Showing posts with label Kim Loan. Show all posts
Showing posts with label Kim Loan. Show all posts

Monday, April 27, 2026

Bạn Tôi Thời Bao Cấp

Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi.

Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán.

Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên.

Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".

Vào ngày tang thương 30/4/ 1975 bà "Đề Pô" tử nạn vì bị lạc đạn chẳng biết của phe nào, tiền bạc gửi trong ngân hàng Việt Nam Thương Tín bị chính quyền mới tịch thu, nước mất nhà tan. Sau đó bố Vân Ù nghe theo lời dụ dỗ (kèm theo đe dọa) của mấy cán bộ phường, đưa hai con trai lớn đi vùng kinh tế mới, Vân Ù còn người chị bán xe nước mía ở cổng chợ ngoài ngã tư và hai đứa em trai. Họ sống đạm bạc từng ngày. Có lần tôi thấy Vân Ù ăn cơm với rau lang chấm chao có vẻ ngon lành, nó mời tôi ăn thử nhưng tôi không dám ăn vì không chịu nổi mùi chao.

Nhà Liên thì khá hơn hẳn, mẹ nó có một sạp bán cá ở chợ Hạnh Thông Tây, một mình bà ngồi "quản lý" 3 chậu cá to tướng và luôn tay làm cá theo yêu cầu của khách hàng. Nói theo kiểu bây giờ thì mẹ Liên là "đại gia bán cá", thời buổi bao cấp mà nhà Liên thường xuyên ăn những món có cá ngon như cá thu sốt cà, chả cá thác lác, cá lóc kho tộ, có đôi lần bán cá còn dư, mẹ Liên cho bốn đứa chúng tôi ăn cháo cá, ngon lắm!

Miền Nam bị “giải phóng” khi chúng tôi 9 tuổi, chính quyền mới kiểm soát người dân bằng “hộ khẩu” mà dân mình hay gọi là “hậu khổ” và mạng lưới “tổ dân phố”. Thời gian đầu, người ta còn chịu khó đi họp tổ dân phố hàng tháng, rồi sau đó ai cũng …ngán, phần vì phải lo cơm áo gạo tiền thời bao cấp, và phần lớn chẳng ai còn tin vào những “đường lối chủ trương” của nhà nước, nên thỉnh thoảng ba kêu tôi thay mặt “chủ hộ” đi họp vì lúc ấy, sau mấy năm đeo “khăn quàng đỏ” đi sinh hoạt Đội, tôi đã học lớp 7, cũng đủ cao lớn. Nhà thằng Thức, con Vân Ù, con Liên cũng được cha mẹ nó “cử” đi họp. Thế là mỗi khi có họp tổ dân phố là chúng tôi thích lắm, vừa được việc cho nhà mình vừa được dịp ngồi nghe chòm xóm tán dóc. Thức là đứa hiền lành, siêng học, đi họp lúc nào mang theo cuốn vở để học bài, còn tôi, Liên và Vân Ù đi họp tay không để còn rảnh…hóng chuyện xung quanh.

Bốn đứa chúng tôi, cũng như mọi người, hễ ai giơ tay “nhất trí” điều gì thì cũng nhanh tay “đồng ý” lẹ lắm, dù chẳng biết người ta đang “nhất trí” chuyện gì! Chàng công an khu vực cười sung sướng viết vào biên bản, báo cáo buổi họp “thành công rực rỡ” trong khi mọi người chỉ mong mau kết thúc buổi họp. Vân Ù thì thầm vào tai tôi:

- Tối nay có kịch Lá Sầu Riêng, họp xong tụi mình chạy nhanh về xem tivi cho kịp.

Mà nhà nó làm gì còn tivi (vì đã bán hết tivi, tủ lạnh để tiếp tế cho ba và hai anh nó cầm cự trên vùng kinh tế mới nước độc rừng thiêng), nên nó phải xem ké tivi nhà tôi đấy chớ. Trong xóm, cứ tối thứ năm có phim và tối thứ bảy có kịch hoặc cải lương, là lũ trẻ con (và cả mấy bà mấy cô người lớn) kéo nhau đến các nhà có tivi luôn mở rộng cửa đón chòm xóm vào xem, niềm giải trí đơn sơ hạnh phúc của mọi người sau một ngày vất vả chuyện áo cơm.

Ngoài chuyện đi họp tổ dân phố, chúng tôi còn "đảm đang" đi xếp hàng mua gạo, mua nhu yếu phẩm, mua chất đốt dầu hôi, những cửa hàng này chẳng cách nhà bao xa. Gọi là "mua gạo" nhưng gạo thì ít, mà còn có chất độn thêm, là bột mì, mì sợi, khoai lang, khoai mì, các hộ dân mua về chế biến theo cách của mình. Thế là nhà nhà nấu bánh canh, mì sợi hấp cơm ăn với nước mắm chua ngọt hoặc đem mì xào với giá hẹ cũng ngon, còn khoai lang khoai mì luộc, nếu ngán thì đem làm bánh đổi khẩu vị. Gạo hoặc nhu yếu phẩm mua xong thì để lên yên sau xe đạp, dắt bộ về nhà. Ở cửa hàng nào cũng phải “Xếp Hàng Cả Ngày” chờ đợi, ai sốt ruột nhưng bốn đứa chúng tôi thì không, cứ thong thả nói chuyện cho tới khi tới lượt mua hàng.

Một hôm Vân Ù phát giác ra một tin vui chạy qua nhà tôi, đưa tôi miếng bánh mì còn nóng:
- Ăn đi, ngon lắm!
- Mày mua ở đâu hả?
- Đâu có, tổ lương thực kỳ này bán bột mì nhiều quá, chị tao đem đổi bên lò bánh mì, tụi bay muốn đi đổi bánh mì không?
- Ừ, để tao chạy qua rủ Liên và Thức.
- Tao đã đến nhà Liên, mẹ nó nói nó bị nhức răng không đi được.

Tôi và Thức về nhà xin phép người lớn, rồi mỗi đứa xách một bọc bột mì theo Vân Ù, ba đứa hai chiếc xe đạp rộn ràng tiến thẳng đến lò bánh xứ Hợp An, Xóm Mới, đổi được những ổ bánh mì mới ra lò thơm phức.
Cả đám lại vui vẻ đạp xe về, nói đủ thứ chuyện trên đời, rồi bàn chuyện… ăn bánh mì. Thức nói:

- Sáng mai chiên quả trứng kẹp vào bánh mì ăn là tuyệt vời.

Vân Ù hớn hở:
- Tao thích ăn bánh mì với chuối.

Tôi khai thiệt:
- Chị tao mới làm thức ăn đi thăm nuôi chồng “cải tạo”, còn chừa lại ít thịt chà bông, ăn với bánh mì rắc chút tiêu là hết sẩy.

Vậy đó, niềm vui tuổi niên thiếu của chúng tôi dễ thương hồn nhiên biết bao.

Rồi chúng tôi không thấy Liên chơi trong xóm nữa, hỏi thì mẹ nó nói nó về khu Ông Tạ nhà bác nó để… nghỉ hè, và một tháng sau trong xóm đồn ầm ĩ chuyện Liên và ba nó vượt biên tới đảo, tụi tôi rủ nhau đến xem hình. Những tấm hình Liên đứng bên bờ biển Bidong, Malaysia rạng rỡ, mẹ Liên bảo trong thư gửi về nó có hỏi thăm bạn bè, khiến chúng tôi chạnh lòng, khát khao một chuyến đi xa, đổi đời nơi đất nước mới. Hai tháng sau, anh Năm của tôi cũng vượt thoát đến Songkhla, Thailand. Vân Ù và Thức nói với tôi:

- Vậy là mày sướng rồi, sắp được lãnh đồ Mỹ!

- Tao hứa, khi nào có đồ Mỹ, có sô- cô- la, tao sẽ chia cho tụi bay nếm thử.

Vài năm sau đó, tôi và Thức vào lớp 10, nhưng mỗi đứa một trường khác nhau, còn Vân Ù phải nghỉ học phụ chị nó buôn bán ưu tiên cho hai đứa em tiếp tục ăn học. Bố và mấy anh nó tơi tả rách rưới trở về từ kinh tế mới, hai người anh phải cấp tốc đạp xích lô kiếm tiền, bố bị bệnh suy dinh dưỡng, Vân Ù càng đảm đang chuyện gia đình, chúng tôi ít còn dịp gặp nhau như trước nữa.
Bữa đó tôi đi qua chợ, Vân Ù kéo tôi vào, bí mật:

- Mày có biết chuyện thằng Thức đi vượt biên hai tháng nay vẫn chưa có tin tức gì chưa?

- Tao cũng mới nghe ba tao kể, buồn và thương Thức quá Vân ơi.

Lúc này, phong trào vượt biên rầm rộ, gia đình tôi may mắn có thêm một anh trai nữa đến đảo, và tôi sống trong tâm trạng “thân nơi này nhưng tâm trí mơ tưởng… bên kia bờ đại dương” vì tôi biết tôi sẽ là người trong gia đình được kế tiếp “lên đường” khi có chuyến vượt biên, nay nghe tin Thức như vậy, lòng tôi xốn xang và buồn vô tả.

Trong xóm cũng có vài người vượt thoát, nhưng cũng có những người “đi không đến nơi về không đến chốn” như thằng Thức của chúng tôi và sau này có thêm nhỏ bạn thân cấp ba nữa, tôi sẽ kể vào một dịp khác. Điều đau đớn nhứt, là đến nay vẫn không ai biết những con tàu đó ra sao, nên cứ xem như họ đã bỏ xác ngoài biển đông và người nhà lấy ngày ra khơi để làm giỗ.

Cuộc sống vẫn phải tiếp tục, tôi học xong cấp 3, vào Sư Phạm rồi ra trường đi dạy, bận rộn với công việc mới, bạn bè mới, hầu như không còn thời gian cho bạn bè trong xóm, chỉ thỉnh thoảng có dịp đi qua chợ, tôi và Vân Ù nhìn thấy nhau, mỉm cười rồi thôi, tôi lại tiếp tục đi làm, nó lại miệt mài với xe nước mía, nay có bán thêm món chè đá đậu.

Sau hai lần vượt biên không thành, tôi cũng đến trại tỵ nạn Thailand cuối năm 1989, bỏ lại quê hương và xóm nhỏ với nhiều kỷ niệm từng làm tôi thao thức những đêm khó ngủ nơi trại tạm dung. Tôi đã có những buổi chiều lang thang trong trại Panatnikhom với nhiều nhung nhớ:

CHIỀU PANATNIKHOM

Có những buổi chiều Panatnikhom
Tôi lang thang nhìn theo làn mây trắng
Thương những con thuyền trôi trên biển vắng
Phiêu bạt nơi nao chưa thấy bến bờ?

Kìa gió, kìa mây sao quá hững hờ
Có ghé qua đảo Kra, đảo hải tặc?
Bao cô gái Việt Nam đang bất hạnh
Trong thú vui thể xác của lũ điên cuồng

Và đảo Klong-Yai tang tóc, u buồn
Lương tâm con người vẫn còn lạ lẫm
Khi đồng loại tìm tự do, cùng quẫn
Vượt đại dương bất chấp những hiểm nguy

Đất Thái bao la cũng rất từ bi
Banthad, Songkhla, Sikiew, Panat…
Mở rộng vòng tay với tình ấm áp
Sưởi tâm hồn những kẻ sống tha phương

Nên những chiều Panat thật thân thương
Để bâng quơ dịu dàng với nỗi nhớ
Nhớ quê nhà nghìn trùng xa cách trở
Nhớ gia đình, nhớ những bạn bè thân

Nên những chiều Panat thật bâng khuâng
Niềm vui, nỗi buồn đan xen bối rối
Tương lai phía trước mở đường đưa lối
Còn sau lưng những hờn tủi vô biên

Những buổi chiều ấy chẳng thể nào quên
Dưỡng nuôi tôi một đoạn đời tuổi trẻ
Tôi lớn lên trong lịch sử dâu bể
Ngậm ngùi vết thương xa Tổ Quốc, lưu vong

Những buổi chiều xưa vẫn ở trong lòng
Tháng Tư về, lại bồi hồi trông ngóng
Biển Đông mênh mông một thời dậy sóng
Của những thuyền nhân khao khát tự do!

(KimLoan)

………

Giờ đây, mấy chục năm đã trôi qua, mỗi mùa Tháng Tư Đen trở về, tôi lại bồi hồi nhớ những ngày tháng ấy, xóm cũ, bạn bè cũ tản mác khắp nơi, chỉ có vài đứa còn ở lại xóm, trong đó có Vân Ù. Nó lấy chồng muộn màng, tuổi lớn khó sinh con, mãi mới được đứa con gái năm nay được hơn hai mươi tuổi, cũng mang “gen” của mẹ nên cũng hơi “Ù”. Tôi cũng đã tìm được Liên trên facebook, nó vẫn ở Florida từ trước đến nay, đã ly dị chồng hơn chục năm, hiện ở một mình vì con cái đã ở riêng. Niềm vui của nó là đi Chùa, đi du lịch và làm việc từ thiện đó đây sau khi quyết định nghỉ hưu sớm.

Và tôi lại ước ao, nếu có kiếp sau, chúng tôi vẫn sinh ra là người Việt Nam, nhưng không có Cộng Sản, đất nước tự do thanh bình, để Vân Ù không phải vất vả, dở dang đường học vấn, để Thức không phải bỏ xác nơi biển sâu nước lạnh, để tôi và Liên không phải sống tha hương. Chúng tôi, cùng đám bạn bè trong xóm sẽ cùng nhau trưởng thành, cuộc sống an lạc bình thường, vui buồn trên quê hương thân yêu.

Giấc mơ đẹp quá. Tôi bừng tỉnh dậy, tiếc nuối bâng khuâng!

Edmonton, Tháng4/2026
KIM LOAN

Sunday, April 5, 2026

Xin Lỗi Anh Long

Hai anh em tôi ngồi trong quán nước bến xe Bà Hạt, lát sau có một thanh niên khoảng gần 30 tuổi tiến đến, chúng tôi nhận ra anh Long vì tuần trước, anh và chủ tàu vượt biên là anh Minh có đến nhà tôi để bàn bạc và thỏa thuận giá cả chuyến đi.

Ba người bắt tay nhau, anh Long tiếp:
- Cô và anh ngồi đây, tôi còn đi đón thêm người.

Lát sau, anh dẫn đến một phụ nữ cùng cậu thiếu niên chừng 14 tuổi và bé trai cỡ 8 tuổi, anh giới thiệu:
- Đây là Loan, còn đây là chị Cải và hai con trai của chị ấy: Sơn và Cu Tí.

Tôi sẽ là người dẫn đường, là trưởng nhóm, từ đây cho đến khi qua Cambodia, trước khi lên tàu ra khơi mọi người phải đi theo tôi, nghe lời hướng dẫn của tôi!

Vừa lúc đến giờ lên xe đò, anh Long dặn:
- Chút nữa trên xe sẽ có 3 nhóm khác, tổng cộng là 4 nhóm, tính luôn các trưởng nhóm thì khoảng hơn 20 người, tất cả đều “quen”, nên cứ việc nói chuyện thoải mái, nhưng luôn nhớ nghe lời trưởng nhóm khi có bất cứ việc gì cần thiết.

Mọi người bắt đầu lên xe, tôi quay lại vẫy tay chào anh tôi, rồi đi xuống phía cuối xe, nơi có 3 cô gái đang ngồi hàng ghế chót, còn dư một chỗ, tôi liền ngồi vào đấy. Tôi chẳng biết anh Long ngồi chỗ nào, xe lăn bánh, tiếng nói chuyện bắt đầu rì rào. Tám giờ tối, gió mát mẻ, những phố xá lùi lại phía sau, xe hướng về đồng ruộng vắng vẻ, trực chỉ Long An. Tôi muốn nhắm mắt nghỉ ngơi vì cảm xúc nhớ nhà bắt đầu làm lòng tôi thổn thức, nhưng ba cô gái bắt chuyện hỏi han, mới biết cả bốn đứa chỉ hơn kém nhau 1 tuổi, từng học cùng mái trường, chỉ là khác khóa, khác lớp. Cơn buồn ngủ tan biến, chúng tôi nói chuyện về trường lớp suốt đoạn đường dài cho đến gần nửa đêm khi nhiều người trên xe đang ngon giấc, anh Long bỗng xuất hiện từ phía sau ghế, cúi xuống nói với tôi:

- Chút nữa xe đến biên giới, cửa khẩu Mộc Hóa, chúng ta sẽ nghỉ qua đêm tại một quán ăn ven đường.

Tôi thắc mắc:
- Sao mình không đi xuyên đêm luôn hả anh?

- Giờ này trạm cửa khẩu đóng cửa, ngày hôm sau họ mới làm việc lại.

Bốn đứa dừng nói chuyện, nhìn qua khung cửa xe nao nức chờ đợi phút giây nhìn thấy biên giới dù bên ngoài tối đen.

Xe dừng lại, mọi người xuống xe, màn đêm tĩnh mịch, quán ăn duy nhất giữa đồng có chút ánh đèn le lói, bên trong các bàn ghế xếp gọn gàng. Một người ra lệnh:

- Ai theo nhóm nấy, lên bàn ngủ, sẽ có mùng mền đem ra. Các nhóm trưởng nằm ngoài hiên hoặc trong xe.

Cô bạn trong ba cô bạn mới quen đề nghị:
- Nhóm tụi mình ngoài 3 đứa còn có một cặp vợ chồng, hay là tụi mình hỏi ban tổ chức đổi Loan qua bên đây, cặp kia qua bên đó?

Cô bạn khác gạt ngay:
- Thôi khỏi làm phiền ai. Khác nhóm nhưng vẫn gặp nhau, nay mai lên tàu qua Thái chung cả tàu, lo gì!

Tôi đồng ý rồi bước đến chỗ mẹ con chị Cải đang nằm, mùng mền hẳn hoi, hầu như ai cũng mệt nên chỉ hơn chục phút sau cả quán im lìm, chỉ nghe tiếng ngáy đều trong khuya vắng.

Hơn 6 giờ sáng đã nghe lục đục trong quán, tôi mở mắt, thấy anh Long đang ngồi uống cafe ở chiếc bàn trong góc quán, một vài chiếc mùng cuối cùng cũng đang dọn dẹp, trả lại không gian cũ cho quán. Anh Long nhắc tôi sau khi đánh răng rửa mặt ra ăn sáng. Ai ăn xong sớm thì đi bộ ra ngoài quán, tha hồ ngắm cảnh biên giới, vì đến giữa trưa xe mới chạy qua cửa khẩu, đó là giờ nhóm lính canh gác chịu ăn hối lộ.

Trời đứng bóng, xe chuẩn bị vượt qua cửa khẩu, để tránh sự nghi ngờ và giảm bớt tiền hối lộ, chỉ có người lớn tuổi và trẻ em được ngồi trên xe, còn lại chúng tôi phải đi tắt dưới ruộng lúa khoảng một cây số. Đường ruộng khô cứng, gập gềnh, tôi cố đi nhanh nhưng vẫn bị bỏ lại phía sau. Anh Long thỉnh thoảng dừng lại, chờ tôi, mỉm cười:
- Cô đúng là tiểu thơ đi vượt biên!

Tôi chống chế:
- Tại đường ruộng em đi chưa quen.

- Cô mới vượt biên lần đầu sao?

- Dạ không, nhưng lần trước đi đường biển miền Tây, khi đang còn nằm tập kết chờ “taxi” đã bị giải tán, có lội ruộng bao giờ đâu!

Rồi cũng ra tới đường lộ, leo lên xe đã chờ sẵn, tiếp tục chuyến hành trình. Trời trưa nắng cháy, cảnh vật hai bên đường nghèo nàn, lác đác có vài căn nhà sàn và bóng người. Càng về gần thủ đô phố xá đẹp hơn, nhà cửa san sát, người qua lại đông hơn. Đến chiều, xe tiến vào Phnom Pênh, qua cây cầu đá dài, có người nói:

- Đây là cây cầu nổi tiếng của Phnom Pênh, cầu mang tên Sài Gòn.

Xe dừng dưới chân cầu, trước một quán ăn bề thế, tấp nập người ra vào. Một số người chạy đến vây quanh xe, hỏi chúng tôi bằng tiếng Việt “Đổi tiền Riel không bà con ơi!?”. Tôi và ba cô bạn không có tiền để đổi, (có dấu trong người vài chiếc nhẫn vàng phòng khi hữu sự), vì khi còn ở Việt Nam, chúng tôi đã nộp một số tiền cho ban tổ chức, là tiền mà các người dẫn đường sẽ lo chuyện ăn uống, chỗ ở, xe cộ trong thời gian chờ ngày xuống tàu ra khơi. Tuy nhiên, có một số người vẫn có tiền, họ đổi tiền riel để xài riêng. (Sau này, trên con đường bị bắt giam hai lần tại Cambodia, và tại bãi biển Thailand, tôi mới thấy có tiền rất hữu ích, vì mỗi lần gặp “khó khăn” cần chi tiền vẫn tốt hơn là phải đưa ra cái nhẫn vàng, họ có “thối lại” tiền đâu!).

Xong vụ đổi tiền, cả đoàn kéo vào quán ăn cơm, chủ quán người Việt, các món ăn rất ngon, vì Phnom Pênh nằm giữa dòng chảy sông Mekong và Tonle Sap nên cá tôm tươi rói, ê hề. Mẹ con chị Cải gọi cá kho tộ, canh chua. Bàn bên cạnh mấy cô bạn cũng gọi cùng món, tôi đang phân vân thì anh Long gợi ý:

- Nếu cô thích ăn tôm thì nên gọi cơm tôm càng kho tàu, món ngon nhất quán đấy.

Tôi nghe theo lời “thổ địa”, nhìn dĩa cơm lấp lánh màu gạch tôm, với bắp cải đậu que luộc và chén nước mắm ớt, tôi ăn ngon lành, đúng là không có chỗ nào chê.

Cơm nước xong, từng nhóm đón xe lam về nhà trọ (xe đò đưa chúng tôi đến Phnom Pênh đã xong nhiệm vụ). Tôi say sưa ngắm cảnh phố phường mà quên mất thân phận vượt biên. Nhà trọ là căn nhà lầu đúc hai tầng, rộng rãi, bên trong chẳng có đồ đạc gì ngoài cái sàn nhà lót gạch bông mát rượi. (Chủ nhà xưa kia khá giả, nay thời thế thay đổi, như Sài Gòn sau 1975, làm nhà trọ để kiếm sống). Mỗi nhóm được một cái mùng to, không mền gối, cứ đem hành lý vào mùng, muốn ngủ kiểu nào thì ngủ. Ngoài chúng tôi, còn nhiều khách khác, là dân đi buôn lậu hàng hóa Thái-Cam mang về Việt Nam bán lại, họ nói chuyện bằng tiếng Việt và tiếng Cam, ồn ào cả cái nhà trọ. Chúng tôi 4 nhóm được giăng mùng sát nhau, nên ngồi trong mùng nói chuyện, ai mệt thì ngủ, ai thức cứ thức vì các âm thanh hỗn độn nơi đây không bao giờ ngưng.

Sáng hôm sau thức giấc, chỉ còn một mùng của nhóm tôi. Anh Long giải thích:
- Các con buôn đã thức dậy từ sớm, và các nhóm của chúng ta cũng đã ra khỏi đây, tôi thấy cô và mẹ con chị Cải ngủ ngon quá, không nỡ đánh thức.

Chị Cải áy náy:
- Mấy mẹ con tui đêm qua ham vui, đến 2 giờ sáng mới chợp mắt, tui xin lỗi nếu làm ảnh hưởng đến đoàn.

- Đâu có gì gấp! Chúng ta sẽ phải đổi nhà trọ mỗi ngày để tránh bị chú ý, chờ ngày đi cảng Kampong Som xuống tàu, còn bây giờ là đi “tham quan” chợ Olympic và ăn trưa.

Năm người đi bộ, từ nhà trọ khoảng 6-7 blocks đường là đến chợ. Ngôi chợ kiểu như chợ Bến Thành, các gian hàng san sát nhau đủ loại, vì đây là chợ đầu mối lớn nhất Cambodia lúc bấy giờ. Vào chợ, tôi ngạc nhiên vì nhiều tiểu thương nói sành cả hai tiếng Việt-Cam. Chúng tôi thong thả ngắm từng gian hàng, lúc này mới biết chị Cải là dân Việt gốc Hoa, từng sống ở Cam một thời gian, nên chị nói sành sõi cả ba thứ tiếng. Chị mua một vài món đồ cho hai thằng con, rồi quay qua nói với tôi:

- Mua ít đồ phòng hờ cần xài khi qua trại tỵ nạn.

Anh Long hỏi tôi:
- Cô Loan thích mua gì không, tôi sẽ mua cho?

- Dạ thôi, em có mang theo vài món đồ khô dùng trên tàu khi cần thiết.

- Ý tôi là hàng lưu niệm kìa!

- Đi vượt biên chớ có phải du lịch mà mua đồ lưu niệm?

- Thì mua để sau này cô đi định cư mang theo, gọi là kỷ niệm xứ Cam.

- Xa vời quá, dù sao cũng cám ơn anh.

Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời.

Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông. Nhà trọ mới, nhỏ hơn nhà trọ hôm qua, được dọn sạch tầng dưới cho hơn chục người khách, tầng trên có hai mẹ con chủ nhà sinh sống và nhận luôn việc nấu cơm cho khách, tôi vui sướng gặp lại ba cô bạn. Chúng tôi xúm vào kể chuyện đi chơi Phnom Penh, và tán dóc với chủ nhà qua lời thông dịch của chị Cải. (anh Long bỏ đi đâu đó, sau này mới biết, họ luôn chạy đôn chạy đáo như con thoi, để liên lạc với ban tổ chức, chờ lệnh tiếp theo).

Gần đến giờ cơm chiều, tôi bỗng bị ói mửa, lên cơn sốt nhẹ, có lẽ vì tôi uống quá nhiều nước thốt nốt ngoài chợ, và lang thang cả buổi ngoài trời nắng. Chị Cải đưa tôi thuốc hạ sốt, rồi tôi chợp mắt ngủ. Tỉnh dậy khi bên ngoài đã chạng vạng tối, tôi tỉnh táo hơn, anh Long hỏi:

- Cô ăn cháo nhé, tôi đã nhờ chị chủ nhà nấu, những người khác đã ăn cơm xong rồi.

Tôi lắc đầu:
- Em không muốn ăn cháo, em chỉ thèm một tô hủ tíu mì.

- Giờ này lấy đâu ra hủ tíu mì cho cô?

- Hồi trưa trên đường về đây, em thấy quán mì ngay góc đường!

- Cô tinh mắt nhỉ, không lo cảnh giác lính Cam mà chỉ thấy hàng hủ tíu mì. Nhưng nếu tôi dẫn cô ra đó, sắp đến giờ giới nghiêm, loạng quạng gặp tên lính Cam hỏi giấy tờ, cô lại không biết tiếng Cam, là nó mời về đồn ngay đấy.

- Thì anh đi mua về cho em.

Chị Cải và mấy cô bạn cũng góp lời, rằng một tô hủ tíu mì sẽ giúp tôi mau lại sức hơn là tô cháo trắng ăn với cá khô. Anh đành khoác thêm chiếc áo sơ mi rồi đi ra ngoài, lát sau xách về tô mì nóng hổi. Ba cô bạn cười nắc nẻ:

- Anh Long ơi, nhìn anh rảo bước vội vã trong trời mờ tối, áo bay phất phới, xách cái cà-mèn, chẳng khác gì đang chăm vợ đẻ.

Anh tủm tỉm cười:
- Ối dào, chăm vợ đẻ cũng chẳng vất vả bằng chăm tiểu thơ vượt biên, cho đúng phương châm “vui lòng khách đến vừa lòng khách đi”.

Vài ngày tiếp theo, đổi vài nhà trọ, cho đến một ngày tại nhà trọ ngoài nhóm tôi ra, không có nhóm quen, nhưng có 5-6 người Việt khác, anh Long bảo họ cũng sẽ xuống tàu vượt biên với chúng tôi. Buổi chiều anh Long mang cơm về rồi thông báo, sáng sớm mai sẽ đi thành phố cảng KamPong Som. Ăn xong, mọi người ngồi uống trà ăn bánh, vì còn sớm, tôi và anh Long mang trà ra ngoài hiên nhà nói chuyện. Biết tôi là cô giáo ở Việt Nam, anh trầm ngâm:

- Tôi cũng suýt nữa làm thầy giáo đấy.

- Thế à! anh dạy môn gì?

- Tôi đậu Cao Đẳng Sư Phạm môn Toán, Lý, nhưng chiến tranh Tây Nam bùng nổ, tôi phải đi “nghĩa vụ quân sự” qua Cambodia.

- Nhưng ba năm sau anh sẽ được giải ngũ và về học lại chứ?

- Trên lý thuyết là như thế, nhưng vào cuộc chiến rồi bị kẹt thêm mấy năm nữa, đến khi thế giới yêu cầu Việt Nam rút quân ra khỏi Cam. Dầu sao, cũng có chút an ủi cho tôi, khi ở chiến trường, nhiều lần tôi đã có dịp dạy Toán cho các đồng đội người Việt và người Cam.

- Rồi sao anh không về nhà?

- Anh Minh chủ tàu kêu tôi ở lại giúp anh tổ chức đường dây vượt biên. Giai đoạn này Cam còn trong giai đoạn “chuyển tiếp” nên tham nhũng hối lộ tràn lan, các chuyến đi thành công dễ dàng. Có lúc tôi tính nghỉ nhưng thâm tình với anh Minh khiến tôi dùng dằng mãi đến giờ. Tuy nhiên, công việc này kiếm khá nhiều tiền, tôi đã xây nhà cho bố mẹ, cho tiền các em làm vốn đầy đủ, hơn hẳn làm thầy giáo nghèo, cô nhỉ?

- Vậy sao anh không đi vượt biên ra nước ngoài, sau này bảo lãnh gia đình?

- Không! Tôi là Bắc Kỳ mới, không phải Bắc Kỳ di cư như cô, lại là bộ đội, khi qua trại sẽ bị phân biệt, khó được các phái đoàn chấp nhận. Đã có nhiều trường hợp đồng đội của tôi, vượt thoát qua Thái, đa số vẫn ăn dầm nằm dề ở trại, có người nản chí quay trở về Cam, có người cũng đã tự tử ngay ở trại, sau này cô qua trại sẽ thấy những gì tôi nói là sự thật.

Tờ mờ sáng, chúng tôi ra bến xe, nơi đây các xe chở hàng chạy bằng than cũ kỹ, sẽ dừng lại đón thêm khách. Mỗi khi có xe trờ tới, đám đông xô lấn leo lên, cuối cùng anh Long cũng đưa tôi và mẹ con chị Cải vào một xe bé xíu, bên trong chất đầy bao bố hàng hóa, anh dặn:

- Chút nữa khi vào cửa ngõ thành phố Cảng, sẽ có một trạm kiểm soát, cô cứ bình tĩnh như những gì tôi dặn tối qua.

Quả thật, xe chạy hơn một tiếng thì bị chặn lại, hai người lính Cam cầm súng AK lục soát xe, chất vấn tài xế, rồi hỏi tôi mấy câu, đại khái là đi đâu, đến đó làm gì, đến câu thứ ba tôi không biết trả lời, (vì học được đúng 2 câu), anh lính chĩa súng vào tôi ra lệnh bằng tiếng Cam, ra hiệu xuống xe. Chị Cải trả lời trơn tru nên được thoát, anh Long bước xuống theo tôi, nhìn vào trạm gác ngay lề đường, thấy ba cô bạn, đôi vợ chồng và hai chú lớn tuổi cũng đứng đó. Anh nói nhỏ bên tai tôi:
- Vậy là yên chí, tám người cứ vào đấy “nghỉ ngơi” vài ngày, ban tổ chức sẽ chuộc ra.

Đúng như anh nói, chúng tôi bị giam trong căn phòng phía sau trạm gác, có cơm nước do ban tổ chức đưa đến. Chiều ngày hôm sau, có tin nhắn buổi tối sẽ có 4 chiếc xe ôm đến đón đưa ra biển. Trời vùng biển tháng 12 tối thui, bốn chiếc xe phóng đi trong màn đêm, tôi nghe tiếng gió phần phật bên tai. Bỗng có tiếng xe đuổi theo phía sau, tiếng súng bắn chỉ thiên và tiếng chó sủa, bốn chiếc xe ôm tạt vào lề, là khu vườn lau sậy mênh mông, họ quát tháo bằng tiếng Cam, hối thúc chúng tôi xuống xe, rồi họ chạy biến đi trong đêm.

Chúng tôi, theo bản năng sinh tồn, chạy như bay vào vườn lau sậy, chạy càng nhanh càng xa, bất chấp phía trước mịt mùng, tránh xa tiếng chó sủa bắt đầu yếu dần rồi im hẳn phía sau. Mệt lả người, chúng tôi dừng lại, gọi tên nhau khe khẽ, tìm được 5 người, là tôi và hai cô bạn với hai vợ chồng, còn hai chú kia và một cô bạn chẳng thấy đâu. Anh thanh niên bảo, tạm thời là an toàn, nhưng đêm tối thế này, chúng ta nên ngồi xuống, chờ trời sáng tính tiếp, nếu buồn ngủ thì thay phiên nhau ngủ. Nhưng chẳng ai ngủ được, năm người ôm túi hành lý, dựa vào nhau, mắt mở thao láo. Chừng nửa tiếng sau, có ánh đèn pin và tiếng chân người lạo xạo, có hai người nói chuyện bằng tiếng Cam, rồi có tiếng gọi:
- Loan ơi! Loan ơi!

Tôi mừng rỡ nhận ra giọng anh Long, liền la lên:
- Tụi em ở đây anh ơi!

Anh Long cầm đèn pin và một anh lính Cam đeo súng, tìm được chúng tôi, anh thở phào:
- Vậy là đủ người rồi, đi thôi.

Anh Long đi bên cạnh tôi, thấy tôi vừa đi vừa run rẩy, anh lấy trong túi quần ra một chiếc khăn rằn, khoác lên người tôi:
- Cô ráng giữ ấm, kẻo lên cơn sốt như hôm ở nhà trọ thì mệt lắm, ở đây không có ai đi mua hủ tíu mì cho cô đâu!

Ra tới đường cái, bên kia đường là một trại lính khá kiên cố, có vọng gác và hàng rào kẽm gai xung quanh. Bước vào cổng trại, trong khi chờ anh lính đi gặp cấp trên, anh Long nói với chúng tôi trước khi chia tay:
- Đây là nhà giam cuối cùng, sau khi dàn xếp bên ngoài xong xuôi, là lên tàu ra biển.

Nhà giam, là một phòng khá rộng, có vẻ là hội trường của trại, chúng tôi vui vẻ đoàn tụ toàn bộ những người trên chuyến xe đò hôm nào, và thêm một số người khác, tổng cộng là 41 người, sẽ cùng chung chuyến tàu ra khơi.

Hơn một tuần ở nhà giam sướng như tiên. Ngày hai buổi họ mở cửa cho ra ngoài, vệ sinh tắm rửa, vận động chân tay. Cơm phục vụ đầy đủ do nhóm tổ chức cho người mang đến. Vui nhất là buổi tối, rảnh rang, có chàng hài hước kể chuyện cười vỡ bụng, có chú kia thích kể truyện Tàu, chị Cải kể chuyện từng sống ở đảo Baklon của Cam, nhóm trẻ chúng tôi xúm lại ca hát. Đêm mệt thì mỗi người gối đầu trên hành lý, chẳng có mùng mền vẫn ngủ ngon lành.

Chiều hôm đó anh Long xuất hiện với người đưa cơm, anh vào trong ăn với chúng tôi và nói:
“Tối nay ra khơi!”.

Ai nấy lo dọn dẹp hành lý, không cười đùa nữa vì biết giây phút quan trọng sắp đến. Từng nhóm ngồi rải rác trong phòng, im lặng, ánh đèn ngoài sân hắt vào phòng mờ ảo. Một cô lớn tuổi đứng lên:
- Xin mọi người vẫn ngồi yên vị, những người Công Giáo sẽ cùng đọc kinh. Còn ai có đạo gì có thể cầu nguyện riêng.

Rồi cô xướng kinh, anh Long ngồi kế bên tôi cũng đọc theo, từng lời kinh rõ mồn một. Hết 50 kinh, tôi hỏi:
- Anh có đạo à?

- Ừ, tôi gốc Bùi Chu mà! Sau 1975, gia đình tôi dọn vào khu Kinh 9, Cần Thơ ở đến nay.

Tôi chuyển đề tài, hồi hộp:
- Em lo quá anh Long ơi.

- Cô yên tâm, phần khó khăn trong đất Cam đã xong, chút nữa lên tàu ra biển, nếu thời tiết thuận hòa, nếu máy tàu êm xuôi, thì giờ này ngày mai cô đang ở bờ biển Thailand.

- Nghe mấy cái “nếu” của anh cũng đủ làm em run rồi. Từ trước đến nay, có chuyến nào đi bị thất bại, tàu chìm, hoặc gặp hải tặc không?

- Chắc chắn không có hải tặc vì tàu chạy ven biển. Các tàu ra khơi đều đến nơi bình an. Chỉ có hai lần khi ở Phnom Penh, nghe tin đường dây nhận hối lộ có mâu thuẫn nội bộ, tụi anh phải đưa khách trở về Việt Nam, vậy thôi!

Tôi yên tâm hơn, rồi nhìn anh, chân thành:
- Anh Long ơi, em muốn nói lời cám ơn anh, suốt thời gian qua đã chăm lo cho mọi người thật nhiệt tình, chu đáo, riêng em còn được anh “phục vụ” hủ tíu mì ...

Chưa nghe hết câu, anh buột miệng:
- Qua đếnThái, em ...à không... cô viết thư cho tôi nhé?

Tôi hỏi lại:
- Anh muốn em viết thư?

Anh bối rối, xua tay:
- Nói thế thôi, vì lời cám ơn của cô làm tôi nhớ những chuyến đưa người đi trước đây, có cô cũng xinh xinh như cô, nói cám ơn, nói qua Thái sẽ viết thư cho tôi, nhưng rồi chẳng có lá thư nào. Tôi bị mấy lần cho leo cây như thế, nên rất sợ mấy cô xinh xinh hứa nhưng không làm.

- Anh nói em cũng ... “xinh xinh” ư? Vậy thì anh nghe đây, lời hứa danh dự của em, là khi qua trại, việc đầu tiên em sẽ viết thư cho gia đình và cho anh, để anh thấy không phải cô “xinh xinh” nào cũng hứa lèo, nhưng em gửi thư về đâu ?

- Cô cứ gửi cho gia đình cô chuyển giùm, vì tôi và anh Minh phải đến nhà cô thâu 3 cây vàng.

Tôi lấy chiếc khăn rằn trong giỏ hành lý:
- Em gửi lại anh chiếc khăn, và một lần nữa, cám ơn anh thật nhiều, vì tất cả.

Anh cầm chiếc khăn, quàng lên vai tôi:
- Cô hãy giữ chiếc khăn này, tôi đã mua để tặng cô, làm kỷ niệm xứ Chùa Tháp.

Lúc đó, một chiếc xe nhà binh (xe cam nhông) tiến vào cổng, dừng trước phòng giam, anh Long bật dậy, kêu gọi mọi người mau chóng ra ngoài. Anh và vài thanh niên leo lên xe, lần lượt giúp từng người lên, tôi đang chờ tới lượt thì anh lại gọi tên tôi:
- Loan! Loan! Ra đây, ra đây!

Rồi đi về phía anh, được anh kéo lên thùng xe, tất cả nằm đè lên nhau, xe chạy vun vút, có khi tôi nghe cả tiếng lá cây cọ quẹt vào thành xe những âm thanh chát chúa. Tới bờ biển, xe dừng lại, các người dẫn đường khác chạy ra từ một bụi cây, hướng dẫn chúng tôi chạy xuống chiếc thuyền đang đậu sẵn. Cả 41 người lên thuyền, nặng chịch, mạn thuyền cách mặt nước chưa đầy gang tay, anh Long kêu những thanh niên biết bơi cùng xuống dưới nước, phụ với nhóm dẫn đường, bám theo mạn thuyền, đưa thuyền đến với chiếc tàu ngoài giữa biển. Đến nơi, anh Minh chủ tàu đứng trên boong rọi đèn pin, hễ ai bước lên là đẩy ngay xuống hầm tàu. Vì anh Long vẫn đang ở dưới biển để đỡ con thuyền khỏi bị lật khi đám người đổ dồn về phía tàu lớn, nên tôi không có cơ hội bắt tay anh tạm biệt. Cái bắt tay tôi đã dự định, cái bắt tay duy nhất, lần đầu cũng có thể là lần cuối, đã không thực hiện được.

Đến trại tỵ nạn Panatnikhom, tôi viết ngay lá thư dài, kể cho gia đình chi tiết chuyến đi, ở đoạn cuối tôi viết cho chị tôi:
- “Chị Thanh, nhờ chị chuyển lá thư kèm theo cho anh Long khi họ quay lại lấy vàng, nhé!”.

Thư cho anh Long chỉ một mặt giấy, viết lại những lời cảm ơn chân thành tôi đã nói với anh đêm cuối, vì mục đích chính chỉ là thực hiện một lời hứa danh dự, để anh bớt thành kiến với mấy cô “xinh xinh” . Viết không đầy một trang, dư chỗ tôi bèn viết thêm địa chỉ của tôi ở trại và nhắn:

- “Anh Long, nếu có thời gian rảnh thì viết thư cho em, còn nếu bận thì không sao cả! Chúc anh nhiều sức khỏe và may mắn trong cuộc sống”.

Rồi chị tôi thay mặt gia đình viết thư hồi âm, kể cho tôi nghe chuyện gia đình, hàng xóm, và tái bút gọn gàng:
- “Đã chuyển thư cho Long, em yên tâm”.

Đọc thư xong, lòng tôi nhẹ nhàng phơi phới, đã trả nợ xong lời hứa.

Cuộc sống ở trại có đủ buồn vui, qua vài lần chuyển trại, tôi đánh mất chiếc khăn rằn, kỷ niệm của anh Long và xứ Cam. Đôi khi bốn đứa con gái chúng tôi nhớ về chuyến đi, nhắc đến anh Long, tôi lại thầm nghĩ, chắc anh bận rộn nên không viết thư cho tôi, mà suy cho cùng, có gì để mà viết, nhưng ít ra anh cũng đã hiểu rằng không phải cô “xinh xinh” nào cũng thất hứa.

Sau bốn năm ở trại tỵ nạn, tôi đi định cư Canada. Rồi sau đó hàng năm bay qua Mỹ thăm gia đình tôi cũng đã định cư ở Mỹ. Mới đây, khi nhắc về chuyến vượt biên dừng chân ở Cambodia, tôi nói về anh Long, người dẫn đường dễ thương tận tình, rồi nói với chị tôi:

- Trong lá thư đầu tiên gửi về nhà, em có nhờ chị chuyển thư cho anh Long, rồi chẳng thấy anh ấy viết cho em dù một lá thư.

Chị tôi... thú tội:
- Lá thư ấy đã không bao giờ gửi.

Thì ra, chị đã đọc thư, tự kiểm duyệt và tự quyết định. Chị lo xa, sợ tôi và anh Long có tình ý gì sẽ... khổ cả hai, còn nếu không (hoặc chưa) có tình ý gì, thì cũng nên... phòng cháy hơn chữa cháy, xé bỏ lá thư là thượng sách, “an toàn trên xa lộ”.

Tôi giải thích cặn kẽ cho chị nguyên do tôi viết lá thư đó, chị đã hiểu ra, và thấy tiếc nuối ân hận vô cùng. Chị nhớ lúc Long và anh Minh chủ tàu đến nhà tôi lấy vàng, Long có chần chừ hỏi thăm tôi vài câu, có lẽ có ý mong chờ, nhưng chẳng có lá thư nào cho anh.

Anh Long ơi, nếu anh đọc được bài viết này, thì xin anh nhận nơi đây lời xin lỗi của em, vì đã đánh mất chiếc khăn rằn của anh tặng, và xin lỗi vì ngần ấy năm, em đã để anh thất vọng, tiếp nối vào danh sách các cô “xinh xinh”... thất hứa!

Chị của em cũng gửi lời xin lỗi anh.

Và khi anh đọc đến dòng cuối này, anh hãy xem như đã nhận lá thư năm ấy của em, được không?

Edmonton, Tháng4/2026
KIM LOAN

Đính kèm là hình của Lady Nguyễn Thị Kim Loan ở Vũng Tàu trước khi vượt biên



Saturday, March 21, 2026

Tình đầu tình đau


Buổi sáng chúa nhật, tôi còn nằm nướng trên giường thì có phone của John, hốt hoảng:

– Cô Laura ơi, biết tin gì chưa?

– Tin gì? Cô mới đi vacation về là có chuyện rồi á!

– Gianna đêm qua uống thuốc ngủ tự tử, may quá đã được phát hiện kịp thời, đang nằm ở bệnh viện trường Đại Học …

– Nó điên à?

– Cô có rảnh thì đến ngay nhe, em chờ ngoài cửa chính. Tội nghiệp, nó chỉ nghe lời an ủi của cô thôi đó!

Tôi cúp phone, thay vội bộ quần áo, chạy ra ngoài xe mà muốn kêu trời! Trong cái tiệm thuốc Shoppers Drug Mart này, ngoài nhóm staff ở front store bán Grocery và nhóm bán mỹ phẩm, thì trong quầy pharmacy, ngoài các pharmacists là nhóm “assistant” (Dược tá) do tôi…cầm đầu vì tôi lớn tuổi nhất và kinh nghiệm làm việc lâu nhất, nên được đám Dược tá gọi là…“chị Đại” chớ thực ra tôi đâu có chức quyền gì, vì mỗi shift làm có một “boss” đó là người Dược Sĩ của ca làm đó. Vậy mà hễ có chuyện gì lớn, nhỏ, từ chuyện giải quyết khiếu nại của khách hàng, những khúc mắc giữa các groups trong tiệm, cho đến chuyện cá nhân lặt vặt, cứ không giải quyết được là chúng lại réo tên tôi.

Nhóm Dược Tá ca chiều, có hai người cố định là tôi và John, cậu trai trẻ người da trắng dễ thương, cái miệng dẻo quẹo và vui vẻ với tất cả mọi người trong tiệm thuốc, nên được gọi là “John Ngoại Giao”. Bên cạnh đó còn có nhóm Dược tá làm part time, họ đến làm, cỡ một vài năm, rồi đi, bởi đa số là những sinh viên Đại Học, họ xin vào làm để vừa có thêm kinh nghiệm bỏ vào “Resume” vừa kiếm thêm tiền trang trải cuộc sống sinh viên. Nhóm sinh viên này khá đông, khoảng 5-6 người tùy vào thời điểm mỗi năm, nổi bật là chàng Mick người Ấn Độ là sinh viên Dược năm thứ hai, và cô bé Gianna người Phi là sinh viên ngành Y Tá. Chàng Mick cao ráo, có đôi mắt đẹp của người Ấn trên khuôn mặt rất thông minh duyên dáng đã làm nàng Gianna cảm mến ngay lập tức, mặc dù ai cũng biết Mick đã có người yêu là cô bạn sinh viên cùng lớp.

Gianna, tuổi 18, như nhiều cô gái Philippines thích ca hát, vui nhộn, lí lắc, hoạt bát, không ngần ngại bày tỏ tình cảm với Mick bất chấp Mick là “hoa đã có chủ”. Hễ đến giờ break, Gianna chủ động đi mua bubble tea hoặc chạy qua tiệm Tim Hortons bên cạnh mua một ly cafe nóng hổi mang về cho Mick.

Có những hôm tan ca vào10 giờ tối, vào mùa lạnh Gianna còn mạnh dạn “nhõng nhẽo” nhờ Mick lái xe đưa nàng về một đoạn đường, nơi trạm xe bus gần nhà nàng thay vì phải lấy hai chuyến bus dài.

Mick biết tình cảm của Gianna nên luôn cư xử đúng chừng mực như hai người bạn đồng nghiệp, cả tiệm thuốc ai cũng biết thế, chỉ riêng Gianna vẫn vô tư làm theo tiếng gọi của con tim rung động, dầu sao Mick cũng chưa có vợ, chỉ là có bạn gái thôi mà.

Một ngày kia, tôi vừa đến làm, John thì thầm vào tai tôi:

– Hôm nay Gianna vui sướng, líu lo.

– Ủa, có chuyện gì vui?

– Chàng Mick vừa chia tay người yêu.

– Cậu rành chuyện người ta quá hen?

– Vì tui theo dõi facebook và instagram của họ mà! Họ đã xóa sạch hình ảnh của nhau, tui cũng hỏi Mick và chàng đã buồn bã xác nhận, nhưng Gianna thì vui hớn hở. Nỗi đau của người này là niềm… hạnh phúc của người kia… hihi …

Nàng Gianna tươi tắn rộn ràng hơn, đi làm trang điểm đậm hơn, và dĩ nhiên, quan tâm đến Mick nhiều hơn nữa, để xoa dịu trái tim tan vỡ của chàng, rồi sau đó nàng sẽ điền vào chỗ trống trong tim chàng, chớ còn ai!

Mick cũng đi ăn uống với Gianna, lái đưa đưa nàng về bến xe bus thường xuyên, tôi có hỏi riêng Mick:

– Nè, cậu biết Gianna yêu cậu, bây giờ cậu “available” rồi, cậu có dự tính nghiêm túc với tình cảm của Gianna, cho nàng ấy một cơ hội không?

Mick thẳng thắn:

– Ngay từ đầu, Gianna không phải là mẫu người tôi lựa chọn, dù tôi “available” hay không! Thời gian này, Gianna thường rủ tôi, hoặc cả nhóm part time đi chơi, xem phim, cafe, tôi đi để khuây khỏa nỗi buồn, và không hề có ý gieo hy vọng cho cô ấy. Gianna dễ thương, tốt bụng, tôi cũng mong cô ấy sẽ tìm được ý trung nhân.

Vậy là quá rõ ràng, tôi và John cũng mập mờ nói cho Gianna nghe tâm tư của Mick, nhưng nàng nào có nghe, (vì nàng nghe tiếng gọi của con tim nàng mà thôi!). Trước đây Mick có người yêu, Gianna vẫn hy vọng, nay chàng đã độc thân thì hà cớ gì nàng phải từ bỏ niềm hy vọng ấy!

Lời khuyên của tôi xem ra chẳng giá trị gì, thì thôi, hãy để thời gian và số phận an bài, biết làm sao hơn.

Nàng sống trong vui sướng, hạnh phúc mỗi lần được nhìn thấy Mick và chăm lo cho Mick, được vài tháng, ngay trước hôm tôi đi vacation qua Mỹ, John lại thì thầm vào tai tôi:

– Gianna đang đau khổ cô Laura ơi! Mick và người yêu đã tái hợp, gương vỡ lại lành…

Tôi tính sau khi vacation sẽ tìm lời khuyên Gianna thì ai ngờ lại ra cớ sự này, sao nàng lại dại dột thế!

Tôi lái xe đến cổng bệnh viện, tìm chỗ đậu xe thì John chạy lại, rồi cùng tôi bước vào gian sảnh, nơi có quầy bán hoa, bánh kẹo, và những tấm thiệp chúc “Get Well” để người thăm viếng mua tặng cho người bệnh.

Chúng tôi ngắm các bó hoa, xem từng tấm thiệp để lựa chọn, nhìn mấy con gấu bông để giữa giàn hoa, tôi nhớ Gianna thường treo con gấu bông bé xíu ngoài backpack của nàng, lòng tôi dịu lại, bao nhiêu lời la mắng dự định dạy cho nó một bài học bỗng tiêu tan. Tôi tự nhủ, nó mới 18 tuổi, ngày xưa tôi ở tuổi ấy cũng từng rung động đầu đời, rồi buồn bã thất vọng, thấy đất trời sụp đổ, tưởng cả thế gian chỉ có… người ấy! Gianna cũng thế thôi, nó cần thời gian đứng dậy, chữa lành vết thương lòng đầu tiên của cuộc đời, nó cần một vòng tay ôm ấp thương yêu, cần một chỗ dựa tinh thần, mà chút nữa tôi và John chắc chắn sẽ mang đến cho Gianna cùng con gấu bông và một bó hoa tươi đỏ thắm.

Và bây giờ, tôi lại kể tiếp một mối Tình Đầu ở trại tỵ nạn. Bữa đó, cô bé chung trại tỵ nạn tôi quen trên facebook, nhắn trên messenger:

“Chị Loan ơi, hôm nay là kỷ niệm ngày chị đến Canada đó nghen!”

“Ủa, sao em nhớ ngày định cư của chị vậy?”

“Dạ chị ơi, chiều hôm đó, em cũng ra cổng tiễn chàng của em đi Canada chung chuyến bay với chị, nên em ghi nhớ mãi ngày này, ngày em xa anh ấy, cũng là ngày em mất anh ấy, vì đó là lần chia tay mãi mãi, anh ấy nơi đất mới, sau vài lá thư, là im lặng bặt tăm luôn! Em đã đớn đau biết dường nào, dù bây giờ thời gian trôi qua đã lâu, em cũng yên bề chồng con, nhưng mỗi năm đến ngày này, em lại nhớ, và vết thương xưa, tuy đã lành, nhưng đôi lúc cũng làm em… bồi hồi, tê tái…”

Và cô em kể lại cho tôi nghe câu chuyện tình ấy, để tôi viết bài thơ này cho riêng em, và cho những mối tình đầu dang dở:

Kim Loan

Tình đầu-tình đau

Em mười tám và anh hai mươi
Chúng mình đã như đũa có đôi
Trại tỵ nạn khiến xui gặp gỡ
Cả anh và em, tình đầu đời

Chợ Lào là nơi chốn hẹn hò
Bên đời tỵ nạn những buồn lo
Hàng cây phượng vĩ trưa bóng mát
Hay buổi chiều nào chợt đổ mưa

Hai đứa vẫn hồn nhiên mơ nhiều
Chỉ thấy quanh mình một chữ yêu
Chỉ mong mỗi ngày qua thật chậm
Từng phút từng giây mình có nhau

Cơm gạo Cao Ủy nuôi em lớn
Nắng gió Thailand, anh trưởng thành
Buồn vui theo tháng ngày gian khó
Tưởng như không bao giờ cách ngăn

Anh đậu thanh lọc nhiều mộng ước
Em mịt mờ chẳng biết tương lai
Vì đâu số phận lại oan nghiệt
Dang dở đường tình, mộng chia hai

Chiều tiễn anh đi, lệ em rơi
Nhìn nhau thôi, không nói nên lời
Vẫy tay chào, mà như níu lại
Nhưng em không giữ được anh rồi

Đường ra phi trường anh chơi vơi
Nặng trĩu hành trang nhớ một người
Chuyến bay nửa đêm, anh thao thức
Biết em cũng chưa ngủ, em ơi…

Máy bay dừng ở Đức nghỉ chân
Xứ lạ lạnh lùng, anh bâng khuâng
Lang thang tìm mua tấm postcard
Gửi về em nỗi nhớ trào dâng

Đến Toronto mùa đông lạnh
Tuyết trắng rơi ngập cả hồn anh
Trại tỵ nạn vẫn còn hơi ấm
Anh mang theo suốt cuộc hành trình

Những lá thư đầu nhiều nhung nhớ
Đong đầy tình anh từ phương xa
Kỷ vật anh trao, em cất giữ
Theo em hồi hương về quê nhà

Hai cuốn album (anh nhớ chưa?)
Mua ở Chợ Lào (hình đôi ta…)
Và thêm những tấm hình anh gửi
Có Ngũ Đại Hồ, thác Niagara…

Anh đứng đó, bên trời gió nổi
Bơ vơ giữa đường phố thênh thang
Sao gió không là cây cầu nối
Sao gió không đưa em bên anh?!

Rồi càng ngày anh càng vắng thư
Chẳng thấy hồi âm, em vẫn chờ
Xa mặt cách lòng, đời là thế
Anh chẳng khác gì thiên hạ kia!

Lời yêu anh viết vẫn còn đây
Bao năm màu mực vẫn chưa phai
Tờ thư em giữ làm kỷ niệm
Dù lời anh hứa theo gió bay

Thời gian trôi qua, em đã quen
Quên một bóng hình, một cái tên
(Dẫu đôi lúc có người nhắc đến…
Giận hờn, em khóc…một mình em)

Chuyện tình xưa đã là quá khứ
Anh và em, sông chảy ngược dòng
Ngàn lời xin lỗi còn chưa đủ
Khỏa lấp trong em vết thương lòng

Thôi thế là mình đã mất nhau
Bóng chim tăm cá biết ở đâu
Nếu anh nhớ đến thời tị nạn
Anh có nhớ em, một tình đau?!

KL
Edmonton, Tháng3/ 2026

Đính kèm là hình của Nguyễn Thị Kim Loan khi chưa biết ...Yêu ...mới có 17 tuổi ở biển Vũng Tàu, Việt Nam


Sunday, March 1, 2026

Ba mươi… vui hơn Tết

1
Ông bà mình có câu “Thấy 30 chưa phải là Tết” với nghĩa bóng, rằng sự gì chưa nắm trong tay là chưa vội mừng, chưa chắc ăn. Nhưng với nghĩa đen, theo tôi, thì không hẳn thế, vì Ba Mươi mới chính là Tết, thậm chí còn… vui hơn Tết, nên mới có lời thơ “Còn đêm nào vui bằng đêm Ba Mươi” đấy thôi!

Ngày Ba Mươi, sau một tuần bận rộn dọn dẹp kể từ ngày 23 Ông Táo, là ngày cuối cùng gấp rút cho mọi công việc để đón năm mới. Cứ khoảng 6-7 giờ tối, sau khi nhà cửa yên ổn sạch sẽ, chỉ còn dưới bếp bà chị Hai vẫn âm ỉ vài món ăn cho đêm Giao Thừa và sáng Mồng Một, các thành viên khác trong gia đình cũng bận bịu với những chuyện riêng của mình, thì tôi và nhỏ bạn thân có thói quen rủ nhau chạy xe lên chợ Xóm Mới mua bánh gai nóng hổi mới ra lò, mang về bày biện thêm cho mâm thức ăn ngày Tết. Đường đi chỉ vài cây số, lại chạy xe máy, nhưng phải dừng lại rất nhiều lần vì các trạm… đốt pháo của đám thanh niên nghịch phá giữa đường. Mà hình như họ chỉ chờ phụ nữ, con gái đi ngang, là bắt đầu đặt ngay viên pháo, úp cái lon sữa bò lên, rồi hò hét nhau bịt lỗ tai… chạy xa. Chúng tôi, cũng nhờ có “thâm niên kinh nghiệm” nên thường tránh kịp, dừng xe lại, chờ pháo nổ… “banh ta lông” rồi tiếp tục đi tiếp. Có nơi, đám thanh niên lại chơi kiểu quăng pháo, cũng may là họ quăng trước hay sau xe, chứ không trúng vào người, nhưng cũng gây ra bao phen ú tim, la hét tưng bừng…

Cứ như thế, cả đường đi lẫn đường về, cộng với thời gian mua bánh gai, thêm thời gian đứng ăn tại chỗ một cái bánh cho ấm bụng để lấy sức…tránh pháo, và khi vừa ăn bánh gai vừa ngắm “chợ mai” ngay ngã tư, những cành mai và những người mua, bán cuối cùng, vội vã trả giá để kịp mang cành mai về nhà trước giờ giao thừa, tổng cộng khoảng hơn hai tiếng, về đến nhà thì trời thật sự “tối đen như đêm 30”, vẫn còn hồi hộp, run lẩy bẩy vì những “trạm pháo phá làng phá xóm” ngoài kia.

Sợ thì sợ vậy, mà cũng thật mau quên, thành ra tối Ba Mươi năm nào chúng tôi cũng phải đi mua bánh gai, có lẽ vì nhớ cái cảm giác phiêu lưu, tim đập mạnh, dáo dác nhìn hai bên đường để tránh pháo, mà lòng lại vui lâng lâng, niềm vui đêm giao thừa của tuổi trẻ? Đúng là…yếu mà khoái ra gió!

Về đến nhà, loay hoay một hồi, phụ chị em trong nhà bày biện bàn thờ Giao Thừa, (tiện thể ăn vụng miếng chè kho còn dư trong nồi), tôi thảnh thơi ngồi xem Tivi, đọc báo Xuân, chờ phút giây “hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa” như lời của một bài nhạc Xuân của thời VNCH .

Dĩ nhiên, tác giả bài hát này viết cho hai người yêu hẹn hò nhau khi pháo giao thừa, nhưng ai cấm tôi gặp mấy cô bạn của tôi?

Nhóm chúng tôi 3 đứa cùng xóm cùng lớp, đã có một “luật bất thành văn” như thế. Khi những tràng pháo giao thừa vừa dứt, xóm vắng vẻ, nồng nàn mùi thuốc pháo, là cô bạn vừa mới đi mua bánh gai với tôi hồi tối, nhà nó ngoài đầu ngõ, liền xuất hành, đến cổng nhà tôi là nó réo tên tôi (vì ngại cái vụ… xông nhà). Chỉ chờ có vậy, tôi mau chóng bước ra. Hai đứa vòng ra đầu hẻm, ngang Chùa Vĩnh Quang còn tấp nập người ta hái lộc trong vườn Chùa, rồi ra đường cái hướng về nhà một cô bạn khác. Lúc này nhà bạn ấy đã giăng mùng ngủ khắp nhà (hồi đó nhà nào cũng có vụ giăng màn ngủ ngay sàn nhà, vì nhà nào cũng… đông con, phòng nào cho đủ), nhưng bạn cũng đang chờ sẵn, hoà vào nhóm 3 đứa đi lang thang khắp xóm, tận hưởng hương vị ngây ngất của khoảnh khắc trời đất giao hoà, giây phút đầu năm tinh khôi trọn vẹn, khi mà cả xóm đang yên lặng chuẩn bị đi ngủ sau phút giao thừa .

Chúng tôi chậm rãi tản bộ, chẳng cần phải nói chuyện nhiều, cứ thế mà đi, hạnh phúc mơ màng, ngắm nhìn xóm nhỏ thân yêu giữa đêm giao mùa huyền hoặc. Khi đi đến khu đường rầy xe lửa gần Ngã Năm chúng tôi quay trở lại xóm, chia tay ai về nhà nấy, hẹn gặp lại ngày mai Mồng Một đến chúc Tết gia đình nhau và qua chúc Tết Cha Phạm Ngọc Giá, à mà không, hẹn nhau… chút nữa vì đã qua năm mới rồi nhỉ!

Vậy đó, dù hồi ấy tôi cũng có một mối tình “nhè nhẹ” vắt vai, nhưng tôi chưa bao giờ một lần lãng mạn “Em đến thăm… chàng đêm Ba Mươi” như bài hát của Vũ Thành An, vì còn phải bận đi mua…bánh gai và đi dạo đêm giao thừa với bạn thân. Chàng chịu thì chịu, mà hổng chịu thì cũng… ráng chịu vì hai việc ấy đã trở thành một thói quen, một “luật bất di bất dịch” mà 3 đứa con gái chúng tôi đã vô tình tạo nên, để giờ đây chúng là những ký ức đẹp vô giá.

2
Nhà tôi, thuở đó, thuộc Phường 10 Quận Gò Vấp, vùng ven đô, hay còn được gọi là vùng “nửa chợ nửa quê”, vì nó không xa phố thị Sài Gòn và cũng rất gần ruộng vườn.

Nếu đi từ Ngã Năm Chuồng Chó, chạy xe đạp, lên Phú Nhuận cỡ chừng 10 phút, rồi chạy thêm khoảng 15 phút nữa là đến trung tâm đường Hai Bà Trưng, rồi lên đường Đồng Khởi, Nhà Thờ Đức Bà, Chợ Bến Thành… Nếu đi hướng ngược lại, về An Nhơn, là đến An Phú Đông rợp bóng mát cây xanh, vườn tược, mà còn có cả con sông bé tí, với một bến đò ngang thơ mộng. Hoặc đi theo hướng Thông Tây, nếu rẽ phải là lên Xóm Mới, một thời oanh liệt với nhiều lò sản xuất pháo lừng danh, qua cầu Sắt là gặp Xa Lộ Thủ Đức gió lộng, còn rẽ trái là lên phường 12 Thông Tây, nơi từng nổi tiếng là vườn trồng hoa Tết, cung cấp rất nhiều cho thị trường Sài Gòn mỗi dịp Xuân về.

Từ giữa tháng Chạp là thời gian nhộn nhịp nhất, khu vườn hoa rực rỡ đủ sắc màu cả một vùng không gian. Dòng người đi tảo mộ ở những nghĩa trang gần đó đều ghé vào mua những bó hoa tươi thắp mộ cho người thân. Tôi và lũ bạn, khi tan học, ghé nhà đứa bạn có vườn vú sữa, cả đám ngồi dưới tàn cây, đàn ca và ăn vú sữa… rụng trong gió Xuân hây hẩy, rồi trên đường về, đạp xe ngang qua những vườn hoa toả mùi thơm ngào ngạt mà nghe lòng nao nức một trời Xuân .

Dân xóm tôi có một “phong tục” rất dễ thương, là rủ nhau đi mua thêm hoa chiều Ba Mươi, lúc đó giá hoa rất rẻ, có khi gần như là cho không. Không phải chúng tôi cố tình đi mua trễ để dìm giá hoa, mà vì trong số nhà vườn có gia đình một người bạn thân của anh trai tôi. Ảnh kể, năm nào vườn cũng dư ê hề hoa vạn thọ và hoa cúc, nên chúng tôi đến mua thêm, mua ủng hộ, các chủ vườn hớn hở hào phóng, rối rít cám ơn những vị khách muộn màng giúp họ thanh toán những luống hoa cuối cùng để còn lo dọn dẹp đón Tết.

Riêng tôi, đi theo chòm xóm mua hoa vì… ham vui, vì mê khung cảnh nên thơ của… “gánh hàng hoa” cuối năm, chớ nhà tôi, năm nào anh bạn nhà vườn cũng đem tặng mấy chậu cúc, thược dược đẹp nhất vườn.

Những buổi chiều cuối năm, tôi thích ngồi trước quán nước nhà mình, ngắm những chiếc xe ba gác chở đầy hoa từ vườn Thông Tây hoặc chở đầy pháo từ Xóm Mới, trực chỉ trung tâm Sài Gòn cho người người mua sắm.

Thế đấy, cần gì phải chờ đến Tết, khi mà những buổi sáng trời trong veo, nhà nhà mang lư đồng, chén dĩa kiểu, bàn tủ ra sân chùi rửa rộn ràng. Đám con nít trong hẻm cũng biết lợi dụng thời cơ lúc ba má dọn dẹp cửa nhà để gầy các sòng bầu cua cá cọp cãi nhau ồn ào. Mấy chị em tôi mang dưa kiệu ra mảnh sân xi măng sau nhà phơi khô và khi chiều tối, nhóm thanh niên có máu văn nghệ ngồi đàn đúm bên bếp lửa canh nồi bánh chưng của nhà kế bên, với cây guitare thùng, bập bùng những điệu nhạc bolero thiết tha, nồng nàn: “Đón Xuân này tôi nhớ xuân xưa, hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa…” là đã thấy Mùa Xuân đang đến rồi.

Vui thay là thời gian đợi chờ. Hạnh phúc thay là những ngày rạo rực chuẩn bị đón Tết, và có ai như chị em tôi không, cứ hễ tiếng pháo giao thừa vừa xong, hai tay còn bịt trên hai lỗ tai vì sợ tiếng rền vang của pháo, chúng tôi nhìn nhau tiếc nuối bâng khuâng: “Thế là… hết Tết… Hết Tết rồi!”. Dẫu biết rằng còn ba ngày Xuân vui vẻ, nhưng phút giây tuyệt vời cảm xúc của đêm Ba Mươi phải chờ… 365 ngày mới có nữa!

Hơn một phần ba thế kỷ trôi qua, xóm nhỏ của tôi theo bể dâu biến đổi, hàng xóm bè bạn cũng lưu lạc bốn phương trời. Tôi nhớ có lời đồn rằng, vì sinh ra và lớn lên ở vùng “nửa chợ nửa quê”, nên nhiều cư dân nơi này thường có tính khí…ba rọi, “sáng nắng chiều mưa”, nửa tỉnh nửa mê, hổng giống ai!

Ngẫm mà đúng thật, vì có tôi đây, nơi xứ tuyết trắng Canada, đang mê man thương nhớ về những ngày Tết nắng rực vàng, của một thời xa lắc xa lơ…

KL

Edmonton, Xuân Bính Ngọ 2026

Blog Archive