Showing posts with label Lê Nguyên Hằng. Show all posts
Showing posts with label Lê Nguyên Hằng. Show all posts

Wednesday, March 1, 2023

Dòng Sông Êm Đềm 

Núi Đá Bia - Phú Yên
Tháp Nhạn - Tuy Hòa
Trại Pulau Bidong - Mã Lai

Người Việt sống ở hải ngoại được mục kích một “hiện tượng” rất sôi nổi, rầm rộ. Đó là hoạt động của các hội đoàn.

Thành phố nào có chừng vài trăm người Việt, thế nào cũng có vô số hội đoàn. Hội cựu học sinh các trường trung học, đại học, hội đồng hương các tỉnh thành Việt Nam từ Bắc chí Nam, hội cựu quân nhân các binh chủng QLVNCH. Ngoài ra còn có các hội đoàn tôn giáo, đảng phái chính trị. Hội đoàn giống như một cái cây được chăm sóc cẩn thận, càng ngày càng vươn cao, xum xuê cành lá.

Các hội đoàn có một hoạt động giống nhau là tương trợ, giúp đỡ hội viên trong cơn hoạn nạn, chia sẻ nhau những vui buồn mất mát. Thông tin cho nhau những tin tức sốt dẻo, lợi ích và hơn nữa yểm trợ cho những nhà bất đồng chính kiến bên Việt Nam. Có những điều trong nước không làm được nhưng hải ngoại làm được như vận động dư luận thế giới, quyên góp tài vật về giúp đỡ nạn nhân thiên tai bão lụt…

Các cuộc họp bạn đó còn hâm nóng những “truyền thống” có lẽ đã mất dần trong nước như vinh danh công ơn Thầy Cô, giúp đỡ các Thầy Cô hay bạn học cũ gặp hoàn cảnh khó khăn, vinh danh những thành đạt của con em thế hệ thứ hai, thứ ba.

Một điều hay nữa không thể bỏ qua là nhờ những buổi họp mặt mà bao nhiêu người ĐÃ TÌM LẠI ĐƯỢC người thân và bạn bè thời trẻ đã mất liên lạc hằng hơn nửa thế kỷ, để có dịp nói ra những điều bấy lâu còn giữ kín trong lòng “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy…” Người nói hả hê vì thấy trái tim mình nhẹ đi một chút, không còn ấm ức nữa. Người bị nghe cũng cảm thấy rất sung sướng hãnh diện vì bao lâu nay vẫn còncó người ngưỡng mộ mình cơ đấy!

Các hội đoàn hầu hết đều có “Trang Nhà” trên mạng để đưa lên tin tức, thông báo, hoạt động văn hóa, văn nghệ, nhờ vậy người Việt khắp nơi trên thế giới và cả ở Việt Nam nữa có dịp thưởng thức bao nhiêu tác phẩm giá trị cả trong và ngoài nước.

Đọc đến đây có vị chắc cũng nóng lòng, “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi…” Trong dịp họp mặt hội cựu học sinh, tôi đã tìm được người bạn XA CÁCH NHAU HƠN NỬA THẾ KỶ. Đây là câu chuyện bạn kể cho tôi nghe, tôi viết ra hầu cống hiến quý vị.

TUY HÒA nơi tôi ở cách nay gần 60 năm, là một thành phố nhỏ hiền hòa nằm sát bờ biển, giống như nàng “Mỹ Nhân Ngư” phơi tấm thân kiều diễm trên bãi cát trắng tinh. Nàng dựa đầu trên núi Chóp Chài, đôi mắt mơ màng nhìn ra biển Đông, nghe gió thổi vi vu qua những bãi thùy dương dày đặc trên bãi biển Đại Lãnh, đầu đội vương miện hình Tháp.

Ai từng đi qua Tuy Hòa, nhìn lên Tháp Nhạn đứng hiên ngang trên đỉnh núi, soi mình bên giòng Đà Giang lững lờ trôi, đều ngậm ngùi cho nền văn minh một thời rất huy hoàng của nước Chiêm Thành. Cả một vương quốc đã mất hẳn dấu tích, chỉ còn lại vài cái tháp đứng trơ gan cùng tuế nguyệt!

Xa kia về phía nam là ngọn Thạch Bi Sơn (Núi Đá Bia) cao ngất quanh năm mây phủ, đánh dấu chiến công hiển hách của vua Lê Thánh Tôn một thời đại phá quân Chiêm Thành. Đó cũng là biên giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành thời Hậu Lê.

Tôi là một trong nhóm người BẮC DI CƯ nhỏ nhoi, được may mắn định cư và lớn lên trên vùng đất tự do ấm cúng Tuy Hòa, nơi mà người dân có tiếng là chất phác, đôn hậu và nhiệt tình.

Thời 54, chính quyền cho cất 1 xóm độ vài chục căn nhà tranh vách đất vâyquanh cái giếng nước trên 1 mảnh đất khá rộng, để đón dân Bắc Kỳ di cư. Tất cả sinh hoạt của trại đều xảy ra ở đó. Từ tắm rửa, giặt quần áo, xách nước về nhà để nấu ăn, chuyện gẫu, trai gái gặp gỡ làm quen. Đó đúng là 1 tụ điểm hội họp, giống như sân đập lúa ở một làng quê, bởi vì chẳng có một thứ giải trí nào khác.

Trại di cư được tổ chức theo kiểu làng xã thời xưa: có một trưởng trại, vài vị trong ban hội đồng, họp nhau thường xuyên để cải thiện đời sống cư dân. Ngoài ra hội đồng trại còn lo việc phân phối thực phẩm và làm cái gạch nối giữa dân di cư và chính quyền thành phố. Hồi xưa chưa có điện thoại, nên tôi được chỉ định làm “thằng mõ” để thông báo tới từng gia đình những tin tức từ ban hội đồng trại đưa ra.

Mỗi nhà đều có “Sổ Gia Đình”. Chính quyền tùy theo nhân khẩu mà cấp phát nhu yếu phẩm như dầu hôi để nấu ăn và thắp đèn, gạo, đường, đồ hộp, sữa bột, bột mì, bột bắp. Sữa thì pha với nước sôi để uống, ai không quen, Tào Tháo đuổi là chuyện thường. Bột mì và bột bắp chẳng biết làm gì, nấu chè mãi ăn cũng ngán bèn nhồi với đường thành hình những con thú như bò, gà, heo, rồi chiên lên ăn, cũng ngon ra phết!

Có cả quần áo nữa, những bộ quần áo rộng thùng thình tuy cũ nhưng còn rất tốt. Bà con tháo ra và sửa lại cho đúng khổ người mình. Sau này còn cấp heo con để nuôi làm giống. Những con heo Mỹ trắng bóc mắt xanh lè trông rất lạ mắt, mau lớn như thổi, to như một con bê, khác hẳn với mấy con heo đen thui, nhỏ xíu của xứ mình.

Hầu như xóm Bắc Kỳ di cư nhà nào cũng nuôi một vài con heo, heo nái cơ. Thỉnh thoảng có anh chàng nhà quê, dắt theo chú heo nọc nhỏ xíu, đi lang thang ngoài đường, tay cầm chiếc roi thật dài, để điều khiển heo như người ta chăn vịt vậy. Khi heo nái bắt đầu kêu la om xòm và phá phách trong chuồng, cứ gọi anh ta vào là vài tháng sau, chủ trại sẽ có một bầy heo con đẹp đẽ. Anh ta chẳng làm gì đâu, con heo của anh làm thôi. Thấy chú heo nọc nhỏ xíu đứng gần nàng heo nái to kềnh mà tội nghiệp. Tôi cũng tò mò đứng xem chú làm gì, mỗi lần như vậy, Nội lại đuổi đi chỗ khác chơi. Khi chàng heo nọc làm xong phận sự, được chủ nhân cho ăn một nồi cám to nấu với đậu xanh bảo là “để lấy lại sức”. À thì ra chú làm việc cũng vất vả lắm đấy.

Vài năm sau, khi những người di cư đã có thể tự lập, chế độ cấp phát thực phẩm cũng chấm dứt theo.

Đời sống trong trại di cư KHÁC THẬT XA với các trại của vùng kinh tế mới sau này. Đó là một đời sống tạm đầy đủ, êm đềm, tự do và tự tin cho tương lai của gia đình và đất nước.

Trẻ con đều được đi học mà không phải trả bất cứ một khoản học phí nào. Tôi có những bạn cùng lớp đạp xe đi học từ những vùng thôn quê xa xôi.

Bệnh viện đều miễn phí, rộng rãi và hợp vệ sinh. Xã hội có tôn ti trật tự và lễ nghĩa: kính trên nhường dưới. Cửa nhà không cần khóa hai ba lớp.Chẳng phải thời Nghiêu Thuấn, nhưng tương đối hạnh phúc yên bình cho tới khi những tai họa từ trên núi đổ xuống: Ám sát, chặn đường, pháo kích, súng nổ khắp nơi.

Ba tôi dạy học mãi ngoài Hội An, nên tôi ở lại Tuy Hòa với Ông Nội và 2 bà cô để tiện bề học hành và hầu hạ Ông. Tôi coi Ông giống như Cha, nhưng đôi khi cũng rất buồn, cô đơn và tủi thân. Bởi vì tuổi Ông già hơn Cha nhiều và khó gần gũi. Những lúc như vậy, hầu như tôi chỉ có bé Uyên là người thân thích nhất.

Uyên là “cô bé lọ lem” nhà hàng xóm, nhỏ hơn tôi 6, 7 tuổi gì đó. Ba Uyên là quân nhân, luôn vắng nhà. Mẹ Uyên thương tôi như con bà vậy. Tôi chỉ biết ai cũng gọi bà là CÔ BA NAM KỲ. Lúc rảnh rỗi tôi hay lại nhà em chơi.

Bé Uyên thường theo tôi đi nhà thờ. Đó là ngôi thánh đường nhỏ xíu, gần một giòng sông, có những hàng cây keo cao ngất mọc bên bờ, đầy gai và hoa trắng nõn, dày cơm, ngọt lịm. Chúng tôi hái hoa keo ăn chán chê, rồi ngồi trên bờ cát nhìn xuống dòng sông nhỏ bé lững lờ trôi, ngắm bầy chim chiền chiện đuổi nhau trên đám cỏ lau kêu ríu rít, quên cả vô nhà thờ cầu nguyện.

2 đứa chúng tôi sống bên nhau như 2 trẻ mồ côi lạc loài. Tất cả tình thương tôi đều dành cho Uyên, chiều chuộng em như chính em ruột của mình. Uyên cũng cảm nhận được điều đó nên luôn mè nheo tôi:

- Anh Hai, mấy con chim đó tên là gì dzậy?

- Người ta gọi là chim chiền chiện.

- Ai đặt tên cho nó dzậy?

- Anh hổng biết.

- Chắc má nó đặt tên cho nó phải hông?

- Chắc Ba nó đặt đó, giống như Ba đặt tên cho em dzậy.

- Ừ há. Bắt nó cho em đi, anh Hai.

- Nó chạy nhanh lắm, làm sao anh bắt được.

- Cẳng anh dài hơn cẳng nó mà.

- Nhưng nó có cánh.

- Thôi em hổng chơi dzới anh nữa đâu, anh lớn như dzầy mà hổng bắt được con chim nhỏ xíu đó.

- Để nó sống với ba má nó, bắt nó làm chi tội nghiệp, lỡ nó nhớ ba, buồn rồi bịnh chết mất sao.

- Anh Hai ơi, em nhớ Ba quá hà, bữa nào Ba dzìa, em nói Ba dẫn anh em mình đi ăn cơm gà xiu xiu nghe.

- Ừ phải đấy.

Tôi thấy mắt em đỏ hoe và quên mất chuyện đòi bắt chim chiền chiện. Tôi ôm em thật chặt, và hôn lên tóc em. Tôi thương em và thương tôi quá đỗi.

- Ngoan đi, anh còn một đồng đây, anh mua bánh rán cho em ăn nghe?

- Hổng chịu đâu.

- Chè đậu dzán dzậy?

- Hổng chịu.

- Kẹo kéo nhá, quay số trúng, chịu hông?

Nghe quay số mắt em sáng lên nhưng phụng phịu:

- Em chỉ muốn ăn kẹo bột thôi.

- Kẹo bột là kẹo gì dzậy trời?

- Kẹo đường đen rắc bột trắng đó.

- Trời đất, kẹo đường cứt trâu đó hả?

Em mở to mắt tròn xoe như hai viên bi thủy tinh và gật đầu lia lịa.

- Mở miệng ra coi, còn mấy cái răng mà đòi ăn kẹo bột. Em có biết là ăn nhiều đường sẽ bị sún răng không? Con gái mà sún răng trông xấu lắm mà còn bị bạn “lêu lêu” nữa đó.

- Thiệt hông? Anh xạo, em mét má cho coi.

- Sao hổng thiệt, em sờ dzô thì biết, coi chừng răng sún cắt đứt tay đó nghen.

Con bé có vẻ sợ thiệt, rơm rớm nước mắt. Tôi phải ôm Uyên dỗ dành. Có lẽ tôi thương em nhất trên đời. Em ở ngay bên tôi, an ủi tôi, cần tôi che chở, dẫn dắt, tất cả mọi thứ khác đều quá xa vời.

- Em thấy anh Hai khóc nè!

- Đâu có, cát bay dzô mắt anh đó.

- Anh Hai xạo quá, rõ ràng em thấy tóc em ướt mà.

- Chắc con chim chiền chiện bay ngang nó tè trên đầu em, vì em đòi bắt nó đó.

Em cười rũ rượi, và đấm trên ngực tôi liên hồi. Chúng tôi quên hết muộn phiền.

Muốn đến nhà thờ phải lội bộ ngang ga xe lửa rồi băng qua nhiều đồi cát, tôi vừa đi vừa kể chuyện cho Uyên nghe, đó là những chuyện tôi đọc được trong các trang báo thiếu nhi, hay những truyện nhi đồng như Bạch Tuyết Và Bẩy Chú Lùn, Cô Bé Lọ Lem, Cô Bé Quàng Khăn Đỏ, Thằng Người Gỗ... Nhiều khi vừa cõng em vừa kể chuyện, tới lúc cô bé đã ngủ gục trên vai tôi lúc nào không biết. Mỗi lần đi ngang ga xe lửa, mùi cơm gà xiu xiu từ gánh hàng rong của chú Ba lại làm bụng 2 đứa tôi cồn cào, nước miếng thi nhau chảy ra như mưa rào. Ôi những miếng thịt gà vàng ngậy, bóng lưỡng nằm trên đĩa cơm nấu bằng nước gà luộc rồi chiên với mỡ gà. Lần nào đi ngang qua hàng cơm gà Uyên cũng dán mắt vào đó, chân bước đi không nổi. Tôi chỉ có mỗi ước mơ nhỏ bé, một ngày nào đó sẽ mua cho Uyên một dĩa cơm gà xiu xiu!

Có lần cô Ba mắc đi sanh em bé, Cô xin phép Nội cho tôi qua ngủ trông nhà và Uyên cho Cô. Cô phải vào nhà hộ sanh sớm kẻo tối có chuyện gì đi không kịp. Tỉnh nhỏ làm gì có phương tiện chuyên chở như bây giờ, đêm hôm chỉ có nước lội bộ thôi.

Tôi dắt Uyên về Nội ăn cơm rồi 2 đứa về nhà em ngủ. Dạo đó, tôi đang học đệ lục (ngang lớp 7 bây giờ), kể cũng đã lớn rồi. Uyên còn nhỏ lắm. Buổi tối em nhất định đòi tôi ngủ chung giường, Uyên nói:

- Em ngủ một mình sợ lắm, em vẫn ngủ chung với Má.

- Nhưng anh là con trai, em là con gái không ngủ chung được.

- Thế Ba với Má vẫn ngủ chung đó sao.

- Ba với Má thì khác, lớn lên em sẽ hiểu.

- Em thấy khác gì đâu, em hổng chịu đâu.

Giọng Nam Kỳ nhõng nhẽo, mếu máo, khiến tôi không thể làm phật ý em được. Đợi khi em ngủ say, tôi gỡ tay ra, trải chiếu, ngủ trên thềm nhà. Buổi sáng khi vừa mở mắt ra, đã thấy em nằm ngủ say sưa bên cạnh. Uyên ngây thơ và vô tư như thiên thần.

Từ ngày có em bé, Uyên không còn được Mẹ chăm sóc như xưa, em quanh quẩn bên tôi nhiều hơn, buổi tối thường ăn cơm chung với tôi và đòi chỉ em làm bài tập.

Cô tôi buôn bán cam. Một bà cô khác ở Saigon, cứ cách một ngày lại gởi hàng ra bằng xe lửa. Tôi chỉ việc ra lãnh mang về, Cô lo phân phối cho bạn hàng ngoài chợ.

Đường xe lửa xuyên Việt chạy ngang thành phố. Mỗi khi về tới, tiếng còi tàu “ò e…, ò e…” đánh thức cả thành phố đang ngái ngủ. Tôi vội mướn xe xích lô chạy ra nhà ga để lãnh nhận những cần xé cam nặng trĩu... Bao giờ tôi cũng giấu một hai trái để cho Uyên, em thích lắm. Đó là thứ quà rất xa xỉ thời đó.

Năm cuối cùng trung học đệ nhất cấp, tôi chuẩn bị đi Saigon học tiếp. Sẵn có tiền Nội cho, tôi dẫn Uyên đi ăn cơm gà xiu xiu, đó là bữa ăn ngon nhất trên đời tôi và em được ăn. Dù sau này đi khắp năm châu bốn bể, tôi cũng không thấy bữa ăn nào ngon như thế.

Lúc tôi lên đại học thì Uyên vừa vào trung học. Mỗi năm cứ vào dịp hè tôi lại đáp xe lửa về Tuy Hòa thăm Nội và Uyên. Tôi hay dẫn em leo núi Nhạn hái trái sim màu tím thẫm ngọt lịm hay trái dú dẻ màu vàng tươi, thơm ngát. Đó là những ngày hè vui nhất trong đời. Uyên càng lớn càng xinh đẹp hơn, không còn là cô bé lọ lem ngày nào. Chúng tôi vẫn leo lên mấy đồi cát đi về phía nhà thờ bên dòng sông thời thơ ấu, nhưng em không còn bắt tôi cõng và cũng không còn đòi ăn kẹo bột nữa.

Đôi khi chúng tôi ra ngồi ngoài bãi biển yên lặng nhìn mông lung về phía chân trời, mắt dõi theo những chiếc thuyền lững lờ trôi về nơi xa xăm. Sự tin yêu và thông cảm đã khiến chúng tôi hiểu lòng nhau mà không cần phải nói thành lời.

Chiến cuộc ngày càng khốc liệt hơn, đời tôi rồi cũng sẽ như những chiếc thuyền vô định trên biển cả mênh mông kia.

Những năm “học đại” thật vất vả, tôi vừa phải lo kiếm sống vừa phải vùi đầu vào đống sách vở cao ngất ngưởng, chẳng nên cơm cháo gì, được vài cái chứng chỉ vớ vẩn, vứt ra đường không ai thèm lượm.

Rồi vụ thảm sát Tết Mậu Thân xảy ra, thời hạn hoãn dịch vì học vấn không còn hiệu lực nữa. Tôi cầm Lệnh Gọi Nhập Ngũ mà lòng bâng khuâng khôn tả. Những ngày tháng mơ mộng của tuổi cắp sách đến trường đã chấm dứt. Cuộc đời tôi đi vào một ngõ rẽ, đầy chông gai, và tương lai thì rất mập mờ.

Tôi đã 23 tuổi và có đúng 1 tháng để gói ghém tuổi học trò cất vào ngăn tủ khóa lại kỹ càng trước khi bước vào quân ngũ.

Tôi trở lại Tuy Hòa thăm Nội và từ giã Uyên. Em vừa xong trung học đệ nhất cấp, chuẩn bị lên đệ tam (lớp 10). Uyên đã biết e lệ khi đi bên tôi, con mắt to đen láy có dáng tôi trong đó. Con đường đi lên đồi cát dẫn đến dòng sông tuổi nhỏ, chúng tôi đã đi qua biết bao nhiêu lần, nhưng lần này thật mới, xa lạ, ngập ngừng, e thẹn. Nắng sớm mai trải dài trên những đồi cát, chỗ sáng chỗ mờ, tạo thành những đợt sóng cát vô tận như những đợt sóng ngầm trong lòng 2 đứa.

Chúng tôi ngồi bên nhau bên bờ sông dưới hàng keo rậm rạp, nhìn cặp kỳ nhông đầy màu sắc rượt đuổi nhau trên bãi cát.

- Anh Hai kỳ ghê hà, sao nhìn em hoài dzậy?

- Anh muốn mang bé đi mãi mãi trong tim anh, dù có phiêu bạt tận chân trời góc biển nào đi nữa.

- Thôi hổng chịu đâu, anh Hai ở lại đây dzới em.

- Hổng được đâu, người ta nhốt anh trong tù thì sao?

- Em sẽ biến thành con muỗi, chui vô thăm anh mỗi ngày, chịu hông?

- Hổng chịu, muỗi chích đau lắm.

- Em thương anh hổng chích anh đâu mờ.

- Ý trời! Mấy con muỗi cái chích đau dữ lắm đó.

- Thôi làm con kiến dzậy, hổng được, con bươm bướm chịu hông?

- Chịu, người ta đưa anh lên rừng thì sao bướm bay cho nổi?

- Em sẽ hóa thành con chim bay theo anh.

- Người ta thảy anh xuống biển thì sao?

- Em sẽ hóa thành con cá lội theo anh. Thôi em hổng chơi dzới anh nữa đâu, tối ngày đòi đi này nọ, hổng chịu ở đây dzới em.

Em thật ngây thơ, chuyện đời đâu phải cứ muốn là được. Tôi cũng như chiếc lá lênh đênh trên dòng sông dưới kia, trôi hoài trôi mãi, cố vẫy vùng cũng không thoát khỏi số phận, cho đến ngày chịu nằm yên ngoài biển khơi.

Rồi cũng đến lúc tôi phải ra đi. Bước lên con tàu, nhìn Uyên ở lại sân ga, trong bộ quần jean áo trắng tôi mới mua cho em, hai vạt áo chemise cột chéo vào nhau, trẻ trung nhí nhảnh hết sức, đang sụt sùi lau mắt. Tiếng còi tàu thét lên, tim tôi như vỡ ra từng mảnh, con tàu từ từ lăn bánh.

Em ở lại ôm ấp mối tình ngây thơ, còn tôi ra đi mang theo hình bóng em trên con đường vô định.

Những năm tháng miệt mài với chiến trận, tôi theo đoàn quân mũ nâu, lội khắp các tỉnh miền Trung rồi lên cao nguyên Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột, Phú Bổn, Phú Túc, Đức lập, Dakto, Ben Het, Quốc lộ 14, nhiều lắm kể sao cho hết. Tôi đi đến đâu cũng mang theo bé Uyên trong tim. Em như thiên thần hộ mệnh, giúp tôi vượt qua bao gian nan, nguy hiểm, cho đến ngày Ban Mê Thuột thất thủ, tôi trở thành tù binh.

Những năm tháng tù đày hình ảnh em luôn ở bên cạnh tôi, có lúc là con muỗi, đậu ngoan ngoãn trên cánh tay tôi, có lúc là con chim hót líu lo trên cành cây giúp tôi quên đi những bó cây rừng nặng nề trên vai. Có lúc tôi thẫn thờ thấy em là con bướm đang chập chờn trước mặt, cười cợt, khiến lòng tôi quên đi bao nhiêu phiền não. Vâng, em đã giữ đúng lời hứa theo tôi từng bước chân lưu lạc tù đày. Tôi gọi tên em khe khẽ trong cơn sốt rét rừng lạnh run người, rồi nóng bỏng. Tôi thấy em mặc áo trắng toát, đuôi áo xòe ra tận chân trời. Tôi cầm tay em đi bên dòng sông tuổi nhỏ, những con kỳ nhông sặc sỡ bu đến bên em, rồi tất cả bay lên khỏi từng mây trong bầu trời nắng chan hòa, có những đàn chim chiền chiện nâng áo em như thể đang trong ngày cưới, ở một vùng trời thênh thang, xa hẳn cõi trần thế khổ đau.

Rồi tôi cũng được thả ra khỏi trại tập trung cải tạo của cộng sản. Nhưng khi trở lại Tuy Hòa, thành phố đã xa lạ, tan tác.

Chú Ba với gánh cơm gà xiu xiu đã phiêu bạt nơi nào. Nội tôi đã qua đời, cô tôi đã có chồng vẫn còn trong trại tù nào đó tận đâu ngoài Bắc. Căn nhà Uyên ở nay đã thuộc về người khác, có lẽ là cán bộ từ miền Bắc vào. Em ở đâu, gia đình tôi lưu lạc phương nào tôi chẳng biết. Đúng là cảnh nước mất nhà tan. Thành phố nay đã thay đổi, chẳng nhìn thấy một nụ cười, phố xá xơ xác điêu tàn.

Tôi tìm về dòng sông tuổi nhỏ, nơi tôi và em đã từng đến để sưởi ấm tâm hồn. Những con chim chiền chiện vẫn còn đó, những hàng cây keo cao ngất vẫn còn đây, những con kỳ nhông vẫn vô tư đuổi nhau trên bãi cát. Tôi tự hỏi đã có bao nhiêu thế hệ chiền chiện bay ở đây? Bao nhiêu lần lá keo thay đổi, nhưng dòng sông thời thơ ấu vẫn còn y nguyên, như tấm lòng của tôi đối với Uyên. Nước vẫn lững lờ trôi êm đềm, mang theo cả tuổi thơ của hai đứa tôi đi mất. Tôi muốn khóc, cho em, cho tôi, cho tất cả những người Việt Nam điêu linh, khốn khổ vì chiến tranh, vì hận thù. Nước mắt tôi đã cạn khô từ những ngày trong lao tù tủi nhục. Linh hồn tôi đã bay khỏi địa ngục trần gian, để lại một thân xác bơ vơ, rã rời.

Tôi thấy mình cô đơn hơn bao giờ hết, hơn cả những ngày còn rất bé bỏng, trong một làng quê hẻo lánh bên bờ sông quê nội thuộc “vùng Tề.”

Thời chiến tranh Việt - Pháp trước 1954, “vùng Tề” là cách gọi vùng đất bị người Pháp kiểm soát để phân biệt với “Vùng Tự Do” mà Việt Minh đã đặt được cơ sở. Thật ra đây là những vùng “xôi đậu” giống như ở một số nơi mất an ninh tại Miền Nam sau này. Ban đêm lính trong đồn có thể pháo bừa vào đó, ban ngày Việt Minh cũng làm như thế. Ngoài Bắc có câu “Ấm ớ hội tề”, chỉ mấy ông hội đồng làng tề ba hồi ngả bên này ba hồi ngả bên kia, tùy theo hoàn cảnh.

Tôi đã chứng kiến những ngày điêu linh tan tác ở đó.

Đó là một làng nhỏ, thuộc tỉnh Thái Bình, chỉ cần đi bộ vài cây số đến bến đò Tân Đệ, theo chuyến đò ngang, bên kia sông đã là thành phố Nam Định. Có lần tôi theo Nội qua Nam Định thăm người bà con, cả thành phố đóng cửa kín mít, vì đám Tây Lê Dương vừa đi hành quân về, nhiều đứa say rượu đập phá ngoài đường.

Nội có 5 người con, 3 trai 2 gái. Bác Cả hoạt động cho Quốc Dân Đảng tận ngoài miền Trung đã đổi tên đổi họ biệt tích giang hồ. Chú tôi theo Việt Minh, thỉnh thoảng về thăm nhà ban đêm, chốc lát rồi đi. Có lần Chú về và xin với Mẹ cho tôi theo Chú qua bên “Vùng Tự Do”.

Chú cõng tôi trên lưng, đi hằng chục cây số trong đêm tối, giữa những bờ ruộng, tiếng ễnh ương kêu vang bên tai. Tôi ngủ trên lưng Chú lúc nào không biết.

Sáng thức dậy, thấy mình nằm trên chiếc chõng tre trong căn nhà lá xa lạ. Tôi học những lớp vỡ lòng ở đó, trong 1 đình làng, trẻ con chơi nhiều học ít. Học nửa buổi, còn nửa buổi ra cánh đồng bắt sâu trên những ruộng lúa mới trổ bông hay hái rau muống mang ra chợ bán gây quỹ cho đội (thiếu nhi). Đêm đêm, xách “đèn chai” đi họp đội hay tập nhảy “son đố mì”.

Tôi còn nhớ được vài bài hát đại khái như “Bác Hồ Chí Minh là mặt trời” hoặc “Đảng lao động Việt Nam, đảng của chúng ta, vì cơm áo tự do, ăn no nằm chết giữa đường...” Có cả những bài ca tụng LiênSô như “Dân Liên Sô, vui hát trên đồng xanh,đây bao la ánh nắng xuân chan hòa...”, bây giờ nhớ lại thấy vô duyên và kỳ cục.

Tôi ở với Chú được một thời gian, một hôm Mẹ sang đón tôi về. Chỉ vài ngày sau, Pháp đi càn (hành quân) qua bên đó, Chú bị chết ngạt dưới hầm bí mật. Nếu Mẹ qua trễ chắc tôi đã đi theo chú mất rồi.

Ba tôi ở Hà Nội nhưng hay về thăm Nội, đôi khi đi thăm Chú hoặc lang thang qua những làng lân cận thăm bạn bè. Một hôm, tay đồn trưởng đám dân quân tự vệ sai lính bắt Ba đánh cho một trận rất nặng, lớn lên tôi vẫn còn thấy những vết sẹo trên người ông, lúc thả ra ông về ở hẳn Hà Nội, không dám bén mảng về quê nữa, vì cả 2 bên đều nghi ngờ. Một thời gian sau, Việt Minh phục kích giết chết tay đồn trưởng trên đường ra bến đò Tân Đệ.

Trước hiệp định đình chiến năm 54, gia đình Nội lần lượt từng người bỏ trốn qua Nam Định. Tờ mờ sáng, Mẹ đội thúng như mang rau ra chợ bán, dắt tay tôi đi nhanh trên con đường làng dẫn ra bến đò. Có vài người chào hỏi nhưng Mẹ chỉ ậm ừ vài câu và vẫn rảo bước không ngừng.

Khoảng gần trưa, chúng tôi đến Nam Định, chiều hôm ấy, tất cả gia đình gặp nhau đầy đủ ở nhà một người bà con. Ban đêm, cả thành phố hoạt động rầm rộ trong bóng tối để chuẩn bị ra đi. Vài ngày sau chúng tôi theo họ lên mấy chiếc xe vận tải chờ sẵn trên con đường phía Bắc hướng đi Hà Nội.

Hà Nội những ngày chuẩn bị di cư, thật nhộn nhịp hối hả nhưng vẫn không mất đi vẻ đẹp đài các quyến rũ. Đồ đạc, bàn ghế, quần áo cũ bày bán đầy đường. Ban đêm trai gái Hà Thành thanh lịch vẫn dẫn nhau đi dạo bờ hồ, ăn kem, tình tứ trò chuyện, có lẽ như những tử tù cố gắng thưởng thức bữa ăn sang trọng cuối cùng.

Hà Nội trong mắt chú bé nhà quê, thật là đẹp, không thể tưởng tượng nổi, cái gì cũng mới lạ hơn hẳn Nam Định như chú từng thấy. Tôi còn nhớ lần đầu tiên Ba mua cho cây kem, tôi vừa cắn một miếng đã phun ra và quăng ngay xuống đất. Chú bé nhà quê, chưa từng được ăn cái gì lạnh như thế, giống như có con dao nhỏ giấu trong cây kem vừa đâm vào miệng, cũng có thể vì mấy cái răng sún nó nhát chú.

Tôi vẫn thích nhìn về phía bên kia bờ hồ, có những đèn xe ô tô ẩn hiện trong các lùm cây. Một món quà Ba cho tôi, quý lắm, tôi còn giữ rất lâu khi đã vào miền Nam, đó là cây viết cán bằng nhựa, trên cán có chỗ nhô hẳn ra, lộng vào đó là hình chiếc cầu rất nổi tiếng, cầu Long Biên. Nếu để đúng tầm nhìn, cây cầu sẽ hiện ra rõ ràng, như thật.

Ở Hà nội một thời gian ngắn, Ba tôi đưa cả đại gia đình đi Hải Phòng rồi lên “tàu há mồm” cập bến Nha Trang. Ba mẹ tôi đi Hội An còn tôi theo Nội và Bà Cô vào định cư ở Tuy Hòa từ đấy.

Tôi còn quá nhỏ để hiểu được những mất mát khi phải bỏ quê hương ra đi, hay những sợ hãi trốn tránh cả 2 bên Việt Minh và Tây, nhưng quá quen thuộc với những chuyến đi bất chợt, vội vã trong đêm tối. Tôi đã có thể đi một mình trong đêm hằng vài cây số trên những con đường quê hẻo lánh một mình không hề sợ hãi.

Trong biến cố di tản miền Trung thời 75, Ba Mẹ tôi may mắn thoát được về Saigon yên ổn, ở chung nhà Bà Cô. Tôi đoàn tụ với gia đình sau khi ra tù.

Từng bước chân, từng cánh tay cử động cũng có những con mắt theo dõi. Trong nhà phải nói chuyện thì thầm với nhau tưởng như trong vách kia có cả trăm lỗ tai đang nghe ngóng. Những bữa ăn vội vã, một mắt nhìn vào bàn ăn còn mắt kia phải canh chừng ngoài cửa, công an khu vực có thể vào nhà bất cứ lúc nào, đi từ trước ra sau không cần hỏi han một tiếng. Tôi chưa từng tưởng tượng ra được có một ngày mình phải ở trong một hoàn cảnh như thế và cũng chưa từng đọc được trong sách vở có một thiên đường hạnh phúc như thế trên thế gian này.

Tôi không thể sống trên quê hương giữa những người CÙNG MÁU MỦ ĐỒNG BÀO mà lòng đầy hận thù chia rẽ. Cuộc sống thật sự không có ngày mai cho những người bị gọi là NGỤY.

Sau 2 lần vượt biên thất bại,cuối cùng tôi cũng đến được Pulau Bidong Mã Lai trên con tàu bé tí teo, cùng với mấy chục con ma đói rách rưới, hôi hám, bẩn thỉu, không còn đủ sức lết ra khỏi thuyền.

Có những đêm cả trại chạy ồ ra cầu Jetty đón nhận thuyền nhân mới đến, xem có thân nhân bạn bè của mình không. Chẳng ai muốn hỏi hành trình của họ ra sao, có bị cướp biển hay không, dù có khốn khổ, nguy hiểm, tủi nhục ra sao thì đó cũng chỉ là sự lập lại của chính mình. Hàng ngàn con mắt nhìn đám tân thuyền nhân như nhìn chính mình cách đây chẳng bao lâu, đẫm lệ, thầm thì an ủi “Cám ơn Trời Phật,tất cả những khổ đau chẳng là chi nữa, HÃY LÀM LẠI TỪ ĐẦU, miễn sống sót và xa chốn địa ngục trần gian là tốt rồi!”

Có những đêm không ngủ được, nhớ Uyên, nhớ Nội, nhớ gia đình Ba Mẹ, bạn bè, chiến hữu đã từng cùng tôi vào sanh ra tử, tôi lần lên đồi tôn giáo, cầu nguyện. Nhìn xuống đám nhà thuyền nhân dưới kia, những cái được gọi là nhà đó chỉ là mấy nhánh cây rừng làm cột, lợp tôn mỏng, thùng giấy hoặc lá dừa. Hàng chục ngàn con tim đang thổn thức trong đó, có những người cố dỗ giấc ngủ như tôi, có những người đang khóc thầm vì mất vợ, mất chồng, mất con, mất cha mẹ, anh em. Có những người đang tự trách mình vì đã bỏ rơi bạn bè, chiến hữu trong lúc thập tử nhất sinh. Họ đang cố gắng quên đi những tủi nhục một đời, tù đày, ức hiếp, hăm dọa, đánh đập, chiếm đoạt tài sản, rồi bị săn đuổi như một loài thú hoang, còn chịu nạn hải tặc, cưỡng hiếp... Ngoài biển mênh mông kia, biết bao nhiêu oan hồn còn vất vưởng vì nỗi oan khiên chưa được giải, chưa biết tỏ cùng ai, không nỡ mang xuống tuyền đài. Biết đâu có Uyên trong đó.

Tim tôi quặn đau, nghẹt thở. Tôi cầu xin Trời Phật dù thế nào cũng dẫn em qua cầu khổ đau, tôi khấn nguyện ơn trên hãy mở tay cứu giúp các linh hồn còn vất vưởng ngoài biển khơi được về cõi vĩnh hằng. Tôi miên man nghĩ từng giả thiết về em, đã chết trên đường vượt biên ư? Không, không thể được, em là thiên thần có Chư Thiên phò hộ, không thể chết được. Cũng có thể em còn ở Việt Nam hay đã đến một trong những trại tỵ nạn nào đó, hoặc biết đâu, đã đến được bến bờ tự do. Tôi an ủi mình, có thể lắm chứ, em là Thiên Thần mà! Tôi điên rồi!

Cơn điên cứ miên man như thế trong nhiều giấc mơ, theo tôi vượt qua biển Đông, về tận Tuy Hòa, leo qua những đồi cát bên dòng sông tuổi nhỏ. Tôi thấy Uyên và tôi đang đùa giỡn bên nhau, rượt đuổi mấy con kỳ nhông, hay công kênh em trên vai để hái hoa keo hoặc vờ làm bẫy để bắt mấy con chim chiền chiện cho em. Tôi nghe tiếng em cười, tiếng em nhõng nhẽo đòi ăn kẹo bột. Tôi còn nước mắt để khóc không? Nhưng nghe nghèn nghẹn trong tim rồi rơi vào giấc ngủ mê. Tôi thấy em đang chơi vơi giữa đại dương, hai tay giơ lên giữa những cơn sóng phủ đầu. Tiếng kêu cứu của em bị át bởi tiếng gầm gừ của đại dương: “Anh Hai, cứu em, cứu em, cứu em…”

Tôi giật mình tỉnh dậy, mồ hôi vã ra như tắm, đầu hâm hấp nóng. Trời đã khuya, tôi đọc kinh và thầm cầu nguyện cho em. Bầu trời trong vắt đầy sao, có lẽ em đã là một vì sao lấp lánh trên kia. Tôi lặng lẽ trở về căn chòi lá mà lòng đầy nghi hoặc. Em đang ở đâu?

“Pulau Bidong có list thì dông” Tôi học được trên đảo như vậy và dông lẹ, bỏ lại bao nhiêu hệ lụy buồn vui, khắc khoải đời thuyền nhân. Từ giã những cặp tình nhân bất đắc dĩ với những mối tình vá víu tạm bợ.

Đầu thập niên 80, tôi đặt chân lên đất Mỹ, làm lại cuộc đời từ con số không. Kể như vẫn còn may mắn. Đời tôi luôn luôn gặp may mắn, tôi tin như vậy, cho nên tôi vẫn để ý tìm Uyên khắp nơi. Đi dự họp mặt của các hội đoàn đồng hương, cựu quân nhân, các hội cựu học sinh, sinh viên...

Tôi định cư tại thành phố Austin, thủ phủ của Texas. Ban đầu được một nhà thờ Công Giáo đỡ đầu do hội thiện nguyện USCC giới thiệu. Một người trong nhà thờ giúp tôi kiếm được việc làm trong kho hàng của siêu thị, việc làm bán thời gian ban đêm. Công việc tuy cực nhọc nhưng cũng chẳng thấm thía gì so với những tháng ngày còn lêu bêu bên ViệtNam. Austin có một trường đại học rất nổi tiếng, đó là trường UT to lớn vĩ đại.

Sau khi thi lấy bằng tương đương trung học, mấy người nhà thờ giúp tôi điền đơn xin học bổng và ghi danh học ở đó, có cả một ông counselor của trường cũng trong hội nhà thờ giúp tôi từng bước. Thật là mủi lòng, những người không cùng máu mủ với mình thì hết lòng giúp đỡ, còn đồng bào ruột thịt của mình thì xua đuổi mình như con chó dại. Vui mừng hết sức, thế là bao nhiêu năm bỏ quên sách vở lại được sờ mó, ôm ấp, hít thở mùi giấy mực. Thong dong một mình, không còn lo chiến tranh, trốn tránh, bắt bớ, tù đày nữa. Tôi lại sách đèn như xưa, lòng đầy hân hoan của một cậu bé mới lớn.

Nhiều năm qua đi. Ra trường rồi đi làm. Một hôm, theo người bạn cùng sở bay về Cali tham dự buổi họp mặt của một Hội Đồng Hương.

Tôi đã gặp lại Uyên!

Chúng tôi ôm nhau giữa đám đông khóc mùi mẫn, khóc thoải mái, khóc tự nhiên, khóc thật to cho mọi người cùng khóc. Trong đám đông đồng hương này có biết bao nhiêu người cũng đã từng khóc như chúng tôi. Khóc để trôi đi bao điều còn giữ kỹ trong lòng, không nói ra được. Khóc để nói với mọi người rằng chúng tôi đã tìm thấy báu vật đánh mất bao nhiêu năm trời.

Khóc đã đời, chúng tôi buông nhau ra. Nhìn mặt Uyên son phấn tèm lem như thời bé bỏng nghịch đất cát, tôi bật cười. Em hỏi sao tôi cười. Tôi nói tôi đã tìm lại được tuổi thơ của chúng ta, tôi vui lắm. Em muốn kể cho tôi nghe những gian truân, gia đình tan nát, đổ vỡ, chết chóc, nhưng tôi không muốn nghe.

Tôi tìm thấy em là đủ rồi, những cái khác hãy quên đi, quên đi, quên đi…

Mến tặng MC và các bạn cựu học sinh Nguyễn Huệ Tuy Hòa, gia đình chiến sĩ Mũ Nâu.

Cám ơn các hội đoàn người Việt tại Hoa Kỳ bao năm qua vẫn không ngừng sinh hoạt, tạo ra biết bao họp mặt đầy ý nghĩa, cho những đồng hương lưu lạc có cơ hội gặp gỡ tìm lại được nhau.

Lê Nguyên Hằng & Nguyễn Thạch Hãn
https://vvnm.vietbao.com/a207804/dong-song-em-dem

Friday, February 3, 2023

Người Hàng Xóm

Lê Nguyên Hằng & Nguyễn Thạch-Hãn

Minh họa Đinh Trường Chinh

Chồng tôi bị bạo bệnh qua đời được vài năm thì tôi quyết định bán căn nhà cũ và văn phòng địa ốc của anh ấy để dời đi nơi khác, cố quên đi môt dĩ vãng đau thương. Tôi đã quá mệt mỏi với công việc làm ăn mà xưa kia anh ấy luôn gánh vác những phần nặng nhọc nhất. Chồng tôi là một người hiền hòa, hoạt bát rất lo cho vợ con, cho nên sự ra đi của anh ấy đã mang theo không những một chỗ dựa vững chắc cho mẹ con tôi mà cả linh hồn và thể xác của tôi.

Tôi đã sống những ngày tháng vất vưởng cô quạnh. Hằng đêm, tôi vẫn ngủ trên chiếc giường mà đã bao lần hạnh phúc ngất ngây với anh ấy. Đôi khi thức giấc nửa đêm, trong những cơn mưa tí tách trên mái nhà, tôi cứ tưởng hơi ấm của anh ấy như còn đâu đây, tôi chợt òa lên khóc và nhớ anh ấy vô ngần. Tôi vẫn sống trong căn nhà đó từ ngày mới lấy nhau, hình ảnh của chồng tôi hiện về khắp mọi nơi, mọi chỗ. Chúng tôi đã từng bên nhau trong phòng family ấm áp, cùng coi những phim hay và buồn mà hai đứa đều quay mặt đi âm thầm lau nước mắt. Anh ấy đã đứng trong nhà bếp để nếm món ăn tôi nấu, bao giờ cũng khen ngon, nhưng lại rủ đi ăn nhà hàng để chúng tôi có những giờ phút lãng mạn bên nhau! Tôi bắt đầu nghi ngờ tài nấu ăn của mình sau vài lần “lãng mạn” như thế. Chúng tôi từng ngồi bên nhau ngoài hàng hiên nhìn những nụ hoa nở rực rỡ vào đầu mùa xuân lúc trời còn se lạnh, thế mà lòng thật ấm áp. Bây giờ chỉ còn là kỷ niệm!

Anh ấy để lại cho ba mẹ con tôi vài căn nhà cho thuê, lợi tức đủ chi tiêu hàng tháng nên chúng tôi không phải lo lắng về tài chánh.

Tôi chưa đến tuổi lãnh tiền hưu, dù là hưu non, nên còn tiếp tục làm nghề địa ốc bán thời gian, chỉ đi show nhà cho khách quen thôi hay khi mọi người trong văn phòng đều đang bận rộn.

Rồi cũng đến lúc tôi phải rời xa nơi tràn đầy kỷ niệm. Tôi dọn đến khu mới này đã được hơn 5 năm, tương đối lịch sự và yên tĩnh. Đó là một khu gia cư lý tưởng, đất đai rộng rãi, nhà nào cũng có garage chứa được 3 xe, riêng biệt, với đường “Drive Way” rất dài. Ít khi thấy xe đậu ngoài đường làm cản trở lưu thông. Home Owner Association kiểm soát rất khắt khe nên nhà nào cũng giữ vườn tược ngăn nắp, sạch sẽ.

Tôi có hai người hàng xóm rất tử tế. Bên phải là một người đàn ông đứng tuổi, tóc hoa râm, tôi đoán xấp xỉ khoảng 50, tên Tim, dáng người cao thon gọn. Tôi thường thấy ông ấy mặc đồ vest, chắc làm cho một ngân hàng nào đó gần đây. Thời bây giờ ít ai mặc vest đi làm, trừ mấy ông làm nghề chào hàng hay nghề nhà băng. Ông Tim sống lủi thủi một mình, chẳng bao giờ thấy có bóng dáng một người nào khác trong nhà. Bên phải là một ông cựu quân nhân tên là Bob, đã về hưu có vợ là người Đại Hàn. Ông đi chiếc Honda cũ, còn để chiếc Cadillac mới toanh dành cho vợ. Ông có một đứa con gái, chẳng bao giờ thấy ló mặt ra ngoài. Ông thường than phiền với tôi: “Con gái đã gần 30 tuổi rồi mà chẳng chịu lấy chồng và cũng không đi làm gì cả”. Tôi chẳng biết an ủi ông ra sao. Tôi cũng it khi thấy bà ấy, còn ông chồng tối ngày cắt cỏ và chăm sóc vườn tược hoặc loay hoay với cái hồ tắm, mặc dù ít khi nghe tiếng ồn ào sau vườn bên hồ tắm. Ông Bob thường cắt cỏ nhà ông xong rồi cắt cỏ cho nhà tôi nữa, mặc dù sân cỏ nhà tôi bao giờ cũng gọn ghẽ vì tôi có mướn một ông Mễ săn sóc hàng tuần. Có lần tôi thấy bà vợ vừa lái xe đi, ông liền mang máy cắt cỏ ra cắt bên sân trước nhà tôi. Tôi ra gặp ông và nói ông không cần phải cắt cỏ cho tôi vì tôi có thuê người cắt rồi, nhưng ông nói chúng nó cắt xấu lắm làm mất vẻ thẩm mỹ. Thỉnh thoảng tôi làm chả giò, nhờ đứa con gái lớn mang biếu cho hai ông hàng xóm, cho nên họ quý mến gia đình tôi lắm. Ngày đám hỏi con gái tôi, bữa tiệc đãi khách cũng có hai ông sang dự. Cả xóm ra xem một đoàn trai gái mặc áo dài khăn đóng đội mâm hoa quả, quà cưới rất ngộ nghĩnh.

Đối diện nhà tôi là một gia đình chắc là đông người vì thấy có tới 4 chiếc xe đậu trên drive way. Đôi khi đậu cả ra ngoài đường nữa. Thỉnh thoảng gặp ông chủ nhà đang sửa xe tôi có chào ông ta “Hello” nhưng chẳng nghe ông trả lời. Riết rồi tôi cũng tảng lờ mỗi khi tình cờ gặp nhau. Mấy đứa con tôi gọi ông ta là “Redneck”. Chắc bạn cũng hiểu Redneck là mấy anh chàng nhà quê da trắng hay kỳ thị chủng tộc. Buổi sáng tôi thường ra trước nhà tưới cây và làm cỏ dại trong mấy luống hoa, như một thú tiêu khiển của người nhàn rỗi. Mỗi lần ông Tim lái xe đi làm gặp tôi, thường xuống xe hỏi thăm vài câu xã giao, tôi cũng chỉ mỉm cười và trả lời bâng quơ cho qua chuyện. Một buổi sáng còn đang tưới cây trước cửa nhà, tôi nghe tiếng kêu cứu ”Help! Help! Help!” từ bên nhà đối diện. Tôi vội vàng chạy qua, thấy ông “Redneck” đang bị chiếc xe truck của ông tuột dốc sắp đè qua người. Tôi vội vàng chạy về nhặt một cục đá, loại đá sắp dọc theo mấy luống bông trước nhà cho đẹp ấy mà, mang qua chặn sau bánh xe truck. Tôi chạy vội qua nhà ông Bob đập cửa kêu cứu, cả một con đường, ai còn ở nhà cũng chạy ra, kể cả con gái ông Bob nữa. Thế là nguyên một đám hàng xóm tiếp tay nhau đẩy chiếc xe truck cho ông “Redneck” chui ra. Đa số là đàn bà con gái, vì giờ đó đàn ông chẳng còn ai ở nhà cả, trừ ông Bob già. Từ đó ông Redneck rất thân thiện với tôi, có lần còn mang cả thịt BBQ cho tôi với lời cám ơn rất chân tình.

Thằng con tôi vừa xong đại học, xin làm cho một cơ quan của chính phủ Liên Bang, họ đòi hỏi phải có hai người giới thiệu. Tôi dẫn thằng bé qua nhờ hai ông hàng xóm, cả hai đều vui vẻ viết thư giới thiệu cho cháu. Từ đó thằng con tôi trở thành thân quen với hai ông hàng xóm. Họ luôn hỏi chuyện về mẹ nó, thằng con ngờ nghệch của tôi ruột để ngoài da, nên hai ông ấy biết tôi như hai ông bố ruột vậy.

Ngày nọ, Tim qua xin phép tôi cho sửa hàng rào chung giữa nhà tôi và nhà ông ấy. Tôi tình nguyện trả nửa tiền nhưng ông ấy nhất định từ chối. Ông nói, ông cũng không lấy tiền nhà hàng xóm bên kia vì ông ấy muốn sửa hàng rào cho đẹp chứ chưa hư hỏng. Ông Bob cũng đòi sửa hàng rào. Tôi ngỏ lời góp một nửa chi phí phần hàng rào chung, nhưng ông nói, ông sẽ mua gỗ vì ông được bớt 25% nhờ thẻ cựu quân nhân, tôi chỉ cần trả $300 tiền công cho ông thợ thôi. Tôi thật cám ơn hai người láng giềng tốt bụng. Ông Trời đã quá ưu đãi tôi!

Lễ Thanksgiving ai cũng có gia đình đoàn tụ, chỉ riêng ông Tim vẫn lui cui một mình. Tôi mời ông ấy qua chung vui với chúng tôi. Ông ấy mừng lắm, thế là từ đấy chúng tôi làm giao kèo miệng: Chiều đi làm về ông ấy qua nhà tôi ăn cơm, có gì ăn nấy, cuối tuần ông sẽ mời chúng tôi đi ăn tiệm. Tội nghiệp ông Tim, đôi khi theo lời yêu cầu của thằng con, tôi làm mấy món ăn Việt Nam khoái khẩu của nó, nhưng người hàng xóm của tôi cố gắng nuốt vài miếng, rồi nói chữa là hôm nay ăn trong sở lửng bụng rồi, nên không ăn được nhiều. Tôi cũng hiểu, nên làm sẵn mấy cái chả giò cho ông ấy mang về nhà.

Loay hoay chẳng mấy chốc mùa Christmas lại đến, ông Tim mời hai mẹ con tôi ăn ở một nhà hàng sang trọng bên hồ Woodlands. Thằng con tôi bận đi chơi với mấy người bạn trong sở, nên tôi đi một mình với ông Tim. Buổi chiều ăn xong, chúng tôi đi dạo bên bờ hồ dọc theo River Walk. Trời đổ lạnh bất thường với những cơn gió từ miền bắc thổi xuống từng đợt. Ông Tim cởi áo khoác và choàng lên vai tôi. Tôi chợt rùng mình, vì chồng tôi cũng hay làm như vậy những lần cùng đi bách bộ. Đi ngang công viên, chúng tôi ngồi nghỉ chân bên nhau, ngắm nhìn dòng nước lững lờ trôi, yên lặng. Được một lúc, ông Tim rụt rè nắm tay tôi và nói ông ấy muốn xin cưới tôi làm vợ. Sự bất ngờ làm đầu óc tôi quay cuồng, choáng váng, cố suy nghĩ làm sao để nói cho ông ấy hiểu hoàn cảnh của tôi mà không làm tổn thương trái tim đang tràn đầy hy vọng của ông ấy. Tôi bảo chúng ta chưa hiểu về nhau nhiều lắm, tôi có thể làm bạn với ông ấy nhưng chung sống vói nhau như vợ chồng tôi thật sự chưa sẵn sàng. Trong thâm tâm, tôi không muốn cảnh cha ghẻ, con ghẻ cãi nhau, thù ghét nhau, tôi làm mẹ làm vợ phải giải quyết sao đây. Tim ôm lấy vai tôi với cặp mắt van xin, khiến tôi không thể từ chối được nụ hôn đầu tiên. Tôi nhẹ nhàng đẩy Tim ra một cách yếu ớt. Tiếng thì thầm bên tai trong hơi thở dồn dập “Anh yêu em!”. Chúng tôi, như những thửa ruộng khô hạn đã lâu, chỉ chờ một cơn mưa để những hạt mầm tình yêu đâm chồi nẩy lộc. Từ nay tôi đã có thể gọi “Anh Ấy”, tiếng “Anh Ấy” êm ái, ngọt ngào mà tôi thường dùng để kể về chồng tôi với bạn bè thân quen. 

Anh ấy tâm sự với tôi, hồi còn đi học ở với cha mẹ ở Chicago. Ra trường và bắt đầu sự nghiệp ở đó, vài năm sau cưới vợ và có một đứa con. Những năm đầu đi làm vất vả, lại phải đi công tác thường xuyên cho nên vợ chồng có những xích mích không thể hàn gắn được. Hai người chia tay và bà vợ mang đứa con nhỏ, theo người tình mới. Anh ấy vẫn nghi ngờ đứa con ấy không phải là con của mình, vì bà vợ nói trước khi chia tay: “Đứa con này không phải của anh, nên đừng ra tòa tranh tụng”. Từ ngày hai người xa nhau, chẳng còn liên lạc gì nữa. Chán cảnh đời đen bạc nên vẫn cu ki một mình. Tôi nghe cũng thấy chua xót.

Chúng tôi vẫn thường xuyên đến với nhau, tình cảm ngày càng thắm thiết. Đôi khi đi cruises đến những vùng xa xôi bên Âu Châu hay Nam Mỹ. Đó là những ngày hạnh phúc tuyệt vời. Chúng tôi sống vội vã và yêu thương nồng cháy như đôi trẻ mới lớn, bởi vì cả hai đều hiểu thời gian không còn nhiều. Đôi khi vì một lý do nào đó phải xa nhau vài ngày đã thấy nhớ nhung vô hạn. Thỉnh thoảng anh ấy vẫn nhắc đến việc chung sống với nhau nhưng tôi thoái thác:”Chưa đến lúc”. Anh ấy hứa sẽ chờ đợi tôi mãi mãi và tặng cho tôi một chiếc nhẫn cưới rất đẹp như một lời thề. Tôi muốn chờ đến khi thằng con tôi lập gia đình và ra ở riêng một thời gian cho tôi yên lòng. Đó là cách trả ơn cho chồng tôi, đã cho tôi hai đứa con ngoan ngoãn, hiếu thảo và biết vâng lời.

Tôi và anh ấy sống với nhau kiểu “Già nhân ngãi, non vợ chồng” như các cụ nhà mình thường nói. Tôi luôn bắt chước Ý lan ca bài “Hãy Cứ Là Tình Nhân” và rất thích thú thấy mình đã đi đúng con đường phải đi. “Để được chiều chuộng, để ngày nhớ đêm mong, rất thích thú háo hức”.

Vào những năm kinh tế bị trì trệ, ngành địa ốc hầu như phá sản, anh ấy đã giúp tôi vay ngân hàng mua được thêm vài căn nhà nữa với giá rẻ mạt. Bây giờ tôi đã có một tài sản đáng kể, không to tát gì lắm nhưng cũng đủ sống nốt cuộc đời một cách thoải mái. Có lần anh ấy bàn với tôi hay là cứ làm giấy hôn thú để tôi được hưởng tiền trợ cấp hưu bổng và được bảo hiểm sức khỏe từ công ty của anh ấy, nhưng tôi nhất quyết từ chối. Anh ấy cũng đề nghị chúng tôi có thể kết hôn, chỉ cần có một bữa tiệc nhỏ với những người thân trong gia đình. Bên phía anh ấy giờ chẳng còn ai, bên tôi chỉ có gia đình bà chị và mấy đứa em. Sau khi kết hôn ai ở nhà nấy cho được thoải mái tự do. Tôi vẫn từ chối, từ đó anh ấy không còn nhắc đến chuyện đó nữa. Chúng tôi vẫn êm đềm sống bên nhau như hai mà một, như một mà hai!

Một buổi sáng thứ bảy tôi còn nằm nướng trên giường, thằng con ngốc nghếch của tôi mở cửa leo lên giường và ôm hôn tôi, miệng nói con thương mẹ quá, sống cô đơn một mình không buồn sao mẹ. Tôi cú đầu nó, hỏi muốn vòi vĩnh gì đây, có phải đang bị con nhỏ nào lấy mất trái tim rồi không. Nó lại hôn tôi và nói, đâu có ai đâu, hay là mẹ lấy chồng đi, con và chị hai “Approve” rồi đó, mà mẹ chỉ được lấy “Uncle Tim” thôi nhá. Tôi bật cười, làm như nó là bố tôi không bằng, “Chấp Thuận” cho tôi lấy chồng. Tôi nhẹ nhàng gỡ tay nó ra và đuổi nó ra ngoài. Thằng ngốc bò ra khỏi giường còn nói với theo “Con nói thật đấy”, tôi nói với nó “Nếu con muốn mẹ đi lấy chồng thì qua bàn thờ thắp nhang cầu bố con đi”. Thằng ngốc cười ré lên rồi chạy ra khỏi phòng. Tôi hoang mang có phải ông bố của thằng ngốc mang anh ấy lại cho tôi hay không, dù sao tôi cũng cám ơn bố nó đã cho tôi một thằng con khờ khạo mà dễ thương như vây, nó biết quan tâm tới sự an vui, hạnh phúc của tôi. Đôi khi nó thấy tôi ngồi thẫn thờ một mình, lại chạy tới ôm hôn tôi và hỏi sao mẹ buồn thế. Tôi trả lời mẹ không sao, chỉ là nhớ bố con thôi. Có lần nó hỏi tôi sao lâu nay không thấy Uncle Tim chở tôi đi chơi, bộ giận nhau rồi hả mẹ, tôi nói ông ấy phải đi công tác xa 2 tuần lễ. Ông Bob hàng xóm cũng hỏi tôi một câu như vậy. Thì ra ít nhất tôi cũng có hai người quan tâm tới mình. Thằng ngốc nói con không muốn ông ấy làm mẹ buồn. Nó thật là “Thằng con trai của mẹ” như người Mỹ thường nói. Tôi lau vội hai hàng nước mắt trên má, sợ thằng ngốc quay trở lại, tôi sẽ không biết phải trả lời nó như thế nào. Đôi khi tôi lo lắng, mai mốt nó lấy vợ chắc là bị vợ ăn hiếp rồi, nhưng cũng tự an ủi, chỉ có Trời mới giúp được nó thôi, “Trời đãi kẻ khù khờ”.

Cậu em tôi ở Denver mời hai mẹ con tôi đi dự đám cưới của thằng cháu. Tôi dặn Tim coi chừng nhà cửa, chúng tôi sẽ đi chơi chừng 1 tuần lễ thôi. Gần trưa ngày thứ hai ở Denver, điện thoại reo liên hồi, có tiếng lạ hoắc từ đầu giây bên kia:

- Xin lỗi có phải bà Lê không ạ? Tôi là thư ký của ông Tim Ryan, Vice President of WoodForest Bank, có tin khẩn cấp ông ấy nhắn cho bà.

- Tôi nghe, xin cứ nói.

- Ông Ryan có dặn tôi, nếu có chuyện khẩn cấp, hãy gọi cho bà vì bà là người thân duy nhất của ông ấy.

- Ông ấy có làm sao không ạ.

- Bà nên đến bệnh viện gấp, ông ấy đã được xe cứu thương đưa đi khoảng 10 phút rồi, tôi vội vàng gọi cho bà ngay theo chỉ thị của ông ấy trong trường hợp khẩn cấp. Tôi sẽ gởi tin nhắn trong điện thoại của bà, địa chỉ và số điện thoại của nhà thương.

- Vâng cám ơn cô, tôi đang ở Denver, nhưng sẽ về ngay.

Tôi vội vàng gọi hãng máy bay đổi lại chuyến bay sớm nhất để về nhà, đồng thời gọi vào nhà thương. Anh ấy bị ngã bất tỉnh trong phòng làm việc, nhưng chở vào bệnh viện kịp thời nên còn cứu kịp. Hôm sau về đến nhà tôi vào bệnh viện ngay, anh ấy vẫn còn thiêm thiếp ngủ. Tôi nắm tay anh ấy, chàng chỉ hé mắt một tí, nhếch mép như muốn nói điều gì. Tôi an ủi anh ấy, cố tĩnh dưỡng cho khỏe lại, có tôi ở đây săn sóc cho anh. Tôi cầu trời cho anh ấy qua cơn hiểm nghèo, đừng bỏ tôi lại một mình như bố thằng nhóc đã từng bỏ tôi. Tôi rùng mình nghĩ lại thời gian trước đây đã từng trải qua cùng hoàn cảnh như thế, bên giường bệnh của người thương yêu nhất đời mình, mong rằng có một phép lạ nào đó xảy ra. Nhưng trên đời này mấy khi được thấy phép lạ.

Qua hôm sau, Tim vẫn còn nửa thức nửa tỉnh, nhưng mặt mày có vẻ tươi tắn hơn. Ông luật sư riêng của anh ấy cũng vào thăm, do cô thư ký nhắn tin. Ông luật sư hỏi tôi có phải là bà Lê không ạ, mời tôi ra ngoài nói chuyện một chút. Ông dẫn tôi vào phòng khách của bệnh viện rồi nói:

- Thưa chuyện này với bà, kể ra còn quá sớm, nhưng theo lời dặn của ông Ryan bà là người thân duy nhất mà ông ấy nhắc đến, hậu sự của ông ấy đã lo chu tất với nhà quàn và có để lại trong chúc thư mọi thứ cho bà. Đến lúc cần xin bà cứ ghé lại văn phòng tôi, chúng ta sẽ bàn sau.

- Tôi cám ơn ông đã lo liệu cho anh Tim Ryan. Tôi có một chuyện muốn nhờ ông lo gấp giúp tôi.

- Bà cứ cho biết, tôi là luật sư riêng của ông ấy, cả về phần công cũng như tư, có nghĩa là đại diện cho ông ấy về mặt pháp lý, kiện tụng trong công việc của ông ấy nữa.

- Tôi muốn nhờ ông, bằng cách nào tùy ông, kiếm ra thằng con của ông ấy, nghe đâu trước kia ông ấy ở vùng Chicago. Lệ phí bao nhiêu tôi sẽ hoàn trả cho ông.

- Bà đừng lo, tất cả dịch vụ văn phòng chúng tôi đã có giao kèo với ông Ryan và hãng của ông ấy rồi. Hình như trong hồ sơ tôi có ở văn phòng, có cả copy tờ ly hôn nữa. Tôi không chắc, nhưng sẽ nhờ một văn phòng tìm người mất tích, họ sẽ kiếm ra nhanh chóng thôi. Tôi chưa bao giờ nghe ông ấy nhắc đến một người con nào cả.

- Vậy thì cám ơn ông nhiều lắm, tôi chờ đợi tin mừng của ông.

Trước khi chia tay, ông luật sư trao cho tôi danh thiếp. Hai ngày lặng lẽ, mệt mỏi trôi qua, anh ấy đã từ từ hồi phục, đã có thể ăn uống, nói chuyện. Anh rất cảm động vì luôn có tôi bên cạnh cả ngày lẫn đêm, mỗi khi anh chợt tỉnh giấc. Sáng hôm sau ông luật sư gọi, xin tôi bỏ chút thời giờ ghé văn phòng ông ấy. Tôi vội vàng dặn cô y tá: “Làm ơn coi chừng anh ấy, tôi ra ngoài một chút rồi sẽ quay lại ngay”. Đến văn phòng, ông luật sư giới thiệu với tôi một thằng nhóc tên Tom Ryan. Thoạt nhìn, tôi biết ngay là con của Tim, không cần thử DNA. Hai khuôn mặt giống nhau như đúc. Tôi được giới thiệu là người bạn thân của cha nó. Thằng bé lí nhí chào hỏi tôi rất lễ phép, có lẽ ông luật sư đã nói với nó về tôi. Tôi hỏi nó rất nhiều về hoàn cảnh của nó bây giờ, gia đình mẹ nó với người cha ghẻ, học tới lớp mấy rồi, tại sao lâu nay không đi tìm cha, vân vân … Ôi đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Mục đích cuộc nói chuyện xem tính tình nó thế nào, xem nó có quan tâm đến người cha đã lâu lắm rồi không gặp? Ông luật sư vẫn ngồi yên, lắng nghe chúng tôi nói chuyện. 

Cuối cùng, tôi cũng có một khái niệm về thằng bé: Tính tình ngoan ngoãn, lễ phép, nhưng khi nói về mẹ và cha ghẻ nó, thằng bé tỏ ra bất mãn, buồn rầu. Cha ghẻ cũng chẳng quan tâm về nó, chỉ săn sóc 3 đứa con riêng của ông thôi. Nó luôn cảm thấy cô đơn, buồn bực, cho nên hay chống đối mẹ và cha ghẻ nó. Mỗi lần hỏi về cha nó, mẹ nó đều nói ông ấy đã chết rồi! Nhiều lần nó đã muốn đi bụi đời, nhưng bản chất nhút nhát nên không biết đi đâu. Tôi nhờ ông luật sư, thay mặt Tim điều đình với mẹ nó để cho nó được sống gần gũi cha. Ông luật sư nhận lời.

Tôi đưa thằng nhỏ vào nhà thương, đến trước cửa phòng bệnh nhân và dặn nó chờ ở đó. Tôi lấy khăn lau mặt cho Tim rồi nói: “Có người muốn gặp anh, hãy giữ bình tĩnh và nhắm mắt lại, em sẽ dẫn người ta vào gặp anh”. Tôi dẫn thằng bé vào, rồi bảo Tim mở mắt ra. Tôi thấy sự hân hoan lẫn ngạc nhiên trong mắt anh ấy. Hai cha con đã nhận ra nhau chẳng cần giới thiệu. Thằng bé ôm choàng lấy cha nó, hai hàng lệ chảy trên đôi má Tim. Tôi bỏ ra ngoài mà không cầm được nước mắt. Mặc cho cha con họ tâm sự và cảm nhận được giây phút thiêng liêng của sự trùng phùng. Họ đã xa nhau lâu lắm rồi, ai cũng tưởng như người kia không còn hiện diện trên cõi đời này nữa. Bao nhiêu cô đơn, dằn vặt, ray rứt trong lòng đã trôi theo dòng nước mắt. Thằng nhóc ra mời tôi vào, bảo cha nó muốn nói với tôi vài điều. Tôi đến bên giường bệnh, Tim nắm tay thằng nhóc đặt trong tay tôi và xin tôi săn sóc cho nó, chỉ có tôi anh ấy mới yên lòng. Tôi hứa sẽ săn sóc, yêu thương nó như tôi đã làm với thằng bé nhà tôi. Thằng nhóc chợt nắm lấy hai tay tôi, hai mắt nó nhìn tôi như cầu khẩn và gọi tôi một tiếng “MẸ”. Tôi ôm đầu nó: “Yên tâm đi, mẹ sẽ không bỏ con đâu!”

Buổi chiều tôi dẫn nó về nhà, thằng John con tôi cũng vừa đi làm về. Tôi dẫn hai đứa lại gặp nhau và dặn: “Đây là Tom Ryan, con của Uncle Tim, nó cũng là em của con, từ nay hãy gọi nó là Út Tư, còn đây là John Lê, từ nay nick name của nó là Anh Ba, mẹ chỉ gọi Anh Ba và Út Tư, hai đứa con phải biết mẹ gọi ai, nghe chưa?”. Hai đứa ngoan ngoãn vâng lời. Tôi dặn thằng John, dạy tiếng Việt cho cho thằng Tom, từ nay trong nhà chỉ nói tiếng Việt thôi. Trên lầu còn 3 phòng trống, Tôi sai John dọn 1 phòng có phòng tắm riêng cho Tom ở. Tôi dẫn hai đứa đến trước bàn thờ của bố thằng John, xin anh ấy nhận thêm một thằng con nữa, hãy phù hộ cho nó và yêu thương nó như anh ấy đã yêu thương và gìn giữ hai mẹ con tôi. Hai đứa thắp nhang và xá cha chúng. Thế là từ nay tôi có hai thằng con ngốc nghếch luôn ở bên cạnh. Hai đứa đều ôm lấy tôi, tôi không thể nào cầm được nước mắt!

Tim được ra khỏi bệnh viện và nghỉ phép 1 tháng, khi có chuyện khẩn cấp cô thư ký mang hồ sơ về tận nhà. Buổi tối cả nhà quây quần bên phòng ăn, rồi ra phòng gia đình nói chuyện dóc, coi TV. Thật ấm cúng.

Một thời gian sau, Tom đã nói được tiếng Việt kha khá, con nít học cái gì cũng mau! Nó cũng thích ăn đồ ăn Việt Nam như thằng John. Chủ nhật nào tôi cũng dẫn tất cả đi nhà thờ La Vang. Hai đứa nó đều tham gia các sinh hoạt cộng đồng và nhà Thờ. Chúng sống hòa thuận vui vẻ bên nhau như hai anh em ruột. Dù sao thằng John cũng sanh đẻ và lớn lên trên đất Mỹ, nó chẳng khác thằng Mỹ con là mấy. Còn thằng Tom đã bị Việt hóa mất rồi. Mỗi lần ở trường học thằng Tom có chuyện gì rắc rối, tôi cũng đến để can thiệp cho nó, nói chuyện với thầy cô. Nó cảm thấy được chăm sóc, bảo vệ như con gà con trong cánh ấp ủ của gà mẹ, nên càng kính yêu tôi hơn. Nó bắt chước thằng John mỗi khi về đến nhà đều đến bên tôi khoanh tay “Thưa Mẹ”, tôi ôm và hôn lên trán nó để an ủi và san sẻ tình thương cho nó.

Vài năm sau, Tim và tôi quyết định về hưu, thời gian của chúng tôi cũng không còn nhiều cho nhau. Chúng tôi sẽ nắm tay nhau đi hết ngõ ngách của thế giới này vì cả hai đều thích du lịch. Tom đã lên Đại Học, nó quyết định học ở Sam Houston State University, chỉ cách nhà tôi 30 phút lái xe để luôn được ở nhà với tôi và cha nó. Nếu muốn, sau này nó có thể thi vào trường Medical School gần nhà, rất tiện lợi và đỡ tốn tiền. Với tôi, cuộc đời thật hạnh phúc, thật tuyệt vời! Tôi nói với anh ấy hãy sửa lại di chúc, tôi có đầy đủ rồi không cần anh ấy để lại gì cho tôi, tôi cũng sẽ để một phần gia tài cho Tom, dù sao cũng nhờ anh ấy tôi mới có cuộc sống sung túc ngày hôm nay.

Bên ngoài, với mọi người, chúng tôi vẫn là hàng xóm tốt bên nhau, thường xuyên qua lại. Trong nhà là một gia đình ấm cúng 4 người. lễ lạc như Thanksgiving, Christmas, không còn ai lạc lõng cô đơn nữa.

Cuối tháng hai trời còn se lạnh, nhưng trong lòng tôi thật ấm áp. Mùa xuân đã kéo đến trước cửa nhà. Mấy bụi cúc nở vàng rực, hai hàng đỗ quyên trồng trước nhà nở đỏ tươi thật là đẹp, hoa đào, hoa mai cũng khoe sắc sân sau nhà. Ông Trời đã giúp tôi quá nhiều, an ủi tôi những ngày tháng cuối cuộc đời, sống an nhàn, hạnh phúc, cho tôi những đứa con ngoan ngoãn, hiếu thảo. Ông Trời thật công bằng, nếu lấy mất cái gì của mình, sẽ cho lại mình cái khác, và ngược lại, đã cho mình cái gì thì sẽ lấy lại cái khác. Cho nên được hay mất đừng tự đắc, hay oán than Ông Trời.

Cám ơn Ông Trời.

Mùa Xuân 2023 

Blog Archive