Showing posts with label Mường Giang. Show all posts
Showing posts with label Mường Giang. Show all posts

Saturday, April 27, 2019

Quốc Hận 30-4-1975: Viết về Người Lính Bất Hạnh VNCH

Mường Giang 

Hai mươi năm chinh chiến, QLVNCH đã có 250.000 người gục ngã trước đạn thù và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh vì một phần cơ thể đã gửi lại sa trường. Tuy nay chính phủ cũng như QLVNCH không còn nữa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi đời mạt kiếp, thì lý tưởng và danh dự của Người Lính càng được sáng tỏ, trong niềm hãnh diện chung của quân-dân Miền Nam.


Lịch sử của một quốc gia là những gì trung thực, mà người dân của nước đó đã ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc nội chiến của Hoa Kỳ xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận, đã không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận. Ðã vậy, Hoa Kỳ còn ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa nằm xuống trong cuộc chiến, vì lý tưởng riêng của họ.

Thế Chiến 2 kết thúc, Tòa Án Quốc Tế Nuremburg chỉ kết tội những đầu sỏ trong phe Trục mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Ðức-Ý-Nhật… 

Năm 1920, lãnh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta bị người Ý bắt và tử hình, nhưng chính tổng tư lệnh Ý tại Bắc Phi là người đã ở lại pháp trường để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya, vốn là kẻ thù của người Ý lúc đó.

Tại VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lãnh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.. đã oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là người Pháp tôn kính mặc niệm như chính các tướng lãnh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đã tham chiến tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đã được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lý và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc nghìn thu bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất cả đã chết cho lý tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự.

Người lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đã phơi gan trải mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng bào, bị Cộng Sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại gần hết cuộc chiến, ở đâu có Cộng Sản khủng bố cướp bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự hiện diện của người lính miền Nam. Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến nạn, tìm đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng, để trở về vùng quốc gia nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến hay người cán bộ áo đen Bình Ðịnh Nông Thôn, Cán Bộ Xã Hội.. mới biết được thế nào là nổi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót cho “ cảnh ba đồng, ba cộc “ của kiếp lính Miền Nam.


Nhức nhối và mai mĩa nhất, đó là hiện tượng ‘thuyền nhân ty nạn‘ sau ngày 30-4-1975. Ngoài tuyệt đại đa số nạn nhân đích thực của CSQT, trong số này không thiếu mặt “ những tên tuổi lớn “ một thời chạy theo VC đâm sau lưng người lính, những nhà văn, nhà báo, cha cố.. kể cả thành phần suốt đời chỉ biết sống ký sinh vào xã hội.. cũng lợi dụng “danh nghĩa người lính” để được ty nạn chính trị. Ứa gan hơn là những tên VC trà trộn trong hàng ngũ những người vượt biên, vượt biển, sau khi tới được bờ đất hứa, chúng trở mặt ngay, để lộ diện thành công an, cán bộ, đảng viên như ngày nào.. để nạt nộ, hăm dọa đồng hương, qua cái đòn “ nếu theo Ngụy”, sẽ không được về VN để thăm nhà, như đã thấy tới độ mù mắt khắp nơi tại hải ngoại.

Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đã không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ còn bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng thì cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lãnh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về thì bị giặc trả thù đầy đoạ, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.

Tiếp tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cọng sản, là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cọng sản Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một mình một cõi, thao túng vẽ vời huyền thoại, bóp mép lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bạo tàn, độc đảng. Nhưng rồi gieo gió thì phải gặt bảo, chính sự khoắc lác dại khờ trên, đã đưa toàn bộ đảng cọng sản VN chìm trong cái vũng bùn ô nhục, khi bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi tưởng. 

Câu chuyện tướng Nguyễn Ngọc Loan trong trận Tết Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn,vì không thể chịu nổi hành động dã man, đẩy các trẻ em trong xóm ra làm lá chắn đở đạn cho đồng bọn tẩu thoát. Vì quá tức giận không kềm chế được, nên tướng Loan đã rút súng Rouleau ngắn nòng, bắn chết tên VC chỉ huy là Bảy Lốp, tại ngả ba Vườn Lài (góc đường Vạn Hạnh, Minh Mạng và Vĩnh Viễn), trước mặt phóng viên Mỹ là Eddie Adams, nên đã chụp được tấm hình này, đem bán rao khắp thế giới và nhận được giải thưởng quốc tế.

Sau ngày 30-4-1975 Tướng Loan tới ty nạn tại Hoa Kỳ, đã bị bọn phản chiến cùng với giới truyền thông Mỹ làm lớn chuyện. Thậm chí có Elizabeth Holtzman (nữ dân biểu DC bang New York) và Dân biểu Harold Sawyer (CH bang Michigan), đã kiện cáo, đòi Chính phủ Mỹ trục xuất tướng Loan ra khỏi Hoa Kỳ, vì tội vi phạm nhân quyền nhưng bị thất bại .

Trước và sau ngày tướng Loan từ trần 14-7-1998, người phóng viên chụp tấm hình năm xưa Eddie Adams, đã viết một bài báo xin lỗi tướng Loan vì sự ray rứt hối hận của mình, trong đó có đoạn “ Ông đã làm công việc của ông, còn tôi làm bổn phận của tôi “. Ngày tướng Loan qua đời, Eddie lại viết thêm môt bài báo khác đăng trên tờ Times, đồng thời gới tới một vòng hoa phúng điếu, trên đó có đính một danh thiếp viết tay “ General, I ‘am so, so, so.. sorry “. Bao nhiêu đó, chắc cũng đủ làm nhức óc những tên “ sống nhờ người ty nạn “ nhưng lúc nào cũng viết lách, làm báo ca tụng VC.

Ðau đớn nhất là trận Hạ Lào 1971, cho dù các đơn vị đã tham chiến như SD Dù, TQLC, Sư Ðoàn 1 BB, Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ và Liên Ðoàn 1 BDQ có bị tổn thất nặng nề. Nhưng cuối cùng QLVNCH cũng đã đạt được mục đích của cuộc hành quân, là phá hủy gần như toàn bộ các cơ sở hậu cần, tiếp liệu tại các mật khu, binh trạm tại đây. Lúc đó, chỉ có Ðại Úy Trương Duy Hy, pháo đội trưởng PDC/44, tham dự cuộc hành quân, tại căn cứ Hỏa lực 30, là tác giả quyển Hồi ký “ Tử thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30, Hạ Lào “ là viết sự thật. Ngoài ra tất cả bọn phóng viên Mỹ &Tây phương đều ở Khe Sanh, hằng ngày nhìn cảnh máy bay tải thương xác lính và thương binh về tới tắp. Từ đó chụp hình, diễn dịch rồi gửi về nước, nói là QLVNCH đã thảm bại tại Hạ Lào, giống như hồi Tết Mậu Thân (1968).


Riêng làng báo Sài Gòn cũng vậy, vì không có ai vào tận chiến trường để chứng kiện sự thật, nên chỉ đành “chôm chĩa tin từ báo Mỹ“ rồi “Mao Tôn Cương thành trận đánh cuối cùng không có đại bàng “ rằng “ VC đâu có quân số đông đảo để đánh QLVNCH, mà chỉ sử sụng hỏa pháo. Ở đây làm gì có kho tàng như tình báo đã báo cáo láo”. Tóm lại theo họ thì QLVNCH vì sợ hỏa lực của VC nên bỏ chạy. Có đọc những tin tức của báo chí Sài Gòn lúc đó, mới thấy máu của người Lính Miền Nam đã đổ suốt cuộc chiến để bảo vệ cho “đám này“, thật là uổng phí và tội nghiệp cho những kẻ đã nằm xuống truớc ngày 30-4-1975.

Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, thì đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đã biết được sự thật cùng ý nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra còn có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đình người dân qua cuộc đổi đời, cũng đã trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đã công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào mình.

Trong lúc đất nước đang lâm nguy vì giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn khổ vì chiến tranh do Hồ Chí Minh và cọng sản mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, thì tại hậu phương Miền Nam có một số người tự nhận mình là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân thì, mập mạnh nhưng lại tìm cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lý do để được hoãn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu vì sợ chết mà trốn đi lính, thì cũng còn có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước mình đang trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lý tưởng đã thu lượm được, qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xã hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất, đàn bà và thời gian để đâm thọt, phá hoại những người đang liều mạng xã thân bảo vệ mạng sống thừa thải ký sinh của mình.

Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lý tưởng, ai muốn gọi thế nào cũng đều có ý nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, thì đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lãnh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.

Chính bọn trí thức thiên tả này đã lợi dụng quyền tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tiền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng ký sinh của chúng.

Cuối cùng, VNCH đã sụp đổ, kéo theo sự mất mát toàn diện mà người Việt QG đã tốn xương máu xây dựng. Người chạy thoát ra nước ngoài tuy không bị đau đớn thể xác nhưng tinh thần và sự dằn vặt, cũng đã làm cho họ điên đảo suốt quảng đời lưu vong nơi xứ người. Tội nghiệp nhất, cũng vẫn là Lính phải còng lưng cúi đầu gánh chịu những thảm tuyệt của kẻ thù man rợ, những điều mà chắc chắn thế giới tự do không hề nghĩ tới, vậy mà vẫn tới trong địa ngục trần gian của các nước Cộng Sản, trong đó có CSVN.


Ngoại trừ một số rất ít khôn ngoan hay có thân nhân VC bảo lãnh, hầu hết các cấp Quân, Công, Cán, Cảnh của Nam VN đều chịu sự hành hạ nơi chốn lao tù. Chúng bắt tất cả Sĩ quan và cán bộ, công chức, cảnh sát VNCH vào tù, qua cái gọi là “ Trại Cải Tạo “ để đánh lừa thế giới, về sự dã man tàn ác đối với tù nhân chiến tranh, trái với công pháp quốc tế đã qui định. Hầu hết các trại tù đều lập ở Miền Bắc và Bắc Trung Phần, phía bên kia vĩ tuyến 17. Tại Miền Nam, trại tù nằm trong rừng núi cheo leo, ma thiêng nước độc, để lao động khổ sai, chết dần mòn vì sự hành hạ của quản giáo và nổi cực khổ, đói lạnh nhưng ăn uống thì thiếu thốn với khẩu phần hằng ngày, chỉ lưng chén cơm gạo xấu, trộn với khoai bắp, còn những người bị biệt giam thì đói khát vì phần ăn phát rất ít. Nói chung là không còn bút mực nào để kể cho hết nổi hận hờn tủi nhục của người tù dưới chế độ CS. Ðói quá nên người tù phải ăn tất cả những gì có trước mặt như rắn, rít, ếch nhái, chuột, trùn đất, cào cào.. kể cả cỏ chai và cỏ diệu, thay cơm để đủ sức chống chọi với tử thần, lúc nào cũng như chực chờ sẳn bên cạnh :

‘Ngày hành xác giữa núi rừng hoang vắng,
đêm ôm đầu thương tiếc chuyện ngày xưa
bạn bè đến đây càng lúc càng thưa
thằng nằm xuống, thằng đày sang trại khác
thằng chống lại thì xác thân tan nát
thằng bệnh đau thân xác cũng không còn
đem xác người đi phá núi dời non
đem mạng sống để gở mìn tháo đạn
thay trời dẫn nước vào sông đã cạn
thay trâu kéo cầy phá vỡ ruộng hoang
buổi sáng gượng vui nhìn lúa trổ bông
nữa đêm khóc thầm đời lính bất hạnh
tôi đã sống qua những ngày đói lạnh
tôi đã nhét đầy tài liệu buồn nôn
kiểm điểm nghìn câu cho tốt tốt hơn
để theo đảng biến người thành khỉ vượn “.
(thơ mường giang).

Lính sống bị trả thù đã đành, cho tới những người lính đã chết, CSQT cũng không tha, thì nói chi thành phần Thương Phế Binh, Cô Nhi Tư Sĩ của VNCH, lại càng bị đoạ đày thê thảm. Tất cả năm tháng dù nay đã đi vào quân sử nhưng sự thật vẵn còn nguyên trước mắt, với hai cảnh đời hiển hiện như một chứng tích nghìn đời không phai mờ : Ðó là địa ngục VN sau 38 năm bị giặc chiếm đóng và giá trị đích thực của QLVNCH từ 1960-1975, đã có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn võ vẹn toàn, được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Ðông Nam Á thời đó gồm các Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, Bộ Binh Thủ Ðức, Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát,Trường Ðại Học Quân Sự.. chứ đâu phải chỉ có những tướng tá từ thời Pháp thuộc ?!

Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối tình xưa :

‘..xin vì chàng, xếp bào cởi giáp
xin vì chàng giũ lớp phong sương
vì chàng tay chuốc chén vàng
vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.. ’
(Chinh Phụ Ngâm Ðặng Trần Côn và Ðoàn Thị Ðiểm)

Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, vì suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận thì chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.

Thử hỏi giữa cõi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Ngày nay, đã có không biết bao nhiêu người, đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Không biết trong tâm tư đó, có một giây phút nào do lương tâm xao động, khiến trái tim người, chợt nghĩ tới những kẻ bất hạnh đã VỊ QUỐC VONG THÂN ?

Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già còn sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, cũng đã và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.

‘...tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy
chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô'
(thơ Mường Giang)

Xin nghiêng mình trước đồng đội đồng bào đã hy sinh vì đại nghĩa Dân Tộc Việt. Cũng xin chân thành biết ơn Quý Ân nhân đồng hương khắp mọi nẻo đường viễn xứ, đã và đang hướng về những người lính cũ ngày xưa, giờ họ là Quả phụ, cô nhi và thương phế binh VNCH. đang kẹt ở quê nhà. 

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 4-2013
Mường Giang 

Saturday, November 25, 2017

Dâng một Đóa Hồng cho ngày Lễ Tạ Ơn

Mường Giang

 

Lễ Tạ Ơn hàng năm được tổ chức trọng thể vào ngày Thứ Năm cuối tháng 11, không ngoài mục đích “Cám ơn” tất cả những người đã khai sinh và xây dựng Hiệp Chủng Quốc, trở thành một Siêu Cường Quốc trên thế giới ngày nay.

Như nhiều lễ hội khác tại Âu Châu, “Ngày Tạ Ơn” phát sinh từ thời thượng cổ, qua nhiều lý do khác nhau nhưng tựu trung không ngoài ý nghĩa “chúc mừng thành công“. Đây là truyền thống của nhiều dân tộc trên thế giới, mong muốn có một ngày đặc biệt trong năm để mọi người cùng hướng về cám ơn Trời Đất và Quê Hương mình cũng như những Vị Anh Hùng,Liệt Nữ, những Ân Nhân.. “đã giúp cho dân tộc, quốc gia mình.

Tại Cổ Hy Lạp, hằng năm đều có tổ chức Thanksgiving để Tạ Ơn Nữ Thần Demeter giúp họ trúng mùa bắp. Người La Mã thì tổ chức Hội Chợ Cerelia sau mùa gặt chính. Còn Do Thái thì tổ chức Lễ Mãn Mùa Gặt Hái Sukkoth sau khi thu hoạch.. Trước khi phát hiện ra Gà Tây tại Tân Thế Giới, người xưa đã dùng  Sừng Dê làm biểu tượng chính trong cuộc lễ.với quan niệm sừng dê sẽ đem lại sự phồn thịnh cho mọi người.

Hiện có tám nước tổ chức lễ Thanksgiving hàng năm là Á Căn Đình, Ba Tây, Gia Nã Đại, Nhật Bản, Nam Hàn, Libéria, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ.

Người Mỹ đã cử hành ngày Thanksgiving đầu tiên tại miền đông bắc vào năm 1578 do nhà thám hiểm Martin Frobished đề xướng. Kế tiếp là nhóm di dân trên tàu Mayflower tại Plymouth Rock tổ chức Lễ Tạ Ơn Trời Đất đã cho họ sống sót vào tháng 11-1621. Từ đó lễ này được cử hành khắp Hoa Kỳ nhưng không đồng nhất vì có sự khác biệt phong tục tập quán giữa các nhóm di dân Âu Châu.

Ngày 4 tháng 7 năm 1789, 13 tiểu bang ly khai sau thời gian chiến đấu đẫm máu chống thực dân Anh, đã giành được độc lập cho Hoa Kỳ. Chính vị tổng thống đầu tiên của Mỹ là George Washington đã chọn ngày 26 tháng 11 hằng năm là ngày lễ Thanksgiving cho toàn quốc. Từ năm 1830 Hoa Kỳ đã bắt đầu chia rẽ vì vấn đề nô lệ, mở màn cho cuộc nội chiến Nam Bắc. Chính Tổng Thống Abraham Lincoln trong ngày lễ Thanksgiving năm 1863, đã đề cao “ công ơn mở nước của nhóm di dân Hoa Kỳ đầu tiên trên tàu Mayflower“. Ông cũng xác định thời gian cử hành lễ là ngày Thứ Năm cuối cùng của tháng 11 hàng năm. Thế chiến II bùng nổ, Hoa Kỳ đang trong thời kỳ chiến tranh. Dịp này quốc hội đã biểu quyết chấp thuận ngày Thanksgiving năm 1940 dành “Cám ơn những chiến sĩ đã hy sinh” để bảo vệ đất nước. Tổng thống Hoa Kỳ lúc đó là Franklin Roosevelt đã chọn ngay Thứ Năm của Tuần thứ tư tháng 11 làm ngày lễ. Quyết định này được thi hành đến ngày nay.

Riêng Gia Nã Đại mừng lễ Thanksgiving vào ngày Thứ Hai của tuần lễ thứ hai của tháng Mười với ý nghĩa cũng giống như Hiệp Chủng Quốc.

Theo những tài liệu còn lưu trữ, thì những người Hoa Kỳ đầu tiên mừng lễ Tạ Ơn tới ba ngày nhưng họ ăn uống rất giản dị vì lúc đó thực phẩm quá khan hiếm (kể cả Gà Tây), nên trong bữa tiệc thường được thay thế bằng gà rừng, chim trĩ, vịt trời. Ngoài ra cũng không có khoai tây, bánh nướng vì không có bột mì.

Ngày nay lễ Tạ Ơn cũng là dịp để cho gia đình đoàn tụ và trong bữa tiệc thực đơn chính vẫn là món Gà Tây truyền thống, mà những di dân đầu tiên trên tàu Mayffower được thưởng thức do những người bạn Da Đỏ tạng vào năm 1620. Ngoài ra cũng không thể thiếu món Bí Đỏ (thực phẩm đã cứu đói những người di dân trong mùa lạnh kinh khủng đầu tiên khi tới Mỹ).

Năm 2000 nhân loại bước vào thiên niên kỷ mới. Dịp này Liên Hiệp Quốc trong ngày đầu năm Dương Lịch 1-1 đã tuyên bố “Đây là năm quốc tế “Thanksgiving”.

1- DÂNG MỘT ĐÓA HỒNG TRONG NGÀY THANKSGIVING ĐỂ:

- CẢM ƠN NHỮNG NGƯỜI ĐẦU TIÊN ĐÃ TÌM RA CHÂU MỸ:
Trong lần kỷ niệm 500 năm, đánh dấu ngày Christophe Colomb đã tìm ra Châu Mỹ hay Tân LụcĐịa. Dịp này đã có nhiều học giả, sử gia, nhà khoa học và khảo cổ khắp thế giới đưa ra thắc mắc “Phải chăng Colomb là người đầu tiên đã tìm ra Tân Lục Địa hay ông chỉ là người đầu tiên tổ chức cuộc họp báo để hợp thức hóa sự có mặt của Châu Mỹ trên bản đồ thế giới?

Christophe Colomb hay Columbus có gia thế bình thường, cha làm thợ dệt tại Gêne (Tây Ban Nha). Là một vĩ nhân của thế giới nhưng cuộc đời gặp nhiều bất hạnh vì sự đố kỵ của thế nhân nên lúc đương thời,đến nổi đã không lưu lại được một bức chân dung nào của nhà thám hiểm.Điều này đã chứng minh tại sao những bức chân dung của Colomb hiện đang lưu hành không đồng nhất và ít giống ông vì các họa sĩ của thế kỷ XVI đã vẽ bằng phương pháp “Identikit”, tức là dựa theo lời kể của những người quen biết, trong đó có con trai nhà thàm hiểm là Ferdinand. Đại để thì lúc sinh thời Colomb có nước da và tóc màu đỏ, mắt xanh, cao lớn trên 1,65m.

Thời gian qua, rât nhiều học giả đã tìm đủ mọi cách phủ nhận công trình thám hiểm của Colomb nhưng tới nay cũng chỉ là những giả thuyết hoang đường, khó lòng đánh đổ được một sự thật đã được cả thế giới công nhận và ngưởng mộ. Nhưng dù gì chăng nữa, thì công trình thám hiểm của Christophe cũng đã đi vào lịch sử và tâm khảm của mọi người, trong đó có Hiệp Chủng Quốc và các quốc gia thuộc Châu Mỹ. Ngoài ra từ những khai quật được do các nhà khảo cổ tìm thấy gần đây, dựa theo niên lịch khảo sát, có thể xác định đã có nhiều người tới đây trước Colmb, gồm những ngư dân Nhật, nhà sư Hui Sen, hoàng tử Madoc, Bjarni, Leif và người Do Thái. Nhưng chính Colmb lại là người đầu tiên đã công bố sự hiện hữu của Tân LụcĐịa Châu Mỹ cho cả thế giới biết.

CÁM ƠN NHỮNG NGƯỜI ĐÃ TRANH ĐẤU CHO NỀN ĐỘC LẬP HOA KỲ:
Sau thời gian dài chiến đấu đẳm máu với thực dân Anh. Cuối cùng 13 Tiểu Bang trong Liên Hiệp Anh ly khai, cũng đã dành được Độc Lập cho xứ sở, mà ngày nay chúng ta trang trọng đón mừng hằng năm. Đó là ngày 4-7-1776, lần đầu tiên “BẢNG TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN” được công bố trước quốc dân đồng bào..

Cũng từ đó, ách nô lệ của Anh tại đây chấm dứt. Để tạo nên niềm tự hào của một dân tộc có độc lập và tự do thật sự, năm 1789 Webster Noah là người đầu tiên ấn hành quyển Tự Điển Tiếng Mỹ, nói lên ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Cùng lúc Benjamin Franklin cũng đã phát minh ra những mẫu tự đơn giản. Nhận thức được tương lai của đất nước, sẽ mở rộng bờ cỏi và đón nhận nhiều sắc dân tới lập nghiệp tại Hiệp Chũng Quốc với nhiều nền văn hóa khác nhau. Bởi vậy Noah Webster càng chú trọng rất nhiều tới ngôn ngữ học bằng cách phát hành nhiều loại sách giáo khoa, giảng dạy về ngữ pháp, chính tả.. tới nay vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong dời sống người Mỹ.

Sau này có M.Guffey hợp tác với Noah, đã bộc lộ tinh thần ái quốc và đạo đức, qua các tác phẩm được phổ biến, làm cho mọi người cảm động và càng ý thức rõ hơn bổn phận trách nhiệm của một công dân đối với xã hội và quốc gia của mình. Tuy ngày nay theo bánh xe văn minh của nhân loại, những công trình của các bậc tiền nhân đã bị lỗi thời với thời gian nhưng tên tuổi của ông vẫn còn nguyên vẹn. Thật vậy, đối với lịch sử Hoa Kỳ, chính Noah Webster đã có công tạo nên Ngôn Ngữ riêng cho người Mỹ, dù nó có nguồn gốc từ tiếng Anh màthật sự không phải là tiếng Anh nguyên thủy. Trường hợp này cũng tương tự như Ngôn ngữ Việt Nam, có nguồn gốc từ Hán Tự và La Tinh nhưng không phải là chữ Hán hay La Tinh gốc.

Cùng với chiều hướng Độc Lập trên, Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ là Washington đã phát biểu “Hiệp Chủng Quốc bắt nguồn từ 13 thuộc địa của Anh nhưng Nay Là Quốc Gia Độc Lập. Vậy tai sao chúng ta cần gìphải quay về với Châu Âu hay LuânĐôn để bắt chước họ? qua đợi chờ xin xõ phê chuẩn. Trong đó, sự học hỏi trên, xét cho cùng, cũng chỉ làsự quê mùa, lỗi thời “. Hởi ôi nếu các nhà lãnh đạo VN bao đời, cóđược một phần tư tưởng độc lập như TT Mỹ, thì chắc chắn đất nước chúng ta ngày nay đâu phải đắm chìm trong vũng bùn ô nhục tồi tệ vàthua kém nhân loại.

Để đổi lấy nền Độc lập cho đất nước Hoa Kỳ ngày nay, nhiều đại biểu của 13 Tiểu Bang ly khai đã gục ngả trước súng đạn của thực dân Anh. Thomas Jefferson được đề cử soạn thảo Bảng Tuyên Ngôn Nhân Quyền cho Hiệp Chũng Quốc, trong lúc cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn giữa Anh-Mỹ. Thế rồi sau ba ngày tranh luận gay gắt, giữa các đại biểu trong phòng họp, cuối cùng hội nghị cũng đã bỏ phiếu, thông qua vàchấp thuận Bảng Tuyên NgônĐộc Lập trên, vào ngày 2-7-1776.

Điều bi thảm mà tới nay con cháu ít ai biết tới. Đó là vào ngày 4-7-1776 công bố nền độc lập của Hoa Kỳ, được diễn ra trong thầm lặng, chết chóc, máu lệ khổ đau. Bởi thực dân Anh đâu có để yên cho những người chủ xướng, nên ra tay triệt hạ tất cả ai lúc đó dám nói tói Độc Lập cho Hoa Kỳ. Theo sử liệu, có 56 người đã ký vào Bảng Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Độc Lập Mỹ. Tất cả đều là sĩ phu trí thứcđương thời, biết trước hậu quả về hành động của mình nhưng bất chấp mạng sống cá nhân8 và gia đình, chấp nhận hy sinh cho đại nghĩa dân tộc, đất nước.. Trong số này có Francis Hopkinson quê New Jersey là một tài hoa hiếm có. Ông chính là tác giả của Lá Quốc Kỳ Mỹ được lưu hành và tồn tại tới ngày nay. Tóm lại tất cả những người trong cuộc đều có gia đình, lớn tuổi nhất là Benjamin Franklin (70 tuổi) và ba người chỉ mới 20 tuổi.

Ngay khi phát giác được Bảng Tuyên Ngôn Độc Lập, Thực dân Anh lồng lộn điên cuồng, ra lệnh truy tìm và hạ sát những người có tên trong đó. Ngoài ra còn treo giá 500 Bảng Anh cho ai chỉ điểm, phát giác họ. Cuối cùng Anh tuyên bố Treo Cổ Tất Cả. Do sự khủng bố trên, nên hầu hết những người liên quan tới Bảng Tuyên Ngôn, lớp chết, lớp ở tù. Nhiều người bị thương tật khốn khổ vì sự tra tấn đánh đập dã man của kẻ thù, khiến cho nhà tan cửa nát, gia đình ly tán. Trong số ít ỏi sống sót sau này, hai người đã trở thành Tổng Thống Mỹ là John Adams và Thomas Jefferson.

Cái giá độc lập của Hoa Kỳ là thế đó, mà những người khai sinh ra nó, phải đổi bằng mạng sống, máu lệ đem về. Cho nên các thế hệ sau ai nấy đều vô cùng cảm kích và trang trọng noi theo truyền thống yêu nước của tổ tiên mọi thời. Đó là kết quả của quốc gia Hoa Kỳ ngày nay, một miền đất tạp chũng nhất trên thế giới,lại là đệ nhất siêu cường, một xứ sở tự do cá nhân nhưng ai cũng biết dừng lại trước giới hạn của mình, đối với quyền lợi chung của Tổ Quốc. Cho nên đừng phân biệt Dân Chủ hay Cộng Hoà, Tất cả tuy hai mà một vì ai cũng chỉ biết có quyền lợi của dân tộc và đất nước Hoa Kỳ mà thôi.

- CÁM ƠN NHỮNG NGƯỜI ĐẦU TIÊN ĐÃ KHAI SINH RA NƯỚC MỸ
Hoa Kỳ là một vùng đất liên lục địa (chưa kể Alaska và Hawaii), trải rộng từ bờ Thái Bình Dương đến tận Đại Tây Dương, với một diện tích hình chữ nhật là 7.812.000 km2. Để đến được miền đất hứa, các nhà thám hiểm Tây Ban Nha,Bồ Đào Nha, Ý, Anh, Pháp, Hà Lan đã mất hơn một thế kỷ tìm kiếm. Họ cũng như Kha Luân Bố đều hướng về con đường tới Ấn Độ. Thậm chí khi đã đặt chân lên vùng đất Châu Mỹ La Tinh cũng vẫn tưởng đó là lục địa Ấn Độ.

Nhưng cuối cùng sự lầm lẫn phần nào được sáng tỏ khi nhũng người Tây Ban Nha đầu tiên đặt chân lên mãnh đất Hiệp Chủng Quốc sau này vào năm 1513, kế tiếp là nhóm người Anh đổ bộ vào bờ biển Virginia năm 1607. Từ đó danh từ Tân Thế Giới và người bản địa Da Đỏ chính thức ra đời. Hiện các nhà nghiên cứu đều xác nhận người Da Đỏ thật sự không phải là chủ nhân ông của Châu Mỹ. Họ đến từ Đông Á hơn 25.000 năm về trước bằng cách lội qua eo biển Behring, tới Bắc Mỹ rồi lần hồi thiên cư xuống Trung và Nam Mỹ. Giống dân này có chung nguồn gốc với người Mông Cổ và Tây Bá Lợi Á. Người Da Đỏ tại Hoa Kỳ phân thành nhiều nhóm khác biệt theo nghề nghiệp như làm nông, săn bắn, làm biển..

Khoảng năm 1600, tính chung người Da Đỏ khắp Hiệp Chũng Quốc chùng 200.000, thuộc 100 bộ lạc, nói những ngôn ngữ có nguồn gốc Algonquine. Riêng tại 13 tiểu bang đầu tiên, người Da Đỏ dộ 110.000 người. Nguyên nhân sự thưa thớt trên vì các bộ lạc thường đánh nhau khốc liệt, lại chết vì bệnh tật, dịch, truyền nhiễm gây tử vong cho trẻ con rất cao. Sự chung đụng càng lúc càng làm cho người Âu thêm cãm kích trước những phong tục, tập quán và nghi lễ của người Da Đỏ. Đối với những người Hoa Kỳ đầu tiên trên vùng đất mới, chính họ cũng đã nhiều lần bị đói, cho nên đã hiểu rõ vũ điệu “Busk “ mà bộ lạc Creek và nhiều bộ lạc trình diễn, để mừng ngày “Bắp Non Đã Ăn Được“. Điều này đối với người Da Đỏ lúc đó hay bây giờ, vừa là một kinh nghiệm cũng là “mõt nghi thức tạ ơn“ thần linh đã giúp cho họ có sự sống. Đây cũng là khởi đầu cho sự phát sinh lễ Thanksgiving, tại nơi sinh sống của kiều dân vùng Tân Anh Cát Lợi vào năm 1621. Cũng từ đó lễ này trở thành một nghi thức mang tính chất tôn giáo, chính trị, đạo đức và xã hội..trong đời sống của Hiệp Chủng Quốc.

Liên quan tới ngày lễ trên, còn có Gà Tây hay Gà Lôi (Turkey hay Dinde),được các nhà thám hiểm từ tân thế giới (Châu Mỹ) mang vào Âu Châu từ thế kỷ XVI. Năm 1521 Hernan Cortes chiếm Mễ tây Cơ và lấy giống gà này mang về Tây ban Nha. Người Pháp gọi gà mái tây là Poule d”Inde hay là Dinde, còn gà trống là Dindon vì lúc đó Âu Châu lầm tưởng Tân thếgiới là Ấn Độ. Tại Pháp, gà mái tây lần đầu được đưa vào bàn tiệc cưới của vua Charles XIX vào năm 1570. Từ đó, gà tây được coi như món ăn của Hoàng gia và giới thượng lưu, trong các ngày lễ, yến tiệc và đặc biệt là bửa ăn tối đêm Noel.

Ngày nay gà tây là món ăn thông dụng, nhất là tại Hoa Kỳ. Gà tây còn được dùng trong lễ Tạ ơn theo truyền thuyết vào năm 1621 khi linh mục Pilgrim, đi tàu Mayflower tới vùng Tân Anh Cát Lợi. Trong đêm tổ chức Lễ tạ ơn, thổ dân tại đây đã tặng ông một con gà tây. Tập tục này được giữ tói ngày nay và trở thành món ăn truyền thống, không thể thiếu được trong bữa tiệc đêm Noel.

Theo các nguồn sử liệu, thì chính nhà thám hiểm Martin Frobished khi đặt chân tới được Tân Thế Giới (Hoa Kỳ) vào năm 1578, đã tổ chức lễThanksgiving để “Tạ Ơn“ các đấng thần linh, giúp đỡ, bảo vệ chính ông và đoàn thám hiểm trong suốc cuộc hành trình đầy nguy hiểm trên biển sóng.

Tiếp đó vào ngày 26/11/1620, một nhóm người Âu di dân chừng 102 người,đã đáp thuyền buồm Mayflower tới được vùng bờ biển Playmouth Rock (Massachusetts). Đúng ra thì cuộc hành trình trên được dành cho nhóm Hành Hương Thanh Giáo Pilgrims, từ Âu Châu sang Hoa Kỳ. Họ là những tín đồ sùng đạo Tin Lành, bị hoàng đế Anh Jacques đệ I đuổi ra khỏi quê hương mình. Đó là nhóm Pilgrim Father hay Pères Pèlerins. Đầu tiên nhóm này tới Leyde (Hà Lan) nhưng không may Âu Châu lẫn Anh Quôc lúc đó đang có chiến tranh tôn giáo, làm lung lay nền quân chủ của cả Pháp lẫn Anh. Nghe theo lời khuyến khích của nữ hoàng Anh Virginia, nhóm trên quyết tâm tìm đường tới Mỹ với hoài bão được sống trọn vẹn bằng niềm tin của mình.

Theo các tài liệu lưu trữ, thì chiếc thuyền buồm Mayflower có trọng tải 180 tấn. Ngày rời Hà Lan là tháng 9-1620, lúc đó con tàu đang trong tình trạng hư hỏng và rất nguy hiễm vì nước đá lạnh phủ ngập sàn tàu, sau đó lại thêm một trận hỏa hoạn, nên hành khách trên tàu bị cấm nấu nướng, chỉ được ăn các thức ăn lạnh, khiến nhiều người mắc bệnh. Nhưng cuối cùng sau 65 ngày vượt biển gian khổ, con tàu trên cũng cặp bến tại Cap Cod là một vùng đất lúc đó chưa có người Âu nào đặt chân tới. Họ đã vượt qua 2750 hải lý, tuy biết lạc địa điểm nhưng nhóm người trên quyết địng rời tàu vào ngày 11-12-1620 lên bờ và tới tạm cư tại Plymouth Rock, sống chung hòa bình với bộ tộc Da Đỏ láng giềng Narrangganset và Wampanoag.

Thời tiết khắc nghiệt, dói lạnh và bệnh tật đã cướp mất 46 sinh mạng trong số 102 người di dân, chỉ trong 6 tháng đầu tiên. Những người sống sót nhờ gà rừng, chim cút, trĩ, vịt nước săn bắn được và bắp của người Da Đỏ giúp, tiếp theo là sự trúng mùa vào năm 1621. Đó là lý do người đại diện nhóm William Bradford đã tổ chức lễ Thanksgiving đầu tiên để “Tạ Ơn Trời“ vào tháng 11-1621. Dịp này gần 100 người Da Đỏ đã giúp Họ sống còn,..được mời tham dự với tư cách là những ân nhân.

Người Việt ty nạn CS chúng ta may mắn được sống hạnh phúc trên đất Mỹ, với đầy đủ các quyền lợi đã qui định từ Bản Tuyên Ngôn Độc Lập và Nhân Quyền, mà đâu mấy ai hiểu rõ là Tiền Nhân đã đổi lấy nó bằng máu và mạng sống trước bạo lực. Bởi vậy để đền đáp phần nào tấm lòng nhân đạo mà Hoa Kỳ đã rộng mở, chúng ta phải biết “ nhập gia tuỳ tục “, làm tốt bổn phận công dân và cố gắng phát huy truyền thống tinh hoa của Dân Tộc Việt, để không hổ danh là con Hồng Cháu Lạc dù đã có quốc tịch Mỹ hay đang sống tạm nơi xứ người.

Cũng đừng quên cám ơn mọi người đã cho chúng ta cuộc sống an bình và hạnh phúc hôm nay, trong đó có những Người Lính VNCH, những Người Còn Sống Sót, Những TPB & CNQP và Những Tử Sĩ đang nằm: không yên giấc trên quê Mẹ VN, trong đó có Nghĩa Trang Quân Đội VNCH tại Biên Hòa.

      Người Mỹ, dù thuộc thành phần hay thế hệ nào, trong thâm tâm ai cũng ao ước được một lần tới chiêm ngưỡng Nghĩa Trang Quốc Gia Hoa Kỳ tại Arlington, để cảm ơn sự hy sinh cáo quý của những anh hùng đã xả thân vì Tổ Quốc..

       Trước tháng 4-1975, miền Nam VN cũng có một nghĩa trang Quốc Gia tại Biên Hòa, là chốn an giấc nghìn thu của hằng vạn chiến sĩ QLVNCH, đã hy sinh bản thân, gia đình mình, để ngăn chống lại cuộc xâm lăng của cng sản đệ tam quốc tế. Tất cả muôn đời sống mãi trong dòng lịch sử Việt. Đó là những chiến binh “ vi quốc vong thân “, còn ai xứng đáng hơn họ?

       Được thành lập vào năm 1965, trên một khu đất rộng của một ngọn đồi thấp , khỏang giữa xa lộ Biên Hòa-Sài Gòn. Khi VNCH bị cưởng chiếm, trong nghĩa trang có hơn 30.000 mộ phần, gồm đủ tướng lãnh (Đại tướng Dỗ Cao Trí..). sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ..đủ các quân binh chủng.

        Nghĩa trang được thiết kế theo mô hình con ong. Trước cổng ngay lối vào có thiết kế pho tượng hình một người lính trận cao 5m, ngồi trên một bệ cao 3 m, tất cả bằng đồng đen. Pho tượng mang tên “ tiếc thương “, với ngụ ý là chỉ có người lính, mới biết thương cho thân phận của chính mình và các chiến hữu đồng đội, giữa một cái thế giới bạc đen của người miền Nam lúc đó.

       Trước khi vào khu vực nghĩa trang, mọi người phải qua một cổng tam quan trước Đền Thờ Liệt Sĩ được dựng trên một ngọn đồi thấp. Từ đó con đường chính, được chia thành hai lối và chạy vòng khắp khu vực, gặp nhau ở phần lô cuối cùng. Cũng trên ngọn đồi này, còn có Nghĩa Dũng Đài, bên trên được xây một bia ký có hình lưỡi lê. Ngoài các tướng lãnh khi qua phần với bất cứ lý do gì, được an giấc trong một khu vực riêng kế Đài. Còn tất cả đều dành chôn chiến sĩ QLVNCH, không phân biệt quân binh chủng, cấp bậc.

       Nghĩa trang QĐ Biên Hòa được hoàn thành qua sự phối họp của nhiều đơn vị gồm có: Bộ Công Chánh, Trường Kỹ Thuật Phú Thọ, Cục Công Binh, Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo..Riêng DD541 thuộc TD54CBKT là đơn vị trực tiếp thực hiện xây dựng. Khởi công từ tháng 11-1967 và dự trù hoàn tất vào ngày Quân Lực 19-6-1975.  chưa kịp làm lễ khánh thành thì mất nước.

       Theo tài liệu, thì Nghĩa Trang QD. Biên Hòa chiếm một diện tích 125 ha, có thể chôn được 30.000 phần mộ, chia thành nhửng vòng cung, với những mộ phần mang danh hiệu như A1, A2..B1, B2..Tính đến tháng 4-1975 đã có hơn 16.000 chiến sĩ QLVNCH các cấp an giấc tại đây, trong số này hơn 8.000 ngôi mộ, đủ cấp bậc, đã xây cất hoàn toàn rất đẹp và trang trọng. Công trình xây cất nghĩa trang được dự trù sẽ khởi công tiếp giai đoạn 2, với ngân khoản lên tới 100 triệu tiền VNCH năm 1973, do Điệu Khắc Sư Lê Văn Mậu phụ trách trong 6 năm, để thực hiện một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại, trên chiếc vành khăn tang, trên Nghĩa Dũng Đài. Tác phẩm nghệ thuật này, sẽ ghi lại những trang lịch sử huy hoàng nhất trong dòng Việt Sử, gồm 16 giai đoạn quan trọng nhất, từ buổi bình minh các Tổ Hùng dựng nước Văn Lang..cho tới các thành quả ngăn chống xâm lăng cng sản, của QLVNCH.

      Một công trình lịch sử vĩ đại, tiếc thay đã chìm theo giấc mơ quang phục và thống nhất đất nước, khi giặc Hồ tràn vào. Sau ngày mất nước, VC thẳng tay trả thù người sống lẫn kẽ chết. Hầu hết các nghĩa trang quân đội tại miền Nam từ Quảng Trị vào Hà Tiên, trong đó có Nghĩa Trang Quốc Gia Biên Hòa, đều bì dầy mồ, tàn phá đồng thời ngăn cấm gia đình thân nhân lính đến thăm viếng sửa sang mộ phần.

Người xưa đã nói: “nghĩa tử là nghĩa tận”, chết coi như hết thù hận và xí xóa tất cả nợ nần mà người đó lúc sống đã gây ra. Nhưng cng sản thì chết vẫn chưa hết, vẫn phải trả thù, trả nợ. Nên nói đông tây vẫn có thể gặp nhau là một chân lý. Còn cng sản và quốc dân VN, thì vĩnh viễn không bao giơ có thể hòa hợp, hòa giải hay “nối vòng tay lớn” với kẻ thù của dân tộc được. Bởi một đàng có tim óc tình người, còn một phía thì không tim óc và đã mất đi nhân tính, khi trót bị chủ thuyết vô thần Lê-Mác-Mao-Hồ đầu độc, không còn thuốc thang gì cứu được, ngoại trừ từ bỏ hẳn độc tài, độc đảng, độc trị và sự thù hận đồng loại, đồng bào, để trở về với truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt.

“Mai, nếu có cuộc đổi đời lần nữa
 ta xin dành phần: đăng báo, phân ưu
đồng đội xưa đã chết trận, chết tù
thảm thiết quá những hồn ma vất vưởng ..”

Viết tại Xóm Cồn Hạ uy Di
Tháng 11-2017

Mường Giang

Thursday, August 31, 2017

Cái Đêm Hôm Đó "Đêm Gì"?
Mà Ai Nhớ Laị, Cũng Còn Hãi Kinh
 
MƯỜNG GIANG 
        
Theo sử liệu và các nhân chứng, thì không có giai đoạn nào khiến cho người Việt phải chịu nhiều khổ đau và nhục nhã, từ khi bọn thục dân Pháp vì quyền lợi nên cho quân Nhật vào Đông Dương. Bên cạnh đó còn có sự hiện diện của đám âm binh cộng sản đệ tam quốc tế, đang núp bóng trong "Mặt trận Việt Minh" và bọn quan lại xôi thịt của triều đình bù nhìn Huế. Người dân lúc đó, một cổ phải chịu "bốn tròng",sưu cao thuế nặng, đói cơm rách áo, mạng sống và nhân phẩm con người bị chà đạp thãm thê, đâu có thua gì hoàn cảnh tận tuyệt của cả nước Việt, hiện đang ngoi ngóp trong "địa ngục xã nghĩa"..

Tại Bình Thuận, Phan Thiết nhiều biến cố hãi hùng đã xảy ra trong thời gian này. Đó là tai ương chiến tranh do Nhật mang tới, khi hiện diện tại đây. Khắp nơi, nhất là những thị trấn sát biển như Long Hương, Phan Rí, Mũi Né, Phú Hài, La Gi và Phan Thiết, vừa lãnh bom đạn oanh tạc từ các phóng pháo cơ của Đồng Minh, lại chịu thêm hải pháo của Hạm đội Hoa Kỳ từ biển Đông, nhắm vào quân Nhật.

Vì vậy lúc nào trong thị xã, cũng có tiếng còi báo động đặt từ lầu nước và hầu như gia đình nào cũng có hầm tránh đạn trong nhà. Dân chúng rất khổ sở vì không làm ăn gì được. Một số chạy về các vùng quê kế cận để tản cư. Giới trí thức lại càng đau khổ hơn vì sự giằng co, níu kéo giữa các thế lực chính trị, theo bên nào cũng đều chuốc lấy nguy hiểm cho bản thân, gia đình. Vì vậy, các gia đình có tiền đều gởi con cái họ vào Sài Gòn, để vừa học hành lại có bảo đãm cho sinh mạng trước cảnh "tối sáng" diển ra hằng ngày ở Bình Thuận.

Lợi dụng hoàn cảnh gần như "bỏ ngỏ" Phan Thiết của các lực lương Pháp, Nhật. Cộng Sản địa phương hoạt động trở lại, sau thời gian trốn lánh ví thất bại trong cuộc làm loạn của cái gọi là " phong trào Sô Viết" vừa qua. Cũng từ đó, nhiều thanh niên nam nữ tại nông thôn và các gia đình nghèo, làm biển ở các vùng xôi đậu ven thị xã như Đức Long, Phú Tài, động Làng Thiềng, xóm đầm Hưng Long, xóm động cát Bình Hưng..vì nhẹ da, ít học nên bị cán bộ cs tuyên truyền dụ dỗ, qua các lời mật ngọt phỉnh lừa, nên đã lọt vào bẫy rập của Cộng Sản, trong đó có nhiều trí thức thuộc các gia đình hàm hộ giàu có trong tỉnh.. Cũng may có một số lớn, sớm giác ngộ nên đã quay về vùng Quốc gia mà không chịu đi tập kết năm 1954, dù Hàm Tân và Bình Thạnh là một trong những địa điểm tại Bình Thuận, để các lực lương cộng sản xuống tàu ra Bắc Việt.
          
Vì quân Nhật lúc đó đang trám chân Pháp, trấn đóng khắp nơi trong thị xã Phan Thiết, lại đưọc lệnh ở tại chỗ "bất động" từ ngày 17/8/1945. Cộng sản đệ tam quốc tế lúc đó đang núp dưới chiêu bài "Việt Minh" nên chộp lấy "thời cơ" trên, để "ăn cướp" chính quyền lúc đó đang bỏ ngõ. Trường hợp này cũng tương tự như trưa ngày 30-4-1975, vì Quân Lực VNCH theo lệnh tổng thống Dương Văn Minh, bò ngõ Sài Gòn, nên csBắc Việt mới có cơ hội vào cưởng đoạt một thành phố bị bỏ trống để "cướp giựt " chính quyền VNCH, qua sự đồng thuận của tay sai nằm vùng.

Đám "âm binh" cộng sản quốc tế, do Nguyễn sắc Kim, Nguyễn Diên, Lê ngọc Châu, Trần văn Tây, Nguyễn văn Tường.. cầm đầu lúc đó, thực chất chỉ là một đám nông dân tự phát, đa số từ các làng quê xội đậu ven ô, kéo về thị xã làm loạn trong cảnh "một mình, một chợ", không thấy bóng dáng thằng Tây, thằng Nhật hay bất cứ thằng nào của chính quyền. Đây là cơ hội vàng ròng ngàn năm có một, đám dân đen có dịp làm chủ, cứ tha hồ treo biểu ngử, dán bích chương, phất cờ liềm búa và to giọng đòi "Pháp, Nhật" phải giao chánh quyền cho cọng sản, để đảng đại diện  dân "làm chủ".

Theo lời kể của các vị cao niên đã chứng kiến và may mắn còn sống sót (người viết đêm đó cung là một nhân chứng tuy mới ba tuổi), Tất cả đều không biết phải gọi cái "đêm đó", cái đêm 23 rạng ngày 24/8/1945 là "cái đêm gì ? mà bất cứ ai nhớ lại, vẫn còn hãi hùng kinh sợ". Riêng báo chí, đảng đài Việt Cộng thì gọi là "cách mạng tháng tám" Nhưng đối với người dân thì đó là một "đêm kinh hoàng nhất" trong đời người Bình Thuận. Lịch sử lại tái diễn, qua ba lần VC từ rừng kéo về tấn công Phan Thiết trong dịp Tết Mậu Thân (1968) và đêm "trả thù" những quân công các cảnh VNCH bị kẹt lại tại Phan Thiết vào đêm 18-4-1975.

Trong cái đêm "tang tóc, điêu linh", ,nói là để "cướp chánh quyền", nhưng đồn Tây, đồn Nhật kể cả đồn lính tập, thì Việt Minh không dám xéo tới vì sợ "lãnh đạn, toi mạng". Nên trong đêm đó, đám hung thần chỉ đốt nhà dân, giết người tay không vô tội. Hầu hết các nạn nhân chết oan khiên, tức tữi, phần lớn do thù hằn cá nhân, bị vu  tội là Việt gian. Thảm cảnh xãy ra quá tàn khốc bất nhân, đâu khác những ngày đầu Tết Mậu Thân 1968 tại Huế  khiến cho nhiều người đang trong hàng ngủ Việt Minh lúc đó, vừa đốt nhà, vừa giết người mà nước mắt rưng rưng, vì thương tiếc công trình của tổ tiên đã gầy dựng qua ba trăm năm đẵm đầy máu lệ. Nay bỗng dưng bị "hủy hoại" do chính bàn tay mình, làm theo sự sai khiến của một đám giặc cỏ mang tên cộng sản quốc tế.

Trong đêm "kinh hoàng trên", cái gọi là "lực lượng tự vệ" của Việt Minh, do Nguyễn Nhơn và Nguyễn Chúc cầm đầu, lợi dụng sự bỏ ngõ tại địa phương, nên suốt đêm đó,lùng xục khắp hang cùng ngõ hẹp trong thị xã, theo sự chỉ điểm của nằm vùng, để tìm bắt những người bị tình nghi hay đã được lên án là việt gian, vì làm việc hay có liên quan với Pháp, Nhật.

Đêm đó, đoàn âm binh tự vệ đốt phá nhiều cơ sở của Chính quyền Quốc gia như nhà làng Đức Nghĩa, nằm ngay ngã tư Minh Mạng - Tự Đức, hội quán công ty Liên Thành trên đường Duy Tân, gần Việt Nam Thương Tín ngày nay. Nhưng bi thảm nhất là đốt nhà hàng Ngọc Lâm, kế bên Lầu Ông Hoàng, vì chủ nhân là một người Pháp có tên Guéri.

Trương gia kỳ Sanh (Trúc Viên), cũng bị tự vệ vay bắt vào đêm 22/8/1945 vì tội đã tổ chức nhiều buổi diễn thuyết ca tụng chính sách Đại đông Á của Nhật. Nhưng nhờ cha là Trương gia Mô quen biết với Huỳnh thúc Kháng và Hồ chí Minh (Nguyễn Tất Thành), nên Trúc Viên không bị thủ tiêu tại chỗ như nhiều nạn nhân khác nhưng bị nhốt tại trại tù Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Tới năm 1946. Huỳnh thúc Kháng lúc đó đang giữ chức Phó Chủ Tịch nhà nước kiêm Bộ Trưởng Nội Vụ trong Chính phủ liên hiệp, biết tin nên đã ký sắc lệnh số 40/BNV phóng thích Trúc Viên và cho về lại Phan Thiết.

Bắt đầu từ ngày 6-9-1945, quân Anh-Ấn đã tiến vào Sài Gòn để giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào, theo quyết định của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Trà trộn trong đoàn quân này, theo sự đồng thuận của Chính phủ Anh, có nhiều đơn vị Pháp. Và cuộc chiến tranh "Pháp Việt" đã bùng nổ trở lại ngay tại Sài Gòn, rồi lan dần ra khắp các tỉnh miền sông Tiền, sông Hậu.

Tại Phan Thiết dù đang trong tình trạng bị giải giới, quân Nhật vẫn tiếp tục đổ bộ chiếm giữ bãi Thương Chánh ở tả ngạn cửa sông Cà Ty, cho tới ngày 12-12-1945 mới chịu xuống tàu về nước.

Lịch sử vốn là công lý, nên cho dù có bị bóp méo, thêm thắt như mấy chục năm qua tại xã nghĩa hay mới đạy nghe nói VC có viết lại "lịch sử", thì tự nó cũng trở về sự thật, Ngày nay sử gia viết lịch sử bằng phương tiện điện toán, văn khố và trên hết là đám đông, không bị kềm kẹp bằng vũ lực và mua chuộc. Người Bình Thuận cũng vậy, giờ đã qua rồi cái giai đoạn rĩ tai, bịt mắt hay vô tâm của cái thuở chỉ có con cái nhà giàu hay đám quan quyền mới được đi học, mới biết tin tức để rồi chộp lấy thời thế mà tóm gọn thời cuộc khi có cơ hội. Xin đưọc mưọn bài thơ dưới đây, gữi tới những con vẹt "tội nghiệp", đang còn kẹt trong chiếc lồng tre của một thời bao cấp, không dám mở miệng vì sợ mắc quai :

sỏi đá vô hồn trong trời đất,
nhiều khi cũng biết toát mồ hôi
sợ thay những cái đầu hóa đá
cứ trơ trơ nhận lấy chữ người.”
(Đá - thơ Đổ kim Ngư - Phan Thiết)
         
Bỗng dưng thấy thấm thía về cái nguyên lý lẽ phải sau đây của sử gia kiêm luật sư nổi tiếng người Anh, Sir Edward S. Creasy, viết trong tập biên khảo nổi tiếng Fifteen Decisive Battles Of The World, xuất bản năm 1851, ông viết: “..tầm quan trọng lịch sử của một cuộc chiến tranh, không phải tính bằng chiến thắng với các con số thương vong, các chiến lợi phẩm, để từ đó lấy cớ hoan hô, đã đảo, làm cuộc đổi đời. Mà nó được tính bằng những gì ta có hôm nay, do cuộc chiến thắng đem lại. Nó cũng được tính bằng những gì ta có ngày hôm nay, nếu ta thất trận hoặc hèn nhát bỏ chạy.”

Ngày 2-9-1945, lần đầu tiên Hồ chí Minh từ hang Pắc Pó, một địa điểm quân sự sát biên giới Việt Hoa, thuộc tỉnh Cao Bằng, về Hà Nội tuyên bố thành lập nước "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa", đọc tuyên ngôn, tuyên bố thành phần chính phủ mà thành viên hết 99% là đảng viên cộng sản, mở đầu cho một "thảm kịch" Việt Nam, một "hội chứng" loạn luân, phá vở truyền thống đạo giáo cổ truyền của dân tộc.

Từ đó cái danh từ "đấu tố" được công khai hoá, giáo lý học từ các đoàn thể mới như thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, tự vệ, khổi đầu lập công để được vào đảng là "con cái tố khổ" cha mẹ, vợ bỏ chồng, con bỏ tù bố, anh em tàn sát lẫn nhau, một "hiện tượng" nghiệp chướng không hề có trong dòng sử Việt, trước khi cộng sản quốc tế "cướp" được chính quyền. Địa ngục trần gian đã mở, tiếng rên xiết của các nạn nhân bay bổng chín tầng cao nhưng trời đất vô tình, người vô tình hoặc bất lực trong sự đổi đời, nên chỉ còn biết trốn chạy hay cũng liều nhắm mắt xuôi tay đợi đến phiên mình.
        
Tóm lại để có được cái "tự do độc lập" ngắn ngủi 1954-1975, mà khởi đầu từ "Chánh Phủ Trần trọng Kim" trước khi quân Nhật đầu hàng đồng minh tháng 9/1945. Máu và nước mắt của các quân vương triều Nguyễn như Hàm Nghi, Duy Tân, Cường Để và Bảo Đại cũng đã đổ theo máu của hằng triệu người trong cuộc kháng Pháp và nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu 1945.

Nhưng tất cả đã trở thành mây khói, sau những cái đêm, không biết là đêm gì của tháng tám, tháng chín 1945 và tháng tư 1975. Cướp giựt chính quyền "hợp pháp" từ trong tay người dân, cộng sản đệ tam quốc tế tại Hà Nội từ 1954 (Bắc Việt) và tháng 5-1975 cả nước, suốt mấy chục năm qua đã làm đưọc gì cho nước, cho dân ? Tất cả sẽ là "quả báo" của một cuộc "đổi đời" chắc chắn sẽ tới rất gần, khi lòng dân ai cũng muốn giựt xập cái chế độ bạo ngưọc, tham tàn, bán nước VC. Và cái "đêm đó" không phải là "đêm gì" của tháng tám, tháng chín 45, tháng tư 75 trong quá khứ. Nó là đem "đền tội" của tập đoàn bán nước, hại dân VC, trước dân tộc Việt..lớn nhỏ trong và ngoài nước ! 

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 8-2017
MƯỜNG GIANG

Blog Archive