Showing posts with label hoàng long hải. Show all posts
Showing posts with label hoàng long hải. Show all posts

Wednesday, January 19, 2022

Về nước, thấy gì? nghĩ gì?

Khi tiễn tôi lên máy bay về Mỹ, người bạn thân của tôi nói: “Quên chuyện tao với mày cãi nhau đi. Còn sống gặp nhau là quí.

Lời người bạn làm tôi xúc động, gần như muốn khóc. Tôi bảo: “Mày với tao chơi với nhau thân thiết từ hồi học tiểu học, không hòa hợp hòa giải với nhau được thì nói tới việc hòa hợp hòa giải dân tộc làm chi mất công. Việc ấy khó lắm. Khi trong lòng không có chữ Nhân với chữ Đức thì làm sao có chữ Hòa.

-“Mày đi rồi, dù đất khách, cũng yên thân mày. Còn tao ở lại đây, bao nhiêu điều chướng tai gai mắt, dù không muốn nói, cũng không thể không nói được. Thật ra, những điều mày nói về người Bắc ở Saigòn, không sai đâu, nhưng muốn “sống còn” trong cái xã hội đó, tao phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Hôm đó cãi lại mày chẳng qua vì tự ái, chớ mày nói, không có sai đâu. Mày nhận xét đúng đấy. Tao không nịnh mày.

Về Việt Nam, tôi rủ người bạn dạo chơi Saigon, tìm lại cái không khí của Saigon thập niên 60, 70. Thật hoài công. Cuộc đời, như một dòng sông, nước có chảy lần thứ hai ở một khúc sông bao giờ.

Tôi nói với người bạn: “Mỗi người mỗi hoàn cảnh, không có sự hiểu biết để thông cảm thì khó thương nhau. Như tui, về lại quê cũ, thành phố Quảng Trị thành bình địa năm 1972, nhà cửa không còn, bà con xóm làng không còn, nên tui không về. Ai hiểu cho tui “Còn chi nữa mà về”. “Tôi con đường cũ chạy lang thang, Mang nỗi buồn không chạy khắp làng”. Quê tui còn con đường nào đâu. Còn như Saigon, Saigon với tui cũng xa lạ. Tôi yêu Saigon như một người dân yêu thủ đô của mình. Thế thôi. Nhưng người dân miền Nam coi Saigon như trái tim của tổ quốc, chớ Saigon chẳng cho tui danh vọng, quyền lợi gì cả. Tui nói vậy là nói thật, chẳng phải nói cho văn chương bóng bẩy, hay tuyên truyền như kiểu Việt Cộng. Tụi nó cũng gọi Hà Nội là “trái tim của Tổ Quốc” vì Hà Nội cho nó nhiều thứ, danh vọng, tiền bạc, giàu có. Họ là những nông dân nghèo khổ, theo “đảng” theo “bác”, nay vô sống ở Saigon, có quyền lực và giàu có như thế, không theo Cộng Sản thì theo ai.

Tui nói một ví dụ cụ thể thôi. Ông V., trưởng phòng tổ chức Sở Xây Dựng (tp Hồ Chính Minh) sau 1975, “chiếm” được một ngôi nhà ở đường Cao Thắng, mấy năm trước đây, bán được 7 ngàn lượng vàng. Không theo đảng, cả đời ông, làm sao ông có được một số vàng như thế. Saigon bây giờ, toàn thể Quận 1 bây giờ (bao gồm Quận 1 Quận 2 cũ), toàn là dân Bắc Kỳ 75. Đó là thành quả của cuộc “viễn chinh giải phóng miền Nam”, phải không?

-“Phải. Nhưng người Bắc vào chiếm Saigon mấy đợt, họ giống nhau hay khác nhau như thế nào? Người bạn hỏi.

-“Ba đợt. Họ khác nhau từ căn bản.

-“Huynh” giải thích tôi nghe. Người bạn nói đùa.

-“Tôi không bàn tới những cuộc di dân từ thế kỷ 19 trở về trước. Đó là công trạng của Ngọc Vạn Công Chúa, của ông Nguyễn Hữu Cảnh, của các chúa Nguyễn. Đất phương Nam là đất của Chúa Nguyễn. Người miền Nam nhớ ơn các Chúa Nguyễn là vì vậy.

“Chỉ kể trong Thế kỷ 20 thôi, người miền Bắc vào Nam, nói rõ là vào Saigon có 3 đợt. Đợt thứ nhứt là do hậu quả của cuộc “Kinh tế Khủng Hoảng” Hoa Kỳ từ đầu thập niên 1930. Cuộc “khủng hoảng” nầy, xảy ra ở Mỹ, là hậu quả của cuộc “Thế Giới Chiến Tranh Thứ Nhứt”, ảnh hưởng đến toàn bộ kinh tế thế giới. Anh đọc sách giáo khoa lịch sử thế giới lớp Đệ Nhứt của Tăng Xuân An, “Sự quan trọng của Đông Dương trước mặt Quốc tế” của LM Nguyễn Phương, đọc “Nhà Quê” của Ngọc Giao, “Sống Mòn” của Nam Cao, rõ hơn tui nói. Vì cuộc khủng hoảng nầy, dân chúng Bắc Kỳ, nhất là ở vùng nông thôn khó khăn lắm, người ta bèn “đi Nam” kiếm sống. Những người nầy, về sau, giàu có, con cái học hành đổ đạt. Trước 1975, người Saigon gốc Bắc nầy sống tập trung gần chợ Bến Thành, trên đường Gia Long, Lê Thánh Tôn... Những tiệm bán tạp hóa, bán vải... vài hãng nhuộm với tên có chữ Cự đứng đầu, là dân Saigon gốc Bắc cả đấy.

-“Còn đợt hai? Bạn tôi hỏi.

-“Là đợt “rân ri cư”. Gần một triệu dân di cư đó, có thể nhận xét như thế nầy: Phần đông nông dân – tui tính chung thôi nghe – định cư ở vùng dinh điền, khu trù mật – lớn nhứt là dinh điền Cái Sắn, Bắc Đậu, Dốc Mơ, Gia Kiệm, Võ Dõng... các vùng định cư nầy đều có tính cách chiến lược quân sự. Có dịp, tui sẽ nói cho nghe. Số dân chúng nầy, phần đông có đạo Thiên Chúa. Các ông cha giảng cho giáo dân “Chúa đã vào Nam”, nên các cha và con chiên rủ nhau vào Nam, trốn chạy Cộng Sản. Họ định cư với nhau ở trong Nam. Còn ai không phải là nông dân, không làm ruộng được, gốc dân thành phố ở ngoài Bắc, thì tụ lại ở Saigon, và một số thành phố lớn: Biên Hòa, Vũng Tàu... Saigon phình to ra: “Xóm Vẹc” hoang vắng cỏ sậy um tùm trở thành đường Trương Minh Giảng, Trương Minh Ký. Gò Vấp có thêm “Xóm Mới” để ngăn chặn con đường xâm nhập của Cộng Sản từ An Phú Đông ...

-“Đợt cuối là “Bắc Kỳ 75”, Quận 1 Saigon bây giờ là “Hà Nội mới” giữa lòng thành phố Bát”.

-“Sao ông tài thế? Tôi nói.

-“Ông” đi rồi thì yên phận “ông”. Còn tôi ở lại đây, giống như “Gió đưa cây cải về trời, Rau răm ở lại chịu đời đắng cay.” nên tôi hiểu họ là người như thế nào chớ.

-“Khác nhau ở điểm nào? Tôi hỏi.

-“Trước hết là “quân viễn chinh”.

-“Quân viễn chinh?”

-“Chớ sao? Quân chiến thắng là quân viễn chinh. Khi Pháp xâm lăng nước ta, thắng đến đâu, chúng cướp của, hiếp dâm, đốt nhà đến đó. Hậu quả của cuộc xâm lăng của Tây hồi thế kỷ 19 là gì anh thấy không?

-“Thời gian qua lâu rồi, dấu tích chỉ còn trong... sách sử? Không. Tui nhớ rồi. Trước 1975, khi tui về Long Xuyên, Châu Đốc, tìm hiểu về “Đức Phật Thầy Tây An”, tui biết thêm các “Trại Ruộng” của ông Phật sống nầy. Khi Tây xâm lăng vùng nầy, tất cả các trại ruộng đều bị Tây đốt sạch, phá sạch, giải tán hêt; nay chỉ còn trại ruộng Láng Linh ở Châu Đốc.

-“Lý do? Bạn hỏi.

-“Trại ruộng là nơi Đức Phật Thầy Tây An kêu gọi dân chúng tụ họp lại, chung sức với nhau để phá rừng, khai khẩn đất đai, làm ruộng. Bên cạnh đó, mỗi trại ruộng là nơi thanh niên trai tráng, họp nhau lại, trang bị gươm giáo, chuẩn bị đánh nhau với Tây. Các trại ruộng bị Tây phá sạch, giải tán là vì vậy. Nay chỉ còn trại ruộng Láng Linh, nhưng hình thức hợp tác như ngày trước thì không còn.

-“Vậy thì khi Quân Bắc Việt chiến thắng ở miền Nam có khác gì không? Anh có nghe người ta nói máy bay, xe lửa, xe hơi ùn ùn chở “chiến lợi phẩm” về Bắc hay không? Lấy tài sản “Cái nầy tôi ăn được, cái nầy tôi xài được như trong “Cổ Học Tinh Hoa” hay không? Kẻ chiến thắng, người cầm quyền xưa nay có khác gì nhau “Người nách thước, kẻ tay đao, Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi…” nay không còn hay sao hay bây giờ “loạn” hơn, khi người có vũ lực thấy mình là giai cấp trên.

-“Vâng. Đó chỉ mới là tâm lý của kẻ chiến thắng. Còn gì nữa?

-“Thành phần xã hội. Miền Nam nầy, xưa lắm là “Vương Quốc Phù Nam”. Vương quốc nầy bị “Vương Quốc Khmer” tiêu diệt. Tiêu diệt như thế nào, sử sách không còn để tìm hiểu. Thế rồi “Vương Quốc Khmer” bị người Việt xâm lăng. Đó cũng là một cuộc “xâm lăng nhung”, nói theo kiểu “cách mạng nhung” như bên Tiệp Khắc. Có giết nhau giữa Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Địch, nhưng đó chỉ là mâu thuẫn cá nhân, giữa hai người, không phải giữa những người mới tới và chủ cũ.

-“Bây giờ?

-“Những người Bắc di cư vào Saigon đợt thứ nhứt, thứ hai, nhìn chung, thuộc thành phần tư sản, tiểu tư sản… Họ có văn hóa tư sản, tiểu tư sản là văn hóa của người Việt Nam, còn như Bắc Kỳ 75 là thành phần vô sản, bần nông, cố nông… ở “Đồng bằng Bắc bộ”. Văn hóa của họ là văn hóa Chí Phèo. Ông biết chứ?

-“Tui kể ông nghe câu chuyện nầy, câu chuyện cha dặn con, làm tôi xúc động. Bây giờ kể cho anh nghe, xúc động ấy vẫn còn. Câu chuyện như thế nầy, do cụ M.T., trước 75 là giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon, do chính cụ kể cho tui nghe:

“Giữa thập niên 1930, đời sống ở làng tôi, làng Đốc Tín, - huyện Mỹ Đức - khó khăn lắm. Tôi xin bố cho tôi “Đi Nam” kiếm sống. “Đi Nam” hồi đó, như một phong trào của người Bắc. Bố tôi dặn:

-“Đời sống khó khăn quá, con bỏ làng đi, bố không cản, nhưng bố dặn con một điều, làm gì thì làm, con không được giết người.

Kể xong, cụ M.T. nói: “Bây giờ, người Bắc vào Nam, có lẽ không được bố mẹ dặn dò như thế!”

Hoànglonghải
Giữa tháng 1/2022

Sunday, December 6, 2020

 Cái Hòm Thiếc 

Hoàng Long Hải

(truyện có thật, tác giả hư cấu vài chi tiết)    

 

“Một chàng phiêu lãng

Ôm đàn tới giữa đời…”


(Tà Áo Văn Quân – Phạm Duy Nhượng)

 

oOo 

 

Gần cuối tháng Tư/ 1972, từ miền Tây, tôi trốn phép về thăm nhà. Vừa gặp nhau, vợ tôi nói ngay:

 

– “Anh L. vừa từ Đà Nẵng gọi về. Anh ấy nói tình hình Quảng Trị không êm, Việt Cộng đã vượt Bến Hải, không chắc giữ được Quảng Trị. Anh ra ngoài ấy đi.”

 

Nếu Quảng Trị chạy loạn thì nhiều khó khăn lắm. Gia đình tôi, bên ngoại và gia đình nội-ngoại bên vợ tôi đều là dân Quảng Trị cả. Không biết bà con chạy cách nào, chạy đi đâu!

 

Hôm sau nữa, xin được máy bay quân sự, mới sáng sớm, tôi nhờ xe trực ở Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp đưa vô phi trường Tân Sơn Nhứt.

 

Ở trạm hành khách, một số đông người đang chờ lên máy bay. Phần đông là quân nhân, mặc đồ lính. Binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan cấp úy. Một số là dân sự: đàn ông, đàn bà. Không có trẻ em. Tôi nghĩ thầm: Toàn dân nhà nghèo không! Mấy ông lớn chắc là đi Air Việt Nam, khỏe hơn.

 

Chờ chưa được nửa tiếng, một anh Trung sĩ Không quân, đứng ngay cửa ra phi đạo hô lớn: “Ai đi chuyến bay số xxxx, theo tôi lên máy bay.”

 

Nhiều người sắp hàng đi ra. Tôi đi gần chót, trước mặt là hai ông bà già, có lẽ vợ chồng nhà quê. Người chồng mặc áo sơ mi trắng, màu cháo lòng, lưng áo lỗ chỗ nhiều vết thâm, vết chất dơ giặt không đi. Vậy mà cũng “áo bỏ vô thùng”, quần tergal hay dacron gì đó, màu xanh sẫm, chân mang đôi “dép mũ” màu trắng.

 

Bà vợ áo kiểu bà ba, mầu nâu nhạt, quần đen, chân mang dép Nhật. Ông chồng thì xách cái va-li bằng thiếc, không to lắm, thứ hàng nội hóa, Chợ Lớn sản xuất, chợ Việt Nam nơi nào cũng có bán.

 

Cái va-li còn mới lắm, mới dùng lần đầu. Người vợ xách cái bị vải lớn, hơi nặng. Có lẽ đựng áo quần. Cả hai đều già, khoảng gần 70 tuổi. Người nhà quê lam lũ, thường già trước tuổi. Sau lưng tôi là mấy anh lính trẻ.

 

Tới gần cửa máy bay, mấy anh lính chen lên, cố giành lên trước. Tôi cũng dợm tranh với họ, nhưng hai ông bà già trước mặt, vẫn đi bình thường, làm tôi thấy kỳ, nếu tôi vượt mặt họ, nên thôi.

 

 

Tấm bửng sau chiếc C-119 hạ thấp xuống để mọi người vô trong máy bay. Một anh Trung sĩ Không quân khác, đứng ngay chỗ mép cửa, hỏi giấy phép lên máy bay từng người. Ông già nhà quê đưa giấy tờ ra, ông đã cầm sẵn ở tay. Bà vợ đứng bên cạnh im lặng.

 

Anh trung sĩ coi giấy tờ xong, đưa mắt nhìn vào cái va-li thiếc hơi lâu một chút. Tôi không rõ vì sao. Xong, anh bảo: “Lên đi”. Hai người đi vào. Tôi là người lên máy bay sau cùng.

 

Vào tới bên trong, tôi thấy chỉ còn một cái ghế vải sát cạnh hai ông bà già. Tôi liền ngồi xuống đó. Tiếng động cơ đang chạy ầm ầm, có lẽ chuẩn bị cất cánh.

 

Loại ghế trên máy bay quân sự là loại ghế xếp dã chiến, nằm sát thân tầu. Ngồi xuống thì cũng có giây “beo”, cũng gài vào móc một cái cạch như ghế xe hơi bên Mỹ vậy. Trong máy bay, ai muốn thắt giây “beo” thì thắt, còn không thì thôi. Mấy ông trung sĩ phục vụ trên máy bay chẳng nhắc nhở ai, không như ở Air Việt Nam, tiếp viên hàng không đi nhắc nhở và kiểm soát từng người.

 

Tiếng động cơ gầm rú mạnh hơn, rồi thân máy bay giựt mạnh một cái. Nhìn qua ô cửa tròn nhỏ, tôi thấy ngôi nhà kế phi đạo đang chạy lui. Vậy là máy bay ra phi đạo.

 

Tới cuối đường để ra phi đạo rồi, tiếng máy bay lại gầm rú. Tôi nghĩ là phi công chuẩn bị cất cánh. Nhưng tiếng động cơ lại rú lên, lại xuống, lại rú lên, lại xuống, mấy lần như vậy. Cuối cùng, tôi có cảm tưởng như máy bay quay lui.  Máy bay dừng lại. Tôi nhìn ra qua ô cửa tròn, mái nhà lúc nãy lại hiện ra. Có nghĩa là máy bay không cất cánh, trở về chỗ cũ.

 

Mọi người vẫn ngồi yên trong phi cơ. Tôi lại nghe tiếng xe hơi ngừng lại bên ngoài máy bay. Cửa phía phi hành đoàn mở. Hai người mặc đồ không quân lên chỗ phòng lái. Lại có tiếng động cơ gầm rú hai ba lần như thế.  Cuối cùng, hai người mới lên lại xuống. Tiếng động cơ gầm lên. Máy bay lại di chuyển. Có lẽ lại ra đầu phi đạo.

 

Cũng tới ngay chỗ cũ, hồi nãy, tôi lại nghe tiếng động cơ gầm rú. Tiếng rú lại hạ xuống, lại gầm rú lần nữa. Mấy lần như thế. Cuối cùng, máy bay ra đầu phi đạo. Tiếng động cơ rú lên, dài hơn, và máy bay cất cánh. Nhìn qua cửa ô tròn nhỏ, tôi thấy những cái dấu mốc hai bên phi đạo chạy lui rất nhanh.

 

Máy bay đã rời mặt đất. Bây giờ nhìn ra phía ngoài, chỉ thấy trời và mây. Máy bay lên chưa cao lắm, tôi có cảm tưởng máy bay nghiêng vòng. Chắc là để lấy hướng, tôi nghĩ vậy. Nhưng không phải. Tiếng động cơ kêu nhỏ trở lại. Một chốc tôi lại nghe tiếng bánh xe chạm phi đạo, và tiếng bánh xe đang chạy. Máy bay lại hạ cánh. Tôi không rõ chuyện gì.

 

Khi máy bay dừng lại chỗ cũ, chỗ đầu tiên lên máy bay. Mọi người được lệnh xuống, không nói rõ vì sao! Cánh quạt đã ngưng quay.  Hành khách kẻ đứng người ngồi xổm bên cạnh thân phi cơ.  Tôi thấy người Trưởng phi hành, mang “loon” thiếu tá, tên ở ngực là Lan, có thể là Lân – Đàn ông ít ai có tên đàn bà, – đến trước mặt tôi. Tôi tưởng ông ta muốn nói gì với tôi, nhưng không. Ông nhìn ông già tôi nói ban nãy, đang đứng cạnh tôi, tay đang ôm cái va-li.

 

Thiếu tá Lân hỏi xẵng giọng:


-“Ông có giấy phép không?”


-“Dạ có.” Ông già trả lời lí nhí.


-“Giấy phép cái va-li kìa!” Thiếu tá Lân vẫn gằn giọng.

 

Ông già lập cập lấy trong túi áo một tờ giấy quay rô-nẹ-ô, có chữ viết tay. Xem xong, Thiếu tá Lân trả lại cho ông già, bỏ đi.  Ông già gần như khóc, hai mắt đỏ hoe. Bà vợ khóc thút thít, không dám khóc to.


Tò mò, tôi hỏi:


-“Cái chi dzậy?”


-“Dạ! Ông Thiếu tá hỏi giấy phép đem hài cốt lên tàu bay. Tui có giấy đó.” Ông già trả lời, giọng nhỏ, từ tốn.


-“Bác bốc mộ cho ai?” Tôi lại hỏi.


-“Con trai tui. Nó đi lính Nhảy Dù, tử trận.”

 

Tôi im lặng. Dân “Quảng Trị tui” có cái lạ! Đi lính, ưa đi “thứ dữ”. “Hùng móm” em út tôi cũng vậy. Ra trường, cố đi cho được Nhảy Dù. Cẩm, bạn tôi, em Đại tá Bé, là “dân Biệt Động Quân”, trước đó là “Nha Kỹ Thuật.” Ông Lô, cũng Nhảy Dù. Dục, bạn tôi và hai ông em nó, Dưỡng, Lữ đều Thủy Quân Lục Chiến.

 

Rồi tôi nghĩ tới việc ông Thiếu tá Lân hỏi giấy phép mang hài cốt đứa con của ông già. Dân xứ tôi hay tin dị đoan. Đem hài cốt lên xe đò, xe hàng hay lên máy bay là xui. Có khi tài xế không cho mang hài cốt lên xe, nên thân nhân phải giấu. Chỉ đi xe lửa là không ai hỏi.

 

Thân phụ tôi “đi kháng chiến” qua đời trên chiến khu năm 1948. Năm 1954, hòa bình rồi, anh em tôi lên chiến khu bốc mộ đem về. Tới nhà, mẹ tôi phải dựng một cái chái tranh bên kia đường, chỗ đất trống để cái va-li thiếc đựng hài cốt ở đó. Theo tục lệ, người ta cử đem hài cốt vô nhà. Anh Xạ Thử, lý trưởng phường tôi, nói với mẹ tôi: “Nể tình chị, chớ tục của mình, đem về làng, người ta cũng cấm.”

 

Nghĩ tới đó, nhìn lại, tôi thấy ông bà già có vẻ sợ hãi chớ không như lúc đầu, khi tôi mới gặp ông. Có lẽ ông sợ người ta sẽ không cho ông đem hài cốt con ông lên máy bay.  Một lúc sau, mọi người được hướng dẫn lên một chiếc C-119 khác. Người ta đổi máy bay nhưng cũng toán phi hành cũ. Chuyến bay bình thường, cất cánh rời phi đạo, êm ru.

 

Ngồi trên máy bay lâu quá, tôi hơi bồn chồn. Tôi nghĩ sao máy bay chưa hạ cánh. Họ có bay lạc không? Tôi có cảm tưởng như máy bay đã ra tới Đồng Hới, không chừng Việt Cộng bắn lên mà rớt máy bay như không. Hỏi ra, anh Trung sĩ Không quân cho biết “Mới tới Quảng Ngãi.”  Máy bay chi mà chậm như rùa, như “Chuyến Xe lửa mồng năm” của Trần Văn Trạch.

 

Suốt trong chuyến bay, có lúc tôi hỏi chuyện ông già. Một là vì thấy ông là người cùng quê: Quảng Trị. Quê ngoại tôi ở đó, bên kia sông, làng Nhan Biều. Bên nầy sông là thị xã Quảng Trị.

 

Tôi sinh ra, lớn lên, học hành thời thơ ấu là ở thị xã. Năm 16 tuổi, tôi trốn nhà đi xa, làm một kẻ, như các bạn tôi thường gọi: “Thằng lãng tử”. Vậy là gần hai mươi năm, tôi từ miền Tây Nam Bộ, cực nam của nước Việt Nam Cộng Hòa, về thăm Quảng Trị, ở vĩ tuyến 17, cực Bắc Việt Nam Cộng Hòa. Vậy là không biết, trong đời nầy, có ai đi xa hơn tôi?

 

Thứ hai, tôi thấy tội nghiệp cho hai ông bà già. Lặn lội đường xa, từ ngoài kia, “về Thủ Đô”, không phải để làm một du khách, thưởng ngoạn mà làm kẻ bốc mộ cho con, đem về quê.


Tôi hỏi:


-“Con bác chôn ở đâu?


-“Ở nghĩa trang Quân Đội Gò Vấp.” Ông già trả lời.


-“Tui tới đó rồi. Nghĩa trang đó cũng đẹp lắm, để nó ở lại đó cho có bạn bè, đem về quê làm chi?” Tôi lại nói.


-“Đem về cho nó nằm chung với ông bà, cho ấm mồ ấm mả thiếu úy à!” Ông già nói. Ông gọi tôi là thiếu úy vì thấy tôi đeo trên cổ áo một bông mai vàng.


-“Quê bác ở mô?” Tôi hỏi.


-“Ở Lai Phước. Thiếu úy biết làng đó không?”Ông già hỏi lại tôi.


-“Làng đó có cây cầu trên Quốc lộ 1. Còn có cây cầu sắt trên đường xe lửa nữa, phải không?” Tôi hỏi.


-“Thiếu úy rành lắm!” Ông già trả lời tôi.


-“Hồi còn nhỏ, tui học ở thị xã mà, hay ra Đông Hà chơi! Con gái Đông Hà đẹp lắm! Ông biết không?” Tôi vừa cười vừa nói chuyện với ông.


-“Tui quanh quẩn trong làng, không biết chi hết. Ngày mô (nào) đi làm củi, tui đi dọc theo đường từ cầu ván, lên cầu sắt rồi lên rú.”


Tôi hiểu cầu ván là cầu xe hơi trên Quốc lộ, còn cầu sắt là cầu xe lửa.

 

Cuộc nói chuyện với ông già không có gì hứng thú; một là vì tiếng động cơ kêu đều nhưng cũng to, nhiều khi không nghe rõ ông ta nói gì, tôi chỉ đoán chừng. Thứ hai, tôi cũng thấy buồn ngủ. Khi còn ở đơn vị, tôi ít ngủ. Hai hôm về nhà thì một hôm đưa vợ đi nghe nhạc ở Queenbee, về khuya. Sáng nay lại dậy sớm ra phi trường.

 

Xuống máy bay, vô tới “trạm hành khách” thì tình hình náo động lắm. Kẻ lui người tới vội vã, người nầy người nọ bàn tán xôn xao.

 

Té ra là Quảng Trị đã mất hôm qua, ngày 1 tháng 5. Quân đội đang trên đường rút lui. Bấy giờ chưa mấy ai biết lệnh Tổng Thống buộc binh sĩ phải dừng lại bên nầy sông Mỹ Chánh, lập tuyến phòng thủ.

 

Đồng bào Quảng Trị chạy tán loạn về Huế. Việt Cộng từ trong núi pháo kích ra, hàng ngàn người chết trên “Quốc Lộ mới”, đoạn phía Nam Cầu Dài, phía dưới kia, trên Quốc lộ 1 cũ là cầu Bến Bá, còn gọi là cầu Trường Sanh, trên sông Trường Sanh, còn có tên là sông Diên Trường (1). Mấy hôm sau, báo chí đưa tin, đặt tên cho đoạn đường nầy là “Đại Lộ Kinh Hoàng”.

 

Huế cũng hoảng loạn theo. Chợ Đông Ba bị đốt cháy. Dân Huế tranh nhau vượt đèo Hải Vân, chạy trốn vào Đà Nẵng.

 

Tôi lo lắng, băn khoăn, lúng túng không biết phải làm gì bây giờ. Tôi tìm một chỗ ít ồn hơn, ở phía góc trong của “trạm hành khách”, bình tĩnh một chút, tôi nghĩ thầm để coi phải làm gì trong khung cảnh náo nhiệt hỗn loạn và đầy lo lắng nầy.

 

Tới góc phòng, tôi thấy hai ông bà già đang ngồi lọt thỏm trong góc nhỏ. Ông già vẫn còn khư khư ôm cái va-li thiếc trước ngực. Thấy tôi, ông nhìn tôi, như muốn hỏi gì đó mà không dám hỏi.

 

Tôi thấy ái ngại cho ông, lên tiếng trước:


-“Bác nghe tin gì chưa?”


-“Dạ, nghe rồi!” Ông già trả lời.


-“Không chắc về Quảng Trị được đâu. Tình hình nầy là chạy hết rồi, làm “răng” (sao) về?” Tôi nói.


-“Tui ở “già” (nhà) quê, chắc không phải chỗ hai bên đánh “dau” (nhau), về được.” Ông già trả lời.


-“Không chắc có xe mà về. Người ta chạy vô, có ai chạy ra.” Tôi giải thích.


-“Dạ! Không biết răng!” Ông già nói. Giọng nói nhỏ và yếu, tưởng nhưng không mấy hy vọng.

 

Bất thần có người gọi tôi “Cậu”. Nghe giọng quen, tôi quay lại. Té ra Tịnh, một người cháu gọi tôi bằng cậu, sáng nay nghe vợ tôi gọi điện thoại ra, cho biết “Cậu ra Đà Nẵng rồi” nên lái xe đến đón tôi. Anh làm tiểu Đoàn Phó cho Tiểu Đoàn Truyền Tin, được cấp xe Jeep riêng. Trước khi quày đi theo người cháu, tôi nói với ông già: “Bác liệu tìm xe ra ngoài đó. Nhớ tránh mấy chỗ đang đánh nhau.” Chưa kịp nghe ông già trả lời gì, tôi len vào đám đông đi mất.

 

Tối hôm đó, tôi định mượn xe gắn máy của Tịnh để đi tìm thân nhân chạy loạn từ ngoài kia vào. Tịnh nói:


-“Cậu không đi được đâu! Hai bữa nay, Đà Nẵng giới nghiêm 6 giờ chiều. Để Tịnh đưa cậu đi. Xe cháu có phép đi trong giờ giới nghiêm.”

 

Hôm đó, nhờ Tịnh, tôi đi thăm vài nơi. Em gái tôi, cùng mấy đứa con, chạy từ Huế vào tạm trú nhà bà con ở đường Bạch Đằng, người chồng nó phải ở lại với đơn vị, Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương Huế; chị và anh rể vợ tôi từ Quảng Trị chạy vào tạm trú bên Sơn Chà. Gia đình anh tôi và mẹ tôi thì đã chạy vào Qui Nhơn. Nhiều người nữa, nhưng không liên lạc được, không biết địa chỉ…


Sau khi đưa tôi về nhà, Tịnh lại vào doanh trại.

 

Khuya lắm, anh ta mới về. Tôi vẫn còn thức, đang băn khoăn, lo lắng, không ngủ được. Chúng tôi ngồi ở phòng khách uống nước. Tịnh nói:


-“Lệnh Tổng thống không cho quân đội rút lui nữa, phải lập phòng tuyến chận địch ở sông Mỹ Chánh. Tin còn mật, nhưng vài người ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn đã biết: Tướng Trưởng ra thay Tướng Lãm – (2). Mai cháu phải đi Huế. Nhiều đơn vị Tổng Trừ Bị đang trên đường ra Đà Nẵng. Khuya nay hay sáng mai họ đến. Phải giữ Huế, không được mất. Lệnh Tổng Thống đấy.”


-“Có chuyện chi gấp không mà phải đi trong tình hình nầy?” Tôi hỏi.


-“Vừa quan trọng vừa gấp. Tiểu đoàn ở đây, (3) lo việc liên lạc giữa Quân Đoàn với Saigon. Tịnh phải ra củng cố và phát triển một đài truyền tin của Tiểu Đoàn ở Huế, giữ nhiệm vụ truyền tin, không được trở ngại hay gián đoạn của các đơn vị đang đánh nhau liên lạc với Quân Đoàn. Truyền tin mà có chuyện gì thì mệt lắm!”


Một lúc, tôi nói:

-“Tui đi với được không?”


-“Được thì được, nhưng cậu ra làm gì ngoài? Về tới Huế thôi, không về Quảng Trị mình được.”


-“Dĩ nhiên, dù sao ở Huế cũng gần hơn, hỏi thăm được tin tức, coi có ai còn kẹt lại.” Tôi nói.


-“Không an toàn lắm đâu!” Tịnh giải thích.


-“Ông ở truyền tin, ông biết chỗ nào đánh nhau, chỗ nào không. Biết thì tránh được. Chắc không can gì!” Tôi nói.


-“Chỉ sợ bắn sẻ, nhất là ở trên đèo (4). Mới rồi, một người bà con bên mợ bị bắn sẻ ngay trên đèo. Trúng ngay đầu.” Tịnh nói.

 

Sáng hôm sau, Tịnh vô đơn vị sớm. Chị tôi, mẹ của Tịnh cũng dậy sớm, nấu bún bò cho tôi ăn sáng. Khi đó hai vợ chồng Tịnh đã đi rồi. Tịnh vô trại, còn vợ Tịnh đi làm.


Bún bò bà chị tôi nấu không có giò heo, giống như ở quê tôi hồi trước, nhưng thịt bò xào lăn thì hết sẩy. Biết tôi thích ăn những món do bà nấu, chị ấy bảo tôi: “Cậu ở chơi vài “bựa” (bữa) chị kho cá nục cho ăn.”  Tôi không chắc chị tôi biết nấu những món cao lương mỹ vị, nhưng cá nục kho, cá ngừ kho, rau muống luộc, tôm chua thịt heo, v.v… thì ăn một bữa, một đời khó quên.

 

Gần trưa thì Tịnh về, ăn qua loa vài chén cơm cùng với tôi rồi hối tôi mặc quần áo quân nhân đi gấp. Tịnh nói đùa:

 

-“Đi với cháu là đi hành quân, không phải vô lớp giảng bài đâu mà thắt cà vạt.” (5)


-“Mặc xi-vin dễ thành mục tiêu cho tụi nó bắn sẻ, ông sợ tôi chết trước ông chớ gì. Còn lâu! Số tôi thọ lắm. Nhưng có chuyện gì cũng mệt đấy.”


-“Mệt gì?” Tịnh hỏi.


-“Tui trốn phép, lỡ có bị thương hay gì, khó khai báo. Đơn vị ở trong Nam mà tôi bị thương ngoài Trung, lại không có giấy phép hay công tác gì cả.” Tôi nói.

-“Kệ! Không can gì đâu. Có gì cháu lo.”

 

Xong, chúng tôi lên đường. Thấy tôi nhìn chiếc xe Dodge, không đi xe Jeep, có vẻ ngạc nhiên, Tịnh nói ngay:

 

-“Cháu phải đi xe Dodge vì có thêm mấy chuyên viên, chở theo linh kiện. Cậu ngồi phía sau, ngay sau lưng cháu.”

 

Thế rồi chúng tôi lên đường, sau khi chào bà chị, Tịnh thì chào mẹ. Vợ Tịnh đi làm chưa về. Xe có tất cả 7 người: Tài xế, Tịnh, mấy trung sĩ chuyên viên truyền tin và tôi.

 

Xe bon bon ra hướng Liên Chiểu. Tới ngã ba Cây Lan, chỗ Quốc lộ 1 có đường rẽ đi về phía Nam, xe và người đông quá, nên tài xế chạy chậm lại. Tôi chợt nhìn qua bên đường, thấy ông già và vợ ông, người đồng hành hôm qua, đang đứng bên đường. Tay ông vẫn khư khư ôm cái va-li thiếc ở ngực, tôi chợt nói: “Ông bà già!”

 

Tịnh hỏi ngay:

 

-“Ông bà già cậu kể hồi tối hả?”

 

Tôi nói: “Đúng họ.”

 

-“Chắc họ không kiếm được xe ra Huế. Bây giờ làm gì có xe ra!”

 

Rồi Tịnh ra dấu cho tài xế biểu ngừng xe lại.

 

-“Tịnh cho ông ta quá giang hả?” Tôi hỏi.

 

-“Để cháu hỏi lại coi.” Xong, Tịnh bảo tài xế cho xe “de” lui.

 

Thấy ngại, tôi nói:

-“Ông ta có cái hài cốt đấy. Tịnh có ngại không?”

 

-“Cháu biết! Cháu muốn làm phước cậu à. Để cái đức cho con. Tin dị đoan làm gì.” Tịnh giải thích.


oOo

 

Chúng tôi ra tới Huế, trời cũng còn sáng. Trời mùa hè! Tịnh cho xe chạy thẳng ra bến xe Nguyễn Hoàng, nói với ông bà già: “Hai bác xuống đây. Không có xe về Quảng Trị đâu, hai bác phải liệu cách.”

 

Hai ông bà già xuống xe, tôi xuống theo. Tôi nói với Tịnh: “Để chỉ đường cho ông ta đi, họ không biết đường đâu!”

 

Tôi đứng trước mặt ông già, nghiêm trọng nói:

-“Từ đây, bác có thể ra Mỹ Chánh bằng xe ôm. Không có xe đò gì đâu! Từ Mỹ Chánh ra, bác không thể đi theo Quốc lộ được. Hai bên đang đánh nhau. Vô đó là chết. Đi đường nầy may ra êm hơn: Từ Mỹ Chánh, bác đi dọc theo con đường bên sông Ô Lâu mà về làng Vân Trình. Từ đó, bác ra ngã làng Trung Đơn mà về Ngô Xá. Từ Ngô Xá, băng qua Vân Hòa, Đại Hào, rồi qua sông Thạch Hãn mà qua Trung Kiên. Từ đó mà về Lai Phước thì dễ lắm.”

 

Ông già cứ ôm cái va-li thiếc vào mình, nói luôn miệng:


-“Cám ơn thiếu úy. Cám ơn ông Đại úy. Cám ơn mấy thầy. Thiệt phúc hậu quá. Vợ chồng tôi gặp may.”

 

Tôi hơi bực mình, nói:


-“Cám ơn chi nói hoài. Mấy cái làng tui nói tên, bác có nhớ mà đi qua không?”


-“Dạ nhớ! Mấy làng đó tui biết.” Ông già trả lời.

 

Tịnh hỏi tôi:


-“Sao cậu rành địa thế vậy? Đi chơi khi nào mà biết hết!”


-“Đi chơi đâu!” Tôi nói, “Hồi chạy tản cư, vùng đó tui có chạy qua. Dân Quảng Trị mà!”

 

Tôi quay qua nói với ông già:


-“Mình người cùng quê giúp nhau. Ông Đại úy nầy, – Tôi chỉ Tịnh – người làng Cổ Thành. Ngoại tui là bên Nhan Biều, gần làng bác đó!”

 

Ông già vẫn cứ khư khư ôm cái va-li thiếc vào ngực, mặt mếu máo, nói:
-“Thiệt là hai vợ chồng tui gặp may. Ông bà với con tui phù hộ mới gặp được mấy thầy. Cám ơn Trời Phật, Cám ơn Trời Phật.”


Tịnh nói: “Thôi bác vô trong bến xe tìm xe ôm đi đi. Ra tới Mỹ Chánh là trời tối lắm. Lại còn đi theo con đường cậu tôi chỉ, không dễ lắm đâu.”


Ông già nói: “Dạ! Cám ơn Đại úy. Tui biết đường!”

 

Khi ông già tính quay đi, Tịnh nói theo:


-“Vừa đi vừa hỏi dò đường người ta. Nghe chỗ nào có lính, có súng nổ thì đừng tới. Nghe chưa?”

 

Ông già lại “dạ, dạ” thêm mấy tiếng nữa, rồi đi nhanh vô bến xe.


Tịnh nói với tôi: “Con sống cũng khổ, con chết cũng khổ. Thiệt làm cha mẹ…”

 

 

 Hoàng Long Hải

………………………………..

(1)- Sông Trường Sanh, còn gọi là sông Diên Trường, có “bến đò Diên Trường”, chỗ có câu hò:

Trăm năm “diều” (nhiều) nỗi hẹn hò,

Cây đa bến “cộ” (cũ) con đò khác đưa

Cây đa bến cộ còn “lưa” (còn lại)

Con đò đã “thác” (chết) năm xưa “tê” (kia) rồi.

(2)- Tịnh là em rể Tướng Lãm, có lẽ vì vậy nên anh ta biết tin ấy sớm hơn những người khác.

(3)- Tiểu Đoàn 610 Truyền Tin, đóng ở Đà Nẵng – đơn vị của Tịnh

(4)- Tôi đi dạy 10 năm trước khi nhập ngũ.

(5)- Đèo Hải Vân, xe Quân Đội qua đèo, thường bị bắn sẻ.

Friday, September 11, 2020

Mặt hồ êm đềm

Hoàng Long Hải
Tôi vẫn thường nói với các bạn rằng tôi và anh ấy là anh em. Việc dễ hiểu thôi. Anh ấy là em anh rể tôi, còn tôi thì em chị tôi.

Tôi và anh ấy cả hai đều gọi hai người ấy là anh chị, như vậy chúng tôi là anh em. Có đứa bạn thì tin lời tôi, có đứa lắc đầu không tin.

Mỗi khi thấy tôi và anh ấy dắt tay nhau đi phố, chúng nói là “bồ”. Tôi không tin vậy. Tôi và anh ấy không phải là “bồ” mà chính là anh em.

Quả thật tôi cần một người anh trai. Mẹ tôi chỉ sinh có hai người con gái: Chị tôi và tôi. Chị tôi đã có chồng, anh rể tôi là của chị ấy. Còn tôi, tôi còn nhỏ, chưa lấy chồng, nhưng tôi thấy trong nhà cũng như cuộc sống riêng tôi, trống vắng lắm.

Tôi cần một người anh trai, một người anh trai mà tôi có thể nói với anh tôi những chuyện học hành, vui buồn ở lớp, ở trường, chuyện chơi đùa với bạn bè, chuyện ăn, chuyện mặc, có khi có những bài học, bài toán, tôi cần được giảng lại, để tôi hỏi những cái khó, những cái tôi chưa hiểu và còn nhiều chuyện nữa, như để có thể đi chơi, đi phố với anh trai.

Có biết bao nhiêu điều cần có đấy, thế mà mẹ tôi lại chẳng đẻ ra cho tôi một người anh trai. Tôi thèm một người anh trai, để bù đắp vào những điều thiếu vắng mà tôi đã nói.

Quả thật, nhiều khi thấy bạn tôi đi chơi, đi phố, đi ciné với anh trai, tôi thích lắm.

Tôi thèm được như bạn tôi, thèm một người anh trai. Đó chính là cái thật, cái sâu kín trong lòng tôi vậy.

Anh ấy là em của anh rể tôi, học trên tôi mấy lớp, bên trường Quốc Học, còn tôi học năm đầu tiên, lớp Đệ Thất trường Đồng Khánh.

Hai ngôi trường nầy cũng như hai anh em. Anh ấy không phải người Huế, từ xa đến Huế trọ học. Thường cuối tuần, anh đến thăm mẹ tôi và chuyện trò chơi với tôi.

Lúc ấy, tôi cũng không ở nhà mẹ tôi mà ở nhà một người chú, gần bến xe Phú-Văn-Lâu. Chú tôi có hai đứa con gái nhỏ, đang học lớp Ba và lớp Tư. Mỗi tối, tôi biểu chúng học bài, tôi dò bài. Thuộc rồi, tôi cho chúng đi ngủ.

Còn chú tôi thì cứ mỗi tối đọc cho tôi viết một bài dictée ngắn, cở năm bảy hàng. Rồi tôi dịch, chú ấy sửa, và chỉ cho tôi những chỗ sai, về ngữ vựng cũng như văn phạm vì tôi chọn Pháp Văn làm sinh ngữ 1 và Anh Văn làm sinh ngữ 2.

Tôi cần học Pháp Văn nhiều hơn. Vã lại, chú tôi là những người đi học hồi còn Pháp thuộc nên không biết gì về Anh Văn.

Tôi có xe đạp, nhưng tôi đi bộ đến trường. Từ nhà chú ở gần bến xe Phú Văn Lâu, tôi đi bộ băng qua vườn hoa bên bờ sông rồi xuống đò Thừa Phủ.

Đò chèo qua bên kia sông, chỉ mấy bước là tới trường.

Bọn học trò Đồng Khánh chúng tôi ưa đi bộ đến trường, tuy có nhiều đứa, như tôi vậy, có xe đạp. Tôi ở gần bến đò, đi bộ đã tiện.

Có đứa ở trong thành nội, trên “thượng thành” phía trong cửa Thượng Tứ, hay gần cửa Đông Ba, hay quá phía trên cột cờ Ngọ Môn, chúng đều đi bộ hết.

Bọn chúng tôi ở bên nầy sông, phải qua đò. Những đứa bạn ở đường Hàng Me, An Cựu, Phú Cam hay Ga Huế, cũng đều đi bộ.

Chúng đi dọc theo đường Lê Lợi –đường dọc theo bờ sông Hương. Tiếng giày, tiếng guốc lóc cóc, tiếng chuyện trò, tiếng gọi, tiếng cười làm cho tôi thấy vui vô…

Chiều thứ sáu, tôi về nhà tôi ở gần hồ Tịnh Tâm vì ngày hôm sau, thứ bảy, khỏi đi học, tôi và các em con chú tôi khỏi học bài buổi tối.

Tôi ăn cơm với mẹ, vui chơi ở nhà, và chờ đợi… Ngày hôm sau, thứ bảy, thế nào anh ấy cũng đến thăm tôi.

Khi anh ấy đến thì qua một tuần, tôi có biết bao nhiêu điều để hỏi, để chuyện trò với anh ấy. Nhiều chuyện thật vui, ngộ nghĩnh, tôi cứ giữ trong lòng để chờ cuối tuần, kể cho anh ấy nghe và chúng tôi cười khúc khích với nhau.

Có một người anh trai thật thú vị. Tôi kể cho anh ấy tất cả mọi chuyện, kể cả những chuyện rất riêng tư. Có một lần, chiều Chủ Nhật, tôi không ra nhà chú tôi như thường lệ. Anh ấy hơi ngạc nhiên, hỏi. Tôi trả lời, rất tỉnh, như các bạn tôi trả lời cho anh của chúng vậy:
– “Em bị “to be”.

Nghe tôi nói, anh ấy ngạc nhiên, nhưng một lúc sau, anh ấy hiểu ra liền. Như tôi thường nghĩ, anh ấy thông minh lắm…

Không biết từ lúc nào, có lẽ là từ các lớp đàn chị, trước tôi, từ khi họ học Anh-Văn. Trong tiếng Anh, “to be” có nghĩa là “bị”, là thụ động từ.

Vì vậy, cứ mỗi tháng, khi chúng tôi bị chuyện ấy, thì chúng tôi gọi là “to be”. Đó là một thứ tiếng lóng của bọn học trò Đồng Khánh, từ khi họ bắt đầu học tiếng Anh.

Tôi cũng như các bạn, dùng động từ ấy để chỉ chuyện ấy. Và tôi cũng dùng chữ ấy với anh ấy một cách rất tự nhiên, như các bạn tôi nói với anh của họ vậy, để tránh một danh từ, dù bằng tiếng Hán-Việt, nhưng nghe vẫn không thấy hay.

Vì mẹ tôi có một ngôi hàng nhỏ, nên cuối tuần, tôi vẫn thường đi phố để mua hàng cho mẹ bán. Những món hàng rất thông thường như dầu Nhị Thiên Đường, thuốc Aspirine, nút, kim chỉ, v.v…

Những ngày đi phố, tôi không mặc áo trắng đi học mà thường mặc áo màu. Tôi thích mặc màu tím, nhất là màu tím da-lan, và màu vàng hoàng yến.

Đi bên anh, có khi cầm tay nhau, tôi thấy vui, ấm áp, như được che chở.
Chúng tôi đạp xe đạp từ phía hồ Tịnh Tâm, ra cửa Ngăn rồi ra phố. Con đường Hộ Thành trong Thành Nội dài và đẹp, rợp bóng những cây nhãn. Hai chúng tôi đạp xe song song bên nhau, y như trong câu thơ của Vũ Hoàng Chương: “Hai xe cùng dong ruỗi, Hồn mơ về một phương.” (1) Riêng tôi, tôi vui vì đi chơi với anh tôi và tôi không mơ gì hết.

Một lần vào một cửa hàng, không thấy món hàng muốn mua, tôi nói với anh ấy qua cửa hàng bên cạnh. Anh ấy đi trước, tôi đi sau khá xa vì bận coi một món hàng khác.

Qua đến nơi, không cần xem hàng, tôi nắm cánh tay anh ấy, kéo sát vào tôi rồi đi ra cửa. Anh ấy nhìn tôi nhưng không nói gì. Khi ra cửa, tôi nguýt mấy anh chàng đang đứng ở cửa một cái thật dài. Ra đến vĩa hè, tôi nói:
– “Anh biết tại sao em kéo anh đi ra ngay không?”

– “Không.” Anh ấy trả lời.

– “Tại vì.” Tôi nói, “mấy thằng đứng ngay cửa, thấy em đi vào, có đứa nói: “Mặt đẹp như vậy mà đi với cái thằng mặc cái áo dơ òm.” Xấu hay đẹp, sạch hay dơ, mắc gì chúng nó. Em nắm tay anh kéo cho thật gần cho bỏ ghét mấy thằng ngứa miệng nói bậy.”

Năm tôi học Đệ Tứ, mẹ tôi mua một căn nhà bên bờ hồ Tịnh Tâm cho anh chị tôi ở.

Năm ấy, anh ấy đã học đại học, buổi chiều thường ghé lại nhà anh chị tôi chơi.

Nhà đẹp lắm, mặt ngó ra hồ. Sân trước có trồng mấy cây chanh và hai cây dừa thân nghiêng ra mặt nước, thả từng tàu lá dừa xanh mướt la đà trên mặt hồ. Nước hồ xanh thẳm, lố nhố phía xa xa những búp sen đầu mùa chưa nở, những lá sen non còn xanh mướt.

Gió xuân thổi rất nhẹ, phải nhìn kỹ người ta mới thấy được vài ngọn sóng lăn tăn trên mặt hồ. Những buổi chiều đến chơi, anh thường ngồi trên một cái ghế xích đu sát bờ nước, nhìn ra mặt hồ mà không nói một lời.

Khi trời gần tối, có con chim chích chòe đến đậu trên ngọn lá dừa, cất lên tiếng hót thật dài và vô cùng thanh thót. Con chim bắt đầu một tiếng “chích” nhỏ, càng lúc âm độ càng lên cao và kéo dài ra, như một cánh diều gặp gió, vút cao, vút cao lên…

Đến tột đỉnh của tiếng hót, tiếng chim ngừng lại để một khoảng lặng đột ngột như tiếng đàn bỗng ngưng bặt trong một bản nhạc; rồi tiếng hót vỡ ra, bùng một tiếng “chòe” như một cái bong bóng căng đến độ cao nhứt bỗng xì hơi, giải tỏa sự căng thẳng.

Cái xì hơi trả lại sự hòa dịu, thư giản cho bầu không khí êm đềm của một buổi chiều xuân.

Trong cảnh im lặng ấy, trong tiếng chim chích chòe thánh thót ấy, tôi ngồi bên anh, lòng không thấy êm ả chút nào mà có khi tưởng như nôn nóng. Tôi muốn anh ấy nói với tôi một lời, hay tôi muốn vội vàng kể những chuyện vui trong một ngày đi học của tôi. Tuy nhiên, khi đến ngồi bên cạnh, thấy anh ấy đăm đăm nhìn ra mặt hồ êm ả, tôi kính trọng sự im lặng ấy mà không nói một lời gì.

Một lần, cũng trong cái cảnh lặng im như vậy, anh bỗng nói với tôi: “Em thấy không, mặt hồ êm quá. Ai ai cũng mong có một cuộc đời êm đềm như thế!” Khi ấy, còn nhỏ, tôi chưa hiểu hết ý nghĩa câu nói đó.

Tính tôi hiếu động và nghịch ngợm nên nhiều khi tôi không chơi với anh ấy nữa. Tôi gọi vài đứa bạn đến nhà anh chị tôi, căng ngang sân một cái lưới vũ cầu và đánh vũ cầu với các bạn.

Trong khi chúng tôi ầm ĩ, cười đùa, tranh cãi hơn thua một đường banh, anh vẫn một mình ngồi im lặng bên mặt hồ, nhìn ra khung cảnh mông lung, nhìn hòn non bộ giữa hồ hay một áng mây chiều thướt tha trôi trên bầu trời xuân xanh thẳm.

Có khi bỗng con chim chích chòe bay đến, cất lên tiếng hót trong veo, anh ấy ra hiệu cho chúng tôi im để cùng nghe tiếng chim.

Con chim đậu trên ngọn lá dừa, cất lên vài hồi hót thánh thót, chờ một con chim mái đến đậu ở cây dừa bên cạnh, nhảy nhót quanh quẩn chờ con chim trống hót xong, cả hai ruỗi cánh bay về phía trời xa, nơi có tổ ấm của chúng để ngủ qua đêm.

Có khi vài đứa bạn tôi hỏi tôi về anh. Tôi cười làm vẻ bí mật. Rồi tôi gọi chúng đến đánh vũ cầu với tôi, lại gọi cả anh ấy đánh vũ cầu với chúng. Trong cách sắp đặt ấy, tôi thường tỏ một vẻ tinh nghịch khác thường. Anh chỉ cười nhìn tôi, từ chối. Sau vài lần như thế, anh ôn tồn nói: “Em đừng làm như thế mất đi cái trong sáng của tuổi xuân.”

Tôi yêu cái tuổi xuân của tôi, tôi muốn gìn giữ nó trong sáng nên nghe lời anh ấy, không bao giờ tôi đùa nghịch theo cách ấy nữa.

Tuy nhiên, vài khi, tôi thấy anh như một người rất trầm lặng, hay đưa tâm hồn mình vào một cõi mơ mộng xa xăm nào đó, thoát ra khỏi cuộc sống hiện tại, không chú ý đến những điều xảy ra chung quanh, làm cho tôi bực mình.

Có khi tôi tự hỏi hay anh ấy là một trích tiên, như Lý Bạch vậy. Rồi tôi tự cười thầm vì ý nghĩ vớ vẩn của mình.

Một lần tôi nói: “Anh có biết chỉ với anh là em xưng em. Với tất cả mọi người, em xưng tên. Anh biết không?”

Anh ấy không trả lời, nhìn tôi âu yếm như thầm cám ơn.

Cuộc sống êm đềm như mặt hồ Tịnh Tâm ấy kéo dài không lâu. Sau ít năm học đại học, anh nhập ngũ. Học hết trung học, tôi vào trường sư phạm và đi dạy.

Ở tất cả những nơi tôi đến dạy, bao giờ tôi cũng nhớ đến anh. Khi dạy ở Cẩm Phô, buổi chiều đi ngang một cây cầu gỗ bắt ngang một con sông nhỏ, tôi thường dừng lại trên cầu, nhìn giòng nước chảy lặng lẽ qua cầu mà nhớ đến hồ Tịnh Tâm và nhớ nhất những chiều anh ấy ngồi im bên mặt hồ êm đềm.

Tôi vói nhìn xuống lòng con sông nhỏ tìm những đám mây trôi lững lờ dưới đáy sông, nghĩ tới những đám mây trôi trên mặt hồ Tịnh Tâm mà có lần anh ấy gọi tôi tới chỉ cho tôi ngắm xem.

Nhớ anh ấy vô cùng, một người anh hay một người yêu chưa bao giờ tỏ tình, một mối tình câm, trong sáng và lặng lẽ của hai tâm hồn ngây thơ trong những ngày niên thiếu sống bên nhau?

Vậy mà tôi lại được các cụ già trong Hội Đồng Xã khen là cô giáo có lương tâm, biết kiểm soát cây cầu có an toàn vì mỗi ngày đi học, các em đều phải đi về qua chiếc cầu ấy. Tôi được một cái giấy khen. Buồn cười thật.

Năm 1972, anh ấy tử trận. Sống làm sao nỗi! Anh cứ đi hết chiến trường nầy qua chiến trường khác: Kampuchia, Snoul, Dambe, Hạ-Lào, Tây ninh, Long Khánh…

Cứ nghe có trận lớn là có tên đơn vị của anh ấy. Âm thầm theo bước chân anh, tôi bỗng trở thành một người hay đọc báo.

Rồi một hôm tôi thấy cáo tang. Tôi âm thầm với nỗi dau khổ của tôi trong cảnh dạy học xa nhà.

Đám ma anh ấy ở Huế, tôi không về được. Năm ấy, Quảng Trị vừa mới mất, dân Huế hoảng sợ chạy tán loạn vào Đà-Nẵng, làm sao tôi về Huế?!

Rồi tôi lấy chồng. Người chồng tôi hơn tôi những gần chục tuổi, nhưng anh ấy cũng yêu tôi khi tôi còn bé. Anh cũng âm thầm và chờ đến khi anh ấy tử trận thì người chồng của tôi sau nầy mới ngỏ lời xin cưới tôi.

Tôi lấy chồng như là “cho xong chuyện”. Ai cũng phải có chồng. Một người yêu mình khi mình còn niên thiếu, âm thầm chờ đợi những gần mười năm. Tôi còn kén chọn gì nữa. Tôi rất trung thành với chồng.

Chắc chắn tôi không sống trong cái cảnh “Đêm đêm bên cạnh chồng già, và bên cạnh bóng người xa hiện về” (2) Nhưng quả thật, tôi vẫn còn nhớ anh ấy, nhớ thời niên thiếu, nhớ khi tôi thèm một người anh trai và tôi đã “được” anh ấy.

Trời ban cho tôi một người anh trai. Vì vậy, hôm nay, khi chồng đã chết, khi con đã lớn, tôi đi nửa vòng trái đất trở lại quê nhà.

Anh thân yêu!

Vậy là em đã trở về căn nhà cũ, nơi anh em mình chia tay nhau đã hơn 40 năm. Cũng may, qua bao nhiêu năm chinh chiến, căn nhà cũ vẫn còn. May mà mẹ em đã không bán căn nhà nầy trước khi mẹ qua đời. Mẹ để lại làm nhà từ đường, đặt trên bàn thờ những bình hương, tượng trưng cho những người đã khuất.

Mỗi tối, khi chuông chùa vang lên từng tiếng rời rạc và lặng lẽ, em thắp đèn trên bàn thờ và đốt hương cắm lên những bình hương ấy. Dĩ nhiên, không có bình hương nào là của anh ở đây. Vì vậy, mỗi khi thắp hương trên bàn thờ, em lại nhớ đến anh. Mộ anh chôn ở đâu? Em đâu biết! Có phải là ở nghĩa trang Biên Hòa hay một nghĩa trang, một bãi tha ma nào đó mà nay đã thành bình địa.

Tên anh có khắc trên một đài kỷ niệm nào đó bên dưới hàng chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn” thì nay cũng đã bị đập phá mất rồi. Làng quê anh không còn. Mẹ anh đã qua đời, anh chị em anh người đã mất, người lưu lạc đất khách. Có thể họ còn nhớ ngày anh tử trận nhưng không chắc ai có thể đốt cho anh một nén hương. Càng nghĩ, em càng thêm đau lòng!

Em lại trở về căn nhà cũ, bên bờ hồ Tịnh Tâm, sau khi em lưu lạc quá nửa vòng địa cầu. Em sợ xứ người, sau khi chồng em qua đời, các con em đã lớn đều có nhà cửa và có cuộc sống riêng.

Em bỏ căn nhà quạnh quẽ nơi xứ người để trở về đây, không phải vì quê hương là chùm khế ngọt. Nó còn quá chua hơn một chùm khế chua và cũng không phải để tìm lại những kỷ niệm của thời niên thiếu.

Tuy nhiên, anh hiểu đấy, với những người đã khuất, như anh, dù có muốn quên cũng không thể nào quên được!

Bắt chước anh, buổi chiều, em lại ngồi trên một chiếc ghế xích đu bên bờ nước, nhìn ra mặt hồ Tịnh Tâm như anh ngày xưa vậy. Mùa xuân đã về, mặt hồ êm đềm và xanh trong. Ngoài kia, lại lú lên những búp sen đầu mùa, những lá sen non. Cũng như anh, em nhìn mặt hồ thật kỹ, để có thể thấy được những ngọn sóng lăn tăn trên mặt hồ xanh.

Anh thân yêu!

Có những đám mây trắng giăng ngang từng sợi nhỏ, trôi lững lơ trên bầu trời xanh thẳm, đang soi xuống mặt hồ. Em nhìn lên bầu trời, lại cũng những đám mây ấy đang chầm chậm trôi về hướng Tây, về dãy núi Trường Sơn.

Tiếc rằng ở đây, không như ngồi ở bờ sông Hương, để em có thể thấy núi xanh chạy dài tới cuối chân mây.

Những đám mây ấy, một thời anh cũng ngồi đây, mãi mê theo dõi. Ngày ấy, anh nghĩ gì về những đám mây trôi lững lờ kia? Còn em, ngày nay, ngồi đây, cũng nhìn những đám mây ấy, em lại nghĩ đến anh. Em nghĩ đến những đám mây tượng trưng cho những linh hồn. Và linh hồn nào là linh hồn của anh, sẽ trôi vào một khoảng hư vô, một nơi mình cũng không còn nhận ra mình vì tất cả mọi linh hồn đều hòa nhập vào một cõi không gian vô tận.

Cũng như mọi chiều, em đang chờ con chích chòe đến đậu trên cành lá dừa. Nó sẽ hót thánh thót như ngày xưa ấy. Em cũng lắng nghe tiếng chim ấy. Cái âm thanh khởi đầu trong sáng, kéo dài mãi ra và lên cao vút.
Tới chỗ tột cùng, tiếng “chích” ấy ngừng lại, bỏ một khoảng im lặng ngộp thở rồi “chòe” ra một tiếng thư giản, dịu dàng.

Không như ngày xưa, em ít lắng nghe tiếng chim. Nhưng mấy chiều hôm nay em cứ ngồi chờ con chim trở về, lắng nghe nó hót một cách chăm chú như anh đã từng nghe ngày xưa ấy. Em tưởng như trong tiếng hót của con chim chích chòe có cái gì là của anh. Trong đó có tiếng anh nói dịu dàng với em hay linh hồn anh tiềm ẩn?

Em ngất ngây với tiếng hót của con chim trống, trong khi nhìn con chim mái nhảy nhót ở tàu lá dừa bên cạnh. Thỉnh thoảng, con chim mái quay đầu ngước nhìn con chim trống, như chờ đợi màn trình diễn chấm dứt để hai người yêu nhau dắt tay nhau ra về. Bỗng nhiên em mong cho buổi trình diễn hãy khoan chấm dứt. Tiếng hót con chim chích chòe đang đưa hồn em vào một cõi xa xăm. Nhưng hết rồi anh ơi! Hai con chim đã ruổi cánh bay về phương trời xa mất dạng.

Em nhìn ra mặt hồ và lại nghĩ đến anh. Anh từng nói ai ai cũng muốn có một đời êm đềm như mặt hồ xuân. Có lẽ anh cũng vậy. Nhưng rồi anh đã phải đi. Tiếng gọi linh thiêng của tổ quốc đã đánh thức anh dậy, kéo anh ra khỏi mặt hồ êm đềm, đưa anh vào những trận tiền binh đao súng đạn. Anh đã đi trong chiến tranh, trong vòng lửa đạn bời bời và anh đã nằm lại đó, một nơi nào đó, để lại cho em, chiều hôm nay, trong cảnh muộn phiền của một tuổi già đầy nhung nhớ!

Em lại nhìn ra mặt hồ êm. Và “Chiều lên dần dần, chiều không xuống…” (3) Đầu tiên, mặt hồ đen thẫm lại. Bóng tối từ đó lên cao dần. Hàng cây bên kia hồ trở thành một vệt đen dài, khiến em không còn trông rõ bóng người qua lại trên con đường cạnh bờ hồ bên ấy. Chỉ có mấy ngọn dừa vươn cao là còn níu lại được chút nắng muộn màn, trông “như những cây nến khổng lồ” (3). Rồi những ngọn nến ấy cũng tắt nốt. Chỉ còn những đám mây trên vòm trời cao thẳm đang hòa màu đỏ cam rực rỡ với ánh nắng chiều. Bỗng những đám mây ấy trôi đi xa và chuyển sang màu tím rồi tối sẫm lại.

Anh thân yêu,

Khi giã từ, anh đã “quên” không nói với em một lời từ biệt, cái ý nghĩ ấy khiến em nhìn lên trời và kìa. Anh hãy xem…

…Mây đã đi xa rồi! Ước chi linh hồn em là đám mây ấy để có thể tìm thấy anh ở cuối chân mây!

Hoàng Long Hải 

----------------------------------------------
(1) “Trước đây mười chín năm . Thơ Vũ Hoàng Chương
(2) Thơ TTKH
(3) Một câu và ý trong bài “Hoàng Hôn” của Xuân Diệu

Blog Archive