Showing posts with label Lê Đức Luận. Show all posts
Showing posts with label Lê Đức Luận. Show all posts

Tuesday, August 26, 2025

Kể Chuyện Những Dòng Sông

Dòng sông! Nó hiện hữu trong thiên nhiên từ khi khai thiên lập địa như muôn thứ đã có trên quả đất này - tự nó ngàn đời không thay đổi - gom nước từ đầu nguồn rồi khơi dòng chảy ra biển cả. Con người đặt cho nó cái tên là Dòng Sông. Khi thêm vài chữ kèm theo với dòng sông như: dòng sông êm đềm, thơ mộng hay là dòng sông oan nghiệt, ô nhục… Các thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ dựa vào đó mà “thổi vào” dòng sông “cái linh hồn” và làm ra những tác phẩm rung động lòng người.

Nhưng có một chữ đi kèm với dòng sông - chữ “định mệnh”- đã biến dòng sông thành chỗ riêng tư. Dòng Sông định mệnh chính nó đã ấp ủ và nuôi dưỡng con người hay một cơ duyên nào đó đưa đẩy con người đến với nó. “Dòng sông định mệnh”- nơi con người đã từng gắn bó với nó và cho họ những cảm xúc dạt dào. Và chính những con người đó mới nói lên hay tạo được tác phẩm tuyệt vời. Các văn nhân, thi sĩ khó lòng nói thay hay chế tác hư cấu.

Trong đời, ai cũng có những kỷ niệm về một dòng sông. Có những dòng sông lưu trong ký ức, nhưng rất ít được gọi là “dòng sông định mệnh”. Với tôi, có ba dòng sông lưu trong ký ức và hai dòng sông tôi đã sống chết với nó do định mệnh an bài. Tôi gọi đó là “dòng sông định mệnh”.

Khi thầy, cô giáo dạy tôi tập đọc và học thuộc lòng những bài văn của các nhà văn Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân miêu tả dòng sông Hương ở Huế - êm đềm, thơ mộng - dòng nước trong veo, phẳng lặng như tờ… Hỉnh ành đó đã đi vào ký ức của tôi từ thuở đầu đời.

Khi lên Trung học, học sinh phải học hai ngoại ngữ: Pháp văn và Anh văn. Sách giáo khoa thời bấy giờ có Cours de Langues (gồm 4 quyển) cho Pháp văn; English For Today (gồm 4 quyển) cho Anh văn. Nhờ mấy quyển sách này mà tôi biết dòng sông Seine chảy qua thành phố Paris nước Pháp và dòng sông Potomac ôm ấp thủ đô Washington D.C. của nước Mỹ. Thời đó, nhìn trên bản đồ, thấy hai dòng sông này cách xa vạn dặm, tôi như đứa trẻ nhìn trăng, thấy chú Cuội ngồi dưới gốc cây đa và không nghĩ có một ngày mình sẽ đặt chân đến những nơi này. Nhưng hai dòng sông đó đã đi vào ký ức, vì tôi cảm nhận cái nên thơ và lãng mạn của nó qua các bài văn. Mấy mươi năm sau, không ngờ, có một dòng sông đã trở thành “Dòng Sông Định Mệnh” của đời tôi. Đó là dòng sông Potomac. Còn một dòng sông đã đi vào ký ức, khi tôi có ý thức về chính trị. Đó là dòng sông Bến Hải - một dòng sông hiền hòa bỗng trở thành “dòng sông oan nghiệt” - nó chia đôi đất nước tôi và lịch sử Việt Nam ghi thêm một trang ô nhục - khiến tôi ngậm ngùi!

Đã nói về ba dòng sông đã đi vào ký ức. Bây giờ, tôi kể chuyện hai dòng sông định mệnh: Dòng sông Đà Rằng ở quê tôi và dòng sông Potomac trên đất khách. Không biết tự bao giờ, khi tôi được sinh ra đời đã có con sông Đà Rằng. Dân quê ở thượng nguồn gọi nó là con sông Ba, ở hạ lưu người ta gọi là sông Đà Rằng và sách địa lý cũng ghi như thế.

Tôi gắn bó với dòng sông Đà Rằng trên hai mươi năm và có “một trời” kỷ niệm… Kể sao cho hết cái thích thú của những lần tắm sông cùng lũ nhóc trong làng vào những buổi trưa hè… Mùa hè nước cạn, trong veo… phơi ra bờ cát mịn. Lũ trẻ chúng tôi tha hồ bơi lội, có lúc ra giữa lòng sông. Khi nắng lên cao, lũ trẻ men theo bờ cát vào soi (1) nhổ những cây rau đắng mọc dại ven bờ về cho mẹ phơi khô để nấu chè rau đắng - hương vị nồi chè rau đắng rất đặc biệt - chỉ quê tôi mới có. Khi nào có dịp ghé quê tôi, tôi sẽ mời bạn thưởng thức chén chè rau đắng.

Đó là chuyện hiền hòa, dễ thương của dòng sông Đà Rằng vào mùa hạ. Nhưng sang mùa đông nó “cuồng nộ” đến phát sợ - nước đục ngầu từ nguồn đổ về cuồn cuộn, chảy xiết… cuốn trôi mọi thứ ven bờ. Nhưng sau cơn “cuồng nộ”, dòng sông phủ lên những cánh đồng đất mịn phù sa mầu mỡ, giúp cho dân làng có một vụ mùa bội thu năm tới.

Còn tôi có cái thú vui vào mùa bão lũ là theo cha đặt lờ bắt cá. Các loại cá như cá rô, cá trắng, cá tràu (cá lóc) ngược dòng nước lênh láng khắp cánh đồng tìm nơi đẻ trứng. Chúng nó dại khờ chui vào những cái lờ bóng bẩy mà cha tôi đặt chỗ nước chảy. Ca dao có câu: “Cá trong lờ đỏ hoe con mắt/ Cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô”. Tôi không biết diễn tả làm sao cho hết cái “khoái” khi đi “giở lờ” (nhấc cái lờ khỏi mặt nước) - năm bảy con cá rô đỏ hoe con mắt - rùng rùng trong lờ! Cha tôi cười, còn tôi reo lên khoái chí, mở nắp giỏ cho cha đổ cá vào. Tôi sống, tôi vui với dòng sông Đà Rằng trong thời niên thiếu.

Năm hai mươi tuổi, tôi xa nó để vào Sài Gòn tiếp tục việc học hành, rồi lên Đà Lạt gia nhập quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Từ đó, đời tôi nổi trôi theo vận nước với bao gian truân và nghiệt ngã - mười năm lính, bảy năm tù cải tạo làm hao gầy trí lực. Dòng sông Đà Rằng chỉ còn trong hoài niệm. Nhưng khi ai hỏi: “Mi ở xứ mô?” - tôi ví von rằng: “Tao dân Núi Nhạn, Sông Đà.” (2)

Năm 1975, lịch sử sang trang, tưởng rằng: tôi sẽ được trở về với dòng sông cũ, bến đò xưa… Tôi sẽ đứng trên chiếc cầu dài nhất miền Trung, ngắm dòng sông quen thuộc, trông những cồn cát ven sông phủ lên màu xanh của soi dưa, ruộng mía… Xa bờ là xóm làng dân cư đông đúc và tưởng rằng tôi sẽ được sống với hình ảnh êm đềm nơi quê hương yêu dấu. Nhưng than ôi! Tôi đã bị lưu đày nơi rừng sâu, núi thẳm… rồi biệt xứ ở vùng Thượng du rồi Trung du Bắc Việt gần bảy năm trường. Ngày được thả về, đời tôi coi như “tàn trong ngõ hẹp…” Đời chỉ “tàn” chứ chưa “tan” trong ngõ hẹp! Nên giờ đây tôi còn có dịp viết những dòng tâm cảm gởi quí bạn đọc chơi.

Năm 1986, gia đình tôi được nguời em vợ bảo lãnh sang Canada, sau đó tôi xin qua Mỹ - định cư ở Virginia - tính đến nay đã hơn bốn mươi năm.

Trước khi rời Việt Nam đi Canada, tôi về quê thăm mẹ tôi, và ra nhìn con sông Đà lần cuối. Tôi có già đi, nhưng dòng sông vẫn thế - nó không già đi hay trẻ lại - nước vẫn lững lờ trôi… Không biết nó có buồn khi tôi xa nó? Nhưng lòng tôi cảm thấy ngậm ngùi! Ai cũng biết lý do tại sao, sau năm 1975, nhiều người Miền Nam bất chấp hiểm nguy, liều thân sống chết: vượt biên, vượt biển hay tìm mọi cách thoát ra nước ngoài, mặc dù trong lòng vẫn đau đáu với quê hương.

Từ ngày được định cư ở Virginia, ngoài việc tìm sinh kế nuôi sống bản thân và gia đình, tôi thường tham gia sinh hoạt cộng đồng để tìm nguồn an ủi và hơi ấm đồng hương. Khi cuộc sống căng thẳng, tôi tìm thư giãn ở những nơi có cảnh đẹp sông, hồ… để chụp ảnh. Và tôi đã bắt gặp dòng sông Potomac.

Khi mới đến Virginia còn nhiều bỡ ngỡ, một người bạn thân đã định cư ở đây từ năm 1975, “đãi” gia đình tôi một chuyến “du ngoạn” trên sông Potomac bằng du thuyền. Du thuyền Spirit khởi hành từ National Harbor (D.C.) ngược dòng sông Potomac đến ngọn đồi thoai thoải Mount Vernon, một khu trang trại rộng lớn, có ngôi nhà trắng, mái ngói đỏ nổi bật ở lưng đồi nhìn xuống dòng sông thơ mộng… hiện tại đã trở thành di tích lịch sử, nhưng trước đây là nhà ở của George Washington, vị Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ đã được lịch sử lưu danh là “Cha già dân tộc”.

Du thuyền rời bến khoảng nửa giờ, tôi ngây ngất với cảnh đẹp hai bên bờ sông - những cây hoa anh đào khoe sắc, in bóng lung linh trên dòng nước trong xanh… xa xa là những ngôi nhà cổ kính núp dưới bóng cây cổ thụ cho ta một cái nhìn thoáng đãng và không gian tươi mát. Quay nhìn phía sau là cây cầu vòm đá cổ kính, xa mờ là những tòa kiến trúc đầy kiêu hãnh như Đài tưởng niệm Washington (Tháp Bút Chì), Tòa nhà Quốc Hội... Ôi! Chưa đầy ba trăm năm lập quốc mà Hoa Kỳ đã tạo được những kỳ tích phi thường.

Khi đang say mê nhìn cảnh đẹp ven sông, bỗng trong đầu tôi thoáng qua ý nghĩ về lai lịch của dòng sông Potomac. Nó là một chứng nhân lịch sử - từng in dấu chân của những Tổ Phụ lập quốc Hoa Kỳ. Nước của dòng sông này đã từng hòa với máu của những anh hùng trong cuộc chiến giành độc lập từ đế quốc Anh để đất nước Hoa Kỳ có ngày Độc lập: July 4, 1776. Và nó cũng từng là lằn ranh sinh tử cuả những người lính Bắc- Nam trong cuộc nội chiến (1861- 1865). Thế nhưng giờ đây, dòng sông Potomac hiền hòa ôm ấp mọi cư dân của đất nước, không phân biệt màu da hay chủng tộc. Nó trở thành biểu tượng của sự hòa hợp và là một phần linh hồn tổ quốc Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

Không phải mình tôi khám phá ra cái kỳ diệu của dòng sông Potomac mà còn có những người đồng cảm. Hãy nghe thi sĩ Phạm Cao Hoàng làm thơ:

Khi dừng lại bên dòng Potomac
em bên tôi vẫn rất dịu dàng
gió lồng lộng cả một trời Đông Bắc
tóc em bay trong nắng thu vàng.

và như thế mình đi và đã đến
mình đã tìm và gặp được dòng sông
tôi ngồi xuống để nghe sông hát
và đứng lên ôm lấy mặt trời hồng.

và như thế mình đi và đã đến
đã bên nhau thủy tận sơn cùng
tôi nằm xuống để nghe đất thở
tạ ơn đời độ lượng bao dung.

khi dừng lại bên dòng Potomac
tôi và em nhìn lại quê nhà
buồn hiu hắt thương về chốn cũ
phía chân trời đã mịt mù xa.

Và đọc một vài đoạn trong bài thơ “Khi qua sông Potomac” của Nguyễn An Bình:

Chiếc cầu nổi hai bên bờ Potomac
Cây vẫn xanh màu lá vẫn dịu dàng
Tôi qua đó nghe dòng sông tự hát
Khúc tình ca gởi tặng kẻ lang thang …

Em ngồi lại cùng tôi bên dòng Potomac
Để cùng nhau nghe sóng kể chuyện lòng
Ôi nước Mỹ đất mênh mông đến vậy
Sao nặng tình thao thức một dòng sông.

Đấy, dòng sông Potomac đầy tình tự và nên thơ… Nếu bạn ở phương xa, có dịp đến thăm Vùng Hoa Thịnh Đốn (thường được hiểu bao gồm: Thủ đô Washington D.C. và hai Tiểu bang Maryland và Virginia) chớ bỏ qua một chuyến du thuyền trên sông Potomac. Bạn cũng có thể ngắm cảnh đẹp dòng sông từ các bãi “đậu xe vọng cảnh” (outlook) dọc bên đường George Washington Memorial Parkway - một con đường đẹp nhất ở Vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn - bắt đầu từ Beltway I- 495, exit 43 chạy đến Mount Vernon, nơi có ngôi nhà của Tổng Thống George Washington.

Vào mùa xuân khoảng đầu tháng Tư, hoa anh đào nở rộ - khoe sắc hồng khắp lối; vào cuối mùa thu lá vàng óng ả suốt dọc con đường. Lái xe trên con đường này, bạn sẽ cảm thấy như mình đang lạc vào chốn thiên thai. Không là thi sĩ, bạn cũng có thể làm vài câu thơ…

Nếu bạn thích bộ môn nhiếp ảnh, hãy chọn bên này bờ sông Potomac, gần cầu Key làm nơi đặt máy - lấy dòng sông làm tiền cảnh, ống kính thu hình hướng về: cầu Key, lăng Tổng Thống Abraham Lincoln, xa hơn là chóp đài tưởng niệm Washington (Tháp bút chì). Thế là bạn sẽ có tấm hình ghi lại được 1/3 phong cảnh biểu tượng cho Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Nếu bạn đến vào dịp Lễ Độc Lập July 4, chớ quên ra bờ sông chờ chụp cảnh bắn pháo bông. Ôi! Từng chùm pháo hoa phản chiếu trên mặt sông… Bạn sẽ có tấm ảnh nghệ thuật chụp phong cảnh tuyệt vời.

Tôi vừa viết mấy dòng chấm phá cảnh đẹp của dòng sông Potomac. Bây giờ xin nói thêm những điều kỳ diệu ven sông. Chuyện hình thành và phát triển cộng đồng người Việt vùng Hoa Thịnh Đốn đã được nhà văn Nguyễn Minh Nữu viết khá chi tiết qua bài"Làm báo ở Washington, D.C." được phổ biến khá rộng rãi trên mạng. Ở đây, tôi chỉ thêm vào cái tình người và sự đóng góp tài năng của cư dân nơi này đã làm “vẻ vang dân tộc Việt”.

Mặc dù dân số đông hàng thứ ba sau California và Texas - khoảng trên một trăm ngàn người - nhưng không thiếu “anh hào - tao nhân - mặc khách” đã được vinh danh như: khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, chính trị gia Hùng Cao; doanh nhân thành đạt chắc có nhiều, nhưng còn ẩn danh - “giả dạng thường dân”. Chỉ có triệu phú Lê Thiệp - chủ tiệm phở 75 lộ diện rõ ràng. Còn văn nhân, thi sĩ thì quá nhiều kể ra không xuể.

Đặc biệt, mới đây - ngày 25 tháng Tư năm 2025, Đại học George Mason ở VA, đã đặt tên hai người gốc Việt cho trường dạy Kỹ Thuật Điện Toán. Đó là vợ chồng ông bà Long Nguyễn và Kimmy Dương. Hai ông bà này đã tài trợ hai chục triệu đô la cho Đại học George Mason.

Tình người ở đây ôn hòa, đằm thắm… ít có phe đảng chống đối nhau ra mặt như ở Cali. Tệ nạn xã hội có xảy ra nhưng không nhiều như các cộng đồng sắc dân khác. Việc học hành và thành đạt của con em người Việt ở đây đạt tỷ lệ khá cao. Trường Đại học rất nhiều nhưng con em người Việt thường chọn các trường: George Mason University, University of Maryland, Howard University, Virginia Tech, Marymount Unversity, Johns Hopkins University, Georgetown University, George Washington University…

Đặc biệt, tôi không thấy có sự kỳ thị chủng tộc trong học đường. Đó là điều tôi an tâm và vui sống ở vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn suốt bốn mươi năm nay.

Bốn mươi năm được sống trong bình an, tự do và hạnh phúc, nhìn thấy tương lai con cháu rộng mở. Đó là ân huệ của cuộc đời.

Nhưng tôi không thể quên cội nguồn dân tộc. Tôi luôn ray rứt nghĩ về thân phận con người và vận nước nổi trôi. Nếu như không có ngày 30.4.1975 oan nghiệt, chắc chắn tôi đã không có mặt nơi đây, tôi đã sống với quê hương yêu dấu, với truyền thống tốt đẹp và hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Nếu như ngày ấy, những người lãnh đạo guồng máy chính trị ở Việt Nam sáng suốt và có tấm lòng nhân đạo thì sẽ không có cảnh gần năm trăm ngàn người chết trên biển cả, trong rừng sâu trên đường vượt biên, vượt biển - tìm sự sống trong cái chết! Và cũng không có trên ba triệu người Việt lìa bỏ quê hương, sống lưu lạc khắp năm châu, trong đó có tôi.

Đôi khi tôi đọc những sử liệu viết về cách giải quyết chiến tranh và các vấn đề hậu chiến trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ (1861-1865) giữa những người quân tử - chỉ vài chi tiết nhỏ nhưng mang tính nhân văn, làm tôi ngưỡng mộ.

Chuyện rằng: “Khi tướng Robert Edward Lee, Tư lệnh Liên quân miền Nam quyết định đầu hàng, ông viết lá thư riêng gởi cho tướng Ulysses S. Grant, Tư lệnh Liên quân miền Bắc, yêu cầu thu xếp cuộc họp mặt. Tướng Grant nhận được thư hết sức vui mừng và bỗng nhiên thấy hết căn bệnh nhức đầu kinh niên đã hành hạ ông. Trưa ngày 9 tháng 4 năm 1865, tướng Lee cùng một đại tá tùy viên cỡi ngựa vượt qua phòng tuyến đến điểm hẹn tại làng Appomattox Court House, Virginia. Hình ảnh ghi lại - tướng Lee đi qua đoàn quân nhạc của lính miền Bắc thổi kèn chào đón.

Vị Tư lệnh miền Bắc thắng trận đã ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được vô lễ với vị tướng Tư lệnh miền Nam bại trận. Và khi hay tin miền Nam đầu hàng, quân sĩ miền Bắc định bắn đại bác chào mừng. Tướng Grant ra lệnh ngưng ngay và huấn thị: “Chiến tranh đã kết thúc, giờ đây họ là đồng bào của chúng ta, chúng ta không nên reo mừng trên nỗi đau khổ của họ. Hai bên không còn là kẻ thù.”

Khi đắc cử tổng thồng thứ 18 của Hoa Kỳ, tướng Grant tâm sự: “Lúc ấy, tôi rất ngại ngùng và hổ thẹn khi nói đến chữ đầu hàng với tướng Lee.” Câu chuyện được kể tiếp: Khi tướng Grant ngại ngùng mở lời thì tướng Lee hối thúc. Tướng Grant lấy bút viết các điều thỏa ước: “Quân lính miền Nam phải giải giới, tước bỏ khí giới và quân dụng; không bị coi là phản quốc và được trở về nguyên quán sinh sống như ngưòi dân bình thường.”

Tướng Grant trao cho tướng Lee xem điều thỏa ước. Mặt tướng Lee tươi hẳn lên và phát biểu: “Như vậy là tốt cho mọi người, nhưng thêm hai yêu cầu: Cho phép binh lính miền Nam mang lừa, ngựa về để sử dụng trong nông trại vì đây là tài sản riêng của họ đã mang theo khi gia nhập quân đội và xin cung cấp lương thực cho hơn một ngàn tù binh miền Bắc tôi đang giam giữ và các binh sĩ của tôi cũng đang đói.” Tướng Grant đồng ý ngay và ra lệnh xuất 25 ngàn khẩu phần ăn. Tướng Grant hỏi: “Như vậy đủ chưa?” Tướng Lee trả lời: “Thưa Đại tướng, như thế là quá đủ.” Nói xong tướng Lee đứng dậy bắt tay tướng Grant, chào mọi người rồi bước ra khỏi phòng họp. Bên ngoài các sĩ quan, binh sĩ miền Bắc đứng nghiêm đưa tay chào kính cẩn.

Sau này, khi nói đến cuộc nội chiến Hoa Kỳ và bản thỏa ước chấm dứt chiến tranh người ta thường bảo: “Văn bản đầu hàng là một thỏa hiệp của những người quân tử - The Gentlement’s Agreement.” Đây là niềm hãnh diện cho con dân Hoa Kỳ mỗi khi nhắc nhớ đến cách hành xử của cha ông họ trong cuộc nội chiến và là bài học cho hậu thế cách làm người văn minh, quân tử.

Thêm một tấm gương của người quân tử - Thống tướng Douglas MacArthur của Hoa Kỳ. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh tối cao của lực lượng Đồng minh (SCAP) (3) và trở thành người có quyền lực cao nhất tại Nhật lúc bấy giờ. Với tinh thần thượng võ, MacAthur đã cho binh sĩ các cấp của Nhật Bản về với gia đình - không bị tù tội. Nhật Hoàng Hirohito cũng được miễn tội và thường xuyên được trao đổi ý kiến. Đồng thời ông thúc đẩy Hoa Kỳ cứu đói cho dân Nhật. Douglas MacArthur được người Nhật ghi ơn. Khi MacArthur về lại nước Mỹ, dân Nhật đã xếp hàng tiễn đưa ông lên máy bay với dòng lệ kính yêu. Ông được coi như một trong 12 người có công xây dựng nước Nhật phú cường như ngày nay.

Bây giờ nhìn lại cách hành xử của người cộng sản Việt Nam khi chấm dứt cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn và giải quyết các vấn đề hậu chiến sau khi chiếm được Miền Nam - viết ra quá dài dòng và thêm xấu hổ cho dân tộc tôi, vì có một lớp người thiển cận, độc ác, tham lam, hẹp hòi - không còn nhân tính đã xuất hiện trong một giai đoạn lịch sử đen tối của đất nước. Không biết những thế hệ sau này nghĩ sao khi đọc lại những trang sử Việt Nam trong thời kỳ này? Với tôi, đây là trang sử ô nhục nhất trong mọi thời đại.

Viết đến đây tôi thấy bùi ngùi cho số phận. Với tuổi đời: “Tương lai ngồi đợi hoàng hôn xuống…” (4) Tôi biết khó lòng gởi nắm xương tàn bên mồ mả cha ông khi về cõi… Nên tôi căn dặn mấy đứa con: Chớ bận tâm đưa hài cốt của cha về với nghĩa trang gia tộc. Hãy hỏa thiêu và rải tro cốt của cha trên dòng sông Potomac. Hồn của cha sẽ lờ lững trôi theo “dòng sông định mệnh” này.

Lê Đức Luận (Tháng 6.2025)

(1) Soi là bãi cát ven sông, người ta trồng dưa hấu, mướp, bí ngô.
(2) Núi Nhạn Tháp và sông Đà Rằng là biểu tượng cho thành phố Tuy Hòa - quê hương của tôi.
(3) SCAP = Supreme Commander for the Allied Powers.
(4) Thơ Tú Kếu.


Thursday, July 10, 2025

Đi Tìm Cơ May Hạnh Phúc


TG Lê Đức Luận (đứng giữa) đang nhận giải Danh Dự VVNM 2023

Hạnh phúc là chữ được viết nhiều trong văn học và được ngườì đời thường xuyên nhắc đến. Nhưng khi hỏi: hạnh phúc là gì và do đâu mà có thì chẳng biết trả lời làm sao cho trọn vẹn. Từ xưa đến nay chưa thấy có một định nghĩa phổ quát nào về chữ hạnh phúc được mọi người đồng thuận.

Có người bảo: hạnh phúc là sự mãn nguyện một ước mơ, an vui trong cuộc sống; làngười khác nói: hạnh phúc không có tiêu chuẩn, không do ban phát, không mua bán hay đổi chác mà có. Nó là một trạng thái cảm xúc từ con tim của mỗi cá nhân trong khoảnh khắc làm người ta hài lòng với những gì hiện hữu - nó rất riêng tư và phát sinh từ sự tỉnh thức của tâm hồn… Vậy, xem ra: đi tìm hạnh phúc ở tương lai với những mơ ước hay quay về quá khứ mà quên những giây phút hiện tại thì con người khó lòng bắt gặp hạnh phúc đích thực.

Nhớ lại những ngày đầu mới đến Hoa Kỳ, gia đình tôi được văn phòng An sinh Xã hội quận Fairfax, tiểu bang Virginia tìm cho chỗ ở trong khu chung cư đa số là người Mễ, Ấn Độ và dân Phi châu, trong đó có thêm hai gia đình người Việt Nam nữa là gia đình ông Năm Đại Lãnh và gia đình ông giáo Lộc.

Trong môi trường có sự khác biệt về ngôn ngữ và tập quán, ba gia đình người Việt chúng tôi tìm đến với nhau trong tình đồng hương - chia sẻ vui buồn và hết lòng giúp đỡ lẫn nhau như anh em ruột thịt. Thời đó, cách nay trên bốn mươi năm, những người Việt Nam tỵ nạn cộng sản đến Mỹ được hưởng những phúc lợi an sinh xã hội khá dồi dào, cộng với tấm lòng bác ái và hào sảng của người dân Hoa Kỳ giúp những người tỵ nạn sớm ổn định đời sống và nhìn thấy tương lai tốt đẹp trên đất nước có nhiểu cơ hội để thực hiện những ước mơ.

Ông giáo Lộc nhờ khá tiếng Anh, sau ba tháng định cư, tìm được một chân bán hàng cho tiệm 7-Eleven - làm việc từ 6:00 giờ sáng đến 2:00 chiều. Sau đó ông vào Đại học Cộng đồng (Community College) học ngành kế toán (accounting). Hai vợ chồng chỉ có một đứa con trai duy nhất, trên bảy tuổi. Khi thằng con được xe buýt đón vào trường, bà Lộc đến làm phụ bếp cho một nhà hàng Việt Nam gần đó - kiếm thêm thu nhập. Sau giờ làm phụ bếp, bà đi học Anh văn (lớp ESL) để chuẩn bị xin học ngành y tá. Trước năm 1975, bà đã là một cán sự y tế điều dưỡng làm việc ở Quân y viện Nguyễn Huệ, Nha Trang, nay sang Hoa Kỳ bà mong muốn được làm công việc mà bà yêu thích. Ở Mỹ học ra nghề y tá không dễ - bà biết, nhưng vẫn nuôi hy vọng.

Vậy là vợ chồng ông giáo Lộc đang đi tìm hạnh phúc ở tương lai.

Ngược lại, ông Năm Đại Lãnh luôn luôn có vẻ ưu tư. Những buổi chiều, ngồi trên ban công (balcony) của căn apartment, ở tầng ba, ông nhìn mông lung với ánh mắt đăm chiêu… thật buồn! Ông nhớ về những ngày hạnh phúc ở xóm chài Đại Lãnh. Ông nhớ biển!

Mùi xăng nhớt thoát ra từ những chiếc xe vội vã ra vào ở chỗ đậu xe dưới sân khu chung cư - khét lẹt! Làm ông khó chịu! Ông Năm nhớ mùi biển mặn quê ông - sao mà đậm đà! Hít căng buồng phổi vẫn còn thèm cái mặn mòi của hơi nước biển. Ông Năm thường bảo: Ở trong căn chung cư hai phòng này, như chui vào cái hộp, ông cảm thấy tù túng! Ông nhớ căn nhà lộng gió ở làng chài Đại Lãnh. Ôi! Nó mát mẻ làm sao!

Cái máy quạt trần, hệ thống điều hoà không khí trong căn chung cư này làm sao sánh được với cái mát mẻ của ngọn gió nam non mỗi sáng thổi về từ núi cao Đèo Cả. Và ngọn gió nồm dìu dịu phảng phất mùi rong biển, thổi nhẹ qua khu rừng dương tạo nên âm thanh vi vút như tiếng sáo diều, có lúc du dương như bản nhạc êm dịu của thiên nhiên ru ngon giấc ngủ vào những buổi trưa hè… Nhiều lần ông Năm tự thán: Trên đất Mỹ này, khó lòng bắt gặp được ngọn gió nam non hay ngọn gió nồm như ở làng chài Đại Lãnh quê ta!

Ông Năm còn bảo, cái máy truyền hình (TV) ở đây vô dụng đối với ông. Tin tức phát ra tiếng Anh, ông không hiểu! Còn chương trình giải trí với những bản nhạc disco làm ông nhức óc. Đôi khi xem mấy cuốn băng Paris By Night với những bài hát điệu bolero rất “mùi”, ông vẫn thấy không hay bằng nghe giọng hò kéo lưới - mộc mạc nhưng rộn rã như tiếng lòng ngư phủ kéo lên món quà của biển - những mẻ lưới đầy cá …

Nhìn cái tủ lạnh, bên trong chứa thịt cá đông lạnh, ông nhớ đến nồi canh cá liệt - những con cá liệt vừa vớt lên từ biển nấu với cà chua - chỉ nêm chút muối, mắm và thêm vài cọng hành, ngò… Thế mà ngon tuyệt! Ông cũng thường nói: Cái hamburger không ngon bằng món cá nục kho mặn ăn với cháo trắng vào buổi sáng. Ông nhắc đến những buổi chiều cả nhà quây quần bên lò than hồng, nướng những con cá ồ tươi rói quấn lá chuối, rồi xé ra cuốn với bánh tráng, rau sống chấm nước mắm nhĩ pha ớt, tỏi… Ôi! Nó ăn đứt món gà rán KFC (Kentucky Fried Chicken).

Xem ra, ông Năm đang nhớ về quá khứ và tiếc nuối cái hạnh phúc của những ngày trước năm 1975 ở quê nhà. Hiện tại tất cả thính giác, xúc giác, khứu giác, vị giác của ông chưa quen với phong thổ trên đất lạ quê người. Chỉ còn cái thị giác giúp ông thấy được sự tự do trên đất khách. Tuy vậy, ông luôn tư lự và đôi khi muốn quay về với làng chài Đại Lãnh.

Một hôm, tôi nghe ông Năm tâm sự:

- Nếu như không có cái ngày “Giải phóng 30-4-1975” thì tôi đâu có sang đây làm gì để đêm đêm đi rửa chén cho nhà hàng, một công việc tôi không thích tí nào; còn bà vợ phải ngồi may những lố áo thun thâu đêm suốt sáng… Tôi muốn trở về với biển, với làng chài Đại Lãnh quê tôi. Nhưng về, chắc gì mấy ông “cách mạng” để tôi sống yên thân với biển. Họ sẽ kết tội những người bỏ nước ra đi như tôi là thành phần phản quốc, sẽ bắt vào tù. Nhớ lại những ngày lên núi chăn dê trong trại cải tạo sau ngày gọi là “giải phóng” mà tởn đến già! Thôi đành sống kiếp tha hương… ông ạ!

Tôi hỏi ông Năm:

- Nghe kể hồi đó ông chỉ làm nghề chài lưới, không tham gia chính quyền hay quân đội trong chế độ cũ. Tại sao lại bị bắt vào trại trại cải tạo?

- Chỉ làm dân mà bị bắt đi cải tạo mới tức chớ! Tréo ngoe như chuyện Phong Thần chỉ xảy ra dưới chế độ Cộng sản. Ông Năm trả lời, rồi kể tiếp:

- Trước năm 1975, tôi nhận thằng Báo, con bà hàng xóm nghèo khổ làm con nuôi. Nó mồ côi cha từ lúc lên năm, mẹ con nó đùm bọc nuôi nhau. Khi thằng Báo vừa tròn mười tám tuổi, sợ thằng con bị bắt lính, bà mẹ mới đến tha thiết năn nỉ tôi cho nó theo ghe ra biển để trốn đi quân dịch. Thương tình mẹ góa, con côi, tôi nhận nó làm con nuôi, nhưng trả tiền công đầy đủ như những người bạn chài khác để nó nuôi mẹ già.

Khi ghe rời bãi, lênh đênh trên biển cả, không lo bị bắt lính. Khi ghe vào bãi, nếu có bố ráp, nó trốn trong hầm ghe. Thời gian trôi qua, thằng Báo sống bình an bên mẹ già và vui với nghề chài lưới.

Bỗng ngày 30-4-1975 ập đến - thằng Báo đổi đời! Sáng hôm đó, nó mang băng đỏ trên cánh tay trái, tay phải cầm loa, hướng dẫn một đám người, đầu đội nón tai bèo, cổ quấn khăn rằn, chân mang dép râu, vai mang súng AK, đi khắp làng chài kêu gọi dân chúng bỏ bãi đến miếu thờ Cá Ông dự lễ “Mừng Ngày Giải Phóng” và nghe chỉ chỉ thị của chính quyền mới.

Từ hôm ấy, thằng Báo trở thành “ông quan cách mạng” ngang xương. Nó không còn phải xuống ghe lo chuyện kéo lưới, chở xăng dầu … Công việc của nó bây giờ không còn dùng đến chân tay mà chỉ xử dụng cái tai và cái miệng - cái tai để nghe các chỉ thị, còn cái miệng để loan truyền các chỉ thị của “cách mạng” để dân chúng chấp hành.

Một hôm, thằng Báo ghé qua nhà, nói với tôi: “Bây giờ nước nhà được giải phóng, nhân dân ta không còn bị Mỹ, Ngụy kềm kẹp, bóc lột nữa. Nước ta sẽ tiến nhanh, tiến mạnh lên Chủ nghĩa Xã hội, một xã hội công bằng, không còn cảnh người bóc lột người. Tài sản, vật tư chủ yếu thuộc sở hữu chung của toàn dân, nhân dân sẽ làm chủ đất nước. Trước tiên là phải cải tạo công thương nghiệp, đánh tư sản mại bản, chuyển các tư liệu sản xuất của tư nhân về cho nhân dân và nhà nước quản lý…”

Tôi nghe nó nói những tiếng lạ hoắc, không hiểu, nên hỏi: “Tư sản mại bản, tư liệu sản xuất…. là gì vậy mậy?” Nó trả lời: “Trên nói sao, tui nói lại vậy thôi… chứ rạch ròi chữ nghĩa làm chi thêm rắc rối! Cấp trên chỉ thị thế nào thì thi hành thế ấy thôi. Cụ thể là nay mai các ghe tàu, giàn lưới sẽ sung công đưa vào Hợp Tác Xã, làm ăn tập thể. Cấp trên ra chỉ thị cho các cán bộ địa phương bình chọn và chuẩn bị kiểm kê tài sản của các chủ ghe lớn. Ở xóm chài này, có ba gia đình bị xếp vào hạng tư sản mại bản, chiếm giữ tư liệu sản xuất và bóc lột sức lao động của dân chài. Tía biết ba gia đình đó là ai không?” - “Làm sao tao biết được!” Nó ghé vào tai tôi nói nhỏ: “Tía là một, ông Ba Râu là hai, thứ ba ông Út Trọc. Đây là chuyện bí mật, tui chỉ cho tía biết, tía chớ nói lại với ai, nguy hiểm lắm.”

Tôi nghe mà rụng rời tay chân, nhưng cũng cố lấy giọng bình tĩnh nói với nó: “Giỡn chơi sao mầy? Tao đánh lưới hơn mười năm, không dám ăn, dám tiêu mới dành dụm mua được chiếc ghe bầu, bây giờ sung công ngang xương coi sao được mậy? Mầy nhớ lại xem: những bạn ghe, ngay cả với mày, tao có bóc lột ai không? Tao cũng đổ mồ hôi, sôi nước mắt, ra biển kéo lưới như mọi người, mẻ được, mẻ không… Nhưng làm chủ ghe tao phải lo trả tiền công trả cho bạn chài, lúc lời, lúc lỗ… Mày biết quá mà! Có lúc tao sai mày đi vay tiền bên ngoại trả lương cho bạn chài khi biển động lâu ngày để họ có cái ăn. Làm chủ ghe, nếu trời cho thì khấm khá, nếu mất mùa cá, coi như sạt nghiệp, đói cả đám! Chứ bóc lột nỗi gì?”

Thằng Báo có vẻ suy tư, hình như nó đang nhớ về quá khứ, nó nói với giọng buồn buồn: “Thì biết vậy, nhưng bây giờ thời kỳ cách mạng, phải đổi mới tư duy. Tài nguyên thiên nhiên phải thuộc về sở hữu của toàn dân. Cá trên biển bây giờ cũng là của nhân dân đó. Cấp trên giải thích rằng: Các chủ ghe, có tư liệu sản xuất, lợi dụng sức lao động của dân chài, ra biển bắt cá về bán làm giàu cho riêng mình. Bây giờ bắt họ phải hợp tác với nhân dân làm ăn tập thể, làm theo năng suất, hưởng theo nhu cầu! Như thế mọi người mới tìm được hạnh phúc dưới chế độ xã hội chủ nghĩa…”

Nghe nó nói mà ứa gan, tôi bảo: “Chim trời, cá nước là của nhân dân, vậy nhân dân ra biển hốt về, làm giàu… tại sao bắt các chủ ghe phải hợp tác với nhân dân, mà cái ghe đâu phải từ trên trời rơi xuống hay của nhân dân đóng góp. Nó là mồ hôi, nước mắt, là sự chắt chiu, cần kiệm bao năm mới mua được chiếc ghe. Bây giờ, bắt vào hợp tác xã, ăn đều chia đủ, là nghĩa lý làm sao vậy mầy?

Thằng Báo im lặng một lúc, rồi nói: “Cấp trên bảo tui về đả thông tư tưởng, vận động để tía xung phong tự nguyện hiến ghe cho Hợp Tác Xã, như thế là giác ngộ cách mạng sẽ được tuyên dương và ưu đãi…”

Tôi trả lời thẳng thừng: “Tao chẳng cần ai tuyên dương, ưu đãi. Tao chỉ mong yên phận làm ăn với nghề chài lưới như tao với mày đã làm ăn lúc trước.”

Thằng Báo nói câu cuối cùng trước khi ra về: “Lúc này: khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống! Tùy tía suy nghĩ…”

Cái thằng ngày nào có vẻ khờ câm, ít nói. Bây giờ, mới theo “cách mạng” có mấy tháng mà nó nói những câu dạy đời y chang mấy ông cán bộ Việt Minh lão luyện đã dạy tôi cách sống dưới thời “chín năm kháng chiến” ở vùng Liên khu 5.

Ngẫm ra “cái nghề làm cách mạng” cũng dễ học, mà sướng tấm thân. Bao nhiêu năm nay, các cán bộ cộng sản chỉ cần học thuộc năm, bảy câu căn bản, rồi đi truyền bá, vận động cho dân chúng làm, cán bộ cách mạng chỉ huy, nhà nước quản lý. Thế là trong ấm, ngoài êm… Ai chống đối thì chụp cho cái mũ “phản động” cho vào tù. Thế là hết cãi…

Ông Năm nhấp ngụm trà, rồi kể tiếp cuộc “đổi đời” của dân xóm chài sau ngày “giải phóng”:
- Hai ngày sau khi thằng Báo đến nhà vận động tôi xung phong đem ghe hiến cho Hợp Tác Xã, tôi nghe tin ông Tư Râu nhảy lầu tự tử.

Trong xóm chài này, chỉ có nhà ông Tư Râu xây gạch hai tầng. Ông ở nhà mới này hơn một năm, thì quân “giải phóng” vào. Họ “mượn” tạm căn nhà hai tầng - tầng trên dành cho bộ chỉ huy bộ đội biên phòng; tầng dưới làm trụ sở Ủy ban Nhân dân xã. Họ cho vợ chồng ông ta ở căn chái sau bếp. Còn hai chiếc ghe bầu và vựa cá của ông, họ kiểm kê và tịch thu tất. Họ bảo: ông Tư Râu là thành phần tư sản mại bản gộc, ác ôn, bóc lột, ức hiếp dân chài! Nhưng qua chính sách khoan hồng của đảng và nhà nước, chỉ tịch thu tài sản, không bắt vào tù!

Có lẽ ông Tư Râu chưa được ai “đả thông tư tưởng…” nên ức quá! Đêm khuya vắng vẻ, ông lẻn lên lầu hai, nhảy xuống tự tử.

Thằng Út Trọc, hay tin ông Tư Râu tự tử, tối hôm đó nó lén lấy ghe ra khơi, dông luôn…

Thế là “thằng khôn” đã tự tử, “thằng biết” đã dông ra nước ngoài, còn lại “thằng dại” là tôi bị bắt vào trại tù cải tạo một cách lãng xẹt. Chưa chết là may.

Tôi kể ông nghe chuyện họ bắt tôi vào tù như thế này có oan không:

- Sau cái chết của ông Tư Râu và thằng Út Trọc biến mất, chỉ mình tôi là chủ ghe lớn còn bám trụ, nên dân xóm chài xôn xao bàn tán, rồi đến hỏi ý kiến của tôi. Chính quyền nghi tôi có âm mưu sách động dân chài chống lại chủ trương, đường lối của “cách mạng”, nên họ mời tôi ra trụ sở Ủy ban Nhân dân xã, hạch hỏi đủ điều. Cuối cùng họ bảo tôi ký giấy hiến chiếc ghe bầu và vào Hợp Tác Xã. Tôi không chịu ký. Thế là, họ không cho tôi về nhà, đưa thẳng vào trại cải tạo.

Trại này có khoảng ba trăm sĩ quan và viên chức của chế độ cũ. Ngày đầu tiên vào trại, một tên cán bộ dẫn tôi đến gặp tên trưởng trại. Tên này có vẻ hòa nhã với tôi. Mở đầu hắn bảo: “Tôi biết anh không phải là thành phần có nợ máu với nhân dân, cũng không thuộc phần tử phản động, nhưng anh chưa thông suốt đường lối, chính sách của cách mạng, nên chính quyền địa phương gởi anh vào đây để học tập cải tạo tư tưởng, khi nào tiến bộ và thông suốt đường lối chính sách của cách mạng thì chúng tôi cho anh về sum họp với gia đình, làm ăn bình thường và giúp ích cho xã hội.” Tôi hỏi lại hắn: “Vậy, tôi là người tù không có tội?” - “Đừng nói thế, đây là Trại Cải Tạo.”

Hắn trả lời, rồi nói tiếp: “Tạm thời, tôi bố trí cho anh ở cái chòi, gần chuồng dê, tự do đi lại trong khuôn viên của trại. Công việc của anh là chăn mấy chục con dê. Sáng mở cổng cho chúng nó ra ngoài kiếm ăn, chiều lùa chúng vào chuồng. Tối anh ngủ luôn ngoài chòi, không phải vào buồng giam như đám ngụy quân, ngụy quyền. Loài dê khôn lắm, chúng nó sống theo bầy đàn - sáng ra rừng kiếm ăn, tối tự động trở về chuồng - anh chỉ trông chừng, theo dõi con “dê chúa” là con dê đầu đàn, đang ở đâu thì bầy dê ở đó, chứ không phải chăn dắt từng con.”

Chấm dứt cuộc gặp gỡ, hắn nhìn tôi cười đểu: “Mong anh tìm được ‘cái thú’ chăn dê mà an tâm học tập cải tạo.” Hắn bấm chuông gọi tên vệ binh dẫn tôi ra ngoài. Từ hôm đó, tôi bắt đầu nếm trải cuộc sống của người tù cải tạo mà Việt Cộng gọi là “trại viên”.

Chúng nó bắt tôi chăn dê gần ba năm thì thả. Không phải do học tập tiến bộ đâu - có học tập cái khỉ khô gì đâu mà tiến bộ, suốt ngày chỉ có chăn dê! Nhưng nhờ hai cây vàng của bà xã tôi “cúng” cho thằng trưởng trại, qua sự móc nối của thằng Báo.

Tôi được về nhà thì mọi việc đã an bài- coi như mất trắng! Nhớ lời thằng Báo: “Thời buổi này khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống”. Cái “biết” ở đây là “biết không sống nổi” với đám “cô hồn Việt Cộng,” Thế là, tôi tìm cách đưa vợ con “dông” sớm!

Ông Năm ngưng một chút, rồi có vẻ hóm hỉnh, nhìn tôi, nói tiếp:

- Chuyện đói khổ trong tù, chuyện vượt biên nguy hiểm, ông đã trải qua và rành sáu câu… hơn nữa đã có nhiều người nói đến rồi, khỏi kể! Nhưng chuyện chăn dê của tôi trong trại cải tạo rất ly kỳ và hấp dẫn. Nếu ông muốn nghe, tôi sẽ kể. Không hay, không lấy tiền…

Tôi cười, gật đầu! Chờ đợi lắng nghe… Ông Năm bắt đầu:

- Ôi! Cuộc đời “dê chúa”, nó sướng làm sao! Trông nó vừa uy nghi, vừa ngộ nghĩnh và có lắm chuyện ly kỳ…

Nói đến đây thì bà Năm xuất hiện, bưng lên hai tô cháo trắng với đĩa cá nục kho mặn, mời chúng tôi ăn sáng. Ông Năm ngưng ngang câu chuyện “dê chúa” và chuyển đề tài. Ông tỏ ra đạo mạo có vẻ gia trưởng, nói với Bà Năm:

- Cảm ơn bà, chỉ có bà kho cá nục là tôi chịu…

Rồi xoay sang tôi: - Mời ông ăn cháo. Cháo trắng ăn với cá nục kho mặn do bà nhà tôi kho, ông sẽ nhớ đời…

Có lẽ được khen, bà Năm khoái chí đem hết chuyện nhà ra kể, hết chuyện này sang chuyện nọ. Tôi thì nóng lòng, mong bà rút lui, để được nghe tiếp chuyện con “dê chúa”. Nhưng bà nói miết, nào là: “Ngày trước ông Năm dụ dỗ bà đẻ nhiều con để khi ra biển ‘đông có mày, tây có tao’. Bây giờ sang đây, người ta chỉ thuê chung cư một phòng là đủ, nhà bà phải thuê đến ba phòng, trả tiền mệt nghỉ!” Rồi bà than: “Ngày trước bà vá lưới dưới gió mát trăng thanh, sướng hơn bây giờ, ngồi may những lố áo thun.” Cuối cùng bà tiết lộ: “Tháng tới, gia đình bà sẽ dọn xuống Louisiana làm công cho thằng Út Trọc. Thằng Út Trọc mới gọi điện thoại… bảo gia đình bà, xuống dưới đó, nó bao ăn, bao ở, trả lương gấp đôi, gấp ba số tiền ổng đi rửa chén và tôi may vá. Bây giờ nó giàu lắm, có đến hai chiếc tàu đánh cá.”

Bà Năm vừa dứt câu chuyện, cũng là lúc đến giờ tôi đi làm ca chiều. Tôi chào ra về mà lòng cứ tiếc - chưa nghe hết câu chuyện ly kỳ về con “dê chúa”. Một tháng sau, gia đình tôi và gia đình ông giáo Lộc làm bữa tiệc tiễn đưa gia đình ông Năm Đại Lãnh về với biển Louisiana.

Thời gian thấm thoát trôi qua, mười mấy năm sau khi gặp lại, tuy mỗi người một cảnh, nhưng cả ba gia đình chúng tôi đều bằng lòng với cuộc sống hiện tại và cảm thấy hạnh phúc khi những ước mơ đã thành hiện thực.

Vợ ông giáo Lộc tốt nghiệp y tá, được vào làm ở bệnh viện Inova Fairfax Hospital, lương cao. Ông giáo Lộc lấy bằng CPA (Certified Public Accoutants) được sở thuế Liên Bang tuyển dụng. Thằng con trai theo gót mẹ học ngành Y, ra bác sĩ. Cuộc sống coi như thuộc vào tầng lớp trung lưu ở Mỹ.

Còn tôi, sau một thời gian làm cu li, dành dụm ít tiền mở tiệm giặt ủi - kiếm sống được và đủ tiền nuôi hai đứa con ăn học thành tài.

Riêng gia đình ông Năm, có đuợc cơ may, làm ăn khấm khá nhất. Ông Năm thỏa mãn ước mơ trở về với biển và làm giàu rất nhanh. Lúc đầu xuống Louisiana, làm công cho thằng Út Trọc trong hai năm, sau đó ông ra riêng. Nhờ sự giúp đỡ của Út Trọc ông mua được một chiếc tàu đánh cá, hai năm sau mua chiếc thứ hai. Bốn đứa con trai, ngày nào còn là mối âu lo của ông bà Năm, làm sao nuôi nổi bốn đứa con ăn học. Bây giờ, hai đứa con lớn, theo nghề của cha, mỗi đứa trông coi một chiếc tàu đánh cá; thằng con thứ ba tốt nghiệp kỹ sư cơ khí, mở hãng sửa tàu; thằng út học ra bác sĩ.

Trông bốn đứa con của ông bà Năm làm nên sự nghiệp, tôi nghĩ đến chuyện “tứ quý”, “ngũ long”. Ông bà mình ngày xưa thường bảo: vợ chồng đứa nào sinh năm đứa con gái liên tiếp - gọi là ngũ long, hay bốn đứa con trai liên tiếp - gọi là tứ quý thì sẽ làm ăn nên nổi. Nay ở Mỹ mà khuyên con cháu như thế, chắc chúng nó sẽ lắc đầu.

Mùa hè năm rồi, gia đình tôi và gia đình ông giáo Lộc xuống Louisiana dự lễ mừng thượng thọ tám mươi của ông Năm, do các con ông tổ chức rất xôm tụ. Trong tiệc vui, tôi hỏi ông Năm:

- Bây giờ chính quyền Việt Nam không còn coi những người bỏ nước ra là phản quốc nữa mà coi như “khúc ruột ngàn dặm”. Họ còn khuyến khích những người đang ở nước ngoài về thăm quê hương, hoặc đem tiền về đầu tư làm ăn, không làm khó dễ nữa… Vậy ông có tính về thăm quê hương một chuyến “trối già” không?

Ông Năm không “gật!” không “lắc!” Chỉ nói một câu nghe như lạc đề, nhưng ngẫm ra thấy thấm:

- “Khúc ruột ngàn dặm” mới nghe thấy “mùi”, nghe lâu thấy “đểu”, nghe hoài thấy “thúi” vì khúc ruột có thơm bao giở? Vậy chớ vội nghe “những gì Cộng sản nói …”

Ông Năm nói tiếp:

- Bây giờ tôi mới hiểu tại sao trước đây dân ta liều chết bỏ quê hương có “chùm khế ngọt” để tìm đến cái xứ mà mấy ông Việt Cộng thời đó bảo rằng: “cái nước tư bản sắp dãy chết” này.

Tôi cảm thấy, ông Năm vẫn còn ấm ức về sự vừa bị mất của vừa phải đi tù cải tạo mấy năm trời, sau ngày “giải phóng”. Bấy lâu nay, có lẽ nó chìm trong ký ức, bây giờ trổi dậy, khiến ông Năm có những lời cay cú trong tiệc vui.

Để hạ nhiệt, tôi nhắc cái thú chăn dê trong trại cải tạo mà ông đã từng khoe với tôi là rất ly kỳ và hấp dẫn … Tôi bảo:

- Ông còn nợ tôi câu chuyện về con “dê chúa”.

Ông Năm cười khì khì:

- Chuyện đó sẽ kể, khi nào chỉ có hai ta.

Ông Năm vui trở lại với niềm hạnh phúc đang có…

Lê Đức Luận
(Tháng 4- 2025)   

Friday, June 27, 2025

Ông Tư Vé Số


TG Lê Đức Luận (đứng giữa) nhận giải Danh Dự VVNM 2023

***

Từ ngày về hưu, Ông Tư thong thả, nhưng buồn!

Hằng tuần, vào buổi sáng thứ Bảy, sau ngày xổ số Powerball Lottery, ông thường lang thang trong khu Phước Lộc Thọ, mong tìm gặp các bạn già rủ nhau uống ly cà phê, tán gẫu sự đời, bình luận thời sự chính trị … cho qua thì giờ.

Gần mười hai giờ, chia tay các bạn già, ông thả bộ vào một tiệm 7- Eleven gẩn đó mua một tấm vé số Powerball, rồi về nhà ăn trưa.

Nếu chỉ có thế thì không có gì đặc biệt để viết thành một truyện ngắn?

Nhưng ông Tư là một ông già đặc biệt và khác người. Thế mới nên truyện. Xin kể lại cho bà con nghe chơi…

Cái đặc biệt là ông vào tiệm 7- Eleven chỉ để mua vé số. Và chỉ mua độc một vé Powerball thôi! Rồi đi ra khỏi tiệm - không hề nhìn ngang, ngó dọc xem trong tiệm có bán thứ gì.

Cái khác người là dù nắng, mưa, nóng, lạnh thế nào ông cũng khoác chiếc jacket lính rằn ri, đầu đội mũ nồi (beret) màu xanh đậm, mặc quần jean, chân đi dép nhựa, trông không giống ai! Bao nhiêu năm nay ông vẫn mặc như thế khi vào tiệm 7- Eleven. Và như một lịch trình cố định, ông chỉ xuất hiện mỗi tuần một lần vào ngày thứ Bảy, đúng mười hai giờ trưa.

Và nếu chỉ có thế thì cũng không có gì hấp dẫn để viết!

Nhưng câu chuyện trở nên dài dòng bắt đầu từ hai nhân viên đứng bán hàng trong tiệm 7- Eleven.

Tiệm 7- Eleven thường chia ba ca (shift) làm việc trong 24 gìờ, mỗi ca tám tiếng đồng hồ: sáng, chiều và tối. Thịnh và José làm ca sáng - từ 6:00 giờ sáng đến 2:00 giờ chiều. Hai anh thanh niên này cùng lứa tuổi, có hoàn cảnh khiêm tốn giống nhau, nên dễ chơi thân. Thịnh được vào nước Mỹ nhờ theo cha trong diện HO. José, người Mexico được thân nhân bảo lãnh vào nước Mỹ thông qua chương trình di dân. Họ là đôi bạn năng nổ và cầu tiến - sáng làm việc ở 7-Eleven, chiều đi học ở Đại học Cộng đồng (Community College). Cả hai cùng ấp ủ “giấc mơ Mỹ - American dream…”

Tình bạn mỗi ngày thêm gắn bó. Thịnh muốn học tiếng Tây Ban Nha (Spanish), José muốn học thêm tiếng Việt để tạo thêm cảm tình và phục vụ tốt cho khách hàng vì đa số khách hàng ở tiệm này là người Mễ và người Việt. Thế là hai đứa chỉ dạy ngôn ngữ cho nhau….

Một hôm, Ông Tư vào mua vé số như thường lệ. Tiệm có hai cái máy tính tiền, Thịnh một máy, José một máy. Ông Tư sắp hàng chờ trả tiền vé số. Lúc đó tới phiên José bấm máy.

Những lần trước, khi chưa học tiếng Việt, mỗi lần tính tiền, José vui vẻ nói với Ông Tư bằng tiếng Anh: “Hi Mr Tư. Good luck!” (Chào ông Tư. Chúc may mắn!)

Ông Tư đáp ngắn gọn: “I hope! Tôi hy vọng vậy!” Rồi bước ra khỏi tiệm.

Nhưng lần này, sau khi học được một số tiếng Việt, nó muốn thực tập, nên nói: “Hi cô Tư! Chúc may mắn!”

Ông Tư quắc mắt nhìn nó, rồi đổ quạu, quát: “Không được gọi tôi như thế! Hiểu chưa?”

Nghe Ông Tư to tiếng mắng thằng José, Thịnh quay sang hỏi, mới rõ nguồn cơn. Thịnh xoa tay từ tốn, nói với Ông Tư: “Xin lỗi ông Tư, con dạy nó nói tiếng Việt, mới bì bõm mà nó muốn trổ tài. Xin Ông Tư thông cảm, tha lỗi cho nó.”

Chẳng nói năng gì, Ông Tư quay lưng ra khỏi tiệm. Thằng José tỏ vẻ lo lắng!

Nó lo lắng bởi vì chuyện này mà đến tai quản lý, có thể nó mất việc vì cái lỗi: “làm mếch lòng khách hàng!”

Đối với José, tìm được một chân bán hàng trong tiệm 7- Eleven là điều may mắn, là một cái job thơm! Các bạn bè người Mễ của nó làm việc chân tay nặng nhọc, chịu cảnh nắng mưa vất vả mà tiền kiếm được không hơn nó bao nhiêu, lại không có bảo hiểm sức khỏe. Còn nó làm ở đây, tuy lương không cao, nhưng ổn định, vừa đủ sinh sống và chi phí cho việc học hành để thực hiện “giấc mơ Mỹ”.

Trước khi nhận việc, nó qua một tuần huấn luyện và câu châm ngôn “Customer First” (Khách hàng là trên hết) phải thuộc nằm lòng. Cho nên nó cố gắng học tiếng Việt để phục vụ tốt cho khách hàng Việt Nam. Nhưng oái oăm thay, tiếng Việt lắm nhiêu khê đã gây nguồn cơn lo lắng cho nó.

Hiểu được nỗi lo của bạn, Thịnh an ủi:
- Không sao đâu, nếu manager biết được chuyện này cũng thông cảm và biết đâu ổng còn khen mày có tinh thần cầu tiến trong việc tìm cách phục vụ tốt cho khách hàng. Cái lỗi là do tao dạy tiếng Việt cho mày chưa đến nơi đến chốn.

José bày tỏ:
- Thì khi nãy, tao nghe mày nói: “chào cô Tư” - trông bà ta vui ra mặt. Tao tưởng đó là lời chào “làm vui lòng khách”.

Thịnh suy nghĩ, giải thích cho José hiểu được cách xưng hô ở ngôi thứ hai trong tiếng Việt khó quá, nhưng cũng cố gắng giải thích:

- Cách xưng hô ngôi thứ hai của tiếng Việt rất phức tạp, không đơn giản như trong tiếng Anh: già, trẻ, gái, trai đều dùng tiếng “you”. Trong tiếng Việt thì có nhiều tiếng gọi sao cho phù hợp vai vế, giới tính và tuổi tác. Người lớn tuổi thì: ông, bà, chú, bác, cô, dì, anh chị… Người nhỏ tuổi hơn mình thì gọi là em - tiếng “em” dễ dùng nhất trong tiếng Việt, vì không phân biệt giới tính.

Nhưng tao lưu ý mày khi dùng tiếng “em” với những cô gái nhỏ tuổi chưa quen thân để tránh bị mắng hay bị tình nhân của cô ta cho ăn đòn. Mày phải thêm tiếng “cô” vào và nói: “cô em” mới phải phép. Mày hiểu rõ chưa?

Thằng José vừa cười vừa nói:
- Thiệt là điên cái đầu!

Thịnh chỉ thêm:
- Trong tiếng Việt, người ta còn dùng “nickname” để xác định một nhân vật có thói quen hay cá tính, hoặc tướng mạo đặc biệt khi nói về họ với lòng thương mến hay nhạo báng như: “Anh Ba Nhà Thờ”, “Ông Tám Dê”; “Cô Năm Điệu” ...

Thằng José để ý điều này.

Thứ Bảy tuần sau ông Tư trở lại. Khi bấm máy tính tiền và đưa vé số cho ông Tư, thằng José muốn lấy cảm tình, nó áp dụng ngay những điều học được:
- Chào “Ông Tư Vé Số”! Chúc may mắn…

Ông Tư cười vui vẻ, đáp lời:
- Hy vọng như thế!

Lần này ông Tư không tỏ vẻ nghiêm nghị mà nán lại vài phút nói chuyện với José.

Khi ông Tư ra khỏi tiệm, Thịnh nói với José:
- Tao dạy mày, nhưng chưa hết sách. Người ta chỉ dùng nickname khi nói vui với bạn bè cùng lứa tuổi đã có chung những kỷ niệm hoặc nhắc đến cái nickname để dễ nhớ ra một người bạn thân xa nhau lâu ngày. Không nên gọi cái nickname khi nói chuyện trực tiếp với họ. Khi nãy mày nói: “Chào Ông Tư Vé Số” là không phải cách. “Ông Tư Vé Số” được coi là nickname của ông ta. Nhưng khi mày gọi cái nickname ấy, ông tỏ ra vui vẻ. Như thế là ổng khoái cái tên này.

Từ đó, cái tên “Ông Tư Vé Số” được thằng José gọi mỗi khi thấy ông Tư vào tiệm. Và cũng từ đó, ông Tư nói chuyện thân mật với thằng José như đôi bạn vong niên tri kỷ.

Một hôm, thấy ông Tư vui, thằng José gợi chuyện:
- Sao ông Tư cứ mua vé số sau ngày xổ? Nếu đã có người trúng thì số tiền bắt đầu chỉ vài chục triệu, nhưng mua trước khi xổ một vài ngày, số người mua số tăng lên, khi trúng lô độc đắc có thể tăng lên năm, bảy chục triệu.

Ông Tư gật gù:
- Ta hiểu! Nhưng ta mua vé số là mua cái hy vọng - mua sau khi xổ số, ta có bảy ngày hy vọng. Còn mua vé số trước khi xổ một ngày, ta chỉ có 12 giờ hy vọng. Nhà ngươi hiểu ý của ta chưa?

Cả hai cùng cười….

Câu chuyện trên được Thịnh kể lại với gia đình trong bữa cơm chiều. Cha Thịnh ngồi nghe, cười tủm tỉm… rồi kể thêm chuyện đời của “Ông Tư Vé Số”:

- Ông ta mua vé số từ khi tụi bay còn để chởm kìa. Bây giờ ông ta “giả dạng thường dân”, chứ trước năm 1975, ông đã có “một thời vang bóng”- từng là một luật sư nổi tiếng ở Sài Gòn, rồi được bổ làm chánh án nhiều năm ở một tỉnh miền Trung dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa - một ông quan tòa công minh liêm chính được mọi người kính trọng.

Đến tháng Tư năm 1975, chính quyền Miền Nam sụp đổ, ông được chế độ Cộng sản “khoan hồng” nhờ cái phẩm hạnh đó, nên chỉ đưa ông vào trại “tập trung cải tạo” - đốn gỗ, chặt giang, kéo xe trâu trên núi rừng Việt Bắc trong vòng sáu năm - rồi thả cho về nhà.

Sống ở Sài Gòn vài năm, dưới chế độ mới, người ta cai trị bằng “luật rừng”. Ông không chịu nổi trước cảnh bất công, ngang trái… nên năm 1984 ông tìm đường vượt biên và được định cư ở Mỹ.

Sang đây, như con cá ở trong sông, hồ… bây giờ trôi ra đại dương bao la. Ông chới với! Trước đây, ông sống trong nước chỉ áp dụng “luật rừng”, bây giờ sang một xứ có cả một “rừng luật”- không biết đâu mà lần! Ông bỏ ước mơ đi làm thầy kiện! Tức là trở lại nghề luật sư.

Ông tính chuyển nghề - đi làm thợ! Nhưng than ôi! Sức lực đã để lại nơi núi rừng Việt Bắc. Hiện tại, chỉ còn tấm thân già nua, gầy yếu không làm nổi những công việc nặng nhọc khi làm thợ mộc, thợ nề; cũng không kham nổi lối làm việc dây chuyền trong nhà máy.

Những người như ông, người đời gọi là “thứ lỡ thầy lỡ thợ”! Nhưng ông không nản lòng vì đang được thở hít cái không khí tự do trên một xứ sở có nhiều cơ hội.

Một ngày đẹp trời, ông tìm ra cái nghề không có tên trong tự điển là “nghề cắt chỉ” - cắt chỉ trong các shop may - mỗi ngày lãnh được 20 đô la tiền mặt. Đủ để nuôi thân!

Những buổi sáng, đứng đợi xe bus đi đến shop may, trời lạnh căm căm, ông ôm lon guigoz cơm còn chút hơi ấm mà bà vợ mới bới khi sáng, cho đỡ buốt đôi bàn tay.

Lúc đó, ông mơ: “Có được chiếc xe hơi, chạy vèo một mạch đến shop may cho đỡ lạnh cái thân già.”

Nhưng mỗi ngày chỉ kiếm được hai mươi đô la. Trong hai mươi đô la đó phải chi ra nhiều thứ cho con, cho vợ. Vậy thì biết đến bao giờ mới đủ tiền mua được chiếc xe?

Ông nghĩ: “May ra… chỉ khi nào trúng số!”
Thế là từ đó, mỗi tuần ông mua một tấm vé số Powerball.

Một năm trôi qua, tuy chưa trúng số, ông cũng gom góp mua được chiếc xe Toyota Corolla cũ - tuy cũ nhưng bộ phận điều hoà không khí còn tốt - trời lạnh bật “hít” (heat); trời nóng vặn “e” (air conditioning). Ông đi làm thoải mái bằng xe hơi - chẳng ngại nắng, mưa, nóng, lạnh…

Gần hai năm sau, ông xin được việc làm trong sở An sinh Xã hội. Lúc này tiền lương khá hơn, ông cảm thấy ở trong căn chung cư (apartment) chật chội mà mỗi tháng trả tiền thuê quá đắt. Ông mơ đến chuyện mua một căn nhà. Nhưng tiền lương mỗi tháng, sau khi trả tiền thuê nhà và mọi chi phí cho gia đình chỉ còn dư vài trăm đô la. Vậy biết đến bao giờ mới đủ tiền đặt cọc (down payment) để mua một căn nhà? Ông nghĩ: “May ra… chỉ khi nào trúng số!”

Thế là hằng tuần ông ra tiệm 7- Eleven mua một tấm vé số Powwerball. Nhưng bốn năm sau, tuy chưa trúng số, ông vẫn mua được một căn nhà vừa ý: rộng rãi, khang trang… có sân trước, vườn sau nhờ gom góp tiền để dành và tiền của vợ con kiếm được qua công việc làm bồi bàn của con, phụ bếp cho nhà hàng của vợ.

Mỗi buổi chiều đi làm về, ngồi dưới bóng cây mát rượi sau vườn, ông cảm thấy tâm hồn thư thái, bình an… Đã qua rồi những ngày âu lo, cơ cực cho bản thân và gia đình. Ông nghĩ, được như thế này là may mắn cho cuộc đời của một người tị nạn.

Những năm làm việc trong sở An sinh Xã hội, ông tiếp xúc với nhiều người tị nạn có hoàn cảnh khó khăn. Ông hết lòng giúp đỡ họ hoàn tất các thủ tục giấy tờ để sớm nhận được những trợ cấp của chính phủ Hoa Kỳ. Ông xem đây là một cách trả ơn cho đời.

Đối với những người tị nạn Việt Nam mới sang, ông luôn hỏi thăm tình trạng sinh sống của đồng bào mình ở bên nhà. Ông nghe kể những thảm cảnh ở nhà thương công: hai bệnh nhân nằm chung một giường vẫn không đủ chỗ, phải nằm dưới gầm giường hay nằm la liệt ngoài hành lang. Thuốc men, chữa trị thì những người có tiền, có “phong bì bôi trơn” được chiếu cố, còn dân nghèo thì “được chăng hay chớ…”

Ông Tư xúc động! Ông nhớ lại thời thơ ấu, sống trong vùng Liên Khu 5 do Việt Minh kiểm soát. Thuốc tây rất hiếm, khi đau bệnh người ta thường uống thuốc bắc hoặc dùng thuốc nam. Cha ông làm thầy thuốc bắc nổi tiếng. Dân chúng trong vùng gọi là ông Thầy Hai. Nhiều bệnh nhân ở xa đến ở trọ nhà ông, chờ cha ông bắt mạch, hốt thuốc. Còn thân nhân của họ ở tạm trong căn lều ngoài vườn. Họ sắc thuốc cho bệnh nhân uống tại chỗ. Chờ năm ba hôm, có khi cả tuần lễ, khi bệnh tình thuyên giảm mới đem nhau về nhà.

Những sự việc đó đã đi vào ký ức. Khi lớn lên, ông nhủ với lòng mình- khi có quyền thế hay tiền bạc, điều đầu tiên ông sẽ làm là xây nhiều bệnh viện phục vụ dân nghèo.

Khi được định cư ở Mỹ - ngày tháng trôi qua - năm năm, rồi mười năm… cho đến khi tuổi đời đi vào xế bóng mà ông vẫn không có quyền, cũng chẳng có tiền. Niềm ước mơ xây bệnh viện coi như xa vời.

Nhưng ông không nản lòng. Ông vẫn nuôi hy vọng - hy vọng trúng số độc đắc! Thế là ông tiếp tục mua vé số… Ông ước mơ: khi trúng số độc đắc, ông sẽ xây một bệnh viện ngay ở quê nhà - đặt tên là “Bệnh Viện Thầy Hai” để tưởng nhớ người cha kính yêu và cứu giúp bà con trong xã, trong huyện…

Qua tuổi tám mươi, ông Tư vẫn chưa trúng số. Nhưng cái “bệnh tưởng” khiến ông nhiều đêm mất ngủ. Ông nghĩ một mai trúng số mà giao tiền cho bọn quan tham xây bệnh viện thì rách việc. Phải thành lập một ban cố vấn cho việc xây dựng và điều hành bệnh viện bởi những người bạn thân tín có bằng cấp chuyên môn, gồm: một kiến trúc sư, một luật sư, một bác sĩ và một người kế toán có bằng CPA.

Nhiều đêm thao thức, ông đã chọn đủ người. Nhưng rồi lần lượt hay tin ông bác sĩ quy tiên, ông kiến trúc sư mắc bệnh run tay (parkinson), ông luật sư thì mất trí nhớ (bệnh alzheimer), ông kế toán đã về Việt Nam theo bồ nhí. Thế là cái ban “Tham mưu, Cố vấn” coi như rã đám.

Một hôm tình cờ, Ông Tư đọc một truyện ngắn có tựa đề: “Trúng Số Độc Đắc” của nhà văn Tràm Cà Mau. Truyện kể rằng: 

“Vợ chồng nhà nọ mua một tấm vé số. Ngày xổ số chưa đến mà vợ chồng đã bàn tính với nhau sẽ cho bên chồng bao nhiêu, bên vợ bao nhiêu. Chị vợ kê một lô tên sẽ cho bên nhà mình và cắt tên những người bà không ưa bên nhà chồng và bắt anh chồng thề sẽ không cho những người bồ cũ của anh ta một xu. Anh chồng thấy bất công, tỏ vẻ không hài lòng. Thế là hai bên cãi nhau. Chị vợ khóc bù lu bù loa và đem những chuyện ngày xửa ngày xưa ra kể tội anh chồng và đòi ly dị. Anh chồng tức quá ra ngoài hút mấy điếu thuốc mới thấy tỉnh táo, rồi vào nhà nói với vợ: Em muốn ly dị thì OK, nhưng khi ra toà, ông quan tòa hỏi lý do gì mà xin ly dị thì trả lời làm sao cho ổn? Chẳng lẽ khai rằng: vì chia tiền không công bằng trên tấm vé số chưa xổ. Như thế người ta cười cho thối mũi…

Chị vợ ngước lên nhìn chồng, im lặng… và tỏ ra nhũn nhặn. Anh chồng thương hại, cúi xuống lau nước mắt cho vợ. Chị vợ cảm động, thốt lên: Thôi đừng mong trúng số độc đắc nữa!”

Đến đây ông Tư ngưng đọc, lẩm bẩm: “Vớ vẩn! Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng!” Rồi ông nghĩ lại những toan tính của mình đã làm nhiều đêm mất ngủ cũng vớ vẩn không khác gì chuyện hai vợ chồng nhà nọ.

Từ đó, vắng bóng Ông Tư ở tiệm 7- Eleven gần khu Phước Lộc Thọ vào những trưa thứ Bảy. Thịnh và José có ý mong chờ…

Khoảng ba tháng sau, cha của Thịnh cho hay tin: Ông Tư đã vào Viện dưỡng lão. Ông không còn uớc mơ trúng số độc đắc mà chỉ mong khi chết được khoác chiếc áo jacket lính rằn ri và đội cái mũ beret màu xanh đậm mà người bạn tâm giao đã tặng ông, trước khi anh ta đi vào chiến trường An Lộc.

Nếu không có hai câu thơ:

An Lộc địa sử ghi chiến tích/ Biệt Kích Dù vị quốc vong thân”* của một cô giáo trẻ ở Bình Long vinh danh sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù với những trận thư hùng oanh liệt ở Thị xã An Lộc đã được ghi vào Quân sử Việt Nam Cộng Hòa, thì nhiều người sẽ không biết đến địa danh này.

Gần sáu mươi năm trôi qua, người bạn tâm giao đã nằm lại với An Lộc kiêu hùng. Còn ông Tư đã trải qua bao nhiêu thăng trầm trong cuộc sống, ông vẫn giữ chiếc jacket lính rằn ri với cái mũ bê rê màu xanh đậm mà người bạn tâm giao đã tặng. Ông coi đó như là hai kỷ vật thân thương của ông.

Bây giờ, ông chỉ còn một ước mong - khi lìa bỏ nhân gian, đi vào cõi vĩnh hằng, xin người đời nhớ cho hai kỷ vật này được theo ông về với đất…

Lê Đức Luận
(Tháng 4 -2025)

*Cô giáo tên Pha - dạy Tiểu học ở một trường trong thị xã An Lộc.


Friday, March 28, 2025

Người Lau Kính Xe

Nếu ở xa vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, khi có dịp lái xe qua thành phố New York hay vào thủ đô Washington DC lúc tuyết đang rơi lất phất… bạn chớ ngạc nhiên khi dừng xe ở ngã tư đường lúc đèn đỏ thì trông thấy một người, thường là một thanh niên da đen, tay xách bình xịt nước, tay cầm chiếc cần lau kính xe chạy ra cào lia, cào lịa trên kính xe của bạn mà không cần hỏi han gì cả.

Khi mới định cư ở tiểu bang Maryland, tôi được anh bạn đưa đi New York chơi cho biết thành phố lớn nhất ở Hoa Kỳ. Nếu không vững tay lái, người ta sẽ choáng ngợp với luợng xe lưu thông như mắc cửi. Nhưng anh bạn tôi đã đến New York nhiều lần, nên anh ta lái xe rất bình tĩnh và an toàn. Khi xe dừng lại ở ngã tư đèn đỏ, một anh thanh niên da đen vội vã chạy ra lau kính xe như tôi đã mô tả ở trên. Anh bạn tôi ung dung, im lặng để cho người thanh niên ấy lau kính xe… Khi đèn vàng nổi lên, anh bạn tôi hạ cửa kính xe đưa cho anh thanh niên ba đô la. Người thanh niên nói: “Thank you! Thank you!” rồi chạy vội vào lề đường. Xe cộ lại tiếp tục nối đuôi nhau…

Tôi có chút thắc mắc: “Anh lau kính xe cứ tự động lau, không cần hỏi. Anh chủ xe tự động móc ví đưa tiền, cũng chẳng cần hỏi phải trả bao nhiêu.” Tôi định hỏi: “Anh chàng làm công việc này là tự nguyện hay do chính quyền địa phương thuê anh ta cào tuyết trên kính xe cho du khách lái xe được an toàn?” Nhưng phố xá New York có nhiều cảnh lạ mắt để tôi chú ý hơn là nêu lên câu hỏi trong lúc này.

Anh bạn tôi lái xe qua nhiều con đường, đến đèn xanh, đèn đỏ không thấy có người lau kính xe đứng chờ. Nhưng khi đến đoạn đường dẫn vào bãi đậu xe để chuẩn bị xuống phà tham quan tượng Nữ Thần Tự Do, thì lại thấy một ông già có dáng dấp của một người Phi châu nghèo khổ, xách xô nước và cây bàn chải lau kính chạy ra; anh bạn tôi khoát tay ra hiệu không cần. Ông già tiu nghỉu xách xô nước vào lề.

Bây giờ tôi mới nêu câu hỏi. Anh bạn tôi trả lời: “Ở Mỹ thích nhất là được tự do - tự do làm và tự do từ chối - tự do cho mình, nhưng không được xâm phạm tự do của người khác. Tôn trọng tự do và sòng phẳng là một cách cư xử và đạo đức của người Mỹ. Sống lâu trên đất Mỹ ông sẽ thấy nước Mỹ có nhiều cái hay nhưng không thiếu cái dở và lắm chuyện lạ lùng!”

Tuy chưa trả lời trực tiếp câu hỏi của tôi, nhưng anh bạn đã gieo vào đầu tôi ý niệm tự do và sòng phẳng ở Mỹ. Và từ đấy cho mãi sau này, ý niệm tự do và sòng phẳng đã giúp tôi suy nghĩ và hành động phù hợp để hội nhập vào cuộc sống mới một cách thoải mái và cảm thấy hạnh phúc trên quê hương thứ hai này.

Trên đường về, anh bạn mới trả lời cụ thể câu hỏi của tôi:

- Hồi nãy ông hỏi tôi về người lau kính xe là do tự nguyện hay do chính quyền trả lương cho anh ta làm công việc ấy? Đó là tự nguyện của anh ta đấy.

- Trời ơi! Tuyết lạnh mà đứng cả ngày như thế thật khổ thân, ở New York không có việc gì làm đỡ khổ hơn sao? Tôi hỏi.

Anh bạn tôi cười, trả lời:

- Ở Mỹ có những người thích “cái thú đau thương!” Đó là cái “tự do kiểu Mỹ!” Rồi ông sẽ thấy ở Mỹ cũng có ăn mày, có người vô gia cư, lang thang đây đó, ăn ngủ ở đầu đường xó chợ…

- Mỹ được tiếng là nước giàu mạnh nhất thế giới mà cũng có ăn mày, người vô gia cư, cơ cực đến thế sao?

Lạ thật! Tôi tỏ vẻ nghi ngờ.
Anh bạn tôi lặp lại:

- Đó là “cái thú đau thương!” là “cái tự do kiểu Mỹ! Người ta hay ví von rằng: Ở Mỹ chuyện chết đói và làm giàu khó ngang nhau.

Nói vậy không sai lắm đâu, vì ở Mỹ có cơ quan An sinh Xã hội và các tổ chức từ thiện quan tâm đến đời sống của những người cùng khổ. Quận hạt nào cũng có nhà lưu trú cho những kẻ vô gia cư và có những chỗ cung cấp bữa ăn miễn phí. Những công dân Mỹ trên 65 tuổi và những người khuyết tật, không còn khả năng làm việc, đều được cấp tiền an sinh xã hội, đủ sống! Nhưng trong số đó có những người không thích ở trong nhà lưu trú hay viện dưỡng lão. Họ thích cuộc sống tự do, lang thang đây đó… Ngoài ra nghiện ngập khiến họ phải kiếm thêm tiền bằng cách ăn xin.

Rồi anh nói tiếp:

- Như ông đã thấy người thanh niên khi nãy, đứng dưới tuyết lạnh lau kính xe cho người qua lại. Trông thật đáng thương! Với sức vóc đó, anh ta có thể tìm một công việc khác tốt hơn. Nhưng có lẽ anh ta cảm thấy tự do và sòng phẳng trong công việc này - anh ta được an ủi và ấm lòng mỗi khi một người xa lạ hạ kính xe đưa cho anh vài ba đồng tiền lẻ với nụ cười thân thiện, biểu lộ tình người chân thật. Tự do, tình người và sòng phẳng đã khiến anh gắn bó với công việc “lau kính xe” cho đến tận bây giờ.

Mỗi lần lên New York, lái xe qua con đường này, tôi thấy anh ta vẫn đứng ở ngã tư đường, lau kính xe với thao tác lanh lẹ và chuyên nghiệp hơn. Trông anh ta có già đi đôi chút, nhưng ánh mắt vẫn lạc quan và thân thiện với khách lái xe qua đường như ngày nào.

Thời gia trôi qua, chuyện “người lau kính xe” nhạt nhòa trong trí nhớ. Cho đến một ngày, tôi đến California thăm gia đình người em họ, hình ảnh “người lau kính xe” tái xuất hiện, nhưng lại là một ông già Việt Nam, khiến tôi có chút ngỡ ngàng…

Hôm ấy, đứa cháu lên phi trường Los Angeles đón tôi về nhà nó ở Orange County. Xe chạy êm trên đường. Nắng sớm Cali vàng ươm màu hổ phách, chiếu lên những lá cọ cao vút ven đường trông như dát vàng. Ánh nắng ấy làm ấm áp làn da. Tôi cảm thấy khoan khoái. Chỉ ở Cali mới bắt gặp cái nắng đẹp và ấm áp như thế…

Khi đến ngã tư đường Bolsa và Magnolia, đèn đỏ, xe ngừng! Một ông già Việt Nam, trạc tuổi trên bảy mươi, đầu đội bê rê (beret) đỏ, mặc quân phục hoa dù, đeo chiếc cà vạt to bản màu vàng có ba sọc đỏ (biểu tượng lá cờ Việt Nam Cộng Hòa), vai mang bình xịt nước to như bình xịt thuốc trừ sâu, tay cầm cần lau kính, từ trong lề đường bước ra, đến trước xe của con cháu.

Con cháu vội hạ kính xe, nói: “Chào bác Năm, bác khỏe không?” Vừa hỏi nó vừa móc ví trao cho ông già tờ bạc mười đô, rồi nói tiếp: “Xin gởi bác Năm chút tiền. Hôm nay bác khỏi phải lau kính xe cho cháu.”

Ông già cầm tiền bỏ vào chiếc túi nhỏ đeo bên hông, im lặng, thản nhiên xịt nước lên kính xe, rồi vung cần lau… như không nghe thấy lời nói của chủ xe. Khi đèn vàng hiện lên, ông già quay gót, bước chầm chậm vào lề đường, không một lời cảm ơn, cũng không có cái vẫy tay chào!

Khi đoàn xe chuyển bánh, ông già lặng lẽ đứng trên lề đường nhìn theo với ánh mắt hững hờ… Thái độ và cách ăn mặc của ông già là một hiện tượng lạ. Tôi ngỡ ngàng quay lại nhìn ông. Đứa cháu hiểu ý, giải thích:

- Ông già lau kính xe, truớc đây là một “đại gia” nổi tiếng đó bác! Ở đây ai cũng biết ổng. Cách nay vài năm ổng bị bệnh tâm thần nặng. Ông mặc áo nhà sư, đi lang thang đây đó, lúc tụng kinh niệm Phật, lúc ca hát. Ông ca rất hay! Mỗi lần ổng xuất hiện, nhiều người vây quanh nghe ổng hát những bài tình ca rất mùi…

Bây giờ, ổng tỉnh táo hơn, bỏ áo nhà sư, mặc đồ lính, đứng đây lau kính xe… Lúc đầu, khách lái xe qua đường nhìn ông với ánh mắt thờ ơ, có người khoát tay bảo: không cần! Nhưng cũng có người để ông lau kính rồi đưa ông vài ba đồng tiền lẻ. Số tiền gom được, ông gởi đến “Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)” lên đến bạc ngàn và ông thường xuyên đóng góp cho các hội từ thiện số tiền không nhỏ. Từ đấy, tên tuổi ông được nhiều người biết đến.

Hiện nay, những người trong vùng đều biết: Ông lau xe không phải kiếm tiền nuôi thân mà để giúp cho thương phế binh VNCH và những kẻ khốn cùng, nên ai cũng vui vẻ ủng hộ việc làm của ông. Và người ta thêu dệt cuộc đời của ông ly kỳ như trong tiểu thuyết…

Ở chơi nhà người em họ hơn tuần lễ, những lúc anh em ngồi uống trà, tán gẫu… tôi tò mò muốn biết chuyện đời của “ông già lau kính xe” như thế nào mà con cháu nói: “ly kỳ như trong tiểu thuyết”. Và được chú em cho biết:

Ông Khánh nổi tiếng ở vùng này với ba lý do: Thứ nhất là làm giàu rất nhanh; thứ hai có bà vợ đẹp tuyệt trần - nết na hiền thục; thứ ba là đã bỏ nhà cao cửa rộng, sống lang thang đây đó như người vô gia cư.

Những lúc trà dư tửu hậu, hết cãi nhau về chính trị, dân vùng này thường đem chuyện đời của ông Khánh ra bàn tán như ‘mồi nhấm’ đưa hơi nói về ông Khánh. Ông đến Hoa Kỳ, định cư ở Quận Cam này theo diện HO với hai bàn tay trắng như những anh em HO khác. Nhưng chỉ ba, bốn năm sau trở thành triệu phú - không phải do trúng số độc đắc, mà từ sức cần lao và cái đầu thông minh của ông ta.

Bước đầu ông đi sửa chữa nhà cửa cho dân cư trong vùng - cái nghề học được khi làm trong “Đội mộc”ở trại cải tạo Tân Lập, Vĩnh Phú. Ông làm rất khéo tay, nên được nhiều người gọi, kiếm được khá tiền. Sau đó, vay thêm tiền ngân hàng, ông mua những căn nhà cũ rồi sửa lại, bán kiếm lời! Mua căn nhà cũ dưới vài trăm ngàn, khi sửa sang xong, bán ra trên hai trăm năm chục ngàn. Cứ thế tiến lên! Ông có đến bốn, năm căn nhà đã tân trang, chờ bán! May mắn là lúc đó nhà ở Cali lên giá chóng mặt… Vậy là ông trở thành triệu phú!

Nhưng thói đời ‘phú quý sinh lễ nghĩa’ và sinh tật ‘ăn chơi’. Một lần theo đám bạn bè lên Las Vegas chơi, ông bị người phụ nữ chia bài mồi chài, hay bỏ “bùa mê thuốc lú” thế nào khiến ông si mê… Rồi hằng tuần ông lên với người tình ở Las Vegas, bỏ bê vợ con và công việc làm ăn.

Người vợ mẫu mực, đảm đang khám phá sự phản bội của chồng, bà uất đến nỗi phát cuồng, có mấy lần ngất xỉu phải đưa đi nhà thương cấp cứu. Từ đó bà tịnh khẩu!

Tình cảnh của vợ khiến ông thức tỉnh. Ông quay về với gia đình, sám hối tội lỗi với vợ con. Ông hết lời năn nỉ vợ con xin tha thứ… Nhưng bà tịnh khẩu và mỗi khi thấy mặt ông, bà lại lên cơn ngất xỉu. Mấy đứa con bây giờ cũng lạnh nhạt với ông và nói những câu phũ phàng: “Ba đi đi, đừng về làm khổ mẹ!”

Ông nghe như đất trời sụp đổ! Ngày nào những đứa con gần gũi, thân mật, yêu thương ông… Chúng nó là nguồn an ủi của đời ông. Bây giờ chúng nó nhìn ông với ánh mắt lạnh lùng và nói những lời xua đuổi, bất kính...

Ông thấy đau nhói trong tim! Ông bỏ nhà ra đi không mang theo bất cứ thứ gì. Rồi một ngày, ông xuống tóc vào chùa xin tu, nương nhờ cửa Phật! Ông hy vọng chốn thiền môn, sớm chiều tụng kinh, niệm Phật và sám hối sẽ làm vơi bớt nỗi khổ đau.

Ngày xưa, những người có sự giác ngộ tâm linh, nghiệp duyên, hay do ảnh hưởng từ gia đình hoặc môi trường chung quanh thì vào chùa tu từ nhỏ. Bây giờ người ta thấy: thất tình đi tu, thất chí đi tu, hận đời đi tu; thậm chí có người đi tu như tìm một nghề thanh nhàn, đó là cái “nghề tu”!

Ông Khánh đi tu không thuộc vào các dạng nêu trên. Ông vào chùa xin tu với hy vọng chốn thiền môn sẽ làm vơi nỗi đau khổ đang giày xéo tâm hồn ông. Nhưng vào chùa tu một thời gian, không biết hoàn cảnh thế nào khiến ông phát khùng… Ông bỏ chùa, đi hát dạo!

Khi biết ông vào chùa đi tu, rồi bỏ chùa, lang thang đi hát dạo… bà vợ xúc động! Bao kỷ niệm của cuộc tình thơ mộng thuở ban đầu và những ngày hạnh phúc bên nhau trong đời sống vợ chồng, lúc hiển vinh cũng như khi nguy khốn, hai tâm hồn đã gắn bó cùng chia xẻ cay đắng ngọt bùi trong mấy mươi năm qua, trổi dậy trong lòng bà…

Bà rưng rưng gọi mấy đứa con vào, bảo: “Các con đi tìm ba, đưa ba về đây, mẹ sẽ tha thứ cho ba tất cả, các con cũng thế… Để ba các con lang thang như thế, tội nghiệp lắm!”

Nhưng lúc này, ông Khánh mang bịnh trầm cảm nặng, ông nhập bọn với những người homeless, trốn tránh những người quen thân. Bao nhiêu lần, các con tìm gặp, năn nỉ ông về nhà, nhưng ông im lặng. Bà viết nhiều lá thư tỏ hết nỗi lòng thuơng nhớ và sẽ bỏ qua hết mọi chuyện… rồi bảo các con đem trao cho ông, nhưng không làm lòng ông rung động.

Cho đến một ngày, người ta thấy ông bỏ áo nhà sư, mặc quân phục nhảy dù, đứng ở ngã tư đường, lau kính xe.

Vốn là bạn cùng khóa ở trường Võ bị Đà Lạt với ông Khánh, nên chú em kể cho nghe thêm cuộc đời thăng trần của ông trước và sau năm 1975.

Chuyện tình duyên đến với ông đơn giản nhưng thật đẹp. Ông gặp Thoa trong buổi trao tặng vòng hoa cho các chiến sĩ xuất sắc của Sư đoàn Dù ở vườn Tao Đàn, Sài Gòn. Hôm ấy, nắng xuân ấm áp, người tham dự rất đông. Trên khán đài gồm các quan chức, dưới sân dân chúng sắp hàng ngay ngắn cùng các nữ sinh Trưng Vương tay cầm vòng hoa, xếp hàng dọc trước khán đài. Trong các nữ sinh có mặt hôm ấy, Thoa là người xinh đẹp duyên dáng nhất.

Khi ban quân nhạc trổi lên một bản hùng ca, các chiến sĩ Dù xuất sắc bước đều ra vị trí hành lễ. Như duyên số an bài, chàng Trung úy trẻ được xếp đứng trước mặt người đẹp tên Thoa, chờ nàng khoác vòng hoa lên cổ. Khi ấy, bốn mắt nhìn nhau như có luồn điện giao thoa giữa hai tâm hồn. Nàng nhìn bảng tên trên túi áo, lí nhí: “Hân hạnh được choàng vòng hoa cho anh Khánh…” Nhìn bảng tên đeo bên ngực trái của Thoa, anh Trung úy trẻ, đẹp trai đáp lời: “Cảm ơn Thoa, ước gì được gặp lại…” Nàng gật đầu!

Thế là có những cuộc hẹn hò, thề ước. Và chỉ một năm họ làm đám cưới theo kiểu nhà binh. Có lẽ nhờ cái tướng “vượng phu ích tử” của vợ mà đường binh nghiệp của Khánh lên như diều. Ra trường Võ Bị, chọn binh chủng Nhảy Dù, chức vụ đầu tiên là Trung đội trưởng; khi cưới Thoa, Khánh đang làm Đại đội trưởng, ba năm sau lên chức Tiểu đoàn trưởng. Hai lần gắn lon thăng cấp đặc cách tại mặt trận và từ Trung úy lên Thiếu tá chỉ vòng bốn năm. Trong khi các bạn cùng khóa còn đeo lon Trung úy hay mới lên Đại úy.

Đến tháng 4 năm1975, đời ông rơi tận đáy! Bị giam cầm, đày đọa, nhưng nhờ người vợ tháo vát, đảm đang tần tảo nuôi con, tiếp tế cho chồng ròng rã mười hai năm. Ngày được thả về với gia đình, vợ con nguyên vẹn và đã dành cho ông tất cả yêu thương cho đến khi thoát khỏi chế độ tàn bạo ở Việt Nam, làm lại cuộc đời trên đất khách.

Nghe qua câu chuyện, tôi muốn gặp mặt con người đặc biệt này. Và một buổi chiều cuối tuần, chú em dẫn tôi đi qua các hẻm nhỏ, nơi có những người homeless thường ngồi lại với nhau. Vừa thoáng thấy chúng tôi, ông già cúi xuống che mặt, nhưng chú em tinh mắt chạy đến ôm vai ông, nói: “Khánh, cậu làm sao ra nông nỗi này?” Ông già im lặng! Chú em nói đủ thứ chuyện, rất thiết tha! Nhưng ông già không tỏ vẻ gì xúc động, vẫn im lặng!

Ngồi với nhau gần nửa giờ, ông già không nói lời nào. Trước khi chia tay, chú em bảo: “Khánh à, cậu nên về với gia đình. Thoa và các cháu nhớ thương cậu, mong đợi cậu về.” Bấy giờ ông già rưng rưng, nói: “Ở đây, ngày ngày tớ lau kính xe, coi như cạo bớt lớp bụi tội lỗi đã bám lên cuộc đời tớ… khi nào cạo sạch, tớ sẽ về.”

Chúng tôi chào từ giã ông già. Chú em thở dài, nói: "Cuộc đời dâu bể, vô thường! Không ai biết được ngày mai sẽ ra sao!

Lê Đức Luận

Blog Archive