Showing posts with label Vi Vân. Show all posts
Showing posts with label Vi Vân. Show all posts

Friday, February 12, 2016

Xuân đã tàn chưa?

Vi Vân


Có những mùa Xuân gợi nhớ thương,
Hoa mai lả tả rụng bên đường.
Nghe trong tiềm thức còn ghi dấu,
Một buổi Xuân tàn bao vấn vương.

Có những niềm đau, những nỗi buồn dù đã xa xôi bao nhiêu năm tháng cũng không thể nhạt nhòa, phôi phai. Đó là những mối tình buồn, những niềm đau khi mất người yêu dấu, đặc biệt người yêu là lính, nó sẽ sống dậy mãnh liệt khi có một tác động nào đó khơi dậy. Và cơn gió Xuân nhè nhẹ làm những cánh hoa đào, hoa mai cuối vườn bay tản mạn đã làm tôi chợt xao xuyến, bâng khuâng hồi tưởng lại những mùa Xuân cũ mà bụi thời gian chưa thể xoá nhòa…

Vào một ngày đầu Xuân năm 1970 tôi được mẹ cho xuống thăm anh tôi đang đóng quân ở Bạc Liêu. Ít khi được ra khỏi nhà và vì mong sớm gặp anh mình nên tôi quá vui mừng mà quên rằng giờ giấc khởi hành rất quan trọng. Tôi đi chuyến xe đò lúc 12 giờ trưa chạy tuyến đường Cần Thơ- Sóc Trăng- Bạc liêu- Cà Mau. Khi xe đi đến giữa đường Sóc Trăng- Bạc Liêu thì quốc lộ 4 bị Việt Cộng gài mìn, đắp mô phá đường nên xe cộ không còn lưu thông được nữa. Những hành khách chúng tôi cứ ngồi chờ, chờ mãi…

Trời đã bắt đầu ngã bóng, hoàng hôn dần xuống, hành khách phải mướn xe đi ngược về thị trấn Sóc Trăng để tìm chỗ ngủ qua đêm. Một chị ngồi cạnh tôi tay ôm đứa con gái khoảng 5, 6 tuổi tỏ vẻ lo lắng, chị hỏi tôi:
- Em định đi đâu vậy?
- Em xuống Bạc Liêu để thăm anh của em vì anh là lính Sư Đoàn 21 Bộ Binh đang đóng quân ở đó.
- Chồng chị cũng đóng quân dưới đó. Bây giờ không biết tính sao đây? Chị không muốn quay về vì chị từ SàiGòn xuống, đã ghé Cần Thơ một đêm rồi.

Tôi nhìn chị thông cảm:
- Em cũng không biết tính sao. Thôi chờ thêm chừng một giờ nữa xem thế nào rồi mới tìm cách chị ạ!

Ngồi đối diện với chúng tôi là một người đàn bà ngoài ngũ tuần, gương mặt hiền hậu dễ có cảm tình, bà lên tiếng:

- Chắc quốc lộ còn lâu lắm mới khai thông được. Hai cô chịu khó đi bộ một chút đến nhà tôi cách đây chừng vài cây số, gần quận lỵ nên cũng an ninh, mời hai cô đến đó tạm nghỉ đêm nay rồi mai đi tiếp tục. Chồng con tôi đều phục vụ trong quân đội cả các cô đừng ngại, vả lại cũng đã hết xe về Sóc Trăng rồi.

Tôi và chị Tâm (tên người đàn bà có đứa con) bàn bạc nhau, không còn sự lựa chọn nào khác nên đành đi theo người đàn bà gọi là bác Năm đó. Chúng tôi đi trên con đê xuyên qua một thửa ruộng và sau đó dọc theo một con lộ đất đỏ, đi một đoạn khá lâu mới đến được nhà bác Năm. Đó là một căn nhà mái ngói, rộng rãi, khang trang. Trước nhà là một cây mai thật to, màu hoa vàng rực rỡ làm nổi bật căn nhà sơn xanh trong buổi chiều yên tĩnh nơi thôn dã. Bác Năm ân cần:

- Mời hai cô vào nhà, tôi sẽ bảo cháu nấu cơm cho hai cô ăn, đừng ngại gì cả.

Tôi bước tới cửa và nhìn vào trong nhà… hai chân tôi bỗng như dính chặt dưới đất không bước đi được, tay tôi run rẩy, một luồng khí lạnh chạy dài từ cổ xuống xương sống. Tôi nắm chặt tay chị Tâm để không bị té ngửa vì…trước mắt tôi, ngay chính giữa nhà là một cái bàn thờ với 5 bức hình lớn của 5 người lính mặc quân phục rằn ri được đặt sừng sững, đèn đuốc, khói hương nghi ngút, vài mảnh khăn tang trắng còn xếp trên đó.

Bác Năm nhìn thấy sự sợ hãi của tôi nên nói:

- Không sao đâu cô ơi! Người chết rồi có làm gì được đâu, chỉ sợ ma sống thôi. Hồi nảy trên xe có nhiều người nên tôi không dám nói là chồng con tôi đã chết, sợ họ biết nhà mình toàn đàn bà góa bụa không được tốt lắm.

Tôi lấy lại chút bình tỉnh:

- Xin lỗi bác, cháu sơ ý làm bác buồn nhưng đó là phản ứng tự nhiên của đứa nhát gan như cháu thôi.

- Tôi hiểu mà.

Bác mời hai chị em tôi vào và lên tiếng gọi:

- Con ơi, nấu cơm và làm đồ ăn để đãi khách nghe.

Có tiếng “ dạ” và tôi thấy một người đàn bà trẻ trên đầu còn mang khăn tang tay bế đứa bé chừng một tuổi bước ra, một người khác lớn hơn trong chiếc áo màu tím hoa cà lên tiếng:

- Để con lo cho. Thím Lân dỗ con đi.

Lúc bấy giờ tôi mới dám nhìn lại trên bàn thờ, tấm hình được đặt chính giữa là người cha, bốn người kia là trai trẻ, sao họ đều chết hết vậy? Một cảnh tượng thương tâm, tang tóc tôi chưa từng thấy. Ôi, chiến tranh tàn khốc và nghiệt ngã quá. Bác Năm giải thích:

- Chồng tôi đi lính Biệt Động Quân, các con tôi noi chí cha nên đều chọn binh chủng Biệt Động Quân cả, có đứa là quan, có đứa là lính. Một điều rất đau đớn cho gia đình tôi là trong vòng 3 năm mà 5 cha con đều bỏ chúng tôi đi hết, trong đó có hai đứa còn độc thân. Giờ tôi còn một đứa con trai út 14 tuổi, hai con dâu và ba cháu nội nương tựa nhau mà sống thôi.

Nghe bác kể tôi rưng rưng nước mắt. Tôi thật sự thán phục và kính nể bà mẹ Việt Nam nầy. Còn nỗi đau nào hơn khi người chồng yêu mến cùng bốn người con trai ruột thịt của mình đã lần lượt nằm xuống cho quê hương, đã hy sinh vì lý tưởng tự do dân tộc? Họ là những anh hùng đã âm thầm hiến dâng máu xương cho tổ quốc, có mấy người nhớ đến? Có ai biết đến hoàn cảnh của người đàn bà đáng thương, đáng quý nầy? Sức chịu đựng phi thường của bà mấy ai sánh kịp? Bà phải cố ôm nỗi khổ, che giấu niềm đau, tự lấy mình làm điểm tựa cho con cháu bám víu vào mà sống. Ôi, không biết có bao nhiêu người vợ, người mẹ phải nhận lãnh số phận đắng cay trong cuộc chiến nầy như bác Năm?

Cơm nấu đã xong, bác mời tôi và chị Tâm vào ăn. Bác nói:

- Cá tôm là do thằng Út nhà tôi bắt, không phải tốn tiền mua đâu, hai cô cứ ăn tự nhiên nghe.

Bữa cơm miền quê khá thịnh soạn: một dĩa tôm càng kho tàu, một dĩa cá trê vàng nướng với nước mắm gừng, một tô canh chua cá lóc nấu với rau muống và một dĩa cải xanh luộc. Đang lúc chúng tôi chuẩn bị ăn cơm thì một anh lính bước vô, bác Năm lên tiếng:

- Thái về rồi hả ? Vô ăn cơm luôn đi cháu.

Anh lính rất tự nhiên:

- Dạ, cháu qua thăm bác Ba mới về. Thật đúng lúc quá, cháu cũng đang đói đây.

Nói xong anh ngồi xuống ngay cạnh tôi không chút ngại ngùng, khách sáo. Anh gật đầu chào chị Tâm và tôi. Anh tự giới thiệu:

- Tôi tên là Vĩnh Thái, bạn của thằng Lân là con bác Năm đây. Nghe tin bạn mất tôi vội tìm đến thăm nó. Rất tiếc là chỉ nhìn thấy hình nó mà thôi.

Đầu anh hơi cúi xuống, có lẽ xúc động nhiều, tôi thông cảm được nỗi lòng của anh. Tôi nhìn anh, một người thanh niên với dáng dấp phong trần dễ mến, có đôi mày rậm, đôi mắt sâu như chứa đựng nhiều nỗi lo âu, phiền muộn. Anh mang hai bông mai đen trên cổ áo và huy hiệu Sư Đoàn 9 Bộ Binh bên vai, huy hiệu nầy tôi đã nhìn thấy.Tôi hỏi anh:

- Anh là lính thuộc Sư Đoàn 9 BB hả? Cậu tôi cũng cùng Sư Đoàn với anh đó, Trung Đoàn 16 của cậu đang đóng ở Vĩnh Long. Còn anh đang đóng quân ở đâu?

- Tôi thuộc Trung Đoàn 14, Bộ Chỉ Huy ở Vĩnh Bình, vị Tiểu Đoàn Trưởng cho tôi đi phép đặc biệt hai ngày thôi, chiều mai tôi phải trở về đơn vị.

Tôi không dám hỏi gì thêm nữa. Bữa cơm tối với tôi và Thái không mấy gì thú vị, trừ chị Tâm. Sau đó bác Năm dọn chỗ cho chúng tôi nghỉ. Tôi và chị Tâm ngủ ở bộ ván bên trái bàn thờ, Thái nằm trên bộ đi-văng bên phải, chủ nhà ở phòng trong. Đêm đó là một đêm kinh hãi nhất trong đời, tôi làm sao ngủ được, vừa lạ nhà, lạ giường và hình ảnh 5 ông lính mặc đồ rằn ri cứ nhảy múa trước mắt tôi. Chị Tâm và cháu bé vì mệt mỏi nên đã ngủ say, bên kia tôi nghe tiếng thở dài nhè nhẹ của Thái, chủ nhà cũng im hơi, bặt tiếng. Tôi kéo túi xách của tôi lại gần, mở ra lấy cái khăn lông che mặt lại để không nhìn thấy gì hết. Tôi cố sức chịu đựng và mong đêm sẽ qua mau, nhưng đêm như dài vô tận. Bỗng nhiên tôi cảm thấy lạnh và run bần bật, mồ hôi đầm đìa, nhưng đầu thì rất nóng hình như đang lên cơn sốt. Tôi thấy ngộp thở, sợ hãi, căng thẳng đến không thể chịu đựng được nữa, tôi bỗng òa khóc, lay mạnh chị Tâm:

- Chị Tâm ơi, em sợ quá!

Chị Tâm vẫn say ngủ không chịu tỉnh dậy. Từ bên kia Thái vội vã chạy sang:

- Cô làm sao vậy?

Tôi càng khóc lớn hơn:

- Tôi … sợ quá!

Thái bước đến bàn thờ cầm cây đèn dầu, khơi ngọn cao hơn mang đến gần tôi, nhìn thấy tôi khóc anh hỏi:

- Cô không sao chứ?

- Hình như tôi bị bịnh rồi.

Thái đưa tay sờ trán tôi rất tự nhiên rồi nói:

- Đúng rồi, cô bị sốt cao. Cô theo tôi ra ngoài sân, ở đây có vẻ ngột ngạt quá.

Vừa nói Thái vừa kéo tôi ra trước nhà, đã có sẵn một cái ghế ở đó, Thái bảo tôi:

- Cô ngồi xuống đây và chờ tôi một chút.

Thái lấy cái khăn lông của tôi đi vào trong nhà. Một lúc sau anh trở ra trên tay có ly trà nóng và chiếc khăn của tôi cũng được ngâm nước ấm. Anh đưa khăn cho tôi lau mặt và bảo tôi uống ly trà nóng với viên thuốc anh cầm trên tay. Tôi ngạc nhiên hỏi anh:

- Thuốc ở đâu vậy?

- Tôi lấy trong ba-lô tôi vì lúc nào cũng có để phòng thân.

Tôi gật đầu cảm ơn anh, anh thật chu đáo. Anh lấy thêm một ghế khác và ngồi cạnh bên tôi, anh bảo tôi nên ngồi ở đây cho thoáng chờ thuốc có tác dụng sẽ khỏe lại. Anh bắt đầu kể chuyện cho tôi nghe, có lẽ anh đi đòn tâm lý để cho tôi quên đi cơn bịnh đang hành hạ tôi. Anh kể về Lân, bạn anh đang ngồi trên bàn thờ kia độ một tháng nay. Hai người là bạn học ở trường Phan Thanh Giản Cần Thơ. Sau nầy xa nhau anh vào trường Võ Bị Đà Lạt, Lân đi thụ huấn ở trường Bộ Binh Thủ Đức. Mỗi đứa một nơi nhưng vẫn còn liên lạc được với nhau vì vậy anh mới biết tin bạn mình đã anh dũng hy sinh trên chiến trường. Anh buồn bã nói:

- Hôm nay tôi ngồi đây khóc nó, không biết sau nầy khi tôi nằm xuống ai sẽ khóc cho tôi?

- Tại sao anh bi quan như vậy? Sao anh không nghĩ đến một ngày anh được thăng quan, tiến chức, anh sẽ là…một Tiểu Đoàn Trưởng, một Trung Đoàn Trưởng hay gì gì đó cao nữa…

Thái nhìn tôi:

- Sao cô rành việc nhà binh quá vậy?

- Vì cậu tôi, chú tôi, anh tôi đều là lính cả nên tôi thường nghe họ nói vậy mà.

Thái nhìn vào trong nhà rồi bảo tôi:

- Cô hãy ngồi đây, tôi vào nhà nấu cho cô nồi cháo vì buổi tối tôi thấy cô ăn rất ít, giờ lại uống thuốc không tốt đâu.

- Anh biết nấu sao? Hơn nữa đâu phải nhà anh, đừng làm phiền bác Năm.

- Không có phiền đâu. Một giọng nói từ phía sau lưng đưa tới làm tôi giật thót người. Nhìn lại là bác Năm, bác nói:

- Bác đã thức dậy từ lúc nghe cháu khóc, nhưng thấy Thái lo được cho cháu nên bác không bước ra. Thôi bây giờ để bác đi nấu cho một nồi cháo cá.

- Cháu không dám làm phiền bác.

- Có gì mà phiền, ngồi đó chơi đi để bác lo.

Bác đi rồi, Thái hỏi thăm về tôi, tôi cho Thái biết tôi còn đang đi học, nhà ở đường…Vĩnh Thái cũng là dân Cần Thơ, ba mẹ anh có tiệm bán bánh, trà trên đường Phan Bội Châu, anh chỉ có một đứa em trai.

Cơn sốt của tôi đã hạ, tôi cảm thấy khỏe hơn nhiều. Đêm dần sáng, bầu tời không còn tối đen như mực, tôi có thể nhìn thấy cây mai vàng trước nhà với những cánh hoa còn ướt sủng sương đêm, long lanh, lấp lánh như giọt lệ của người con gái trong buổi chia ly.

Tôi buột miệng khen:

- Cây mai nầy thật đẹp!

Thái thở dài:

- Đẹp đến đâu rồi cũng tàn khi mùa Xuân đi qua, cánh hoa sẽ rơi rụng, màu vàng rực rỡ sẽ nhạt phai, làm sao bền vững được mãi.

Tôi hiểu được tâm trạng bất an, hoảng loạn của anh trong lúc nầy nên an ủi anh:

- Anh không nên nghĩ thế. Bây giờ hoa còn đẹp mình hãy chiêm ngưỡng, ca tụng nó đừng nghĩ đến ngày tàn Xuân hoa sẽ tàn theo. Hiện tại anh còn tráng kiện, dũng mãnh, kiên cường hãy tin tưởng, hãy hãnh diện với những gì mình đang có, đừng bi lụy, đừng nghĩ đến ngày phải nằm xuống như bạn anh. Hãy quên những gì đã nhìn thấy hôm nay, hãy giữ hình ảnh oai hùng, kiêu dũng của bạn anh trong tâm tưởng.

Thái nhìn tôi giây lát rồi chợt mỉm cười:

- Cô nói đúng. Tôi là một người lính mà sự suy nghĩ không chững chạc bằng cô bé sợ ma như cô. Cám ơn cô đã đánh thức ý tưởng như mê ngủ của tôi.

Cả hai chúng tôi cùng cười vì cảm thấy đã tìm lại tâm trạng bình thản của mình. Bác Năm cũng vừa bước ra:

- Cháo đã nấu xong rồi hai đứa vào ăn đi cho nóng.

- Cám ơn bác.

Chúng tôi theo bác vào nhà, lúc đi ngang qua bàn thờ tôi không còn thấy sợ sệt nữa mà cảm thấy kính phục họ vô cùng. Tôi đứng lại lấy 5 cây nhang đốt cho 5 người tử sĩ và khấn vái xin các vị hãy ngủ một giấc thật bình yên trong thế giới không hận thù, không chém giết.

Trời đã sáng hẳn, chị Tâm cũng thức giấc. Sau buổi điểm tâm bằng cháo cá, chúng tôi từ giã lên đường. Tuy tôi đã trải qua một đêm kinh hoàng nhưng cũng nhiều lưu luyến nên không nỡ dời chân. Anh Thái tiễn chúng tôi ra tận quốc lộ và đón xe cho chúng tôi, anh hẹn sẽ ghé qua thăm hoặc viết thư cho tôi. Xe chạy xa rồi tôi thấy anh vẫn còn đứng bên vệ đường nhìn theo.

* * *

Ngày tháng trôi qua, mùa Xuân đã hết, những cánh mai vàng tả tơi rơi rụng để nhường chỗ cho những mầm lá non vừa trổi dậy. Tôi nhớ về anh, người trai tôi quen biết trong một đêm kỳ diệu, một sự gặp gỡ tưởng chừng như mộng ảo, huyền hoặc như cơn mơ. Tôi mong đợi có một ngày anh đến thăm tôi, hoặc một lá thư xanh bất ngờ của anh. Tôi thấy mình thật vô duyên, mơ mộng hão huyền, mới gặp người ta một lần thôi vậy mà trông chờ gì đây chứ! Nhưng niềm ước mơ của tôi đã thành sự thật vì một ngày kia anh đã xuất hiện trước cổng trường tôi, ngơ ngác hỏi thăm từng người, chặn hỏi bao nhiêu cô gái có ai biết Hà Như học năm thứ hai không? May mà anh gặp được Hoàng Yến bạn tôi nên nó mới kéo anh đến trước mặt tôi lên giọng: “ Ta giao Hoàng Tử lại cho cô nương nè”. Thật quá ngạc nhiên và vui mừng vì tôi không ngờ anh cũng lưu tâm đến tôi như thế. Rồi những ngày phép quý báu của anh dành cả cho cô bé mới quen như tôi, anh chiều chuộng tôi mọi thứ, anh mua quà cho tôi thật nhiều. Tôi ái ngại:

- Anh đừng mua quà cho Như nhiều như vậy, Như không xài hết đâu. Hơn nữa tốn tiền anh quá.

Anh cười bảo:

- Tôi đi hành quân suốt tháng quanh năm, tiền lương của tôi không có dịp xài hết. Những khi dừng quân tôi thường cho mấy chú lính chút ít để họ mua đồ ăn với nhau. Ba mẹ cũng không cần tôi giúp đỡ nên tôi dư tiền, Hà Như đừng lo.

Tôi cảm thấy hình như chúng tôi đã đi quá xa tình cảm bè bạn sơ giao. Có một cái gì đó rất đầm ấm, thân thiết ràng buộc chúng tôi không nói được, không diễn tả được. Rồi trước ngày trở về đơn vị anh đã thú thật với tôi là anh đã yêu tôi, anh nói anh không nhầm lẫn, anh đã đắn đo, suy nghĩ và cuối cùng phải nói thật lòng mình dù tôi có trách móc, giận dỗi hay không thèm nhìn anh nữa anh vẫn phải nói ra điều đó. Tôi xúc động trước tấm chân tình của anh:

- Em không trách phiền anh gì cả. Thật ra từ ngày gặp anh trở về em luôn nghĩ đến anh, nghĩ đến nỗi bâng khuâng, lo lắng, ưu tư của anh mà ái ngại vô cùng. Em muốn được chia xẻ cùng anh, muốn được nhìn thấy anh luôn vui vẻ, lạc quan và em cũng thấy…nhớ anh lắm.

Anh mỉm cười đưa tay kéo tôi vào lòng và vuốt nhẹ tóc tôi, hai đứa cùng nhìn nắng vàng đang trãi dài xuống mặt đường loang loáng xác hoa rơi.

Chuyện tình chúng tôi bắt đầu từ đó. Anh đã dẫn tôi về nhà giới thiệu với mẹ anh. Bà quý mến tôi như cô dâu chưa cưới khiến tôi thẹn thùng và cũng cảm động vô cùng. Thời gian nghỉ phép của anh tuy ngắn ngủi nhưng chúng tôi đã có một đoạn tình dài diễm lệ khó quên. Bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu lời hứa hẹn, bao nhiêu mộng ước tương lai. Anh nói:

- Anh mơ một ngày tàn chinh chiến, anh sẽ được trở về nhà với một mái gia đình êm ấm bên người vợ hiền và đàn con xinh xắn, ngoan ngoãn.

- Người vợ ấy là ai vậy anh?

Anh tát nhẹ má tôi và nói:

- Là cô bé nhát như thỏ đế, sợ ma một cây đó.

- Ồ, anh chọc em hả? Không thèm chơi với anh đâu.

Tôi đấm vào ngực anh thình thịch làm anh la oai oái, chúng tôi thật vui trong niềm hạnh phúc vừa chợt đến.

Đêm cuối cùng của kỳ phép đó anh đưa tôi vào một quán café ca nhạc nằm trên đường Nguyễn Viết Thanh, một con đường yên tĩnh hắt hiu sầu với cơn gió đêm trở lạnh. Chúng tôi thả hồn theo những tình khúc chinh chiến buồn lê thê hay những bài hát nói lên niềm ước vọng của những người đang dấn thân trong cuộc chiến. Họ mơ một ngày đất nước thanh bình, được giã từ vũ khí, trở về quê cũ sống đời hiền hoà trên quê hương:

“…Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn…Xin trả lại đây bỏ lại đây thép gai giăng với lũy hào sâu, lỗ châu mai với những địa lôi, đã bao phen máu anh tuôn rơi…

Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm, mộ bia kín trong nghĩa địa buồn, bạn anh đó đang say ngủ yên…Để có một ngày, có một ngày cho chúng mình ta lại gặp ta…”

Anh đưa tôi về, chúng tôi lang thang qua những con phố im lìm, vắng lặng. Qua đường Nguyễn Trãi với hai hàng sao cao vút, lá thì thầm khóc chuyện chia ly, qua đường Hòa Bình thênh thang, dài hun hút… chúng tôi cùng ngồi trong công viên Tao Đàn nhìn bầu trời lấp lánh sao đêm. Anh kể cho tôi nghe về cuộc đời chiến binh ngoài trận tuyến, về những niềm vui nỗi buồn của anh em đồng đội. Đêm chia ly thật buồn, đêm tiễn đưa nhạt nhòa nước mắt.

Rồi anh trở về đơn vị, những lá thư nồng nàn yêu dấu liên tục bay về. Má tôi hồng thêm, mắt tôi xanh thêm, môi tôi thẹn thùng e ấp…Nhiều đêm sau giờ học, ngồi dưới ngọn đèn khuya tôi cặm cụi viết thư gửi ra chiến tuyến “…Ngồi biên thư gửi anh chốn đó, lạnh đêm nay lạnh không phải lạnh vì gió…Thư đến từng nẽo người qua văn non đôi câu vụng về, khi chưa được về đọc thư tình anh nhớ tôi không?...”

Lần về phép kế tiếp vội vã, tuyệt vời của anh đã tô đậm thêm, gắn bó thêm cho tình yêu chúng tôi tưởng chừng như thiên thu, bất diệt. Có lẽ chúng tôi có duyên với mùa Xuân nên kỳ phép nầy của anh cũng lại vào tháng Ba. Anh đã đưa tôi đi ra ngoại ô để nhìn hoa mai cuối mùa rụng rơi bay lả tả trên đường. Anh là một người lính đa sầu đa cảm, nhìn hoa rơi, lá rụng cũng thấy bâng khuâng, xao xuyến tâm tư, nhưng tôi mến anh ở điểm đó.

Có lần anh nói:

- Em đừng tưởng anh lãng mạn, yếu hèn, nhút nhát nhé! Khi đánh giặc anh cũng oai phong lắm đó. Chỗ nào bảo lính không dám vô là anh xung phong vô trước, thế là các chú lính phải chạy theo anh thôi.

- Nhìn dáng vẻ của anh ai dám bảo anh không oai phong chứ! Với em anh là người hùng, là thần tượng, là…

- Thôi đừng ca tụng anh nữa em ơi!- Anh đưa tay bịt miệng tôi lại và hai đứa cười vang trong nắng đẹp của trời Tây Đô dạt dào ý sống.

Đó là khoảng thời gian đẹp nhất của chúng tôi. Tôi nâng niu từng kỷ niệm, chắt chiu từng lời nói yêu thương. Rồi anh lại ra đi, và tôi mãi là chinh phụ luôn ngóng trông về chiến tuyến. Cho đến một ngày… một ngày đầu năm 1973 tôi ghé qua tiệm bánh nhà anh, mẹ anh báo tin anh đã mất tích trong một cuộc hành quân lớn ở quận Tiểu Cần thuộc tỉnh Vĩnh Bình. Trời đất quay cuồng sụp đổ, đầu óc tôi đảo điên, tim tôi nát tan từng mảnh vụn. Điều lo sợ, linh cảm không lành của anh ngày nào đã thành sự thật. Anh sợ mùa Xuân sẽ tàn mau, sợ hoa Xuân không kéo dài theo ngày tháng, sợ tình yêu vỗ cánh bay nhanh, sợ tuổi thanh xuân của anh không được trường tồn, sợ đường binh nghiệp nửa chừng gãy gánh…Tất cả điều lo sợ đó đã xảy ra rồi và tôi cúi đầu nhận lấy phần thua thiệt, nhận lãnh số phận thương đau. Tôi đã mất anh tin từ dạo đó. Tôi đã âm thầm khóc than mối tình đầu suốt bao năm tháng dài phiền muộn.

* * *
Sau ngày miền Nam: VNCH rơi vào tay Cộng Sản tôi mất việc làm vì là “Công Chức Ngụy”, tôi theo bạn bè ra chợ trời để tìm sinh kế. Cuộc sống quay cuồng, vất vả ngược xuôi nên đôi lúc tôi không còn nhớ mình là ai, không còn nhớ những chuyện gì trong quá khứ trừ niềm đau xót, nhớ thương về anh vẫn âm ỉ trong tim tôi. Có một ngày vào tiết Thanh Minh, được rảnh rỗi đôi chút tôi đến thăm người cô ruột, cô rủ tôi xuống quận Phong Điền để tảo mộ cho vợ chồng người bạn thân. Thật tình tôi không muốn đi nhưng cô cứ nài nỉ mãi, sợ cô buồn nên tôi bằng lòng theo cô một chuyến. 

Khi tới nơi cô dẫn tôi đến một gia đình có họ hàng với người bạn quá cố của cô và nhờ họ đưa đến nghĩa trang giùm. Đó là một nghĩa trang gia đình hiu hắt buồn, cô liêu hoang vắng, chắc ít ai quan tâm, thăm viếng. Có nhiều mồ mã bạc màu rong rêu bao phủ, hàng sau cùng có ba nấm mộ, đặc biệt là ngôi mộ thứ ba chắc được xây chưa lâu lắm. Cô tôi ngồi trước một ngôi mộ rồi đưa tay lau nước mắt, ngôi mộ của bà bạn cô. Tôi nhìn hình của bà, có cảm giác hơi quen như từng gặp ở đâu nhưng bức ảnh mờ quá không nhận ra là ai. Đến ngôi mộ sau cùng tôi bỗng giật mình, biến sắc, mắt hoa lên khi nhìn bức ảnh và hàng chữ trên mộ bia:

“Hoàng Vĩnh Thái.
Sinh ngày 8 tháng 7 năm 1945.
Từ trần ngày 9 tháng 1 năm 1978”

Tôi qụy xuống nắm tay cô:
- Cô ơi, đây là bạn con, sao cô quen biết họ? Anh Thái sao mới chết vậy? Ảnh đã mất tích từ năm 1973 rồi mà.

Cô kéo tôi ngồi lại gần hơn, nhìn tôi một lúc rồi chậm rãi nói:

- Cô là bạn thân với mẹ Thái. Cả bà ấy và cô đều biết chuyện của con và Thái nên khi Thái bị thương mất hai chân bà nhờ cô giữ kín, nói rằng Thái bị mất tích, đó cũng là yêu cầu của Thái. Họ hy vọng thời gian lâu sau con sẽ quên Thái mà vui vẻ cùng người khác. Sau ngày 30 Tháng 4- 1975 cậu em của Thái chạy ra nước ngoài, dù cậu ấy đã mất tích trong một chuyến vượt biên, Việt Cộng vẫn cho rằng gia đình Thái thuộc thành phần phản động nên đã tịch thu hết gia sản. Ông bà buồn rầu, đau khổ, chán nản mà lần lượt qua đời. Một người bà con xa có mang ơn nghĩa với gia đình Thái đã đem cha mẹ Thái về đây an táng và Vĩnh Thái cũng được họ đùm bọc. Cô biết chuyện nên cũng thường xuyên liên lạc giúp đỡ tiền bạc, thuốc men cho Thái. Một năm trước Thái bị chứng bịnh nan y, không đủ tiền chạy chữa, ngay cả cô cũng không giúp được nên Thái đã ra đi hơn hai tháng nay. Cô không dám cho con biết tin nầy sợ con không chịu được, nhưng cuối cùng cô cũng không thể giấu con mãi nên hôm nay cô mới dẫn con đến đây thăm mộ Thái.

Tôi đau đớn, bàng hoàng như kẻ rơi xuống từ cung trăng. Thật sự tôi đã khóc và lòng cũng đã để tang cho mối tình mình tự mấy năm nay, nhưng tôi đâu ngờ anh còn sống sót, sống đau khổ, vật vờ trong hoàn cảnh khốn cùng nầy. Tôi ân hận vì đã không được lo lắng, chăm sóc cho anh, không được tâm tình với anh lần cuối, không nói được lời nào với một người mà hình bóng đã khắc sâu tận đáy tim tôi. Anh mơ ước một ngày đất nước thanh bình, anh sẽ gĩa từ vũ khí trở về bên mái gia đình êm ấm, một khát vọng bình thường mà người chiến binh như anh không bao giờ tìm thấy. Thượng Đế hỡi, sao đọa đày tuổi trẻ Việt Nam thế nầy? Thái ơi! Từ đây em là kẻ lữ hành trên nẽo đường cô độc. Em sẽ lặng lẽ nhìn những mùa Xuân đi qua, nhìn những cánh mai cuối mùa bay tản mạn để nhớ để thương thật nhiều về những mùa Xuân cũ, những mùa Xuân có anh bên cạnh, mình cùng nhặt xác hoa vàng trong cơn gió nhẹ thoảng đưa.

Tôi ngồi bên mộ anh rất lâu, một mình trong không gian vắng lặng của buổi chiều chậm xuống. Tôi không còn biết sợ hãi như ngày xưa, tôi có cảm giác anh đang lo lắng quan tâm cho tôi như một đêm nào trong căn nhà xa lạ:

- Không ngờ em đã 20 tuổi rồi mà còn sợ ma như cô bé 5 tuổi vậy.

Lời anh nói như còn phảng phất trong gió, trong mây. Tôi cảm thấy đau đớn và nhớ anh vô cùng, nhớ tha thiết, nhớ đến tan nát cõi lòng, nước mắt tuôn rơi lả chả. Tôi thấy mình thật cô đơn tội nghiệp, tôi thèm nghe những lời nói âu yếm yêu thương, thèm vòng tay nồng ấm và nụ hôn yêu dấu ngàn đời. Nhưng anh đã xa rồi, vĩnh viễn bỏ tôi giữa giòng đời ngập đầy chông gai, đá sỏi. Trời tháng Hai rồi sao hồng quang không chiếu sáng? Xuân đã tàn chưa mà hoa mai lả tả rụng rơi? Niềm hy vọng của tôi và của anh đã tan rồi, ước mơ đã chìm sâu theo bóng người đi vào thiên cổ. Đâu đây trong gió chiều có tiếng chim kêu sầu lẻ bạn, bơ vơ. Tôi thất thiểu ra về, lạc lỏng một mình trên con đường đất nhỏ buồn tênh…

“… Mất anh rồi xa anh rồi hoa đã tàn nhụy đã phai. Chiều hôm nay trời thanh vắng em âu sầu anh ở đâu? Một người đi một người sầu nhìn hoa úa rụng tàn mau…”


11/02/2016
Vi Vân

Tuesday, July 14, 2015

Trôi theo dòng đời

Vi Vân


(Kính dâng anh linh Thiếu tá Thụy)

Người sư nữ đang ngồi trước mặt tôi đưa đôi mắt vô hồn nhìn ra ngoài song cửa. Nắng chiều nhạt nhòa xuyên qua bức màn xanh phản chiếu lên khuôn mặt ni cô trông xanh xao tiều tụy như người con gái trong truyện liêu trai, như trong mộng mị, thật mơ hồ…


Giọng của người sư nữ- ni cô Diệu Đức- thật nhỏ nhưng tôi nghe rất rõ:

- Anh ấy chết rồi, chết trước ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Anh chết thật rồi sao Thụy? Tôi không bao giờ muốn nghe tin nầy dù đây là sự thật. Tôi thấy đau nhói trong tim, trước mắt tôi là một vùng trời dày đặc sương mù với những cơn gió phủ phàng lạnh buốt tim gan làm nát tan, đổ vỡ hy vọng mong manh còn sót lại. Những kỷ niệm xa xưa chợt quay về trong xót xa, ray rứt, hình ảnh người anh kết nghĩa ngày đó hiện lên rõ rệt trong tâm trí tôi, những ngày anh ngồi lặng lẽ sửa lại cho tôi mấy bài thơ, những chiều anh ôm đàn nghêu ngao hát tình ca …

Tôi biết anh từ lúc tôi còn trẻ lắm, khoảng 15 hay 16 tuổi gì đó. Nhà anh và nhà tôi rất gần nhau, anh lại là bạn cùng lớp với anh tôi, tính tình chúng tôi rất hợp nhau vì thế anh đã nhận tôi làm em kết nghĩa.

Gia đình anh ở dưới quận Châu Thành, ba anh là chủ một nhà máy xay lúa lớn, ông đã mua một căn nhà trên tỉnh Cần Thơ cho anh và em gái anh ở để đi học. Anh là một thanh niên tuấn tú, dáng dấp vừa vặn, có nụ cười dễ mến, mái tóc bồng bềnh như nghệ sĩ, làm thơ hay, lại thích đàn hát nên được nhiều bạn gái cùng lớp cảm mến. Khi anh đang học năm cuối cùng ở Trung học, sắp sửa thi Tú Tài 2 thì một sự việc quan trọng xảy ra làm tan nát mộng ước và tương lai của anh. Ba anh cho biết là ông đã hứa hôn cho anh và con gái của một người bạn là một thương gia ở Bạc Liêu.

Ngày xưa khi gia đình anh làm ăn thất bại, người bạn của ba anh đã giúp vốn cho ông gầy dựng lại sự nghiệp, đó là cái nhà máy xay lúa mà gia đình anh đang có. Vì cảm kích tình bạn cao cả, ba anh đã hứa cưới con gái của bạn mình cho anh dù cô ta hơn anh hai tuổi. Ba anh cố giấu anh mãi đến lúc nầy ông mới cho anh biết. Anh bàng hoàng sửng sốt trước sự đặt để của cha mình, anh phản đối, anh cự tuyệt nhưng mẹ anh đã dùng nước mắt và sinh mạng ra làm áp lực với anh nếu anh từ chối. Anh khổ sở rất nhiều về sự việc đó. Chiều hôm ấy anh đến nhà tôi với gương mặt buồn bã, lầm lì, khó hiểu. Anh ôm đàn và đàn mãi, hết bản nầy sang bản khác nhưng anh không hề hát một câu nào. Tôi biết anh có tâm sự nên đến gần gợi chuyện:

- Anh có gì không vui sao?

Anh nhìn tôi một hồi lâu rồi thở dài:

- Anh nói riêng điều nầy cho em nghe. Sau khi thi xong chắc anh sẽ đi xa, không phải lên Sàigòn để vào Đại Học mà anh sẽ đi lính. Nhưng trước khi đi ba anh bắt anh phải làm lễ đính hôn với một cô gái không yêu thương.

- Em cũng có nghe loáng thoáng chuyện ấy. Nếu anh đi lính thì chị ấy làm sao? Anh có muốn cưới chị ấy không?

Anh tỏ vẻ đau khổ:

- Anh cũng không biết nữa. Anh không yêu cô ta thì làm sao thành vợ chồng được. Anh muốn tránh khỏi nơi đây một thời gian dài để xem sự thể ra sao.

Tôi không hài lòng về cách đối xử của anh với chị kia dù chưa quen biết:

- Em còn nhỏ không dám có ý kiến nhiều, nhưng nếu anh chưa có người yêu thì …đừng nên làm như vậy, tội nghiệp cho người con gái.

Anh nhìn vào mắt tôi:

- Sao em biết anh chưa có người yêu? Để hôm nào có dịp anh dẫn em đến gặp cô ta cho biết mặt. Anh đã yêu cô gái đó gần một năm rồi nhưng nàng còn quá trẻ, anh để cho cô ta chuyên tâm học hành nên chưa tính toán gì cả.

Thì ra anh đã có người trong mộng rồi nên anh buồn bã, đau khổ trước sự áp đặt của cha mẹ anh, nhưng rồi tôi cũng chưa có dịp nào để biết mặt người yêu của anh cả.

Mùa hè năm ấy anh phải làm lễ đính hôn với chị Hồng Loan, rồi anh lên Sàigòn học và cuối năm thì tôi nghe tin anh đã vào trường Võ Bị Đà Lạt.

Những buổi chiều không còn ai ôm đàn hát tình ca nữa, xóm tôi vắng tiếng hát của anh từ dạo ấy. Tôi cảm thấy như thiếu mất một cái gì đó rất thân quen, tôi bỗng trở nên trầm lặng, u buồn và chợt thấy mình đã trưởng thành không còn là cô bé ngây thơ, hồn nhiên nữa.

Thỉnh thoảng tôi nhận được thư của anh, những lá thư viết từ KBC 4027. Trong thư ngoài vấn đề quan tâm đến sự học hành của tôi anh thường kể chuyện về anh cho tôi nghe. Những đêm dã chiến, những lần thực tập lội đèo băng suối, những ngày gian lao huấn nhục ở quân trường, những ngày cuối tuần đi ra phố lẻ loi, cô độc vì thiếu người thân, không có người yêu, và khi đi xem lễ ở nhà thờ anh thường ngồi lặng lẽ ở bàn cuối, cầu nguyện âm thầm. 


Anh kể về Đà Lạt với sương mù che kín đỉnh Lâm Viên, về đồi thông thơ mộng, về hồ Than Thở với câu chuyện tình huyền thoại đau thương, về Vũ Đình Trường trong những buổi lễ mãn khóa của các bậc đàn anh…và còn rất nhiều, nhiều nữa. Tự nhiên tôi đâm ra say mê vùng trời xa xôi đó, vùng trời có anh đang hiện diện. Tôi mê cả màu áo Võ Bị với cầu vai Alfa đỏ thắm tươi như trong hình của anh, và tôi rất nể phục những chàng trai mang chí cả kiêu hùng, quyết tâm ra đi giữ gìn sông núi. Các anh đã gắn bó với quân trường, với màu Alfa đỏ, với lời thề ”Tự Thắng Để Chỉ Huy”, để bảo an dân quốc dù tâm tư không thể nhạt phai một hình bóng nào đó ở hậu phương:

Ta bỏ lại đời sinh viên mộng mị
Nhìn đỉnh Lâm Viên nghiêng bóng Quân Trường
Alfa ơi! Màu đỏ đẹp vô cùng
Chiều doanh trại nhớ về em bất tận...
(Quốc Nam- K22)

Suốt những năm tháng dài tôi mãi mong chờ ngày anh trở lại quê nhà. Một điều may mắn bất ngờ xảy ra cho anh là việc vị hôn thê của anh bỗng nhiên đem lòng yêu thương kẻ khác và xin được từ hôn với anh. Đó cũng là một việc dễ giải quyết cho ba anh vì chính ông cũng biết rằng con trai mình phải đau khổ khi chiều ý ba mẹ.

Năm ấy anh trở về trong kỳ phép đầu tiên sau khi ra trường. Tôi và gia đình anh đón anh trong niềm hân hoan tột đỉnh. Anh đưa tôi ra phố trong bộ Jaspé của Trường Võ Bị oai phong, ai cũng nhìn vào chúng tôi trầm trồ và có lẽ họ cho rằng đó là một cặp tình nhân. Anh cho tôi biết đây là lần sau cùng anh mặc bộ đồ nầy vì mai đây khi anh ra đơn vị anh sẽ phải mặc bộ treillis tác chiến, anh đã được bổ nhiệm về một đơn vị ở tận miền Trung rồi.

Anh đưa tôi vào một nhà hàng bên bờ sông Ninh Kiều. Ngồi ở một bàn gần cửa sổ, tôi đưa mắt nhìn con sông chạy dài thăm thẳm, ngút ngàn. Vài chiếc tàu Hải Quân nằm im lìm như đang say ngủ, xa xa thấp thoáng những chiếc thuyền con nhấp nhô trên sóng nước, những cánh chim hải âu xoải cánh bay lạc loài trên sông, chúng sẽ bay về đâu? về phương trời nào hay cứ mặc cho cơn gió cuốn đi không định hướng? Cũng như anh, từ đây anh sẽ trôi đi, trôi mãi theo dòng đời mênh mông, theo dòng cuồng lưu của chiến chinh, máu lửa.

Mắt anh chợt nhìn ra ngoài xa buồn bã, anh nói:

- Không biết bây giờ Ngự Chiêu ra sao? Anh đã có lỗi với nàng nhiều quá.

Tôi nghi ngờ :

- Tên người anh yêu là Ngự Chiêu à? Sao giống tên bạn em quá vậy? Có phải nhà cô ta ở cư xá Lữ Gia không?

Thụy giật mình, mở to mắt nhìn tôi:

- Đúng rồi, cô ta là bạn của em sao?

- Dạ phải. Em nghe bạn bè nói Ngự Chiêu buồn tình anh chàng nào đó nên sau khi đậu Tú Tài 2 nó không vào Đại Học mà đã xin đi làm ở Tín- Nghĩa ngân hàng rồi. Nó vẫn chưa lấy chồng, anh có muốn gặp lại nó không? Biết đâu nó còn thương và chờ anh thì sao?

Anh cúi đầu trầm ngâm thật lâu rồi anh ngẩn lên hỏi tôi:

- Theo em thì anh nên làm sao? Có nên gặp Ngự Chiêu không? Thú thật anh vẫn còn yêu và nhớ cô ấy lắm.

Tôi kéo anh đứng lên:

- Vậy thì anh còn suy nghĩ, chần chờ gì nữa. Em dẫn anh đến đó xem sao. Hôm nay là Chúa Nhật nó ở nhà, nếu hai người còn thương yêu nhau thì tại sao phải lánh mặt?

Chúng tôi rời quán ăn đi ngược hướng bến Ninh Kiều, dọc theo đường Lê Văn Duyệt và rẽ vào cư xá Lữ Gia. Con đường đi vào cư xá thật yên tỉnh, những căn nhà hai bên đường đều trồng nhiều hoa, kiểng trông rất đẹp. Trước nhà Chiêu là một giàn hoa giấy màu tím che rợp cả lối đi và mấy băng ghế đá. Hoa ti- gôn màu hồng leo dày đặc hàng rào, trong sân còn nhiều chậu hoa, kiểng đủ sắc màu. Tôi bấm chuông, Ngự Chiêu ra mở cổng và mừng rỡ khi nhận ra tôi:

- Trời ơi! Vân Anh, ngọn gió nào thổi mi đến đây vậy? Dạ mời anh…

Ngự Chiêu giật bắn người khi nhận ra Thụy, cô lắp bắp:

- Anh …Thụy, anh là…

Tôi ngắt lời:

- Là anh của tao. Thôi vào nhà nói chuyện đi.

Khi vào nhà Chiêu vẫn chưa hết thắc mắc:

- Thụy là anh của mầy sao? Tao chưa từng nghe mầy nhắc đến tên anh ấy.

- Anh Thụy là anh kết nghĩa thôi nhưng ảnh thương tao hơn em ruột nữa. Tôi nhỏ giọng, ảnh kể cho tao nghe chuyện của mầy rồi.

Ngự Chiêu vào trong mang hai ly nước ra cho tôi và anh, cô nhìn Thụy với ánh mắt đầy xúc động xen lẫn một chút xót xa, buồn bã:


- Lâu quá không có tin tức gì của anh, nghe nói anh đã vào lính, anh vẫn khỏe chứ? Anh lập gia đình lâu chắc cũng có cháu rồi phải không?

Anh nhìn Chiêu rồi lắc đầu không nói lời nào, tôi đỡ cho anh:

- Vẫn còn độc thân vì người ta chê nên từ hôn rồi, anh ấy đang muốn tìm về…quá khứ đó.

Biết tôi chọc anh, Thụy ngăn lại:

- Đừng đùa nữa Vân Anh. Chiêu à, sự thật là vậy. Anh đã có lỗi với em rất nhiều vì lẩn tránh em, không biết em có tha thứ cho anh không?

Thấy mắt Chiêu rướm lệ tôi vội nói:

- Thôi để mình ra ngoài sân xem mấy chậu hoa của Chiêu, thấy chúng đẹp quá.

Tôi bước ra sân và ngồi trên một băng ghế dưới giàn hoa giấy tím. Gió thổi lồng lộng làm những cánh hoa rơi bay tản mạn trên mặt sân, đâu đây mùi thơm của hoa sứ thoang thoảng, màu nắng làm ửng hồng khóm hoa thược dược… tôi bỗng thấy trời hôm nay đẹp quá, đẹp như tình yêu của anh vừa tìm lại được. Tôi cố ngồi ngoài sân thật lâu, tôi miên man suy nghĩ vẩn vơ, tôi muốn dành thời gian cho hai người để họ kể lể cho nhau nghe bao nỗi ưu tư, uẩn khúc, nhung nhớ, giận hờn.

Mãi một lúc sau tôi nghe anh Thụy gọi:


- Vân Anh ơi, vào nhà đi em. Làm gì ở ngoài đó lâu vậy?

Tôi lườm anh:


- Chứ không phải anh muốn vậy sao còn làm bộ nữa. Hai người đã nói chuyện đủ chưa, xong chưa?

Ngự Chiêu bẻn lẻn:

- Đâu có nói gì nhiều. Mình đã hiểu chuyện của anh Thụy rồi, mình sẽ bỏ qua tất cả, coi như là một thử thách của hai đứa, mình không giận anh Thụy nữa đâu.

- Thế thì hay quá! Tôi reo lên - vậy chiều nay phải đãi một chầu Phong Dinh Lầu đó nghe.

Như vậy là anh và Chiêu đã tìm lại được hương yêu của những ngày xưa thân ái, xây đắp lại cuộc tình đẹp như mộng như mơ tưởng đã vỡ tan.

Rồi anh trở ra đơn vị xa xôi tận miền Trung, họ vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua thư từ. Tôi đã trở thành kẻ bị lãng quên khi anh có người yêu thương, nhung nhớ. 


Mấy năm sau tôi lập gia đình và theo chồng bôn ba xứ lạ. Chồng tôi cũng là một quân nhân, phục vụ cho Sư Đoàn 7 BB đóng ở Kiến Hòa, thỉnh thoảng tôi có nhận được thư của Chiêu kể về Thụy và dự tính tương lai của hai người cho tôi nghe. Một mối tình tuyệt vời qua những lá thư đầy ấp yêu thương của chàng trai Võ Bị kiêu hùng và cô gái miền sông Hậu ngoan hiền. Chiêu trích những câu thơ mà anh viết về từ tiền tuyến cho tôi đọc, những vần thơ lãng mạn, thiết tha:

Yêu em anh gửi tình thơ mộng
Theo gió chiều Thu bay bốn phương
Dưới ánh hỏa châu và đạn pháo
Có bóng hình em giữa chiến trường.

Vào những năm 1973, 1974 tình hình chiến trường miền Trung thật sôi động, Thụy đi hành quân đánh giặc liên miên nên chưa về phép để thành hôn với người yêu được. Tôi thật sự khâm phục sự kiên tâm chờ đợi, chịu đựng, hy sinh và lòng chung thủy của Chiêu, Chiêu đã chịu đựng bao năm tháng dài đăng đẳng, có lẽ cũng gần mười năm rồi. Lá thư cuối cùng Thụy hứa với Chiêu rằng mùa hè nầy sẽ xin cưới Chiêu. Cô ta mừng vui hớn hở viết thư báo tin cho tôi biết, tôi thầm cầu nguyện cho hai người sớm được toại ước nguyền bên nhau. 

Nhưng rồi mùa hè mơ ước của hai người chưa kịp đến thì phong ba nổi dậy, đất nước tan tành vì ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã hủy diệt tất cả: tổ quốc, gia đình, tình yêu.

Chồng tôi bị bắt vào lao tù ở tận miền rừng sâu núi thẳm như bao nhiêu sĩ quan QLVNCH khác. Tôi ôm đứa con vừa tròn ba tuổi trở về quê nhà với tâm tư rã rời, tan nát. Đau đớn, xót xa hơn khi gặp lại Ngự Chiêu và được biết anh Thụy đã mất tích ở miền Trung, anh không về nữa. Chiêu vật vả khóc than và quyết tâm chờ đợi, chờ đợi một phép nhiệm mầu nào đó bất ngờ đem Thụy về cho nàng.

Sau gần mười năm chồng tôi được trở về từ lao tù Cộng Sản, chúng tôi đã vượt biển bỏ nước ra đi và may mắn đến được bến bờ tự do an toàn. Từ đó tôi quay cuồng với cuộc sống nơi xứ người để lo sinh kế nên quên mất thời gian thoáng qua rất nhanh. Có lần tôi trở lại quê hương, tìm kiếm bạn bè ngày xưa và Ngự Chiêu nhưng không ai biết Chiêu đã đi đâu cả. 


Căn nhà Chiêu đã bị nhà cầm quyền CS lấy cho cán bộ của họ ở. Tôi đi lang thang qua những con đường cũ, đi qua từng khu phố, những ngõ ngách thân quen cố tìm lại chút dư hương xưa, tìm lại những hình ảnh thân mến của một thuở nào… nhưng tất cả đã xa lạ, đã đổi thay. Căn nhà tôi không còn, nhà anh cũng mất, Ngự Chiêu thì không biết trôi dạt về đâu, ôi thật buồn! Những kỷ niệm ngày ấy cứ chập chờn làm tê buốt tim tôi, và tôi trở lại nước Mỹ với tâm trạng ngập tràn ưu tư, phiền muộn.

Rồi một lần nữa tôi trở về quê hương, lần nầy thật may mắn cho tôi, khi tôi đang lang thang trên đường phố Sàigòn thì gặp được Ngọc Hạnh người bạn cùng lớp ngày nào. Hạnh cho tôi biết tin tức về Ngự Chiêu, Chiêu đã trở thành một ni cô hơn hai mươi năm nay, hiện đang ở trong một ngôi chùa ngoài Long Hải. Tôi điện thoại liên lạc được với Chiêu và mong gặp Chiêu ở Sàigòn. Được tin tôi, Chiêu vội vã về Sàigòn và đã ở lại với tôi mấy hôm liền.

Hôm đầu tiên gặp Chiêu tôi đã ôm chầm lấy Chiêu khóc òa như trẻ con. Trước mắt tôi cô không còn là một Ngự Chiêu với tóc dài óng ả, với nụ cười e ấp thơ ngây duyên dáng; da trắng, môi hồng ngày xưa đã nhạt phai, tàn tạ, giờ đây nàng chỉ còn lại một dáng dấp khắc khổ, gầy gò, với đôi mắt thờ thẩn vô hồn có lẽ đã khô rồi nước mắt. Tôi nắm tay Chiêu ngập ngừng:


- Bây giờ phải xưng hô thế nào đây? Kêu bằng… sư cô hay mầy, tao như thuở trước?

Ngự Chiêu nhìn thẳng vào mắt tôi:


- Cứ như xưa đi. Có như không, không như có. Tất cả chẳng có gì quan trọng. Pháp danh mình là Diệu Đức nhưng Vân Anh cứ xưng mầy, tao như trước được rồi, mình vẫn là bạn mà.

Tôi hỏi Chiêu:


- Mầy đã lập gia đình chưa? Tại sao mầy đi tu?

Đôi mắt Chiêu thờ thẩn nhìn vào khoảng hư không như đang ngược về quá khứ, như muốn khơi lại đống tro tàn đã nằm sâu dưới lớp bụi thời gian. Giọng cô trầm xuống:

- Sau ngày 30 tháng 4- 1975 tao được tin anh Thụy mất tích, tao đau đớn tột cùng nhưng vẫn kiên tâm chờ đợi ảnh. VC đuổi tao ra khỏi nhà, tao về Mỹ Tho sống với bên ngoại. Tao đi buôn bán khắp nơi cố ý dò thăm tin tức của Thụy nhưng vẫn bặt vô âm tín. Tao không thể lập gia đình với ai vì tim tao chỉ có Thụy. Tao chờ đợi hơn mười năm, tao đã sống vật vờ như một cánh bèo trôi trên sông mặc cho sóng trường giang lôi cuốn, tao trôi nổi theo dòng đời như thủy triều khi xuống khi lên, cứ thế và cứ thế…

Đến một ngày kia tao gặp một anh Thương Phế Binh, tao giúp đỡ anh ta và cũng nhờ vậy tao được biết anh ta cùng đơn vị với anh Thụy. Anh cho biết Thụy đã thật sự chết rồi, chết trong lần đụng độ cuối cùng với địch quân trên đường triệt thoái về Nam, chết trước ngày 30 tháng 4- 1975 , trước khi ông “tướng lớn” ra lịnh đầu hàng. 


Tao cố sống vì còn hy vọng ngày Thụy trở lại nhưng khi biết ra sự thật tao đã không còn ý chí để sống sót nữa. Tao tìm cái chết qua hai lần tự tử nhưng số mệnh tao chưa dứt nợ trần nên cả hai lần đều được cứu sống. Sau đó tao quyết định đi tu, còn gì lưu luyến cuộc đời nữa chứ! Tao đi tu không phải muốn thành Tiên thành Phật gì đâu, tao chỉ mong cho mau chóng hết kiếp nầy, tao muốn xác thân nầy được mau hủy diệt, mong kiếp sau…

- Mầy mong kiếp sau sẽ gặp lại anh Thụy chăng?

- Không, tao mong kiếp sau đừng làm con người nữa, tao muốn được làm cây cỏ vô tư không vướng những phiền lụy, bi ai của trần thế.

Đôi mắt Ngự Chiêu vẫn như nhìn vào một cõi mông lung nào đó, thẩn thờ, u mê, khờ khạo. Bao nhiêu năm tu hành mà nàng chưa giác ngộ và thấm nhuần giáo lý Phật pháp sao? Chưa dứt bỏ được trần duyên sao? Thật khó tin được. Tôi nhìn sâu vào mắt Chiêu, ôi còn đâu một người con gái trẻ đẹp tràn đầy nhựa sống, ôm ấp nhiều ước vọng yêu đương… không còn là Ngự Chiêu nữa, thật sự không còn. Ngự Chiêu ơi! Mai nầy mầy sẽ ra sao? Cuộc đời vẫn hờ hững, lạnh lùng với tâm tình của người con gái cô đơn, bất hạnh. Có lẽ rồi đây, dòng đời sẽ đưa mầy trôi về một cõi xa xăm, mầy sẽ được nghỉ ngơi, sẽ được thanh thản, bình yên trên một vùng thảo nguyên mênh mông nào đó, nhưng nó không thuộc về thế giới bên nầy.

Tất cả cũng vì cái Hận ngày 30 tháng 4 năm 1975 đen tối kia. Nó đã làm cho tôi mất hết mọi thứ: mất một giang sơn gấm vóc, mất một mái gia đình êm ấm, mất một người anh ruột thân yêu, mất anh Thụy, mất cả Ngự Chiêu của ngày nào… 
Không biết bao giờ tôi mới tìm lại được những mất mát đó để lòng khỏi xót xa, trăn trở với những đêm dài nơi tha phương đất khách? 


Dòng đời cứ trôi đi, trôi mãi, biết đến bao giờ sẽ quay trở lại như những ngày xưa? Biết đến bao giờ...!


Vi Vân

Blog Archive