Showing posts with label nhac. Show all posts
Showing posts with label nhac. Show all posts

Tuesday, August 11, 2026

Ngư ời Nhặt Lại Những T h a n h  m SàiGòn Đ ã M ất..

Có những cuốn phim ra đời không chỉ để giải trí hay ghi chép lại một chặng đường lịch sử, mà là để chạm vào những sâu thẳm nhất trong tâm khảm của một dân tộc. "Y Vân - The Lost Sounds Of Sài Gòn" của hai đạo diễn Khoa Ha và Victor Velle là một tác phẩm như thế, xót xa nhưng tràn đầy tự hào về những di sản âm nhạc từng làm nên linh hồn của Sài Gòn.
​Y Vân không chỉ là một danh xưng trong tân nhạc Việt Nam; ông là một phần hơi thở, là nhịp đập của miền Nam một thời. Với hơn 500 sáng tác trải dài từ những bản tình ca đằm thắm đến những giai điệu quê hương thiết tha, âm nhạc của ông đã đi sâu vào tiềm thức của biết bao thế hệ. Mỗi nốt nhạc Y Vân cất lên là một mảnh tâm hồn Sài Gòn, phóng khoáng, bao dung, sâu lắng và chan chứa tình người.

​Thế nhưng, biến cố lịch sử ngày 30 tháng 4 năm 1975 ập đến như một trận bão lớn. Những bản ghi âm, những đĩa nhựa xưa cũ, những trang bản thảo dường như đã bị vùi lấp, thất lạc dưới lớp bụi thời gian và sự dâu bể của thời cuộc. Sự mai một ấy không chỉ là tổn thất của riêng gia đình ông, mà là một khoảng trống đau đớn trong kho tàng văn hóa của cả một đô thị rực rỡ.
Điểm xúc động nhất, làm nên cái "hồn" diệu kỳ của cuốn phim, chính là góc nhìn của Khoa Ha. Sinh ra sau khi ông ngoại qua đời đúng một năm, cô chưa từng một lần được nhìn thấy nụ cười hay nắm lấy bàn tay ấm áp của ông. Nhưng âm nhạc, một thứ ngôn ngữ kỳ diệu vượt qua mọi giới hạn của không gian và thời gian đã kéo cô trở về những giai điệu của ông ngoại như lời thì thầm từ quá khứ, vừa vỗ về vừa thúc giục, dày vò tâm trí cô. Làm sao có thể để 500 bài hát, để một di sản rực rỡ như thế chìm vào quên lãng? Sự thôi thúc từ tim đã dẫn dắt Khoa Ha bước vào cuộc hành trình gian nan đi tìm lại những mảnh ký ức rải rác, nhặt từng chiếc đĩa hát cũ kỹ, lần theo từng vết dấu tiểu sử của ông ngoại. Đó không chỉ là một dự án điện ảnh, mà là hành trình tự thức, là lời đáp từ của đứa cháu nhỏ gửi đến người ông ở bên kia thế giới.

​Qua bàn tay tài hoa, tinh tế cùng tâm huyết cháy bỏng của đạo diễn Khoa Ha, Victor Velle và toàn thể ê-kíp, cuốn phim đã trở thành một tác phẩm nghệ thuật rung động lòng người. Mỗi góc quay, mỗi đoạn tư liệu, mỗi âm thanh được phục chế đều đong đầy sự trân trọng và tình yêu tha thiết, khắc họa một thực tế xót xa là trước năm 1975, Sài Gòn đã từng là nơi hội tụ của biết bao nhân tài, bao nét đẹp văn hóa nghệ thuật đỉnh cao. Cuộc đại nạn năm 1975 đã làm nhiều giá trị bị tan tác, nhiều tinh hoa bị chôn vùi. Xem phim, khán giả không khỏi ngậm ngùi, tiếc nuối cho một thời kỳ hoàng kim của âm nhạc và nghệ thuật miền Nam.

​Nhưng vượt lên trên những mất mát, bộ phim gửi gắm một thông điệp vô cùng sâu sắc đến thế hệ mai sau rằng: "Con người Việt Nam, dù ở bất cứ nơi đâu trên quả địa cầu này, dù thuộc thế hệ nào, thì cũng không bao giờ được phép quên đi nguồn cội và những gì cha ông đã gầy dựng". ​Khoa Ha đã làm được một điều kỳ diệu; cô dùng chính nghệ thuật điện ảnh để hồi sinh nghệ thuật âm nhạc của thế hệ trước. 

Hành trình của cô là tấm gương, là lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thấm thía cho giới trẻ sau này về trách nhiệm gìn giữ và bảo tồn những nét đẹp văn hóa Sài Gòn rực rỡ ngày cũ. "​Y Vân - The Lost Sounds Of Sài Gòn" không chỉ trả lại cho đời những giai điệu bị lãng quên, mà còn thắp sáng lại ngọn lửa tri ân trong lòng người xem.

​Anh trân trọng gửi tặng đến em, đạo diễn Khoa Ha một đóa hồng thắm. Đóa hồng của lòng ngưỡng mộ, sự tri ân và niềm xúc động sâu sắc trước một trái tim ngập tràn tình yêu dành cho ông ngoại, cho âm nhạc và cho di sản văn hóa Sài Gòn.

Lê Xuân Trường
Dư Âm Xưa Còn Đâu?

Có những đêm ngồi một mình giữa không gian yên tĩnh trong phòng thâu, lật lại những băng reel, những cuốn băng cassette đã ngả màu theo thời gian, nghe từng tiếng rào rạt mộc mạc cất lên, tôi lại thấy ngực mình nhói đau. Đó không đơn thuần là sự hoài niệm của một kẻ đứng bên kia sườn dốc cuộc đời, mà là sự bất mãn và phẫn uất sâu sắc trước một thực tại phũ phàng là những âm thanh, những ca khúc thuần túy của Âm nhạc Việt Nam trước năm 1975, hôm nay đang bị bức tử bởi những kẻ mang danh "nhạc " nhưng hoàn toàn mù tịt về thẩm mỹ, văn hóa và sự trân quý giá trị nguyên bản.

​Họ tự xưng là người làm nghệ thuật, nhưng lại không hiểu rằng, là khi trở thành một nhạc  là không phải chỉ biết bấm vài phím đàn, trên máy tính hay xào nấu vài câu giai điệu, mà bài học quan trọng nhất phải có đó là nền tảng học vấn, thẩm mỹ âm nhạc và một tâm hồn biết tôn vinh văn hóa. Đó là tại sao ở Hoa Kỳ, khi học về âm nhạc, thì ai cũng phải lấy qua cái lớp "Music Appreciation" là thế!
​Âm nhạc Miền Nam trước năm 1975, ta thấy và nghe gì? ​Khi ấy, kỹ thuật thu âm còn thô sơ, máy móc điện tử chưa phát triển, nhưng âm thanh vang lên lại mộc mạc, sang trọng và chạm thẳng vào tâm khảm. Bởi lẽ, đằng sau những bản hòa âm mộc mạc ấy là những bộ óc kiệt xuất. Những tên tuổi như Vũ Thành, Y Vân, Lê Văn Thiện, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi… họ là ai? Họ là những bậc thầy có kiến thức nhạc lý thâm sâu, dày công nghiên cứu từng hòa âm, tỉ mỉ biên soạn cho từng nhạc cụ. Một bản hòa âm ngày ấy là một công trình nghệ thuật có đầu, có đuôi, có ngụ ý. Đoạn Intro (mở đầu) của các bậc thầy viết ra luôn là một giai điệu để đời. Chỉ cần vài nốt nhạc vang lên từ xa trong xóm nhỏ, người ta đã nhận ra ngay bài hát gì, hòa âm dịu dàng dẫn dắt ca sĩ vào đúng nhịp, đúng hồn. Khi kết thúc, đoạn Outro mở ra một lối thoát mênh mang, đọng lại chút dư âm tiếc nuối trong lòng người nghe. Dàn nhạc như Tiếng Tơ Đồng với sự điều khiển của nhạc si Hoàng Trọng tập hợp những nhạc công danh giá, chơi nhạc bằng tất cả sự lịch lãm và tâm huyết. Mỗi ca khúc ra đời thời ấy không chỉ là một bài hát, mà là một di sản, một kỷ niệm thiêng liêng gạt đắng nuốt cay để sống mãi trong trái tim hàng triệu người yêu nhạc qua nhiều thế hệ. ​

Những người nhận là "nhạc " bây giờ soạn hòa âm không tìm đâu ra một câu lót, một đoạn dạo đầu để đời. Thay vào đó là những hợp âm hỗn loạn, vớ vẩn, chẳng ăn nhập gì với chủ đề hay tinh thần bài hát. Sự thiếu hụt trầm trọng về tư duy hòa âm khiến đoạn mở đầu trở thành một mớ âm thanh hỗn tạp. Ca sĩ hát như "chơi nhảy dây" Vì cấu trúc biên soạn lủng củng, không câu lót, không điểm tựa nhịp điệu, người ca sĩ đứng trên sân khấu hay trong phòng thu phải ngơ ngác tìm chỗ để "nhảy vào". Nhìn họ canh nhịp, hụt chân, lúng túng ba lần bảy lượt mới chật vật vào được câu hát đầu tiên mà thấy cay đắng, khi nghệ thuật bị biến thành một trò chơi nhảy dây vụng về! Khi ca khúc đi đến nốt cuối, bản hòa âm vô hướng ấy cũng chẳng biết làm sao để dứt. Ca khúc hòa âm không có lối ra tử tế, không có một cái kết lắng đọng, bài hát chỉ đành ngắt phụt một cách hụt hẫng hoặc lặp đi lặp lại mệt mỏi.

Dòng nhạc xưa trước năm 1975 ở Sài Gòn, mộc mạc, nên thơ, nhưng một bộ phận thế hệ sau này, với cái ảo tưởng mình "học cao hiểu rộng", thẩm thấu văn minh Tây phương đã lao vào biến chế, ​làm những ca khúc xưa trở thành lố bịch. Những người nhận họ là nhạc  một sớm, một chiều nghĩ mình là người khám phá ra phong cách nhồi nhét Jazz, Blues, Techno, ép vào hàng trăm thứ âm thanh điện tử chát chúa, vô hồn rồi vỗ ngực tự khen mình "ngầu", mình "đột phá".

Âm nhạc thân yêu của một thời vàng son vốn đã chịu nhiều mất mát đau thương từ biến cố tháng Tư năm 1975, nay lại bị chính những kẻ thiếu trình độ thời đại này bức tử thêm một lần nữa. ​Thử hỏi, Nhạc Trịnh Công Sơn với bản chất là sự tự sự, triết lý, mộc mạc đến tận cùng của thân phận con người mà đem ra quẫy đạp trên nền âm thanh điện tử chát chúa hay biến hóa, biến chất theo kiểu Jazz miễn cưỡng, thì chả ra thể thống gì?

​Hãy nhìn ra thế giới. Khi các ca sĩ quốc tế hát lại một bản Oldies cổ điển, điều đầu tiên họ làm là tôn trọng tác giả và giữ gìn cấu trúc hòa âm, tiết tấu nguyên bản. Người ta quý một bản cover vì nó giữ được cái Original, giữ được cái hồn cốt gốc rễ chứ không phải vì nó cố biến tấu cho dị biệt. ​Ở ta thì ngược lại. Sự thiếu hụt về học vấn và sự nghèo nàn về thẩm mỹ đã biến nhiều sản phẩm thành thứ ngoại lai rẽ ngả, "nửa tây nửa ta" chẳng giống ai. Họ dùng kỹ thuật số để lấp liếm sự yếu kém về tư duy âm nhạc, biến việc làm nhạc thành một công nghiệp vô cảm.

​Muốn tìm lại dĩ vãng, tìm lại sự mộc mạc nguyên thủy và cái tầm của một nền văn hóa âm nhạc đúng nghĩa, có lẽ không gì bằng tự mình bấm nút Play trên những cuộn băng cũ. Thà giam mình trong không gian của những giai điệu xưa cũ, còn hơn phải nghe những thứ âm thanh nham nhở, thiếu hiểu biết đang làm hoen ố giá trị nghệ thuật từng một thời được coi là bảo vật của văn hóa Việt Nam.

Lê Xuân Trường


Monday, August 3, 2026

HUYỀN CHIÊU: ĐÊM SÀI GÒN XƯA



(Nguồn: T.Vấn & Bạn Hữu)

Tối chủ nhật, mở chương trình VTV, tình cờ tôi xem được một vài tiết mục trong một chương trình ca nhạc có tên Phòng Trà Đêm Sài Gòn. Tôi ít khi nghe nhạc từ TV nhưng hai chữ “Sài Gòn” được chính thức xuất hiện trên VTV đã gợi cho tôi một chút tò mò.

Chương trình được trực tiếp truyền hình từ một phòng trà nào đó. Khá đông khán giả ngồi nghe nhạc bên ly nước ngọt, tách cà phê. Không khí của phòng trà khá lịch sự, không ồn ào chen chúc như ở các tụ điểm ca nhạc. Phòng trà mang tên Sài Gòn vì ở đây khán giả sẽ được nghe lại dòng nhạc khi thành phố này còn mang tên Sài Gòn.

Tôi vào mạng xem thêm một vài chương trình đã phát sóng trong các chủ nhật trước. Chương trình được biên tập theo những đề tài như: Tình Gần Xa, Nhớ, Đường Xưa Lối Cũ, Chuyện của Mùa Đông, Mưa và Nỗi Nhớ…

Các ca khúc của Đoàn Chuẩn, Văn Cao, Y Vân , Phạm Duy, Trúc Phương… được hát lại trên sân khấu phòng trà.….Chủ phòng trà bắt mạch đúng khao khát của khán giả Sài Gòn lớn tuổi. Họ muốn tạo dựng không khí nghe lại dòng nhạc lãng mạn của một thời.

Không hiểu khán giả trong phòng trà có hài lòng với bữa tiệc âm nhạc Đêm Sài Gòn này không. Với tôi, dựng lại một cái gì đã chết không dễ.

Những bài hát cũ thì còn đó như một cái xác nhưng ca sĩ, người thổi hồn vào xác thì dường như chưa hiểu hát ở phòng trà khác với biểu diễn ở sân khấu lớn, ở tụ điểm ngoài trời như thế nào.

Tôi đã muốn bật cười khi có ca sĩ hát nhạc Ngô Thụy Miên đến cuối bài lại hú lên vài tiếng như muốn kích động cho các khán giả đáng tuổi cha chú ngồi dưới hú theo. Các ca sĩ gốc nhạc viện thì thật sự không hợp với không khí phòng trà vì dù giọng hát cực kỳ khỏe như cơ bắp của lực sĩ, họ quá thiên về phô trương kỹ thuật làm hỏng đi chất giọng riêng, điều cốt lõi để gây không khí quyến rũ, mê hoặc của phòng trà.

Và tôi đã hiểu vì sao những lão ông, lão bà như Chế Linh, Tuấn Ngọc, Lệ Thu, Khánh Ly, Lê Uyên, Phương Dung … dù giọng hát đã “phều phào” (chữ dùng của nhạc sĩ Tuấn Khanh) vẫn còn được người Sài Gòn chừa một chỗ trong trái tim hoài cổ của họ.

Bao giờ những phòng trà của Sài Gòn về đêm mới trở lại như thuở ấy?

Đó là thuở mà phòng trà là chốn ma mị làm mê dại lòng người. Đó là nơi ca sĩ không phải hát theo chủ đề. Không phải cứ chủ đề mùa đông thì Thái Thanh, Lệ Thu buộc phải hát một bài nào đó về mùa đông, bởi vì “Đêm Đông” đã dành riêng cho Bạch Yến.

Không ca sĩ nào dại dột hát “Dòng Sông Xanh” vì tổ đã giao bài hát ấy cho Thái Thanh và “Thuyền Viễn Xứ” dường như là ngôi đền thiêng mà chỉ có Lệ Thu mới dám đặt chân vào.

Người đến phòng trà vì mê không khí nơi ấy chứ không phải để tìm hiểu xem mùa Thu, mùa xuân… có bao nhiêu bài hát.

Các ca sĩ thời ấy rất kiêu hãnh. Không ai có thể bắt họ phải hát bài hát họ không thích và có khi chủ phòng trà phải chấp nhận việc cả tháng trời họ đến phòng trà chỉ để hát một bài hát. Chấp nhận, bởi vì có cả khối đàn ông chấp nhận đến phòng trà chỉ để ngắm nàng và nghe nàng hát chỉ một bài hát ấy.

Chẳng phải có thời người ta đến phòng trà nghe Bích Chiêu hát “Nỗi Lòng” mãi mà không chán.

Khi nàng hát bài hát ấy, các bậc nam nhi trong phòng trà cảm thấy đau đớn, thổn thức như thể chính mình là thủ phạm đã làm trái tim nàng tan nát.

Tất nhiên cũng có Nam ca sĩ làm cho phòng trà đậm chất say đắm như Jo Marcel khi hát “Mộng Dưới Hoa”, “Thôi”, “Thúy Đã Đi Rồi” nhưng dường như Nữ ca sĩ làm chủ không khí phòng trà nhiều hơn, điều dễ hiểu khi thời đó hầu như đàn ông chiếm gần hết không gian phòng trà.

Vậy đó. Phòng trà là một nơi mà ca sĩ và người nghe như được cùng nhau bước vào một không gian mộng ảo, hư hư, thực thực trong âm thanh rã rời của kèn saxo, trong tiếng bập bùng của contrebass…

Mọi người thường phê phán rằng khác với ngày trước, ca sĩ Sài Gòn ngày nay ăn mặc quá hở hang, người đi nghe nhạc thì nhìn thay vì nghe ca sĩ hát. Lầm đấy. Ngày xưa ở phòng trà, người ta mê ca sĩ, say đắm ngắm ca sĩ, nghiện không khí huyền hoặc đầy kịch tính của phòng trà hơn ngày nay rất nhiều.

Thuở ấy, các nữ ca sĩ của phòng trà Sài Gòn hầu hết đều mặc áo dài khi đứng trên sân khấu, nhưng dưới ánh đèn mờ ảo, đôi mắt sâu thẳm, vời vợi buồn của các nàng quá là cuốn hút. Đôi mắt ấy chắc ban ngày cũng bình thường như mắt của vợ mình thôi, nhưng trong bóng tối, chúng được tô đậm ở viền mắt rồi nhạt dần sang màu khói nhang đã làm cho khán giả có cảm giác như đang nhìn ngắm một nỗi niềm u uẩn. Và trái tim đàn ông Sài Gòn ngày ấy vẫn hay bị chấn thương vì một ánh mắt u buồn, hờn trách hơn là vì một thân hình hở hang nóng bỏng.

Nhà thơ Hoàng Trúc Ly cũng là gã si tình chốn phòng trà khi viết:

Từ em tiếng hát lên trời
Tay xao dòng tóc, tay vời âm thanh

Nhà văn Mai Thảo thì hầu như là “con ma” của “nhà hát” Đêm Màu Hồng khi tối nào cũng xuất hiện ở nơi mà ông chỉ cần nghe mỗi tiếng hát của Thái Thanh.

Và chắc mọi người không quên mối tình si của ký giả Hồng Dương dành cho ca sĩ Lệ Thu.

Khác với tình yêu của chàng trai mới lớn “Em tôi ưa đứng nhìn trời xanh xanh ”( Em Tôi-Lê Trạch Lựu), tình yêu của người đàn ông ở phòng trà dành cho ca sĩ là sự si mê như mê thuốc lào “Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”.

Và họ nghiện cảm giác mê dại ấy dù họ biết quá rõ ban ngày trông nàng xanh xao, rũ rượi, nàng luôn ngủ nướng đến 12 giờ trưa, nàng không hề xách giỏ đi chợ nấu cơm, khi rảnh nàng đánh tứ sắc, xì phé chứ không ủi quần áo cho ta, khi lau hết son phấn nàng chẳng đẹp gì hơn vợ ta….

Nhạc sĩ Trường Sa mô tả hay nhất tình yêu rất lênh đênh dành cho một giọng hát:

Tình trong cơn ngủ mê
Rồi phai trên hàng mi
Chợt khi mình nhớ về
Mộng thành mây bay đi
Còn gì trên đôi tay
Nên thầm hờn dỗi mình
Cho tình càng thêm say”

Phòng trà là như vậy, và chắc còn lâu lắm Sài Gòn bây giờ mới lại có được những phòng trà là nơi mà âm nhạc làm cho người ta “phê” như ngày xưa.

HUYỀN CHIÊU *

* Lương Lệ Huyền Chiêu dạy học tại trường Trung Học Bán Công Ninh Hòa trước năm 1975. Hiện bà sinh sống ở Việt Nam.


Phòng Trà Sài Gòn (xưa)



Sunday, June 28, 2026

"Vì sao Trúc Mai được xem là một tượng đài của nền tân nhạc Việt Nam?"



Nhắc tới những giọng ca vàng của Sài Gòn một thời, người ta thường nhớ tới Thanh Thúy, Hoàng Oanh hay Châu Hà. Nhưng bà con có còn nhớ cái tên Trúc Mai không?

Có một thời, tiếng hát của Trúc Mai vang lên khắp các phòng trà, đài phát thanh và sân khấu lớn nhỏ của Sài Gòn. Người ta mê bà không chỉ vì giọng hát ngọt ngào mà còn vì nét đẹp sang trọng, đài các, rất đặc trưng của người phụ nữ miền Nam ngày ấy.

Ít ai biết rằng cô bé Trúc Mai ngày nào lại bắt đầu rất bình dị.

Sinh ra ở Gia Định rồi lớn lên tại Thủ Đức, từ nhỏ Trúc Mai đã theo sinh hoạt trong ca đoàn nhà thờ. Nhưng hồi đó chẳng ai nghĩ cô bé hát bè đứng phía sau lại có ngày trở thành một trong những tiếng hát nổi tiếng của nền tân nhạc Việt Nam.

Cuối thập niên 1950, Trúc Mai bắt đầu đi hát. Từ những chương trình văn nghệ học đường, rồi đến các đoàn văn công phục vụ quân đội. Giữa những năm tháng chiến tranh, tiếng hát của bà theo chân những chuyến lưu diễn đến nhiều nơi, mang niềm vui và sự an ủi đến cho biết bao người.

Đến năm 1959, Trúc Mai chính thức bước vào con đường ca hát chuyên nghiệp. Bà xuất hiện tại các phòng trà nổi tiếng ở Sài Gòn như Văn Cảnh và nhanh chóng được khán giả chú ý.

Rồi những ca khúc như Hàn Mặc Tử, Sài Gòn, Nhà Anh Nhà Em, Lá Vàng Rơi hay Lời Tạ Từ lần lượt đưa tên tuổi Trúc Mai lên hàng ngôi sao của làng nhạc.

Nhưng nếu hỏi bài hát nào gắn liền với tên tuổi Trúc Mai nhất, có lẽ nhiều người sẽ nhắc đến Giấc Ngủ Cô Đơn.

Ngày ấy, bài hát nổi tiếng đến mức từ thành thị đến thôn quê đâu đâu cũng nghe. Câu chuyện về người vợ ôm con đợi chồng đã chạm vào trái tim của biết bao gia đình trong thời chiến.

Ngoài giọng hát, Trúc Mai còn gây ấn tượng bởi nhan sắc nổi bật.
Người xưa thường nói bà đẹp theo kiểu "càng nhìn càng thấy đẹp". Không phải vẻ đẹp sắc sảo, mà là nét dịu dàng, đằm thắm khiến người đối diện khó quên.

Nhiều khán giả kể rằng có lúc họ ngắm Trúc Mai trên sân khấu nhiều hơn là nghe hát.

Sau năm 1975, bà sang định cư tại California. Dù sống xa quê hương, Trúc Mai vẫn tiếp tục xuất hiện trên sân khấu hải ngoại và gìn giữ những ca khúc đã làm nên tên tuổi của mình.

Đến hôm nay, mỗi khi nhắc về nền âm nhạc Việt Nam trước năm 1975, người yêu nhạc vẫn dành cho Trúc Mai một sự trân trọng đặc biệt.

Bởi bà không chỉ là một danh ca. Mà còn là một nhân chứng sống của cả một thời vàng son của âm nhạc miền Nam. Một thời mà chỉ cần tiếng nhạc cất lên, người ta đã thấy cả một bầu trời kỷ niệm ùa về.

Tư Tuấn - Sài Gòn 1965



DI SẢN VNCH ĐÃ GÌN GIỮ NHẠC SĨ PHẠM THẾ MỸ NHƯ THẾ NÀO?

Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ mất vào ngày 16 Tháng Một, năm 2009, mọi thứ trong đời ông như cũng lặng lẽ tàn dần kể từ sau năm 1975.

Có vẻ nằm ngoài suy nghĩ của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, cũng như rất nhiều người yêu âm nhạc – vốn vẫn quan sát cuộc đời và sự nghiệp của ông, cứ tưởng rằng sau khi miền Nam bị sụp đổ, chế độ mà nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ âm thầm phục vụ đã thắng thế và thuận lợi – nhưng dường như ông lại không nhận được sự đối xử xứng đáng từ các đồng chí của mình.

Cuộc đời của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ là một trong những câu chuyện đầy trớ trêu của lịch sử âm nhạc Việt Nam. Là một người nằm vùng trong lòng chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng ông lại trở nên vô cùng nổi tiếng nhờ vào xã hội tự do sáng tác, và tinh thần đón nhận âm nhạc vô cùng cởi mở của người miền Nam Việt Nam.

Suốt trong những năm dài mà nền văn hoá nghệ thuật của VNCH bị từ chối, bị kiểm duyệt, có lẽ nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ là người cảm nhận rõ nhất sự cay đắng, khi nghe các trung tâm âm nhạc hải ngoại ở Pháp, Mỹ… vẫn trình bày các ca khúc của mình.

Ở các ngôi nhà cửa khép kín, trong lòng hẻm nhỏ Sài Gòn hay bất cứ đâu Việt Nam, người ta vẫn mở những bài hát làm nên tên tuổi của ông Những ngày xưa thân ái, Hoa vẫn nở trên đường quê hương, Trăng tàn trên hè phố…

Ngược lại, những bài hát mới viết sau 1975, chỉ là hương hoa đóng góp cho thời thế, và hôm nay còn mấy ai nhớ và hát?

Lịch sử âm nhạc Việt Nam, bị cuốn vào giai đoạn chiến tranh quốc gia – cộng sản hơn 20 năm, kéo theo những mảnh đời và những điều trái ngang.

Chẳng hạn, như ông Lưu Hữu Phước, người ký quyết định đưa tất cả những văn nghệ sĩ của Việt Nam tù cải tạo sau Tháng Tư 1975, đã ngẫm nghĩ gì về chế độ thù địch với ông lại không ngần ngại dùng ca khúc của ông làm Quốc ca?

Và nếu đoạn đời về sau, với những phút cuối nói thật, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý nếu không cho biết rằng ông luôn đau đáu về bài Dư Âm – ca khúc mà ông bị đấu tố là “tình cảm tiểu tư sản”, nên phải viết kiểm điểm và thề từ bỏ để được sống còn, ai biết được trong trái tim những người nghệ sĩ ấy mang nỗi niềm gì?

Tiểu sử của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ ghi là ông sinh tại Đập Đá, An Nhơn, Bình Định, là con thứ 11 của gia đình trung lưu. Ông có hai người anh là nhà văn Phạm Văn Ký và nhà văn Phạm Hổ.

Từ năm 1947 đến năm 1949, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ học và hoạt động văn nghệ trong trường Thiếu sinh quân ở Liên khu 5. Lúc nhỏ, ông có năng khiếu vượt trội về sáo. Tuy nhiên, đam mê của ông không được cha ủng hộ vì cho rằng chơi sáo dễ mắc bệnh lao, cha ông khuyên ông chơi guitar.

Đầu thập niên 1950, ông làm công tác tuyên huấn và làm phóng viên cho báo Quân đội Nhân dân. Sáng tác đầu tay của ông ra đời trong thời gian này là bài Nắng lên xóm nghèo.

Sau hiệp định Geneve, Phạm Thế Mỹ được tổ chức cách mạng bố trí ở lại miền Nam.

Năm 1959, ông học trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Từ năm 1959 đến năm 1970, ông dạy Việt văn và âm nhạc tại các trường trung học tư thục Bồ Đề, Tây Hồ, Sao Mai, Bán Công, Nguyễn Công Trứ, Tân Thanh,… tại Đà Nẵng.

Khoảng năm 1965–1966, ông bị bắt khi trà trộn vào các phong trào phản kháng của Phật giáo Miền Nam để chống chế độ VNCH.

Lịch sử không thể thay đổi việc ông Phạm Thế Mỹ là một người của miền Bắc Việt Nam cài vào miền Nam, nhưng lịch sử cũng không thể phủ nhận ông là một nhạc sĩ tài hoa.

Đã có nhiều người dành thời gian để phân tích từng câu từng chữ trong những bài hát trước năm 1975 của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ và chỉ ra việc ẩn giấu những tình cảm dành cho bộ đội Bắc Việt cũng như là nhằm chống phá chế độ Việt Nam Cộng Hòa, Thế nhưng sự nghiệp của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ phải nói là vô cùng rực rỡ trong lòng chế độ mà ông ta luôn tìm cách chống lại nó.

Quả là mỉa mai. Vì bởi chính nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ không thể ngờ được chính vì những bài hát tưởng như tình ca mùi phản chiến đó đã chặn đứng sự nghiệp của ông sau năm 1975. Tài năng của ông có vẻ là không được công nhận đủ và đúng khi chỉ được sắp xếp là một nhân viên văn hoá thông tin của quận 4, Sài Gòn, và rồi qua đời trong hoàn cảnh khó khăn và lặng lẽ.

Đó có phải là số phận chung của người từng góp sức với “cách mạng” nhưng rồi bị nghi ngờ, không được trọng dụng? Chẳng hạn như nhân vật phi công Nguyễn Thành Trung nổi tiếng từng trở mặt ném bom vào Dinh Độc Lập vào ngày cuối của chế độ, hay nhà thơ Trần Vàng Sao bị theo dõi, ngăn chặn mọi thứ cho đến khi chết.

Mặc dù nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ ra sức sáng tác và đóng góp nhiều cho chế độ mới, nhưng ông không được cấp trên đáp lại như với Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Diệp Minh Tuyền…, dù tài năng của ông thì rõ là vượt lên trên rất nhiều.

Nhà văn Nguyễn Đình Bổn có kể lại rằng vào năm 1994, khi ông ra Bắc có việc và được nhà thơ Phạm Hổ nhờ chuyển quà cho em mình là ông Phạm Thế Mỹ ở trong miền Nam. Khi đi cùng nhà thơ Trần Tiến Dũng đến trao quà, ông Phạm Thế Mỹ khi biết nhà văn Nguyễn Đình Bổn đang làm trong nhà xuất bản Mỹ thuật, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ mang ra một tập dày có đến cả trăm bài hát ca ngợi bác và đảng, than phiền rằng ông muốn in nhưng không có ai giúp.

Chi tiết này gợi lên câu hỏi rằng: Chẳng lẽ với vị trí của một người như ông Mỹ, và hoàn toàn dành tâm sức để vận động cho chế độ mới, nhưng vẫn không thể tìm được nơi yểm trợ để làm điều “phục vụ” này, thì thực sự cuộc sống của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ sau năm 1975 đã cô quạnh đến thế nào?

Lúc còn là phóng viên của báo Tuổi Trẻ, vào ngày nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ qua đời, ban biên tập nhờ tôi gọi tìm một ai đó cùng thời để viết tin buồn và tâm tình. Kỳ lạ nhất là lúc đó tôi gọi khắp nơi nhưng hầu như ai cũng từ chối. Cuối cùng, tôi còn nhớ báo Tuổi Trẻ phải nhờ cậy đến một bài viết cũ, của một người không liên quan là nhạc sĩ Từ Huy như vài trăm chữ chia buồn về sự ra đi của ông. Lúc đó, tôi chạnh lòng nghĩ về sự cô đơn của ông, mặc dù nhà nước có làm lễ tang trọng thể, nhưng đó cũng chỉ là hình thức rổn rảng trong sự hiu quạnh của đời ông.

Tôi có đọc nhiều những bài viết tức giận và phê phán thái độ nằm vùng của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ. Và tôi cũng đọc được những bài viết tiếc nuối cho một tài năng nhưng không đứng về phía chế độ Việt Nam Cộng Hòa, dù đó là miền đất đã tạo thành cái tên nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, và nuôi dưỡng trong sự yêu mến của không ít người yêu âm nhạc miền Nam.

Nhưng biết sao được, đó là cuộc đời, là định mệnh và là lịch sử của đất nước Việt Nam. Lịch sử đã cho chúng ta chứng kiến những văn nghệ sĩ bất khuất đến phải ứa nước mắt vì kính trọng, nhưng chúng ta cũng có những người nghệ sĩ chấp nhận thay đổi cuộc đời của mình, chỉ vì để được sống còn, hoặc họ chọn hay nhầm một lý tưởng, mà không thể quay lại.

Những ai đã từng tiếp xúc với nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ cũng nhận ra rằng ông là một người hiền lành, và rốt cuộc chỉ mong muốn được sống với nghề của mình mà thôi.

Nhà nghiên cứu nhạc Việt người Mỹ Jason Gibbs từng viết trong bút ký khi tìm hiểu âm nhạc Việt Nam ở Sài Gòn, rằng: “Vợ chồng tôi được gặp và nói chuyện với Phạm Thế Mỹ năm 2001 ở nhà riêng của ông ở Quận Tư Sài Gòn. Ông vui tính, cởi mở, hiền và kể nhiều chuyện hay. Thời chιến tranh Việt Mỹ ông là một người cộng sản nằm vùng.

Đất Việt thống nhất ông được tham gia mọi hoạt động âm nhạc ở một miền Nam giải phóng, nhưng thực ra ông không ưa chính sách văn hóa lúc bấy giờ”.

Có lẽ phần tính tình hiền lành và chân thành ấy, khiến cho những màu sắc và giai điệu trong các bài hát về quê hương của Phạm Thế Mỹ luôn làm người nghe nhanh chóng có sự đồng cảm và thương mến.

Có thể đó là kết luận quan trọng mà nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ muốn để lại cho những thế hệ sau tìm hiểu về ông.

Số lượng những bài hát về nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ được công bố trên truyền hình cũng như hệ thống truyền thông của chế độ mới sau năm 75 rất nhiều, nhưng mọi thứ mang tính “phục vụ” ấy trôi dần vào quên lãng.

Ngay cả trên wikipedia, các liệt kê đánh dấu sự thăng hoa sáng tạo của đời ông cũng nằm trong thời kỳ sáng tác tự do không kiểm duyệt của Việt Nam Cộng Hòa.

Điều trái ngang là ở đó. Di sản vàng son của nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa lại chính là nơi gìn giữ những điều đẹp nhất của một người nhạc sĩ Bắc Việt – Phạm Thế Mỹ.

NS Tuấn Khanh.

Di ảnh NS Phạm Thế Mỹ

Friday, June 26, 2026

CA SĨ PHÁP FRANCOISE HARDY – MỘT TIẾNG HÁT CỦA MỘT THỜI HOA MỘNG XỨ HOA ĐÀO


Hôm qua, rồi hôm nay nữa, nghe tin Françoise Hardy, người ca sĩ Pháp với giọng ca như làn khói mỏng manh của xứ Gauloise, đã giã biệt cõi đời, lòng tôi chợt nhói lên một khoảng lặng thật sâu. Không phải chỉ vì sự ra đi của một danh ca quốc tế, mà bởi vì cái tên ấy, giọng hát ấy, đã từng là âm thanh của một thời hoa mộng, từng là vết dấu thầm kín trong ký ức tuổi trẻ của bao người, trong đó có tôi.

Tôi nhớ lại những năm đầu thập niên 60, tại thị xã nhỏ Dalat, nơi được xem là sang trọng và mộng mơ nhất miền Nam thời bấy giờ. Thị xã vẫn còn vương chút u hoài kiểu Pháp, với những ngôi biệt thự cổ kính rêu phong còn sót lại sau Hiệp định Genève 1954. Những biệt thự đó, đẹp một cách trầm mặc, quý phái như vừa bước ra từ một giấc mộng xa xưa, lặng yên mà chất chứa bao ký ức của thời thuộc địa. Chúng nằm im bên những con đường dốc uốn lượn, ngủ quên trong sương mù và nỗi hoài niệm của những ngày xưa cũ.

Khi ấy, những nam nữ thanh niên tuổi đôi mươi lên Dalat nhập học ở Viện Đại học Dalat, ngôi trường cao nguyên thanh lịch, hoặc theo học tại các trường Võ Bị, CTCT. Họ mang theo nhiệt huyết tuổi trẻ, ước mơ và những mộng tưởng tình yêu. Dalat của thời ấy không chỉ có hoa, có sương, có giảng đường mà còn có những ngày mưa bất chợt, cơn mưa khiến người ta dễ run rẩy, dễ cảm và dễ yêu.

Và trong cái không khí se lạnh ấy, quán cà phê Tùng trở thành chốn dừng chân thân thuộc. Nơi ấy, những đôi bạn trẻ, người cùng lớp, kẻ cùng khóa, sau giờ học hay những chiều ra phép, thường ghé vào quán để hít hà làn khói cà phê, hít cả mùi xì gà Hav-A-Tampa thơm nồng từ những điếu thuốc nhỏ gọn nhưng sang trọng, gắn tẩu gỗ, mùi dịu êm mà phảng phất một sự thanh lịch rất "Tây".

Họ ngồi đó, quanh chiếc bàn gỗ nhỏ, lặng im hay thủ thỉ, giữa khói thuốc, tiếng mưa rơi ngoài hiên và âm nhạc phát ra từ máy quay đĩa chạy đĩa nhựa 45 tua. Và chính ở đó, tiếng hát của Françoise Hardy ngân vang, khúc tình ca "Tous les garçons et les filles" – như gieo vào tim từng người những nốt lặng xôn xao, vừa mong manh vừa da diết. Bài hát ấy, sau này được Phạm Duy đặt lời Việt là "Những Nụ Tình Xanh", đã vượt qua ngôn ngữ để chạm đến tận cùng trái tim.

Françoise Hardy, người con gái Pháp tóc nâu huyền, mảnh mai, với giọng hát như làn khói, trở thành thần tượng đầu tiên trong lòng bao người trẻ miền Nam thời ấy. Bà là hiện thân của sự thanh lịch, tươi mát, pha chút u sầu của nước Pháp sau chiến tranh. Bài hát đầu tay ấy, dẫu không phải là ca khúc mà Hardy ưa thích, lại được hãng đĩa chọn phát hành, và bất ngờ trở thành bản tình ca của mùa hè năm 1962, bán được hơn hai triệu bản chỉ trong vòng một tháng.

Thành công đó đã đưa tên tuổi bà đến tận những góc phố Dalat, đến từng tâm hồn thanh xuân đang mơ màng. Cùng với các nữ ca sĩ Pháp như Sylvie Vartan, Conny Francis, France Gall, Dalida hay các nam danh ca như Johnny Hallyday, Christophe... Françoise Hardy là tiếng nói song hành cùng tuổi trẻ Việt Nam thập niên 60, là giai điệu trên từng khung cửa sổ mưa bay của một Dalat trầm lặng.

Tôi vẫn nhớ, chiều mưa nào đó, một người bạn ngồi đối diện, ánh mắt như mơ, tay vân vê tách cà phê, khẽ hát theo bài "Le temps de l'Amour" Một thời để yêu. Bài hát như lời tự sự, như nỗi lòng chung của cả một thế hệ đang sống trong những năm tháng đầy bất trắc nhưng cũng ngập tràn khát vọng yêu đương. Khi ấy, giữa thế giới nhỏ trong quán Tùng, có thể không ai nói ra nhưng đều hiểu rằng: tiếng hát của Hardy chính là nhịp đập của trái tim mình.

Có những buổi tối, bước chân qua khu Hòa Bình, thấy sương xuống dày, gió lùa qua vai áo, bỗng nhiên trong tai vẳng tiếng hát: "Oui mais moi, je vais seule..." – "Còn tôi, tôi đi một mình...". Một nỗi buồn dịu dàng len lỏi, khiến những người trẻ đang yêu hay vừa chia tay đều thấy mình trong câu hát ấy. Hardy không chỉ là ca sĩ, bà là tri kỷ trong những đêm dài đơn côi.

Và hôm nay, khi bà ra đi, tôi mở lại bài hát cũ, nghe lời ca xưa, thấy lòng mình nghèn nghẹn. Hóa ra những âm thanh ấy chưa từng mất đi, chúng chỉ lùi về một góc yên tĩnh trong tâm hồn, đợi dịp trỗi dậy để nhắc nhớ: tuổi trẻ đã từng đẹp như thế, đã từng ngây thơ, đã từng mộng mơ bên tiếng hát của một người đàn bà Pháp, mãi mãi không già trong tâm khảm những ai từng lắng nghe.

Dalat hôm nay mùa mưa. Bầu trời vẫn xám, sương vẫn phủ trên đồi, và cà phê Tùng, nếu còn ai ghé lại, có lẽ vẫn âm thầm vang lên bản nhạc xưa. Chỉ khác chăng, những người bạn ngày ấy, người còn kẻ mất, kẻ phiêu bạt nơi đâu. Nhưng tôi tin, dù ở đâu, chỉ cần nghe lại bài hát "Tous les garçons et les filles", hồn ta sẽ lại trở về cái mùa hè Dalat năm nào, có em, có anh, có chúng ta, tuổi hai mươi xanh biếc.

"Bao nhiêu uyên ương trong cơn yêu đương Đôi chân miên man hân hoan Lang thang giữa phố phường. Bao nhiêu duyên vui xuân xanh Đôi mươi xuân xanh như tôi, Ai kia hai mươi cũng biết rồi..."

Tiếng nhạc của Françoise Hardy không chỉ vang vọng trong không gian, mà còn khắc ghi trong ký ức, trong những giấc mơ tuổi trẻ, như một khúc nhạc nền cho thanh xuân không thể trở lại. Bà mất rồi, nhưng giọng hát ấy, trái tim ấy, vẫn sẽ còn ở lại, trong tôi, trong em, và trong tất cả chúng ta, những người đã từng lặng nghe bà hát giữa một buổi chiều Dalat mưa bay...

Và rồi trong một chiều muộn nào đó, khi ngồi lặng lẽ giữa quán xưa, nghe mưa rơi lách tách trên mái tôn, tôi lại thả hồn về miền ký ức cũ. Ngoài hiên, sương vẫn dâng lên từ thung lũng, trắng mờ như tấm màn sân khấu cho một bản tình ca chưa dứt. Dalat vẫn thế, vẫn se lạnh, vẫn thơ mộng và vẫn như chờ một giọng hát xưa cũ cất lên.

Âm nhạc Pháp, với tất cả sự lãng mạn, tinh tế và chất thơ, không chỉ là một dòng nhạc. Nó là một miền cảm xúc. Một thời thanh xuân của chúng tôi, những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi giữa thập niên 60, đã đi qua cùng những giai điệu ấy. Và dù thời gian có trôi, dù tóc đã pha sương, thì chỉ cần vài nốt nhạc vang lên, lòng tôi lại ấm lên một khúc hoài niệm. Có phải vì thế mà Dalat mùa mưa hôm nay, không chỉ là cơn mưa ngoài phố, mà còn là cơn mưa trong lòng, một cơn mưa của âm nhạc, ký ức và những điều đã mãi mãi thành bất tử.../

Binh PhamVan

Tuesday, June 23, 2026

Diệu Hương và “Vì đó là em”

Nhà báo Trường Kỳ đã viết về tiểu sử của nữ nhạc sĩ Diệu Hương: 

“Diệu Hương sinh ngày 26 tháng 10 năm 1955 tại Huế trong một gia đình có 13 người con mà cô là con gái duy nhất. Đến năm 5 tuổi, Diệu Hương theo cha là một sĩ quan trong quân đội, cùng với gia đình vào Đà Nẵng. Tại đây cô theo học trường Sacré Coeur (tức trường Thánh Tâm) và hoàn tất bậc trung học để sau đó lên Đà Lạt theo học Trường Chính trị Kinh doanh và từng được bầu làm trưởng ban văn nghệ của lớp. Trong thời gian này, Diệu Hương tập đàn guitar rồi sau đó về Saigon học tiếp với một người bạn".

Cô nữ sinh viên Diệu Hương chỉ học Trường Chính trị Kinh doanh trong 1 năm rưỡi (từ tháng 9 năm 1973 tới tháng 3 năm 1975) rồi phải rời thành phố Đà Lạt vì cánh cổng của Viện Đại học Đà Lạt đã vĩnh viễn khép lại sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cuộc sống đầy xáo trộn những năm sau đó đã buộc cô phải tìm khuây khỏa trong việc sáng tác những bài hát thể hiện nỗi buồn trước bao đổi thay ở chung quanh mình như Trường Kỳ đã viết: 

“Trong sự buồn bã triền miên có thể coi như tuyệt vọng như lời Diệu Hương nói về thời kỳ nhiều xáo trộn trong cuộc sống sau tháng 4 năm 1975, cô đã đi tìm một dòng nhạc để quên đi những phiền muộn…

Vào năm 1977, dòng nhạc của Diệu Hương ra đời với nhạc phẩm đầu tay mang tên "Tôi muốn hỏi tại sao". Diệu Hương đã chia sẻ về sáng tác âm nhạc đầu tay của mình: “Đời sống lúc đó không có chi nữa hết. Tại Hương ước mơ nhiều quá mà bây giờ bị thất vọng quá nhiều cho nên Hương mới đi tìm một cái hạnh phúc rất là nhỏ bé. Do đó, Hương mới viết là 'tôi muốn hỏi tại sao có những chiều, những chiều mưa xuống nhiều mà sao em không đứng nhìn mưa để nghe trong mạch tim em xao xuyến bất ngờ’. Cho dù một cơn mưa bất chợt cũng đủ cho mình tìm thấy một niềm hạnh phúc rất nhỏ như khi nhìn những hạt mưa, những bong bóng rớt xuống đường thì đó cũng có thể là niềm vui.

Ca khúc "Tôi muốn hỏi tại sao" với giọng ca Ý Lan:

Sau nhiều lần vượt biên bất thành, cuối cùng Diệu Hương và gia đình sang Mỹ vào năm 1990 theo diện HO. Đời sống nơi đất lạ đã khiến cho Diệu Hương chán nản không còn thiết tha gì với việc sáng tác vì phải bận bịu với việc mưu sinh qua nhiều lần thay đổi việc làm, từ thư ký cho các trường dành cho người tỵ nạn, cho văn phòng luật sư và nhân viên viên bưu điện. Diệu Hương theo học ngành graphic design. Và cuối cùng, thêm một lần nữa, cô đã "phải đi tìm một lẽ sống rất nhỏ để có thể cứu vớt mình". Và lẽ sống đó không khác gì hơn là âm nhạc. 

Nhạc phẩm Diệu Hương sáng tác đầu tiên ở hải ngoại là “Mùa thu nơi đây” vào năm 1990, ngay sau khi đặt chân đến nước Mỹ, diễn tả tâm trạng của một người xa quê hương, nhớ về thành phố cũ trong khung cảnh một mùa thu: "Mùa thu nơi đây tôi nhớ thương thành phố xa mờ mà bao năm qua tôi đã đi về trên những đường xưa…”.

Cuộc sống ở hải ngoại từ năm 1990 đã mang lại cho cô cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt những cảm hứng mới và những điều kiện thuận lợi để sáng tác và giới thiệu thêm nhiều ca khúc mới. Theo Trường Kỳ, "từ những năm 1997, 1998, cô đã thỉnh thoảng soạn lời Việt cho một số ca khúc Pháp và Mỹ cho ca sĩ Ý Lan trình bày cũng như cho một vài trung tâm, trong đó có Trung tâm Bích Thu Vân với nhạc phẩm ngoại quốc do cô soạn lời Việt đầu tiên là ‘Le passager dans la pluie’… 

Trong lúc chưa có cơ hội thực hiện riêng cho mình một CD thì cũng vào năm 1997, Ý Lan đã đề nghị thu âm 5 ca khúc của cô trong CD “Tôi muốn hỏi tại sao”, trong đó có ca khúc đầu tay “Tôi muốn hỏi tại sao” cùng với ca khúc “Mình ơi” đã gây chú ý. 

Vào năm 1998, nữ ca sĩ Lệ Thu yêu cầu cô giao cho một số bài để hát trong CD lấy chủ đề “Lặng nhìn ta thôi”. 

Qua năm 2000, cô bắt tay vào việc thực hiện giấc mơ để đến năm 2001, CD “Khắc khoải” được hoàn tất và ra mắt vào tháng 10 năm 2001. CD thứ hai mang tựa đề “Ở Lại Ta Đi” ra mắt vào năm 2003 với những ca khúc rất quen thuộc như “Vì đó là em” (Tuấn Ngọc), “Ở lại ta đi” (Quang Dũng), “Mưa còn rơi mãi vì ai” (Thái Hiền), “Mình ơi” (Diệu Hương)…

Đến năm 2004, CD thứ 3 mang tựa đề “Dòng Lệ Khô” được gửi đến người nghe sau đêm ra mắt tại vũ trường Majestic ở Nam California như 2 CD truớc. 

Gần đây nhất là CD thứ 4 mang chủ đề “Cho dòng sông cuốn trôi” ra mắt vào ngày 16 tháng 4 năm 2006. Từ đó đến nay, hầu hết những chương trình “Paris By Night” đều có những ca khúc của Diệu Hương: “Khắc khoải”, “Phiến đá sầu”, “Vì đó là em”, “Cõi vắng”, “Hạt mưa buồn”, “Bài tình ca của em”, “Mình ơi”, “Dù có như thế nào”, “Hỏi tình”... " 

(Diệu Hương: Không còn ngơ ngác trong âm nhạc)

Với cô cựu sinh viên Trường Chính trị Kinh Doanh của Viện Đại học Đà Lạt, dù ở phương trời xa xăm nào, thành phố “Đà Lạt sương mờ vẫn còn trong niềm nhớ” vì những ngày tươi đẹp nhất của một thời tuổi trẻ là những ngày bình yên “trong khung trời đại học dấu yêu”, cùng với bạn bè thong thả bước trên những lối đi có “hàng cây nghiêng liễu rũ”, và mơ ước tha thiết nhất trong đời là được một lần trở lại Đà Lạt khi “chiều xuống bên đồi” và “mặt hồ nắng lung linh vàng rơi”, ngồi nhớ lại những kỷ niệm vàng son của một thuở không thể nào quên như lời của ca khúc “Đà Lạt trong niềm nhớ”.

Ca khúc “Đà Lạt trong niềm nhớ” với giọng ca Diễm Liên: https://youtu.be/d7b4XCGlhVc

Ca khúc giúp cho khán thính giả ở Việt Nam biết đến tên tuổi Diệu Hương là ca khúc “Vì đó là em” với giọng ca Quang Dũng. Ca sĩ Tuấn Ngọc đã thu âm và trình bày “Vì đó là em” nhiều lần trên sân khấu, nhưng cũng thừa nhận rằng người hát ca khúc này hay nhất không phải là anh, mà là Quang Dũng.

VÌ ĐÓ LÀ EM
Không cần biết em là ai
Không cần biết em từ đâu
Không cần biết em ngày sau
Ta yêu em băng mây ngàn biển rộng
Ta yêu em qua đông tàn ngày tận
Yêu em như yêu vùng trời mênh mông
Không cần biết đêm dài sâu
Không cần biết bao gầy hao
Ta ngồi đếm tên thời gian
Nghe thương yêu dâng cao như ngọn đồi
Như xa xôi nay quay về gần gũi
Yêu em khi chỉ biết đó là em
Để rồi từ đó ta yêu em không ngại ngần
Để rồi từ đó trong bước chân nghe gần hơn
Một ngày lại đến trái tim ta dại cuồng
Rồi từng chiều lên mang nỗi buồn vô biên
Cho dù biết em rồi đi
Cho dù biết không chờ chi
Nhưng lòng vẫn nghe cuồng si
Nghe trong ta quên đi lòng sầu hận
Ta yêu em chưa bao giờ một lần
Yêu em vì chỉ biết đó là em.

Ca khúc “Vì đó là em” với giọng ca Don Hồ & Thanh Hà: https://youtu.be/cnKg1WPTy88?si=3LGIqNsfqBOcI8CJ

Huynh Duy Loc

Ảnh: Nhạc sĩ Diệu Hương




Thursday, June 11, 2026

NHẬT TRƯỜNG - NGƯỜI GIỮ HỒN NGƯỜI LÍNH VNCH BẰNG ÂM NHẠC

Có những vị tướng được nhớ qua những trận đánh.
Có những người lính được nhớ qua những chiến công.
Và có những người làm cho cả một quân đội được nhớ mãi bằng những nốt nhạc.
Nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh là một người như thế.

Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, khi tiếng đại bác còn vọng trên khắp ba miền, ông không viết về những khẩu hiệu. Ông viết về con người.
Người lính trong nhạc của ông không phải là những pho tượng đồng bất khả chiến bại.
Họ biết nhớ nhà.
Biết yêu.
Biết khóc.
Biết sợ.
Biết mơ đến một ngày được trở về bên người yêu dưới mái hiên quen thuộc.
Qua những ca khúc như “Tâm Sự Người Lính Trẻ”, “Người Yêu Của Lính”, “Tình Thư Của Lính”, “Rừng Lá Thấp”, “Chiều Trên Phá Tam Giang”, hình ảnh người lính VNCH hiện lên rất đời thường, rất Việt Nam và rất nhân bản.
Ông không ca ngợi chiến tranh.
Ông kể về những con người phải đi qua chiến tranh.
Có lẽ chính vì thế mà hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, những bài hát ấy vẫn còn sống.
Điều đặc biệt là âm nhạc của Nhật Trường đã vượt qua mọi ranh giới chính trị.
Nhiều người thuộc thế hệ sinh sau năm 1975 vẫn thuộc lòng các ca khúc của ông.
Nhiều ca sĩ trong nước vẫn hát nhạc của ông.
Nhiều gia đình, mỗi độ xuân về, vẫn mở những giai điệu quen thuộc ấy mà có khi không hề biết người nhạc sĩ từng khoác áo lính Việt Nam Cộng Hòa. Điều đó phản ánh sức sống lâu bền của dòng nhạc vàng và nhạc lính trong đời sống văn hóa Việt Nam.
Bởi âm nhạc chân thật luôn có một sức mạnh kỳ lạ.
Nó đi thẳng vào trái tim con người.
Nó không hỏi người nghe thuộc bên nào.
Nó chỉ hỏi:
“Anh có từng yêu không?”
“Anh có từng nhớ nhà không?”
“Anh có từng mất đi một người thân không?”
Và khi những câu hỏi ấy vang lên, mọi khoảng cách đều trở nên nhỏ bé.

Hơn năm mươi năm chiến tranh đã lùi xa. Nhiều người lính đã nằm xuống. Nhiều nghĩa trang đã phủ đầy cỏ.
Nhiều đơn vị chỉ còn trong ký ức.
Nhưng tiếng hát Nhật Trường vẫn còn đó. Như tiếng trực thăng xa dần cuối chân trời.
Như đôi giày trận còn in dấu trên những con đường đất đỏ. Như lá cờ của một thời lịch sử.
Và như lời nhắc nhở rằng:
Đã từng có những người lính Việt Nam Cộng Hòa sống, chiến đấu, yêu thương và hy sinh.
Chừng nào những bài hát của Nhật Trường còn được cất lên, chừng đó ký ức về họ vẫn chưa bao giờ mất đi.

Nhìn từ góc độ âm nhạc, di sản lớn nhất của Nhật Trường không chỉ là những ca khúc nổi tiếng, mà là cách ông khắc họa người lính bằng sự cảm thông và tính nhân bản. Chính điều đó giúp các tác phẩm của ông vẫn được nhiều thế hệ người Việt yêu thích cho đến hôm nay.

Phạm Sơn Liêm

Saturday, June 6, 2026

Nhạc sĩ Cung Tiến: Cây đại thụ trút lá lặng lẽ


Những người thân cận với gia đình của nhạc sĩ Cung Tiến đều biết ông đã qua đời ngày 10 Tháng Năm, nhưng đến ngày 4 Tháng Sáu, sau khi hậu sự hoàn tất, gia đình mới đăng cáo phó. Những người thân biết ngày qua đời của nhạc sĩ cũng được dặn dò là xin hãy giữ yên lặng cho đến khi hoàn tất tang lễ.

Khi mất, nhạc sĩ Cung Tiến hưởng thọ 83 tuổi, và lễ hỏa táng thực hiện vào ngày 2 Tháng Sáu, ở Nam California. Ông để lại cho đời nhiều tác phẩm cao quý như bài học mở đường của tân nhạc Việt Nam, đồng thời đóng góp nhiều công sức của mình cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nơi ông giữ chức Tổng Giám đốc Kế hoạch và Dự án, hoạt động như kinh tế gia, giúp cho Bộ tài nguyên và Thiên Nhiên Minesota nhiều năm, sau khi tỵ nạn từ 1975.

Với giới chức cũ của Việt Nam Cộng Hòa, nhạc sĩ Cung Tiến được nhớ đến như là một trong ba Tổng Giám đốc trụ cột của Bộ Kế hoạch trước năm 1975. Còn với giới văn nghệ, ông được đánh giá không khác gì một thần đồng âm nhạc. Từ khi đi di tản sau 1975, nhạc sĩ Cung Tiến chưa có lần nào về Việt Nam, cũng như được biết ông từ chối nhiều lời mời phỏng vấn từ Việt Nam hoặc về nước tham dự biểu diễn.

Nhạc sĩ Cung Tiến tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh ngày 27 Tháng Mười Một 1938 tại Hà Nội. Thời kỳ trung học, Cung Tiến học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ nổi tiếng Chung Quân và Thẩm Oánh. Trong khoảng thời gian 1957 đến 1963, Cung Tiến du học ở Australia ngành kinh tế và ông có tham dự các khóa về dương cầm, hòa âm, đối điểm, và phối cụ tại nhạc viện Sydney. Từ năm 1970 đến 1973, với một học bổng cao học của Hội đồng Anh (British Council) để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại đại học Cambridge, Anh, ông đã dự các lớp nhạc sử, nhạc học, và nhạc lý hiện đại tại đó.

Ngoài sáng tác, ông còn là nhà hòa âm, soạn khí nhạc, hợp xướng… và chơi được các nhạc cụ như sáo, mandolin, guitar và piano.

Tài năng âm nhạc của nhạc sĩ Cung Tiến bộc phát trong một gia đình không có ai theo nghệ thuật. “Cụ thân sinh tôi là một nhà thơ, một nhà cách mạng. Ông theo Việt Nam Quốc dân Đảng, không có ai dính vào âm nhạc nhất là âm nhạc mới, không có ai cả”, nhạc sĩ Cung Tiến lưu bút.

Trong lớp nhạc sĩ đầu thế kỷ, với những khúc tân nhạc hoàn chỉnh như Đặng Thế Phong, Văn Cao, Đoàn Chuẩn..., nhạc sĩ Cung Tiến là người hiếm hoi viết hoàn chỉnh ca khúc ở năm 14 tuổi (1953). Bài Hoài Cảm - cũng là ca khúc đầu tay của ông, mà theo tâm tình lúc sinh thời là lúc đó, ông mới học đệ lục và là một học sinh chịu nhiều ảnh hưởng thơ mới lãng mạn của Huy Cận, Xuân Diệu ….”Riêng với tôi nó là đứa con đầu lòng vẫn còn được thính giả yêu thích tôi vẫn thích vì nó giản dị và là một thời học trò của mình”, lời của nhạc sĩ Cung Tiến.

Nhạc sĩ Cung Tiến cũng là người dùng từ ngữ mô tả mãnh liệt nhất, và đầu tiên: “lòng cuồng điên vì nhớ” cho một nỗi nhớ nhung của một thiếu niên về tình yêu đầu đời. Vào lúc bài hát ra đời cũng có nhiều người không quen và cảm thấy khó chịu với sự mô tả hết sức dữ dội này. Nhưng rồi dần người ta nhận thấy rằng đó là cách diễn đạt chân thành và không kém phần tinh tế khi hoán đổi “điên cuồng” thành “cuồng điên” - khiến khung cảnh bài hát cũng nhẹ nhàng, bay bổng hơn. Nhà thơ Du Tử Lê từng gọi đó là cách sắp xếp đầy mỹ cảm về phương diện tu từ học (rhetoric).

Nhiều người khi biết về ông đều ngạc nhiên, vì sao có một kinh tế gia và một nhạc sĩ xen lẫn trong cuộc đời một con người. Thế nhưng khi tìm hiểu sâu thêm về bối cảnh xã hội và cuộc đời của nhạc sĩ Cung Tiến, người ta lại càng thán phục. Là một nhạc sĩ và có tinh thần hiếu học, ông chỉ muốn mình được học sâu và cao hơn về âm nhạc. Thế nhưng lúc đó các con đường du học và cấp học bổng chỉ có cho kinh tế. Vì vậy, nhạc sĩ Cung Tiến quyết định thi lấy học bổng kinh tế để đi nước ngoài du học rồi bên cạnh đó sẽ tìm hiểu và học thêm âm nhạc ở xứ người. Và từ đó chính quyền Việt Nam Cộng hòa có thêm một nhạc sĩ và một kinh tế gia tài giỏi.

Nhưng không phải ai cũng biết rằng nhạc sĩ Cung Tiến còn là một nhà văn và là một dịch giả. Ông có thời gian cộng tác chặt chẽ với nhóm Sáng Tạo, một nhóm tiền phong về văn hóa nghệ thuật của những người miền Bắc di cư vào Nam sau năm 1954. Nhiều người trong nhóm Sáng Tạo đã dựng nên một góc trời văn chương cho người Việt, trong đó có Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền … Bút danh của nhạc sĩ Cung Tiến lúc đó là Thạch Chương, ông tham gia cả mảng sáng tác, nhận định và phê bình văn học. Ông có dịch hai đại tác phẩm của hai văn hào Nga là Fyodor Mikhailovich Dostoevski và Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn ra Việt Ngữ. Đó là Hồi Ký Viết Dưới Hầm (bản dịch tác phẩm của M. Dostoievski, 1969) và Một Ngày Trong Đời Ivan Denissovitch (dịch từ A. Solzhenitsyn, 1969). Riêng về Một Ngày của Ivan Denissovitch kể về những gì xảy đến cho một người tù cải tạo tên Ivan Denissovitch trong một ngày dưới chế độ bạo ngược cộng sản Stalin.

Năm 1956, nhân 200 năm ngày sinh của thiên tài âm nhạc Mozart, tổng thống Ngô Đình Diệm có tổ chức một buổi hòa nhạc với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ tên tuổi. Lúc đó nhạc sĩ Cung Tiến chỉ mới gần 18 tuổi, nhưng vì nghe danh tiếng của ông, đích thân tổng thống Ngô Đình Diệm đã viết thư mời ông tham dự. Trong tâm tình với báo chí về sau, nhạc sĩ Cung Tiến nói lúc đó ông tràn ngập niềm vui sướng vì được tham dự chương trình hòa nhạc về một tài năng âm nhạc thế giới mà ông vô cùng hâm mộ. Và kế đó, là ngỡ ngàng là vì sao một cậu bé như mình lại được tổng thống mời đích danh.

Sau khi định cư tại Hoa Kỳ, ông có viết cho một số báo với bút danh là Đăng Hoàng. Nhưng với âm nhạc, nhạc sĩ Cung Tiến vẫn nối dài các sinh hoạt của mình. Ngoài chức vụ Ủy viên Diễn đàn các nhà soạn nhạc Hoa Kỳ, ông vẫn sáng tác và sinh hoạt âm nhạc thính phòng để quảng bá tinh thần âm nhạc Việt Nam. Năm 1987, Cung Tiến viết nhạc tấu khúc Chinh phụ ngâm, soạn cho 21 nhạc khí tây phương, được trình diễn lần đầu vào năm 1988 tại San Jose với dàn nhạc thính phòng San Jose, và đã được giải thưởng Văn Học nghệ thuật quốc khánh 1988.

Vào đầu thập nien 1980 Cung Tiến phổ nhạc từ 12 bài thơ trong tù cải tạo của Thanh Tâm Tuyền mang tên "Vang Vang Trời Vào Xuân", tập nhạc này được viết cho giọng hát và Piano và được trình bày lần đầu tiên tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào năm 1985.

Năm 1992, Cung Tiến soạn tập Ta Về, thơ Tô Thùy Yên, cho giọng hát, nói, ngâm và một đội nhạc cụ thính phòng. Năm 2003, Ông đã thực hiện một tác phẩm nhạc đương đại Lơ thơ tơ liễu buông mành dựa trên một điệu dân ca chèo cổ. Ông cũng là hội viên của diễn đàn nhạc sĩ sáng tác Hoa Kỳ.

Hầu hết người yêu nhạc, biết đến một Cung Tiến, là đều tìm về kho tàng của 20 năm văn hóa vàng son của miền Nam. Trong một phát hiện mang tính sử nhạc của nhà thơ Du Tử Lê, một dấu ấn đặc biệt của riêng ông, là nhạc sĩ đầu tiên phổ nhạc từ dòng thơ tự do.

Từ giã nhạc sĩ Cung Tiến, là một lần nghiêng mình trước một con nguời tài hoa, trầm lặng; và cũng là nghiêng mình trước một thế hệ tiền nhân đã cống hiến cho văn hóa Việt có được những điều đẹp đẽ và quý báu như hôm nay.

Khanh Nguyen


Saturday, May 23, 2026

Cuộc đời buồn của nhạc sĩ Thanh Bình, tác giả ca khúc Tình Lỡ

Nếu nhắc đến tên nhạc sĩ Thanh Bình, có thể ít người biết đến, nhưng có lẽ là không người yêu nhạc vàng nào mà không biết đến hoặc từng nghe những câu hát nổi tiếng này trong ca khúc Tình Lỡ của ông sáng tác:

Thôi rồi còn chi đâu em ơi!
Có còn lại chăng dư âm thôi
Trong cơn thương đau men đắng môi...

Nhạc sĩ Thanh Bình tên thật Nguyễn Ngọc Minh, sinh năm 1932 ở Bắc Ninh. Vì sớm mồ côi cha mẹ nên thời còn trẻ ông đã phải phiêu dạt qua nhiều nơi, từ Hải Phòng, Thanh Hoá, Nam Định đến Thái Bình, Hưng Yên… Dù có cậu ruột là nhạc sĩ Phó Quốc Thăng, nhưng nhạc sĩ Thanh Bình theo học nhạc với giáo sư âm nhạc Phạm Sửu tại Thanh Hóa.

Từ năm 20 tuổi, ông bắt đầu kiếm sống bằng nghề viết báo, đưa tin về văn hoá văn nghệ với bút danh là Thanh Bình trên các tờ Tia Sáng, Liên Hiệp, Tin Sớm, Bình Minh, Văn Nghệ... Sau này sáng tác nhạc, ông cũng lấy bút danh là Thanh Bình, tuy nhiên cuộc đời ông trải qua nhiều sóng gió và không được "thanh bình" như tên gọi.

Năm 1954, nhạc sĩ Thanh Bình di cư vào Nam, sau đó sáng tác ca khúc đầu tay mang tên Những Nẻo Đường Việt Nam. Ngoài ca khúc này, ông còn nhiều ca khúc khác nữa, trong đó có bài Tiếc Một Người nổi tiếng qua tiếng hát Sĩ Phú, nhưng nổi tiếng nhất và được công chúng yêu thích vẫn là bài Tình Lỡ.

Ca sĩ Ánh Tuyết đã nhận xét về phong cách nhạc của nhạc sĩ Thanh Bình qua những tác phẩm này như sau:

“…Các tác phẩm của nhạc sĩ Thanh Bình được ông viết bằng cả tình yêu ngọt ngào, dung dị của hồn quê, tình yêu thương sâu sắc quê hương đất nước mình, với những cảm xúc đầu đời hồn nhiên của chàng trai lãng mạn, đau đến tận cùng những mối tình đã lỡ...

Trong lịch sử tân nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Thanh Bình cùng với ca khúc Tình Lỡ là một trong những trường hợp đặc biệt mà tên tuổi chỉ được nhắc đến bên cạnh một ca khúc duy nhất. Ngoài ra còn có các nhạc sĩ Tu My với Tan Tác, nhạc sĩ Lê Hoàng Long với Gợi Giấc Mơ Xưa, nhạc sĩ Hoàng Quý với Cô Láng Giềng, nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên với Trăng Mờ Bên Suối nhạc sĩ Chung Quân với Làng Tôi, nhạc sĩ Lê Trạch Lựu với Em Tôi, nhạc sĩ Nhị Hà với Mẹ Tôi...

Họ là những nhạc sĩ đã được ghi danh vĩnh viễn trong lòng công chúng yêu nhạc, nhưng lại chỉ được biết đến với một ca khúc duy nhất. Có thể họ còn sáng tác nhiều bài hát khác nữa, nhưng vì thành công quá lớn với 1 tác phẩm nổi tiếng nhất, đạt đến được đỉnh cao sáng chói nên đã làm lu mờ tất cả những sáng tác khác của chính họ.

Nhạc sĩ Thanh Bình viết Tình Lỡ dành cho mối tình của chính mình, là câu chuyện cuộc đời đầy ly kỳ và bi thương trong giai đoạn đặc biệt của đất nước vào thế kỷ trước, giai đoạn đất nước bị ngăn đôi vào năm 1954, đã có hàng triệu người ra đi, hàng triệu cuộc chia cách vĩnh viễn giữa người với người.

Lúc sinh thời, nhạc sĩ Thanh Bình đã từng nói về ca khúc Tình Lỡ cùng với tình yêu đầu đời của ông với một người con gái đất cảng Hải Phòng rất xinh đẹp tên Hằng như sau:

"Ca khúc Tình Lỡ tôi viết cho một người con gái ở Hải Phòng. Lúc đó tôi 22 tuổi và rất thiết tha với người này. Ngày tôi xuống tàu ở cảng Hải Phòng vào nam, đứng trên boong tàu, tôi nhìn thấy nàng đang hối hả chen lấn, vạch đám đông người đưa tiễn để mong kịp chia tay tôi, nhưng tôi lại đứng lẫn vào đám đông trên boong tàu, còn nàng thì chạy dọc theo bờ cảng và không nhận ra tôi… Chẳng nói được với nhau câu nào"

Đầu năm 1956, từ miền Nam, nhạc sĩ Thanh Bình nghe tin cô Hằng đã được bố mẹ gả vào một gia đình môn đăng hộ đối. Nghẹn ngào, ông viết ca khúc Tình Lỡ để tiếc nhớ tình xưa:

Thôi rồi, còn chi đâu em ơi!
Có còn lại chăng dư âm thôi
Trong cơn thương đau men đắng môi

Yêu rồi tình yêu sao chua cay
Men nào bằng men thương đau đây
Hỡi người bỏ ta trong mưa bay…

Trong lời đề tựa khi phát hành nhạc tờ bài hát này, nhạc sĩ Thanh Bình ghi những câu thơ của chính ông:

Thôi thế từ nay cách biệt rồi
Đường đôi lứa rẽ đôi nơi
Từ đây vĩnh viễn xa nhau mãi
Vĩnh viễn xa nhau đến trọn đời

Em có khi nào nhớ đến anh
Chỉ xin một phút lặng sau mành
Anh từ đây sẽ không yêu nữa
Để giữ trong anh một bóng hình (T.B)

Hình bên trên là ảnh chân dung được in ở mặt sau của tờ nhạc bài hát Tình Lỡ, cho thấy rằng nhạc sĩ Thanh Bình thời trẻ rất điển trai. Theo lời kể của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 thì Thanh Bình là "một chàng trai đẹp, hào hoa, phong nhã". Ngoài ra, ông từng là người viết văn và làm thơ nên ca từ trong nhạc của ông cũng rất đẹp và nên thơ:

Phương trời mình đi xa thêm xa
Nghe vàng mùa thu sau lưng ta
Em ơi, em ơi thu thiết tha…

Vào năm 1970, đạo diễn Lê Mộng Hoàng thực hiện bộ phim điên ảnh “Nàng” với vai chính thuộc về đôi tài tử lừng danh Thẩm Thuý Hằng và Trần Quang, và bài hát Tình Lỡ trở thành ca khúc chính trong bộ phim này.

Người thể hiện bài hát lúc đó và Khánh Ly, và cho đến nay, Khánh Ly vẫn là người thể hiện thành công nhất "Tình Lỡ".

Thành công tuyệt phẩm này không đưa tên tuổi Thanh Bình trở thành 1 nhạc sĩ tiêu biểu của miền Nam trước 1975, bởi vì sau đó ông chọn một cuộc sống bình dị. Lúc sinh thời, nhạc sĩ từng nói rằng sở dĩ ông có ít bài hát như vậy là vì ông chỉ sáng tác khi có cảm xúc, viết cho những câu chuyện có thật trong đời. Có lẽ vì vậy mà bài hát Tình Lỡ dạt dào những cảm xúc thật của mối tình thời tuổi trẻ.

Năm 1973, nhạc sĩ Thanh Bình lập gia đình với một người phụ nữ bình thường, ông chập nhận rời bỏ làng nghệ thuật, cuộc sống khá đơn sơ, ông mưu sinh bằng công việc dạy ngoại ngữ, sáng dạy lớp tiếng Anh, chiều lớp tiếng Pháp. Hai người chỉ có 1 cô con gái tên là Mộng Ngọc. Sau năm 1975, cuộc sống lâm vào hoàn cảnh khó khăn, ông cùng vợ ở một quán cơm ở Quận 1 để mưu sinh.

Hạnh phúc bình dị không tồn tại được lâu, người vợ bỏ đi khi người con gái mới được 3 tuổi. Đó là thời điểm sau năm 1975, không chỉ riêng gia đình nhạc sĩ Thanh Bình mà cuộc sống của tất cả mọi gia đình khác khi đó đều lâm vào hoàn cảnh khó khăn, và có lẽ người vợ không chịu nổi khốn khó nên đã ra đi biệt xứ không có tin tức nào nữa. Từ đó nhạc sĩ Thanh Bình lâm vào cảnh gà trống nuôi con trong muôn vàn khó khăn để một mình nuôi con khôn lớn.

Nhưng đó vẫn chưa phải là sự bất hạnh lớn nhất, và dường như là những sóng gió cuộc đời không bao giờ ngừng gieo lên cuộc đời nhạc sĩ Thanh Bình. Người con gái tên là Ngọc của ông lớn lên lấy chồng nhưng cuộc sống hôn nhân không bền, cô Ngọc ở với người thứ 2 không hôn thú, sau đó hùn hạp làm ăn nhưng đổ vỡ và vướng phải nợ nần, lâm vào cảnh tù tội.

Từ sau đó, nhạc sĩ Thanh Bình phải trải qua những năm cuối đời trong hoàn cảnh khốn cùng. Ông sống cùng con gái và con rể nhiều năm trong căn nhà thuê ở quận Gò Vấp. Năm 2013, sau khi con gái ở tù khoảng 1 năm thì người con rể mang ông ra bỏ ở bến xe Miền Đông, rồi bỏ mặc người cha già 81 tuổi gầy gò, mắc nhiều chứng bệnh, bơ vơ giữa chốn đông người cùng với thùng quần áo cũ cùng với chỉ 200 ngàn đồng trong túi.

Ông sống lay lắt giữa lề đường như vậy trong 18 ngày với bánh mì cầm hơi hoặc ăn tạm miếng cháo trắng, ngả lưng ở manh chiếu được thuê với giá 500 đồng/ngày, tìm đại chỗ trống bên đường để ngủ qua đêm.

Khi biết tin, những người cháu gọi nhạc sĩ Thanh Bình là cậu ruột đã đón ông về để chăm lo nuôi dưỡng. Những người cháu này cũng không phải là người khá giả, phải sống trong căn nhà 21m2 bên bờ Nhiêu Lộc có tám anh chị em mồ côi cha mẹ, nương tựa bên nhau.

Người cháu tên Châu kể lại: "Cũng may qua thông báo của công an khu vực, chúng tôi biết được công an bến xe miền Đông đang giữ một ông già ngày nào cũng ôm cái quạt máy cũ đi qua đi lại nơi đây. Họ định đưa ông về trại dưỡng lão nhưng may quá có CMND, họ biết địa chỉ chúng tôi. Chúng tôi xin đưa cậu về nuôi dưỡng nhưng cậu không chịu đi. Có lẽ cậu sợ bị mang đi bỏ nơi khác xa hơn, rồi không có cơ hội được gặp con gái. Cậu cứ một mực muốn tìm đường xuống trại giam để được ở gần con gái vì quá nhớ".

Tháng 1 năm 2014, khi nghe hoàn cảnh của nhạc sĩ Thanh Bình, ca sĩ Ánh Tuyết đã tổ chức đêm nhạc tại phòng trà WE mang tên Tình Lỡ để ủng hộ tài chính phần nào cho ông.

Trong đêm nhạc này, nhạc sĩ Thanh Bình rưng rưng khi chia sẻ: "Tôi rất hân hạnh và cảm động khi biết mọi người còn nhớ đến tôi và thực hiện đêm nhạc cho tôi. Lâu lắm rồi tôi mới được nghe những bản nhạc của mình được hát trên sân khấu. Cảm ơn ca sĩ Ánh Tuyết đã mang đến cho tôi niềm vinh dự này, mang lại cho tôi niềm hứng khởi để tôi cảm thấy yêu đời".

Trả lời trên báo, cô cháu gái tên Phượng của nhạc sĩ Thanh Bình nói rằng có nhiều lần thấy ông ngồi khóc một mình, gặng hỏi mãi ông mới nói: "Cậu nhớ con Ngọc quá! Không biết bao giờ mới được gặp lại nó đây? Chỉ sợ cậu ra đi mà chưa gặp lại con”. Rồi những lá thư mà cô Ngọc gửi về, ông cất giữ cẩn thận và mang ra đọc đi đọc lại. Mỗi lần đọc là đỏ hoe mắt.

Chỉ vài tháng sau khi có được đêm nhạc riêng duy nhất trong cuộc đời, nhạc sĩ Thanh Bình đã qua đời vào ngày 23/5/2014. Ông ra đi mà không thể nhìn được người con gái duy nhất Mộng Ngọc của mình lần cuối. Một thời gian ngắn sau đó, cô Ngọc mới được trở về sau khi mãn hạn tù và nhận được cuốn số tiết kiệm 255 triệu đồng của những người hảo tâm ủng hộ cha mình vào những năm cuối đời. Dù số tiền không lớn lắm nhưng là cả một gia tài đối với một người đàn bà từng lầm lỡ muốn làm lại cuộc đời, cũng là món quà thừa kế ý nghĩa của người cha tài hoa đã trải qua một đời đau buồn.

Nay nhạc sĩ Thanh Bình qua đời đã lâu, nhưng những giai điệu của bài hát Tình Lỡ vẫn vang mãi trong lòng người nghe nhạc những giai điệu chậm buồn, một nỗi buồn như cuộc đời của chính tác giả, người đã mồ côi cha mẹ từ thuở thiếu thời, và kết thúc cuộc đời mình trong nghèo khổ:

Hết rồi thôi đã không còn gì thật rồi
Chỉ còn hiu hắt cơn sầu không nguôi...

Bài: Đông Kha
Bản quyền bài viết của Quán Nhạc Vàng



Blog Archive