Showing posts with label Song Vũ. Show all posts
Showing posts with label Song Vũ. Show all posts

Thursday, February 27, 2025

Cuối đời nhìn lại


Old soldiers never die, they just fade away. Gen. Douglas MacArthur

Một nửa thế kỷ trôi qua sau ngày mất nước. Những cay đắng chua xót đau đớn một thời cũng phai nhạt dần. Thời gian qua đã là liều thuốc chữa những ưu phiền khổ đau một thời. Tôi nhớ lại những ngày đầu bước chân gia nhập quân ngũ. Ở lứa tuổi 20 ngoài suy nghĩ về nghĩa vụ công dân, tôi không có ý niệm sâu sắc gì về tình tự yêu nước thương nòi. Xách chiếc túi nhỏ trong đó có chứa hai bộ đồ lót, một ít vật dụng vệ sinh cá nhân hàng ngày và chục trái cam mẹ cho để ăn khi lên tàu lửa. Tôi đón taxi đến trại Lê Văn Duyệt để trình diện nhập ngũ. Hình ảnh mang theo cùng hành lý chỉ còn lại những giọt nước mắt thương con của Mẹ tôi. Khi tôi từ giã mẹ. Ở lứa tuổi 20, trải qua nhiều dông bão qua chuyến vượt tuyến đầu tiên vào năm 1957 thất bại, cả gia đình bị bắt giữ lại tại gần Hòn Ông Hổ Cửa Tùng rồi thời gian ở trại giam Trần Phú Hải Phòng là những trải nghiệm đầu tiên về sự khổ đau của cuộc sống mà tôi có. Trước đó chỉ là chuỗi ngày sống êm đầm bên mẹ cha cho dù phải chạy tản cư xê dịch tới nhiều nơi nhưng tôi vẫn hồn nhiên vui vẻ chẳng hề bận tâm lo nghĩ gì.

Hôm nay, ngày 10 tháng 11. 1960, tôi thực sự vào đời tạo dựng sự nghiệp cho chính mình. Trên chuyến xe lửa từ Sài Gòn đi Đàlat, ngồi chung cùng các bạn bè đồng trang lứa, lần đầu tiên gặp mặt nhau nên cũng chẳng biết tâm sự điều gì. Không khí tĩnh lặng trên toa tầu vừa nặng nề vừa đượm một chút u buồn của những chàng trai phần lớn lần đầu xa nhà khiến cho chúng tôi càng ít trao đổi tâm sự với nhau hơn.

Rồi những ngày học tập rèn luyện tại quân trường, chúng tôi có biết bao nhiêu kỷ niệm không thể quên. Từ cách xưng hô giữa các khóa đàn anh đàn em, những hành vi cử chỉ, tất cả đều mới lạ, quần áo trang phục, cách đi đứng chào hỏi…. tất cả đều đổi khác. Tám tuần lễ sơ khởi huấn nhục đã biến đổi chúng tôi thành một con người khác trước đó. Những tập tành quân sự hàng ngày khiến cho giấc ngủ là thời gian duy nhất chúng tôi có thể coi là nghỉ ngơi. Thời gian còn lại lúc nào cũng bận bịu không chuyện nọ thì chuyện kia, chẳng còn tâm trạng nào mà suy ngẫm lý giải về cuộc đời.

Cuối năm thứ hai, chúng tôi được chuyển qua trường mới. Một ngôi trường khang trang hiện đại, chỗ ăn ngủ sinh hoạt cũng sạch sẽ thoáng mát rộng rãi hơn. Khoảng thời gian đó có tới 4 khóa cùng hiện diện 15 -16, 17-18. Vị chỉ huy trưởng cũng được bàn giao từ Thiếu tướng Lê văn Kim cho Đại tá Trần Ngọc Huyến. Chương trình huấn luyện cũng được cập nhật thay đổi theo hướng trang bị cả tri thức văn hóa lẫn quân sự cho lớp sĩ quan tưong lai để đáp ứng nhu cầu của một đội quân quốc gia non trẻ trong tình hình mới. Chúng tôi bắt đầu được học tập chính trị về sự tha hóa của chủ nghĩa cộng sản và nguy cơ trước cuộc chiến tranh xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Những giờ Dẫn đạo chỉ huy do chính thầy Huyến giảng dậy là những bài học đầu tiên cho chúng tôi ý thức trách nhiệm và bổn phận của một công dân đối với tiền đồ dân tộc.

Khóa 15 ra trường đầu năm 1961 và cuối năm 1962 là khóa 16; trước đó ít ngày là khóa 19 nhập học. Tình hình quân sự trong nước ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn khi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do cộng sản Miền Bắc dàn dựng ra đời vào ngày 20 tháng 12. 1960. Nhu cầu chiến trường ngày càng đòi hỏi sĩ quan chỉ huy tham gia cuộc chiến. Khóa chúng tôi theo kế hoạch dự trù 4 năm nay có lệnh rút ngắn gần một nửa thời gian dự trù để làm lễ tốt nghiệp sớm hơn - thậm chí không có đủ thời gian 3 năm như hai khóa đàn anh trước đó. Ngày 30 tháng 3 1963 Lễ mãn khóa của chúng tôi được Tổng thống Ngô đình Diệm chủ tọa. Buổi chiều cùng ngày, Tổng Thống đã nói chuyện với khóa về hiện tình thời sự trong nước cùng nhiệm vụ của các tân sĩ quan trước tình thế . Đầu tháng 11 cùng năm, bản thân tôi cùng một số bạn đồng môn đã có mặt trong số các đơn vi quân đội tham gia làm cuộc đảo chánh chính vị Tổng thống đang ngồi nói chuyện với chúng tôi hôm ấy. Sự trớ trêu ấy mở màn cho những cuộc binh biến hỗn loạn sau này đã khiến cho Miền Nam bị cuốn hút vào cơn lốc xoáy nghiệt ngã của lịch sử không thể gượng dậy được nữa.

Tháng 4. 1963 tôi cùng 10 bạn cùng khóa trình diện BTL/SĐ 7 tại Mỹ Tho. Cuộc đời quân ngũ thực sự bắt đầu. Đơn vị tác chiến đầu tiên của tôi là đại đội 1 tiểu đoàn 3/11. Tiểu đoàn có 4 sĩ quan xuất thân từ VB là hai niên trưởng Ngô Gia Tiến cùng đại đội; Hoàng Lê Cường khóa 16 chung đại đội 2 với bạn cùng khóa 17 Nguyễn Tiến Mão. Tiểu đoàn 3/11 lúc đó là đơn vị hành quân lưu động trên toàn lãnh thổ thuộc khu chiến Tiền Giang nên đơn vị chúng tôi di chuyển hầu như liên tục. Mỹ Tho, Gò Công, Long An , Hậu Nghĩa, Vĩnh Long, Cần Thơ, Kiến Tường Kiến Phong… Những ngày lang thang lội nước trên những cánh đồng ngút ngàn dưới những cơn mưa trên chiến trường Đồng Tháp, người lính như thể bị bủa vây bốn bề là nước là những hình ảnh không thể xóa nhòa trong ký ức của tôi cho tới tận lúc ngồi viết lại những dòng chữ này.

Năm 1968 sau trận đánh Tết Mậu thân, tôi được đề cử đi học lớp Chỉ huy tham mưu trung cấp ở Đà Lạt. Tháng 9 ra trường, vị Chỉ huy trưởng trường muốn giữ tôi ở lại làm huấn luyện viên nhưng tôi từ chối. Có thể là do lời yêu cầu của vị Trung tá Trung đoàn trưởng 11 lúc đó mong tôi trở về lại đơn vị cũ giữ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/11 . Niên trưởng Nguyễn văn Tạo Khóa 16 bị tử thương trong một trận đánh nội công ngay tại căn cứ Đồng Tâm và là tôi là tiểu đoàn phó trước khi đi học. Cũng có thể là tình đồng đội ở một đơn vị đã có cùng tôi qua nhiều trận đánh oanh liệt trên chiến trường Đồng Tháp. Cũng có thể là những tình cảm huynh đệ đồng môn mà chúng tôi đối xử với nhau như tình ruột thịt khiến cho tôi muốn trở về; nhưng có điều chắc chắn không phải vì chức vụ tiểu đoàn trưởng bởi vì tôi cũng sẽ đảm nhiệm chức vụ này nếu tôi thuyên chuyển về SĐ 23 theo lệnh từ Bộ TTM. Đời quân ngũ cho tôi một kinh nghiệm, mười điều mình mong muốn thực hiện thì có tới chín điều không theo ý mình mong ước. Hơn 5 năm lăn lộn với SĐ 7, đi đủ 3 tiểu đoàn 1, 2 và 3 của Trung đoàn 11; đảm nhiệm chức vụ từ trung đội trưởng, đại đội trưởng rồi trinh sát tới tiểu đoàn phó, làm sao không quyến luyến.

Định mệnh lại thay đổi lối đi của cuộc đời tôi thêm một lần. Tôi được lệnh thuyên chuyển ra Sư Đoàn 23 BB ở Ban Mê Thuột vào tháng 9 1968. Những quen thuộc của chiến trường trên đồng bằng sông Cửu Long giờ đây thay đổi bằng những rừng núi chập chùng của dẫy Trường Sơn khiến tôi có một chút ưu tư, liệu rằng mình có thể thích nghi được với chiến trường mới này hay không? Những chiến hữu mới, đồng đội mới có còn những thân thiết chan hòa như ngày nào ở đơn vị cũ?

Tháng 10 tôi nhận bàn giao Tiẻu đoàn 2/44 từ Đại Úy Trần văn Anh một niên trưởng Khóa 8 VB. Các cuộc hành quân trong mật khu Lê Hồng Phong cùng các vùng núi non giữa tam biên Phan Thiết - Lâm Đồng - Đà lạt lâu dần rồi cũng trở nên quen. Có khác chăng là hình thức hành quân có chút khác biệt. Tiểu đoàn thường được chỉ định một vùng hành quân rộng rồi tùy thuộc vào tin tức tình báo, tiểu đoàn sẽ thiết lập một căn cứ hỏa lực, sau đó đổ bộ các đại đội xuống các mục tiêu lục soát, tìm và tiêu diệt địch. Thời gian sử dụng máy bay trực thăng đổ quân nhiều hơn cuốc bộ leo núi. Tiểu đoàn trưởng cũng có thể tự hoạch định kế hoạch hành quân theo chủ ý của mình. Kiểu cách hành quân có chút tương tự với các đơn vị Hoa Kỳ khác hẳn với cách hành quân cũ.

Cuối năm 1971 tôi được giao chức vụ Trung đoàn phó Trung đoàn 44 thay thế Trung tá Đặng Bất. Trung đoàn trưởng lúc đó là Trung tá Điều Ngọc Chánh khóa 8 VB. Nhận nhiệm vụ được 2 tuần, tôi dẫn chiến đoàn 44 A đi Pleiku trình diện BTL/QĐ 2 làm lực lượng tổng trừ bị cho Quân đoàn. Mặt trận Cao nguyên bắt đầu sôi động. Các đơn vị chính quy cộng sản miền Bắc đã vào thay thế cho các đơn vị miền Nam bị tổn thất nặng nề sau trận đánh tết Mậu thân 1968. Sư đoàn 308 Miền Bắc cùng các đơn vị trực thuộc, xe tăng thiết giáp hỏa tiễn rầm rập kéo vào Cao nguyên theo đường mòn Hồ Chí Minh cùng lúc với kế hoạch quân đội Mỹ rút ra khỏi VN theo kế hoạch Việt Nam Hóa chiến tranh của tổng thống Mỹ Nixon. Những bàn thảo bàn vuông bàn tròn ở Paris ngày càng làm cho tình hình chiến sự trên toàn 4 vùng chiến thuật thêm khó khăn. Cộng sản đổ thêm quân và tiếp liệu vào chiến trường vì họ tin rằng chỉ có chiến thắng mới có cơ hội họ đạt được mục đích mong muốn. Về phía chúng ta thì ngược lại, hoàn toàn bất lợi trước sự mệt mỏi và tổn thất qua hơn 5 năm tham chiến của người bạn đồng minh HK. Với kiểu vừa đánh vừa run lo ngại đụng đầu với Trung/ Nga khiến cho cuộc chiến không thể thắng ngày càng rõ nét. Kinh nghiệm ngày nào của chiến tranh Triều Tiên khi Tổng thống Truman không nghe lời đề nghị của tướng Mac Arthur tiêu diệt lực lượng quân đội Trung Quốc lúc đó đang tập trung tại vùng bắc sông Áp Lục trong khi tràn vào Bắc Hàn đáng để chúng ta suy ngẫm. Chiến tranh từ cổ chí kim đều coi giả trá là điều kiện cần, còn phải tàn bạo mới đủ để chiến thắng. Cộng sản đã chứng thực điều đó cho ngay đến lúc này một nửa thế kỷ sau, trong cuộc chiến Nga/ Ukraine. Putin đã chẳng do dự chút nào khi sử dụng mọi loại vũ khí tàn độc để tiêu diệt quân dân Ukraine, và luôn lớn tiếng sẽ sử dụng bom nguyên tử nếu cần. Nếu Putin không lo bụi phóng xạ theo chiều gió kéo vào làm tổn hai ngay chính nước Nga, ông ta đã làm ngay sau màn chiến tranh chớp nhoáng đánh chiếm, Kiev thất bại rồi. Nhân đạo lấy tiếng là quân tử để nhận lãnh thảm bại bị tiêu diệt sau đó chỉ xẩy ra ở nước Trung Hoa cổ. Còn dùng tàn bạo và giả trá mang đến những chiến thắng vang dội thì điển hình là đạo quân Mông Cổ thế kỷ 13.

Trận đánh Mùa Hè đỏ lửa tháng 4/1972 là trận đành chính quy hào hùng nhất tôi được tham dự trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Tháng 9 tôi bị thương lần thứ 3 trong đời lính chiến và sau khi nghỉ dưỡng thương một tháng, đầu năm 1973 tôi trở về giữ chức vụ trưởng phòng hành quân Sư Đoàn.

Tình hình ngày càng xấu đi. Các đơn vị chủ lực của Hoa Kỳ rút ra khỏi VN để lại không chỉ khoảng trống phòng thủ mà tệ hại hơn là những cảm giác bỏ rơi đồng đội khi đang chiến đấu. Quân nhu đạn dược cũng bị cắt giảm tới mức vô lý trong khi quân Bắc Việt ngày càng được bổ sung trang bị hiện đại hơn về vũ khí trang dụng, quân số. Ở vị trí Trưởng Phòng Hành Quân, qua các chuyến bay quan sát chiến trường, Tôi dần nhận ra sự thất bại tất yếu phải đến của cuộc chiến tàn khốc này. Những người lính VN đang chiến đấu trong tuyệt vọng. Những chính trị gia đầu não của chúng ta đã phó mặc đất nước cho giặc. Hòa đàm Ba Lê, hậu quả đưa đến một kết quả hòa bình nửa dơi nửa chuột, chiến không ra chiến hòa chẳng ra hòa. Chỉ có những ai từng đang cầm súng trong khoảng thời gian ấy mới thấu hiểu được tâm trạng của người lính VNCH lúc đó. Chúng ta đã thua ngay sau khi bị cưỡng ép đặt bút ký vào tờ hiệp định đầy cạm bẫy bất lợi này.

Từ cuối năm 1973 đến hết năm 1974, trong các chuyến bay trinh sát tìm vị trí thả các toán trinh sát phối hợp giữa phòng 2 và 3 SĐ, tôi đã chứng kiến những đoàn xe khổng lồ dài vài cây số nối đuôi nhau chạy dọc theo dẫy Trường Sơn khu tam biên trong lúc các đơn vị đồng minh lần lượt rút ra khỏi VN. Cái hiệp định Paris tồi tệ ấy là cuộn dây thiết chặt cổ họng người lính VNCH để cho kẻ thù hành hạ. Chẳng ai trong những người lính ở thời điểm đó còn có lòng tin về một chiến thắng hay hòa bình thật sự trong danh dự.

Cuộc chiến đã qua đi 50 năm nhưng những di họa của nó thì chắc vài thế hệ nữa mới mong xóa nhòa. Chiến tranh mang đến nỗi thống khổ vô biên không thể phai trong tâm trí những người từng tham chiến. Cuộc chiến tạo nên sự gắn kết tình đồng đội vào sinh ra tử xác thực, đồng thời cũng biểu lộ bộ mặt phản trắc trí trá của bạn và thù. Khi cuộc chiến qua đi tôi nhìn ra nhiều điều, trong chiến đấu bầu không khí hừng hực khói lửa chiến trường, giữa tên bay đạn réo, khi sinh mạng của mình có thể bị lấy đi bất cứ thời điểm nào lúc đó sẽ lộ diện cái mà chúng ta thường nói tới: Tình đồng đội, sự dũng cảm, tài chỉ huy. Tình cảm đồng đội vượt lên trên mọi tị hiềm ganh ghét, đố kỵ cay cú tranh giành điều mà trong cuộc sống hòa bình bầy ra nhan nhản trước mắt. Trường Võ Bị có truyền thống là tôn sư trọng đạo. Trong chiến tranh các sĩ quan đồng môn luôn gìn giũ nền nếp này. Suốt cuộc đời binh nghiệp của mình tôi chưa một lần đánh mất niềm tin đó. Các niên trưởng, đàn anh, các niên đệ khóa nhỏ mỗi lần gặp gỡ đều vui vẻ tay bắt mặt mừng. Dù tôi là cấp chỉ huy của họ hay được một đàn anh chỉ huy, tôi cũng đều nhận được ở đó sự thân thiết đùm bọc anh em. Cuộc chiến qua đi, những thử thách chiến trường không còn. Cuộc sống cơm áo gạo tiền đòi hỏi một kỹ năng khác hẳn những hy sinh mạng sống trước kia nên chi cái từng được trân trọng nâng niu “ chung mái trường Mẹ” trở nên lạc lõng bơ vơ. Những mưu mánh thủ đoạn chính trị được ẩn danh dưới nhiều hình thức miệt thị lẫn nhau để cố tranh đoạt một danh hiệu mà mình không còn thực tâm tôn kính gìn giữ. Tôi thầm nghĩ, chỉ cần 20 năm nữa thôi, những cựu SVSQ từng xuất thân Võ Bị có còn lại bao nhiêu đủ để ngồi chung một bàn tròn Tổng Hội? Điều chúng ta nên làm là xây dựng đội ngũ kế thừa từ con em cháu chắt của mình cho một đoàn thể VBQG mai sau qua những tấm gương của chúng ta đang làm hiện tại. Những ai đã từng sống sót qua bao thử thách của cuộc chiến đều hiểu rằng sở dĩ chúng ta hãnh diện về ngôi trường Mẹ chỉ bởi vì chúng ta coi đó là nơi đã tạo nên dáng vóc và khả năng chỉ huy lãnh đạo để cùng chung tay đánh giặc cộng sản, bảo vệ quê hương đất nước. Chúng ta từng tự hào vì là những sĩ quan tình nguyện gia nhập quân đội, được đào tạo bài bản về cả văn hóa lẫn quân sự nên đã làm nên bao chiến công hiển hách trên khắp các mặt trận trên bốn quân khu, vùng chiến thuật.

Lòng dũng cảm, khả năng chỉ huy trên chiến trường, sự hy sinh, xương máu của các đồng môn không chỉ làm nên danh dự của đội ngũ chúng ta mà còn làm rạng danh cho cả quân đội quốc gia non trẻ của chúng ta nữa. Chúng ta đã từng tự hào về những sĩ quan tốt nghiệp thủ khoa của nhiều khóa Võ Bị đã chọn cho mình những đơn vị chiến đấu để phục vụ thay vì họ có cơ hội để tìm những đơn vị yểm trợ nơi hậu phương; những cấp chỉ huy nhảy vào chảo lửa chiến trường, thực hiện những nhiệm vụ thập tử nhất sinh trong những trận đánh khốc liệt nội biên và ngoại biên đã nêu gương sáng cho các thế hệ đàn em, đâu có thời gian để suy nghĩ tranh giành hiềm khích đố kỵ lẫn nhau? Hoàn cảnh đổi thay, khi những người lính già từng trải chiến trường ngày nào, qua lao tù đầy đọa bởi kẻ thù khi buông súng giờ đây trên đất khách quê người ngậm ngùi nhìn một số đàn em dùng những thủ đoạn mà các chính trị gia cơ hội thường dùng để làm những điều mà một SVSQ/VB không nên làm. Trường VBQG là nơi đào tạo sĩ quan chỉ huy cho quân đội. Chiến trường là nơi biểu tỏ khả năng trình độ của một sĩ quan. Chiến công qua những trận đánh, tinh thần quả cảm và sự hy sinh anh dũng trên chiến trường khi giáp mặt kẻ thù, theo tôi nghĩ mới là điều đáng hãnh diện và tự hào của một sĩ quan quân đội chứ không phải là những phù phiếm hào nhoáng khác. Chẳng một sĩ quan đúng nghĩa nào lại tự cho mình là giỏi hơn thiên hạ vì những tiêu chí vớ vẩn nào đó ngoài những trải nghiệm đã được thử thách sinh tử trên chiến trường. Giá trị đích thực của một sĩ quan phải được đánh giá khách quan từ những người từng cùng chung trận chiến, hoặc từ đơn vị bạn chứ không phải từ những nhận xét chủ quan của người “tự đánh giá.”

Tháng 4 năm 1992 gia đình tôi di cư qua Hoa kỳ theo chương trình HO11. Khi bước chân lên phi cơ tôi mang tâm trạng nửa mừng vì chắc chắn bản thân gia đình con cái sẽ có một tương lai tươi sáng—một sự đổi đời-- nửa lo về những khó khăn chắc chắn sẽ gặp trong thời gian sắp tới; thêm một chút lưu luyến về quê hương đất nước với biết bao kỷ niệm vui buồn sướng khổ đã từng. Gia đình tôi ở lại Thái Lan 1 tuần để làm giấy tờ rồi sau đó lên phi cơ vào Mỹ. Bước chân xuống phi trường Los Angeles cả gia đình choáng ngợp về sự hiện đại tráng lệ của phi trường. Có điều kỳ lạ là ngay ngày hôm sau, một cuộc động đất lớn rung lắc bàn ghế chỗ chúng tôi tạm trú tại thành phố Santa Ana thuộc Orange county—lần đầu tiên trong đời tôi được biết động đất là gì. Cả ngày theo dõi cảnh đốt phá cướp bóc trên đường phố Los lại càng làm cho tâm trạng tôi rối bời những ý tưởng buồn chán. Cuộc sống thì ra ở đâu cũng có những bất hạnh và khổ đau do thiên nhiên mang đến. Tôi tự an ủi mình những tai ách ấy là không thể tránh được nhưng ít ra cũng không tệ hại bằng chính những tai ách do con người tạo nên cho nhau. Cuộc sống mới bắt đầu với những biến động như thế từ trong thâm tâm tôi đã nghĩ tôi cũng sẽ phải cố gắng nhiều hơn để hy vọng có thể tồn tại được trên mảnh đất tự do nhiều cơ hội này.

Tháng 5 gia đình dời đi lên vùng Bắc Cali - thành phố Campbell. Một thành phố nhỏ nằm lọt trong lòng một thành phố lớn hơn San Jose. Những ngày đi tìm việc mưu sinh, vào đúng thời điểm kinh tế suy trầm khiến cho công việc càng gay go khó kiếm hơn. Rồi mọi thứ cũng đi dần vào quỹ đạo ổn định đúng lúc tháng trợ cấp cuối cùng đáo hạn vào tháng 10 cùng năm. Tết năm 1992 là cái Tết đầu tiên tôi được xum vầy cùng cả gia đình kể từ khi bước chân vào lính. Suốt 12 năm từ khi nhập ngũ cho tới lúc ra trường, Tết đối với tôi là chuỗi ngày xa nhà, hoặc đóng tại các địa điểm quan yếu trên quốc lộ, hoặc túc trực 100% tại đơn vị sẵn sàng hành quân. Mười ba năm còn lại kể từ sau tháng 4/75 là những năm đón Tết trong các trại cải tạo hết Nam rồi Bắc. Một trong những cái Tết u buồn nhất là Tết Nguyên Đán 1982 tại trại Nam Hà. Đêm Giao thừa gió rét căm căm, cả căn phòng rộng chừng 100m vuông chứa hơn 50 chục người lặng lẽ đón Tết trong nỗi tuyệt vọng ê chề khi nghĩ về gia đình và tương lai. Những năm trước đó bản thân tôi không có những cảm súc kỳ lạ như vậy, không hiểu sao Tết năm ấy, không chỉ riêng tôi mà kể cả các bạn đồng cảnh ngộ cũng có chung một tâm trạng như thế. Có lẽ do áp lực quốc tế khiến cho cộng sản phải mang dần các tù cải tạo trở lại Miền Nam sau khi đã đưa toàn bộ tù cải tạo ra Bắc nhằm hủy diệt số tù nhân này theo kế hoạch của Lê Đức Tho không thành. Các bạn tù đã về Nam từ Tết trước còn lại chúng tôi chẳng biết bao giờ mới trở lại Miền Nam. Bản thân tôi nằm trong nhóm đầu tiên đi Bắc và đi chuyến chót về Nam. Khoảng tháng 5 1982 tôi được chuyển từ Nam Hà về trại A Z30A rồi tiếp tục ở lại đó cho đến Tết 1988 mới ra trại.

Tháng 4/ 1975 ập đến. Một hệ quả tất nhiên phải có của cuộc chiến bất cân sức này. Giờ đây tôi đã mất đi cảm xúc đau đớn của nửa thế kỷ trước. Tôi cũng chẳng muốn quy kết trách nhiệm cho ai và nhận ra, chính bản thân cũng có phần trách nhiệm. Có nhiều điều vượt ra khỏi sự hiểu biết của con người mà có lẽ chỉ cách nói vận nước phải thế là có thể chấp nhận được. Sự phân ly chia rẽ dân tộc có thể đã bắt đầu từ huyền sử Lạc Long Âu Cơ khi chia đôi bầy con nửa lên rừng nửa xuống biển. Rồi phân tranh đất nước Bắc Nam cũng đâu chỉ có một lần thời Pháp thuộc hoặc sau hiệp đình chiến Geneve 1954 ? Có khác chăng là cuộc thống nhất Nam Bắc lần đầu bắt nguồn từ Miền Nam với đạo quân của Quang Trung. Còn Bắc vào Nam trong năn 1975 thì ngược lại? Lịch sự dân tộc chúng ta là như thế. Lịch sử có quy luật của nó theo đúng quy trình Sinh Trụ Hoại Diệt không thể khác được. Hình thù địa lý đất nước có nút thắt giữa chừng rất hẹp nên luôn có mối đe dọa cắt ngang. Với hơn 3000 cây số bờ biển trong khi không có một lực lương hải quân đủ mạnh để bảo vệ luôn là miếng mồi ngon cho ngoại xâm. Chưa nói tới những nhà lãnh đạo khôn nhà dại chợ chỉ lo thu vén cho cá nhân dòng họ thay vì quyền lợi đất nước.

Nếu có chút suy ngẫm gì chăng có thể chỉ là tại sao dân tộc chúng ta không đủ minh mẫn để tìm ra một phương cách khác thống nhất đất nước trong hòa bình thịnh vượng như một nước Đức tùng làm? Trong sử sách chúng ta luôn tự hào về sự thông minh, chịu thương chịu khó, rừng vàng biển bạc mà trong thực tế thì trái ngược hẳn. Sau chiến tranh chúng ta mất cả biển lẫn rừng, mang tiếng là thống nhất nhưng nhân tâm chia rẽ hơn bao giờ hết. Bắc nam/ Trong nước ngoài nước, kẻ thắng / người bại…cuộc chiến kéo dài bất tận giữa những người cùng mang dòng máu Việt. Năm mươi năm chưa đủ dài để cho những người cộng sản hiểu ra rằng nguy cơ đang dần dần mất nước vào tay Trung cộng là rất lớn. Ông cha ta đã từng bị Bắc thuộc một ngàn năm còn lần này sẽ kéo dài bao lâu mới có cuộc khởi dậy của Ngô Quyền mười thế kỷ sau đó để dõng dạc tuyên bố chủ quyền độc lập dân tộc?

Năm mươi năm kể là khá dài đối với một kiếp sống con người, nhưng lại là quá ngắn kho so sánh với cuộc trường tồn của một dân tộc. Đất nước đã đổi thay từng ngày và luôn đổi thay không ngừng nghỉ. Con người cũng thế. Từng thế hệ luân phiên nhau có mặt trong cuộc đời này rồi lần lượt lìa xa cuộc sống để tiếp tục phiêu du ở một thế giới khác, một kiếp khác.

Những ngày gần đây chúng ta đã chứng kiến nhiều đổi thay đổi nghịch thường trong nước. Những vụ tranh ăn giựt ghế của nội bộ đảng cộng sản VN ngày càng trắng trợn hơn tàn khốc hơn. Sự phân hóa trong giới lãnh đạo chóp bu của chúng cũng ngày càng lộ rõ nét không thể che mắt thiên hạ như họ đã từng làm trước đây nữa. Những chuyển biến ấy có cho chúng ta một hy vọng gì không cho tương lai đất nước? Chắc chắn là có. Chỉ có điều, vì hình thể địa lý, sự lệ thuộc quá chặt với Trung cộng khiến cho cuộc thay đổi ấy chậm chạp lề mề, tình hình sẽ khá hơn khi mẫu quốc Trung cộng đột biến quay ngang. Bản thân TQ cũng đang trong cùng quẫn trở mình. Ngoại biên, Hoa Kỳ cũng trong thời gian đổi thay mãnh liệt. Với chủ trương Nước Mỹ trên hết, tổng thống Trump có khuynh hướng áp dụng học thuyết Nước Mỹ Trên Hết (MAGA). Điều này sẽ dẫn đến những đổi thay không ai biết được trong những ngày sắp tới. Chúng ta cũng không thể đoán định được tình hình thế giới sẽ chuyển biến ra sao trước chủ trương tránh can dự vào các cuộc tranh chấp thế giới của chính quyền Hoa Kỳ tương lai trước khuynh hướng bành trướng ngày càng tăng của các nước cộng sản còn sót lại đặc biệt là hai cường quốc Trung cộng và Nga.

Cuộc chiến dang dở giữa Nga và Ukraine cùng số phận của quốc đảo Đài Loan sẽ ra sao? Cũng chẳng ai biết được. Chỉ có điều tôi tin tưởng thế chiến thứ ba hy vọng sẽ không xẩy ra ít nhất trong thời gian này bởi vì cuộc chiến hủy diệt ấy là bản án cáo chung của nhân loại chứ không phải là một tai họa cho riêng một quốc gia tham chiến nào. Tham gia hay không đều chết vì các loại bom hạt nhân và bụi phóng xạ. Chắc hẳn cho dù những tên cầm đầu hung hăng cách mấy cũng phải nghĩ tới số phận của chính chúng cùng gia đình. Hoa kỳ sẽ chuyển mình là điều chắc chắn. Với một chính phủ bao gồm hầu hết các tỷ phú đô la cộng thêm mang sẵn ý tưởng “ Dọn sạch đầm lầy” ý muốn nói tới việc dọn dẹp những cơ chế cổ lổ sạn đá cũ đã từng là nền tảng của đất nước trong suốt gần 249 năm qua như việc bãi bỏ bộ Giáo dục cho một bà bộ trưởng chẳng có mấy kinh nghiệm về giao dục; trao cơ quan chăm sóc sức khỏe cho một người có tư tưởng chống vắc-xin kịch liệt, một cơ quan thuế vụ cho một thương gia đòi bãi bỏ Sở thuế; cơ quan FBI cho một người sẵn sàng dùng cơ quan này làm theo ý tổng thống để truy quét các kẻ mà tổng thống cho là nội thù; một cơ quan tình báo trung ương cho một nữ nghị sĩ Dân chủ từng đổi đảng và có khuynh hướng thân Nga….và bộ quốc phòng cho một thiếu tá vệ binh quốc gia thì chắc chắn phải có thay đổi mà chúng ta không cần phải tốn công dự đoán!. Sự thay đổi triệt để ấy như lời hứa hẹn của Tổng thống Trump “ Drain swamp and demolish deep states “ chắc chắn sẽ làm xáo trộn cả thiên hạ từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc. Một đặc điểm nổi bật trong nhiệm kỳ thứ 2 của Tổng thống Trump là sự tham gia rất đông đảo các đại gia kỹ nghệ thương mại và tài chánh trong chính phủ Trump. Với cung cách suy nghĩ đặt lợi nhuận cá nhân trên mọi thứ khác cho chúng ta có chút bận tâm. Liệu rồi đây một nước Mỹ đại diện cho tự do và nhân quyền, luôn đứng ra bảo vệ các quốc gia yếu kém, chống lại mọi chủ trương xâm lăng của các đế quốc cộng sản trên toàn thế giới có còn giữ được lý tưởng của mình? Chỉ có điều chắc chắn rằng những xáo trộn tương lai cũng sẽ là cơ may tạo nên một luồng sinh khi mới cho mọi quốc gia đang bị nhấn chìm trong ảo giác về một thế giới biệt lập không có sự tương liên nối kết với nhau. Sau cơn mưa trời sẽ sáng. Một chu kỳ mới lại bắt đầu và đó là điều chúng ta sẽ có cơ hội nhìn thấy trong tương lai gần thôi.

Năm 2025 là năm có nhiều điều đặc biệt. Năm này có tới 2 ngày lập xuân trong cùng năm Dương lịch 2025. Là năm kế tiếp của một loạt 8 năm liên tiếp không có ngày 30 Tết Âm lịch. Cho dù biết rằng lịch đại chỉ là sản phẩm của con người tạo ra. Nhưng nguồn gốc của lịch đại hoàn toàn dựa trên quan sát sự xoay vần ngày đêm, thời tiết, dưới tác động của mặt Trăng mặt Trời. Năm nay là năm con Rắn và vì có tới hai ngày Lập xuân nên cổ nhân còn cho nó cái tên Năm Rắn hai đầu. Điều kiện để có một năm có hai ngày lập xuân là năm đó phải là một năm nhuận để tháng Chạp kéo dài đủ để chứa thêm một ngày lập xuân. Năm 2025 có tháng 6 là tháng nhuận. Thường thì khoảng cách thời gian từ 9 tới 19 năm mới có một năm như thế. Năm gần nhất có 2 ngày lập xuân là năm 2015 ( vào hai ngày 16 tháng Giêng /4 tháng 2 2015 Dương lịch và 26 tháng Chạp âm lịch/ 4 tháng 2 2016 dương lịch ). Nếu có sự đáng nghiền ngẫm hơn có lẽ đó là năm Trump đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 1. Cách quãng đi 4 năm nhiệm kỳ của Biden, năm nay là nhiệm kỳ 2 của Trump. Năm Rắn 2 đầu 2025 lần này có là một điềm báo gì không? Tôi thực sự không biết.

Tôi tin vào sự bí nhiệm của Trời Đất, Lẽ huyền vi của Tạo Hóa. Có biết bao điều chúng ta không thể giải thích hoặc hiểu được trên đời. Những bất khả tri ấy là của ông Trời, Chúa Phật tạo ra hay một đấng thiêng liêng nào khác tùy thuộc vào đức tin của mỗi người nhưng chắc chắn phải có một đấng Sáng Tạo. Khi khoa học phát triển, đã có lúc con người tự huyễn hóa mình rằng bộ óc có thể giải thích được mọi hiện tượng. Nhưng giờ đây họ đã hiểu ra rằng có những giới hạn con người không thể vượt qua cho dù là siêu nhân đi nữa. Điều ấy làm cho cuộc sống thi vị hấp dẫn hơn nếu so với mọi thứ đều có thể cắt nghĩa rạch ròi biết trước.

Tết Nguyên Đán Ất Tỵ đã cận kề. Tổng thống Trump cũng vừa chính thức làm Lễ Đăng Quang. Một kỷ nguyên mới bắt đầu cho nước Mỹ và cho thế giới. Suy ngẫm từ chính bản thân mình, qua thời gian đã biến đổi như thế nào từng thời kỳ. Những thăng trầm khổ ải, những đau buồn, những hoan lạc, vinh nhục tôi đều đã nếm mùi. Giờ đây bước vào tuổi U90, tôi luôn cảm tạ Đất Trời đã cho tôi sống sót qua cuộc chiến đẫm máu ngày nào. Đọc trên báo chí hàng ngày khi nhìn thấy tên tuổi những người thân quen, đồng đội đồng môn, niên trưởng niên đệ trên các trang cáo phó lòng tôi có chút u buồn vì chia ly nhưng rồi nghĩ lại thân phận mình cũng sẽ có một lần như thế. Lẽ tử sinh là chuyện thường tình và bản thân đã chẳng biết bao lần vào sinh ra tử đó sao. Sống dài ngắn đâu có nghĩa gì bằng mình đã sống như thế nào. Sống như một công dân có trách nhiệm với đất nước, thủy chung với bạn hữu, gia đình vợ con đã đủ làm cho tôi hài lòng với cuộc đời mình. Lúc cuối đời, lâu lâu bắt gặp lại những chiến hữu từng sống chết trên chiến trường xưa, ngồi nhâm nhi bên ly trà, cà phê nhắc lại những câu chuyện cũ, những kỷ niệm xương máu cũ lại thấy lòng rộn ràng sức sống. Những buồn đau vì sự phân hóa chia rẽ không thể hàn gắn được giữa bạn hữu cùng chung lý tưởng nhưng khác cách suy nghĩ và hành động chẳng còn làm tôi thao thức mất ngủ vì tự thân đã nhận ra sự khác biệt là đương nhiên giữa con người với nhau. Nỗi nhớ quê hương nguồn cội có lẽ là niềm ưu tư duy nhất không phai mời trong lúc tuổi xế chiều. Lìa xa đất nước, sống phiêu bạt quê người cho dù cuộc sống tự do no ấm thoải mái nơi đây vẫn không xóa nhòa hình ảnh về một quê hương ngày nào nơi đó có ông bà tổ tiên của mình đã từng sinh sống. Cảnh quan, môi trường quen thuộc của thời niên thiếu, đồng lúa, lũy tre làng, những khu phố tiệm ăn của thành phố Cảng nơi tôi được sinh ra. Những ngôi trường, các thầy giáo hết lòng yêu thương truyền dậy kiến thức làm người….lũ bạn cùng phố đá bóng, đánh bi đánh đáo ….Tất cả những hình ảnh ấy đúc kết lại thành một quá khứ gắn chặt với ký ức để mang theo cả cuộc đời. Có đôi lúc tôi lúc thiển nghĩ, quê hương là nơi cho mình cơ hội làm người và sống với tư cách một con người theo nghĩa cao đẹp của nó. Quê hương hiểu theo định nghĩa đó để tự an ủi bản thân rằng quê hương không chỉ bó hẹp trong giới hạn địa lý trên bản đồ, nhất là khi thế giới đã đi vào kỷ nguyên trí thông minh nhân tạo và hệ thống liên lạc truyền thông đã trải khắp trên mọi nơi trên hành tinh này để rồi thanh thản chấp nhận nơi này cũng là quê hương.

Năm mươi năm nhìn lại cuộc đời, những điều đắc /thất, có được/ mất không, nhục vinh xướng khổ tôi đã nếm trải. Chút thời gian còn lại tôi tự nhủ đã đến lúc buông bỏ tất cả để ra đi trong nhẹ nhàng thư thái như bao bạn hữu xa gần đã ra đi. Ở lớp tuổi ngồi đợi trên sân ga chờ chuyến tầu lên đường trở về cõi hư không như những bạn đồng môn khác nếu có chăng còn chút ưu tư suy ngẫm về cuộc đời của mình, có lẽ chỉ là ao ước mọi bất hòa giữa các đồng môn Võ Bị sớm chấm dứt để hình ảnh đẹp đẽ của những chàng trai Võ Bị một thời chỉ mờ dần theo thời gian như hình ảnh những người lính già trong câu nói của tướng MacArthur “Old soldiers never die; they just fade away“.

Con người ai cũng chỉ sống có một lần. Hãy cố gắng sống sao cho khỏi phải ân hận vì đã sống hoài sống phí và đừng để hổ thẹn về dĩ vãng ti tiện hèn đớn của mình.

– Song Vũ

(Tháng Giệng 2025)



Saturday, December 22, 2018

Trời mưa nhớ Bạn

Song Vũ
(Để tưởng niệm các đồng đội đã nằm xuống trên quê hương.) 

 Một

Liên tiếp ba ngày nay mưa bão tới tấp đổ vào đây. Nơi tôi đang sinh sống là một thành phố nhỏ đã có từ rất lâu, có lẽ cả hơn trăm năm nay. Tôi đành phải bỏ 3 buổi sáng cuốc bộ thể dục. Thường thì mỗi ngày khi tôi thức dậy, làm vệ sinh cá nhân xong là tôi khoác chiếc áo lạnh và mở cửa bước ra khỏi nhà. Từ đường Sobrato, qua đường Budd rồi băng qua đại lộ San Tomas là tới công viên Morgan. Tới đó, tôi sẽ gặp hai người bạn già từ khu chung cư Rincon, dành riêng cho người cao niên lợi tức thấp, ra cùng đi. Cả ba sau đó đi một vòng tròn lớn, theo đường Rincon qua Winchester rồi trở về lại đường Budd. Thời gian tròn một tiếng. Thói quen này chúng tôi có từ cả chục năm nay. Hôm nào mưa gió hoặc cảm cúm không đi đưọc thì trong người thấy bứt rứt khó chịu.

Như hôm nay đây, qua khung cửa nhìn ra đường, những hạt mưa theo gió tạt rào rào lên mái, hơi nước phủ mờ khung kính, thỉnh thoảng một chiếc xe hơi chạy qua hắt nước tung lên hè. Mưa lớn quá, nước chảy vào hệ thống cống không kịp rút. Tivi thông báo có lụt ở vài nơi. Đã thật lâu, tôi mới lại thấy đưọc một cơn mưa lớn như thế này. Thả hồn trôi theo dòng thời gian và cùng với những hạt mưa kia, tôi trở về những hình ảnh quen thuộc cũ, từ lâu nằm ủ sâu trong tiềm thức.

Thói quen đi bộ thực ra chẳng phải do tôi thích làm mà đúng hơn là do lời khuyên của bác sĩ Phan khi phát hiện tôi bị bịnh thấp khớp và cao máu. Phan, trước ngày mất nước, là một bác sĩ của tiểu đoàn quân y ở vùng 4 chiến thuật. Sau 3 năm tù “cải tạo”, trở về nhà được hơn một năm thì anh cùng gia đình vượt biên sang Hoa kỳ. Tại đây, hai vợ chồng vừa đi làm vừa đi học lại và lấy đưọc bằng hành nghề của tiểu bang. Lúc tôi gặp Phan là năm 1993, khi đó tôi cũng qua đây định cư được gần một năm. Tuổi tác tôi nằm ngay đúng ranh giới của sự dở ông dở thằng. Bằng cấp chuyên môn ngoài nghề cầm súng là hai bàn tay trắng, một cơ thể đủ các loại bịnh do hậu quả của những năm tù đầy trong các trại tù từ Nam ra Bắc.

Năm 93 cũng là năm kinh tế Hoa kỳ trong giai đoạn suy trầm nên xin công việc làm thật khó. Từ việc assembler với lương tối thiểu $4.25/ giờ mà nạp đơn xong cũng phải chờ cả vài tuần mới có nơi gọi phỏng vấn. Nhìn đám người xếp hàng dài chờ đợi tới phiên mình mà chán ngán! Quả đúng như lời của một người bạn sang trước bảo “Lứa tuổi mình thì chỉ có đi hành nghề tự do là thích hợp thôi.” Đó là lý do tôi đi theo một anh bạn cùng đơn vị ngày trước để làm nghề cắt cỏ. Huỳnh qua trước tôi gần ba năm theo diện HO. Nhờ đứa con út còn vị thành niên nên hắn được chính phủ cho đi học nghề, hắn đã chọn lấy cái nghề ít cần chữ nghĩa này. Dĩ nhiên tôi chỉ là phụ tá, một tay lái phụ cho chiếc máy cắt cỏ và công việc chính là sử dụng chiếc máy thổi bụi và lá cây -chúng tôi gọi là cây chổi quyét- để vun rác thành đống và sau đó hốt vào bao đựng rác tống lên xe truck rồi đem đi đổ. Những ngày mới vào nghề khá vất vả, nhưng bù lại tối về nhà mệt nhừ tử, nằm ngay cán cuốc đánh một giấc cho tới sáng. Lương ăn chia theo thoả thuận theo số việc có trong ngày, vì thực ra khi còn chung đơn vị, chúng tôi coi nhau như anh em nên giờ đây cũng là dịp bầy tỏ tình nghĩa huynh đệ chi binh vậy thôi. Huỳnh người miền Nam, vùng Cái Vồn nên khi phát âm chữ r thành chữ g nghe cũng vui vui. 

Hai 
Năm đó là năm 1964. Tôi ra trường đã hơn một năm, là đại đội trưởng Đại Đội 2 Tiểu Đoàn 3/11. Cả tiểu đoàn đang tham dự một cuộc hành quân săn diệt địch. Khu vực hành quân nằm về hướng đông bắc chi khu Cai Lậy, trong vùng Hưng Thạnh Mỹ. Một khu vực chằng chịt kinh rạch. Đơn vị chúng tôi được trực thăng vận từ ngã ba Cái Bè, xuống vùng Kinh Cái Đôi, từ đó lục soát dọc theo Kinh Tổng Đốc Lộc về hướng đông, qua Kinh Một, Kinh Hai…

Cả tiểu đoàn dừng lại giữa cánh đồng ngâp nước mênh mông. Tháp Mười lúc này vào mùa mưa. Bốn bề nước trắng xóa chói cả mắt. Xa xa là những hàng cây so đũa chạy dọc theo các mương đào. Xa hơn nữa là những xóm nhà nằm cặp theo bờ kinh. Tất cả phủ mờ dưới cơn mưa buổi chiều. Hành quân vùng Đồng Tháp trong mùa này luôn đòi hỏi những đại đội trưởng đi đầu có khả năng đọc bản đồ giỏi, nếu không, khi đụng trận kêu hoả lực pháo yểm là mang họa. Lộc là đại đội trưởng kỳ cựu nhất trong tiểu đoàn và đặc biệt anh có khả năng chấm tọa độ số một, nên không lạ, mỗi khi hành quân vùng này, đại đội anh luôn tiên phong. Tiếng đại úy Cao tiểu đoàn trưởng gọi cho Lộc.
– Còn cách mục tiêu bao xa nữa Sàigòn?
– Chừng cây rưỡi nữa thôi, thẩm quyền
– Có thấy động tĩnh gì không?
– Trời mưa như trút thế này làm sao mà thấy? Thẩm quyền cho thằng Sao Mai đánh vài vòng xem sao, chứ tôi có cảm giác là lạ sao ấy. Sao Mai là danh hiệu truyền tin của máy bay quan sát.
– Sao Mai về rồi, nó bảo khi nào ngớt mưa mới lên đưọc.
– OK, thôi thẩm quyền cho tôi một trái khói điểu chỉnh ngay giữa mục tiêu xem sao trước khi vào. – OK, nói với thằng em đi chung làm đi. Thằng em đi chung đây chính là toán tiền sát viên pháo binh đi theo đại đội của Lộc.

Đoàn quân dừng giữa đồng, từ đây tới bìa Xóm Ông Bốc cũng còn cả cây số. Nhưng cứ lùi lũi tiến vào mục tiêu như kiểu này, nếu tụi nó nằm phục trong đó mà bắn ra thì chết chắc. Đại úy Cao, tiểu đoàn trưởng tự nhủ như thế và cho mời đại úy Hiền tiểu đoàn phó trở lại phía sau hội ý.

Đại úy Hiền trở về đại đội tôi rồi kêu Lộc qua cùng bàn bạc. Hiền hỏi chúng tôi,
– Hai chú có nhìn thấy cây liễu cao nằm ở phía tay phải kia không?
– Đó có lẽ là cái đình, đại úy ạ. Lộc nhanh miệng
– Sao chú mày biết?
– Kinh nghiệm bản thân của tôi mà đại úy. Đại úy nhìn xem trên bẩn đồ đây này. Chúng ta đang đứng ở đây, nhìn xéo qua hướng hai giờ là cây liễu đó, cũng chính là ký hiệu cái đình miếu gì đó trên bản đồ đây này.

Tôi gật đầu tán thành. Kinh nghiệm bản thân tôi cũng thấy thế. Trong khuôn viên các miếu đình hoặc chùa trong vùng chúng tôi đi qua luôn luôn có một loại cây gì đó không đa thì phong hoặc thông hoặc liễu. Hình như trồng loại cây tán cao là một chỉ dấu để cho bà con dễ nhận biết khi đi tìm những địa điểm này.

Đại úy Hiền chỉ về hướng một rặng trâm bầu nằm nhô trên mặt nước quay qua bảo tôi:
– “Vũ cho tắp đại đội vào dọc theo rặng cây đó bố trí yểm trợ cho Lộc vào mục tiêu. Còn Lộc tiến tới cách mục tiêu chừng 800 thước thì dừng lại. Cho tiểu đội quân báo mò vào trước xem sao rồi mới tính nghe chưa?”

Lộc gật đầu nhận lệnh. Quả pháo khói được yêu cầu từ trước bây giờ mới nghe tiếng nổ. Tiếng đạn rít khi bay qua ngang đầu rồi rớt vào trong làng, một cuôn khói trắng bay lên cao.

Đại đội tôi dàn hàng ngang tiến dần đến rặng cây nằm nhô lên giữa cánh đồng, còn đơn vị của Lộc tách qua hướng tay trái tôi, sau đó bì bõm lội nước di chuyển. Cơn mưa như ngày càng nặng hạt hơn, nước trên đồng lăn tăn gợn những đợt sóng nhỏ. Vào gần bìa làng, mực nước có vẻ đỡ hơn đôi chút, giữa đồng nước lội trên đầu gối, có chỗ ngang lưng, bây giờ chỉ còn giữa bắp chân một chút. Nước từ trên trời, nước ngập dưới chân, chúng tôi như đang đi giữa một không gian đẫm nước. Có lẽ không một hình ảnh nào ảm đạm hơn hình ảnh những ngưòi lính trùm kín poncho, đi dưới trời mưa mù mịt, lặng lẽ như chúng tôi trong giờ phút này…

Chuẩn úy Huỳnh khi tới bờ cây gọi máy báo cho tôi biết đã tới vị trí. Tôi cho lệnh ngừng và dàn hàng ngang bố trí hướng về phía kinh sẵn sàng yểm trợ cho cánh quân Đại Đội 1 của Lộc ở phía trái.

Tiểu đội tiền sát của Lộc cách bìa làng chừng gần trăm mét thì súng từ bìa làng bắt đầu khai hỏa. Trời mưa vẫn ầm ầm trút nước, tiếng đạn bay vèo vèo trong mưa, những tia chớp lòe sáng nhấp nháy, tiếng người kêu tản thương, tiếng lội nước bì bõm, Tiểu đoàn may mắn nằm ngoài tầm đạn súng nhỏ, ngoại trừ đại đội của Lộc, và một trung đội của tôi. Tiếng pháo binh bắn chặn, tiếng la hét tuyệt vọng của những người lính ngã xuống nước vì trúng đạn. Tất cả nhòa đi trong mưa. Tôi bất động, không thể làm gì được trong tình thế này. Biển nước mênh mông chạy tới sát ven làng không cho phép chúng tôi dàn quân mở một cuộc xung phong sinh tử. Chúng tôi đứng giữa hai biển nước, từ trên trời dội xuống và một biển nước phèn chua nằm dưới chân.

Lệnh của tiểu đoàn cho Lộc và tôi rút về phía sau hai trăm mét ra ngoài tầm hỏa lực của địch. Vẫn không chỗ núp, vẫn đứng dưới mưa.

Nửa giờ sau, hai chiếc phi cơ quan sát lên lại bầu trời, cơn mưa thưa hạt dần. Trời về chiều. Bốn chiếc khu trục được gọi đến bay trên mục tiêu, giờ đây pháo binh đã ngưng. Phi cơ lao xuống thả bom dọc theo kinh. Có tiếng đại liên phòng không bắn lên phi cơ. Đạn phòng không toả những vòng khói nhỏ nổ lụp bụp trên trời. Ven làng từng cột nước dâng cao trộn lẫn những đám khói và quầng lửa vụt lên mỗi khi có trái bom được thả xuống. Khi máy bay làm xong nhiệm vụ, pháo binh lại tiếp tục. Cả mục tiêu trở thành một vùng khói phủ. Tiếng súng bắn trả thưa thớt dần. Bốn chiếc khu trục khác lại vào cuộc, vần vũ bắn phá mục tiêu… 

Ba 
Năm 1995, tôi được nhận vào làm việc cho một hàng lắp ráp điện tử. Công việc của tôi là kiểm soát lại toàn bộ những component đã được gắn trên board xem có thừa Thiếu gì không hoặc có bị chập mạch nào không, sau đó đánh dấu và chuyển qua cho bộ phận touch-up sửa chữa điều chỉnh. Nói chung công việc cũng nhàn hơn thời đi cắt cỏ, bỏ báo. Xếp của tôi là một anh chàng Mỹ gốc Jamaica có tên là Jason. Hôm mới vào nhận việc, Jason hỏi tôi đủ mọi thứ chuyện, sau khi nghe tôi kể tôi từng là một sĩ quan quân lực VNCH, hoạt động hành quân khu vực Mỹ Tho, Kiến Phong, Kiến tường. Jason cho biết cũng từng là hạ sĩ quan mang máy truyền tin cho một đơn vị thuộc Sư Đoàn 9 Hoa Kỳ đóng quân tại căn cứ Đồng Tâm Mỹ Tho. Jason bảo hồi tết Mậu Thân hắn bị thương trong cuộc hành quân giải tỏa khu bến xe thị xã. Hắn được đưa ra Hạm Đội 7 điều trị và sau đó được đưa về Mỹ giải ngũ vì đáo hạn phục vụ 2 năm đã ký trước đó. Jason nghe tôi kể về những ngày tù đầy gian khổ trong các trại tù cải tạo từ Nam ra Bắc, hắn thực sự cảm thông và chia xẻ. Hắn bảo: “Đất nước you nếu không có chiến tranh thì dễ thương biết mấy.”

Tôi gật gù đồng tình. Jason bảo từ nay you chịu khó overtime kiếm thêm chút đỉnh mà xài, vì theo hắn nghĩ chắc hãng này cũng không kéo dài được lâu. Từ đó tôi cặm cụi làm thêm giờ, mỗi ngày thêm 2 tiếng, lợi tức nhờ vậy cũng khá hơn. Đám công nhân trẻ ham vui ít ai chịu làm thêm ngoại trừ được manager yêu cầu khi có công việc bất ngờ cần hoàn tất. Cùng làm chung phòng còn có một ngưòi Việt khác tên là Bách. 

Bách xưa kia là một chuẩn úy bộ binh thuộc Sư Đoàn 2 đóng tại Quảng Ngãi. Bách đi tù 4 năm rưỡi tại Quảng Nam thì được thả, sau đó vào Nam vưọt biên mấy lần, bị bắt lên bắt xuống mới tới được Nam Dương và đến năm 1983 mới vào được Hoa kỳ. Từ ngày qua đây, Bách cũng làm đủ mọi ngành nghề nhưng không thành công vì hắn bịnh tật triền miên. Bách bảo hồi còn trong tù «cải tạo», đói quá đang sức trai nên ăn uống xô bồ linh tinh đủ mọi thứ cây củ rễ lá, cào cào châu chấu ếch nhái nên khi qua đây theo hắn nói, bộ đồ lòng kể như phế thải. Bao tử thì lúc đau lúc không, ruột già ruột non gì cũng thế. Đồ ăn thì dị ứng đủ thứ, ăn thịt bò thì nổi mề đay, ăn trứng thì ói, ăn cá thì ngứa gãi rách da, tóm gọn lại chỉ có món thịt gà là tạm ổn. Vì thế Bách giống như một ông già khó tính, lúc nào cũng nhăn nhó khó chịu, đôi lúc bẳn gắt hắn còn cà khịa với cả Jason xá chi là ai. Được cái Jason cũng từng là một quân nhân nên tốt tính, hắn thông cảm với những người vừa ra khỏi cuộc chiến đầy gian nan và bất hạnh nên thường bỏ đi những lúc khó xử như thế. 

Bốn 
Trời về chiều.Mưa đã ngớt dần. Một đoàn trực thăng chở thêm Tiểu Đoàn 32 BĐQ trừ bị đổ vào phía nam khu Xóm Ông Bốc phía bên kia bờ kinh cách chỗ chúng tôi chừng hai cây số. Những đợt bắn dọn bãi đáp của toán trực thăng võ trang và sau đó là các loạt pháo binh từ quận Cai Lậy và Long Định phủ trùm lên mục tiêu trước khi các toán quân được đưa vào trận địa. Đại úy Cao lại kêu Đại úy Hiền trở về Bộ chỉ huy để bàn bạc. Đồng hồ bây giờ chỉ 5 giờ 40. Đại úy Hiền kêu tôi và Lộc căng đội hình hàng ngang, mở hoả lực tiến chiếm bờ kinh. Sáu giờ, dàn xong đội hình, chúng tôi bắt đầu vừa di động vừa khai hỏa. Nước mênh mang bốn bề. Dưới những hạt mưa đan chéo, chúng tôi lầm lũi bưóc. Từng bước bìa làng hiện ra ngày càng rõ hơn và trong cái mù mịt của khói súng, mùi thuốc đạn, mùi rơm rạ cháy, còn thêm mùi tanh tanh của máu và mùi khét của thịt da. Có vài loạt đạn bắn ra từ một căn nhà xập vách. Không ai bảo ai, tất cả đều ùa chạy vào mục tiêu. Tiếng đạn rít man rợ trên đầu, tiếng người la, tiếng thét gào, tiếng hét thất thanh của ai đó trúng đạn, tiếng chửi thề… những âm thanh hỗn độn ấy làm cho không khí chung quanh ngột ngạt khủng khiếp. Sau cùng thì đại đội tôi và Lộc cũng bám được vào bìa làng. Cuộc lùng giết nhau bắt đầu…

Tiếng của Huỳnh gào lên trong máy “Có cây trung liên trong lùm tre trước mặt đó!“ Rồi những tiếng nổ nghe nhức cả tai, tiếng súng phóng lựu M79, tiếng lựu đạn, tiếng hét «Bắt lấy nó!» không phân biệt được của ai…

Đạn bay vèo vèo trên đầu. Tiếng rít của đạn xuyên trong không trung nghe rờn rợn vì nó cảnh báo người lính sự chết chóc đang diễn ra là có thật. Súng đạn vô tình, chẳng e dè hoặc nể mặt bất kỳ ai, đúng đường đi của nó là mất mạng vậy thôi. Trúng đạn hay không chẳng cần tài giỏi gì, lại càng không thể cố tình mà tránh đưọc. Có những tiếng đạn đi nghe nhè nhẹ mượt mà khi xuyên qua thịt da, cũng có những tiếng nghe khô khốc cục mịch khó chịu. Nhất là những tiếng đạn phang vào các gốc cây, tường nhà, vào các chướng ngại bằng kim khí, tiếng mảnh văng ngư ợc lại nghe chát chúa không chịu nổi.

Đang bám theo trung đội hai của chuẩn úy Trí bước vào căn nhà bìa xóm đầu tiên thì tôi kịp nhận ra một cú đẩy mạnh vào ngực và ngã ngửa ra phía sau không thể gượng lại được. Tôi nghi ngờ mình đã bị thương. Tôi nhủ thầm, không sao cả, còn biết đưọc mình trúng đạn nghĩa là mình còn sống. Phải bình tĩnh, không có gì phải hốt hỏang cả. Có tiếng thét thất thanh của Cầu -người lính mang máy truyền tin của đại đội- Trung úy bị thương rồi… Cầu vực tôi dậy, dìu tôi ngồi dựa vào một gốc rạ cháy xém một bên nằm cạnh căn nhà. Tiếng Cầu kêu y tá đại đội. Tôi mê man không thấy gì nữa.

Lúc tỉnh lại, có lẽ đã quá nửa đêm, trời lạnh và mưa đã tạnh hẳn. Tôi thấy nhói đau vùng ngực phải. Khát nước quá, nhưng không sao nói ra lời, chân tay nặng như đeo chì, không thể nhúc nhích nổi, thậm chí cả một tiếng rên nhỏ cũng không có sức mà phát ra. Tôi nghĩ là tôi sẽ chết. Số phần của một người lính là thế. Kể từ sau khi ra trường giáp mặt với cái chết hàng ngày mỗi khi nhận được lệnh hành quân thì cái chết không còn ám ảnh khiến tôi phải sợ hãi. Vả lại chính mắt tôi đã chứng kiến biết bao nhiêu cái chết và cách chết của đồng đội, của địch quân, lâu dần thành quen.

Tôi nhớ tới lời của Võ Thừa Tự một thằng bạn cùng khóa, cùng đơn vị, Tự bảo ”Mỗi con ngưòi có một cái số. Sợ cũng thế mà không sợ cũng vậy. Chỉ có điều cái sợ làm cho mình hèn đớn, và khi chết là cái chết lãng xẹt”. Đôi lúc nhậu nhẹt sau một lần hành quân dài ngày hoặc sau những lần đụng độ lớn hắn còn triết lý ”Trong chiến tranh có rất ít anh hùng còn sống sót. Những người còn lại sau chiến tranh đa phần là những người may mắn thoát chết…”. Tự lớn hơn tôi 2 tuổi. Hắn tuổi con cọp. Xuất thân là một học sinh Cao Thắng nên Tự rất khéo tay và rành rẽ kỹ thuật. Sửa xe, sửa súng là cái thú vui của hắn. Lúc tôi về tiểu đoàn nhận nhiệm vụ đại đội trưởng đại đội 2 cũng là lúc Tự bàn giao chức vụ đại đội trưỏng đại đội chỉ huy tiểu đoàn lại cho Minh, một sĩ quan đàn anh trước tôi một khóa. Tự là sĩ quan thâm niên trong các đại đội trưởng của tiểu đoàn này, Minh và tôi cũng từng là đại đội trưởng nhưng lại từ các tiểu đoàn khác trong cùng trung đoàn, sau khi học xong khóa đại đội trưởng từ Thủ Đức trở về thì được bổ sung sang đây.

Mặt trời vừa hừng lên, Tự đã đến thăm tôi. Tôi mơ màng không nhìn rõ mặt người mà chỉ còn phân biệt được tiếng nói. Tiếng Tự chửi thề “Mẹ kiếp” sau khi nghe máy liên lạc từ Bộ chỉ huy hành quân cho biết phải chờ một tiếng nữa mới có trực thăng tản thương. Có tiếng nói nhỏ bên tai tôi, ”Yên chí, tao đã xin tản thương cho mày rồi, yên tâm, không sao đâu”. Đầu óc tôi mù mờ những hình ảnh không rõ nét. Tôi nghĩ đến mẹ tôi. Tôi bỗng thấy hình ảnh bà nhạt nhòa nước mắt…
  
Năm 
Bách tâm sự từ hồi mới qua đây, lúc đầu em đi bỏ báo, nghề này đơn giản không cần học hành gì, ngòai sự chú tâm luyện tập cách quăng sao cho chính xác vào địa chỉ mình muốn giao là đủ, vì thế nghề còn có tên là nghề quăng chữ!! Nhưng sau khi làm đưọc vài tháng thì chịu không nổi, vì công việc đòi hỏi phải thức rất sớm bảo đảm cho khách hàng có báo đọc trước giờ đi làm nên những ngày mùa hè thì không mấy trở ngại. Nhưng về mùa đông, sương mù dầy đặc lái xe chạy vào các con lộ nhỏ quăng báo cho những căn nhà trên núi thì vô cùng vất vả khó khăn. Hắn đành phải bỏ nghề và nhường giây bỏ báo lại cho một nguời khác. Sau đó thì hắn đi bán chợ trời.

Chợ trời ở đây gồm có hai nơi, một trên đường Beryessa còn gọi là chợ trời Lớn, một nhỏ hơn trên đường Snell gọi là chợ trời Nhỏ. Cũng do một bạn đồng hương khác giới thiệu, hắn phụ cho gia đình người Campuchia có một nông trại nhỏ tại Gilroy chuyên trồng các loại rau cải và rau thơm. Hàng tuần Bách phụ thu hoạch và phụ đứng bán, mỗi tuần 4 ngày từ thứ 5 đến chủ nhật. Mổi ngày chủ bao ăn và trả cho 50 tiền mặt, vị chi được 200 một tuần cũng tạm sống qua ngày. Ở những ngày rảnh khác thì hắn đi phụ bếp, bưng phở, dọn vệ sinh linh tinh đủ thứ…

Ấy vậy mà hàng năm Bách cũng dành dụm gởi về cho gia đình bà chị ruột ở trong nước cả ngàn đồng. Làm được gần hai năm thì Bách bỏ chợ, lý do đơn giản, Bách bảo, sống kiểu này chỉ hơn mấy người homeless một bước chân. Thành ra hắn cũng giống tôi đi học điện tử cho nó ra một cái nghề! Khi nói chuyện về gia đình, Bách thổ lộ, hắn mới cưới vợ đưọc chưa đầy năm thì mất nước, trong thời gian đi tù cô vợ trẻ bỏ đi cặp bồ một cán bộ tập kết trở về làm chủ tịch xã. Khi đưọc tha, Bách không dám trở về làng mà đi ra tá túc nhà bà chị hai tại Hội An. Một thời gian sau đó Bách vào sống lang thang tại Sàigòn theo một người bà con buôn bán thuốc tây, quần áo cũ tại chợ trời. Có lần tâm sự, Bách bảo tôi, ngày xưa các cụ bảo nước mất nhà tan là đúng thiệt anh nhỉ. Rồi hắn nóí người ta bảo ông Thiệu nói câu nổi tiếng “Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy coi những gì cộng sản làm”. Riêng em thì em lại thích câu này hơn “Đất nước còn, còn tất cả, đất nước mất, mất tất cả!“. Tôi bảo câu nào cũng đúng hết. Chỉ có điều nghe rồi chẳng ai tin nên mới ra nông nỗi này thôi. 

Sáu 
Năm 1965. Tôi bị thương lần thứ hai trong cuộc hành quân truy đuổi tiểu đoàn 516 tại vùng Thạnh Phú Kiến Hòa. Lần này thì nhẹ hơn. Viên đạn xuyên qua đùi phải khi tôi dẫn đại đội tiến quân vào làng. Viên đạn đi ngọt quá, đến nỗi khi phát hiện ra ống quần có vết máu và nhìn thấy một lỗ thủng nhỏ trên đùi tôi mới hay. Cũng may là chúng tôi đã tràn ngập mục tiêu và tôi đang theo dõi các binh sĩ dưới quyền lục soát thu dọn chiến trường. Buổi chiều tôi và một số đồng đội được trực thăng chuyển về bịnh viện dã chiến tại Mỹ Tho. Sau gần hai tháng vừa chữa thương vừa dưỡng thương tôi nhận sự vụ lệnh trở về lại trung đoàn. Trung tá Thanh trung đoàn trưởng, hỏi tôi “Sao sức khỏe chú mày thế nào?” Tôi cười trả lời “Cũng bình thường thôi, trung tá”. “Thời gian nghỉ vừa qua đã lại sức chưa?” “Cũng tàm tạm.” Trung tá Thanh nguyên là vị sĩ quan huấn luyện chúng tôi khi tôi còn là sinh viên sĩ quan. Ông tốt nghiệp khóa 1 Nam Định. Tướng ông cao lớn khôi ngô, tính tình cởi mở. Ông bảo tôi, “Tớ biết chú mày còn mệt, nhưng tình hình cán bộ giờ này kẹt quá. Chắc chú mày có nghe vụ thằng 2 (Tiểu Đoàn 2) mới vừa đụng một trận nặng tại Cái Nứa, hiện đang trở về Vĩnh Kim nằm dưỡng quân và nghỉ ngơi. Ngày mai chú mày về trình điện đại úy Rỡ nhận đại đội, giúp hắn nghe”. Tôi gật đầu đồng ý.

Có điều rất lạ, khi đi tác chiến lâu, những người lính như chúng tôi đã trở nên quen thuộc với nếp sống đánh đu với tử thần này rồi. Sau những giờ phút hiểm nguy là sự thoải mái thống khoái. Chẳng lo ai tranh giành đoạt ghế! Mỗi lần trở về thành phố nghỉ chừng ít ngày lại thấy nhớ thấy thương bạn hữu đồng đội, nhớ đơn vị. Nơi đó tình cảm và thái độ cư xử giữa con người luôn được thử thách, sàng lọc. Vì phải đối mặt với cái chết thường trực nên chân thành đùm bọc nhau hơn. Những lọc lừa giả mạo được nhận diện chỉ mặt rất nhanh, chỉ cần sau một lần đụng độ là biết đá biết vàng. Khi súng nổ lên, tên bay đạn réo, những phét lác huyênh hoang trốn mất, chỉ còn con người trần trụi thực sự hiện mặt. Đó có lẽ là lý do chính khiến cho những ai từng ở những đơn vị tác chiến lâu năm luôn cảm thấy lạc loài cô đơn khi được đưa trở về các đơn vị yểm trợ hậu phương. Hiểm nguy dễ kết bạn, phú qúy lắm kẻ thù, cổ nhân dậy thế.

Đời lính chiến là cuộc hành trình vòng tròn: Trại lính- Mặt trận-Nhà thương. Cái chết đối với lính có khi là một cách giải thoát. Sự khốc liệt của chiến tranh, sự bế tắc không thể vượt qua nổi cái phi lý và bất công của hiện thực luôn phơi bầy ra trước mắt. Khi không có con đường nào để đi ra khỏi cái địa ngục trần gian ấy thì cái chết cũng là một cách để nghỉ ngơi. Đã có lúc tôi suy nghiệm như thế. Lâu dần, tôi thấy mình chai lỳ đi, mất dần cảm xúc. Những hoạt động hàng ngày hoặc trong chiến đấu trở thành một thứ phản xạ mang tính bản năng. Lần bị thương đầu năm 1964 trong cuộc hành quân phía đông bắc Cai Lậy khu vực Kinh 1 thước, Xóm Ông Bốc, lần ấy đại đội của tôi chạm mặt với trung đòan Đồng Tháp 1.

Nằm tại Quân y viện Cộng Hoà gần hai tháng. Ngửi mùi thuốc, nhìn cảnh chăm sóc thay băng, chích thuốc hàng ngày… tự dưng tôi đâm ngang chán đời! Một anh chàng Thiếu úy BĐQ tên Du nằm ngay cạnh giường, hai ba ngày đầu tiên cứ nằm thiu thỉu ngủ chừng một lát lại hô xung phong! Viên đạn đại liên lấy đi mất hơn nửa cánh tay, về tới quân y viện đành cho đi nốt phần xương vỡ vụn còn lại! Du bảo tôi, “Lần này thì chắc em được giải ngũ thôi anh nhỉ? Tôi cười buồn “Thì cũng tốt cho cậu thôi”. Rồi những ngày về Sàigòn nghỉ dưỡng thương, nhìn cảnh nhốn nháo biểu tình, xuống đường. Những lần chính biến nối tiếp nhau làm tôi không còn hứng thú gì với cái hậu phương luôn luôn hỗn loạn ấy nữa. Tôi nhớ và thương các đồng đội và đơn vị của mình. Giờ đây chắc hẳn họ đang di chuyển trên các vùng hiểm nguy truy tìm địch hoặc đang nằm nghỉ ngơi trong các làng xóm ven quốc lộ trong khi chờ đợi một lệnh hành quân mới. Hôm chia tay mẹ để trở về đơn vị, mẹ tôi còn dặn đi dặn lại “Kỳ này con nhớ xin với ông chỉ huy cho về làm văn phòng nghe con!”. Tôi gật đầu cho mẹ vui lòng.

Tôi đón xe đò đi ngã ba Trung Lương rồi đi xe lam về lại trung đoàn vào buổi sáng. Buổi chiều, Vĩnh – sĩ quan ban 1 của trung đoàn, rủ tôi ra một quán nhậu ven kinh Long Định uống rượu. Bộ chỉ huy trung đoàn 11 nằm ngay bên cạnh Kinh Sáng, tọa lạc trong một căn nhà hai tầng lầu. Con kinh nối liền từ sông Mỹ Tho đi ngược lên hướng bắc mở ra hướng vận chuyển đường thủy vào khu vực Mỹ Phước Tây và Tháp Mười. Nước kinh trong veo, mặt kinh rộng hơn hai mươi thước, cư dân trong những vùng bắc của kinh về sống tập trung gần quận Long Định để có an ninh hơn.

Xị rượu đế gần hết, Vĩnh muốn kêu thêm một xị khác thì tôi cản lại.
– Nhức đầu thấy mẹ, thôi không uống nữa.

Đĩa lòng heo cũng gần hết, mỗi đứa ăn một tô cháo, xong thì chúng tôi ra về. Vĩnh hỏi ngày mai có muốn về Sài gòn chơi một hai bữa trước khi đi Vĩnh Kim không? Tôi bảo thôi, tháng qua ở nhà chán rồi, bây giờ có về cũng vậy thôi.

Tôi đón xe lam đi ngã ba Vĩnh Kim vào buổi sáng hôm sau. Đầu còn váng vất vì chai rượu đế uống với Vĩnh chiều hôm trước. Chiếc xe cũ chạy trên hương lộ gập ghềnh làm tôi tỉnh táo dần. Đến gần khu chợ, gặp lại Chương, một sĩ quan khóa đàn em cùng dân Võ Bị đang ngồi trong một quán cóc bên đường. Tôi xuống xe khoác ba lô đi dọc theo lộ. Chương nhìn ra kêu “Niên trưởng, niên trưởng…” Anh em gặp lại nhau mừng rỡ. Chương bảo “Anh về thế anh Lê Ba phải không?” Tôi gật đầu. Ba, bị tử thương trong trận đánh mấy hôm trước, Liên đại đội phó bị thương nhẹ hiện đang nằm quân y viện.

Nghỉ dưỡng quân và bổ sung quân số được đúng một tuần thì đại úy Rỡ về Bộ chỉ Huy Trung đoàn nhận lệnh hành quân. Tiểu đoàn tập trung di chuyển bằng xe tới Ba Dừa rồi lội bộ vào tới ngã ba Long Trung. Từ đó, 8 giờ sáng hôm sau sẽ tiến về hướng tây tới mục tiêu là xã Xuân Sơn Cẩm Sơn. Nơi đây nổi tiếng là khu hang ổ cố thủ cuả các trung đoàn Đồng Tháp thay phiên nhau trú đóng để thực hiện các cuộc tấn công phá hoại và phục kích trên quốc lộ 4. Cuộc hành quân được tổ chức quy mô với sự tham dự cuả nhiều đơn vị, binh chủng. Chúng tôi đi men theo sông Mỹ Tho trong khi một tiểu đoàn TQLC và một tiểu đoàn BĐQ tiến quân từ ngoài quốc lộ 4 đi vào. Ngoài ra còn có thiết vận xa thuộc Thiết Đoàn 6 và các đơn vị địa phương quân thuộc tiểu khu Định Tường phối hợp.

Cuộc chạm súng lẻ tẻ bắt đầu từ 10 giờ sáng từ các hướng tiến quân khác. Cùng thời gian đó, chúng tôi vẫn đang lặng lẽ di chuyển. Cho tới gần trưa đại đội tôi mới chạm địch khi còn cách mục tiêu chính cả gần cây số, khu Xóm Ông Khâm. Tôi nhận định đây chỉ là các toán tiền tiêu canh chừng và hứa hẹn sẽ có một cuộc nổ lớn tiếp theo.

Bám theo từ những xóm nhỏ trên đồng dần dần chúng tôi áp sát bìa làng. Trên bản đồ hành quân, khu chúng tôi lục soát nằm gọn bên này kinh, một nhánh ăn thông vào sông Mỹ Tho. Cả khu vực là một bệt xanh đậm toàn là dừa và dừa nước.

Cuộc chạm súng thực sự nổ lớn lúc gần một giờ. Súng đủ loại bắn ra từ bìa làng ghìm chân đơn vị chúng tôi lại. Nhờ địa thế ở đây là ruộng khô và bờ thửa nhiều nên chúng tôi có chổ núp tránh dễ dàng hơn. Đại úy Rỡ cho lệnh xin pháo binh tác xạ yểm trợ, một chi đoàn thiết vận xa thuộc Thiết Đoàn 6 có một đại đội ĐPQ tùng thiết cũng được điều tới hỗ trợ chúng tôi. Lại một màn luân vũ mới với súng đạn và người chết.

Đơn vị địch bỏ vị trí rút sang bên kia kinh bằng những chiếc ghe ba lá nhỏ, lúc trời chạng vạng tối. Dấu vết máu và bông băng kéo lê bê bết trên cỏ và vài xác người nằm vùi trong các hầm cá nhân chữ A đã bị đạn pháo và bom đánh sập. Tám giờ, tiểu đoàn mới kiểm soát được mục tiêu nhưng trời đổ tối rất mau nên không lục soát kỹ được. Tổn thất của đơn vị chúng tôi cũng chưa được kiểm kê chính xác. Đại úy Rỡ ra lệnh cho bố trí phòng thủ tạm thời trong khu vực. Đại đội tôi được phân công bố trí quay về hướng bắc. Đại đội của Chương tổn thất nặng hơn lui về nằm chung với tiểu đoàn. Phía ngoài bìa làng giao lại cho chi đoàn thiết quân vận. Bên kia kinh có tiếng chân người chạy lào xào. Tôi xin bắn chiếu sáng, có tiếng người hét nằm xuống. Chúng tôi khai hỏa. Địch đang rút quân. Những lằn đạn chiếu sáng vạch những vệt xanh đỏ chen nhau găm vào các lùm bụi bên kia bờ kinh. Lại có tiếng người la í ới kêu gọi nhau, những tiếng chân chạy bì bõm trong nước…

Chín giờ đêm. Chiến trường chìm trong im lặng. Cả tiếng côn trùng cũng không nghe. Cái lặng lẽ của chết chóc và kinh hoàng. Tôi nằm sau một thân cây dừa nhìn qua bên kia bờ kinh. Bên ấy giờ đây cũng lặng im không tiếng động.

Nhìn lên bầu trời mây phủ không một vì sao. Chiếc phi cơ thả trái sáng bay vần vũ, tiếng động cơ ù ù nghe buồn nẫu ruột. Lâu lâu một chiếc phi cơ bay ngang rất cao, chỉ có đèn tín hiệu màu đỏ nhấp nháy ở phía đuôi là còn thấy rõ. Cuộc chiến này sẽ kết thúc như thế nào đây? Vài tháng trước, mấy ông tướng còn thay nhau làm đảo chánh, chỉnh lý. Sinh viên học sinh nay xuống đường biểu tình, mai xuống đường tranh đấu… Không biết những người đó có bao giờ nghĩ tới những ngưòi lính quần áo ướt sũng bùn nước, đang nằm giữa cái chết rình rập? Từ tiền tuyến nhìn về một hậu phương luôn nhốn nháo xáo trộn. Rất buồn.

Lũ bạn cùng học chung lớp thời trung học, đại học nay cũng tản ra tứ hướng. Đứa vào lính, đứa trốn lính vào bưng, đứa dọt ra nước ngoài… chẳng đứa nào yên phận. Đất nưóc tôi điêu linh quá, oan nghiệt quá, cứ chém giết hoài như thế này bao giờ mới ngưng tay? Nhớ tới bức thư cô bạn gái mới nhận đụơc hai hôm trước, đánh tiếng gia đình muốn có cuộc gặp mặt chính thức của hai bên. Mới đó mà cũng hai năm rồi từ ngày gặp nhau. Đời người con gái có thì, đâu có thể cứ chờ đợi viễn vông không rõ đích đến sẽ như thế nào. Tôi định bụng sau cuộc hành quân này về sẽ viết trả lời rõ ràng khuyên cô ta hãy tìm một người khác có cuộc sống bớt hiểm nguy hơn. Thực ra cũng đã có lần tôi viết bóng gió như thế nhưng không biết cô ấy có nhận ra không, hay nhận ra mà làm như không hay biết! Khóa sĩ quan cuả tôi ra trường hồi cuối tháng 3 năm 63, mới hơn hai năm mà đã hơn hai chục mạng trong tổng số 180 Thiếu úy ra trường giã từ cuộc chơi. Cuộc chiến ngày càng hung dữ hơn, tính mạng con người ngày càng rẻ rúng hơn. Đất ăn thịt người, đồng ruộng hoang hóa, dân tình xơ xác, tản lạc, biết bao nhiêu là điều buồn đau.
  
Bảy 
Làm cho hãng Sequel được hai năm thì hãng bán lại cho tập đoàn Solectron lớn hơn. Trước hôm chia tay, Jason bảo hãy giữ liên lạc xem khi nào có thể giúp đụơc gì hắn sẽ giúp. Còn Bách thì bảo tạm thời hắn nghỉ làm, lãnh lương thất nghiệp một thời gian rồi tính tiếp. Tôi bảo tuổi cậu còn trẻ sao không vào college học lấy một nghề chính thức mà sống cho có tương lai. Bách cười bảo tôi cũng đã thử rồi, đầu tôi trống rỗng, bụng da muốn đau lúc nào thì đau, lúc nào cũng ngồi đứng không yên, chẳng làm gì ra hồn. Cuộc chiến tranh đã cướp đi của tôi mọi thứ. Ba tôi, từ khi tôi và ông anh rể đi tù, đâm chứng bất mãn chửi tứ tung, chính quyền địa phương bắt ông đi tù cho tới lúc nhìn ra ông bị chứng tâm thần gần hai năm sau mới thả ông về thì ông cũng không sống nổi quá một tháng. Mẹ tôi bị trầm cảm, cả ngày chẳng nói một lời với bất cứ ai. Khi tôi ra tù về bà có nguôi ngoai chút ít và lúc tỉnh táo nhất là lúc bà vào Hội An thăm tôi rồi khuyên tôi phải bỏ xứ mà đi tìm đường sống. Bà bảo “Đất nưóc này không có dung chứa con đâu“. Tôi từ giã mẹ khóc sưng cả mắt. Chị hai tôi bán nhà của ba má ruột, rút về bên nhà chồng ngoài Hội An sống với 5 đứa con sau khi ba má tôi mất. Ông anh rể là đại úy tiểu đoàn trưởng điạ phương quân bị đưa đi Bắc năm 1977 thì bị bịnh kiết lị chết chẳng biết chôn ở đâu.

- Con vợ tôi cưới chưa đầy năm bỏ đi lấy làm bé thằng chủ tịch xã, ông thấy có tức không? Thà rằng nó lấy ai cũng được đằng này lại đi lấy ngay một thằng hại cả gia đình mình.

Tôi lặng im nghe Bách kể mà bùi ngùi. Tôi bảo cô ta lấy hắn chắc cũng vì cuộc sống mà thôi trách làm gì.

- Cậu phải biết là khi tụi mình đi tù, chỉ có đám cán bộ mới có khả năng kiếm ra đồ ăn mà chu cấp cho người khác. Đừng trách cô ấy, cô ta còn quá trẻ mà. Vả lại, chính cậu đâu có tin rằng khi đi tù rồi sẽ có một ngày cậu trở về, phải không?

Bách nghe tôi nói, ngồi lặng im không lên tiếng nữa, tôi chẳng biết hắn nghe lời tôi nói là có lý, hay cho rằng những lời khuyên đó chỉ là lời nhảm nhí cũng nên. 

Tám 
Sáng hôm sau, Tiểu Đoàn 41 BĐQ phía bên kia kinh lục soát tiến quân lên ngang với chúng tôi. Tiếng Thông, thằng bạn cùng khóa hỏi vọng sang “Tiểu đoàn mấy đấy?” Một người lính trong đại đội trả lời Tiểu Đoàn 2/11. “Có trung úy Vũ đó không?” Tôi nhận ra Thông. Hắn đưa tay vẫy, hỏi vọng sang “Mày khỏe không? Có gì lạ không? Vợ con gì chưa? ..” Tôi cười lớn “Không có gì mới, cũng vẫn vậy thôi”. Hồi trên Võ Bị, hai đứa chúng tôi cùng chung đại đội F. Thông người Huế tính hiền lành dễ thương, ít nói. Thỉnh thoảng hai đứa về gặp mặt nhau tại Mỹ Tho thường rủ nhau đi nhậu tại các quán bên sông. Tôi hỏi “Có thấy dấu vết gì không?” Thông bảo vết máu me tùm lum với vài cái xác và mấy tên ngắc ngoải nằm lại còn tụi nó chạy về hướng Bắc hết rồi.

Tiểu đoàn chúng tôi được lệnh gom những thương binh về một địa điểm để di tản, riêng nhửng người chết thì được chở sau. Sau đó, đơn vị được lệnh bọc theo kinh đi ngược ra quốc lộ 4 trở về quận Cai Lậy. Chúng tôi nhận lệnh đêm nay sẽ tạm trú quân theo xóm ven quận để làm trừ bị cho tiểu đoàn TQLC và 2 tiểu đoàn bộ binh khác của Trung Đoàn 12 tiếp tục truy kích địch đang đào tẩu về hướng Đồng Tháp. Trên đường đi ra quốc lộ, tôi bắt gặp từng đoàn ghe xuồng nhỏ nối đuôi nhau quay trở về khu vực giao tranh hôm qua. Bà con dân làng trở về xem nhà cửa của mình ra sao. Cuộc chiến tranh này thật tức cười, giống như một trò chơi. Tôi thầm nghĩ khi nhìn thấy những dân làng đang trên đường trở về nhà nơi cuộc giao chiến chưa bay hết mùi thuốc súng. Họ sẽ vun quén thu dọn lại đống tro tàn đổ nát lợm mùi tanh của máu và mùi khét của thịt da người và súc vật chết, để rồi một ngày nào sau đó khi những đơn vị cộng sản trở lại. Lại có một cuộc giao tranh mới! Rồi chạy tiếp, làm hoài. Không biết những người dân vô tội đó đang suy nghĩ gì?

Cuộc chiến này đã làm mọi người dửng dưng với sự đau thương mất mát, với cái tàn bạo vô nhân rồi. Tất cả chỉ một trò chơi trốn tìm. Cuộc chơi có súng đạn thật và người chết thật, chỉ có những lời tuyên bố của các chính trị gia hàng ngày trên báo chí đài phát thanh là giả dối thôi. Cay đắng là cả người tìm, lẫn người trốn đều không muốn gặp mặt nhau, bởi vì, cứ mỗi lần gặp mặt như thế, biết bao oan khiên tang tóc lại đổ ập đến. Tối hôm ấy, năm đứa chúng tôi, Nguyễn Thông- Tiểu đoàn 41 -BĐQ, Trịnh văn Huệ, và Nguyễn ngọc Điệp -TQLC, Vĩnh Nhi-Tiểu đoàn 3/12, và tôi kiếm một quán nhỏ góc chợ ngồi uống bia. Lâu lắm kể từ ngày ra trường, đã gần 2 năm bây giờ mới có dịp gặp nhau đông như vậy. Chúng tôi ngồi kể nhau nghe những bạn cùng khóa đã ra đi, ôn lại những kỷ niệm trong sáng hồn nhiên lúc còn ở trường, những giờ học văn hóa, những buổi tập quân sự… Gần nửa đêm, Nhi đứng dậy nói với Huệ và Thông “Thôi tụi bây về nghỉ đi ngày mai phải đi sớm rồi đó nha!” Chia tay nhau ai về đơn vị nấy mà thấy trong lòng nao nao. Có lẽ bởi vì cuộc chơi trốn tìm này lại tiếp tục khởi đầu ở một vùng địa thế khác. Biết đâu cuộc hội ngộ đêm nay cũng là cuộc vĩnh biệt của một đứa nào đó trong bọn vào ngày hôm sau!

Rốt cục, cuộc chơi nửa nước đi tìm nửa kia đi trốn cũng đã chấm dứt gần 10 năm sau bữa nhậu của chúng tôi đêm ấy. Ba trong năm đứa cũng không còn. Giờ đây chỉ còn lại Thông, và tôi. Ngày 30 tháng 4 năm 75, hai bên trốn và tìm đã giáp mặt nhau. Mọi che dấu được phơi bầy. Dân tộc tôi lê lết ra khỏi cuộc chiến tranh với thương tích đầy mình và một tâm thần hoảng loạn hoang mang tột độ. Và cũng từ buổi sáng tháng tư năm ấy cả dân tộc lại dắt tay nhau bước vào một cuộc trốn tìm mới. Lần này thay đổi thành phần tham dự, đảng cầm quyền truy đuổi, cả dân tộc tôi đi trốn! Dân tộc tôi ơi, biết đến bao giờ mới được sống bình yên? Trời đã bớt mưa hơn những tuần trước đó. Một hai ngày nắng ráo xen kẽ trong tuần lạnh cóng cả người. Buổi chiều ngày Lễ Tạ Ơn trời lất phất mưa. Lái xe đi qua những khu nhà sang trọng đèn kết thành chùm lấp lánh chiếu sáng. Bỗng dưng tôi nhìn thấy hình ảnh những ngày mưa của vùng Đồng Tháp ngày nào trong quá khứ trên quê hương. Nhớ tới những đồng đội của tôi đã nằm xuống trên khắp vùng đất nước. Thương những người dân quê chân chất trên những vùng đất xa xôi hẻo lánh với những cái tên hết sức bình dị mộc mạc: Xóm Ông Bốc, Xóm Ông Đùm, gẫy Cờ Đen, Cờ đỏ, Cổ Cò, Cái Quao, Cái Mơn, Sông Trăng, Mỏ Vẹt, Hốt Hoả, Cầu Ngang, Cầu Kè, Ô Lắc, Bà Om, Sóc Ruộng…

Những nơi ấy tôi đã đi qua. Máu của chúng tôi đã đổ xuống, một số đồng đội chiến hữu của tôi đã nằm lại. Chúng tôi, những người lính chiến đã từ trong không gian đan dầy dấu đạn, bước trên những nẻo đường chằng chịt bom mìn, đã hít thở cái không khí nặc nồng trí trá, và phản bội để ra khỏi cuộc chiến, trong nỗi cô đơn và khổ đau tận cùng của kiếp nhân sinh. Một cảm giác rất mạnh như bỗng dưng có ai chặn ngang cổ. Tôi cho xe dừng sát bên lề đường. Mắt tôi mờ đi không biết vì cơn mưa ngoài kia hay bởi một cơn mưa khác đang đổ xuống ngay trong chính lòng mình. 

Song Vũ

Blog Archive