Gồm các màu, trắng, xanh, hồng, vải mỏng, nhẹ, kiểu fantaisie tùy năm, tùy tuổi.

- Đợt mùa thu mùa đông, cô gọi là ‘vụ mùa’: Với các màu vàng, nâu, đỏ, vải dầy, mẫu mã vẽ lại, luôn đổi mới theo ý thích thị trường cập nhật. Cô chịu khó lang thang lên Oregon xem các hàng hiệu áo quần nổi tiếng ở Pháp. 

Tuy đã qua 76 tuổi, mà khi hàng về, thấy mẫu áo quần mới được may xong, là cô gỡ ra, mặc lên người mẫu, rồi mở đèn, điều chỉnh ánh sáng, chụp hình, in mẫu và gửi đi chào mời ở các tiểu bang khác.

Tôi phục cô út tôi lắm. Cô không được học hành. Kiến thức trường lớp bao nhiêu, chỉ trong trường đời loay hoay kiếm sống, chỉ với ý chí, lòng tận tụy và yêu nghề mà cô thành công. 

Cô nói cô rất thích làm việc, làm việc mới vui!

Cũng trong lúc làm việc, cô nói cô luôn tự hỏi là không biết đứa bé nào sẽ mặc cái áo, cái quần, cái nón này? Và nghĩ thêm là không biết những đứa bé nghèo khổ, thiếu áo quần, thì mùa đông chúng sẽ khổ sở rét lạnh như thế nào? 

“Chắc sẽ phải có một kế hoạch giúp con nít nghèo khổ hữu hiệu, lâu dài!” Cô nói.

Cô vẫn nhắc tới Chúa, nhưng em Thanh, con gái út của cô, có lần nó đã nghĩ tới một ý nghĩa khác hơn. Nó bảo với mọi người trong một bữa ăn là: Vì không có Chúa ở mỗi lúc cần và ở mọi nơi đồng thời được, nên Chúa cho mỗi nhà có một người mẹ! Một mom!

Mong ơn trên phù hộ cho cô luôn an lành, sức khỏe khang kiện bên cạnh "Mom and Me" của cô.

Mùa xuân 2019
Chúc Thanh 

Blog Archive