Showing posts with label Đào Như. Show all posts
Showing posts with label Đào Như. Show all posts

Tuesday, May 28, 2024

 MỐI TÌNH ĐẦU CỦA DOÃN


Em gầy như liễu trong thơ cổ
Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường” Nguyên Sa

Mỗi lần nhớ lại NhaTrang, tôi nhớ con đường Alexandre De Rhodes đượm mùi hoa sứ, có bóng mát và tiếng sóng rì rào của biển, con đường đưa tôi đến trường Kim Yến hàng ngày. Mỗi lần nhớ lại Nha Trang, tôi nhớ Doãn, người bạn cùng lớp, một gã thư sinh đam mê văn chương, triết học và âm nhạc. Doãn mang đôi kính cận dày cộm, một thoáng Doãn trông giống Jean Paul Satre. Doãn rất đam mê đàn dương cầm và một chút tham lam tình yêu...

Mỗi lần nhớ lai Nha Trang, tôi nhớ Phương Dung, người con gái đẹp thôn Phú Vinh ngọai ô phía Tây thành phố Nha Trang, người nữ sinh trường Kim Yến có dáng đi e ấp, mái tóc frisé, thả lơi lã trên hai bờ vai, có đôi mắt đen lánh đẹp và buồn. Phương Dung vừa khiêm tốn vừa sang trọng, quí phái nhưng không hờ hửng với thế giới chung quanh mình. Phương Dung đã làm điêu đứng biết bao chàng trai của thành phố biển này trong đó có Doãn. Năm 1957, Doãn yêu Phương Dung tha thiết và chỉ mong một lần cầm được tay nàng, nhưng vẫn bị Phương Dung từ chối. Doãn biến thành gã si tình. Sau này mỗi khi nhớ lại Phương Dung, Doãn ôm lấy cây đàn dương cầm và thả hồn mình trong những tình khúc cổ điển Tây phương Romance của Robert Schuman, Eva Maria của Franz Schubert. Doãn thường ngợi ca nhan sắc của Phương Dung qua hai câu thơ của nhà thơ Nguyên Sa: “Em gầy như liễu trong thơ cổ/ Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường.”

Những năm năm mươi của thế kỷ trước, biển NhaTrang, phố Đôc Lâp, trường Kim Yến, trường Võ Tánh, trường bán công Lê Quí Đôn, là những khung trời kỷ niệm đẹp như một bài thơ. Nhóm chúng tôi năm đứa: Đạo, gốc Huế, Định, gốc Quảng Trị, Thuận, người Ninh Hòa, và Doãn, người Nha Trang, còn tôi là dân Phan Rang, chúng tôi cứ nhỡn nhơ đi học, đi dạo biển và rủ nhau đi cinéma cuối tuần. Đôi khi chúng tôi nghe tiếng Đại bác hay nhìn thấy hỏa châu thắp sáng một góc trời, chúng tôi cứ yên tâm đó là những cuộc tâp trận của Trung tâm huấn luyên sĩ quan bộ binh ở Đồng Đế, và chúng tôi quên đi đất nước chúng ta vẫn còn trong tinh trạng chiến tranh. Ở Nha Trang còn có Trung tâm Huấn luyện Sĩ quan Phi Công của Không quân và Trường đào tạo Sĩ quan Hải quân ở Cầu Đá, dọc theo bờ biển phía Nam của thành phố.

Nha Trang thuở ấy thật sự là thành phố của chiến tranh nhưng NhaTrang mang bộ mặt một thành phố của hòa bình, ổn định. Vào thời khoảng này sinh hoạt cuối tuần doc theo đai lộ Duy Tân ven biển, trên phố Đôc Lập thật là vui nhộn phong phú và đa dạng. Nhạc sĩ Văn Phụng vừa di cư vào Nam, anh thường trình diễn âm nhac ngoài trời mỗi cuối tuần trên bờ biển gần khách sạn Beau Rivage. Các trường Trung Học của Nha Trang thuở 55, 56, 57 vẫn tiếp nhận các hoc sinh: Ngoài Bắc mới di cư vào Nam trong đó có cậu hoc trò Phí Ích Nghiễm của trường Bán công Lê Quí Đôn và sau này trở thành nhà văn thành danh với bút hiệu Dương Nghiễm Mậu; và các hoc sinh từ Liên Khu V- Nam-Ngãi-Bình-Phú- vừa được giải phóng và trở thành các tỉnh của miền Nam tự do. Trong nhóm này có Nguyễn Mông Giác, hoc ban B trường Võ Tánh, sau này là tác giả của những bộ trường thiên tiểu thuyết: Mùa Biển Động, Sông Côn Mùa Lũ. Với tác phẩm ‘Đường Một Chiều’, Nguyễn Mộng Giác đoạt giải Nhất của cuộc thi tiểu thuyết của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam năm 1974. Nguyễn Đức Sơn từ Phan rang ra học Trường Kim Yến, anh đã sớm phát tiết phong thái như một nhà thơ lập dị với bút hiệu Sao Trên Rừng, hồi ấy Nguyễn Đức Sơn đã sáng tác bài thơ: “Một Mình Nằm Thở Đủ Kiểu Trên Bờ Biển: 

Đầu tiên tôi thở cái phào/Bao nhiêu phiền não như trào ra theo/Nín hơi tôi thở cái phèo/Bao Nhiêu Mộng ảo bay vèo hư không/Sướng nên tôi thở phập phồng/Mây bay gió thổi trời hồng muôn năm/Mai sau cái chỗ tôi nằm/Sao rơi lạnh lẽo, âm thầm biển ru..”.

Phải chăng chiến tranh đã là nỗi ám ảnh thuở ấy khiến nhà thơ Nguyễn Đức Sơn sớm thấy số phận hẩm hiu cô đơn của đời người: “Mai sau cái chỗ tôi nằm/Sao rơi lạnh lẽo âm thầm biển ru”. Khi chúng tôi lớn lên đã có chiến tranh. Chiến tranh là một phần đời của chúng tôi. Chiến tranh vây bủa quấn chặt chúng tôi như loài rắn độc quấn chặt lấy con mồi của nó. Chúng tôi lớn theo hai cuộc chiến. Chiến tranh mang chúng tôi đi muôn phương. Chúng tôi trôi giạt trong chiến tranh...

Năm 1962, Đạo, Định, Thuận Tốt nghiệp đại học sư phạm Toán Lý Hóa. Đi dạy Trung học được một niên khóa, cả ba đều bị động viên vào thụ huấn quân trường Thủ Đức và sau này là các sĩ quan tác chiến trên 4 vùng Chiến Thuật. Doãn tốt nghiệp sư phạm triết và là thấy dạy triết cho các lớp 12. (Terminal). Còn tôi thì theo nghiêp Y, là bác sĩ phẫu thuật của thời chiến- (Chirurgien De Guerre).

Năm 1960, Doãn loan báo cho nhóm chúng tôi hay là Phương Dung vừa đi lấy chồng. Doãn gọi cho chúng tôi trong giọng thảng thốt và buồn. Thế mới biết trong suốt những năm qua, Doãn vẫn thầm nuôi mộng với Phương Dung.

Chiến tranh luôn đi trước chúng tôi. Trận đánh lớn ở cấp sư đoàn-trận Ấp Bắc ở Định Tường xảy ra vào ngày 2 tháng 1 năm 1963, đã làm vỡ tan mộng hòa bình và ổn định lâu dài của Chính Phủ và người dân miền nam Việt Nam. Ai ai cũng xoay lưng lại chiến tranh, nhưng rồi cũng phải chịu đựng cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, lật đổ chính phủ Ngô Đinh Diệm. Sau cái chết của nhà yêu nước Tổng thống Ngô Đinh Diệm và người em trai của ông, chiến tranh bộc phát trở lại, thiêu đốt và tàn phá quê hương Việt Nam của chúng tôi với một tốc độ khốc liệt khủng khiếp hơn bao giờ hết....

Nhưng thân phận người đàn bà trong chiến tranh gánh chịu muôn vàn nỗi truân chuyên. Sau khi lấy chồng được hai năm, Phương Dung sanh được một cháu gái. Có tin đồn rằng: chồng của Phương Dung là sĩ quan Không Quân, chuyên về trinh sát-Observateur-Máy bay trinh sát L.19 của anh bị bắn rơi ở Hạ Lào vào giữa năm 1961. Anh và ngưới sĩ quan phi công đều bị lực lượng biên phòng của chính phủ Hà Nội bắt sống. Ba tháng sau chính phủ Hà Nôi đem vụ này xử công khai trên đài phát thanh cho cả nước cùng nghe. Họ tố cáo chính phủ Mỹ đã xâm nhập biên giới của họ, ngay cả phía trên vĩ tuyến 17 và vùng Hạ Lào. Chồng Phương Dung và người bạn sĩ quan phi công mỗi người lãnh án 25 năm tù ở. 

Với bản án 25 năm tù ở của chồng, Phương Dung cảm thấy đời nàng hụt hẩng không biết làm sao chia sẻ sự nhọc nhằn của chồng trong lao tù cộng sản và nuôi con cho đến ngày khôn lớn trong suốt chiều dài 25 năm tới. Nhưng Phương Dung không bao giờ quay lưng lại với cái quá khứ vàng son của mình. Nàng lúc nào cũng là một mênh phụ phu nhân trong cái xã hôi chiến tranh thời đó. Nàng cố vượt lên trên số phận để có đời sống tốt đep nuôi con cho đến ngày chồng về... Nguồn tin đồn đoán cũng nhấn mạnh rằng: hoàn cảnh của Phương Dung được xem như là quá đặc biệt. Do đó Phương Dung có được sự giúp đỡ và được ‘offered cái job’ làm thư ký tại trung tâm hỗn hợp Không lực Việt Mỹ, phi trường Không Quân-Nha trang. Người boss trực tiếp của Phương Dung, là một Trung tá cố vấn Mỹ cũng là vị chỉ huy trực tiếp của chồng Phương Dung trước kia. Phương Dung đươc ân huệ có được job này thật kín đáo ít người biết đến. Nhưng chẳng bao lâu sau, Phương Dung cũng phải hứng chịu lời ong tiếng ve “gái làm sở Mỹ”.

Sau hơn hai năm làm việc bên cạnh ông boss của nàng, Phương Dung cảm thấy mình được ông boss chăm sóc rất chu đáo. Từ đó một thiên tình sử xuất hiện giữa nàng và vị Trung tá người Mỹ. Có phải chăng họ yêu nhau vì nết trọng nhau vì tài? Một thực tế hiển nhiên vị Trung tá Mỹ vẫn còn độc thân, chưa có vợ, trong khi đó Phương Dung là ‘nhất gái một con’, người đàn bà từng trải. Lửa gần rơm có ngày cũng bén. Trước khi về nước, vị Trung tá người Mỹ ngỏ lời muốn cưới Phương Dung làm vợ. Âu đó cũng là điều Phương Dung không dám mong đợi và ước mơ nhưng thật sự nó đã đến với Phương Dung. 

Sau khi được sự đồng ý của cha mẹ chồng (cũ), Phương Dung gạt lệ, lên xe hoa một lần nữa. Năm 1967, Phương Dung cùng cô con gái theo chồng về Mỹ. Bao nhiêu quá khứ tình cảm, Phương Dung coi như theo nước sông trôi về dĩ vãng. Cuộc sống của Phương Dung sau năm 1960, dù cho thực hay là ảo, tất cả nói lên thân phận người đàn bà trong chiến tranh cũng nổi trôi theo vận nước, cũng bị cuốn hút theo chiến tranh...

Từ những năm 62-63... sự quan hệ giữa bọn chúng tôi thường hay mất liên lạc với nhau. Thỉnh thoảng chúng tôi liên lạc với nhau qua Khu Bưu Chính-KBC-chúng tôi thật sự không biết chúng tôi đang ở đâu và đang làm gì, sức khỏe và gia đình ra sao? Chúng tôi hoàn toàn con người của chiến tranh.

Sau biến cố Mậu Thân, và trận Khe Sanh năm 1968, bây giờ người Mỹ bắt đầu sử dụng pháo đài bay chiến lược B52, nhất là tại vùng núi rừng Trường Sơn, Đường mòn Hồ Chí Minh. Sau đó, là những trận đánh vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972... Hai phe bốn bên dốc toàn lực đổ quân vào những trân đánh điên cuồng đẩm máu làm áp lực cho hòa đàm Paris ở giai đoạn chót. Những trân đánh tận tình hủy diêt nhau làm rực lửa những trang báo cùng khắp thế giới, thắp sáng lương tri nhân loại. Hầu hết các gia đình người Mỹ, mỗi chiều tối đều ngóng lên màn ảnh truyền hình, theo dõi chương trình CBS Evening News Reports hớp từng lời tường thuật của Walter Cronkite về chiến tranh Việt Nam-Vietnam-War. Những trận đánh đẩm máu xé nát trái tim của những bà mẹ nước Mỹ. Các sinh viên tại các trường đại học nhất là tại Mỹ, tại Anh, tại các nước Bắc Âu và Tây Âu, tổ chức “truồng chạy” phản đối chiến tranh diệt chủng tại Việt Nam...Trong khi đó tại Sàigòn tiếng hát Thái Thanh thảm thiết trong bài “Kỷ Vật Cho Em”, một kiệt tác phản chiến thời danh của Pham Duy, viết sau Chiến Dịch Lam Sơn-719:

Anh trở về trong chiếc poncho
Anh trở về trên đôi nạng gỗ
Anh trở về tật nguyền chai đá
Anh trở về dang dỡ đời em...”

Rồi cái gì phải đến, đã đến. Hiêp định Paris được ký kết hôm 27-1-năm 1973 giữa Lê Đức Thọ và Henri Kissinger nhằm chấm dứt chiến tranh tái lập hòa bình cho Viêt Nam. Sau đó là cuộc tháo chạy của Mỹ khỏi miền Nam Viêt Nam, bỏ lại sau lưng hàng triệu quân cán chính của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong đó có chúng tôi. Tất cả sau này là đối tượng của chính sách lao tù cải tạo tập trung vô cùng tàn bạo của đảng cộng sản Việt Nam. Cả triệu người miền Nam tổ chức vượt biên, vượt biển, đi tìm vùng đất tự do, bất chấp mọi hiểm nguy.

Sau chiến dịch “Mùa Xuân Đại Thắng”, người cộng sản Việt Nam không chịu bắt tay, tâp hợp các đảng phái, các lực lượng quốc gia yêu nước khác. Năm 1964, tại một buổi họp báo quốc tế tại Hà Nội, một phóng viên ngoại quốc hỏi ông Hồ Chí Minh: “Thưa Chủ Tịch nghĩ gì khi ông Ngô Đình Diệm, kẻ thù của ông vừa bị sát hại?”. Ông Hồ Chí Minh khẳng định: “Ông Ngô Đình Diệm là nhà yêu nước, nhưng Ông yêu nước theo cách của Ông” . Tai sao, sau 30-4-1975, đảng cộng sản Viêt Nam không chịu bắt tay, tập hợp các lực lượng, các đảng phái quốc gia yêu nước khác? Tại sao người cộng sản Viêt Nam không suy nghĩ như cố Chủ tịch Hồ Chí Minh của họ đã suy nghĩ. Người cộng sản Việt Nam không theo chân lịch sử, họ phản lại lòng tin của người dân miền Nam, họ phản lại tư tưởng của cố Chủ Tịch Hồ Chí Minh của họ! Chúng tôi đã phải chấp nhận sự phản bội trắng trợn của người cộng sản Việt Nam. Mặc dầu thế chúng tôi vẫn vượt lên trên người cộng sản với niềm tin vào tinh thần đoàn kết quốc gia của dân tôc.

Tháng Tư năm 1979 sau khi mang cả gia đình vượt biển bằng thuyền, tôi và gia đình định cư tai Mỹ vào đầu năm 1980. Sau khi định cư ở Mỹ, việc đầu tiên là tôi cố tìm lại ban bè, ai còn ai mất? Nhưng tôi hoàn không biết Đạo, Định, Thuận và Doãn hiện giờ ra sao? Mãi đến năm 2010, tôi cộng tác với báo Vietnam Daily News. Dưới mỗi tựa đề bài viết tôi có ghi chú: Thân gửi các bạn Phương Dung (Phú Vinh) Thu Nguyệt (phố Đọc Lâp) Mộng Vân (Hà Dừa-Xóm Đạo), Phạm Hữu Đạo, Nguyễn thành Định, Lê Đức Thuận và các cựu học sinh Trường Kim Yến Nha trang. Chúng ta thất lạc nhau trên 30 năm trong màu khói lửa chiến tranh. Các bạn còn sống? Xin điện thư về Thetrongdao2000@yahoo.com, Cám Ơn). (*) 

Hai tuần sau đó được Doãn hồi âm. Doãn cho tôi hay Doãn và gia đình được đưa đến Guam vào ngày 24-4-1975, và sau đó Doãn và gia đình đinh cư tại California. Hiện giờ Doãn vẫn chưa được tin tức gì về Phương Dung, Đạo, Định, Thuận sống chết ra sao? Doãn rất lo họ có thể mất tích trên Biển Đông...

Một tháng sau đó tôi nhân được Email của Thuận, tôi liền tải đến cho Doãn. Thuận cho chúng tôi hay, hiện tại Thuận và gia đình định cư tai Pháp từ năm 1980. Thuận cũng cho chúng tôi hay, Đạo và Định vẫn còn kẹt ở Việt Nam. Thế là sau 30-4-75 trong hàng ngũ anh em của chúng tôi có kẻ đã vượt thoát lao tù cộng sản trở thành người tỵ nạn, có kẻ bị kẹt lại đành chọn quê hương làm chốn lưu đày....

Bây giờ là đầu tháng 5 năm 2019, mùa xuân đang nở rộ ở California. Doãn đã là một ông già tuổi vừa ngoài 83. Doãn đã nhiều lần bị stroke, hiện phải ngồi xe lăn. Tuy nhiên tâm hồn Doãn vẫn còn nhạy cảm với vẽ đẹp nét buồn khi nắng sớm, lúc mưa chiều. Tiếng đàn dương cầm của Doãn trĩu nặng màu thời gian, hòa lẫn với tiếng lòng nhớ quê hương của kẻ lưu vong luôn vang vọng niềm mơ ước “Trở Về Mái Nhà Xưa -Come Back to Sorrento...”.

Vào buổi tối hôm ấy, tựa mình vào cây đàn Piano, Doãn đề cập đến tập truyện “Tơ Vương Đến Thác” của Doãn xuất bản năm 2014. Doãn cho tôi hay đó là tiếc nuối cuối đời của Doãn về nghiệp văn chương. Tháng chạp Năm 2014 Doãn tổ chức buổi ra mắt tâp truyện “Tơ Vương Đến Thác” tại một thư viện công lập thuộc vùng San Diego. Trong các quan khách đến tham dự buổi ra mắt sách hôm ấy có một ngươi đàn bà đã lớn tuổi, mặc Soirée màu tơ vàng óng ả, có dôi mắt đen lánh đẹp và buồn. Doãn cảm thấy thấy gương mặt ấy, đôi mắt ấy rất là thân thương quen thuộc từ một thuở xa xâm nào đó của đời mình.

Phá bỏ mọi nghi cách, người đàn bà ấy, tiến đến Doãn với tâp truyện “ Tơ Vương Đến Thác” và nói: “Phương Dung xin được đặc ân có được chữ ký đề tặng của tác giả”. Từ chiếc xe lăn, Doãn cố gắng đứng dậy hai tay nắm chặt và gục đầu trên bàn tay của Phương Dung... Doãn thều thào: ” Phải chi 50 năm về trước chúng ta nắm chặt được tay nhau như hôm nay thì cuộc sống của chúng ta đã hoàn toàn đổi thay”. Khi Doãn cúi đầu viết đề tặng Phương Dung tâp truyện với câu thơ của Thế Lữ: “ Cái phút ban đầu lưu luyến ấy. Nghìn năm chưa dễ mấy ai quên”. Lúc ấy Phương Dung thì thầm: “ngày xưa tôi cũng mến anh vì tính tìn; còn việc sau này mình có găp lại nhau hay không điều đó không ai biết đươc, vì mỗi người có một hòan cảnh và số phận riêng, nhất là trong thời đại chiến tranh- Vậy coi như chúng ta lạc nhau trong chiến tranh”. Khi từ giã Doãn mắt Phương Dung tràn ngập lệ....

Đến đây, đêm đã khuya, tôi đứng dậy từ giã Doãn. Doãn vẫn ngồi đó bên cạnh cây đàn Piano. Đôi mắt Doãn hầu như ngấn lệ. Doãn nhìn tôi, hai bàn tay Doãn trải dài lướt trên những phiếm đàn, Doãn vẫn một mình thều thào những lời tình tự Come Back to Sorrento của E. Curtis.

Mở cửa xe ngồi vào ôm tay lái, tôi nghe văng vẳng tiếng hát già nua của Doãn trong đêm thâu với bản nhạc Romance Số 2, của Phú Quang- Thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ:

“....Em chết trong nỗi buồn
Chết như từng giọt sương, rơi không thành tiếng.....
....Trong xứ sở của anh hiếm hoi niềm vui
Nỗi cô đơn khao khát đến nặng lòng
....Đi bên anh, em còn lạc lối về
Có đôi khi muốn ngã như chiếc bóng
Ta lẫn vào đêm không ai nhận ra mình
Em chết trong nỗi buồn
Em chết trong nỗi buồn
Em chết trong nỗi buồn.../.

Chicago July 14-2020 - (Để nhớ ngày sanh thứ 84 của tác giả)

Ghi Chú

(*) Đây là chuyện hoàn toàn hư cấu. Nếu vô tình có sự trùng lập tên họ với các nhân vật xin quí vị miễn thứ- Vô cùng tri ân - Đào Như.



Tuesday, February 5, 2019

VỊ THẾ VIỆT NAM QUA 
CUỘC ĐỐI ĐẦU MỸ-TRIỀU VÀ MỸ-TRUNG

Đào Như 
blank
Trong suốt những tháng qua có nhiều tin đồn đoán gần như chắc chắn buổi họp thượng đỉnh Mỹ-Triều-2 sẽ diễn ra tai Việt Nam có thể là Hà Nội hoăc Đà Nẵng. Hạ tuần tháng 1 vừa rồi Bình Nhưỡng xác định Chủ tịch Kim Jong un có chuyến viếng thăm Hà Nội vào cuối tháng 2 năm nay. Như vậy có nghĩa là ông Kim sẽ găp ông Trump tại VN? 

Hôm 31-1 vừa rồi Washington xác nhận Đà Nẵng sẽ là nơi mà Tổng Thống Donald Trump chủ động lựa chọn để gặp Chủ tịch Bắc Triều Tiên vào cuối tháng Hai. Sáng ngày 3 tháng 2 Washington xác nhận đội tiền trạm của phái đoàn Mỹ đã có mặt tại Viêt Nam. Ngày và giờ của thượng đỉnh Mỹ-Triều sẽ được Tổng thống Donald Trump loan báo trong Thông Điêp Tình Trạng Liên Bang hôm 5-2-2019 hoăc sau đó.

Nhiều người Mỹ gốc Việt hôm 4 tháng 2 rất ngạc nhiên khi nghe đài VOA tiếng Viêt đưa tin Tổng thống Donald Trump rất có thể gặp nhà lãnh đạo Bắc Kinh, Chủ tịch Tâp Cận Binh, tại Đà Nẵng trong hai ngày 27-28-tháng 2 năm 2019 để tìm cách đạt được một thỏa thuận nào đó về cuộc thương chiến giữa hai nước.

Chinh phủ Hà Nội chưa có phát biểu gì về tin này. Đây là sự thận trọng cần phải có của Hà Nội để tỏ ra không thiên vị-impartial media.

Trong khi đó theo báo Wall Street Journal-WSJ-cho hay hôm 31-1 tại Bach Ốc, phái đoàn TQ đề nghị ông Trump găp ông Tập trên đảo Hải Nam của nước này. Ai cũng biêt đảo Hải Nam có khu hành chánh Tam Sa được xây dựng từ năm 2012 có mục đích quản lý các đảo còn tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Hơn thế nữa TQ muốn lấy lợi thế của mình tại Biển Đông về vấn đề Tự do Hàng hải để làm vật trao đổi tại buổi đàm phán thương chiến với Mỹ.

Chắc chắn với độ nhạy cảm nào đó Tổng thống Donald Trump khó chấp nhận đề nghị của chính phủ Bắc Kinh như đã thấy. Khi cuộc đàm phán thương chiến Mỹ-Trung đươc tổ chức tai Đà Nẵng, Chinh phủ Mỹ đã gián tiếp cho thấy Hà Nội đã nghiêng về Washington. Dĩ nhiên chính phủ Bắc Kinh đã thấy điều đó: Chính phủ Hà Nội bất ngờ trở nên cứng rắn với TQ trên các vấn đề Biển Đông. Hãng Reuters đưa tin hồi cuối tháng 12-2018 phía Hà Nội muốn đặt ngoài vòng pháp luật những hành động mà Bắc Kinh đã tiến hành trên khu vực Biển Đông trong nhiều năm qua. Trong đó bao gồm việc xây dựng những đảo nhân tạo, triển khai các loai vũ khí phong tỏa biển như các loại tên lửa. 

VN còn ngăn chận TQ xây dựng Vùng Nhận Dạng Phòng Không-ADIZ-ở Biển Đông. Ngày 18-1-2019 tai thượng đỉnh Bộ Trưởng Ngoại giao ASEAN giới hạn-AMM-Retreat-tại ChiangMai-Thailand, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoai giao VN, Phạm Binh Minh lâp lại nguyên văn những điều phát biểu trên của Hà Nội, ông còn kêu gọi  các quốc gia ASEAN phải đoàn kết có tiếng nói chung và cùng VN minh định lại chủ quyền của các nước trên Biển Đông và tuân thủ luật quốc tế của LHQ về biển năm 1982. Rõ ràng Ngoại trưởng Phạm Binh Minh cố ý khơi lại sự phi lý về Bản Đồ Lưỡi Bò của TQ thâu gồm 80% diện tích Biển Đông một cách độc đoán, bạo ngược, không có cơ sở pháp lý và vi bằng lich sử mà Tòa Trọng tài Thường trực quốc tế -PCA- đã từng lên án gây gắt TQ.
Điều này rất phù hợp với chính sách của chính phủ Mỹ trong hiện tại, về tình hình Biển Đông.
             
Thấy rõ điều này cho nên Bắc Kinh thối thác không chấp nhận Đà Nẵng như là nơi tổ chức hai ngày đàm phán thương chiến Mỹ-Trung nếu không có áp lực từ Washington.

Đây là thời cơ vàng Tổng thống Donald Trump dành cho Viêt Nam tìm được lợi thế thoát Trung để bảo vệ nguyên trạng thưc địa của Biên Đông./.

Đào Như
Chicago-Feb-4-2019
Chiều ba mươi năm Mậu Tuất-

Tuesday, March 27, 2018

NỖI BUỒN CHIẾN TRANH

Từ lầu cao, ngồi nhìn nắng chiều chiếu sáng rực rỡ cả một vùng rộng lớn nóc phố Chicago và đỉnh tháp Sears Tower, Trọng suy nghĩ về Thạch Hùng, một bịnh nhân mà anh vừa gửi đến bác sĩ Fournier cách đây mươi phút. Anh nhớ lại trong buổi hội chẩn với bác sĩ Fournier về Thạch Hùng cách đó cách đó chưa đầy một năm, anh nghe bác sï Fournier nói về Thạch Hùng: 

‘‘Trong mùa Đông vừa rồi, cảnh sát nhặt anh ta trong hầm của bến xe đò Greyhound, ở Down-town Chicago. Lần đầu tiên tôi gặp Thạch Hùng, anh ấy nói chuyện với tôi nửa tiếng Pháp nửa tiếng Mỹ. May mà tôi cũng có vài năm học tại viện đại học Lyon (Pháp), tôi hiểu được anh ấy. Ngay những phút đầu gặp gỡ, anh anh nói chuyện với tôi có sức thuyết phục lắm. Anh ấy bảo anh ấy đến Mỹ từ phi trường quốc tế của Pháp, Orly, Paris. Anh miêu tả mùa đông Paris lạnh. Mùa Thu Paris đẹp. Anh đã sống nương náu, trong phi trường Paris nhiều năm, như một kẻ vô gia cư. Anh miêu tả người Pháp nói tiếng Pháp nghe hay, lảnh lót và âm điệu. Anh ấy cũng đi thăm Provence của nước Pháp. Anh xác định Provence là vùng đất miền Nam của Pháp, có nhiều di tích lịch sử văn học, quê hương của Alphonse Daudet. Anh đã viết những bài thơ ngay dưới cái cối xây gió, Moulin, ở đó Alphonse Daudet đả viết chuyện ngắn trữ tình “Les Etoiles”. Anh bảo với tôi, anh đi thăm Provence với cô bạn gái của anh, chính cô ấy mua vé máy bay cho anh một mình đi thăm nước Mỹ. Bây giờ thì anh nhớ cô bé ấy và anh khóc, anh than vãn: “Oh! Brigide Bardot, người em gái nhỏ bé của tôi ơi! Em xinh đẹp làm sao!  Đôi môi em lúc nào cũng sẵn sàng chờ đợi anh...” 

Đến đây thì tôi mới vỡ lẽ ra là anh ta bị hoang tưởng quá rôi. Anh còn nói thêm có cả Cathérine Deneuve tiển đưa anh lên máy bay đi Mỹ. Đọc lại hồ sơ, Cảnh sát Chicago khi nhặt anh ấy trong hầm xe bus Greyhound, họ tìm thấy trên ngực áo của anh ấy có một túi nylon trong đó có giấy giới thiệu của Trung Tâm Tâm Thần dành cho người Châu Á Thái Bình Dương tại Sacramento, gửi anh ấy đến Chicago để tìm bà con và để điều trị bịnh tâm thần theo lời yêu cầu của anh ấy”. 

Nói đến đây, bác sĩ Fournier ngừng lại, nhìn Trọng một chập, ông nói tiếp: “Lối gửi bịnh nhân đi nguy hiểm như vậy gọi là Greyhound Therapy. Vì chính họ mua vé xe đò Greyhound cho bịnh nhân, một lối tống bịnh nhân đi khỏi trách nhiệm của mình của một vài tiểu bang mà chúng ta đã phản đối! Đó là một hành xử sai, vô trách nhiệm.”

Nói đến đây, bác sĩ Fournier quay lại hỏi Thạch Hùng:
   - C’est vrai? Hùng?
   - Oh! Absolument! Thạch Hùng vừa nhún vai vừa trả lời, sau đó anh ngồi im lìm và quan sát buổi hội chẩn về anh.”
   Bác sĩ Fournier kể tiếp:
   “ Tôi gọi Trung Tâm Tâm Thần dành cho người Châu Á Thái Bình Dương ở Sacremento để moi thêm lý lịch của anh ta. Tôi được biết anh ấy trốn sang California cách đây một năm từ binh viện ở Boston, nơi mà cộng đồng người Khmer đông nhất. Ở Cali anh gặp rắc rối với cảnh sát là anh say rượu, đứng đái trên đường phố. Sau đó họ tìm trong túi anh có thẻ tùy thân chứng nhận anh là một người bị bịnh tâm thần. Cảnh sát đưa anh đến Trung Tâm Tâm Thần ở Sacremento để điều trị, và giúp đỡ anh về mặt xã hội. Nhưng theo lý lịch anh ấy trốn đến Boston từ Chicago. Tôi hy vọng, ông về tìm hiểu thêm chắc có vấn đề nên anh ấy mới bỏ Chicago tìm đến Boston…”

Sau này về tra cứu lịch sử và nguồn cơn của bịnh tâm thần của Thạch Hùng, Trọng mới hay Thạch Hùng, người Việt gốc Khmer, sanh tại Neakluong, một thí trấn sung túc ở biên giới phía Đông Campuchia. Gia đình Thạch Hùng, vì giặc giã, nên dọn về Trà Vinh và sau dời về Saigon. Thạch Hùng theo học chương trình Pháp tử hồi nhỏ, đậu xong lớp 12 chương trình Pháp tại Saigon vào năm 71. Thạch Hùng có học Dự bị Y-khoa-Saigon, nhưng đến năm 72 anh lại đăng kí vào học trường Võ Bị Quốc Gia - Đalạt. Trong một dịp tư vấn, Trọng hỏi:
  - Tại sao đang học Dự Bị Y khoa Saigon ngon lành, lại bỏ và thi vào Võ Bị Quốc Gia Dalạt?
  - Võ bị Quốc Gia Đa lạt cũng ngon lành lắm chớ. Cũng khó lắm mới được nhận vào. Tôi được nhận vào Trường Võ Bị theo “quota”, nhờ chính sách của chính phủ Viêt Nam Cộng Hòa, ưu tiên dành cho dân thiểu số Khmer, Chàm và Radé.
    
Qua những lần tư vấn tiếp sau đó, Trọng được biết Thạch Hùng đến Mỹ vào năm 75 sau khi Saigon mất. Gia đình của anh và người yêu, một người Việt Nam, cô giáo dạy Việt văn và cũng là sinh viên Văn khoa Saigòn, tất cả bị kẹt lại. Anh mất liên lạc với cha mẹ, gia đình, và người yêu của anh, hơn 8 năm. Có tin đồn, anh chưa kịp kiểm chứng, là gia đình và cha mẹ anh bị Khmer rouge giết sạch khi họ trở lại nhà cũ ở Neakluong, 1975. “Điều lo âu lớn nhất của tôi”, có lần Thạch Hùng nói trong giọng ngậm ngùi: “Khi chia tay với Thục Oanh, người yêu của tôi vào đêm 29/4/75 lúc ấy tôi biết nàng đang có thai, chúng tôi chưa kịp làm đám cưới”. Nói đến đây, bất giác Thạch Hùng đổi giọng tha thiết: “Nhưng tại sao Em! Em! Em nhất quyết đẩy anh đi để cứu lấy mạng sống của anh trước nhất”!.Thạch Hùng hai tay bưng mặt khóc rưng rưng, than khóc thống thiết: “Con tôi..! Vợ tôi..!”....
    
Đọc lại và nghiên cứu hồ sơ của Thạch Hùng, Trọng biết Thạch Hùng có ra hầu tòa nhiều lần. Anh muốn biết rõ hơn, cách đây vài tháng anh hỏi Thạch Hùng:
  - Làm sao trong tháng Giêng, tháng 2 và tháng 4, năm 82 anh ra hầu tòa cả thảy 3 lần, và cuối cùng được tha bổng?..Trọng rất ân hận sau khi hỏi câu hỏi ấy. Anh nhìn thấy những nét xốn xang, những vết hằn trên trán của Thạch Hùng có vẻ thâm đen hơn, sâu hơn. Thạch Hùng trình bày:
  - Tôi đến Mỹ vào tháng 7 năm 75, cuối 75 tôi có job và đi làm ngay, không nhận welfare. Tôi phụ sửa xe hơi. Ở trong nước tôi cũng biết chút ít nghề này vì cha tôi là thợ máy của hãng Renault ở Saigon. Ông chủ rất quí tôi. Tôi làm được 4 năm coi như khá tay nghề. Lương hậu hỉ. Tôi sống được. Tôi bắt đầu nghĩ đến vợ con tôi và gia đình tôi. Càng tìm hiểu tôi càng thấy mình thêm khốn đốn. Toàn những tin buồn, những tin khốn nạn cho đời mình. Không một tin vui. Nói đến đây mặt Thạch Hùng chan hòa nước mắt…
  - Mùa Thu 79, Thạch Hùng tiếp tục nói, không hiểu tại sao tôi buồn. Cảnh sắc lãng mạn trữ tình của mùa Thu Chicago làm quay quắt lòng tôi chăng? Ôi là nhớ! Không rõ mình nhớ gì? Nhớ nước, nhớ nhà, nhớ vợ, nhớ con, nhớ cha mẹ, nhớ anh em, nhớ buổi sáng đầu làng, nhớ buổi chiều cuối bãi, tiếng chó sủa khuya, tiếng gà gáy sáng. Khuya hôm đó tôi ngồi bên cửa sổ, nhìn trăng Thu, không sao ngủ được. Tôi thấy Thục Oanh! Thục Oanh của tôi! Ôi nàng! Nàng tay bế con, tay lái xuồng. Con trai tôi… Ôi! Thục Oanh! Nàng cố chèo thuyền vượt sóng ra cửa sông ông Đốc. Thuyền bềnh bồng. Gió! Gió! Ôi là gió! Khốn nạn ông trời không thương vợ con tôi! Cuồng phong, hất tung, thuyền lật. Vợ tôi! Vợ tôi cố bế lấy con tôi đưa con tôi lên cao réo gọi tôi “Thạch Hùng! Giử lấy con! Giử thật chặT đừng để tuột con! Mất con! Em chết. em chết đây!..Tôi liền tung người nhảy xuống nước, cố cứu lấy vợ tôi, con tôi...
     
Sáng hôm sau thức dậy tôi nghe người đau đớn nhức mỏi, mở mắt ra thấy mình nằm trên giường bịnh trong bịnh viện, hai chân bó bột. Bác sĩ Kaplan đến thăm tôi. Ông hỏi tôi tại sao tôi nhảy lầu tự tử hồi nửa khuya đêm qua? Tôi sửng sờ, tôi không biết, không hay điều gì hết. Thế giới trở thành xa lạ. Và bắt đầu từ đó tôi nghe hằng ngày lời réo gọi của vợ tôi, tiếng khóc của con tôi. Tôi hứa với em, anh giử con! Anh sẽ nuôi con!..Người chung quanh tôi nghe tôi nói họ không biết tôi nói gì…Họ sống trong một thế giới khác, hoàn toàn khác.  Sau khi xuất viện bác sĩ Kaplan gửi tôi đến gặp bác sĩ tâm thần Mark Heindermann. Tôi biết từ đó thế nào là tư vấn tâm thần, điều trị tập thể. Bác sĩ Heindermann bảo tôi là nạn nhân của bịnh tâm-thần-phân-liệt, schizophrenia. Nhưng tôi nhất định cải ông ta, và bảo ông ta sai. Tôi nhất quyết với ông ta tôi không phải là nạn nhân của schizophrenia. Tôi là nạn nhân của chiến tranh! Ông ta há miệng, hai tay ôm đầu, sửng sốt nhìn tôi. Ông ta nói thật nhỏ: “Probably, you are right!”. Nói đến đây, Thạch Hùng dừng lại một chập để thở. Anh tiếp tục:
   - Mùa Thu năm 1981! Lại cũng mùa Thu! Đêm hôm đó tôi đem về phòng một con “Poule blonde”! 
   - Anh muốn nói sao? Một con điếm tóc vàng?
  - Vâng! Một cô điếm tóc vàng, bác sï ngạc nhiên sao? Lúc đó coi vậy mà làm ra tiền dễ dàng hơn bây giờ. Người Mỹ ai cũng thương hại mình. Ai cũng muốn mướn mình làm cho họ. Mấy cô điếm lậu ở vùng Uptown này cũng tốt nữa. Họ lấy tiền rẽ hơn. Giá ‘sale’ mà! Họ biết mình là “refugee”. Tất cả đều nghèo với nhau. Nhưng cô em này thật đặc biệt. Giọng nói em trầm bổng, da trong trắng như Thục Oanh. Vâng,  em đẹp như Thục Oanh.  Em đẹp và sang trọng như Thục Oanh của tôi. Đến khuya em đòi về. Tôi năn nỉ em ở lại với tôi. Em không chịu ở. Tôi quì xuống chân em, van xin em ở lại với tôi đến sáng. Tôi sẽ trả tiền cho em gắp 10 lần. Tôi khóc! Không hiểu sao, em cũng bậc khóc.  Em ôm tôi nức nỡ, em gọi tôi là Paul: “Oh! Paul! Oh! Paul!..I miss you now! What’s the hell, our life?”. Tôi thấy cô em cũng buồn. Nhưng em đâu có biết càng thấy em buồn, tôi càng nhớ Thục Oanh. Tôi thương cô em quá chừng. Sáng hôm sau em đánh thức tôi dậy. Em từ giã tôi. Tôi cho tiền em nhiều như tôi hứa. Tôi nắm chặt tay em. Tôi hôn em tha thiết. Tôi trao cho em chìa khóa và giấy chủ quyền chiếc xe Park Avenue, tôi mới mua. Tôi bảo với em: “tôi xin biếu em chiếc xe này để làm kỷ niệm, chúng ta đã một lần gặp nhau trên cõi trần này!”. Và tôi nói thêm: “Em hãy dùng chiếc xe này để chở con đi học hàng ngày nghe em.”. Tôi thấy Em kinh hãi. Em nhìn tôi, há hốc miệng, Em nói lớn:
   - Oh! No! No!..Và em có ý thoát chạy.
  
Tôi nắm chặt cánh tay em mặc cho em vùng vẫy. Tôi chụp cái dao trên bàn ăn, tôi dí vào ngực em, tôi nói:
   - Nếu em không nhận chiếc xe này, tôi sẽ giết em và sau đó tôi sẽ tự vận tôi chết...Tôi buông dao, tôi quì xuống ôm hai chân em tôi khóc...Tôi thấy mặt em tái xanh nhợt nhạt, giống như gương mặt của một người bị chìm tàu, bị chết đuối.
     Em nói vào tai tôi:
   - Ok! Ok! I’ll have your car, và em bước ra khỏi phòng… 
    
Tôi sung sướng mình đã làm một nghĩa cử. Tôi hy vọng, biết đâu ai đó ở Việt Nam cũng làm một nghĩa cử như vậy cho Thục Oanh. Tôi ngủ lại lúc nào tôi không hay…với niềm vui sung sướng trong lòng…
     
Gần 1:00 giờ trưa, có tiếng ai đấm vào cửa phòng tôi. Tôi vừa mở cửa, hai người cảnh sát hùng hổ ụp vào phòng tôi. Đè tôi xuống còng tay tôi và họ bảo tôi là kẻ có ý phạm tội, kẻ có ý giết người. Họ chở tôi đến cảnh sát cuộc, gần nhà. Hai người cảnh sát áp tải vào phòng giam. Sau đó một người cảnh sát cho tôi hay là tội can tôi hâm dọa giết người. Ông bảo là cô bé tóc vàng thoát chạy ra khỏi phòng tôi, đã gọi cảnh sát và tường thuật mọi việc xảy ra lúc sáng sớm giữa tôi với cô gái tóc vàng. Nói xong ông ta đưa chia khóa xe và giấy chủ quyền lại cho tôi. Ông gọi điện thoại đến hội Khmer Project và ông yêu cầu hội Khmer Project đến bảo lãnh tôi về, và chờ ngày ra tòa. Những người cảnh sát ở đây họ đều biết tôi, họ đã nhiều lần đưa tôi vào bịnh viện Chicago Read cấp cứu…
   - Chuyện nghe đơn giản, nhưng tại sao anh phải ra hầu tòa đến ba lần? Trọng hỏi.
   - Chuyên nghe đơn giản là vì ở cảnh sát cuộc ai cũng biết tôi. Nhưng việc truy tố phải tiến hành đúng thủ tục. Chính họ cũng nói như vậy với ông Sanari, chủ tịch của Khmer Project khi ông này đến đóng tiền “bail” cho tôi về...Sau biến cố đó, tôi bỏ Chicago, đi Boston, vì ở đó có nhiều bạn bè của tôi. Không bao lâu tôi lại xung đột với tụi nó, tôi bỏ đi Cali…Rồi tôi lại về  Chicago. Mới biết Chicago, đất lành chim đậu...       
     
Kể lại chuyện xưa, Thạch Hùng không hề tỏ vẻ một tí gì ân hận việc mình làm. Anh có vẻ trầm mặc, suy nghĩ mông lung. Ngừng một hồi lâu, Thạch Hùng nói:
   - Nghĩ cho cùng cũng tại tôi. Khi một em bé xin tôi một miếng cam, tôi cho em một trái cam em ấy sẽ kinh ngạc. Đàng này tôi cho em một thúng cam, em chạy trốn là phải! Tôi nghe ông Xuân Diệu nói như vậy.
   - Anh cũng đọc văn của Xuân Diệu ?
   - Có chứ! Tôi có đọc “Phấn Thông Vàng” của ông ta, Thục Oanh mua cho tôi nhiều sách lắm…Sau câu nói ấy, mặt Thạch Hùng trông buồn đau đáu. Anh thầm lặng đứng dậy, bắt tay Trọng ra về…                  

Mười ngày, sau khi bị cảnh sát điều đến Chicago Read, Thạch Hùng trở lại gặp Trọng. Theo lời ghi chú trên giấy xuất viện, bác sĩ Fournier tình trạng tâm thần của Thạch Hùng rất khả quan. Trọng cũng nhìn thấy Thạch Hùng đổi khác và tỉnh táo hơn nhiều. Thạch Hùng rất ngoan ngoãn hợp tác, biết lắng nghe anh nói. Thạch Hùng uống thuốc đều đặng, không bao giờ anh sai hẹn trong việc tư vấn. và chủ động tham dự nhóm điều trị tập thể. Khi thấy Thạch Hùng phục hồi tốt trí nhớ, Trọng gửi Thạch Hùng đến học Hội họa tai trường Truman College, hay học vũ cổ truyền của Khmer tại Trung tâm Khmer Project. Thạch Hùng rất thích và rất tự hào về vũ cổ truyền Khmer…

Một buổi sáng Trọng đang loay hoay soạn các files của bịnh nhân để xem lại để làm tổng kết hằng tháng, một bàn tay đặt trên vai anh. Anh quay lại, Thạch Hùng vui vẻ chào anh. Thạch Hùng hớn hở báo cho anh hay là còn hai ngày nữa anh ta “lên đường về thăm nước, thăm nhà”.
    Trọng bảo:
   - Hạnh phúc nhỉ..
   - Nhất định rồi, Thạch Hùng sung sướng cười ngoặt-ngoẹo…
    
Anh thấy mừng và thương Thạch Hùng.  Hôm đó là ngày 19 tháng 12 năm 1996. Tính đến nay hơn 12 năm qua, lúc nào Thạch Hùng cũng được anh tận tình chăm sóc, giúp đỡ, khi thì đề bạt Thạch Hùng làm hội viên danh dự của Trung Tâm bịnh Tâm thần, khi thì cho Thạch Hùng làm trưởng toán trong buổi điều trị tập thể...Trong những năm đầu với Trọng, từ năm 84 đến năm 89, tình trạng tâm thần của Thạch Hùng khi co khi giãn, khi trầm khi bổng, nhưng lúc nào anh cũng giử đúng hẹn với Trọng. Có lẽ nhờ cái thiện cảm nồng hậu, empathy, mà Thạch Hùng tìm thấy ở Trọng đối với anh ta, như sau này Thạch Hùng có đôi lần thổ lộ, nhờ đó mà anh đã gắng bó và tin tưởng ở Trọng. Có lúc Thạch Hùng tự nguyện làm em nuôi của Trọng. Trọng cảm thấy hạnh phúc và kiêu hãnh về những thành quả của khả năng tư vấn tâm thần của mình. Anh đã phục hồi chức năng xã hội và tâm thần của biết bao nhiêu người, trả lại cho họ đời sống bình thường, lao động và sản xuất. Từ năm 89, Trọng thấy Thạch Hùng có thể tự mưu sinh được, và Trọng cũng nghĩ đã đến lúc trả Thạch Hùng lại đời sống bình thường hay ít ra cũng phải tập Thạch Hùng cho quen lại với cuộc sống. Cuối cùng Trọng tìm cho Thạch Hùng cái job partime, đứng rửa chén, dishwasher, tại một nhà hàng ở downtown/Chicago. Thạch Hùng được job này là nhờ bề ngoài anh trông tráng kiện, da ngâm đen, nói lưu lót tiếng Anh lẫn tiếng Pháp. Có lần Thạch Hùng khoe với anh:
   - Không ngờ cái job dishwasher trông vậy mà khá ghê..Tôi được share tiền ‘tip’, với những bồi bàn. Tiền ‘tip’ thực khách ở Chicago Downtown họ cho thật hào sảng. Tiền ‘tip’ luôn luôn nhiều hơn tiền lương tôi làm. Partime job mà ngon lành như fulltime job..
Nhìn đồng hồ đã 12 giở trưa, Trọng hỏi Thạch Hùng:
   - Nào! Cậu đói bụng chưa? Đi ăn phở với tôi. Tôi đãi cậu một chầu, còn hai ngày nữa là cậu được về thăm nhà.
   - Vậy thì ngon lành quá, cho em ăn hai tô nghe?
    Nói xong Thạch Hùng cười ngất. Hai người cùng bước xuống phố. Trên đường Broadway, Trọng nhắc lại:
   - Chúng mình ăn phở Hoà nhé?

Thạch Hùng nhất định xin cho bằng được đi ăn mì Quảng ở Hạ Miên trên đường Sheridan. Ngồi vào bàn ăn, Thạch Hùng thao thao kể lại chuyện, mà anh nói đùa là “chuyện tình dang dở”:
   - Thục Oanh, lớn hơn em 2 tuổi. Nhất gái hơn 2 mà! Cô ấy sanh ở Hà nội, khu phố Hai Bà Trưng, di cư vào Nam năm 54, lớn lên tại Hội an, vào Saigon học đại học Văn Khoa. Thục Oanh dạy em cách ăn mì Quảng vì cô ấy rất thích mì Quảng. Thục Oanh thường tự xưng mình là “gái xứ Quảng”. Lạ anh nhỉ? Người Thăng Long ấy, lại cho mình là “gái xứ Quảng”. Nói đến đây Thạch Hùng cười sảng khoái.
    
Trọng rất ngạc nhiên, lần đầu tiên Thạch Hùng nói tiếng Việt trong giọng Bắc. Tuy nghe không được chuẩn lắm nhưng Trọng thấy hay hay, Trọng bảo:
   - Lần này về, chúc anh gặp lại người yêu.
   - Mong rằng như thế. Biềt đâu, em còn sống. Em đã tay bồng tay bế cháu nội cháu ngoại, không chừng...Nói xong, Thạch Hùng lại cười ngất. Trông anh ấy thật vui sướng.
   
Trọng nhìn Thạch Hùng ăn tô mì Quảng, ăn với tất cả đam mê. Thạch Hùng phân tích:
   - Cái này là rau ghém. Lần đầu tiên ăn mì Quảng với Thục Oanh, em mới biết được món rau ghém!..Cũng như bún bò Huế, ăn mì Quảng thường ăn với ớt cay. Ớt thật cay, cay xé lưỡi.
   - Cô ấy có bao giờ đưa anh đi ăn các món Bắc không?
   - Có chứ! Nhất là phở, bún riêu, bánh cuốn…các món ăn thuần túy Bắc trong Bùng binh Eden, Saigòn, trong hẽm trên đường Catinat. Nhất là trong những ngày gần cuối tháng Tư -75, người Bắc họ đến đó để ăn, cũng đồng thời để trao đổi tin tức cho nhau để họ chạy. Nói đến đây, Thạch Hùng trông có vẻ đâm chiêu.
     
Thấy vậy, Trọng bảo:
    -  Ăn khỏe lên nào. Để mà chạy với họ chớ. Kẹt ở lại khổ lắm đấy…
    
Trọng ngừng lại, anh có vẻ ngạc nhiên, hỏi Thạch Hùng:
    -  Ăn phải ớt cay, sao hai mắt đỏ hoe?
    -  Không! Em đang suy nghĩ…
    -  Lại suy nghĩ!
    - Biết đâu,..Thạch Hùng ngập ngừng, anh em mình gặp nhau hôm nay là lần cuối...Trên đường về thăm nước, nhiều bất trắc lắm, làm sao ai biết trước được. Nhất là nghe nói Khmer Rouge vẫn còn đâu đó, trên đất nước Kampuchia. Cảnh cũ người xưa, đất nước quê hương, khi xa thì thương, thì nhớ, nhưng khi giáp mặt, trong thực tế, nhiều lúc cũng đắng cay lắm! Sau chiến tranh chưa phải là hòa bình. Em chưa thấy hòa bình sau chiến tranh! Sau chiến tranh còn nhiều ngộ nhận, nhầm lẫn và hận thù phi lý lắm anh ạ.
    - Anh lại nghĩ vẫn vơ rồi. Trời Phật thương anh. Anh an tâm hạnh phúc đang chờ anh nơi quê nhà, Neakluong, Sàigon, Hà nội, Hội an, Nam vang nữa. Nhớ ghé bùng binh Eden, ăn hộ tôi hai tô bún riêu nhé…
    
Vừa ăn xong tô mì Quảng, Thạch Hùng xin phép về, mặc dầu Trọng nài nỉ anh ăn thêm tô thứ hai như anh ấy muốn. Thạch Hùng đứng dậy, đưa hai bàn tay bắt tay Trọng. Anh đứng dậy ôm lấy Thạch Hùng và siết mạnh:
    - Vui lên nào, chúc anh thượng lộ bình an. Nhớ nhé, viết thư cho tôi hằng ngày như viết nhật ký vậy.
   Thạch Hùng cười:
    - Em sẽ…
   
Nhìn theo Thạch Hùng bước ra khỏi quán ăn Hạ Miên, một niềm thương cảm dâng lên trong lòng và Trọng thấy mắt mình cay xè…

Trọng chú ý trong xấp thư vừa gửi đến anh, có một phong bì lớn, gửi đến từ San Francisco, người gửi là Thạch Hùng. Vỏn vẹn chỉ có thể. Không có địa chÌ. Bốc phong bì ra xem, anh thấy
một tập vở học trò, kẹp trên bìa là thư của Thạch Hùng gửi cho anh:

Anh Trọng kính mến..     
Em đã trở về Mỹ sớm hơn dự định! Em đang vui vẻ với bạn bè tại Cali. Em sẽ về lại Chicago vào khoảng đầu tháng Ba. Em xin gửi đến anh tâp nhật ký của em từ ngày em về thăm nhà đến ngày hôm nay. Nếu có những ý tứ vụng về, không thích hợp với anh xin anh lượng thứ. Đọc xong xin Anh gửi bưu điện trả lại cho em theo địa chỉ của em tai Chicago. Cám ơn anh đã bỏ thì giờ quí báo đọc những dòng hồi kí của em.

Một bịnh nhân tâm thần của anh.
Kinh thư
  T.H.
SF. Feb- 97

Tâp vỡ học trò, là tâp nhật ký của Thạch Hùng, chữ viết nắn nót cẩn thận, ý và lời chính xác  chân thật, nhiều khi hàm súc và cảm động. Suốt tập nhật kí không hề có xóa hay nguệch-ngoặc. Chứng tỏ rắng đó là tâp nhật ký chép lại từ một nhật ký khác, chọn lọc và ghi chép lại những suy nghĩ của Thạch Hùng trên đường về thăm nước có liên quan đến Trọng, như Thạch Hùng thường nói đùa “em sẽ viết riêng cho anh một tập nhật kí, để sau này trước khi em chết em sẽ gửi đến cho anh đọc”. Cầm tâp nhật ký của Thạch Hùng trên tay, Trọng vừa nhớ đến câu nói đó của Thạch Hùng, khiến anh rùng mình. Thạch Hùng viết tràn ngập gần 40 trang giấy vở học trò. Đọc nhật ký của Thạch Hùng có lúc anh phải khựng lại thấy lòng mình bồi hồi, thương cảm…Có nhiều đoạn khi đọc anh cảm thấy lo âu và thương Thạch Hùng vô hạn…Trọng chép lại những đoạn sau đây để gìn giữ xem như phần tư liệu về Thach Hùng.

Chicago, ngày 21-12-96:  9:00 sáng
      Xin từ giã Chicago, nơi đã bao dung tôi hơn 20 năm qua. Ôi Chicago, thành phố lạnh. Cái lạnh vô cùng thân thương của Chicago dể mấy ai quên. Phen này ta đi xa thật xa Chicago .. Giã biệt anh Trọng-Người cưu mang tôi xuyên suốt 13 năm…

* San Francisco, ngày 21- 12- 96:
       Bây giờ là 4 giờ chiều, giờ San Francisco, sau hơn 20 năm ở Mỹ, lần đầu tiên ta bỏ nước Mỹ ta đi thật xa. Ta nghe chừng như dễ lắm. Đâu có ngờ cũng có phút giây mủi lòng. Máy bay sau khi bay một vòng giã biệt Golden Gate và San Francisco Bay, hướng về phía tây bên kia bờ Thái Bình Dương, ta bổng thấy lòng mình rạt rào tình cảm, mong ngày sớm trở về nhìn lại đất nước Mỹ. Ta đâu có ngờ có ngày nào đó mình lại nhớ thương nước Mỹ nhiều đến như vậy. Chưa xa mà đã nhớ, lạ quá anh Trọng nhỉ…

* Đài  Bắc,  23-12- 96-
       Đài Bắc đây rồi. Phố xá xinh đẹp khan trang. Con người sang trọng. Du khách được tiếp đón như ông vua, như bà hoàng. Tất cả chỉ là Business. Nhật bổn, Đại Hàn, Đài Loan, Sin gapore và Thái Lan đã làm giàu nhờ chiến tranh Đông dương, những năm 60 và 70. Sang thời hậu chiến họ tiếp tục làm giàu nhờ đầu tư vào các nước Đông dương với phương châm: “biến Đông Dương từ chiến trường thành thương trường”. Nghe đau anh Trọng nhỉ! Chính một “con mụ” Đài loan ngồi bên cạnh tôi trên máy bay, nói như vậy

Đọc đến đoạn này Trọng rất thích thú trí nhớ của Thạch Hùng hoàn toàn phục hồi còn tốt hơn trí nhớ của anh nữa. Hơn thế nữa trí nhớ của Thạch Hùng rất cập nhật, rất up-to-date! Anh thích thú khi Thạch Hùng gọi một phụ nữ Đài Loan: “con mụ”, rất Quảng Nam, rất Thục Oanh của Thạch Hùng. Trọng rất kiêu hãnh đã giúp Thạch Hùng phục hồi lại hoàn toàn chức năng xã hội và tâm thần, đã phục hồi trí nhớ của Thạch Hùng. Anh đã trả lại cho Thạch Hùng những gì đã mất trong những năm trời Thạch Hùng mất trí nhớ! Anh kiêu hảnh làm sống lại ở Thạch Hùng quá khứ, quê hương và tình yêu. Anh thật thà hãnh diện khi đọc đoạn nhật ký ấy của Thạch Hùng.

* Trên bầu trời Saigon 23-12-1996
      Các chiêu đãi viên hàng không cho hay là máy bay đang tiến vào bầu trời Saigòn theo hướng Tây Nam. Nhìn xuống thấy toàn một màu xanh, rừng và đồng lúa, xanh một màu xanh dân tộc.   Cô chiêu đãi viên hàng không giọng lảnh lót: “các loan lỗ khoanh tròn mà quí vị nhìn thấy đó là hố bom ở vùng Củ chi, Tam Giác Sắt, thời gian chưa kịp xóa”. Nghe đến đây lòng tôi se thắt lại. Tôi không muốn ai nhắc lại, tôi cũng không muốn tôi phải nhìn thấy lại dấu binh lửa, một thời tràn ngập trên quê hương tôi, cùng với lòng hận thù. Một thời phi lí. Anh Trọng, nếu anh có mặt trên chuyến bay này anh nghe anh cũng buồn…

* Saigòn 25-12- 1996
     Giáng sinh Saigòn, Joyeux Noel! Đường phố vui nhộn. Người ngoại quốc ờ Saigòn và ở trên toàn cỏi Việt Nam lúc bấy giờ đông hơn, nhiều hơn trước 75, đủ mọi giống dân trên thế giới.  Đường Catinat và Lầu 9 Caravelle và cả Saigòn Chợ lớn, tràn ngập khách chơi, nhảy đầm và ca nhạc quốc tế. Khách chơi đủ mọi cỡ: mật vụ, tình báo, chính trị, business, văn nghệ sĩ...gays, lesbians, bisexuals v..v..mặc dầu Đông Nam Á đang cơn khủng hoảng kinh tế…coup de crash. Tôi tìm kiếm Thục Oanh giữa Saigòn- Như đáy bể mò kim. Làm sao tôi gặp được. Tôi cầu mong giờ này nàng đang đi lễ với mẹ, với chồng con tại Nhà Thờ Cửa Bắc ở Hà Nội. Càng tìm Thục Oanh, anh Trọng ơi, tôi càng cảm thấy khó gặp được nàng. Có chăng là ở cuối đường đời!

* Neakluong- Ngày 8 tháng Jan 1997
     Vượt kinh Vĩnh Tế đi về Neakluong cả đất nước Kampuchia đồng không mông quạnh. Có chăng là những đám người buôn lậu qua lại vùng biên giới Việt Miên, hàng đoàn người và xe, người Việt, người Hoa và người Campuchia. Tôi tốn cả ngàn đô, cho các cán bộ xã, huyện, vẫn không tìm được mồ chôn hay hài cốt cha mẹ anh chị em. Tôi bị lường gạt đến độ thô bỉ, không còn tình người. Tôi không muốn đến Nam Vang hay đi thăm Battambang. Tôi cũng không muốn trở lại Saigòn. Tôi không muốn về Mỹ, một nơi không phải là quê hương tôi. Anh Trọng, phải có anh trong lúc này. Tôi không biết đi đâu về đâu bây giờ.

* Saigòn 20-Jan-97
    Hết ngày dài rồi lại đêm thâu”…tôi đang sống những ngày chui rúc với bọn Tây Balô, bọn thanh niên da trắng, bọn “con nhà giàu Âu và Mỹ bụi đời” ở đường Bùi Viện và Ngã Tư Quốc Tế! Phòng ngủ không có máy lạnh, 10 đô một ngày. Tự do dẫn gái điếm vào. Có đứa sang không mướn phòng ngủ, ngủ dưới mái hiên, dưới gầm cầu. Gái điếm vây kín tụi này. Bọn Tây balô gọi gái điếm là những người lao động sex, Sex Workers. Nghe thật là Cách mạng anh Trọng nhỉ! Có nhiều sex workers trẻ quá, trẻ đến độ thương hại. Tôi kết thân với bọn Tây Balô bằng tiếng Pháp tiếng Mỹ, thoải mái, cũng như ăn tục nói phét. Có nhiều lúc tôi cũng đâm ra ham muốn các em sex workers này. Nhưng không hiểu tại sao lúc đó tôi lại nghĩ đến Thục Oanh. Tôi hổ thẹn. Tại sao vậy anh Trọng? Ở Chicago tôi chơi cả trăm con đĩ lậu có đôi lần tôi cũng nghĩ đến Thục Oanh mà tôi có bao giờ hổ thẹn đến độ xót xa như vậy đâu!...Có con bé xâm trên tay: ‘Trôi&Giạt’, tóc hớt ngắn kiểu con trai, đến ngồi bên cạnh tôi, nó thì thầm hát: “...Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ...Tóc demi garcon...”. Nó làm tôi nhớ Thục Oanh vô hạn. Tôi lên cơn điên. Tôi thét vào mặt nó. Tôi đuổi nó đi chỗ khác. Nó kinh ngạc. Nó lẩm bẩm nhìn tôi:“ làm dzì dzữ dzậy?”.  Anh Trọng, tôi chưa bao giờ là kẻ khốn nạn đến như vậy!

*Tân Định Feb 13-1997
      Tôi vừa trở lại Saigòn từ Hội an. Thật sự tôi cũng không hiểu tôi đến lại Hội An để làm gì? Thật là mơ mộng hão huyền nếu tôi nghĩ rằng tôi trở lại Hội an để tìm Thục Oanh trong lúc này, chẳng khác nào tôi tìm lại dấu chân chim đi trên cát 22 năm về trước. Nhưng sự thật tôi trở lại Hội an là vì vậy đó. Tôi yêu Thục Oanh, tôi nhớ Thục Oanh đến độ khùng điên như vậy đó. Anh có tin nổi không? Anh Trọng! Có phải chăng tình yêu của tôi với Thục Oanh là cả một định mệnh? Nhưng dù sao chúng tôi đã yêu nhau thực lòng, yêu cuồng nhiệt, yêu nhau như hổ đói gặp mồi. Xin hãy cám ơn định mệnh. Xin mỉm cười trước định mệnh dù cho định mệnh quá phũ phàng với tình yêu, với kiếp nhân sinh…

 *Đalạt 20-Feb-97
     Tôi đã thề là không trở lại Đalạt. Làm sao tôi có thể sống được khi tôi trở lại nơi này, nhìn lại Trường Võ Bị Quốc Gia Đalạt, thiên đường của những chàng trai yêu nước. Ấy thế mà tôi đang ngồi trong “Quán Cơm Niêu” tại Đalạt đây. Tôi đang ăn món “Da Heo Rừng Xào Măng” và uống chai la de “33”, nghe sao đắng chát! Cách đây 3 hôm, tại Saigòn, tôi gặp một người đàn bà gọi đúng tên tôi bằng tiếng Khmer, bà Khampha. Bà là vợ của người bạn đồng khóa Võ bị với tôi! Bà cho tôi hay là bà cũng là Việt kiều như tôi. Bà tìm tôi hơn mười năm nay. Năm 1984 gia đình bà, Thục Oanh và đứa con trai tôi cùng vượt biên trên một tàu. Tất cả bị hải tặc Thái lan giết sạch. Bà sống được là vì bà biết tiếng Thái. Hải tặc Thái cho bà cái phao, nó thả bà gần bờ Songkhla, sau khi tụi nó thay phiên hiếp dâm bà. Bà đến Mỹ 1986, sau gần 2 năm ở trại Lâmsin, TháiLan. Nói đến đây bà khóc. Gặp được tôi bà rất mừng vì bà đã trút được gánh nặng mà bà chịu đựng hơn 10 năm qua....
     
Tôi trở lại Dalạt là vì thế. Vì tôi quyết tâm tìm lại kỷ niệm của chúng tôi, để vớt vát phần nào trước khi về Mỹ. Tôi nhầm. Hơn 20 năm rồi, tất cả đều xóa sạch...Bây giờ là tháng Giêng, Đàlạt sương mù… Tôi nhìn ra hồ Than Thở, qua lớp sương mù, tôi thấy Thục Oanh, nàng vẫn đứng chờ đợi tôi nơi này hơn 20 năm ...Tôi vụt đứng dậy. Tôi vẫy gọi Thục Oanh ...Tôi đụng phải nồi cơm niêu và chai lade ngã lăn...Tất cả thực khách đều nhìn về tôi. Tôi bước ra khỏi quán, phố Đà lạt đầy sương mù tháng giêng…

Một đoạn không ngày tháng
     Thôi hết rồi. Giờ này đối với đất nước quê hương, tôi là một kẻ xa lạ, một ngoại kiều. Tổ quốc từ bỏ tôi. Tôi mất tất cả! Cha mẹ, gia đình, người yêu và con của tôi... đều bị giết! Tất cả đều từ bỏ tôi. Với ý nghĩ này tôi thật xốn xang gần như tuyệt vọng. Tại sao tôi phải trở về tìm lại quê hương? Tìm lại Thục Oanh? Tại sao? Anh Trọng? Anh ác độc với tôi quá! Tại sao anh không để tôi sống trong mê mụ, trong thác loạn tâm thần, trong khoảng chân không, trong vô thức, trong amnesia...cho đến khi tôi chết có đỡ khổ hơn không? Anh có biết tôi đau khổ biết là dường nào khi tôi nhớ lại thân phận của tôi, tôi nhớ lại Thục Oanh, tôi nhớ lại gia đình, tôi nhớ lại quá khứ, quá khứ của quê hương, quá khứ của chiến tranh bom đạn, của nghèo đói lạc hậu, của hận thù phi lý…

Đoạn nhật kí trên khuấy động tư tưởng Trọng mãnh liệt đến độ anh cảm thấy đau đớn. Anh có cảm tưởng mình vừa thức tỉnh sau cơn mê mụ. Anh rất mong sớm gặp lại Thạch Hùng…

Chicago, một buổi sáng cuối tháng 3-1997, Trọng úp vội điện thoại, anh phải đến ngay bịnh viện. Anh vừa nhận được điện thoại báo cho anh biết Thạch Hùng đang ở trong phòng cấp cứu hồi sinh muốn gặp anh. Anh vô cùng băn khoăn. Thạch Hùng trở về Chicago bao giờ? Tại sao Thạch Hùng không đến gặp anh? Tại sao Thạch Hùng lại nằm trong phòng cấp cứu hồi sinh?…

Bà điều dưỡng đưa Trọng đến giường Thạch Hùng, bà ấy nói:
   - Ông ta dường như hôn mê lại. Sáng nay, ông ta tỉnh lại, nhắc tên ông, và hình như ông ấy nói muốn gặp ông. Ông ấy chỉ ú-ớ không rõ ràng. Tôi biết được tên ông chính xác là nhờ ông ấy có giấy tùy thân, trên đó có tên ông và số điện thoại để gọi khi cần. Ông ta nhập viện tối hôm trước. Ông ta nhảy lầu tự tử, chấn thương sọ não và hôn mê khi nhập viện lúc 3 giờ sáng. Không có thân nhân, tuy thế bác sĩ vẫn tiến hành phẫu thuật cấp cứu. Sau hơn 24 giờ, ông ta có dấu hiệu hồi phục, ông ta biết cử động ngón tay, cử động hạ chi. Ông là người đầu tiên cũng là người duy nhất ông ta cố gắng nhắc đến tên khi ông ta hồi phục tốt hơn một tí. Bây giờ hình như ông ta hôn mê lại. Triệu chứng xấu quá. Ông ráng ngồi lại với ông ta một lúc. Ông ta không còn ai ngoài ông. Nói xong bà điều dưỡng bước ra ngoài…
    
Trọng cúi xuống gần tai Thạch Hùng, anh gọi tên Thạch Hùng rất khẽ! Anh để bàn tay nhẹ trên ngực Thạch Hùng. Anh nghe Thạch Hùng cố ưỡn người lên dưới bàn tay của anh. Thạch Hùng ú ớ gọi:‘ngoi lên em…nước cuốn…nước cuốn..em..em...”! Hơi thở Thạch Hùng yếu dần… Anh nắm lấy tay Thạch Hùng. Anh ngồi xuống bên cạnh giường bệnh. Anh lịm đi…Bà điều dưỡng đến lay anh đứng dậy. Anh ngẫn đầu nhìn điện tâm ký của Thạch Hùng chỉ còn một đường dài gần như phẳng lì. Bà điều dưỡng nhún vai, nhìn anh…bà lặng lẽ kéo tấm drap trắng phủ từ chân lên đầu và mặt của Thạch Hùng…

Trọng ra khỏi bịnh viện lúc 11 giờ trưa.  Anh cố đi xa khỏi bịnh viện càng nhanh cáng tốt và anh cũng không biết là mình đi đâu về đâu. Bây giờ là cuối tháng Ba, Chicago! Tuyết và lạnh! Anh cảm thấy cô đơn lạc lỏng. Anh đau khổ tột cùng. Anh không hiểu rõ chính mình. Anh tư hỏi anh đã làm gì cho Thạch Hùng? Anh có trách nhiệm với cái chết của Thạch Hùng? Anh đau đớn và bối rối. Anh bước vào xe train như bước vào cõi vô thức. Anh đi đâu đây bây giờ? Anh không đủ can đảm trở lại văn phòng. Tất cả mọi việc đều trở nên vô nghĩa với anh trong lúc này. Chuyến xe train mang anh vào downtown, trung tâm Chicago. Ra khỏi xe train, anh vượt đèn đỏ, suýt bị tai nạn. Mặc còi xe hét inh ỏi, thế giới xung quanh anh toàn những người xa lạ, anh lầm lũi đi, và cũng chẳng biết mình đi về đâu bây giờ.../.

Đào Như
BS Đào Trong Thể
Chicago May-1997

Blog Archive