Showing posts with label Nguyễn Thị Mão. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Thị Mão. Show all posts

Wednesday, December 21, 2016

Chuyện Tình & Đôi Mắt Người Lính Mỹ


Nguyễn Thị Mão

21

Khi tôi tặng cuốn sách Mourning Headband for Hue, bản anh ngữ Olgar Dror dịch từ sách “Giải Khăn Sô Cho Huế" của nhà văn Nhã Ca, cho Rob và Phương, vợ chồng người bạn tôi, Rob thật thích cuốn sách vì nó nhắc nhở ông những ngày tháng dự trận chiến tại Huế Tết Mậu Thân 1968. Sau khi đọc cuốn sách, Rob nói là tác giả đã viết thật đầy đủ và trung thực về những chết chóc đau thương đã xảy ra cho Huế.

Ba tháng sau khi tôi lên thăm vợ chồng Rob, lần này Rob có kể tôi nghe câu chuyện tình sau chiến tranh giữa ông và Phương.

Rob gia nhập Kỵ binh Mỹ năm 1967, đơn vị 1st Cavalry Division được điều sang Việt nam và đóng tại tỉnh Bình Định, Việt Nam. Sư Đoàn 1st Không Kỵ là một sư đoàn thiện chiến của quân lực Mỹ.

Tết Mậu Thân 1968, khi cộng sản Bắc Việt mở chiến dịch tổng tấn công tết trên toàn lãnh thổ Nam Việt Nam, thành phố Huế từng bị công sản kiểm soát và giết hại hàng ngàn người dân... Tiểu đoàn 1st Kỵ binh của Rob đã được điều động từ Bình Định đến Huế để phối hợp với đơn vị U.S Marines để hỗ trợ chiến đấu đẩy lui quân CS khỏi Huế. Sau trận chiến tại Huế tiểu đoàn Không Kỵ mà Rob phụ vụ được tái trí và di chuyển về Quân Đoàn I. Rob đóng quân tại đây và được chuyển về Mỹ năm 1970.

Về đến Mỹ Rob phục vụ trong quân đội đến năm 1975 thì giải ngũ và lập gia đình, sống tại thành phố Chico, tiểu bang California.

Khi miền Nam mất vào tay CS, năm 1975, Rob cũng như những người lính cựu chiến binh Mỹ đã từng chiến đấu tại Việt Nam không bao giờ nghĩ có thể trở lại mảnh đất xa xôi mà họ đã một thời chiến đấu và sống sót trở về. Nhưng rồi nhiều cựu chiến binh như họ đã trở lại Việt Nam thăm lại chiến trường xưa. Trong số này có Rob, người cựu chiến binh thuộc Sư Đoàn 1st Không Kỵ của Hoa Kỳ. đã từng tham chiến tại Việt Nam và đã tham gia trận Huế 1968. Rob trở lại Việt Nam và đã gặp Phương, một thiếu nữ Việt Nam.

Phương lớn lên sau khi Saigon đổi chủ. Cuộc sống của Phương và gia đình gồm bố mẹ và các chị em Phương rơi vào tình cảnh khó khăn như bao gia đình Việtnam khác, đối mặt với bữa ăn hàng ngày, lo sợ bị lùa đi kinh tế mới... và bố Phương là một cựu Quân Nhân của QLVNCH, cùng làm việc với Rob từ 1967 khi Rob còn là 1 thanh niên tuổi hai mươi. Khi Rob về lại Mỹ sau khi phụ vụ tại Việt Nam, họ giữ liên lạc với nhau. Đến năm 1975 Bob mất liên lạc, tưởng như vô vọng. Hai mươi năm sau, năm 1995, bang giao Việt Mỹ được chính thức tái lập. Rob cố gắng liên lạc và tìm lại được địa chỉ gia đình bố Phương. Năm 2001 Rob về lại Việt Nam. Lúc này chàng Rob đã là một người đàn ông Mỹ 55 tuổi, vừa mất tất cả vì cuộc ly dị với người vợ Mỹ.

Lòng buồn chán vì hạnh phúc không trọn vẹn, tiền bạc, nhà cửa không còn. Chàng Rob quyết định làm một chuyến trở lại Việtnam, dự định sẽ đến thăm nơi Rob đã phục vụ trước kia, thăm thung lũng An Lão, tỉnh Bình Định, thăm lại thành phố Huế, nơi đã xảy ra trận chiền Mậu Thân 1968 rất khốc liệt mà Rob và đơn vị đã dự phần trong chiến trận.

Liên lạc với Travel Agent, lấy vé và đặt khách sạn tại Saigon. Ngày lên đường đã đến, Rob sắp xếp hành trang rất gọn nhẹ, đến phi trường San Francisco

Đáp chuyến bay Japan Airline nơi đến thành phố Sàigòn năm xưa. Sau hơn 18 tiếng cho hành trình bằng máy bay và chuyển tiếp tại phi trường Narita, Japan Rob có mặt tại phi trường Tân Sơn Nhất, bố Phương và Phuơng ra đón Rob. Bé Phương ngày xưa nay đã thành một thiếu nữ.

Còn nỗi vui mừng nào hơn khi Rob và người lính Việt Nam Cộng Hòa năm nào gặp lại nhau. Rob được bổ Phương đưa về khách sạn nơi Rob đã đặt phòng trước. Mọi việc sắp xếp đều được trôi chảy, Rob được bố Phuơng đưa đi Bình Định thăm lại vùng An Lão, đi ra Huế nhìn lại chốn xưa nơi đã từng xảy ra cuộc chiến khó quên, nơi mà trận chiến năm xưaq đã được đưa vào chương trình học của môn lịch sử tại các trường học tại Mỹ.

Những ngày lưu lại Saigon, với tính cách gia đình Rob được Phuơng làm hướng dẫn viên du lịch vì Phương rất giỏi tiếng Anh. Phương đã học hết bậc đại học, nên rất tiện cho Rob. Tình trong như đã mặt ngoài còn e. Rob rất thích Phuơng một cô gái hiền với nét đẹp t nhiên, nhưng Rob biết tuổi tác sẽ là hố ngăn cản cho Phương và Rob.

Ngày rồi cũng qua mau, sau một tháng tại Vietnam, Rob phải trở lại Mỹ, đối mặt với cuộc sống hàng ngày, lần này Rob lại mang thêm một nỗi nhớ thương, lúc nào cũng nghĩ đến Phương, người con gái Việt thông minh, chân chất lại là con của một người bạn năm nào mà Rob rất quý trọng. Sau nhiều đắn đo, Rob quyết định tỏ tình xem phản ứng của Phương và gia đình của Phương như thế nào. Rob gọi điện thoại vệ Vietnam, nói chuyện với bố Phương, và ngỏ ý muốn quay lại Saigon gặp Phuơng cùng gia đình để tỏ nỗi lòng của Rob, bố Phuơng lúc nào cũng chào đón Bob như một người thân nên ông nhận lời tiếp đón Bob trở lại Việt Nam.

Ngày 1 tháng 12 năm 2003, Bob có mặt tại Việt Nam đoàn tụ lại với gia đình của Phương, nỗi vui mừng lần này làm Rob cảm thấy ấm cúng hơn, vì sự tiếp đón của gia đình Phuơng. Sau mấy ngày đầu tạm yên với niềm vui gặp lại, Rob nghiêm túc thưa chuyện với bố của Phuơng về ý định muốn hỏi cưới Phương và mang Phuơng sang Mỹ sinh sống. Bố hỏi Phuơng nghĩ sao. Được hỏi như cởi tấm lòng Phuơng bằng lòng vì Phuơng cũng mến Rob qua lần Phuơng là hướng dẫn viên thăm lại Việt Nam của Rob trong lần trước.

Ngày đám cưới được chuẩn bị sau một tháng, Rob có mời đón me của Rob từ Hoa Kỳ sang Việt Nam dự đám cưới của Rob. Đúng như truyền thống Việt Nam, đám cưới có 2 bên gia đình chứng kiến và Phuơng chính thức là vợ của Rob. Rob thấy thật hạnh phúc tình cảm của Rob và Phuơng dành cho nhau. Rob ở lại Vietnam vui hạnh phúc mà tưởng rằng sẽ không bao giờ có trong đời Rob, một người vợ trẻ, ngoan, học giỏi.

Một năm sau bé Lynn chào đời, Rob thấy hạnh phúc hơn bao giờ. Phương luôn chăm sóc Rob và con gái chu đáo và dạy bé Lynn học nói tiếng Việt lưu loát.

Sau khi sống tại Việtnam hơn ba năm, Rob nói với Phuơng phải nghĩ đến tương lai của con gái, bé Lynn, hai vợ chồng bàn là sang Mỹ sống để bé có được một nền giáo dục tốt. Rob bắt đầu làm giấy tờ cho mẹ con Phương cùng Rob sang định cư tại Mỹ. Một năm chờ đợi cuối cùng gia đình của Rob cùng nhau lên máy bay và sang Mỹ năm 2008.

Khi định cư tại Cali, Rob muốn Phuơng trở lại trường học để tiếp tục học, còn bé Lynn đến trường mẫu giáo, Rob lúc này sẽ là người cáng đáng những việc nhà để Phương có thì giờ học. Vì là cựu chiến binh nên Rob được hưởng những quyền lợi của một cựu chiến binh, và vợ con cũng không bị bỏ sót. Rob quyết định dọn về thành phố Sacramento là thủ phủ của tiểu bang California.

Sống với Phương và con gái bé Lynn, Rob thật hạnh phúc, cho đến đêm ngày 5/5/ 2015, bất thình linh cảm thấy khó thở, Phuơng tức tốc đưa Rob đến Sacramento VA Medical Center cấp cứu, nhưng không kịp nữa, Rob không bao giờ tỉnh lại.

Rob ra đi nhanh chóng, thật đau đớn cho Phương, nhưng Phương cần phải bình tĩnh để lo mọi chuyện vì Phuơng còn cô bé Lynn bên cạnh, bé có một tương lai đang chờ đón, Phương không thể để suy sụp tinh thần trong tình cảnh này.

Theo di chúc của Rob, thân thể của Rob được hiến tặng cho trường Đại Học Davis tại Sacramento để nơi đây có thể nghiên cứu, cũng như hiến tặng phần nào thân thể cho những bệnh nhân đang cần. Đúng lúc Rob vừa ra đi thì nơi này có một bệnh nhân bị hỏng mắt do một tai nạn, Bác sĩ thấy đôi mắt của Rob vẫn còn linh động chưa bị chết, nên họ quyết định mang đôi mắt Rob ghép sang cho bịnh nhân đó. Khoa học tại Mỹ thật thần kỳ, cuộc phẫu thuật ghép mắt thành công và đôi mắt của Rob đã là đôi mắt của một bệnh nhân trẻ. Phuơng tiếp nhận tin này là một niềm vui trong đau khổ nhưng dẫu sao Phuơng cảm thấy đôi mắt của Rob còn sống và rất hữu ích đã cứu cho 1 mạng người.

Phương có hỏi trung tâm Davis có thể cho Phượng gặp bệnh nhân đã nhận đôi mắt của Rob không? Thì họ nói là lúc này không thể được. Phuơng hy vọng trong tương lai sẽ nhìn Rob qua đôi mắt còn sống đó. Phần thân thế còn lại đã đuoc trung tâm nghiên cứu Y Khoa Davis giữ cho những lần thực tập của sinh viên. Sau ba tháng trung Tâm Y Khoa Davis có làm một buổi lễ truy điệu Rob, và họ đã hỏa thiêu phần thân thể của Rob như ước nguyện của Rob khi còn sống.

Viết đến đây, nhắc tôi về buổi gặp Rob khi tôi lên thăm gia đình Rob, chúng tôi cũng đi ra ngoài ăn trưa, cùng chuyện trò với nhau, Rob thường nhắc những ngày tháng chiến đấu ở Vietnam, có con gái Lynn ngồi cạnh bố, đùa giỡn hồn nhiên. Có lúc đang vui chuyện, Rob đố tôi chữ “D&D Team” có nghĩa gì? Tôi đoán mò là Do and Dump team, Rob cười, nhìn cô con gái mà nói là đó là “Daughter & Dad Team.” Hai bố con nhìn nhau thật vui. Rob đúng là người đàn ông của gia đình.

Khi Rob mất, be Lynn có viết hai đoạn ngắn về bố Rob sau đây:

The Last Day
The last day, I should've known the last day was today. The Morning I played and joked with him, the afternoon he helped me practice rollerskating. That night I woke up with a start, the next day he was no more, I should've known that May 5th, was the last day with my daddy.


Death Anniversary
Ah, May the Solemn Cherry Blossoms gently sway, while the sun peacefully sets over the Valley far away, and reminds all of us how we would have enjoyed this day maybe we would have played fun games instead of sitting around being lame. We probably would have went out to the park to play, or watch a happy football game comfortably together at home but for us this is a sad day for May 6th is when my daddy passed away.

Đó là 2 bức thư của bé Lynn mà tôi nhận được, khi bé biết là bé đã mất bố, một người bố luôn bên cạnh bé suốt 10 năm.

Thấm thoát đã hơn một năm kể từ ngày Rob mất tôi mới mở những dòng chữ bé viết để ôn lại những gì đã qua.

Nguyễn Thị Mão

Tuesday, May 31, 2016

Chuyện Phi Công Mỹ Vượt Trại Tù CS


Nguyễn Thị Mão

blank
Trung úy Dieter Dengler tại bệnh viện sau khi được giải cứu.

Trong cuộc chiến chống cộng sản tại Việt Nam trước đây, bên cạnh sự chiến đấu dũng cảm của quân đội Viêt Nam Cộng Hoà, không thể không nói đến sự chiến đấu của những quân đội đồng minh, và đặc biệt sự dũng cảm, can trường của những người lính Mỹ đến từ một quốc gia cách nửa vòng trái đất. Họ là những chàng trai bỏ lại sau lưng mọi niềm vui của tuổi thanh xuân, nhập ngũ và sang giúp bảo vệ miền Nam Việt Nam trước họa xâm lăng của cộng sản. Trên bức tường đá đen tại đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam ở Washington DC có ghi danh hơn 58,000 tử sĩ Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam.

Hơn 40 năm sau cuộc chiến, những cựu chiến binh từng chiến đấu chống cộng tại Việt Nam năm xưa nay đã vào tuổi xế chiều, nhiều người đã ra đi.

Câu chuyện sau đây kể về một phi công người Mỹ là bạn của chồng tôi. Câu chuyện trốn thoát trại tù cộng sản tại Lào của Dengler đã được viết thành sách "Escape from Laos". Thêm cuốn "Hero Found: The Greatest POW Escape from Vietnam War" kể về cuộc đời của Dengler viết bởi Bruce Henderson, người từng cùng phục vụ trong đội bay với Dengler. Câu chuyện cũng được làm thành phim "Rescue Dawn", do tài tử Christian Bale đóng vai Trung Úy Dengler..

Bài viết sơ lược này để tưởng nhớ Lieutenant Dieter Dengler, của United Stated Navy

*
blank
Phi công Dengler tại San Diego, tháng 12 năm 1996.

Dieter Dengler sinh năm 1938 là một di dân từ nước Đức, tới Mỹ với hoài bão sống trong tự do và có cơ hội thực hiện ước mơ bay bổng.

Ngay khi đủ 18 tuổi, chàng Dieter xin gia nhập không quân Mỹ và được tuyển dụng, nhập ngũ năm 1957.

Sau khi được đào tạo cơ bản tại căn cứ Lackland ở San Antonio, Texas, ông được giao nhiệm vụ là một kỹ thuật viên động cơ, sau đó, được chọn dự khoá đào tạo sĩ quan và trở thành một phi công.

Tại trạm không lực Hải Quân Corpus Christi, Texas, ông được đào tạo như 1 phi công trong Douglas AD Skyraider và gia nhập VA-145 trong khi mãn khóa tại Naval Air Station Alameda, Califonia.

Năm 1965, phi đội của Trung úy Dieter Dengler tham gia các tàu sân bay USS Ranger và chiến hạm này được điều động về bờ biển Việt Nam, ông được điều về và đóng tại trạm Dexie, ở Nam Việt Nam và sau đó chuyển về phía bắc tại trạm Yankee để mở những cuộc chống lại sự xâm lược của miền Bắc.

Trong cuộc hành quân phía bắc gần biên giơi Lào, nằm về phía tây của đèo Mụ Giạ, ngày 1 tháng 2 năm 1966, ông được điều tới một phi vụ do Hải Quân AD Skyraider từ VA-15 hoạt đông vận chuyển, ông có nhiệm vụ cùng 3 chiếc máy bay khác ngăn chặn đoàn xe tải quân trang của CS từ Bắc vào Nam. Hôm đó thời tiết không mấy tốt, nên tầm nhìn xa rất khó khăn do những vụ cháy dưới đất từ các mục tiêu, ông mất tầm nhìn với 3 chiếc máy bay khác, ông quyết định lượn chiếc Skyraider vào mục tiêu. Sau hơn 2 tiếng quần thảo trong vùng địch, máy bay ông bị trúng đạn và bốc cháy.

Một tiếng nổ lớn như sét đánh. Cánh phải của chiếc Skyraider rớt xuống. Máy bay lộn nhiều vòng trong bầu trời đầy lửa đạn. Dieter cố điều khiển máy bay vào một khoảng trống trên đất Lào. Khi còn khoảng hơn 100 mét cách mặt đất, ông bị đẩy ra khỏi máy bay, rớt xuống mặt đất, bất tỉnh trong vài phút nhưng ông kịp dậy và biến vào rừng,. Khi phi hành đoàn nhận ra máy bay của ông đã bị bắn hạ, họ tin tưởng rằng ông đã ẩn nấp trong rừng và chờ được cấp cứu.

Ngay khi vào rừng, ông đã nhanh chóng đập vỡ máy vô tuyến điện, và dấu hết các thiết bị tồn tại khác để tránh cho quân cộng sản hay quân Lào có thể tìm thấy. Nhưng chỉ một ngày sau khi máy bay bị bắn ha, ông đã bị quân Pathet lào bắt sống. Họ đã dẫn độ ông xuyên qua các khu rừng, bị trói ghô trên bốn cọc để ngăn chặn ông có thể trốn thoát khi đêm xuống. Nhưng tuy bị cột như thế ông không ngừng nghĩ cách trốn thoát, ông đã cố chạy trốn trên đường họ giải ông đi, và ông đã thoát, trên đường chạy trốn ông ngừng tại một con suối để uống nước và ông bị bắt lại. Lần này ông bị họ tra tấn, đánh đập. Ông đã bị họ treo ngược chân lên, cho mặt ông đụng vào ổ kiến cho đến khi ông ngất đi, và bị treo lơ lửng trong miệng giếng suốt đêm, ông biết ông có thể bị chết đuối nếu dây thừng bị đứt. Ông bị họ buộc vào một con trâu nước và kéo lê qua những làng mạc để làm vui cho quân lính Pathet lào. Quân Pathet Lào bắt ông phải ký vào tài liệu lên án Hoa Kỳ nhưng ông từ chối, lần này ông bị chúng tra tấn bằng roi vót thật nhỏ và sắc bén, những vết roi đã lằn sâu vào da thịt ông đến nưng mủ và đau đớn trầm trọng.

Một lần khác, họ buộc dây thừng quanh hai tay ông quặt ra sau, rồi cột vào một khúc gỗ và vặn dây thừng nhiều vòng cho đến khi cánh tay và thần kinh ông tê dại, tay ông sau đó không thể cử động trong 6 tháng.

Từng được đào tạo tại trung tâm SERE (Survival, Escape, Resistance, and Evasion) nơi ông đã thực tập thuần nhuyễn những kinh nghiệm vượt thoát và sống sót khio phải đối diện với sự đói khát, dù bị hành hạ, nhưng mỗi lần tỉnh lại là ông vẫn nghĩ ngay tới kế thoát thân.

Sau 3 tuần bị cầm tù và tra tấn do quân Pathet lào, họ giải ông cho quân cộng sản Việt Nam khi họ hành quân qua một ngôi làng.

Khi bị đưa đến trại tù gần làng Parkung, nơi đây ông đã gặp thêm 6 tù binh khác, trong số này có 2 người Mỹ: phi công Duane W. Martin và Eugene DeBruin, cùng 3 người Thái: Phisit Intharathat, Prasit Promsuwan, Prasit Thanee và một người Tàu, là Y.C. To.

Duane W. Martin là một phi công trực thăng đã bị bắn rơi trên vùng trời miền bắc năm trước đó, còn những người tù khác là những nhân viên làm cho hãng hàng không dân sự thuộc sở hữu của CIA.

Ông thấy họ trong tình trạng thật thê thảm, người bị thương tích đầy mình với những mảng thịt lở loét, người thì mất răng, người bị nhiễm trùng nướu răng đầy mủ, người dáng đi như bộ bộ xương biết đi. Nhóm tù nhân này đã ở đó hơn hai năm rưỡi.

Sau ngày đến trại tù, chẳng bao lâu tất cả những tù nhân bị di chuyển đến địa điểm khác cách đó hơn 10 cây số. Khi đến trại mới ông bắt đầu bàn tính chuyện trốn trại, ông và người phi công tên Martin bàn cãi là ai sẽ đi với họ.

Trong khi đó thực phẩm của trại tù hầu như cạn kiệt, ngay cả đôi lúc phải ăn thịt như rắn, thịt chuột... sự căng thẳng giữa những bọn coi tù thêm quyết liệt là làm sao giải quyết mấy người tù binh này. Tối đến họ xích các tù binh lại với nhau và bỏ mặc họ với lạnh lẽo và bịnh hoạn.

Sau vài tháng, một trong những tù nhân người Thái tình cờ nghe được bọn coi tù bàn với nhau hãy làm hiện trường như là mấy tù binh tìm cách trốn nên họ phải bắn cho chết, ngay cả họ cũng đói như tù nhân nữa, họ cũng muốn trở về nhà với gia đình họ. Tất cả mấy bạn tù bấy giờ đồng loạt định ngày để trốn.

Dengler đã lập kế hoạch khống chế cai tù, sau đó sẽ nới lỏng các dây thép gai chung quanh trại để tù nhân có thể chui qua dễ dàng, ông sắp đặt cho các bạn tù kế hoạch tước đoạt súng và khống chế các cai tù khi họ đang ăn trưa, trong khi ông sẽ giải thoát những bạn tù bị còng tay.

Ngày ước định ra tay đã đến. Đó là ngày 29 tháng 6 năm 1966. Trong lúc bọn cai tù đang ăn trưa, nhóm bạn tù giải thoát cho mấy bạn bị còng trước, Dengler và một bạn tù khống chế cai tù và đoạt lấy vũ khí của họ gồm súng trường M1, súng trường tự động Trung Cộng, một súng carbine Mỹ, và một khẩu tự động AK47. Ông dùng khẩu AK 47 này trong việc thoát khỏi trại tù binh. Ông Dengler ra ngoài trước, đến túp lều trại lấy thêm một khẩu M1 cho chính mình và trao khẩu súng Carbine Mỹ cho phi công Martin. Bọn cai tù thấy các tù nhân đã làm loạn và trốn thoát, họ vội chạy về phía ông Dengler và bắn AK 47 xối xả. 1 bạn tù, ông Phisit đã bắn chết tên cai tù khi tên này tiến đến ông. Hai cai tù khác bỏ chạy.

Thế là nhóm bảy tù nhân thoát khỏi trại tù, họ chia nhau thành 3 nhóm, ban đầu ông DeBruin được sắp xếp cho đi với ông Dengler và ông Martin nhưng DeBruin quyết định đi với Y. C. To, một tù nhân gốc Hoa. Họ dự định đến sườn núi gần nhất và chờ cứu hộ. Ông Dengler và Martin đi cùng nhau, quyết định sẽ phải đi xa hơn về hướng Thái Lan.

Trốn trại rất là nguy hiểm, nhưng Dengler thà chết trên con đường vượt thoát còn hơn là bị chết trong trại tù binh. Họ đi mãi, nghỉ ngơi trong khoảnh khắc rồi lại đi tiếp. "Cách nhanh nhất là tìm một dòng sông có thể chảy ra sông Cửu Long và từ đó sẽ đưa chúng ta an toàn sang Thái Lan." Trung úy Dengler nói với Martin, người bạn đã cùng ông vượt ngục.

Tới được một con sông, hai ông làm một chiếc bè để trôi cho nhanh theo dòng nước ghềnh chảy xiết, buổi tối họ buôc mình vào thân cây để không bị cuôn trôi bởi dòng nước chảy mạnh, đến sáng họ ẩn mình dưới những tàng cây dày, được bao phủ trong bùn lẩy. Họ nghĩ rằng đang theo dòng ra sông lớn Cửu Long, nhưng rồi khám phá ra là họ chỉ đi vòng lại chỗ hôm qua mới đi qua, may quá họ không bị phát giác. Hai ông dựng tạm lều dưới lùm cây rậm rạp, tìm thức ăn trong cái làng bỏ hoang gần đó, nhưng sự đói rét vẫn vật vã. Ý định dùng ngọn lửa để làm tín hiệu cho máy bay C-130 đến cứu. nhưng hai ông không còn sức Họ dùng thuốc đạn của khẩu súng Carbine mà ông Martin đã bỏ đi làm vật dẫn lửa để đốt tín hiệu. Đêm đó có một chiếc C-130 lượn quanh đó, hai ông đã vẫy ngọn lửa theo hình chử S và S để hy vong được cứu, nhưng vô vọng.

Trên đường đi trốn trong rừng, có lúc họ nhìn thấy một xóm nhỏ có dân quê ra vào. Ông Martin, sức khoẻ quá yếu vì đói và bịnh sốt rét, muốn đến đó để lấy trộm thức ăn. Dengler đã ngăn cản, và không cho ông Martin đến gần làng đó một mình. Có 1 thằng bé đang chơi với 1 con chó gần đó thấy họ rồi nó chạy vào làng hô hoán lên là "người Mỹ". Trong vài phút một vài người dân xuất hiện họ quỳ và cầu nguyện, nhưng 1 người đàn ông trong bọn vung dao lên và đánh vào chân Martin. Một nhát dao nữa chém đứt đầu của Martin.

Ông Dengler chạy nhanh về phía mấy người dân làng, họ bỏ chạy vào làng kêu cứu. Ông Dangler vội chạy đến chân của Martin và tháo chiếc giày (mà hai ông đã nhặt được trong rừng) rồi chạy hết sức nhanh vào rừng. Thoát chết.

Sau khi thoát chết, ông dự định trở lại ngôi làng bỏ hoang đó sẽ đốt cho tàn rụi đề làm ám hiệu cho đội phi hành đoàn C-130 biết mà đến cứu ông. Ông đã nổi lửa đốt, quả thật phi hành đoàn phát hiện đám cháy và bắn hoả châu lên, nhưng họ lại bay xa, vì không ai nghĩ là có người sống sót bên dưới, họ bay về căn cứ tại Thái Lan.

Sau 23 ngày trốn trong rừng, sáng ngày 20/7/1966, Eugene Peyton Deatrick một phi công lái máy bay lượn trên vòm trời gần dòng sông nơi ông Dengler trốn, ông thấy tín hiệu màu trắng vẫy vẫy hình chữ S&S. Khi cho máy bay quay lại, Eugene thấy một người đàn ông đang vẫy vẫy và quyết định cứu giúp bằng cách liên lạc với đội cấp cứu. Dù được khuyên là nên quên đi vì có thể đó là do VC giả dạng để gài bẫy, nhưng cả Eugene và viên phi công phụ vẫn kiên trì thuyết phục, yêu cầu trung tâm phối kiểm xem có phi công nào bị bắn rơi và mất tích không.

Cuối cùng ông Dengler được cứu lên chiếc máy bay cấp cứu. Sau khi lên được sàn của máy bay, họ kiểm tra người của ông không có vũ khí, ông bảo với họ là ông đã trốn khỏi nhà tù của cộng sản Lào trước đó 2 tháng, họ báo với trung tâm hành quân có một người đàn ông nói ông ta là 1 phi công của phi đoàn Douglas A-1H Skyraider đã bị bắn rơi và tên ông là Dieter Dengler.

Khi toán phi cơ cấp cứu hạ cánh xuống căn cứ Đà Nẵng, tên của ông được xác nhận là đúng.

Trong nhóm 7 người trốn trại, cùng với Dengler, còn thêm được 2 người sống sót là Eugene DeBruin, người Mỹ, và Phisit Intharathat, người Thái.

*
Trung úy Dieter Dengler được đưa về Hoa Kỳ để điều trị và phục hồi sức khoẻ. Sau này ông được thăng thưởng huy chương Navy Cross, Distinguished Flying Cross, Purple Heart, Air Medal. Ông được huấn luyện để trở thành phi công lái máy bay phản lực. Sau thời gian phục vụ, hài lòng với nghĩa vụ, ông chuyển sang làm phi công cho hãng hàng không dân sự Trans World Airlines. Năm 1977 ông có trở lại Lào, được đón tiếp long trọng và được đưa tới thăm lại nơi trại giam mà ông đã bắt đầu một cuộc trốn trại lịch sử trong đời ông.

Dieter Dengler mất ngày 7 tháng Hai năm 2001, lễ an táng được cử hành trọng thể tại nghĩa trang Quốc Gia Arlington National Cemetery tại Hoa Thịnh Đốn. Trong buổi tiễn đưa ông, 3 chiếc máy bay F-5 lượn ba vòng trên vòm trời nghĩa trang để tiễn người cựu phi công can trường lần cuối.

Nguyễn Thị Mão

Blog Archive