Showing posts with label Thủy Như. Show all posts
Showing posts with label Thủy Như. Show all posts

Saturday, May 14, 2016

Lên Non Mới Biết Non Cao




Tiếng nhạc alarm kéo Kim ra khỏi giấc ngủ nặng nề. Hai mí mắt nặng trĩu và cái đầu nhức buốt làm Kim không muốn ra khỏi giường. Nhưng Kim vùng choàng dậy. Đã đến giờ đi đón con về. Kim cứ nhớ cảnh cậu con út bỏ mọi thứ đồ chơi, chạy ào đến ôm chầm lấy mẹ khi chị đến đón con, làm chị không thể nằm ráng thêm một phút nào nữa.

Lái xe đến trường đón hai cậu con về nhà là công việc thường ngày của chị. Buổi sáng ông xã đưa hai con đi học. Chiều sau giờ làm, Kim đón các con về, vừa nhắc nhở các con làm bài vở vừa nấu ăn. Chàng về đến nhà là cơm nước. Rồi chàng phụ Kim dọn dẹp bếp núc và tắm rửa cho các con. Hôm nào bọn trẻ xong bài vở sớm, cả nhà đi dạo quanh hàng xóm một lúc.

Nhưng tuần này chàng đi công tác xa nên mọi việc chỉ còn mình Kim phải cáng đáng. Vì trường học mở cửa lúc 7:30 sáng sau giờ Kim làm việc, nên chị và các con phải dậy sớm hơn một giờ để đến nhà bà giữ trẻ nhờ bà chở các con đến trường sau đó. Tối về lo sắp xếp để các con được nói chuyện với chàng qua FaceTime.

Chàng đi mới ba ngày mà Kim đã đuối sức. Kim thầm đếm còn bảy ngày nữa, chàng sẽ về. Kim sẽ bớt được phần nặng nề vừa lo việc làm lẫn việc nhà.

Bỗng nhiên, chính trong mấy ngày bận bịu này, Kim chợt tìm ra câu trả lời cho câu hỏi trong đầu bao nhiêu năm qua. “Tại sao Kim không hề thấy mẹ bịnh khi ba đi tù cải tạo?”

Kim vẫn cảm nhận tình yêu và sự hy sinh của mẹ cho chị em Kim trong những năm thơ ấu khi nhà vắng bóng ba. Nhưng không thể nào hiểu hết nổi cái nhọc nhằn, khổ cực, buồn tủi của mẹ. Như người xưa có câu, “Lên non mới biết non cao, nuôi con mới biết công lao mẹ già.” Kim không hiểu hết tấm lòng mẹ cho đến hôm nay Kim lo cho các con khi chồng vắng nhà. Kim nhớ giọng hát cao vút, man mác buồn của mẹ trong đêm giao thừa năm xa xưa ấy. “Lạnh lùng sương rơi heo may, buồn ngơ ngác bóng chim bay, mây tím giăng sầu đó đây…” Dẫu ngày ấy Kim còn bé lắm nhưng vẫn cảm nhận cái cô đơn, nhung nhớ trong giọng hát của mẹ.

Chàng của Kim đi công tác xa và Kim biết chắc chắn chàng sẽ đi mười ngày. Chàng của mẹ, là ba, ngày ấy bị bắt đi mất biệt, chẳng biết ngày về. Các con của Kim hơi buồn khi ba chúng vắng nhà nhưng tự hào khoe với đám bạn bé tí rằng ba chúng nó đi làm công việc “quan trọng”. Chị em Kim ngày ấy chẳng dám tỏ với ai nỗi buồn vắng ba và còn sợ hãi hơn khi mỗi ngày đến trường phải nghe bài hát, “giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước, diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước…” Lời hận thù trong bài hát làm những đứa trẻ có hoàn cảnh như Kim sợ hãi trong tủi nhục.

Mẹ đau lòng vì các con mẹ phải sống trong mặc cảm về ba với xã hội. Nhưng mẹ không để chị em Kim tuyệt vọng. “Kỳ lễ tới chắc ba sẽ về. Nhà mình sẽ không cực nữa.” Mẹ gieo cho chị em Kim và cho chính mẹ niềm hy vọng để sống. Nhưng rồi bao ngày lễ trôi qua, ba vẫn ở tù trên núi cao hẻo lánh. Mẹ phải bươn chải buôn bán để nuôi bầy con bốn đứa nhỏ xíu và thăm chồng đều đặn mỗi ba tháng.

Hàng ngày, Mẹ đạp xe 20 cây số mỗi ngày đi vào các xóm nhỏ làng quê mua gạo, đậu, tiêu, mè về bán ở chợ thị xã. Kim nhớ mẹ chẳng bịnh bao giờ. Đều đặn mỗi ngày thức dậy lúc bốn giờ sáng, chẳng có gì bỏ bụng. Thì thầm gọi chị Hai hoặc Kim dậy, cho tiền mấy chị em ăn sáng và đóng cửa sau khi mẹ đi. Có nhiều hôm cậu em út thức giấc lúc mẹ rời nhà. Cu cậu chạy theo níu xe đạp mẹ, làm chị Hai phải vất vả lắm mới giữ cậu được. Có hôm chị phải giả vờ bế em chạy theo mẹ đến ngã tư đầu phố.

Cậu con út của Kim cũng có vài lần níu chân mẹ mỗi buổi sáng Kim rời nhà. Nhiều hôm Kim không cầm nổi nước mắt vì nó gợi lại cảnh của chị em Kim năm xưa. Chắc ngày ấy mẹ cũng xót ruột lắm nhưng cứ phải để bầy con nhỏ ở nhà một mình cả ngày. Không đi mua bán thì gạo đâu để nấu? Kim nhớ nhiều lần ra cửa ngóng mẹ đem gạo về nấu cơm trưa. Mẹ không thể bịnh. Mẹ không cho phép mình bịnh vì mẹ không muốn cả nhà thiếu ăn. Tình mẫu tử đã cho mẹ sức mạnh để vượt qua những ốm đau uể oải trong người, để có thể lo cho con cái. Mỗi năm, Mẹ chỉ nghỉ ngày mùng một Tết. Ngày mùng hai lại đạp xe 25 km đi về giỗ ngoại và đem về một ít củi hay một vài đòn bánh tét để mùng ba lại dậy sớm đón xe đi thăm ba.

Kim nhớ hai lần đi thăm ba với mẹ. Ba giờ sáng thức dậy, mẹ gánh con mang, xôi thịt, mắm muối, đậu đường ra bến xe, rồng rắn sắp hàng mua vé. Rồi ngồi trong chiếc xe chật như nêm, hôi tanh mùi cá mắm làm Kim muốn ói, chạy ì ạch mấy tiếng đồng hồ. Xe đổ khách ở ngoài thị trấn. Mẹ con lại gồng gánh cùng với nhiều các bà, các cô lội bộ vào trại tù. Khi tới trại thì hết giờ thăm nuôi, mẹ con cùng ngủ trên chiếc sạp trong chiếc lều không cửa bên ngoài trại. Tối đến Kim sợ hãi khi thấy có những đốm nhỏ tròn nhảy múa trong màn đêm. Kim run rẩy thì thầm hỏi mẹ.

“Cái chi rứa mẹ?”

“Mấy con thỏ đó mà!”

Giọng mẹ bình tĩnh làm Kim bớt run. Sáng hôm sau thức dậy, mẹ và Kim ra bờ sông ngóng ba cùng với những người tù khác lội qua sông để được thăm nuôi. Mẹ dặn, “Nếu con thấy ba, thì đừng kêu. Nếu không họ sẽ đuổi về, không cho gặp ba đó.” Kim vâng dạ như máy nhưng chẳng hiểu vì sao có những cái luật lạ kỳ.

Rồi cuối cùng Kim cũng gặp ba, ốm yếu, nước da đen xạm. Ba ngồi phía bên kia cái bàn rộng, Kim và mẹ ngồi phía bên này. Cánh tay nhỏ của Kim không thể với được tới ba. Ba mẹ cũng không thể nắm tay nhau được. Kim nhìn quanh nhận thấy những gia đình khác cũng như vậy. Ai cũng khẽ khàng hỏi thăm với những câu như nhau trong ánh mắt theo dõi lạnh lùng của viên cán bộ trại tù coi việc thăm njuo6i. Hồi đó mẹ cũng khoảng cỡ tuổi của Kim bây giờ.

Chàng của Kim mới đi công tác mấy ngày. Kim cuối mỗi ngày khi cảm thấy mỏi mệt, Kim nhớ cánh tay rắn chắc của chồng xoa bóp bờ vai cho mình. Khi nói chuyện với chồng qua FaceTime, Kim cũng trút được bớt chút ít mệt nhọc trong ngày. Mẹ ngày xưa cực khổ nuôi con ở nhà, rồi thêm chính quyền sách nhiễu đủ điều. Vậy mà khi gặp ba, không một cái nắm tay, không một lời thở than, không tiếng an ủi. Kim không thể hiểu hết cái buồn đau của mẹ trong những ngày ấy cho đến bây giờ khi Kim có chồng con.

Hôm sau con nóng sốt, Kim gọi ngay cho chồng. Chàng đang làm việc không bắt máy. Kim vội vàng gọi em dâu là bác sĩ để được hướng dẫn cách chăm sóc con. Rồi chở con đi khám bệnh. Kim lại nhớ lần chính Kim bị bệnh năm 75. Hồi đó mẹ chưa biết đi xe đạp. Nhằm lúc trời mưa lớn nước ngập đường. Mẹ lội nước cõng Kim đến gặp ông bác sỹ duy nhất của thị xã tốt nghiệp trước năm 75. Ông này phải chữa bịnh chui vì không có giấy phép của “chính quyền cách mạng”. Lúc hai mẹ con ra khỏi nhà ông bác sỹ, nước dâng tới bụng mẹ. Nhằm chỗ nước chảy mạnh, mẹ đi muốn té.

Kim bây giờ con bị bịnh vào lúc chồng vắng nhà, Kim có thể gọi người thân quen để được giúp đỡ. Mẹ ngày xưa đơn côi, một mình gánh vác, một mình toan tính, một mình chèo chống tìm cách lo cho con. Kim vẫn biết mẹ hy sinh nhiều cho con, cho chồng nhưng không biết mẹ hy sinh đến mức nào. Mãi cho đến hôm nay, khi Kim nuôi hai con lúc chồng vắng mười ngày. So với mẹ ngày xưa nuôi bốn chị em khi ba đi tù bảy năm. Kim chẳng thể nào làm được như mẹ. Kim không thể nào trả hết ơn mẹ dưỡng nuôi như câu ca dao Kim nghe lúc còn tấm bé. “Ai rằng công mẹ như non, Thật ra công mẹ lại còn lớn hơn.”

Kính mừng sinh nhật 80 của mẹ và kính tặng tất cả các bà mẹ nuôi con khi chồng đi tù cải tạo.

Thuỷ Như

Tuesday, November 24, 2015

Chè Bí Đỏ


Thủy Như
Tác giả là cư dân Orange County và là giáo chức tại một trường trung học ở Los Angeles. Với bài Viết Về Nước Mỹ đầu tiên, “Người Lao Công,” chuyện một nữ sinh viên có bố là lao công trong trường đại học, Thủy Như đã nhận giải đặc biệt Viết Về Nước Mỹ 2004. Bài viết mới của tác giả có kèm theo lời ghi trân trọng: Kính tặng Cô giáo Lê Thị Hồng Sâm, trường Tiểu học Tam kỳ, Quảng Nam.

* * *
Mẹ ơi! Mẹ ký cái giấy này cho con đi field trip.” Cậu con trai học lớp ba của tôi hớn hở trao cho tôi tờ giấy khi vừa thấy tôi đến đón nó ở trường. Tôi nhìn thấy ngày đi field trip nhằm vào ngày nghỉ của tôi nên tôi hỏi nó. “Con có muốn mẹ đi field trip với con không?” Nó reo lên vui vẻ, “Dĩ nhiên là có. Con rất muốn mẹ đi với con.” Rồi nó ríu rít tính toán xem nó phải mời đưá bạn nào đi chung xe với tôi, món đồ chơi nào nó có thể mang theo để chơi trên xe với bạn nó.

Đến ngày field trip, cậu con trai tôi thức giấc rất sớm, không cần ba nó phải đánh thức như thường lệ. Mẹ con tôi hối hả đến trường. Đưa cậu nhỏ vào lớp xong, tôi chạy lại phòng lớp ba của cậu lớn. Cô giáo bắt đầu chia học trò thành nhóm nhỏ để đi chung xe với các phụ huynh gồm có bảy xe. Học sinh chỉ có mười bốn em nhưng phụ huynh có tới mười người. Nhiều em có cả ba lẫn mẹ cùng đi. Khi cô giáo bảo các em đem các phần ăn trưa của mình để chung trong thùng, tôi mới nhớ ra là đã để quên đồ ăn trưa ở nhà. Tôi xin phép cô giáo chạy đi mua thức ăn và hẹn gặp nhau trên núi. Cậu con trai tôi không vui lắm vì phải đi với mẹ mà không được đi chung với các bạn.

Chuyến field trip ở rặng núi San Gabriel, gần thác nước Monrovia. Vợ chồng chúng tôi đã từng hiking nơi thác này nhiều lần, nhưng lần này bản đồ chỉ dẫn rẽ sang phải đi vào khu dành riêng cho Track Scout Reservation.

Đường đi ngoằn ngoèo, nhiều chỗ quanh gấp khuỷu, làm tay lái tôi hơi run. Rồi mẹ con tôi cũng tới nơi an toàn. Cậu con trai tôi mừng rỡ nhập ngay vào với đám bạn nó. Sau khi được nghe hướng dẫn nội qui và lịch trình của buổi học tập dã ngoại, cả lớp chia làm hai nhóm thay phiên nhau một nhóm học cách làm butter, nhóm kia tập trang trí trên những miếng da nhỏ.

Cậu con trai tôi học làm butter trước. Người đầu bếp giới thiệu sơ qua cách làm butter với dụng cụ thô sơ từ thời ông bà của cô ấy. Sau đó cô đổ heavy whip cream vào ba hũ nhỏ trong đó có bỏ hai viên bi. Heavy whip cream là một phần sản phẩm của sữa bò. Sữa sau khi vắt xong, để cho đứng lại. Phần trên là cream, bán mắc tiền hơn. Phần dưới là skim milk, rẻ tiền nhất. Cô nói thêm rằng phụ huynh có thể cho các em làm ở nhà nhưng nhớ là chỉ đổ cream vừa ngập hai viên bi thì dễ thành công hơn.

Rồi cô chia học sinh và phụ huynh thành ba nhóm nhỏ. Mỗi người dùng hai tay cầm trên nắp và dưới đáy hũ để tránh làm cho hũ bị nóng lên. Rồi thay phiên nhau lắc liên tục cho đến khi không còn nghe tiếng bi va vào thành hũ. Đó là lúc cream đã thành butter. Cô đầu bếp đổ butter ra một cái chén lọc cafe bằng giấy, rồi nhẹ nhàng dội lên một ít nước cho trôi đi lớp sữa còn dính bên ngoài. Cô cho mỗi người một cái bánh cracker mặn để xúc một miếng butter vưà mới làm xong, nếm thử. Mùi bơ thơm nhẹ, vị béo tan dịu dàng trong miệng làm ai cũng muốn thử thêm một miếng thứ hai. Rất nhiều phụ huynh hỏi cô bí quyết làm số nhiều hơn để làm ở nhà.

Sau khi học làm butter và trang trí trên da, chúng tôi được dắt đi vào rừng. Qua khỏi khu vực trại, người hướng dẫn chỉ về hướng một khe nước đã khô. Ông nói, “Đó là cái thác bảy tầng. California của chúng ta đang bị hạn hán nên thác này không còn nước. Chúng ta hãy cầu nguyện cho có mưa. Lúc đó cái thác này rất đẹp.”

Chúng tôi tiếp tục đi sâu vào rừng. “Mùi lá gì thơm quá!” Một phụ huynh lên tiếng. “Ồ! Đó là lá bay, gia vị cho nhiều món ăn Ý. Đi một chút nữa chúng ta sẽ thấy nó mọc thành một rừng ở đằng kia.” Người hướng dẫn trả lời.

Rồi ông hướng dẫn cho các em cách phân biệt các loại cây độc, nấm lành, dấu chân gấu và cách phản ứng khi gặp thú rừng. Các em thêm phần hứng thú khi chui qua dưới một thân cây to nằm chắn ngang đường, hay là nhảy trên các viên đá để băng qua khe nước cạn, hoặc là sợ hãi khi những mỏm đá bị những bàn tay bấu vào bỗng dưng rời ra lăn xuống khe núi dốc đứng.

Buổi hiking làm cho những cái bụng cồn cào và những phần ăn trưa nhanh chóng biến vào những cái miệng ngốn ngấu của các em.

Buổi chiều các em học cách chèo thuyền và bắn cung. Thật dễ thương khi thấy những cánh tay bé nhỏ gồng lên ráng chèo chống hoặc là giương cung nhắm bắn. Tưởng như đã mệt nhoài khi và xe để xuống núi, nhưng không. Con trai tôi và đám bạn nhao nhao kể lại những chuyện xảy ra trong chuyến đi. Chúng reo vang khi xe quẹo qua một khúc quanh, có một bầy nai ba bốn con đứng ngơ ngác không xa lề đường.

Trên đường về nhà, tôi hỏi con, “Con thích nhất cái gì trong chuyến đi này?” Nó trả lời ngay: “Làm butter và chèo thuyền. Mình có thể làm butter như vậy ở nhà được không mẹ?” Tôi gật đầu. “Dĩ nhiên rồi.” Nó hỏi tiếp, “Hồi mẹ học lớp ba, mẹ có đi field trip như con không?” Tôi ngỡ ngàng, “Field trip? Mẹ không được như con bây giờ…. Mẹ có đi về quê… Quê cuả bà ngoại…. cũng có rừng….” Nó lại hỏi, “Thế mẹ có học làm butter như hôm nay không?” Tôi lắc đầu, “Mẹ lúc đó ở Việt nam. Không có sữa như ở đây, Mẹ không biết butter. Nhưng mẹ có học nấu một món ăn của cô giáo năm lớp ba….”

Câu hỏi của con làm tôi bỗng nhớ rõ buổi “liên hoan” của mấy mươi năm về trước, một kỷ niệm tôi định viết lại nhiều lần nhưng chưa được.
...
Sau năm 1975, tại miền Nam Việt Nam, cái gì cũng hiếm kể cả những món ăn vặt. Một phần vì ai cũng nghèo hoặc phải giả nghèo nếu không muốn bị chính quyền “nhân dân” đến đánh phá tư bản tịch thu tài sản. Nhà tôi thì thuộc loại nghèo thật. Mẹ tôi một nách bốn con. Chị tôi, lớn nhất mười một tuổi, rải dài cho tới cậu út mới hơn một tuổi. Mẹ trước năm 75 đi dạy, người yếu đuối, xe đạp cũng không biết đi. Vì ba tôi là thành phần ngụy quyền bị bắt đi tù trong trại cải tạo, nên mẹ tôi bị thôi việc, “mất dạy” từ đó. Mẹ tập đi xe đạp để đi buôn bán kiếm ăn từng ngày.

Ăn quà vặt thời ấy là chuyện nằm mơ của chị em chúng tôi. Tôi nhớ lâu lâu khi trời thật nóng mẹ đưa tiền đi mua cục nước đá bằng nắm tay đem về pha nước uống, chị em tôi mừng còn hơn người ta được uống thuốc tiên. Ấy vậy mà cô giáo tôi dám tổ chức “liên hoan” cho đám học trò con nít lớp tôi. Tôi chẳng nhớ mỗi đưá phải chung bao nhiêu tiền nhưng có lẽ chỉ là chút đỉnh cho có, vì tôi nhớ mẹ tôi cười với món tiền quá ít. “Liên hoan món gì với chừng đó tiền.”

Buổi liên hoan được tổ chức tại nhà Cô giáo. Tôi nhớ đứa nào cũng háo hức tới nhà cô thiệt sớm. Nhà cô khác hơn những nhà mà tôi được đặt chân tới. Ngăn cách giưã phòng khách và nhà dưới là một cái cửa lửng, tức là nếu có người nào hơn cao đứng sau cửa thì ta sẽ thấy mặt và hai chân nhưng không thấy khúc giữa. Phiá sau nhà có cái giếng nước được chia đôi với nhà bên cạnh bằng một thành bằng xi-măng, thành ra cái giếng có hình bán nguyệt. Cái làm cho đám học trò con nít chúng tôi trầm trồ nhất là cây đàn ghita treo trên tường. Một đứa trong đám trịnh trọng nói rằng anh con lớn của cô biết đánh đàn mà hình như cậu con nhỏ của cô, nhỏ hơn tụi tôi cũng biết đánh đàn nữa. Cô như là tầng lớp quí tộc đối với đám học trò chúng tôi thời bấy giờ.

Khi cả đám đến đông đủ, cô chia cho một nhóm một việc. Tôi thuộc nhóm nhỏ nhất được giao bóc vỏ đậu phụng đã được cô ngâm nước trước. Nhóm khác bóc những múi mít chín, rồi tước sợi nhỏ. Một đứa thì đãi đậu xanh, đứa khác thì nạo dừa Cô đem ra một trái bí đỏ lớn, gọt vỏ rồi cắt ra thành miếng nhỏ. Tôi quá sức ngạc nhiên. Tôi vốn ghét cái món bí đỏ bởi tôi cứ phải ăn hoài. Nhà nghèo chẳng mấy khi được ăn thịt. Mẹ tôi hay nấu canh bí đỏ nấu với đậu phụng sống giã nhỏ. Mẹ bảo, “Ăn cho bổ óc.” Tôi chẳng biết bổ cỡ nào chứ món canh bí đỏ chan vào cơm có độn khoai lang lát đã phơi khô làm tôi nuốt không trôi. Tôi hy vọng là những miếng bí đỏ đó không phải cho bữa liên hoan cuối năm của lớp tôi.

Tôi mon men đến gần cô rồi hỏi nhỏ, “Cô ơi, Mình làm liên hoan bằng món gì vậy cô?” “Chè bí đỏ đó con.” Cô nhìn tôi cười trả lời. Tôi thất vọng hết sức. Ở nhà, mỗi lần mẹ nấu canh bí đỏ, tôi thường ăn cơm không. Nếu mẹ la, tôi húp nước rồi vớt mấy vụn đậu phụng nhưng chưà lại mấy miếng bí đỏ. Nhưng ở đây, có bạn bè, cô giáo. Tôi làm sao với mấy miếng bí đỏ ấy.

Thấy tô mít chín vàng rộm đã tước xong thơm lừng, tôi thấy còn chút hy vọng hỏi tiếp, “Còn mít với dừa, với đậu phụng để làm gì hả cô?” Cô nhìn tôi nheo mắt, “Bỏ hết vào nồi thành chè bí đỏ ngon tuyệt.” Chẳng biết tại mùi mít chín hay tại cách diễn đạt của cô làm nước miếng ưá ra trong miệng tôi. Tôi không thích bí đỏ nhưng nghe cô nói “ngon tuyệt” làm tôi cũng tin là nó sẽ rất ngon.

Mà chè ngon thật. Đám học trò nhỏ chúng tôi ngồi vòng tròn trên nền gạch bông nhà cô. Trước mặt mỗi đưá là một chén chè bí nóng. Chúng tôi vưà thổi, vừa ăn. Cái ngọt của những sợi mít, vị béo của những cọng dưà, quyện vào với cái béo bùi cuả đậu phụng, đậu xanh... Và lạ kỳ thay, những miếng bí đỏ trở nên thơm, mềm dẻo, tan ra trong miệng tôi. Ngon một cách lạ lùng. Đám con nít chúng tôi hít hà, húp cho đến giọt cuối cùng trong chén.

Cho đến ngày nay, chưa bao giờ tôi được ăn chén chè bí nào ngon như vậy. Đến bây giờ, khi tôi đã trở thành cô giáo đứng lớp, khi tôi đã làm mẹ, đã trải qua gần nửa đời với biết bao đổi thay, buồn vui sướng khổ, vị ngon và niềm vui với chén chè bí đỏ ngày ấy vẫn như còn nguyên vẹn. Nhớ lại lúc cô giáo nheo mắt vui vẻ nhìn nình ngày ấy, tôi như thấy lại được cả tấm lòng yêu thương của cô dành cho đám học trò con nít. Đó là cái thời mà người ta ai cũng nghèo khó, rồi chồng chất lên trên là bao nỗi sợ hãi, lo âu. Vậy mà cô đã tìm ra cách để làm cho tuổi thơ của chúng tôi có những kỷ niệm vui nho nhỏ. Nhờ cô, tôi có được một kỷ niệm để kể cho cậu con trai của tôi thời tôi học lớp ba như nó bây giờ.

Cô ơi, con cảm ơn cô buổi liên hoan chè bí đỏ năm xưa nhiều lắm.

Thuỷ Như

Wednesday, September 2, 2015

Vườn Của Ngoại



Thủy Như
Tác giả là cư dân Orange County và là giáo chức tại một trường trung học ở Los Angeles. Với bài Viết Về Nước Mỹ đầu tiên, “Người Lao Công,” chuyện một nữ sinh viên có bố là lao công trong trường đại học, Thủy Như đã đã nhận giải thưởng đặc biệt. Bài viết mới kể về những kỷ niệm thân ái, từ khu vườn bà ngoại Việt Nam ở quê xưa, đến khu vườn của bà ngoại chồng người My  hiện nay.

* * *
Lúc còn nhỏ, tôi thích có ông bà ngoại như mấy đưá nhỏ trong xóm vì tuị nó nói ông bà ngoại hay cho quà. Ông bà ngoại tôi đã mất nên tôi chẳng được như tụi nó. Nhưng mà tôi có vườn của ngoại, nghe rất thơ và tha thiết. Hơn bốn mươi năm nhưng tôi vẫn nhớ như in khu vườn của ngoại.

Tôi nhớ ngày còn bé tí, ba tôi chở chị lớn và tôi về thăm quê ngoại. Tôi chẳng nhớ cảm giác đi xe máy hay là đường xa. Có lẽ tôi ngủ suốt từ nhà đến quê. Ông bà ngọai tôi mất khi tôi vừa chào đời. Cậu tôi, con trai duy nhất của ông ngoại, có vợ con, nhà cửa và đi làm dưới thị xã nên nhà ngoại đóng cửa nhờ mấy người bà con trông nom.

Tôi nhớ con truông dài dẫn vào nhà ngoại. Con truông là những con đường nhỏ núp dưới những tàn cây rậm nối liền những xóm nhỏ trong làng. Quê ngoại có nhiều con truông với nhiều cái tên rất hay như truông Mây, truông Vân Hà, truông Khánh Mỹ, truông Trường Thành... Con truông vào nhà ngoại tôi nằm sụp giữa hai xóm nhà phủ đầy những tán cây to nên ẩm ướt quanh năm. Hai bên có rất nhiều cây dương xỉ, cây ráy và nhiều cây dại khác mà tôi quên mất tên. Thứ thì lá kim, thứ thì lá tròn, rồi thì hình trái tim, màu xanh, màu vàng, màu đỏ tiá trông rất lạ mắt. Ra khỏi con truông dài mát lạnh, rồi rẽ trái trên con đường đất ven ruộng là đến ngõ nhà ngoại. Ngõ nhà ngoại cũng là một con truông, được lót những viên đá lớn gồ ghề đủ hình dạng. Tôi nhớ nhất là một viên đá lớn, mặt hơn trũng xuống, nhẵn bóng trông giống như một cái chảo lớn được đặt trên đường. Tôi nhớ mình ngồi xuống mặt đá mát lạnh và trượt vòng quanh. Mẹ tôi bảo vào mùa mưa, rùa trong hốc đá bò ra kiếm ăn vào buổi tối. Mai ruà gõ vào mặt đá nghe lộp cộp.

Sau năm bảy lăm, ba tôi đi tù. Mẹ một mình xuôi ngược nuôi bốn đứa con nhỏ. Nhà cậu dọn về ở nhà ngoại. Mẹ tôi về ở nhờ với cậu trong những ngày cấy gặt trên miếng ruộng ngoại cho mẹ làm của hồi môn. Tôi thỉnh thoảng được mẹ cho về quê ngoại phụ mẹ nhổ cỏ lúa. Tôi nhổ được một lúc, mẹ quay lại la lên: “Sao nhổ hết lúa mà chưà cỏ lại vậy?” Mẹ cho tôi về ngồi đuổi gà với mấy đứa con nhỏ của cậu. Sân gạch trước nhà được bao bọc với hàng chè tàu được cắt vuông vắn. Trên sân lúc nào có cái gì đó để phơi. Nào là lúa, đậu, chè, tiêu, khoai lang xắt lát, khoai chà, khoai trụng, bánh tráng và củi. Đám con nít chúng tôi được giao nhiệm vụ đuổi gà, những con gà nhào vào ăn trộm những thứ phơi trên sân. Lúc nào không có gà thì bày trò chơi làm bằng lá cây. Mấy đưá em họ bày tôi lấy lá vấn kèn thổi, chằm con trâu, con gà, những cái thúng tí hon bằng lá và làm nhà bằng những ruột tre thưà cậu bỏ ra sau khi đan trạc.

Tôi và mấy đứa em họ thường lén đi lên vườn hái trộm dâu đất, bòn bon và bồ quân. Gia đình cậu tôi sống nhờ những cây trái trong vườn bởi mỗi mùa hợp tác xã thu hơn phân nửa lúa gặt ngoài đồng. Cậu tiả bớt những cây lớn trồng thơm, bưởi, mít, tiêu, chè. Cây traí ngon đẹp trong vườn mang ra chợ bán là nguồn thu nhập chính của gia đình. “Nhà vườn ăn cau sâu.” Chúng tôi được cho những trái đèo đẹt để nhâm nhi. Chẳng hề gì, tôi vẫn thích khu vườn. Dưới những tán cây to lớn, ngò gai mọc rất nhiều. Vô tình dẫm lên lá ngò gai, mùi thơm toả ra nồng nàn. Cây thì đủ loại tôi chẳng nhớ tên. Thứ thì thân xù xì, có loại thì thẳng đứng da trơn láng. Tôi phụ với mấy đứa em họ đi lượm trái dầu lai đem về phơi, đập bể vỏ cứng, lấy ruột ép lấy dầu để bán. Tôi không thể nào quên những tàn cây râm mát, mùi mít thơm nồng nàn trong gió, thoang thoảng đâu đó mùi hoa dủ dẻ nhẹ nhàng và tiếng chim hót giữa trưa hè chói nắng. Khu vườn đi vào giấc mơ của tôi. Tôi ước mơ một mái ấm gia đình với mảnh vườn nhỏ sau nhà trồng những cây hoa trái mà tôi thích.

Trước ngày đi Mỹ, gia đình tôi ở trọ trong một chung cư trong Sài gòn. Leo lên mấy tầng lầu, băng qua hành lang tối lờ mờ, có lúc gặp người ta nấu ăn hay rửa rau, rồi cuối cùng mới đến nhà chúng tôi ở trọ. Thư bác tôi từ bên Mỹ gởi về viết: 

“Bác đã nhờ ông Mục sư kiếm giùm một căn chung cư cho gia đình con....” 

Tôi thích đi Mỹ nhưng đọc hai chữ “chung cư” thì sợ. Tôi chẳng muốn sống trong những cái hộp ngộp ngạt không một tấc đất quanh nhà và không một mảng cây xanh như cái chung cư tôi đang ở trọ chờ đi Mỹ. Bởi vậy tôi mừng hết lớn khi thấy căn apartment bác tôi mướn giùm không những có mảng cỏ xanh sau nhà mà còn có cả vài khóm hồng khoe hoa trước sân trong nắng ấm Cali. Xứ Mỹ có khác! Mấy ngày sau có người quen cho vài bụi rau thơm. Tôi, vốn có tiếng là có tay trồng cây, được giao trồng những cây rau thơm đó như một khởi đầu cho mảnh vườn cuả nhà tôi nơi xứ người. Và tôi lại hy vọng một ngày nào đó tôi sẽ có một mảnh vườn sau nhà cho riêng mình.

Rồi tôi quen chàng, người cũng thích thiên nhiên cây cỏ như tôi. Chàng đưa tôi đến thăm nhà ngoại của chàng, cũng là nơi chàng cư ngụ. Chàng kể, Bà ngoại ở một mình lâu lắm rồi. Cách đây mấy năm, bà lúc đó đã hơn bảy mươi, leo lên tỉa cây sau nhà, tụt tay rớt xuống bất tỉnh nhân sự. Cả nhà quyết định phải có một người nào đó trông coi bà ngoại. Chỉ có chàng là độc thân, dễ tính, hợp với bà ngoại. Thế là... sau khi trở về trong một chuyến công tác, chàng thấy nhà mình trống trơn. Gọi điện thoại nói chuyện với ba mẹ mới biết đồ đạc của chàng đã được dọn về căn phòng phía sau của nhà bà ngoại.

Bà ngoại của chàng là một bà già da trắng nhỏ nhắn, có đôi môi hồng cứ như là có thoa son, và đôi bàn tay thon đẹp dẫu đã nhăn nheo. Bà ra phòng khách nhìn tôi. Tôi cúi đầu chào, 

“Chào bà ạ.” 

“Tôi không phải là bà của cô.” 

Bà trả lời khô khan, mắt vẫn nhìn tôi chăm chăm. Tôi cười chỉ tay qua chàng, 

“Phong tục cuả cháu là phải kêu theo danh xưng mà anh ấy gọi bà.” 

Bà hỏi tiếp, “Cô là người nước nào?” 

“Cháu là người Việt Nam.” 

Bà khoát tay vừa nói, vừa đi vào phòng. 

“Ta chưa gặp người Việt Nam bao giờ. Chỉ nghe nói chiến tranh Việt Nam thôi. Cứ tự nhiên nhé!” 

Chàng nháy mắt nói nhỏ, 

“Em là đặc biệt đó. Nói thật chứ không phải tán em đâu. Bà ngoại không bao giờ nói chuyện với những người đến thăm anh.” 

Tôi cũng mong là chàng nói thật.

Chàng đưa tôi ra vườn. Một mảnh cỏ xanh vuông vức bên hông nhà. Chàng đưa tay chỉ hướng về lối nhỏ lát gạch cuối sân. “Lối này đi ra vườn.” Tôi như bị hớp hồn khi thấy thảm cỏ rộng mênh mông xanh mướt được cắn xén cẩn thận. Bên phải sân là đám hoa cúc trắng có điểm những đường tím đậm, ở giữa có có nhụy vàng. Chàng bảo, “Đó là african daisy. Những buị hoa đỏ kia là geranium.” Phía bên kia sân là hàng rào trúc đào trắng và hồng thắm, dày kín che tầm nhìn nhà hàng xóm. Cuối sân cỏ là hai cây dâu tằm to lớn gợi nhớ nhà dì tôi ở quê nhà. Chàng chỉ mấy gốc cây đã cưa cụt nằm khuất trong cỏ và nói. 

“Đây là những cây táo. Lúc còn nhỏ, mỗi lần đến thăm bà, anh hay treò lên hái trái ăn. Rồi leo lên cái đồi có đầy cỏ ở đằng kia, lăn người xuống. Thích lắm.”

Tôi theo chân chàng tiến qua khỏi hai cây dâu. Thêm một phần vườn nữa lộ ra. Một cây cọ cao vút. Một cây quít đầy trái và một cây cam quả lủng lẳng trên cành. Và cái đồi hoang dựng đứng giưã trời xanh cao vút. Tôi với tay hái một trái quít, bóc vỏ, nếm thử múi quít vàng lượm. Vị chua chua ngọt ngọt và mùi thơm dễ chịu quyện vào trong miệng tôi. 

“Em hái thêm mấy trái đem về nhá?” “Em cứ hái tuỳ thích. Bà ngoại mừng lắm khi có người hái giùm trái cây trong vườn. Ngày xưa nhiều cây ăn trái lắm. Chẳng hiểu sao bà ngoại tự dưng đốn bỏ hết. Chỉ chưà lại có cây quýt này và cây cam đằng kia.”

Rồi tôi và chàng làm đám cưới. Tôi theo chàng về ở chung với bà ngoại. Sau này tôi mới biết cả họ hàng bên chồng lo sợ không biết tôi ở với bà được bao lâu bởi bà khó tính, không có người nào ở chung được. Bà thương tôi lắm, tôi cũng chẳng biết vì sao. Má chồng tôi đi đâu cũng khoe chuyện bà ngoại và tôi sống vui vẻ thế nào. Vợ chồng tôi ở với bà ngọai được một năm cho đến khi biết tôi có thai cháu đầu lòng, bà ngỏ ý muốn về ở với ba má chồng tôi vì không muốn nghe con nít khóc. Bà ngoại bán lại cho vợ chồng tôi căn nhà nhưng cho chúng tôi khu vườn. Tôi nhớ ngày bà dọn đi, bà vẫy tay chào qua cửa sổ xe, “Enjoy the yard!” Bà biết tôi thích khu vườn. Tôi vẫn thường ra dọn vườn với bà và kể chuyện khu vườn của ngoại tôi ở Việt Nam.

Chàng và tôi bắt đầu sửa sọan cho khu vườn của mình. Chàng trồng một cây santa rosa plum trong mảnh sân nhỏ kỷ niệm một năm ngày cưới. Trồng thêm dây nho ở góc sân để cho bò lên che tường gạch nắng chang. Chúng tôi trồng thêm nhiều cây ăn trái khác trong vườn. Cây peach có bông màu hồng sáng rực một góc vườn mỗi dịp Tết Việt Nam và trái thì thơm ngọt vô cùng. Cây royal apricot có bông trắng rất dễ thương cũng nở vào dịp Tết và trái chín vàng hườm, hương vị gợi nhớ trái bồ quân vườn nhà ngoại tôi. Chàng thích plum nên trồng đủ loại: santa rosa, satsuma, burgundy, sugar, elephan heart, weeping...

Tôi mê nhất là trái santa rosa plum lúc chín có màu tím sẫm, mọng nước, thơm và có vị ngọt thanh, ăn vào mát cả miệng. Sau mấy lần trồng rau thơm Việt Nam không thành công, tôi thay bằng lavender, thyme, marjoram, rosemary, sage, và oregano. Mỗi lần tưới nước vào những bụi rau thơm này, cả vườn nồng nàn mùi hương. Giàn nho sau một năm đã che kín tường như chúng tôi dự tính. Muà nho trổ bông ngồi dưới giàn nho hít mùi hương ngọt ngào gợi nhớ mùi bông mận quê nhà năm nao.

Vườn của chúng tôi chưa có cây rậm rạp như vườn nhà ngoại ở Việt Nam nhưng sắc màu thì có lẽ hơn hẳn. Muà thu, hai cây dâu và hàng lựu tôi trồng từ hột, lá đổ vàng rực một góc vườn. Hai cậu con nhỏ của tôi thích đứng dưới gốc cây, chờ cho ba chúng nó rung để lá vàng bay lượn trên không và chúng đua nhau xem ai đón bắt được nhiều lá nhất. Khu vườn ngập tràn tiếng cười nắc nẻ của tuổi thơ. Muà đông vườn cây trụi lá. Từ cưả sổ phòng ngủ, chúng tôi có thể nhìn thấy những trái cam vàng ửng lủng lẳng trên cành giống như trong những chuyện tranh tôi đọc thời còn bé, rất bé. Mùa xuân và hè thì ngàn hoa lần lượt đua nhau khoe sắc. Cả vườn nồng nàn hương bưởi, cam, chanh, quýt và angel wing jasmine. Rồi hoa dại nở khắp trên sườn đồi dựng đứng sau nhà. Có năm thì hoa cải vàng nhạt. Năm thì hoa lupin tím lưng đồi. Rồi ice plant của bà ngoại trồng, nở hoa, hồng cả mặt đất. Tôi đón bà ngoại về thăm vườn một ngày nắng chan hoà. Bà chậm rãi leo lên từng bậc tam cấp, đứng nhìn vòng quanh vườn trong mùi hương hoa cúc tần ô chẳng biết ở đâu ra, mọc dày một góc vườn năm ấy. Bà nhìn tôi cười chậm rãi, 

“Tụi bây giỏi lắm. Vườn rất đẹp.”

Sau lần về thăm vườn, bà ngoại bắt đầu bị lãng trí. Bà thức dậy lúc nữa đêm, đi lung tung và ngã té. Bác sỹ khuyên ba má chồng tôi nên cho bà vào khu an dưỡng có người theo dõi 24/24. Những lúc vào thăm bà, tôi cho bà xem slideshow những tấm hình tôi chụp trong vườn. Nào là quỳnh trắng, hồng và đỏ nở hoa dưới giàn nho thòng xuống những chùm trái xanh bóng láng. Những chậu lan nở hoa đủ màu sắc sắp trên cưả sổ bếp. Cây peach trái chín đỏ cây, cây plum trĩu trái tím trên cành và trái apricot vàng rực trong đám lá cùng hàng lựu hình bán nguyệt lá non lên xanh mướt. Một bầy chim sẻ đang ăn những hạt cúc tần ô. Một cánh bướm chúa màu gạch đậu trên cánh hoa potato bush màu tím than. Mỗi lần đến thăm là tôi tường trình những cái mới trong vườn. Có một lần tôi vừa mở máy chuẩn bị chiếu những tấm hình mới chụp, vừa nói với bà ngoại,

“Con mới chụp mấy tấm hình trong vườn của ngoại nè...” 

Bà nắm tay tôi, giọng chậm rãi. 

“ Không phải vườn của ta. Nó đã thuộc về các con rồi. Ta mừng vì thấy ngôi vườn được chăm sóc cẩn thận. Các con xứng đáng được hưởng ngôi vườn đó.” 

“Thế thì chúng ta gọi nó là “Peterson Estate” có được không?” 

Chàng của tôi gợi ý. Bà cười vang, 

“ Nghe cũng được lắm!” 

Peterson là họ của ông ngoại. Bà vẫn giữ họ đó dầu hai người đã chia tay khi má chồng tôi còn bé xíu. Mấy tuần sau bà ngoại qua đời. Vợ chồng tôi biết ơn bà đã để lại khu vườn, nơi chúng tôi nối tiếp sở thích của bà và làm thành giấc mơ của chúng tôi thuở bé.

Bây giờ mỗi lần mời họ hàng đến nhà, chàng của tôi đều để địa chỉ: Peterson Estate. Mọi người dần dà biết đó là nhà của chúng tôi. Chàng đặt tên cho từng góc vườn nhỏ. Bởi chàng có gốc Nhật nên phải có Japanese Garden, sở thích của chàng từ thuở niên thiếu. The Alley là hai hàng cây ăn trái dẫn từ nhà ra vườn. Myrtle mesa là cụm hai cây tường vi trắng và hồng của thành phố cho. Sunset Vista là khoảnh vườn nhỏ có những cây lựu bao bọc vòng cung bên dưới và bên trên là một cây chuỗi ngọc núp dưới bóng cây apricot. Nơi đây vào những chiều rãnh rỗi chúng tôi ngồi ngắm những tia nắng cuối ngày ửng hồng sau đồi trước khi khu vườn chìm vào màn đêm. Cậu con trai út cuả tôi đặt tên The Pumpkin Field cho chỗ trồng dây bí đỏ nó mang từ trường về. Cậu con trai lớn nhắc ba nó, “Chừng nào mình mới làm cái treehouse hả ba? Con sẽ đặt cho nó một cái tên nghe thật kêu.” Nó vẫn chưa hài lòng với những cái tên mà nó nghĩ ra. Còn ba nó thì chưa có thì giờ để dựng cái treehouse đã hứa với nó. Còn tôi thì vẫn thích gọi khu vườn là “Vườn của ngọai”, nghe thân thương như trong giấc mơ tưởng như viễn vông của tôi ngày xa xưa ấy.

Lời Cuối: Bài viết này xin kính tặng cô Ngọc Báu, cô giáo dạy Văn trường Tam kỳ II, Quảng Nam vào những năm 79-80. Suốt quãng đời học trò, môn Văn của tôi lúc nào cũng trung bình yếu, ngoại trừ một học kỳ học với cô. Tôi nhớ lần đầu tiên cô trả lại bài làm văn với điểm bảy rưỡi đỏ chói, tôi mừng hơn người ta đọat giải Nobel văn chương! Sang học kỳ hai, không thấy cô trong trường nữa. Nghe đồn cô đi vượt biên. Những bài làm văn của tôi lại trở về mức trung bình yếu, tức là bốn rưỡi cho tới năm điểm.

Cô ơi! Em muốn gặp lại cô một lần để cảm ơn cô về những khích lệ cô dành cho em trong mấy tháng học ngắn ngủi với cô.

Thuỷ Như

Tuesday, August 18, 2015

Tuổi Hạc Chốn Thiên Thai


Tác giả: Thủy Như
Tác giả sinh nam 1968, hiện là cư dân Orange County và là giáo chức tại một trường trung học ở Los Angeles. Bài Viết về Nước Mỹ đầu tiên của cô, “Người Lao Công,” chuyện một nữ sinh viên có bố là lao công trong trường đại học, đã dành được sự qui trọng của ban tuyển chọn và được trao tặng giải thưởng đặc biệt. Sau hơn hai năm không viết, bài mới nhất của cô là chuyện về bố mẹ già và nơi điều trị hoặc nhà an dưỡng.
* * *
Ngày còn hò hẹn, tôi và chàng thường đi xem phim mỗi tháng một lần. Chàng thường đùa đó là những buổi hẹn rẻ tiền – cheap dates. Rẻ tiền bởi vì chàng mướn một cuộn phim đem vào viện dưỡng lão cho các cụ xem và dĩ nhiên chúng tôi cũng xem nữa. Chàng lựa những cuộn phim tôi chưa từng xem qua để chiếu. Nếu là những cuộn phim về thời của các cụ, sau buổi chiếu phim chúng tôi thường nghe các cụ kể về ngày xa xưa ấy của mình. Cứ như là mỗi diễn đàn online thời nay. Tôi và chàng tiếp tục những buổi hẹn rẻ tiền ấy sau khi cưới nhau cho đến khi sinh con.

Khi cậu con út của chúng tôi lẫm chẫm biết đi và không muốn ngồi một chỗ để xem phim, chúng tôi đổi sang giúp nhóm chơi bingo. Các cụ rất vui khi được hai cậu con của chúng tôi chạy lăng xăng đem tặng quà mỗi khi các cụ thắng giải. Các cụ thuộc về nhóm cao tuổi lãng trí nhưng có nhiều cụ vẫn nhớ tên tuổi của hai con chúng tôi. Có cụ còn nhớ mang quà cho hai nhóc nhân dịp Giáng sinh nữa. Nhìn các cụ đầu tóc bạc phơ, chăm chú chơi game và cười rạng rỡ mỗi khi nhận quà, tôi cũng vui lây. Tôi không thấy cảnh cô đơn thê thảm của tuổi già như thường đọc trên báo. Có lẽ hình ảnh trẻ thơ chạy tung tăng làm cho các cụ có cảm giác như ở nhà chăng?

Lúc cậu con lớn của chúng tôi lên sáu, tôi xin phép người điều phối chương trình cho cháu được đánh đàn piano cho các cụ nghe. Gia đình chúng tôi đến sớm hơn thường lệ để cháu đánh đàn trước rồi sau đó các cụ chơi bingo. Tiếng đàn của cháu hãy còn vụng về nhưng các cụ trầm trồ tán thưởng vang dội. Nhiều cụ lẩm bẩm hát theo những bài hát quen thuộc. Có lần cháu đàn bài “Amazing Grace”, một bài thánh ca nổi tiếng, các cụ hát vang cả phòng. Cậu con trai chúng tôi vui lắm. Nó về nhà tập kỹ những bài tương tự để khi đàn không bị sai. Vì mỗi lần nó đàn sai, các cụ yên lặng chờ nó nhớ lại, đàn tiếp rồi mới hát theo. Cậu nhỏ thấy anh được các cụ tán thưởng cũng muốn học đàn giống như anh. Tôi vui vì làm được một công hai chuyện: giúp vui cho các cụ và khích lệ các cháu học đàn.

Xem chương trình của viện dưỡng lão ấy, tôi thấy các cụ có những hoạt động bổ ích cho sức khoẻ và trí óc mỗi ngày. Tôi nghĩ không một người con nào có thể lo cho cha mẹ chu đáo được đến vậy. Cái mà các cụ thiếu có lẽ là vắng bóng sự thăm viếng của người thân. Có lần trong một bài giảng, một mục sư đưa ra con số 70% các cụ trong viện dưỡng lão không có người thân thăm viếng. Hay nói theo người Việt chúng ta là đem cha mẹ bỏ vào viện dưỡng lão. Tôi hy vọng con số này trong cộng đồng người Việt sẽ thấp hơn bởi đa số các bạn tôi có cha mẹ hay ông bà nằm trong viện dưỡng lão đều vào thăm mỗi tuần.

Lúc mẹ tôi thay đầu gối, bác sỹ cho mẹ tôi nằm viện điều dưỡng ba tuần để tập physical therapy. Tôi gọi bạn bè là những người làm trong ngành y tế hoặc những người từng lo cho người thân nằm viện xin họ ý kiến để chọn viện điều dưỡng. Họ cho tôi một danh sách kèm theo lời chỉ dẫn chung. “ Nói chung thì chỗ nào người ta cũng đáp ứng đúng tiêu chuẩn thì mới hoạt động được. Mình phải tới xem thử các phòng và bệnh nhân có sạch sẽ không, nhân viên có vui vẻ và hiểu biết về công việc chăm sóc không. Phần còn lại là do mình. Nếu mình là con cái mà không vào thăm viếng thì tại sao họ phải lo ba mẹ mình hết sức được?” Tôi theo lời khuyên của bạn, vào xem từng viện điều dưỡng ở chung quanh Little Saigon. Cuối cùng tôi chọn Mission Palm, nằm gần đường Trask and Beach.

Ba tôi ở với mẹ mỗi ngày từ sáng đến tối. Tôi từ Los Angeles và cậu em trai từ Redlands vào thăm mẹ cách ngày sau giờ làm. Theo hướng dẫn của bạn bè, tôi hỏi xem hồ sơ bệnh lý và lịch tập physical therapy của mẹ. Sau một tuần, ba tôi bảo: 

“Con không cần phải vào thường xuyên như vậy. Cuối tuần xuống được rồi. Y tá ở đây tốt lắm. Họ thưa gởi niềm nở, kêu đâu dạ đó. Nhiều người nói được tiếng Việt. Có gì ba sẽ gọi con. Nhưng mà chắc không có gì lo đâu.” 

Tôi hỏi ba mẹ có muốn ăn đồ ăn Việt Nam thì tôi sẽ nấu đem xuống. Ba tôi khoát tay. 

“Không cần đâu con. Ở đây họ nấu theo kiểu Việt Nam. Tau ăn thử với mẹ mi thấy ngon lắm. Uổng cái là ở đây họ không nhận người già chớ không mai mốt già tau với mẹ mi xin vô đây dưỡng già là khoẻ. Tụi bây mỗi cuối tuần thay phiên nhau vô thăm một lần là vui rồi. Ở đây có nhiều người nói chuyện chớ ở nhà tụi bây phải đi làm, mấy đứa nhỏ đi học, có ai nói chuyện.”

Tôi có xem mẹ tập physical therapy với vài cô y tá. Mẹ tôi thành thạo tập các bài cũ và mạnh dạn làm theo các bước mới. Cô y tá khen: 

“ Bác dễ thương lắm chị. Làm hết các bước em chỉ. Bác sẽ hồi phục nhanh thôi.” 

Tôi thấy một vài bịnh nhân vưà tập vừa kể cho y tá chuyện của đời mình. Xen kẻ vào câu chuyện là lời hướng dẫn của y tá hay là những câu hỏi về cách tập của bệnh nhân. Một vài y tá tự tin trong giọng nói tiếng Việt còn ngọng nghịu hướng dẫn bệnh nhân Việt tập luyện. Tôi cảm nhận tình người ấm áp trong phòng tập bận rộn nhưng thoải mái của viện điều dưỡng Mission Palms.

Mẹ tôi nằm viện nhằm dịp Tết. Cuối tuần vào thăm, tôi thấy có nhiều hội đoàn vào trình diễn văn nghệ giúp vui. Mẹ tôi bảo vào Chúa nhật có mục sư và linh mục vào làm lễ cho các bệnh nhân. Tôi xin phép nhân viên chăm sóc cho các cháu nội ngoại của mẹ tôi đánh đàn cho mẹ nghe. Chúng tôi đẩy mẹ trên xe lăn vào phòng sinh họat. Nhiều bệnh nhân khác cũng ở trong phòng. Các cháu cuả mẹ tôi cả thảy ba đưá, tuổi từ 5, 6, và 7 tuổi, đánh hết các bài nhạc học được trong sách cũng đầy một show diễn 20 phút. Những bài nhạc dành cho piano không quen thuộc với khán giả Việt nhưng các vị cũng nhiệt liệt tán thưởng. Nhiều cụ hỏi ba mẹ tôi, 

“ Cháu của ông bà đấy à? Chúng nó học đàn hồi nào mà giỏi thế?” 

Ba tôi hãnh diện trả lời: 

“Con bé lớn và thằng nhỏ hơn là cháu nội. Thằng lớn đánh đàn và thằng nhỏ chạy lòng vòng đằng kia là cháu ngoại. Tuị nó cũng hay đi đánh đàn trong viện dưỡng lão nên dạn dĩ.”

Một ngày trước khi ra viện, ba tôi mua một khay chả giò nóng giòn mời các nhân viên trong viện ăn như một lời cảm ơn. Ba tôi kể với vẻ mặt vui mừng: “Chào ơi. Chả giò nóng giòn. Ai ăn cũng thích. Ai cũng khen ngon. Nhiều người ăn hai ba cái. Ăn cũng nói chưa thấy chả giò nào ngon như vậy. Thấy họ ăn ngon mà mình thấy vui. Thiệt là không uổng công đi mua. Mấy cô cậu y tá thiệt dễ thương.” Rồi ba tôi lại tiếc rằng họ không nhận chăm sóc người già.

Chị em chúng tôi vẫn còn ngần ngại không muốn để ba mẹ tôi vào viện dưỡng lão nếu mai kia ba mẹ tôi già yếu. Nhưng ba tôi rất cương quyết. 

“Chẳng có chi tụi bây phải lo. Họ học hành có bằng cấp biết cách lo cho người già. Tuị bây phải đi làm không thể nào lo cho tau vơí mẹ mi được. Nước mắt chảy xuôi. Cha mẹ lo cho con cái. Tuị bây thương cha mẹ thì vào thăm đều dặn là tốt rồi.” 

Tôi cảm thấy nhẹ lòng khi nghe câu nói của ba tôi. Tôi nhớ ánh mắt lấp lánh đầy niềm vui của các cụ trong viện dưỡng lão một khi thấy các con tôi ôm sách nhạc lên đánh đàn.

Có lẽ để ba mẹ trong viện dưỡng lão không phải là chọn lựa tốt nhất nhưng đó cũng không phải là một điều tệ hại. Chẳng có cha mẹ nào muốn con cái bỏ công ăn việc làm để ở nhà lo cho cha mẹ. Nếu để ba mẹ ở nhà rồi bỏ đi làm thì còn tệ hơn là ở viện dưỡng lão. Bởi vì nơi đó, những người cao tuổi sẽ được lo ăn uống mỗi ngày và có người cùng cảnh để chuyện trò. Có thể những vùng ít người Việt, các cụ sẽ lẻ loi vì khác biệt ngôn ngữ nhưng tuổi hạc của các cụ trong một viện dưỡng lão có nhiều người Việt sẽ như trong chốn thiên thai nếu những đứa con cùng cháu thường xuyên vào ra chăm sóc. Chí ít đó sẽ không phải là nơi với những chuyện đau lòng như chúng ta thường đọc trên bá. Những người con hiếu thảo sẽ biết làm cho nơi đó thành nơi an dưỡng theo đúng nghiã của nó cho các bậc sinh thành.

Tôi định viết bài này cách đây gần hai năm lúc mẹ tôi xuất viện như là lời cảm ơn gởi đến Mission Palms Health Care. Vì công việc bận biụ nên bây giờ tôi mới viết được. Dẫu muộn màng, tôi cũng xin cảm ơn đến các nhân viên của viện điều dưỡng này đã chăm sóc cho mẹ tôi chu đáo trong thời gian mẹ tôi ở đó. Rất mong quí vị tiếp tục những công việc tốt đẹp đó cho các bệnh nhân của viện.

Thủy Như

Blog Archive