Showing posts with label Phạm Lưu Vũ. Show all posts
Showing posts with label Phạm Lưu Vũ. Show all posts

Friday, January 18, 2019

Quả báo


Phạm Lưu Vũ
Ông Hai Nhột hưu, bắt đầu sống đời sống của một con chuột. Mặc dù ẩn mình trong những biệt thự xa hoa, di chuyển trong những chiếc xe hơi đắt tiền, trước nhà vẫn có bốt gác, xung quanh vẫn có lâu la… nhưng vẫn là chui nhủi kiếp sống của một con chuột. So với trước kia, ông là con bò rống giữa hội nghị, là con rắn phì khói trước con mồi, là ông trời con trong một vùng lãnh thổ, là gã nai giả vờ ngơ ngác… thì bây giờ, dấu vết của một thời quyền lực và vơ vét đã khiến ông trở thành con chuột, còn không bằng con chuột, bởi con chuột vẫn có quyền yên ổn ở trong hang của nó.

Tài sản khổng lồ đã biến thành những ngôi mả chướng, chôn sống ông từng ngày, từng giờ… Oán hờn chồng chất đã biến khí trời thành độc dược, biến ánh sáng thành kim châm, biến bóng đêm thành hầm lửa… Người người nguyền rủa, đời đời nguyền rủa. Nó kết tinh thành gió chướng, thành siêu côn trùng, thành ám khí, nhỏ hơn hạt bụi, nhẹ tựa hư không. Nó luồn qua hàng rào, chui qua tường vách, xuyên qua cửa kính dày… Nó bám riết lấy ông, ngày cũng như đêm, lúc ăn cũng như lúc ngủ… Không gì cản nổi nó, trốn trời có thể khỏi nắng nhưng không thể trốn khỏi lời nguyền.

Nó khiến ông khốn khổ, tâm thần lúc nào cũng hoảng hốt như sắp có đại tang, mình mẩy suốt ngày ngứa mà không biết gãi chỗ nào, rát mà không biết rát từ đâu, toàn thân hầm hập như phải bỏng mà sờ vào lạnh ngắt như chạm phải tử thi. Sắc diện ông còn quái lạ hơn nữa, ngày mấy lần thay đổi, một bước đi là một bước chuyển màu. Ra ánh sáng thì xanh lét như tượng đồng, vào chỗ tối thì trắng bệch như ma trơi… kinh không thể tả.

Bác sĩ giỏi nhất nhì thành phố được triệu đến, thù lao bằng cả một gia tài được đưa ra, với những trang bị khảo nghiệm tối tân, có thể nom rõ vũ điệu của bầy vi khuẩn gây chứng hắt hơi, hay phát hiện mùi hôi của loài tiểu trùng gây bệnh thổ tả… thì cũng chịu, không lần nổi dấu vết của loài tinh linh sinh ra từ nguyền rủa, nhỏ hơn hạt bụi, nhẹ tựa hư không kia. Cơ thể vẫn bình thường, tóm lại là y học bó tay, nghĩa là không bệnh tật gì.

Các thái tử, thái tôn, công tằng, tôn nữ… họ hàng nhà Hai Nhột cuống cuồng nghĩ tới tiên sinh Quách Tử bên Chợ Lớn. Phải cầu đến ông thầy này thôi. Quách Tử gốc ba Tàu, huyết thống ba Tàu, vốn là lão nhân gia đoán vận hạng trong gia đình Hai Nhột. Nhân duyên mèo mả gà đồng kết giao từ hồi xem tướng cho ông Hai, bấy giờ mới là một thằng thợ tiện. Quách Tử bảo toàn quý tướng, nhất điểu nhãn, nhì thổ nhĩ, tam ngưu tị, tứ thiệt lang. Tướng này phú quý không để đâu cho hết. Vốn từng có người nhận xét tướng mình tiểu nhân đểu giả, cho nên gã thợ tiện tưởng lão thầy tướng nói đểu mình. Ai dè cơ trời xoay chuyển, váng sữa đổi màu, Hai Nhột cứ theo nước mà trôi, theo thuyền mà nổi, ngoài thì uốn lượn như con công, trong thì rình mò như con cú.

Thế rồi hoạn lộ hanh thông, phú quý nối đuôi nhau, tuần tự mà đến. Đường ăn thì từ chỗ đáng mười chỉ ăn có một mà vẫn còn phải lo, đến chỗ đáng mười mà ăn cả trăm, cả ngàn vẫn chả phải sợ thằng nào. Đường nói thì từ chỗ biết mười chỉ nói có một cũng chưa chắc có ai thèm nghe, đến chỗ biết mười mà nói đến trăm vạn cũng chẳng ai dám cãi… 

Lão ba Tàu họ Quách quả nhiên xem tướng như thần, từ khi Hai Nhột bắt đầu chui vào hàng quan tước, thì họ Quách đã trở thành lão nhân gia bọc mệnh cho gia tộc nhà Hai Nhột.

Quách Chợ Lớn được thỉnh đến, chứng kiến nỗi hoảng hốt và diện mạo quái dị của Hai Nhột thì cũng hết sức kinh ngạc, biết việc này tất không phải do bệnh tật hay khí huyết… gây ra, bèn vận công phu để truy tìm thủ phạm. Nguyên lúc này, Quách lão gia nhân đã luyện thành thục bốn món công phu, y chỉ trên bốn địa nghiệp căn bản của lão. 

Món thứ nhất gọi là “địa mục”, mắt có thể nhìn thấy ma quỷ, bất cứ hạng nào… món thứ hai gọi là “đế thính”, tai có thể nghe được ý nghĩ, từ người, súc sinh, ngạ quỷ cho đến địa ngục… món thứ ba gọi là “cẩu tị”, mũi có thể ngửi mùi bổng lộc, phân biệt tuổi vàng, thau… món thứ tư gọi là “thiệt xà”, lưỡi có thể phóng ra, nếm vị thức ăn trên bàn tiệc ở cách xa trăm dặm… 

Với bốn món công phu ấy thì không loài yêu tinh, quỷ quái nào có thể che giấu được lai lịch. Nhưng lần này thì họ Quách bất lực, vận hết công phu, ngửi đủ mười phương, nếm từ xa tới gần… vẫn tuyệt không thấy bóng dáng hay mùi vị… của loài ma quỷ nào đang quấy phá Hai Nhột. 
Bất lực nhưng không bó tay, bởi họ Quách biết rằng nếu không phải do ma quỷ, gọi là chúng dị phần, là những oan gia trái chủ đã mạng chung gây ra, thì chắc chắn phải do oán khí của những người còn đang sống, gọi là chúng đồng phận kết thành. Chuyện này tất phải dùng đến món bảo bối gọi là “thi khí” của nhà họ Quách truyền lại. Quách lão gia nhân nghĩ vậy rồi bảo Hai Nhột cùng đám con cháu, lâu la hãy chờ, y tất sẽ có cách chữa trị.

Nguyên tổ của Quách Tử ngày trước là người không cha không mẹ nên vào làm con nuôi nhà họ Quách. Bấy giờ vào thời Xuân Thu, tổ họ Quách là Quách Yển nổi tiếng giỏi về thuật bói toán, có hai quyển sách quý, một quyển là “thiên hoãn thư”, dạy phép thỉnh tiên về để đàm đạo, một quyển là “địa khấu thư”, dạy phép gọi quỷ tới để chỉ đường. Quách Yển cất trong một chiếc hòm kín, cẩn thận để quyển thiên hoãn xuống dưới, quyển địa khấu đè lên trên. 

Tổ của Quách Tử rình biết vị trí của chiếc hòm, bèn lấy trộm quyển ở trên, tức là quyển địa khấu rồi trốn khỏi nhà họ Quách. Sách địa khấu được truyền ra bên ngoài, từ đó người Tàu mới học được từ cách gọi ma, vấn quỷ… cho đến cướp ruộng, cướp đất, cướp lãnh thổ... Truyền đến Quách Tử là đời thứ 99. Quách Tử cũng từng đem thuật cướp đất trong sách này ra dạy cho Hai Nhột. Món bảo bối “thi khí” cũng chép trong sách ấy. Quách Tử trở về nhà bắt tay vào chế bảo bối để Hai Nhột mỏi mòn trông đợi, suốt ngày giam mình trong bốn bức tường, không dám thò mặt ra ngoài vì sợ thiên hạ nom thấy cái tướng ma tươi quỷ sống của mình.

Mấy tháng sau mới luyện xong “thi khí”. Quách tiên sinh gọi một đệ tử ở tên là Tạ Di Hầu, sai mang đến dinh Hai Nhột. Nói “dinh” là chỉ chỗ ở, còn “phủ” là chỉ chỗ ngồi, bây giờ chỗ đó đã có người khác ngồi, thực ra hai chữ này dùng đảo lộn nhau, thế nào cũng được. Hai Nhột mở hộp đựng “bảo bối” ra, chỉ thấy bên trong một bộ đồ vàng xỉn, nom vừa xấu xí vừa tởm không thể tả. Nhưng “bảo bối” của lão nhân gia thì không thể xem thường, bèn mặc thử xem sao. Món “thi khí” quả nhiên kỳ diệu, chỉ một lát sau, thần sắc Hai Nhột trở lại hồng hào, bao nhiêu nỗi ngứa ngáy, hoảng hốt, bứt rứt… tiêu tan bằng hết, Hai Nhột mừng lắm, thưởng ngay cho Tạ Di Hầu một món lớn, dặn chuyển lời về tạ ơn họ Quách.

Di Hầu mừng rỡ, trở về đem kết quả báo cáo với sư phụ. Quách tiên sinh lẳng lặng không nói gì.

Hai Nhột lại bắt đầu xuất hiện, dự các buổi tiệc tùng, nhận huy chương… Ngờ đâu bảo bối chế bằng “thi khí” của Quách tiên sinh chỉ là vật dùng có thời hạn. Được khoảng ba tháng thì bắt đầu mủn ra, rơi rụng lả tả, chứng cũ lại tái phát, hở chỗ nào mụn đỏ mọc chỗ đấy, ngứa ngáy không chịu nổi, da dẻ lại đổi màu, gãi thì nước vàng chảy ra, tanh hôi không thể tả. Mấy công tử nhà Hai Nhột tức tốc sai người tìm đến Quách tiên sinh. Họ Quách chừng như cũng đoán trước việc ấy, bèn lấy ngay cái hộp đựng bộ “thi khí” khác đã chuẩn bị sẵn, lần này thì đích thân họ Quách mang đi, dắt theo Tạ Di Hầu.

Thầy trò đến trước dinh Hai Nhột, nhìn lên mà rợn người. Tòa lâu đài mới hôm nào bề thế, mà nay lá úa, hoa tàn, tường vách tróc lở, cánh cổng rỉ sét như đã bỏ hoang hàng trăm năm. Lúc nào cũng có hàng chục người thợ làm quần quật, sơn sửa lại từ đầu này đến đầu kia, sơn đến chỗ cuối thì chỗ chỗ đầu lại lở… cứ thế mà không hiểu tại sao. 

Riêng Quách tiên sinh có lẽ biết việc này, bèn vận “địa mục” lên nom kỹ, bỗng rùng mình thấy đám một côn trùng nhỏ hơn hạt bụi, rộng bằng manh chiếu lúc cuộn lại, lúc mở ra… Mắt thường nhìn như hư không, nhưng địa mục thì nhìn thấy rõ, như một làn khói xanh, uốn lượn dưới ánh sáng mặt trời, múa những điệu múa kinh hồn rồi bay vụt vào bên trong dinh, xuyên qua tường đặc, qua cả thép dày cứ như không khí. Quách tiên sinh biết đây là do những oán khí kết thành khói xanh, những nguyền rủa cuốn thành điệu múa, những căm hờn biến thành cơn lốc… đẩy nó đi, tìm đến đúng cái nơi cần phải báo. Đó là thân xác và hồn vía của Hai Nhột.

Hai Nhột vồ lấy bảo bối từ tay Quách tiên sinh, vội vã mặc ngay vào. Chờ cho nó phát huy tác dụng, người ngợm yên ổn rồi mới hớn hở tạ ơn mà hỏi:

“Tiên sinh, bảo bối gì mà nó… chóng hư thế?”

Quách tiên sinh không có ý trả lời, đang mải đảo mắt nhìn quanh căn phòng khách. Vẻ lộng lẫy trước kia thì vẫn thế, nhưng nét bóng lộn, sang trọng thì không thấy đâu nữa. Sàn nhà đổi một màu xám xịt, bàn ghế mốc meo, vẫn còn những dấu vết lau không xuể. Đôi mắt Quách tiên sinh dừng lại ở lọ hoa, những bông hoa nom nhợt nhạt, đồng loạt gục hết cả xuống. Hai Nhột cất tiếng hỏi tiếp:

“Lạ lắm tiên sinh ạ. Từ hôm đó đến nay, nhà này hoa vừa cắm đã héo, bàn ghế vừa lau đã mốc, trần nhà vừa sơn xong đã lở… là cớ làm sao?” 
Quách Tử ngửa mặt nhìn lên trần nhà loang lổ. Bỗng rùng mình một cái nữa. Trên đó có bóng một con quỷ đang múa may, uốn lượn, y hệt vũ điệu của đám côn trùng ban nãy ở ngoài cổng. Cái bóng phình ra, thu lại, lúc to, lúc nhỏ, điệu nhảy khi hoãn, khi cấp… khiến Quách Tử chịu không rõ đó là loại quỷ gì. 

Quách Tử lại phải vận món “cẩu tị” của mình lên, ngửi thấy mùi hăng như cứt gà, lại phóng “thiệt xà” ra nếm thử, thấy vị cay như đít cà cuống, đích thị là loài quỷ Dạ Xoa, do những oan gia trái chủ đã mạng chung, vốn vất vưởng mờ mịt ở ngoài biển Đông, nay tìm về để báo oán. Hai Nhột tuy chưa cảm thấy gì, song tâm thần đã bắt đầu hoảng hốt. Biết trước câu hỏi của Hai Nhột còn chưa kịp thốt ra, Quách tiên sinh đã đánh trống lảng mà bảo một câu lửng lơ hơi có chỗ khó hiểu:

“Của bền tại người, người lành tại phước… Ngài hãy tích cực đi lễ chùa để cầu thêm phước báo. Từ nay nếu ngài ăn chay được thì tốt, nhưng hãy tránh những vị cay…” Hai Nhột tất nhiên nghe lời rồi hậu tạ cho thầy trò Quách Tử. 

Về đến nhà rồi, đồ đệ Tạ Di Hầu mới rụt rè thắc mắc:
“Thưa sư phụ, tại sao dinh ông Hai lại tàn tạ nhanh thế? Mới có mấy tháng trời?”

Quách Tử ghé vào tai Di Hầu nói nhỏ:
“Tại cái món “thi khí” ấy đấy”.

Di Hầu trợn mắt kinh ngạc. Chưa kịp hỏi tiếp thì sư phụ lại bảo:
“Ta cũng không giấu mãi nhà ngươi, bởi sắp có việc phải giao cho ngươi đây. Cái gọi là “bảo bối” ấy chẳng qua là những quần áo, vải vóc liệm cho tử thi, đến khi bốc mả, người ta quăng ở ngoài nghĩa địa, ta bí mật nhặt về, giặt giũ rồi chọn những tấm còn lành lặn, may thành quần áo cho Hai Nhột, gọi là “thi khí”…”

Di Hầu lè lưỡi kinh tởm. Lại nhanh nhảu hỏi tiếp:
“Thế tại sao nó ngăn được chứng bệnh ngứa ngáy, đổi màu da của ông ta?”

Quách Tử giảng giải:
“Bí mật ấy có chép trong sách “địa khấu” do Tổ của ta truyền lại. 

Nguyên chứng bệnh ấy là những oán khí, nguyền rủa… của người đang sống, gọi là “chúng đồng phận” kết thành. Nó nhỏ hơn hạt bụi, nhẹ tựa hư không, uốn lượn như đám côn trùng, nó xuyên qua tường vách, chui vào da thịt… không gì ngăn nổi. Nhưng nó rất kỵ những thứ liệm cho người chết, chôn ở dưới đất ba năm trở lên…” 

Tạ Di Hầu nghe ra, xem chừng đã hiểu. Quách Tử bảo tiếp:
“Ở trong này thường chôn người chết một lần, gọi là hung táng nên không có tục bốc mả. Cho nên người phải ra ngoài Bắc, chờ đến mùa bốc mả, tìm đến các nghĩa địa để thu nhặt “thi khí” về đây. Thứ ấy sẽ còn phải dùng đến rất nhiều.”

Di Hầu vâng lời sư phụ, từ đó cứ đến cuối năm lại nhảy tàu ra Bắc, ngược xuôi như con thoi, “thi khí” đem về chất đống trong kho. Hai Nhột dùng hỏng bộ này, lại có ngay bộ khác thay thế, thầy trò Quách Tử được dịp tha hồ móc vào cái túi không bao giờ cạn của gia tộc nhà Hai Nhột. 

Mọi chuyện trôi đi, có chuyện nổi lên, có việc chìm xuồng… Hai Nhột bên trong bọc “thi khí”, bên ngoài khoác complet, mặt mày tươi tỉnh, da dẻ hồng hào đi chùa lễ Phật cầu gia tăng thêm phước, dự hội nghị truyền thống nọ kia… đến nỗi quên béng lời dặn của Quách Tử. Một hôm trong bữa tiệc sơn hào hải vị, có món đỉa biển nom rất hấp dẫn, Hai Nhột vừa gắp đưa lên miệng, thì nó đã chui tọt xuống dạ dày, chỉ kịp cảm thấy có vị hơi cay cay, mới giật mình nhớ lại lời dặn của Quách Tử thì không kịp nữa rồi.

Ở cách xa trăm dặm, Quách Tử vẫn để ý chuyện tiệc tùng của Hai Nhột, bèn vận “thiệt xà”, phóng lưỡi nếm suốt bàn tiệc, phát hiện có món đỉa cay ấy, chưa kịp lưu ý thì Hai Nhột đã nuốt gọn rồi. Âu cũng là cái “số” nó thế. Quách Tử lập tức gọi Tạ Di Hầu đến, ra lệnh gói ghém tiền bạc, tư trang… để hai thầy trò bỏ trốn ngay tức khắc. Di Hầu hết sức kinh sợ bèn hỏi lại, Quách Tử bảo:

“Tại người không biết đó thôi. Món “thi khí” của ta chỉ ngăn được “chúng đồng phận”, tức là món nợ của những người đang sống. Còn những oan gia trái chủ, tức là món nợ của những kẻ đã chết, gọi là “chúng dị phần” đã kết thành quỷ Dạ Xoa, lúc nào cũng bám theo ngài, nay nó đã chui vào trong bụng ngài, biến thành khối u thì ta không chữa nổi đâu. Bấy giờ thế nào ngài cũng tìm đến đây thì ta biết ăn nói như thế nào?”

Di Hầu nghe ra nhưng vẫn còn thắc mắc:
“Thế sao bọn Dạ Xoa không đột nhập vào người ngài như bọn “chúng đồng phận” kia?”

Quách Tử bảo:
“Bọn “chúng đồng phận” tuy lúc nào cũng xâm nhập được, song nó chỉ gây ra tai vạ ở ngoài da. Còn bọn quỷ Dạ Xoa thì chúng phải chui vào tận ruột gan phèo phổi… mà đòi mạng từ trong ra. Ta đã biết mùi của chúng hăng như cứt gà, vị của chúng cay như đít cà cuống, lại biết chúng phải có đủ “duyên” thì mới đột nhập được, nên đã dặn ngài phải tránh món cay. Ai dè hôm nay ngài nuốt phải món ấy, nó đã nhân đó mà nương theo để chui vào trong bụng rồi…” 
Thầy trò Quách Tử trốn biệt. Quả nhiên mấy hôm sau, trong bụng Hai Nhột nổi lên một cục u. Người nhà Hai Nhột tức tốc tìm đến Chợ Lớn thì chỉ còn bóng chim tăm cá. Mấy tháng sau từ bệnh viện phát đi cáo phó: “Mặc dù được các giáo sư, bác sĩ tận tình cứu chữa, tuy tuổi chưa cao bằng ai đó mới chết, song bệnh quá hiểm nghèo…” nên ngài đã ra đi…

Đợi tang lễ xong xuôi mấy tháng, thầy trò Quách Tử mới dám mò về. Người nhà Hai Nhột nghe tin mừng rỡ, lập tức sai người đến mời. Thấy Quách Tử nhận lời sửa soạn đi, Tạ Di Hầu can:

“Sư phụ há không sợ nhà ấy giận mình, vì vụ bỏ trốn vừa rồi hay sao?”

Quách tiên sinh ung dung trả lời:
“Ta chỉ sợ căn bệnh không thể chữa được, cho nên mới phải bỏ trốn. Chứ căn bệnh đã có “bảo bối”, người ta tất sẽ cầu đến mình, thì ta đâu phải sợ làm gì.”

Quả nhiên người nhà Hai Nhột không hề đả động gì đến chuyện mất tích của thầy trò Quách Tử, mà lại đem một việc nghiêm trọng khác ra cầu cứu. Ấy là suốt mấy tháng nay, ngày nào gia đình cũng làm một mâm cơm cúng thịnh soạn, sơn hào hải vị mùi thơm ngào ngạt dâng lên bàn thờ, vậy mà đêm nào Hai Nhột cũng hiện về báo mộng, không vào anh trưởng thì anh thứ, cứ một mực kêu la, đói khát không thể chịu nổi. Không hiểu nguyên cớ ra sao và bây giờ phải làm thế nào?

Quách Tử nghe kể xong, ra vẻ người đã biết từ trước, thong thả phán ngay:

“Cụ nhà bị đói khát là phải thôi. Người sống ăn bằng cách cắn xé, nhai, nuốt… gọi là “đoạn thực”, người chết ăn bằng cách ngửi hương, gọi là “hương thực”. Nghiệp nhẹ ngửi được hương thơm, nghiệp nặng chỉ ngửi được mùi thối. Chuyện đã như vậy, thì tức là nghiệp của ông cụ nhà ta nặng lắm, không hưởng được mùi thức ăn còn nóng sốt đâu. Nên để thiu rồi hãy cúng thì cụ nhà ta mới hưởng được”.

Người nhà Hai Nhột nghe lời, nhất nhất làm theo, cứ để thức ăn thiu hẳn rồi mới đem cúng. Quả nhiên từ đó hết chuyện báo mộng. Lại đem một mâm vàng ra tạ Quách Tử, mời làm thầy bọc mệnh cho gia tộc của mình. Quách Tử nhận lời đem vàng về nhà, chia phần cho Di Hầu. Thầy trò bàn nhau tìm cách mở một xưởng lớn, chế ra thật nhiều “thi khí”, phòng khi có người phải dùng đến, tha hồ thu lợi.

Cũng chả cần phải đợi lâu. Câu chuyện về “thi khí” chữa căn bệnh chảy nước vàng, đổi màu da… của Hai Nhột chẳng hiểu sao đã loang ra khắp nước. Từ đó có khối người tìm đến đặt hàng, xưởng “thi khí” của thầy trò Quách Tử phát đạt lên trông thấy.-

xuất xứ: FB Phạm Lưu Vũ

Friday, March 24, 2017

Đám mổ bò 


Đúng cái xóc thứ tám mươi mốt, lão Sướng choàng tỉnh. Nằm trong xe, lão với tay vớ sợi dây thừng, giật mũi cho con bò dừng lại rồi trèo xuống khỏi thùng xe. Lão dắt con bò cùng chiếc xe tới một gốc cây bên kia đường, cột lại tử tế, đoạn bước sang quán mụ cả Nẫm, hỏi mua gói thuốc lào.

Mặt trời đã lên nửa con sào, dân làng đi làm đồng hết, tưởng trong quán không có ai. Té ra có cả mấy người đang ngồi lố nhố trên chiếc phản kê phía trong quán. Lão Sướng hơi giật mình nhận ra những gương mặt quen thuộc, vội cất tiếng: “chào các ông ạ”. Người ngồi trong cùng, dựa lưng vào tường, quay mặt ra phía ngoài là Tưởng – Bí thư. Hai bên là Dần, Chấn – trưởng, phó công an xã. Chấn còn là cháu họ của lão, gọi lão bằng chú. Một người ngồi quay lưng ra cửa quán, không cần nhìn mặt, lão Sướng cũng nhận ra đó là Lý – chủ tịch. Bốn người không ai để ý đến lão. Hình như họ đang mải đang chơi bài.

Mụ cả Nẫm đưa cho lão Sướng gói thuốc lào và nhận từ tay lão tờ giấy bạc lẻ, nhàu nát còn ấm hơi người. Chiếc ti vi treo trong quán vọng ra từng tràng những tiếng hò reo náo nhiệt. Đang có tường thuật bóng đá của giải ngoại hạng Anh. Lão Sướng quay người chui ra khỏi quán, bước về phía chiếc xe, loay hoay mở nút sợi dây thừng. Phía trong quán, chủ tịch Lý vừa quật một quân bài xuống chiếu, vừa hỏi bí thư Tưởng:

– Thế nào bí thư ? Trận này tôi bắt Ác – se – nan, chấp một trái đấy.

Bí thư Tưởng đang nhìn hút theo con bò của lão Sướng, buột miệng nói: 
– Được thôi, thì tôi bắt Chen – xi vậy.

Chủ tịch Lý hỏi tiếp. 
– Nhai gà, vịt mãi cũng chán mồm. Tuần trước đánh cược con chó nhà lão Cử, anh em được bữa cờ tây ra trò. Trận này bí thư cược gì nào ?

Vẫn mải nhìn con bò cùng lão Sướng đang thong thả rời khỏi tầm mắt, bí thư Tưởng lại buột miệng nói: 
– Cược con bò kia của lão Sướng. Chắc không ?

Chủ tịch Lý ngoái đầu nhìn cái phần mông núng nính của con bò vừa đi khuất, nuốt nước bọt đánh ực một cái, cũng buột miệng reo lên: 
– Ối Trời! Được con bò ấy mà thịt thì tuyệt hảo. Chắc quá. Nào – bắt tay. Thằng Dần và thằng Chấn chứng kiến nhé. Phen này có thịt bò ngon chén rồi.

Trưởng, phó công an xã Dần, Chấn thấy vụ cá cược có mùi hấp dẫn, lập tức hưởng ứng. Bốn người hỉ hả bắt tay nhau. Mụ cả Nẫm cũng xen vào: 
– Tôi đăng kí toàn bộ bạc nhạc đấy nhé, với lại bốn cái cẳng. Bấy nhiêu làm phở chín cũng bán được cả tuần chứ không ít…

Trưởng công an Dần nhanh nhảu ngắt lời mụ: 
– Bạc nhạc thì được. Song bốn cẳng thì mụ đừng có mà nằm mơ. Cái đó để anh em vất vả chúng nó nhậu.

Phó công an Chấn tỏ ra hăng hái: 
– Em xin chịu trách nhiệm về bộ da. Bộ da ấy tha hồ lành lặn, chắc chắn chất lượng cao. Bọn thuộc da Vĩnh Cửu trên huyện cứ gọi là lác mắt hột. Cái này bán mới được giá. Năm ngoái ta kiếm được năm bộ cả da trâu lẫn da bò, mang bán cho họ thành ra quen biết từ đó đến nay, lại học được chút kiến thức xem da các kiểu.

Bí thư Tưởng gật gù: 
– Lâu lắm không được ăn thịt của giống bò tuyền ăn cỏ. Cái thứ thịt bò nuôi bằng thức ăn tăng trọng bây giờ ăn như thịt giả. Thịt tái kiểu gì mà nhợt nhạt, rũ rượi như thịt thằng chết trôi, nước máu chảy ra ều ễu. Thịt ấy nếu không dai ngoách thì cũng bở như đất vách, ăn tuyệt chẳng thấy cái mùi gây gây, béo ngậy đặc trưng của bò đâu.

Chủ tịch Lý nịnh khéo: 
– Cả xã đều kính nể kiến thức về bò của bí thư. Đến như mấy anh lãnh đạo huyện, được nghe cái lý luận phân tích về bò của bí thư còn thèm rỏ rãi mà bảo: “Loại bò ấy chỉ có ở thời bao cấp, thuở còn hợp tác xã. Chứ thời này, kiếm đâu ra thứ thịt bò ăn tuyền cỏ ấy mà xơi…”

Bí thư Tưởng được thể, bèn tiếp tục bài giảng: 
– Các ông nên biết, thịt loại bò ăn tuyền cỏ này tươi rất lâu. Cứ móc cả tảng mà treo lên xà nhà, để đến tận ngày hôm sau, các cơ trong tảng thịt vẫn còn giật giật, giật giật… Sờ tay vào có cảm giác nó dính dính, hút hút, mặt thịt đỏ sậm, lóng lánh ánh kim. Phía bên dưới tuyệt không một giọt nước máu nào nhỏ xuống. Thịt ấy thái mỏng, ngang thớ mà tái thì tuyệt cú, ăn vừa ngọt vừa giòn, cứ như thể nó tan ra trong miệng. Tảng càng lớn, tươi càng lâu. Thịt tươi hút nước vào nên vừa khô vừa dính, đến khi nào tiết nước máu ra là hết tươi. Thịt bò kị nhất cắt vụn, cắt vụn không tươi lâu. Phải ăn đến đâu, xẻo đến đấy mà thái. Nếu tay chân, dao thớt cứ sạch khô, không hề dây một giọt máu nào, thì thịt như thế mới đạt tiêu chuẩn.

Mọi người vừa nghe vừa thèm đến nóng cả mặt. Chủ tịch Lý bái phục: 
– Vậy bất luận ai thắng cược, thì hai quả mông cứ xin nhường nhà bí thư. Nhà tôi xin tảng vai vậy. Bắp biếc chia cho cánh Công an, Mặt trận. Đầu, đuôi chia Hội phụ nữ… Riêng bộ lòng đánh chén tại chỗ.

Bí thư Tưởng tỏ ra khiêm tốn: 
– Được cái mông ấy thì nhà tôi chỉ cần một quả cũng thừa mứa ra rồi. Quả mông kia đem biếu các anh lãnh đạo huyện, các anh ấy cũng rất thèm xơi loại thịt bò thời bao cấp như thế này. Ăn những thứ thời bao cấp hiện đang là một cái mốt ẩm thực. vả lại các ông quên là lâu nay ta chẳng “nói năng” gì, huyện đang có “vấn đề” với ban lãnh đạo xã ta à. Liệu có “yên” vị mà mơ thịt bò ăn cỏ được mãi không ?

Trưởng công an Dần hớn hở vừa quật đánh đét một quân bài xuống chiếu, vừa nói: 
– Nhất trí với ý kiến của cả chủ tịch lẫn bí thư. Vậy xin bí thư cho phương hướng giải quyết, đồng thời quyết định ngày ạ.

Bí thư Tưởng kết luận. 
– Cái ấy giao cho bên công an, dân phòng các anh lo, triển khai ngay ngày mai càng tốt, không nên hoãn sự sung sướng lại. Nhớ lên kế hoạch thật chu đáo, phải làm sao cho nhân dân luôn tâm phục, khẩu phục mới được…

Bất ngờ phó công an Chấn lại tỏ ra ngập ngừng: 
– Em thấy có chỗ hơi khó. Trận trước, con chó của lão Cử thì ta vu cho là chó dại, bắt giết thịt thì được rồi. Nhưng còn con bò này… chả lẽ bảo nó là bò điên ?

Trưởng công an Dần lập tức ngắt lời: 
– Chú bởi thật thà nên kém sáng kiến. Chú không biết lão Sướng chuyên trị ngủ trong xe, mặc cho con bò tự kéo về làng hay sao ? Thế thì có khó gì, bò cũng phải chấp hành luật lệ giao thông chứ… Thôi! Chú vì có họ với lão Sướng nên việc ấy để anh giải quyết. Cứ làm đúng tinh thần chỉ đạo của bí thư là được rồi.

Lão Sướng đánh chiếc xe bò vào tận trong làng, nhà lão ở cuối xóm Con Chó. Làng xóm vắng tanh vì người lớn ra đồng, trẻ con đi học, chỉ có những ông già, bà lão ở nhà. Về đến nhà, lão tháo con bò ra khỏi xe, dắt nó ra sau vườn, cột dưới gốc một cây nhãn, quẳng cho nó một ôm cỏ rồi rửa ráy chân tay, vào nhà chuẩn bị đánh một giấc ngủ bù đến trưa. Trước khi đi ngủ, lão không quên kéo một điếu thuốc lào theo thói quen. Sáng nay, lúc ra khỏi chợ lão mới nhớ ra rằng gói thuốc trong người đã hết, nên mới phải dừng lại mua ở quán mụ cả Nẫm.

Ngày nào cũng vậy, cứ ba giờ sáng là lão Sướng thức dậy, đánh chiếc xe bò của mình chở hàng cho mấy bà thầu rau, quả trong làng lên chợ Huyện bán. Chợ cách làng năm sáu cây số, chiếc xe phải đi mất gần hai tiếng. Quãng đường đầy những ổ voi, ổ bò mà lão đã thuộc nằm lòng. Từ làng lên tới chợ có đúng tám mươi mốt cái ổ voi như thế. Mỗi khi lăn bánh qua, chiếc xe bị quăng bên này, quật bên kia như muốn hất mọi thứ đang cõng trên lưng xuống đường. Lão gọi đó là những cái xóc. Tám mươi mốt ổ voi là tám mươi mốt cái xóc. Lúc đi trời còn tối, gặp những cái xóc ấy lão phải để ý giữ cho hàng hoá khỏi rơi, miệng nhắc mấy bà hàng rau đi bộ theo phải cẩn thận kẻo bước hụt. Lúc quay về thì nhẹ nhàng xe không, vả lại trời đã sáng. Lão cứ việc khoanh tròn trong thùng xe mà thiu thiu ngủ, mặc kệ cho con bò kéo chiếc xe đi. Lão ngủ trong xe rất tài, ngủ mà vẫn không quên, vẫn đếm được chính xác từng cái xóc trong giấc mơ màng. Tới đúng cái xóc thứ tám mươi mốt là lão tỉnh dậy, nắm sợi dây thừng vắt vắt cho con bò rẽ vào trong làng. Trăm ngày như một, không bao giờ lão ngủ quên trong xe. Con bò và chiếc xe là nguồn sống chính của nhà lão gồm bà vợ già, mắt mũi kèm nhèm và hai đứa con dâu dở người đã mấy chục năm nay, suốt ngày thờ thẫn, lúc lên cơn thì xé quần xé áo, lăn lộn cả ra vườn. Chồng chúng nó chết trong chiến tranh, một thằng được công nhận liệt sĩ. Chính nhờ món tiền tuất liệt sĩ ấy của nó mà lão sắm được con bò, sắm từ hồi nó còn là một con bê mới đẻ. Một thằng bị ngưới ta làm thất lạc giấy tờ thành ra mất trắng, chả có danh hiệu với tiêu chuẩn tiêu chiếc gì.

Lão Sướng chưa kịp đi ngủ thì có tiếng gọi to tướng của một anh dân phòng ngoài ngõ, mời lão lên ngay trụ sở dân phòng của xóm để làm việc. Lão Sướng giật thót người. Có việc gì mà phải lên trụ sở dân phòng? Xưa nay nhà lão ăn ở tử tế, chẳng phiền hà đến ai. Hai đứa con dâu dở hơi chỉ suốt ngày tự nhăn nhở với nhau quanh vườn, rủ nhau điên những cái điên hiền lành như bùn đất. Cả con bò cũng được lão đích thân chăn dắt, không để phá lúa hay hoa màu của nhà nào. Càng nghĩ không ra, lão Sướng càng sốt ruột, đành vội vã chạy tới trụ sở dân phòng.

Trụ sở dân phòng trấn ngay đầu xóm. Đó là một căn phòng ba mét nhân ba mét trơ trọi, đội mái tôn nhọn hoắt như cái chóp nón. Đẳng – trưởng xóm đang ngồi sau một cái bàn gỗ bọc phoọc – mi – ca trắng lở lói, hai bên là hai anh dân phòng mặt non choẹt, ngồi im như pho tượng. Trưởng xóm một tay giở quyển sổ, tay kia lăm lăm chiếc máy tính nhỏ, bảo lão Sướng:

– Tôi mời ông đến nộp bổ sung phí giao thông đường làng. Nhà ông còn mấy suất chưa đóng.

Lão Sướng giật nẩy người, ngớ ra. 
– Tôi đã đóng đầy đủ cả quý rồi kia mà. Bây giờ mới đầu tháng tư?

Trưởng xóm ôn tồn giải thích: 
– Xã mới có điều chỉnh, không như những năm trước chỉ thu theo đầu người. Từ năm nay, phí giao thông áp dụng cả với vật nuôi và phương tiện cho công bằng, có danh mục đóng dấu đỏ kèm theo đây. Con bò nhà ông bốn chân, thu bằng hai suất người. Chiếc xe cũng hai suất, tổng cộng tám suất. Mỗi suất cân rưỡi thóc một tháng, trừ số đã đóng theo cách tính như mọi năm, vị chi là…

– Các anh biết thừa đấy, hai đứa con dâu dở người nhà tôi có bao giờ thò mặt ra đường đâu. Thế mà cũng phải đóng phí giao thông. – Lão Sướng nhăn nhó.

– Mặc kệ, ai bảo các bà ấy cũng là người. – Trưởng xóm lý luận.

Như chợt nhớ ra điều gì, lão Sướng vội vàng thắc mắc: 
– Còn con bò, tôi tưởng phí giao thông đã tính trong thuế đồng rồi cơ mà?

– Thuế đồng thực ra mới chỉ tính trên số diện tích cỏ nó gặm hàng năm. – Trưởng xóm kiên trì giải thích – Nuôi bò, nuôi trâu kể từ năm nay còn phải đóng phí môi trường, bởi nó hay ỉa rơi vãi trên đường. Phí môi trường của bò mười lăm cân thóc một năm.

– Nó ỉa đến đâu, tôi nhặt đến đấy. Chứ có khiến ai phải ngửi hộ đâu. – lão Sướng cố cãi.

– Đề nghị ông ăn nói cho cẩn thận. – Trưởng xóm nhắc nhở rồi tiếp tục mớ lý luận của mình – Lấy gì đảm bảo rằng ông nhặt sạch trăm phần trăm, không sót lại mẩu phân nào trên đường? Thế còn nó đái rong thì sao? Dễ thường ông cũng hứng được chắc.

Lão Sướng hết cách cãi, đành lần túi móc ra một nắm giấy bạc lẻ, vừa đưa cho trưởng xóm, vừa năn nỉ: 
– Tôi chỉ còn ngần này, chắc chưa đủ. Còn thiếu bao nhiêu, các anh thư cho đến chiều, để tôi hỏi vay trước mấy bà hàng rau.

– Được thôi! – Trưởng xóm dễ dãi – nhưng ông nhớ tự giác đấy, đừng để chúng tôi phải gọi.

Từ trụ sở dân phòng ra về, trong lòng lão Sướng cứ có cái gì tức anh ách. Lão chẳng lạ gì cả tam đại nhà cái thằng Đẳng – trưởng xóm kia. Nó ngày bé cũng là thằng ăn cắp ăn trộm, học hành dốt đặc cán mai, sở dĩ được làm trưởng xóm là nhờ trên người ta tưởng nhớ đến bố nó. Bố nó còn ít hơn lão mấy tuổi, ngày trước cũng làm chức trưởng xóm trưởng thôn gì đấy. Bỗng một hôm, dân làng phát hiện bố nó treo cổ tự tử ở ngay cây đa đầu làng. Chẳng ai hiểu vì cái gì mà khiến lão phải quyên sinh. Lục trong túi lão, người ta chỉ thấy một mẩu giấy nhỏ ghi vỏn vẹn năm chữ với một cái dấu ba chấm: “Vì nhân dân quên mình…”. Lá thư tuyệt mệnh ngắn ngủi ấy của lão ta làm cho mọi người nhức đầu, nghĩ mãi không ra. Ai cần lão phải quên mình theo kiểu ấy cơ chứ. Về sau, dân làng rỉ tai nhau truyền đi một cách giải thích khác xem ra cũng có lý. Té ra trước đó, lão ta ứng cử hội đồng nhân dân xã nhưng bị trượt, dân quên không bầu lão…

Lão Sướng vừa về đến nhà thì bà Cổn ở xóm Con Lợn tìm đến có việc. Bà bảo: 
– Biết bác ngày nào cũng lên chợ Huyện, tôi sang gửi bác ngày mai mua hộ mấy cái nón rộng vành về đội ban đêm.

Lão Sướng tròn mắt ngạc nhiên: 
– Sao lại phải đội nón ban đêm, sợ phải gió à ?

Bà Cổn chép miệng: 
– Nào ai sợ phải gió phải giếc gì. Ma quỷ còn chả sợ nữa là.

– Thế thì đội nón làm gì? – Lão Sướng rõ ràng chưa hiểu.

Bà Cổn nhả miếng trầu ra cầm trên tay, thong thả giải thích: 
– Chả là dạo này, tối tối các ông ấy hay tụ tập chè chén trong nhà mụ Goá Len ở xóm Con Mèo. Mấy lần rồi, chẳng hiểu say xỉn đến mức nào mà lúc về ngang ngõ nhà tôi, các ông ấy phát rồ rủ nhau trèo lên cây nhãn nhà lão Trạch, mỗi ông leo ra một chạc cây rồi ỉa đái đầy cả xuống đường, có tay còn nôn thốc, nôn tháo nữa. Bà cháu tôi đi về qua bị dây hết cả quần áo. Xóm Gà, xóm Vịt cũng có mấy người từng bị cứt rơi xuống đầu như thế. Thành ra bây giờ, ban đêm có việc ra đường ai cũng phải đội nón. Nào ai biết các ông ấy đang phát rồ trên cái cây nào để mà đề phòng…

– Thế sao lúc ấy bà không mắng cho họ một trận – lão Sướng bảo.

Bà Cổn nhìn lão như nhìn một người ngoài hành tinh: 
– Bác biết họ là ai rồi mà còn dám nói thế à. Tức mấy cũng phải ngậm trong miệng. Lôi thôi họ nhân đà say, sai người bắt giải về uỷ ban thì có mà khốn. Nói thế thôi, chứ chẳng ai lại đi chấp những người say làm gì.

Thì ra là vậy. Lão Sướng biết ngay việc này đầu têu ở cái anh bí thư Tưởng. Lão biết anh ta từ hồi còn nhỏ, hắn có thói quen hay ỉa trên cây, rất mê ỉa trên cây. Nhà anh ta có cây sung lả ra bờ ao, cả nhà quanh năm trèo lên cây sung ấy ỉa xuống ao để nuôi cá. Sau này lớn lên, anh ta ra gánh vác việc làng, việc xã, thói quen ấy dần dần không còn. Song con người ta không biết thế nào mà nói trước được. Nhất là những lúc say xỉn, không làm chủ được ý nghĩ của mình nữa thì cái bản năng xưa nó lại trỗi dậy chưa biết chừng. Còn những tay kia, chắc là a dua, nịnh nọt anh bí thư cho có hội, có phường vậy thôi.

Bà Cổn về lâu rồi mà lão Sướng cứ suy nghĩ vẩn vả mãi về cái vụ dân làng phải đội nón đi đêm kia. Liên hệ với việc phải đóng phí môi trường của con bò, trong đầu lão chợt bật lên một ý nghĩ phản kháng ngầm rất chi là… hả lòng hả dạ. Rằng cứ theo như ý nghĩa của cái phí môi trường kia, thì đáng lẽ bọn họ phải đóng mỗi người bằng ba bốn suất con bò nhà lão… Song đó chỉ là ý nghĩ thôi, thế cũng đủ hả lắm rồi, đố bao giờ lão dám nói ra mồm.

Lão Sướng ngủ bù một giấc đến giữa trưa thì thức dậy, cùng vợ con ăn qua loa mấy bát cơm dưa mắm rồi dắt bò ra cánh đồng chăn, vừa chăn, lão vừa tranh thủ cắt ít cỏ, hoặc vơ lá lảu về cho con bò ăn đêm. Không như những dân chuyên nuôi bò thịt, lão tuyệt đối không cho con bò của mình ăn thức ăn tăng trọng. Thứ ấy tuy có làm cho nó béo tốt, tăng cân. Nhưng chỉ là béo bệu, rất mau xuống sức, và nhất là không thể kéo nặng được. Chiều về, lão không quên tắm rửa, kì cọ cho toàn thân nó sạch óng dưới ráng chiều. Lão chăm chút cho con bò còn hơn cả bản thân lão. Những ngày mùa đông tháng giá, không đun nước tắm cho nó được thì lão tắm khan. Lão cẩn thận dùng bàn chải, chải kĩ từng xăng ti mét vuông mình mẩy xuống đến tận bốn chân con bò, không để một mẩu bùn đất hoặc một con ve nhỏ bé nào bám vào. Được chăm sóc kĩ càng như thế, con bò của lão lúc nào cũng khoẻ mạnh, béo mượt. Ai trông thấy nó cũng thích mắt, thèm thuồng.

Lão Sướng là người chỉ sướng ở mỗi cái tên. Đời lão đã gặp nhiều mất mát, nhất là mất đứt cả hai thằng con trai, đến nỗi vợ lão khóc lòa cả hai mắt. Hai đứa con dâu trời xui đất khiến thế nào, lại nhất tề rủ nhau cùng dở người để lão phải nuôi báo cô. May mà lão sắm được cỗ xe với con bò, lại có việc quanh năm thành ra ngày cũng kiếm được vài cân gạo, đủ cho bốn kiếp người với một kiếp bò đắp đổi lần hồi. Cuộc đời nhờ vào những cái tẻ nhạt đâm ra lại có vẻ yên bình, mặc dù sự mất mát đã biến thành những vết sẹo to lớn biết đi. Lão chẳng còn cái thú nào khác ngoài việc sáng nào cũng thiu thiu đếm những cái xóc trong giấc mơ từ chợ Huyện về làng. Một… Hai… Ba… Bốn… Năm… Tám mươi mốt cái lúc đi, lại tám mươi mốt cái lúc về… Cứ như thể trời đã khoán sẵn những cái xóc ấy cho số phận của lão. Mỗi lần chiếc xe lắc qua lắc lại, mài người lão mấy cái xuống sàn, chiếc máy đếm đâu đó trong đầu lão lại ghi nhớ cái số đếm ấy vào một giấc mơ nhẹ nhàng, tới đúng số tám mươi mốt là về đến làng…

Có tiếng người quát tháo dưới đường làm lão Sướng giật mình, ra khỏi cơn mơ màng. Chiếc xe và con bò của lão đã đột ngột dừng lại, điều chưa từng xảy ra bao giờ. Lão ngủ quên chăng ? Không thể nào. Giấc mơ vừa rồi nhắc cho lão biết chắc chắn rằng vừa mới qua cái xóc thứ sáu mươi, còn hai mươi mốt cái xóc nữa mới về đến làng. Có chuyện gì vừa xảy ra. Lão vội vàng mắt nhắm mắt mở, lập cập trèo xuống khỏi thùng xe.

Sáu bảy người toàn công an, dân phòng đang quây quanh chiếc xe và con bò như vừa đội đất chui lên, dẫn đầu là Dần – trưởng công an xã.

– Con bò của ông vi phạm luật lệ giao thông, gây tai nạn nghiêm trọng. – Trưởng công an Dần vừa dõng dạc nói với lão Sướng, vừa chỉ tay sang phía vệ đường, rồi lại chỉ vào gầm chiếc xe.

Lão Sướng nhìn theo cánh tay chỉ của trưởng công an xã. Bấy giờ lão mới hoảng hồn khi thấy một người đang nằm thu lu, hai tay ôm đầu, cố rặn ra mấy tiếng rống như bò rống. Con bò thì vẫn im lặng, ngơ ngác không hiểu những con người hiện hữu đây đang làm cái trò gì. Sau lưng nó, một chiếc xe máy Trung Quốc nằm chắn ngang, vừa vặn chạm hai bánh của nó vào hai bánh của cỗ xe bò, khéo như có người khiêng đặt vào vậy.

Có cái gì không bình thường ở cái gã đang nằm rống bên vệ đường kia. Chẳng biết nó là con cái nhà ai? Lão Sướng tiến tới chỗ gã, định cúi xuống nâng nó dậy. Ngay lập tức, một bàn tay túm vai lão kéo lại:

– Yêu cầu ông không được động đến nạn nhân. Đây không phải việc của ông – tiếng một công an viên.

Lão Sướng còn chưa kịp có phản ứng gì thì trưởng công an Dần đã nhanh nhẹn phân công: 
– Tính mạng nhân dân là quan trọng. Hai đồng chí khẩn trương chở nạn nhân đi trạm xá cấp cứu. Một đồng chí đo đạc, đánh dấu hiện trường. Còn lại theo tôi áp tải chủ xe cùng tang vật về trụ sở uỷ ban để giải quyết.

Cả người, xe và con bò cùng bị dong về trụ sở uỷ ban. Lão Sướng bị tống vào một căn phòng cuối dãy nhà ngang, có một công an viên ngồi canh ngoài cửa, chờ lập biên bản, khám nghiệm hiện trường. Hồi lâu sau, trưởng công an Dần cho dẫn lão lên, đặt trước mặt lão một xấp biên bản đã thảo sẵn. Trưởng công an xã vừa đọc, vừa giải thích vào tai lão:

– Theo kết quả khám nghiệm hiện trường, con bò của ông lưu thông lấn sang phần đường dành cho chiều ngược lại. Theo luật, ông bị phạt hai trăm ngàn đồng, giữ phương tiện (cả con bò và chiếc xe) hai mươi ngày. Đề nghị ông kí vào biên bản thay cho con bò.

Sự việc đã hai năm rõ mười. Lão Sướng có muốn cãi cũng không được, đành cầm bút nguệch ngoạc vào tờ biên bản, mặt mũi tái xanh như tàu lá. Trưởng công an xã chờ cho lão kí xong xuôi, mới nói tiếp:

– Riêng vụ tai nạn gây ra cho người và chiếc xe kia, chúng tôi còn chờ kết quả giám định phương tiện, xác minh thương tật thì mới tính toán được mức bồi thường. Vì vậy chúng tôi buộc phải giữ ông lại uỷ ban để chờ giải quyết.

Lão Sướng nghe đến đó thì hoảng lạnh cả sống lưng. Bấy giờ lý trí của lão mới có vẻ dần dần được khôi phục. Lão cất giọng xin xỏ: 
– Xin các ông chiếu cố hoàn cảnh tôi là gia đình liệt sĩ…

– Tôi biết, tôi biết! – Trưởng công an xã vội ngắt lời – Chính vì thế trong biên bản không ghi ông là người vi phạm luật giao thông, cũng không ghi ông là người gây ra tai nạn, mà tất cả là do con bò. Thậm chí lúc tai nạn xảy ra, ông còn đang ngủ khì nữa kìa. Có điều ông là chủ của con bò thì phải bồi thường thay cho nó là lẽ đương nhiên. Chúng tôi giải quyết bất cứ việc gì cũng nghĩ đến tình trước, lý sau…

Lão Sướng nhìn con bò đang bị buộc dưới trời nắng chang chang mà đứt từng khúc ruột. Khuôn mặt già nua, đầy nếp nhăn của lão ràn rụa nước mắt. Đến trưa thì bà vợ lòa của lão được báo đã mang cỏ lên cho con bò, mang cả cơm cho lão. Lão cố trệu trạo nhai, cố nghèn nghẹn nuốt những miếng cơm trộn lẫn nước mắt, nhơn nhớt như được chan bằng canh rau đay, rau mồng tơi.

Quá trưa thì Chấn – phó công an xã mò tới. Lão Sướng mừng rỡ như bắt được vàng, đầu lão loé lên một tia hy vọng. Lão vội vã thều thào: 
– Cháu xem có cách nào cứu con bò, cứu chú với Chấn ơi !

Phó công an Chấn cố làm ra vẻ thiểu não, ngồi xuống bên lão bảo: 
– Gay lắm chú ạ. Con bò lưu thông trái đường, phạt hai trăm thì chịu rồi, giữ hai mươi ngày thì cháu có thể xin giảm bớt được. Song còn cái vụ bồi thường kia, nghe nói bị gãy hai dẻ xương sườn. Chưa biết họ đòi bao nhiêu.

Khoảng giữa buổi chiều, trưởng công an Dần lại cho dẫn lão lên. Dần thông báo luôn: 
– Báo để ông mừng. Tai nạn không gây nguy hiểm đến tính mạng. Nạn nhân chỉ bị gãy hai dẻ xương sườn. Chiếc xe cũng đã có kết quả giám định hư hỏng. Đây là yêu cầu bồi thường của người bị hại, công an chúng tôi để hai bên tự giải quyết với nhau. Nếu phía bên kia đồng ý bãi nại, chúng tôi sẽ cho ông về.

Lão Sướng ù cả tai khi nghe đến số tiền phải bồi thường. Năm triệu cho tiền thuốc men, bốn triệu sửa chữa chiếc xe máy Trung Quốc. Cộng cả tiền phạt là chín triệu hai. Đời lão chưa bao giờ có món tiền to đến thế, gần bằng ba con bò… Lão luống cuống đến mức lăn đùng ra khỏi ghế, chẳng biết phải trả lời thế nào. Trưởng công an xã hất hàm, hai công an viên phải túm lão dậy, dìu xuống căn phòng lúc nãy để lão nằm mà nghĩ cho bình tĩnh.

Xâm xẩm tối, phó công an Chấn đến dúi vào tay lão cái bánh bao rồi bảo: 
– Cháu năn nỉ mãi, họ mới đồng ý không đòi tiền tiếc gì cả, chỉ phải đền con bò cho họ là xong xuôi chú ạ. Thôi thì cũng là cái vận cái hạn, đó là cái giá rẻ nhất, ngoài ra không còn cách nào khác. Chú cứ suy nghĩ đi. Nếu chịu mất con bò thì lập tức cháu bảo họ thả chú về nhà…

Mất con bò ? Lão Sướng chưa bao giờ dám nghĩ đến điều đó. Mất con bò là mất đứt nguồn sống duy nhất của cả nhà lão. Vợ chồng già và hai đứa báo cô kia chỉ còn cách dắt nhau lên chợ Huyện ăn xin. Lão đau quá, ân hận quá. Giá lão đừng có cái thú mơ màng đếm những cái xóc kia, mà điều khiển con bò cho cẩn thận. Từ nay, dù có muốn lão cũng không còn cơ hội được đếm những cái xóc ấy trong giấc mơ nữa rồi. Bò ơi! Con trai ơi! cha có lỗi với các con, có lỗi với số phận của cha, của cả ba người đàn bà đang sống kiếp đời thừa kia… Bây giờ còn biết làm thế nào ? Lão chợt nhớ hôm nọ ở chợ, có một bà già trỏ lão mà bảo: “ông năm nay cẩn thận kẻo gặp phải hạn to…”. Đời lão chẳng bao giờ tin vào sự bói toán, huống chi năm nay lão đã ngoài bẩy mươi, các cụ ngày trước bảo đó là cái tuổi hết trạch, quỷ thần đã tha rồi, còn phải kiêng kị gì nữa. Rốt cuộc lão vẫn gặp hạn ở cái xóc thứ sáu mươi…

Sáng sớm hôm sau, khi phó công an Chấn mở cửa phòng thì lão Sướng đã rũ ra như một tấm giẻ rách, khuôn mặt nhăn nhúm đen sạm lại, ngô nghê y hệt hai đứa con dâu lão lúc lên cơn. Biện pháp giữ người quả nhiên có tác dụng. Phó công an Chấn vồn vã:

– Chú đồng ý rồi chứ ? Vậy chú điểm chỉ vào tờ giấy này, rồi cháu bảo họ đưa chú về nhà.

Lão Sướng có còn con đường nào để mà chọn nữa đâu. Vả lại, lý trí của lão đã kịp chia tay với lão từ đêm hôm qua rồi. Một con bò, chứ mười con bò đối với lão bây giờ cũng thế. Sân uỷ ban hôm nay nhộn nhịp khác thường. Chính quyền, các ban ngành, đoàn thể… tề tựu không sót một ai. Tiếng trưởng công an Dần oang oang gọi người này, quát người kia, phân công công việc túi bụi. Bản thông báo về vụ tai nạn có kí tên, đóng dấu của trưởng công an xã dán la liệt khắp nơi. Con bò của lão Sướng đã được dắt ra cột ở giữa sân. Trước mặt nó là một chiếc búa tạ và một cái chậu to tổ bố. Có mấy người cởi trần trùng trục, bắp thịt cuồn cuộn đang huơ lên những con dao bầu sáng loáng.

Lão Sướng như người mộng du bước qua chỗ con bò. Nó bị bỏ đói suốt đêm qua, giờ đang cố rống lên những tiếng rống cuối cùng, những tiếng rống âm u đã bắt đầu nhuốm mùi tanh tanh của địa ngục. Lão cụp mắt, không dám nhìn thẳng vào nó nữa. Cứ như thế, lão lầm lũi bước đi, hai bên là hai anh dân phòng có nhiệm vụ hộ vệ lão về đến tận nhà. Đang đi, chợt nghe phía sau có một tiếng “bộp” khô khốc, ngay sau đó là một cái gì vừa đổ vật xuống. Tiếng rống đã im bặt. Đất dưới chân như bị rung lên, tiếng “bộp” kia vừa giáng vào gáy con bò, hay là giáng vào gáy lão. Lão Sướng tối sầm mắt lại, giơ hai tay lên trời rồi lảo đảo khuỵu xuống. Sau lưng lão, sân uỷ ban tưng bừng không khí đình đám, bấy giờ mới thực sự diễn ra một đám mổ bò.

Đám mổ bò hôm ấy náo nhiệt đến tận trưa. Sau khi chia phần đâu đấy, bộ lòng bò vĩ đại được chế biến tại chỗ cho những người lâu nay vất vả vì việc dân, việc xã liên hoan chè chén với nhau suốt cả buổi chiều, lại còn say sưa ca hát đến tận nửa đêm…

Mờ sáng hôm sau, trên con đường quen thuộc từ làng lên chợ Huyện, người ta thấy có bốn bóng người lầm lũi dắt nhau đi. Không ai khác, chính là lão Sướng, bà vợ lòa và hai đứa con dâu dở hơi. Bốn người cùng túm vào một đoạn dây thừng do lão Sướng nắm một đầu dây. Lão dẫn họ lên chợ để đổi sang kiếp ăn xin. Nhưng lão còn phải đếm lại một lần cuối cùng, không phải trong giấc mơ, lần lượt tám mươi mốt cái xóc này nữa, thì mới tới được cái đích ăn xin của kiếp mình, kiếp vợ lão, và hai đứa con dâu báo cô của lão…

2005
Phạm Lưu Vũ

Monday, March 30, 2015



Môn chữ ”Lộc”


Trong số tàng thư mà cụ Giáo Đản (ông thầy dạy chữ Hán cuối cùng ở làng Kinh) để lại, một hôm tôi lục thấy một tập sách đã ố vàng. Phủi lớp bụi dày bám bên ngoài, thì ra là một bộ sách chữ Nôm, ngoài bìa đề năm chữ: “Quốc Văn Tây Du Dị Bản“. Tôi tò mò giở ra xem. Té ra là sáng tác của một tác giả khuyết danh (không biết có phải cụ Giáo không?), kể về chuyện một gã đi cầu tài, lại phóng tác theo lối viết truyện Tây Du Kí của ông Ngô Thừa Ân bên Tàu. Câu chuyện vừa lạ lại vừa quen. Sau đây xin trích phần đầu của bộ sách đó.
Có thơ rằng:

“Thuở trời đất dọc ngang, ngang dọc
Lưu manh nào chỉ độc mình ta
Thiếu gì những kiếp xa hoa
Sống là kẻ cướp, chết là… người sang…“.

Ở một nhà kia, ông bố trước khi chết trăn trối lại cho con trai:

-Con ơi, người sắp chết nói lời nói thật, chẳng lẽ còn che đậy nỗi gì. Đời cha tạo được cơ nghiệp như ngày hôm nay, thực là đã lừa được cả quỉ thần, cướp được công Tạo hóa… Không ngờ đến đời con lại chỉ biết ăn hại. Cơ nghiệp này rồi cũng hết sạch vào tay con. Khi nào túng quẫn, con hãy đi sang phía Đông, nơi đó có ông thầy dạy cách kiếm tiền. Rồi học lấy cách mà làm giàu. Tiếc rằng cha không còn cơ hội chỉ cho con được.

Ông bố chết. Quả nhiên vài năm sau thì thằng con phá tán hết cơ nghiệp, trở thành kẻ trắng tay. Nhớ lời dặn của bố, nó đi về phía Đông, tìm ông thầy dạy làm giàu. Nó vừa đi vừa hỏi thăm, bụng nghĩ ông thầy chắc phải giầu lắm, có thế mới dạy được thiên hạ cách kiếm tiền. Song suốt dọc đường, nó chỉ gặp toàn dân đen xơ xác, nhà cửa hoang tàn. Lạ một điều là phần lớn ai cũng chỉ có mỗi cái khố đóng trên người. Hỏi thăm tìm ông thầy dạy làm giàu, những kẻ đóng khố ấy bảo:

-Cứ xem trong số chúng ta, ai đóng cái khố rách nhất thì người đó chính là thầy.

Thằng con nghĩ dân xứ này chắc toàn người thích đùa. Kẻ đến cái khố cũng chẳng lành thì làm sao có thể dạy người khác làm giầu được. Bèn cứ nhắm tìm đến những bậc trưởng giả, xe ngựa rộn ràng, tiền hô hậu ủng thỉnh thoảng gặp trên đường. Những người này khi nghe yêu cầu của nó thì cứ nhất loạt lắc đầu, có khi còn sai đầy tớ đuổi nó đi mà không thèm tiếp. Bí quá, thằng con đành phải nghe theo lời khuyên, hỏi thăm tìm kẻ khố rách nhất.

Một hôm nó đứng trước một ngôi nhà làm bằng trúc trống huếch trống hoác, tường vách xiêu vẹo chẳng ra cái hồn nhà. Đang lưỡng lự, bất ngờ có một con chó ghẻ toàn thân, gầy đến mức chỉ còn da bọc xương dúm dó từ phía trong chạy ra. Con chó không sủa, mà cứ quấn lấy chân nó ra vẻ mừng rỡ, tựa như chủ nó sai ra đón khách vậy. Thằng con liền bước vào trong nhà. Nó che mắt nhìn mãi. Bỗng phát hiện trong một xó tối tăm, quả có một lão già cũng trơ xương hệt như con chó, trên mình đóng một cái khố rách te tua, tưởng như không còn rách thêm được nữa. Chỉ có đôi mắt lão thì vẫn sáng quắc, tựa như hai viên ngọc long lanh vậy.

Lão chiếu thẳng tia mắt vào thằng con mà hỏi:

-Con đi tìm thầy dạy làm giàu phải không? Tại sao bây giờ mới tới?

Thằng con kinh ngạc không hiểu sao lão lại biết trước như vậy. Thế thì người này chắc phải là một bậc kì nhân. Sự bái phục làm nó xua tan hết nghi ngờ, liền mạnh dạn tiến đến gần lễ phép thưa:

-Đúng là con lặn lội tới đây, xin thầy dạy cho cách làm giàu. Con sẽ không bao giờ quên ơn.

Lão già (từ đây gọi là ông thầy) “hừ!“ một tiếng rồi bảo:

-Xưa nay những kẻ giàu có mà không quên ơn thì là điều ta chưa từng nghe nói bao giờ. Mà nếu quả thực có trả ơn thì cũng tựa như bố thí mà thôi. Ngoài mặt thì nói lời tri ân, nhưng trong bụng thì khoái trá ngầm. Trả ơn như thế thì có khác gì một cách… trả thù, trả thù cho cái thời phải đi nhờ vả, trả thù kẻ đã bắt mình phải chịu ơn… Nhưng thôi, con đã muốn làm giàu thì cứ xin học làm giàu. Cần gì phải rào đón trước.

Thằng con nói:

-Thầy không cần phải trả ơn thì thôi vậy. Nhưng chẳng hay thầy có thể dạy con cách kiếm tiền?

Ông thầy bảo:

-Kiếm tiền có ba trăm sáu mươi cách khác nhau. Cách nào cũng ra tiền cả. Chẳng hay con muốn học cách nào?

Thằng con nói:

-Tùy thầy dạy bảo. Hễ cứ có mùi tiền là con xin học.

Ông thầy nói:

-Ta dạy con cách kiếm tiền trong môn chữ “cần“ có được không?

Thằng con hỏi:

-Kiếm tiền trong môn chữ “cần“ là như thế nào?

Ông thầy nói:

-Là cần cù chịu khó, chí thú làm ăn, không ngại gian khổ, chi li tằn tiện, tích góp từng đồng một. Làm thì quên cả thân mình, ăn thì luôn nghĩ đến kẻ khác. Đáng ăn mười chỉ dám ăn ba bốn. Còn lại phải để dành cho ngày hôm sau…

Thằng con hỏi:

-Như thế có làm giàu được không?
Ông thầy bảo:

-Thời nào khác thì có thể làm giầu. Chứ thời này thì không bao giờ.

Thằng con nói:

-Thế thì con không học.

Ông thầy lại nói:

-Vậy ta dạy con cách kiếm tiền trong môn chữ “chính“ có được không?

Thằng con hỏi:

-Môn chữ “chính“ là như thế nào?

Ông thầy nói:

-Kiếm tiền trong môn chữ “chính“ làm ra đồng tiền một cách chính đáng, làm tiền bằng khả năng, công sức của mình. Không gian dối, tranh giành với ai, không vi phạm đạo lý trên đời. Biết kính trên nhường dưới, thân thiện với mọi người. Cái gì gây thiệt hại cho người khác thì không làm, cái gì không quang minh, chính đại thì không ăn…

Thằng con hỏi:

-Như thế có làm giàu được không?

Ông thầy bảo:

-Kiếm tiền như thế mà đòi làm giàu thì chẳng khác nào nằm mơ thấy núi.

Thằng con lại hỏi:

-Con là người thực thà, không hiểu lối nói xa xôi. Nằm mơ thấy núi là như thế nào?

Ông thầy bảo:

-Nằm ngủ, mơ thấy mình ôm một trái núi trong lòng. Tưởng rằng to lớn, vĩ đại lắm. Đến lúc tỉnh dậy chẳng thấy núi đâu. Rốt cuộc vẫn chẳng có gì.

Thằng con nói:

-Như thế tức là không bao giờ giàu được. Thế thì con không học.

Ông thầy lại nói:

-Thôi thì ta dạy ngươi cách kiếm tiền trong môn chữ “cái“ vậy?

Thằng con hỏi:

-Kiếm tiền trong môn chữ “cái“ là như thế nào?

Ông thầy nói:
-Môn chữ “cái“ là kiếm tiền bằng cách ngửa tay xin thiên hạ bố thí. Bằng mọi cách khiến người ta mủi lòng mà quẳng tiền lẻ hay cơm thừa, canh cặn cho mình. Đang khỏe mạnh cũng phải gi làm như đau yếu, hết hơi. Sức dài vai rộng hễ thấy việc là run rẩy, hễ thấy tiền là hớn hở. Hễ ăn thì thùng bất chi thình, hễ làm thì chân tay lóng ngóng…

Thằng con lại hỏi:

-Như thế có làm giàu được không?

Ông thầy bảo:

-Ngửa tay xin của bố thí mà cũng đòi làm giàu, thì chẳng khác gì Trời Đất đổi chỗ cho nhau.

Thằng con nói:

-Thầy lại xa xôi con không hiểu. Trời Đất đổi chỗ cho nhau là như thế nào?

Ông thầy bảo:

-Đó là quẻ “Thái“ trong kinh Dịch. Chỉ cái thời thiên hạ thái bình, con người biết yêu thương nhau, kẻ trên đùm bọc kẻ dưới, kẻ dưới tin phục kẻ trên… tất cả quy về một mối, không còn tranh giành, đấu đá, cãi lộn… Lúc ấy Trời ở trên lộn xuống dưới, Đất ở dưới trèo lên trên. Rốt cuộc chỉ là bịa tạc, hư ảo, chẳng bao giờ xảy ra.

Thằng con nói:

-Như thế tức là cũng không bao giờ giàu. Thế thì con cũng không học.

Ông thầy lại nói:

-Thế dạy ngươi cách kiếm tiền trong môn chữ “đạo“ có được không?

Thằng con hỏi:

-Kiếm tiền trong môn chữ “đạo“ là như thế nào?

Ông thầy nói:

-Môn chữ “đạo“ là kiếm tiền bằng cách hoặc đào tường khoét ngạch, hoặc bẻ khóa chui vào nhà người ta, tùy sức tùy lòng, muốn lấy gì thì lấy, muốn khuân gì thì khuân. Cũng có khi giữa chợ đông người thò tay móc túi, hoặc chỗ nọ chỗ kia dùng dao bén rạch đồ… Trăm phương ngàn cách, mặt dạn mày dày, thần thái tỉnh bơ. Miễn sao chuyển được những gì trong túi thiên hạ sang túi mình thì thôi.

Thằng con hỏi:

-Như thế có làm giàu được không?

Ông thầy bảo:

-Nếu mà nói đến làm giàu theo cách này thì chẳng khác gì lên núi mò cua, xuống sông bắt cóc.

Thằng con nói:

-Thầy lại xa xôi con không hiểu. Thế nào là lên núi mò cua, xuống sông bắt cóc?

Ông thầy bảo:

-Lên núi mà mò cua thì dễ gặp hổ. Xuống sông bắt cóc thì dễ gặp thuồng luồng. Cua cóc đâu chẳng thấy, lại đi đêm lắm tất có ngày gặp ma. Rốt cuộc thế nào cũng gặp tay cao thủ, trước sau thân còn không giữ được, nói gì đến làm giầu.

Thằng con nói:

-Như thế tức là không an toàn. Thế thì con cũng không học.

Ông thầy bảo:

-Nếu vậy ta dạy ngươi cách làm tiền trong môn chữ “tín“ có được không?

Thằng con hỏi:

-Môn chữ “tín“ là như thế nào?

Ông thầy bảo:

-Làm tiền trong môn chữ “tín“ là dựa vào lòng tin của mọi người mà lừa đảo. Dựa vào lòng tham của thiên hạ mà dử mồi. Khéo ăn khéo nói, miệng lưỡi trơn tru. Lừa bất kể kẻ ấy là người thân hay người dưng nước lã. Cái gọi là tín nghĩa là một thứ có thể đem ra tiêu xài vung vít, chẳng cần giữ làm gì. Miễn sao người khác dù vô tình hay cố ý, cứ tự giác đem tiền của dốc hết vào túi mình là được.

Thằng con hỏi:

-Như thế có làm giàu được không?

Ông thầy bảo:

-Có thể làm giàu được. Nhưng cũng chẳng khác gì vá lành tổ đỉa.

Thằng con nói:

-Thầy cứ cái lối nói xa xôi con càng không hiểu. Thế nào là vá lành tổ đỉa?

Ông thầy nói:

-Tổ đỉa thì vá đến bao giờ cho lành nổi. Vá chỗ nọ nó bục chỗ kia. Lòng tham của kẻ đi lừa đảo cũng ví như cái tổ đỉa ấy. Huống chi đã gọi là tham, thì lừa được một lần rồi lại ham lừa tiếp, lừa mãi không ngừng. Trước sau cũng gặp kẻ cao tay, có khi nó lừa lại mình, có khi nó bắt mình đem trình quan. Thế là lừa được bao nhiêu lại chạy vào túi quan hết. Có thế may ra mới tránh khỏi tai vạ… Cuối cùng mình xôi hỏng bỏng không, chẳng còn lại tí nào.

Thằng con nói:

-Như thế tức là cũng chẳng được ích lợi gì. Thế thì con không học.

Ông thầy lại nói:

-Hay là ngươi muốn học cách kiếm tiền trong môn chữ “huệ“?

Thằng con hỏi:

-Môn chữ “huệ“ là như thế nào?

Ông thầy nói:

-Kiếm tiền trong môn chữ “huệ“ là nịnh trên nạt dưới, hại ngầm kẻ ngang hàng. Bằng mọi cách lấy lòng kẻ có quyền thế để mong hưởng chút ân huệ. Tối mắt vì ân huệ, bất chấp lương tâm, không màng đạo lý, xỏ lá ba que… Chân đạp lên đầu bất kỳ ai có thể đạp. Đầu đội dưới đít bất cứ ai có thể ban ân huệ cho mình…

Thằng con hỏi:

-Cách ấy có làm giàu được không?

Ông thầy bảo:

-Có thể làm giàu nhưng cũng chẳng khác gì tặng vật của hồ ly.

Thằng con nói:

-Thầy đừng nói xa xôi nữa có được không. Thế nào là tặng vật của hồ ly?

Ông thầy bảo:

-Giống hồ ly lúc thích ai thì khuân về tặng cho đủ thứ, kể cả nhà cửa, đồ vật… Nhưng nó biên chép đầy đủ, chẳng sót thứ gì. Đến lúc hơi bị phật lòng là nó lập tức khuân đi cho bằng hết. Nhắm mắt lại, mở mắt ra là đã thấy chẳng còn lại tý gì. Cũng như gặp thời thế đổi thay, lòng người biến hóa , của thiên lại trả địa, bao nhiêu ân huệ phút chốc tan thành mây khói. Rốt cuộc chẳng được cái gì.

Thằng con nói:

-Như thế tức là không được lâu bền. Thế thì con cũng không học.

Ông thầy lại nói:

-Thế ta dạy mi cách kiếm tiền trong môn chữ “khấu“ nhé?

Thằng con hỏi:

-Kiếm tiền trong môn chữ “khấu“ là như thế nào?

Ông thầy nói:
-Môn chữ “khấu“ là chặn đường ăn cướp, xông vào nhà người ta mà cướp. Tùy theo thời thế, có lúc một mình, có lúc kết thành băng đảng… Cướp của người khác, cướp lẫn của nhau. Miễn sao luyện đến mức lòng tham ngùn ngụt, cứ thấy tiền là sát khí nổi lên, chân tay ngứa ngáy, mắt mũi tối sầm. Bảo không nghe thì đè cổ dí dao, quyết giành cho bằng được. Cái mình cần đoạt mới là quan trọng, mạng người chẳng nghĩa lý gì…

Thằng con bắt đầu cảm thấy hứng thú. Bèn hỏi:

-Như thế có làm giàu được không?

Ông thầy bảo:

-Có thể làm giàu trong chốc lát. Nhưng cũng chẳng khác gì tậu quỷ về nuôi.

Thằng con thấy ông thầy cứ dùng mãi cái lối nói xa xôi. Bèn sốt ruột ngắt lời:

-Thế nào là tậu quỷ về nuôi?

Ông thầy bảo:

-Quỷ là cái giống có thể bắt linh hồn mình đem đày xuống địa ngục bất cứ lúc nào. Vậy mà đem nó về nuôi ở trong nhà thì khác gì rước họa vào thân. Huống chi cướp của người ta, giết hại người ta thì dẫu lúc sống, người ta có thể chưa biết. Nhưng việc đâu còn đó, chứng cớ rõ ràng. Lúc chết, người ta tất hóa thành quỷ để báo thù, báo thù đời này không được, lại truyền sang đời sau… báo đến bao giờ kì được mới thôi. Vậy thì có giàu mấy cũng không yên ổn được.

Thằng con nghe nói mà rùng mình rợn xương sống. Bèn hỏi:

-Thế có cách nào ăn cướp mà không để lại chứng cớ rõ ràng không?

Ông thầy nói:

-Có. Cách ấy gọi là làm tiền trong môn chữ “lộc“.

Thằng con vội vàng hỏi:

-Làm tiền trong môn chữ “lộc“ là như thế nào?

Ông thầy nói:

-Làm tiền trong môn chữ “lộc“ là dối trá để được leo cao, bợ đỡ để được thăng chức. Thăng rồi lại thăng nữa, thăng mãi không ngừng. Muốn thế phải kết bè kết cánh, lừa dưới lừa trên, lừa cả quỉ thần, thiên hạ lưu manh thu về một mối. Bề ngoài thì nhũn nhặn như đầy tớ. Bên trong thì quyền to như ông chủ… Cho tới khi nhất hô bá ứng, triết lý sẵn sàng… là có thể tranh cướp bổng lộc, giành giật địa bàn, bạ đâu “ăn“ đấy… Nhưng phải đến khi nào đặt ra luật lệ, biến hóa tùy thời, quyền ăn, quyền nói, quyền trói, quyền cởi… nhất nhất đều ở trong tay mình. Thì bấy giờ mới có thể “ăn“ bất cứ cái gì, của bất cứ ai. Từ việc hớt “lộc“ của đám quan chức dưới quyền, đến việc nẫng váy của lũ thứ dân… tất cả đều là những việc thường ngày, đơn giản, không để lại chứng cớ gì. Đó gọi là đạt tới cảnh giới: “lộc lai tùy tâm“ (lộc đến tùy theo lòng (tham) của mình).

Thằng con nghe quả thấy hấp dẫn, mê ly. Bèn nói:

-Vậy muôn vạn lần xin thầy dạy cho con cách ấy. Con không muốn học theo cách nào khác.

Ông thầy trầm ngâm một lát rồi bảo:

-Cách này ta không dạy được.

Thằng con hỏi:

-Tại sao lại không dạy được?

Ông thầy bảo:

-Môn chữ “lộc“ này là một môn làm tiền thượng đẳng cao siêu, đến quỉ thần cũng không sao lường được. Nó là thứ độc quyền trong tay một nhóm những kẻ lưu manh ưu tú, xưng là đảng điếc này nọ. Họ tự đẻ ra luật pháp, nhất cử nhất động đều nhân danh “nhân dân“ để ăn cướp của chính nhân dân. Ta không đủ trình độ dạy ngươi. Nhưng ta biết trên đời này, khối kẻ có thừa cái trình độ ấy. Ngươi tới xứ này, có thấy gì lạ không? Thấy dân chúng toàn đóng khố phải không? Thì đến ta nay cũng chỉ còn manh khố rách, huống hồ là lũ thứ dân. Chính vì bị những kẻ làm tiền trong môn chữ “lộc“ kia làm ra thế đấy. Những người khố rách chúng ta biết mọi cách kiếm tiền. Chỉ duy có cái môn chữ “lộc“ ấy là không được biết đến mà thôi.

Thằng con bấy giờ mới hiểu. Rằng tại sao dân đen xứ này toàn phải đóng khố. Lại có ông thầy giỏi lý luận về các cách kiếm tiền như thế, mà cũng chỉ còn độc manh khố rách trên người. Lại cứ tưởng lầm xứ này hoặc không biết dệt vải, hoặc đóng khố là tập quán xưa nay… Té ra vì họ bị những kẻ làm tiền trong môn chữ “lộc“ kia lột sạch cho nên mới ra nông nỗi ấy. Thế thì trong ba trăm sáu mươi cách làm tiền, đúng là chỉ có cái môn chữ “lộc“ ấy mới quả thật đã đạt đến chỗ kinh người…

Phạm Lưu Vũ





__._,_.___



.

__,_._,___






Blog Archive