Showing posts with label hoang hai thuy. Show all posts
Showing posts with label hoang hai thuy. Show all posts

Friday, October 20, 2023

Nhật Ký ĐỖ THỌ 

Hoàng Hải Thủy 

 

Trong bài “DALLAS Người đi...” chuyện những Vệ Sĩ của Tổng Thống John F Kennedy làm tôi théc méc, tôi đặt câu hỏi ở cuối bài:

 

“…. Và chuyện TT. Kennedy làm tôi nhớ đến Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Tổng Thống Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa có vệ sĩ không? Chắc chắn phải có. Những ai là vệ sĩ số 1, số 2 của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm? Họ tên là gì? Khi Tổng Thống ra khỏi Dinh Gia Long trên xe hơi, có vệ sĩ nào đi theo ông không? Nếu không có ai thì tại sao không? Khi Tổng Thống bị bắt ở Nhà Thờ Cha Tam, có vệ sĩ nào ở bên ông không?

 

Nhiều năm nay người Việt ở nước ngoài viết thật nhiều, bàn thật nhiều về cái Chết của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Tôi không thấy ai théc méc về chuyện tại sao không có vệ sĩ nào ở bên Tổng Thống trong lúc ông Tổng Thống cần được bảo vệ nhất. Trong những tài liệu ghi về TT Ngô Ðình Diệm tôi cũng không thấy tài liệu, hồi ký nào ghi chuyện vệ sĩ của Tổng Thống. Không có hay là có mà tôi không biết?”

 

o 0 o 

 

Người bạn tôi đem đến cho tôi quyển sách. Ông bảo tôi:

 

“Ðọc quyển này sẽ biết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm có vệ sĩ hay không.”

 

Ðây là lần thứ nhất tôi nhìn thấy quyển “Nhật Ký ÐỖ THỌ.” Không phải từ năm 1975, 1976, mà là ngay từ những năm người Việt Sài Gòn tuổi đời Bốn Bó những năm 1966. 1967, thời gian Nhật Ký Ðỗ Thọ được đăng báo, cũng quên nhân vật Ðỗ Thọ như tôi.

 

Khi “Nhật Ký Ðỗ Thọ” được đăng từng ngày trên Nhật báo Hoà Bình – Chủ nhiệm: Linh mục Trần Du – tôi không đọc. Tôi không biết sau khi đăng báo, Nhật Ký Ðỗ Thọ được xuất bản thành sách. Quyển Nhật Ký Ðỗ Thọ ông bạn cho tôi đây có bản lý lịch in ở trang cuối:

 

NHẬT KÝ ÐỖ THỌ

Do Ðồng Nai xuất bản lần thứ 3,

Trong 10.000 cuốn năm 1970.

Ðồng Nai Tổng phát hành.

Kiểm duyệt số 3757/ BTT / PHNT

Ngày 10 – 8 – 1970

Giá 400 đ.

 

Quyển Nhật Ký Ðỗ Thọ tôi có đây là bản được in lại ở Mỹ, đề giá $ 9.00, không thấy có tên nhà xuất bản Việt nào ở Mỹ in lại.

 

Nhật Ký Ðỗ Thọ 320 trang, khi đăng trên Nhật báo Hòa Bình có nhiều người đọc. Khi xuất bản sách bán chạy, Nhà Phát Hành Ðồng Nai tái bản đến lần thứ 3.

 

Ðại úy Ðỗ Thọ là một trong 4 sĩ quan tùy viên của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Theo lời ông kể trong Nhật Ký của ông, ông là sĩ quan tùy viên duy nhất đi theo TT Ngô Ðình Diệm trong buổi chiều ngày 1–11-1963 từ Dinh Gia Long đến nhà ông Tầu Mã Tuyên trong Chợ Lớn, ông theo TT từ Nhà Mã Tuyên đến Nhà Thờ Cha Tam lúc 5 giờ sáng ngày 2-11-1963, ông chứng kiến cảnh Tổng Thống và ông Ngô Ðình Nhu bị đẩy lên xe M113 trước cửa Nhà Thờ Cha Tam, ông là cháu ruột của Ðại tá Ðỗ Mậu.

 

Nhật Ký Ðỗ Thọ có bản viết tay của tác giả. Thủ bút này ghi ngày viết là ngày 4-11-1963, trong Nhật ký ghi ngày viết xong là ngày 4-2-1964. Nhật Ký – đúng ra là Hồi Ký – 320 trang, bài này trích đăng một số đoạn:

 

Viết với Tổng Thống Ngô Ðình Diệm.

 

Mở đầu trang nhật ký, con viết cho cụ. Con nghĩ rằng cụ chưa chết, chưa thể chết được.


Cụ có biết con buồn khổ suốt tuần lễ không? Dinh Gia Long bây giờ đối với con xa lạ rồi. Cụ đã ra đi không bao giờ trở lại. Những ngày sống bên cụ, phục vụ không quên được.


Con sẽ ghi về cụ, người con hằng quí mến suốt đời.


ÐỖ THỌ

Saigon, 4 – 11 – 1963

 

*  *  * 

Nhật Ký ÐỖ THỌ. Chương 15. Lánh nạn. Trang 197 – 200.

 

Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, ông Ngô Ðình Nhu, ông Cao Xuân Vỹ, Ðại úy Bằng  và tôi kèm theo sau có Ðại úy Lê Công Hoàn và Ðại úy Lộc, tất cả đều từ ngôi hầm đi ra mặt tiền của Dinh Gia Long (cổng sắt đường Pasteur).

 

Trên sân sỏi buồn tẻ chiếc deux cheveaux đậu sẵn. Ðấy là loại deux cheveaux đít bằng, có hai cửa kính nhỏ ở đằng sau. Hai bên hông bít bùng.

 

Ông Cao Xuân Vỹ mở cửa đằng sau, cửa bung ra thành hai cánh xoè ra hai bên. Viên tài xế đã ngồi tay lái tự lúc nào.

 

Anh ta hớt tóc ngắn, khổ người khá lớn. Tôi chưa hề gặp anh ta ở Dinh Gia Long bao giờ cả. Nếu tôi không nhầm thì viên tài xế là bộ hạ của ông Cao Xuân Vỹ đưa vào đón Tổng Thống và ông Ngô Ðình Nhu.

 

Tổng Thống Ngô Ðình Diệm lên xe trước tiên. Kế đến ông Ngô Ðình Nhu và Ðại úy Bằng. Còn tôi ngồi ở băng trước sát cạnh tài xế.

 

Loại xe deux cheveaux ở đằng sau không có ghế ngồi nên Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, ông Ngô Ðình Nhu và Ðại úy Bằng phải ngồi trệt xuống sàn xe.

 

Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ngồi sau lưng viên tài xế. Ông Ngô Ðình Nhu ngồi phiá sau lưng tôi. Ðằng sau nữa là Ðại úy Bằng.

 

Khi xe chuyển bánh qua cánh cửa của Dinh Gia Long sát đường Pasteur tôi còn trông thấy Ðại úy Lê Công Hoàn, Ðại úy Lộc đi bộ kèm theo hông xe. Còn ông Cao Xuân Vỹ hơi xa về phiá đằng sau. Sự chậm trễ của ông Cao Xuân Vỹ là vì ông ta thấy Tổng Thống và ông Ngô Ðình Nhu ngồi ở xe rất thảm thương. Ông Vỹ chạy vào trong dinh lấy cái nệm mousse lót vào sàn xe cho Tổng Thống và ông Ngô Ðình Nhu ngồi nhưng khi ông Vỹ ra đến nơi thì xe nổ máy và chuyển bánh rời Dinh Gia Long. Ông Vỹ đành bỏ lại tấm nệm trên sân sỏi. Chiếc deux cheveaux ra đường Pasteur rẽ vào cổng sau của Tòa Ðô Chánh rồi ra cổng trước  trên đường Lê Thánh Tôn. Xe ngừng lại vài giây đồng hồ tôi vẫn còn thấy Lê Công Hoàn, Ðại úy Lộc ở đằng sau. Từ giờ phút đó đối với tôi là một khúc rẽ cuộc đời.

 

Chiếc deux cheveaux rú lên ra đường Lê Thánh Tôn chạy ngang qua rạp Cinéma Rex, rẽ về tay phải, ngon trớn trên đường Lê Lợi. Ðằng sau chiếc deux cheveaux một chiếc Land Rover đuổi theo. Trong đó có ông Cao Xuân Vỹ, cứ thế xe chạy mãi đến Nha Thanh Niên ( ngôi nhà Ðại Thế Giới cũ ) ở đường Ðồng Khánh, tới đây ông Ngô Ðình Nhu và Tổng Thống chuyển xe.

 

Tôi theo Tổng Thống, Ðại úy Bằng và ông Cao Xuân Vỹ tạm biệt Tổng Thống và ông Ngô Ðình Nhu. Và không ai ngờ rằng giờ phút gặp mặt cuối cùng là ở đây.

 

Lộ trình của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm dời Dinh Gia Long rất đơn sơ và dễ dàng. Trên đường lánh nạn, phố xá vắng ngắt như tờ, tôi không thấy một anh lính chiến nào, thỉnh thoảng mới thấy một cảnh sát viên. Trong giờ ấy tôi còn bắt gập một chiếc Taxi đang chạy với một tốc độ thật nhanh.

 

Nhật Ký ÐỖ THỌ. Trang 206-207 – 211 – 212 – 213 – 216

 

Từ Dinh Gia Long đến Nha Thanh Niên Cộng Hòa ( Sòng bạc Ðại Thế Giới cũ ) Tổng Thống Diệm, ông Ngô Ðình Nhu, chuyển qua chiếc Land Rover để đến nhà Mã Tuyên. Mã Tuyên là một bang trưởng của một nhóm người Huê kiều ở Chợ Lớn. Mã Tuyên còn là Thủ Lãnh Thanh Niên Cộng Hòa ở vùng này.

 

Ðến nhà Mã Tuyên đúng vào lúc 8 giờ 45 tối. ( ngày 1 – 11 – 1963)

(.. .. .. )

Dời nhà Mã Tuyên khoảng lúc 5 giờ 15 sáng ngày 2 – 11 – 1963.

 

Vào khoảng 5 giờ sáng 2-11- 1963, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, ông Ngô Ðình Nhu và tôi xuống xe bước vào Nhà Thờ Cha Tam. ( CTHÐ: Ông Ðỗ Thọ kể ông là người lái chiếc xe Land Rover từ nhà Mã Tuyên đến Nhà Thờ Cha Tam.)

 

Nhật Ký Ðỗ Thọ. Trang 219 – 220  – 221 – 222- 223

 

Tổng Thống ra lệnh cho tôi lấy điện thoại của Nhà Xứ gọi về Tổng Tham Mưu  và cố gắng gặp cho được Tướng Trần Thiện Khiêm.

 

Tôi cầm điện thoại gọi ngay về Tổng Tham Mưu. Bên kia đầu dây xưng danh Ðại tá Ðỗ Mậu.

 

Tôi nói ngay:

“Thọ đây, thưa chú.”


Ðại tá Ðỗ Mậu hỏi:

“Cháu đang ở đâu? Ông cụ đi đâu?”


Tôi đáp:

“Tổng Thống muốn nói chuyện với Tướng Lãnh.”


Ðại tá nói:

“Các Tướng chưa ai đến, chỉ có Tướng Khiêm thường trực ở đây.


Tôi đợi trong nháy mắt thì nghe tiếng Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm.

Tôi trình bày ngay là tôi được lệnh Tổng Thống liên lạc với Hội Ðồng Tướng Lãnh, và hiện Tổng Thống đang ở tại Nhà Thờ Cha Tam, Chợ Lớn, Hội Ðồng Tướng Lãnh cử đại diện đem xe đến rước Tổng Thống về Tổng Tham Mưu.


Tướng Trần Thiện Khiêm nói:

“Ðược rồi. “Qua” sẽ trình lên Trung Tướng Chủ Tịch. Nói với Tổng Thống yên tâm, sẽ có Tướng lãnh xuống.”

(.. .. .. )

 

Tổng Thống Diệm vội vàng ra khỏi nhà thờ bằng cửa chính. Ông Nhu bén gót. Kế đó là linh mục và cuối cùng là tôi...

 

Hai chiếc xe bọc sắt M113 đỗ ngay trên sân nhà thờ. Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đứng trên tầng cấp nhìn ra. Từ chiếc xe Jeep vừa đến, Ðại tá Lắm tiến đến gần chào kính cẩn Tổng Thống Diệm, đằng sau có hai sĩ quan cấp úy mặc đồ trận nhẩy dù hộ tống. Sau này tôi mới biết đó là hai Ðại úy, một Nhẩy Dù, một Thiết Giáp, hai ông cùng mang tên bắt đầu bằng chữ N.

 

Ðại tá Lắm nói rất nhỏ chỉ vừa cho Tổng Thống và ông Ngô Ðình Nhu nghe. Thỉnh thoảng chỉ về hướng hai chiếc xe M113. Tổng Thống Diệm nhíu mày nhìn ông Ngô Ðình Nhu. Ðại tá Lắm từ biệt, lên xe Jeep đi mất dạng. Tôi thấy xa xa bên ngoài đường có chiếc xe Jeep, trên xe có một vị Tướng nhưng tôi không nhìn rõ mặt.

 

Ðại Tá Lắm đi rồi. Hai Ðại úy cùng tên N. sấn đến bắt Tổng Thống Diệm và ông Ngô Ðình Nhu lên M113.

 

Tổng Thống Diệm không có phản ứng, ông Nhu bực bội ra mặt, ông nói với hai sĩ quan:


“Tổng Thống đây, tôi là Cố Vấn Tổng Thống. Ðến đón Tổng Thống bằng xe này hả? Tôi phải nói chuyện với Tướng Minh, Tướng Ðôn.”

 

Một sĩ quan nói: 

“Chúng tôi được lệnh áp giải. Giờ này không còn ai là Tổng Thống nữa.”

 

Tổng Thống và ông Nhu giận lắm, nhưng không thể làm gì hơn trong hoàn cảnh này. Ông Nhu ném điếu thuốc đang hút xuống đất. Ðoạn ông xô hai sĩ quan ấy ra xa. Tổng Thống nắm lấy vai áo ông Nhu như có ý cản ngăn.

 

Những sĩ quan đảo chánh nộ khí, tỏ ra dữ tợn trước hành động ngang bướng của ông Ngô Ðình Nhu. Sĩ quan mặc đồ Dù rút khẩu Colt 38 ra cầm tay.

 

Tôi không thấy cử chỉ chùn bước nào của Tổng Thống và ông Nhu trước hành động hăm dọa của vị sĩ quan đó.

 

Vài người lính trên xe M113 thấy cảnh xô đẩy đó chạy đến chĩa súng vào Tổng Thống Diệm và ông Nhu.

 

Ông Nhu quát lên:

“Ðồ vô lễ...!”

 

Mấy người lính đẩy ông Nhu đến xe M113, mở cửa xe, đẩy ông vào. Ông Nhu cự nự. Ðến lượt Tổng Thống Diệm bị đẩy tới bên xe.

 

Tôi chạy đến đưa chiếc cặp da, cái mũ dạ, cây ba-toong cho Tổng Thống. Ðại úy Nhung giật những thứ đó từ tay tôi, tôi không đến được gần Tổng Thống.

 

Ngưng trích Nhật Ký ÐỖ THỌ 

 

Công Tử Hà Ðông: Khoảng năm 1981, hay 1982, tôi đọc thấy trên tờ Tuần Báo Văn Nghệ của bọn Văn Nghệ Giải Phóng Thành Hồ một bài viết về Tổng Thống Ngô Ðình Diệm.

 

Bài báo kể chuyện năm xưa mỗi lần TT. Ngô Ðình Diệm đi kinh lý đến mấy tỉnh miền Tây, chính quyền sở tại kêu gọi dân chúng treo cờ, trang hoàng cửa nhà chào đón Tổng Thống. Dân lục tỉnh phản ứng bằng cách đem những cái chậu đất nung dùng để trồng cây ra xếp ở trước cửa nhà. Tên gọi những cái chậu này là “diệm,” việc chống đối ngầm ấy được bọn VC gọi là “chồng diệm đón Diệm.”

 

Ðọc qua bài ấy, tôi nghĩ: 

Chán mớ đời. Không có chuyện gì để viết, lôi cái chuyện cũ sì này ra châm biếm. Bố khỉ.

 

Với tôi lúc ấy chuyện Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị giết xưa quá rồi, chuyện không còn gì quan trọng với nhân dân Quốc Gia VNCH. Chuyện quan trọng bây giờ là chuyện Quốc Gia VNCH tiêu vong, Sài Gòn đầy cờ đỏ, nhân dân Quốc Gia VNCH chết thảm thương, những người dở sống, dở chết rên xiết trong gông cùm Bắc Cộng. Theo tôi những năm sau 1970 chẳng còn người dân VNCH nào nhớ TT. Ngô Ðình Diệm. Một trong những người không nhớ đó là tôi.

 

Từ năm 1995 tôi sang Hoa Kỳ, tôi thấy người Việt ở Mỹ, nhớ, nói, kể, viết rất nhiều về Công, Tội của TT. Ngô Ðình Diệm; vấn đề tại sao người Mỹ lật đổ chính quyền VNCH, ai là kẻ chủ mưu giết TT. Ngô Ðình Diệm, được người Việt ở Mỹ đặt ra. Thật nhiều Lời Khen, Tiếng Chê về TT. Ngô Ðình Diệm. Và hôm nay, một ngày Tháng 12 năm 2011, gần 50 năm sau ngày TT. Ngô Ðình Diệm – Vị Tổng Thống Thứ Nhất của Quốc Gia VNCH – bị bắn chết, tôi kể lại chuyện ông bị giết qua những trang Hồi Ký của ông Ðại Úy Ðỗ Thọ, một sĩ quan tùy viên của Tổng Thống.


Nhật Ký Ðỗ Thọ giải toả sự théc méc của tôi về chuyện TT. Ngô Ðình Diệm có vệ sĩ hay không?


Như vậy là – theo Nhật Ký Ðỗ Thọ – TT. Ngô Ðình Diệm không có vệ sĩ. “Vệ sĩ” tôi viết đây là loại vệ sĩ “Garde du corps”, như những “Bodyguard” của Tổng Thống John F. Kennedy.

 

Nhật Ký Ðỗ Thọ 320 trang, có thể thu ngắn thành 50 trang. Trong thời gian Nhật Ký Ðỗ Thọ đăng trên Nhật báo Hoà Bình, tôi nghe nói có nhiều người tố cáo đó là Nhật Ký Dzởm, Nhật Ký do người dùng tên Ðại Úy Ðỗ Thọ để viết. Tôi lại nghe nói có người tố cáo “Ðại úy Ðỗ Thọ báo với Ðại Tá Ðỗ Mậu việc TT. Ngô Ðình Diệm đang ở trong Nhà Thờ Cha Tam.

 

Trong Nhật Ký Ðỗ Thọ, có vài dòng tác giả kể lướt qua chuyện ông bị nghi oan. Dường như – tôi nhớ không biết có đúng không – Ðại Úy Ðỗ Thọ đã qua đời.

 

Dòng Thời Gian dài một ánh mây bay…

 

“.. Chiếc deux cheveaux đi ra cổng đường Pasteur, quẹo vào cửa sau Toà Ðô Chính..”


Những ngày như lá, tháng như mây...!

 

Tôi tạm ngừng viết ở đây.


*  *  *

 

TT. Ngô Ðình Diệm không có vệ sĩ; nhưng bọn phản tướng, tụi khố xanh khố đỏ, được đào tạo bởi thực dân Pháp đều có tuỳ viên quân sự "vệ sĩ" cận vệ... tên Dương văn Minh có thằng vệ sĩ Nguyễn Văn Nhung và Trịnh Bá Lộc làm chó giữ nhà; tên Trần Thiện Khiêm có cựu Thiếu tá Nguyễn Tấn Phận là tuỳ viên quân sự "vệ sĩ" cùng Phạm bá Hoa làm chó giữ nhà, Cẩu cao Cầy có Lý Huỳnh là cận vệ và Bằng Phong Đặng văn Âu chuyên chạy tội hoà hợp hoà giải cho chủ nhân v.v...  Cuộc đời thật trớ trêu, bọn đệ tử lính tráng, du thử du thực, bất tài đều có vệ sĩ cận vệ; còn vị lãnh đạo không hề có vệ sĩ bảo vệ.

 


Monday, August 20, 2018

Phi Công Phan Thanh Vân 


Người bạn hỏi tôi:

–Anh có tin Số Mệnh và Tử Vi không?

Tôi nói:

–Phải chia câu hỏi của anh thành hai câu hỏi: Có tin Số Mệnh không? Có tin Tử Vi không? Tôi tin con người có Số Mệnh nhưng con người không thể biết trước được đời mình sẽ ra sao. Tôi không tin khoa Tử Vi có thể biết trước những việc chưa xảy đến, sẽ xảy đến trong đời một người. Chuyện tại sao tôi không tin Tử Vi là một đề tài khác. 

Hôm nay tôi mời quý vị đọc chuyện đời của Người Phi Công Không Lực Việt Nam Cộng Hòa Phan Thanh Vân để quý vị thấy như tôi thấy: con người Sống Chết có Số, Người chưa đến Số Chết thì dù có bị rơi vào cảnh Chết 1000/100 vẫn cứ Sống. 

Phi công Phan Thanh Vân sống những ngày cuối đời ở Virginia-Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Ðất Trích – Virginia is for Lovers – tôi gặp anh PT Vân ở Virginia. Ðây là lời những người bạn phi công của anh viết về anh trong Tập San Lý Tưởng: 

Ngày 1 tháng 7 năm 1961, Phi công Phan Thanh Vân lãnh một nhiệm vụ đặc biệt: anh thay Phi công Nguyễn Cao Kỳ, lái phi cơ ra miền Bắc để thả dù tiếp tế cho một đội Biệt Kích VNCH.

Trong chuyến bay định mệnh này, phi cơ của anh bị hỏa tiễn của CSBV bắn rơi lúc 01 giờ 15 phút rạng ngày 2-7- 1961, khi phi cơ đang bay sát từ mặt biển vào đất liền.

Máy bay rơi xuống một nơi thuộc xã Tô Hiệu, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Phi hành đoàn do anh PT Vân chỉ huy và lái gồm 2 phi công phụ: Trung úy Phan Khắc Thích, Thiếu úy Trần Minh Tâm, 2 điều hành viên: Thiếu úy Tiêu Huỳnh Yên, Chuẩn úy Phạm Trọng Mậu, 1 vô tuyến điện viên: Trung sĩ Nguyễn Văn Nở, 1 cơ khí viên: Thượng sĩ Phạm Văn Ðăng, và 3 Biệt Kích Dù: Thượng sĩ Lộc, Trung sĩ Tiết và Thượng sĩ Khoa, thuộc Phòng 46, Sở Bắc, sau đổi thành Nha Kỹ Thuật. Cả thảy 10 người trên phi cơ lúc bị bắn rơi xuống bãi sình lầy, rồi bốc cháy, người chết cháy vì kẹt lại trong phi cơ, người bị thương nặng rồi chết sau đó, chỉ còn lại 3 người sống sót. Cả 3 đều bị thương rất nặng. Sau một thời gian bị giam giữ hỏi cung tại Nhà Tù Hỏa Lò, Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 1961, ba Chiến sĩ VNCH bị đưa ra Tòa Án Quân Sự CSBV. Bản án như sau:

–Ðinh Như Khoa, Biệt Kích Dù, 15 năm tù
–Phan Thanh Vân, Trưởng Phi cơ, 7 năm tù
–Phạm Văn Ðăng, Cơ Khí viên, 3 năm tù.

PT Vân bị tù khổ sai ở Trại Bất Bạt, Ba Vì, Sơn Tây, rồi bị đưa lên giam giữ tại Trại E ở Phố Lu, Lào Cai. Năm 1971, PT Vân được CSBV phóng thích sau 10 năm tù giam và quản thúc. Nhờ sự bảo lãnh của bà chị ruột, qua Hồng Thập Tự Pháp, anh được sang Pháp để đoàn tụ với gia đình bà chị.

Ðây là bài viết của Phi Công Phan Thanh Vân:

Chiều nay, sau khi làm xong cái giường đôi, gã chính ủy (ủy viên chính trị) quản lý Hợp tác xã Mộc Ðồng Tiến ở thị xã Ba Vì, tỉnh Sơn Tây gọi tôi lên văn phòng, y nói:

–Anh nghỉ làm đi, về lán thu xếp để ngày mai về Hà Nội.

Tôi thắc mắc:

–Dạ, báo cáo cán bộ, tôi về Hà Nội có chuyện gì và về bao lâu?

Gã lạnh như tiền:

-Anh đừng hỏi, đó là lệnh trên, tôi không biết lý do. Anh cứ đi, có lẽ anh sẽ không trở về đây đâu. 

Ra khỏi văn phòng cán bộ, tôi trở về lán thu xếp hành lý mà trong lòng lo sợ: lại chuyện gì đây? Ðược đưa về đây sống quản thúc ở hợp tác xã Mộc này đã gần 2 năm nay, ngày ngày, tháng tháng lòng tôi lúc nào cũng thấp thỏm lo âu với cái tội nặng là “Giặc Lái Mỹ Ngụy.” Năm 1961, sau khi lãnh án tù 7 năm, tôi từ Hỏa Lò Hà Nội đi qua trại này, trại kia, cuối cùng là Trại Tù E Phố Lu, Lào Cai, tôi đã “ngoan ngoãn” cải tạo tư tưởng để trở thành “thành phần tiến bộ”, để sau khi hết án 7 năm tù, được hưởng thêm 2 năm “tự giác” ở lại trại giam. Và cuối cùng cho đến năm 1969, tôi đã thở phào nhẹ người khi được Ðảng và Nhà Nước “trả tự do,” đưa về đây quản thúc với nghề thợ mộc, “ngày động, tối điểm”: ban ngày lao động: cưa xẻ, đóng bàn, đóng giường, tối điểm danh trước khi đi ngủ….

Tối hôm nay trằn trọc mãi, không tài nào ngủ được, lo nghĩ lại chuyện gì sẽ đến với mình đây, tại sao lại bị đưa về Hà Nội, tại sao... tại sao...??? Nằm mãi không ngủ được thôi thì dậy, phì phèo vài điếu thuốc lào. Ngoài lán các “đồng chí” đang quây quần bên bếp lửa canh nồi bánh chưng. Nếu không có cái lệnh ngày mai đi Hà Nội thì giờ này tôi cũng ngồi bên bếp với các bạn. 

Rồi đêm dài cũng qua, chưa 9 giờ sáng, một chiếc xe Molotova loại nhỏ như xe Jeep của Mỹ, đến đậu trong sân Hợp Tác Xã. Rồi tôi được gọi lên văn phòng. Cán bộ chờ tôi là cán bộ Toán. Ông nhẩn nha nói: 

“Hôm nay tôi đưa anh về Hà Nội, rồi đưa anh ra sân bay để anh đi Pháp đoàn tụ với gia đình. Ðảng và Nhà Nước đã rất khoan hồng với anh và đã chấp thuận lời xin của người chị của anh ở bên Pháp, cho anh về Pháp sum họp gia đình.” 

Nghe nói tôi gần tắt thở, mừng đến nỗi tim tôi đập mạnh như muốn nhảy ra ngoài, tôi cố bình tĩnh để nghe tiếp những lời lải nhải của đĩa hát cũ đã rè, lập đi lập lại, nào là “anh phải biết ơn nhân dân, biết ơn Ðảng và Nhà Nước,” nào là “anh phải tiếp tục cải tạo tư tưởng để thành người tiến bộ, sống ở nước ngoài anh vẫn có thể phục vụ Tổ Quốc, và để có ngày anh trở về nước phục vụ nhân dân, phục vụ Ðảng và Nhà nước, v.v. và v.v.” 

Ông Toán nói tiếp: “Ðây là giấy thông hành tạm cấp cho anh để anh dùng đi đường ra nước ngoài, đây là giấy máy bay của hãng Hàng Không Pháp Air France đi từ Hà Nội đến Paris. Giấy máy bay này do người chị của anh mua. Thôi, chúng ta lên đường, anh còn có ý kiến, còn muốn phát biểu gì không?” 

Tôi lập bập: “Dạ... Dạ... Báo cáo cán bộ..., dạ... dạ... thưa... không!” Chân tôi bủn rủn, đi hết muốn vững. Ðâu có ngờ! Ra đến xe thấy cán bộ quản lý chạy lại: “Anh cầm lấy túi bánh chưng này, đây là quà Tết của Hợp Tác Xã tặng anh, cầm theo mà ăn đường.” 

Xe lăn bánh rời Ba Vì, bon bon trên đường về Hà Nội. Ngồi trên xe mà lòng tôi lâng lâng, nửa tỉnh nửa mơ, mừng lo lẫn lộn, vì chưa hẳn dám tin đó là chuyện thật. Hai bên đường cây cối trơ trụi, bụi đường bốc lên sau xe, nhưng tôi thấy cái gì cũng vui tươi, cái gì cũng đẹp, sáng, tưng bừng như... Tết. Mải triền miên với trăm nghìn ý nghĩ, tôi không để ý xe đã băng qua Hà Nội lúc nào và đang trên đường đến sân bay Bạch Mai. Tôi nhìn sân bay, ngoài bãi đậu có hai ba chiếc máy bay, một chiếc kiểu Illouchine 14 của Nga, loại máy bay vận tải chở hành khách loại nhỏ đang chuẩn bị cất cánh, năm ba người nhân công chạy chung quanh, người đổ xăng, người đi vòng phi cơ kiểm tra. Tôi theo cán bộ Toán vào quầy hành khách trình giấy tờ, giấy thông hành, giấy máy bay... Làm xong thủ tục, cán bộ Toán nói:

“Thôi đến giờ rồi, anh ra máy bay đi, anh đi mạnh giỏi và hãy nhớ những gì tốt anh đã tiếp thu được mà cố gắng trở thành người tốt.” 

Tôi líu ríu: “Dạ... báo cáo cán bộ, dạ... tôi xin cám ơn!” Tôi hối hả theo sau độ mười người nữa ra chỗ máy bay đậu. Nhìn những hành khách khác, không biết là Việt hay Tàu, người nào cũng áo bốn túi, cổ áo Mao, chắc họ là cán bộ đi công tác, còn tôi thì chả giống ai với bộ bà ba nâu, chân đi dép cao su Bình Trị Thiên, tay ôm túi bánh chưng và gói quần áo. Tôi tìm chỗ ngồi trong phi cơ. Nhìn anh phi công cao lớn, da trắng đỏ, có lẽ là người Nga, mặc đồ phi hành dân sự, đi giữa hai hàng ghế hành khách để vào buồng lái, tôi ngẩn ngơ nhớ lại... ngày nào! 

Chiếc vận tải cơ Illouchine 14 của Hàng Không Nga chuyển bánh ra phi đạo, rồi cất cánh bay lên. Toàn thân tôi rung mạnh theo đà máy bay bay lên, bỗng dưng hai mắt tôi nhắm nghiền lại, người tôi tự nhiên thấy ớn lạnh khi chợt nhớ đến... một chuyến bay xưa! Rồi những kinh hoàng, hãi hùng của những giây phút rùng rợn gần 10 năm xưa tiếp diễn qua tâm trí tôi như một cuốn phim: 

Tôi nhớ chiếc phi cơ C47 trắng ngần do tôi lái đêm ấy khi vượt qua vĩ tuyến 17, bay là sát mặt biển rồi vào vùng trời miền Bắc. Cả 10 anh em chúng tôi đều thần kinh căng thẳng, không ai nói với ai một lời. Khi máy bay vào sâu nội địa, lúc ấy khoảng hơn 1 giờ đêm, đột nhiên tôi thấy nhoáng lên như ánh chớp màu da cam ngay trước mặt tôi trong bầu trời như bức màn đen, máy bay rung giật mạnh, không nghe một tiếng nổ hay bất cứ một âm thanh gì, hai tay tôi ôm cứng tay lái, cố giữ thăng bằng cho chiếc máy bay, mắt tôi còn thoáng thấy anh Mậu điều hành viên và anh Thích phi công phụ, rồi... tôi không còn biết gì nữa! 

Không biết mãi bao lâu sau, khi thấy lạnh run, tôi cố mở mắt nhìn trong đêm tối đen kịt, người tôi như vỡ nát ra trăm mảnh, tôi không cử động được tay chân, đau đớn tận cùng, hồn tôi lửng lơ, tôi tưởng như tôi đã chết rồi, hay đang... chết. Sau đó dần dần một lúc, tôi mới cảm thấy đau nhừ khắp cả người, chỗ nào cũng đau, tôi không nhìn thấy gì cả, cố thu hết tàn lực đưa tay quờ quạng hốt ít nước bùn lầy đưa lên mặt để rửa. Nước bùn nhầy nhụa hòa với một thứ nước mằn mặn, máu, mặt tôi đầy máu, tôi lại mê man, tâm trí như có một khoảng trống rỗng, chẳng còn ý niệm gì về thời gian, không gian. Tôi cũng chẳng biết là cho đến bao lâu nữa, mãi khi tai tôi nghe có tiếng người văng vẳng trong gió lao xao của đêm khuya. Tiếng kêu: “Chết tôi, nóng quá, nóng quá, chết... tôi!” Tiếng kêu thảm thiết của những người đang chết cháy! Tôi không nhúc nhích gì được, một nửa người của tôi ngập sâu dưới bùn lầy, tôi cố mở mắt nhìn: cách chỗ tôi “đứng” vài trăm thước, một đám cháy to, lửa đỏ bốc lên ngùn ngụt, những tiếng thét kinh hoàng mà tôi nghe từ đó vọng ra, tôi nửa tỉnh nửa mê, lờ mờ biết rằng chiếc phi cơ C47 do tôi lái đã bị bắn rơi xuống đây và đang bốc cháy! Tôi lại mê man bất tỉnh cho đến khi mở choàng mắt ra lần hai, lúc này tôi đã nhìn được lờ mờ thấy khung cảnh đồng ruộng sình lầy, đầu tôi đau nhức như có người lấy dao nạo vào óc, rồi tôi nghe tiếng người hò hét xa xa, tiếng léo nhéo, quát tháo vẳng trong gió đêm.

Tiếng quát tháo của đàn ông, đàn bà càng lúc càng gần cùng với những ngọn đuốc lập lòe đốt sáng cả một góc trời, đầu óc tôi tê đi, cho đến lúc họ đến quát tháo bên tôi mà tôi vẫn “đứng im như một xác chết đứng.” Họ hò nhau túm lấy tay chân tôi, kéo tôi ra khỏi sình lầy. Lúc này trời đã sáng tỏ, tôi thấy không biết bao nhiêu người, đàn ông, đàn bà lố nhố vây quanh tôi, súng ống, gậy gộc, họ hầm hè như muốn nhai xương, uống máu, ăn thịt tôi, tôi đau đớn, tôi sức tàn, tôi sợ, tôi nhắm mắt lại, rồi lại lịm đi, văng vẳng nghe tiếng quát, tiếng chửi rủa: “Coi chừng, nó hãy còn sống, đập chết nó đi, nó là biệt kích ác ôn của Mỹ Diệm!” 

Cuốn phim đến đây tự nhiên tắt, tôi giựt mình bừng tỉnh dậy. Tôi đang ngồi trên chiếc ghế của hành khách, máy bay đang bay êm, tiếng máy đều đều... Trong máy bay lạnh nhưng người tôi ướt đẫm mồ hôi, ướt thấm cả bộ quần áo nâu tôi đang mặc, tôi cảm thấy lạnh, lạnh ớn xương sống... với giấc chiêm bao vừa qua!

Với tay lấy cái mền đắp lên người tôi mới nhớ ra các giấy tờ mang theo, tôi lấy ra xem. Ngoài tờ giấy thông hành tạm, đóng dấu đỏ của Bộ Công An Hà Nội là giấy máy bay của Hàng Không Pháp Air France, trong đó ghi chặng đường bay: Hà Nội, Canton, Hồng Kông, Paris. Tôi nghĩ: tại sao ghé qua Quảng Ðông? (Canton) Ðó là đất Trung Cộng, nếu gặp lôi thôi, trở ngại biết làm sao? Mãi loay hoay với cả ngàn ý nghĩ lo âu, tôi không để ý đến đèn báo hiệu buộc dây an toàn bật sáng, cho đến khi người chiêu đãi viên đến nhắc tôi vì máy bay chuẩn bị đáp xuống. 

Phi trường Quảng Ðông vắng tanh, lạnh ngắt, không thấy một sinh hoạt nào như các phi trường dân sự khác, không thấy một chiếc máy bay nào khác đậu ở sân bay, ngoài chiếc máy bay tôi đang đi, từ từ vào bến đậu. Tôi xuống máy bay theo sau lẻ tẻ hai ba người hành khách khác, đi vào trạm nhà ga. Tôi tìm ngay đến quầy của Air France. Sau khi xem giấy tờ, giấy máy bay của tôi, một người Tầu, bập bẹ tiếng Pháp, nói: 

“Chúng tôi không có đường bay nối tiếp (connection) giữa Canton và Hồng Kông, theo lộ trình đã được chỉ định và trả tiền trước trong giấy của anh, chúng tôi sẽ cho anh đi Hong Kong bằng đường xe lửa, khi đến Hong Kong anh sẽ lấy máy bay đi Paris, anh theo tôi ra xe để tôi đưa anh ra nhà ga xe lửa.” 

Ngồi trên xe theo người nhân viên Air France từ phi trường ra ga xe lửa, quang cảnh hai bên đường xe chạy lạ hoắc, nhưng tôi đâu còn tâm trí nào để ghi nhận! Nhà ga xe lửa Quảng Ðông nhộn nhịp ồn ào khác thường, đặc nghẹt hành khách và hành lý. Người nhân viên Tầu dắt tôi len lỏi qua đám người, chen chúc đến quầy lấy vé rồi đưa tôi lên một toa giữa con tầu, may mắn tìm được một chỗ ngồi gần cửa sổ, anh ta đưa tay bắt tay tôi, anh chúc tôi may mắn: “Bonne chance.” Khi xe lửa bắt đầu lệnh khệnh lăn bánh, một kiểu xe lửa từ thời chiến tranh 1914-18, cũng là khi tôi thấy đói lả, mệt nhừ! Chợt nhớ túi bánh chưng xách theo từ khi rời Hà Nội, tôi mở ra lấy một cái, bóc lá, nhỏm nhẻm ăn ngon lành, thả hồn thưởng thức hương vị của bánh chưng Tết, mặc kệ quang cảnh ồn ào chung quanh, tiếng cười, tiếng nói “xí xí ngộ cỏn” của các hành khách nông thôn Tầu đủ loại, đang chen chúc nhau trong toa tàu chật hẹp.

Trời đã xế chiều, tôi không có ý niệm chính xác về thời gian, đoán chừng là đã 4, 5 giờ chiều thì xe lửa từ từ dừng lại vì đã tới trạm ranh giới giữa Quảng Ðông và Hồng Kông. Sau khi xe lửa ngừng hẳn, giữa cảnh ồn ào nhốn nháo của hành khách, tôi thấy hai người mặc đồng phục, một người Anh và một người Tầu, tôi đoán là nhân viên của Sở Di Trú (Immigration) lên toa xe để kiểm soát giấy tờ. Sau khi xem xét giấy thông hành tôi trình, nhân viên người Anh lật qua lật lại tờ giấy của tôi, xem kỹ rồi nói: 

“Với giấy thông hành này của CS Hà nội cấp cho anh đi đường, vì không phải là sổ thông hành chính thức, chúng tôi chỉ chấp nhận cho anh đi qua (transit) Hông Kông 24 tiếng đồng hồ mà thôi, sau thời gian đó, anh phải đi ra khỏi Hong Kong, nếu không chúng tôi sẽ bắt anh và trục xuất anh về Hà Nội, anh có hiểu rõ lời tôi nói không?” 

Tôi xanh mặt, lắp bắp trả lời: “Yes, yes Sir!”

Tay run run cầm tờ giấy thông hành người nhân viên Anh đưa trả, tôi nghĩ thầm: “Chết cha thằng nhỏ rồi, biết lo liệu làm sao đây?” Xe lửa ngừng hẳn ở nhà ga Hong Kong, hành khách chen chúc nhau đi xuống, tôi đặt chân xuống nền xi-măng sạch mát của nhà ga, lòng tự nhiên thấy hả hê, vui lây với quang cảnh sinh hoạt của Thế Giới Tự Do! Tôi nhìn đồng hồ nhà ga, đã hơn 6 giờ chiều, tôi vội ra khỏi nhà ga, tìm đường mò về phi trường Kaitak, phi trường quốc tế của HongKong 

“Thả cọp về rừng”, đường xá ở Hong Kong đâu có xa lạ gì với tôi, khi tôi còn lái cho Air Vietnam, nhiều lần tôi ghé qua ăn chơi ở đây. Tôi vừa đi vừa chạy, băng qua các phố xá đông nghịt người vui cảnh Tết, nhưng tôi đâu có dám dừng chân để thưởng thức gì, vừa mệt vừa lo sao cho mau đến phi trường Kaitak để bắt cho kịp chuyến máy bay Air France đi Paris. 

Vào đến phi trường là lúc phố xá lên đèn, người tôi mệt nhoài, tôi hổn hển tìm đến quầy vé Air France, trình giấy máy bay để đi cho kịp chuyến AF 1002, cất cánh lúc 20 giờ đi từ Hong Kong sang Paris theo như trên bảng khởi hành (departure) mà tôi đã nhanh mắt nhìn qua. Người nhân viên Air France sau khi xem vé và giấy thông hành của tôi, nói: 

“Chúng tôi rất tiếc không thể cho anh đi trên chuyến bay này vì anh mang giấy tờ của CSBV, máy bay của chúng tôi phải làm transit ở Bangkok, tôi sợ nhà cầm quyền Thái sẽ làm khó dễ anh, họ làm khó cả hãng chúng tôi vì họ đã có lời yêu cầu không được cho người Bắc Việt Nam đi trên máy bay dù người đó chỉ ghé qua Thái Lan. Tôi khuyên anh nên nhẫn nại chờ chuyến sau, hoặc bay thẳng, hoặc ghé nơi nào thuận lợi cho anh thì anh hãy đi.” 

Cầm giấy tờ người nhân viên đưa trả, tôi thở hắt ra: “Hỡi ơi, sao lại gặp rắc rối quá trời như thế này”. Chân đi không vững, tôi mò ra ghế ngồi, trong lòng “trống đánh thùng thùng”, lo sợ cứ nghĩ đến giờ sẽ bị trục xuất! Sợ mà không biết phải làm sao để có thể đến Paris. Chợt có người từ đằng sau đi tới vỗ nhẹ lên vai tôi và một giọng phụ nữ vui vẻ nói bằng tiếng Pháp: “Ê có khỏe không? Anh có phải là anh Vân, captain Air Vietnam? Ði đâu mà ăn mặc kỳ cục không giống ai hết vậy?”

Tôi quay lại, một người đẹp trong bộ y phục nữ chiêu đãi viên Hàng Không tươi cười đưa tay cho tôi bắt, nàng nói: “Anh quên tôi rồi sao? Tôi là Francoise, hôtesse Lufthansa nè!” Tôi ngỡ ngàng nhìn người thiếu phụ quen quen mà không nói được một lời, nàng huyên thuyên kể chuyện cũ. À! Thì ra nàng là Francoise Dupuis, nữ chiêu đãi viên bay cho Hàng Không Ðức, người mà thời xưa, lúc tôi còn lái cho Air Vietnam, từng được tôi mời ăn, mời uống, mời nhảy mỗi khi tôi gặp nàng ở những escale Hong Kong hay Tokyo. Tôi mừng quá là mừng. Tôi vội kể sơ cuộc đời tôi trong 10 năm vừa qua và cái rắc rối lớn tôi gặp ở đây. Nghe xong nàng nói: 

“Anh đừng lo, tôi sẽ thu xếp cho anh đi Paris ngay đêm nay. Anh đưa vé máy bay của anh cho tôi, tôi sẽ lo liệu cho anh đi trên chuyến máy bay Lufthansa của tôi, cất cánh đi Frankfort lúc 10 giờ đêm nay, có ghé qua Paris, có điều là tôi dặn anh phải nhớ, khi đáp xuống Bangkok để tiếp tế xăng và lấy thêm hành khách, anh phải giả bệnh nằm lại trên phi cơ, tôi sẽ tìm cách thu xếp cho anh tránh khỏi sự kiểm soát của Thái Lan, anh nhớ nhé. Anh đi theo tôi làm thủ tục cho kịp.” 

Mừng như người sắp chết được sống lại, tôi líu ríu đi theo người đẹp mà lòng xôn xao thầm nghĩ: “Sao mình may mắn được hưởng cảnh ‘thánh nhân hậu đãi kẻ khù khờ’ như vầy nè.” Sau bao nhiêu gian truân trắc trở, lo lắng trên đoạn đường đời của một người “Từ Cõi Chết cộng sản tìm về Cõi Sống Tự Do” cuối cùng tôi đặt chân xuống Phi Trường Orly, Pháp, ngày 7 tháng 2 năm 1971.

Cò Trắng Phan Thanh Vân
Xuân 2002


CT Hà Ðông:

Những chiếc phi cơ chở Biệt Kích ra Bắc được sơn trắng toát, không có quân hiệu, số hiệu, những phi công chuyên lái những phi cơ trắng ấy được gọi là Cò Trắng. Tôi gặp Phi công Phan Thanh Vân khoảng năm 2000, buổi gặp đầu tiên ở nhà ông Cựu Trung tá Không Quân Hoàng Song Liêm. Vì không quen biết anh PT Vân từ trước 1975 nên nay tuy tôi rất mến anh, rất muốn biết nhiều hơn về cuộc phiêu lưu thập tử vô nhất sinh của anh, tôi không có dịp làm thân với anh để được biết thêm. Tôi chỉ biết người phi công lái chiếc phi cơ ra Bắc đêm đó là Phi công Nguyễn Cao Kỳ. Ông này bận việc nên Phi công Phan Thanh Vân tự nguyện bay thay.

Sống sót sau tai nạn, bị mù một mắt, anh PT Vân kể ông Hồ Chí Minh ra lệnh các y sĩ phải bằng mọi giá cứu sống vài người trong số 10 anh em anh, để đưa ra tòa, tố cáo với thế giới là Miền Nam VN vi phạm Hiệp Ðịnh Genève, cho biệt kích ra đánh phá miền Bắc. Tôi được biết là các chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đều chối việc gửi Biệt Kích ra Bắc – nói là không có việc gửi Biệt Kích ra Bắc – nên người Phi công Phan Thanh Vân khi đến Pháp không được Tòa Ðại Sứ VNCH nhận là chiến sĩ Quốc Gia, không nhận tất nhiên là không cho hưởng quyền lợi cũng không giúp gì cả. 

Nghe nói khi Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ đến Paris dự hội nghị, người phi công Phan Thanh Vân thế mạng cho ông năm xưa ở trong số người Việt đến đứng ngoài cửa Hotel đón mừng ông. Thấy bạn Phi công Phan Thanh Vân xưa, Phó TT Nguyễn Cao Kỳ bắt tay, hỏi:

– Vân đấy à??? 

Nếu đêm xưa ấy, phi công Nguyễn Cao Kỳ bay chuyến bay ra Bắc như đã định, thì hôm nay tôi đâu có gì để phải xấu hổ. Than ôi... Số. Tại Số. Ai bảo ở đời người ta không có Số? Tôi bảo Có! 

Sau mấy năm ở Pháp, anh Phan Thanh Vân sang sống ở Hoa Kỳ. Anh qua đời ở Virginia. Tuổi anh bằng tuổi tôi: chúng tôi ra đời những năm 1932. 1933, 1934 Thế Kỷ Hai Mươi Trần Ai Khoai Củ!

PT Vân là Công Tử Sài Gòn, hào hoa và có số đào huê hơn người. Những năm 1960 tôi nghe nói anh được hưởng “ân huệ thơm như múi mít” của hai Nữ Ca Sĩ tài danh đương thời. Trong hai Nữ Ca Sĩ này có một người tôi biết, người anh em cùng vợ với tôi là anh Hoàng Hải Thủy thấy đẹp, quyến rũ quá chời. Nhưng năm 1960, thời gian Nàng trẻ, Nàng đẹp, anh Hoàng Hải Thủy nhà tôi đã vợ con dzầm dzề dzồi nên anh không thể làm cánh bướm si tình mon men theo tà áo ngát hương của Nàng. 

Tôi đăng bài viết của Phi Công Phan Thanh Vân để nói với quý vị chuyện Nguời Ta ở Ðời có Số. Quần áo, giày dzép, sú-cheng, si-líp còn có Số, huống chi Người Ta. 

Tôi cảm khái cách gì khi đọc đoạn Nàng Hotesse de l’Air Lufhansa Francoise nhẹ gót sen đi đến vỗ vai người Phi Công VNCH Tơi Tả vừa mới ra Tù đang ngồi rầu rĩ ở Phi Truong Hong Kong. Mèn ơi... Nếu là tôi, tôi ôm hun Nàng thấm thíet, Police Hong Kong có đánh 216789 cây dzùi cui lên lưng, lên đầu tôi, tôi cũng không buông Nàng ra. Nàm thao tôi buông Nàng ra được! Mèn ơi... Cảm khái cách gì!

Hoàng Hải Thủy

Wednesday, August 15, 2018

" Đệ Nhất Phu Nhân "

hoànghảithủy

Từ năm 1950 Thế giới có những vị nữ lưu gọi là “Ðệ Nhất Phu Nhân.” Danh từ và chức vị của Ðệ Nhất Phu Nhân xuất từ tiếng “First Lady” của người Mỹ. Do đó kẻ viết ở Rừng Phong cho rằng người Mỹ đặt ra danh từ "First Lady : Ðệ Nhất Phu Nhân” để gọi bà vợ của những ông Tổng Thống Mỹ. Người thế giới gọi theo.

Image result for evita peron photos
Vị “Ðệ Nhất Phu Nhân” nổi tiếng nhất thế giới - theo tôi, CTHÐ - là bà Eva Peron. Eva Peron cũng là vị Ðệ Nhất Phu Nhân thứ nhất của thế giới. Trước bà, nhiều nước đã có những vị Ðệ Nhất Phu Nhân nhưng không có vị nào hoạt động Xã hội - Chính trị sôi nổi, nhiều và nổi tiếng khắp thế giới như bà Eva Peron. Dân Argentina gọi bà bằng cái tên thân thương Evita Peron.

Chuyện đời Ðệ Nhất Phu Nhân Eva Peron xẩy ra vào những năm từ 1946 đến 1952. Ðã hơn 60 năm. Tôi - CTHÐ - viết về bà Eva Peron, Ðệ Nhất Phu Nhân Argentina, với niềm hoài cảm. Năm bà làm Ðệ Nhất Phu Nhân tôi hai mươi tuổi, tôi mới đi những bước đầu trong nghề phóng viên nhà báo.

Bà Eva Peron kết hôn với Thiếu Tá Juan Peron năm 1944. Ông Peron đã có một đời vợ. Khi ông bà kết hôn, ông 48, bà 24 tuổi. Năm 1946 Ðại Tá Peron dùng Quân đội làm đảo chính lật đổ chính quyền dân sự. Ông trở thành Tổng Thống Argentina, bà Eva Peron trở thành Ðệ Nhất Phu Nhân. Bà làm nhiều công tác Xã hội có lợi cho dân nghèo, phụ nữ, nhi đồng, những người bị thiệt thòi trong xã hội. Bà được toàn dân Argentina kính mến. Nhưng theo đúng định luật “Hồng nhan bạc mệnh,” năm 1952 đang ở đỉnh cao của danh và quyền, bà Eva Peron đau ung thư. Bà là người bị bệnh ung thư thứ nhất trên thế giới điều trị bằng Chemotherapy.

Bà từ trần ngày 25 July 1952, năm bà 33 tuổi. Tang lễ của bà được cử hành theo nghi lễ quốc táng. Sau giờ báo tin bà tạ thế, mọi hoạt động trong nước Argentina đều ngừng, các rạp xi-nê ngừng chiếu phim, những trường học, tiệm buôn, hàng ăn đóng cửa, Radio phát nhạc tang suốt ngày. Di thể bà Eva được chuyên viên ướp xác ngay sau khi bà thở hơi cuối cùng. Xác ướp thật đẹp. Bà Eva Peron là Ðệ Nhất Phu Nhân Thứ Nhất & Duy Nhất của thế giới được ướp xác sau khi chết.

Ngày đưa xác bà Eva Peron vào nhà mồ, dân chúng chen nhau trên đường xe tang đi qua làm 10 người chết, 2000 người bị thương. Thế rồi Vinh Nhục của Ðời thường đi theo nhau : Năm 1956 một số Sĩ quan Quân đội Argentina làm cuộc binh biến lật đổ Tổng Thống Juan Peron. Ông Tổng Thống bị lên án là Nhà Ðộc Tài. Ông trốn ra nước ngoài.

Xác ướp Ðệ Nhất Phu Nhân Eva Peron bị các Quân nhân mới lên cầm quyền lấy mang đi mất. Xác bà Eva Peron bị coi như mất tích trong 16 năm. Ðúng ra nhóm Quân nhân làm đảo chính đem xác bà đến chôn trong một nghĩa trang ở tận bên Ý Quốc với tên người giả trên mộ chí. Họ giấu việc làm này. Một số báo Âu Mỹ thời đó loan tin :

“Nhóm Sĩ quan đái lên xác Ðệ Nhất Phu Nhân Eva Peron và đem xác bà lên phi cơ trực thăng bay ra liệng xuống biển.”

Nhưng đó là tin bịa.

Vinh - Nhục - Vinh đến đi rồi lại đến trong đời Tổng Thống Juan Peron. Sau nhiều năm sống lưu vong ở nước ngoài, năm 1971 Tổng Thống Bị Hạ Bệ Juan Peron trở về nước; năm 1973 ông ra tranh cử và được dân bầu làm Tổng Thống lần thứ hai. Ông tìm được nơi chôn bà vợ ông trong một nghĩa trang ở Thành phố Milan, nước Ý. Ông đem xác bà về Argentina. Xác ướp của bà bị hư hại nhiều chỗ nhưng vẫn còn gần như nguyên vẹn. Mặt bà vẫn đẹp. Ông chôn bà ở một nghĩa trang nước Spain - Tây Ban Nha. Năm 1974 Tổng Thống Juan Peron từ trần.

Rằng : “Hồng nhan tự thủa xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu.”

Các vị Ðệ Nhất Phu Nhân thường là người hồng nhan : người đàn bà đẹp. Các bà vì Ðẹp mà bị Trời ghen, Trời làm cho các bà bạc mệnh. Ðúng như vậy. Nếu các bà - như bà Eva Peron - không là Ðệ Nhất Phu Nhân, các bà đâu có chết yểu, nhiều bà chết thảm.

Vì sao cuối đời Mao Trạch Đông muốn ly hôn Giang Thanh mà cuối cùng chỉ ly thân?
Ðệ Nhất Phu Nhân có số mệnh bi thảm nhất là Giang Thanh, vợ Mao Trạch Ðông. Giang Thanh từng hung hãn phóng tay sinh sát - giết người - trong nhiều năm. Trong những năm hoành hành tàn bạo ấy Giang Thanh được người dân Trung Quốc gọi là “Hồng Ðô Nữ Hoàng : The Red Queen.” Mao Trạch Ðông chết, Hồng Ðô Nữ Hoàng Giang Thanh bị bọn Cộng Ðàn Em bắt, bị đưa ra tòa vì tội giết người, bị án tử hình rồi giảm án xuống án tù chung thân cấm cố. Hồng Ðô Nữ Hoàng, trong một sớm, hai chiều, trở thành “Hồng Ðô Nữ Tử Tù.”

"Cấm cố” là tù miết trong một phòng tù. Năm 1991, Giang Thanh chết trong tù. Bọn Cai Tù Tàu Cộng loan báo Giang Thanh tự tử. Tin chính thức : Hồng Ðô Nữ Hoàng chết vì thắt cổ trong phòng tù u ám.

Ðệ Nhất Phu Nhân bị bắn chết thứ hai cũng là một Mụ Trùm Cộng Sản : Mụ Elena Ceausescu Xứ Lỗ-ma-Ni. Sô-sét-cu là Chủ Tịch nước Lỗ kiêm Tổng Bí Thư Ðảng Cộng Sản Lỗ, chức vụ như Quốc Trưởng, như Tổng Thống. Tổng Bí Thư Sô cầm quyền rất lâu : từ năm 1965 đến năm 1987. Khoảng năm 1970 có lần vợ chồng Tổng Sô qua thăm Hà Nội, rồi sang thăm Bắc Kinh. Tổng Sô - như Tổng Ðức Hôn-nách-cơ - được bọn Bắc Cộng tiếp đón nồng nhiệt và gọi là “Ðồng chí Sô-sét-cu vĩ đại.”

Nhân dân Lỗ nổi lên chống Sô, những cuộc biểu tình nổ ra trên khắp nước Lỗ. Bọn tướng lãnh Lỗ từng nịnh bợ vợ chồng Sô, từng hưởng ân huệ của vợ chồng Sô, thấy Chủ nghĩa Cộng Sản tan rã, bèn bỏ Sô để đứng về phe nhân dân. Vợ chồng Sô bị bắt, bị xử tử. Khi bị xử, Ðệ Nhất Phu Nhân Elena Sô còn nói :

Ta nuôi các người như mẹ nuôi con. Các người phản ta. Thật nhục nhã.”

Bị lính nắm cánh tay đưa ra bãi bắn, mụ chửi người lính :

Thằng chó đẻ. Không được hỗn với tao.”

Image result for Tong my linh photo
Bà Tống Mỹ Linh, phu nhân của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, là Ðệ Nhất Phu Nhân của dân Tàu trong nhiều năm. Bà theo ông chồng sang Ðài Loan. Tưởng Tổng Thống từ trần, bà về Mỹ sống. Bà mất năm 2003 ở New Yorrk, thọ 106 tuổi. Bà là vị Ðệ Nhất Phu Nhân có tuổi thọ cao nhất. giầu sang nhất, nhiều Đô-la Mỹ nhất. Bà không có con. Tưởng Kinh Quốc là con riêng của TT Tưởng Giới Thạch.

Hoa Kỳ có hai Ðệ Nhất Phu Nhân nổi tiếng : Bà Jacqueline Kennedy, bà Hillary Clinton. Bà Jacqueline Kennedy bị chê trách vì việc bà tái giá với Onassis, ông già tỷ phú là Vua Tầu Chở Dầu Thế Giới. Onassis được gọi là Vua Dầu Nhớt. Bà Hillary Clinton trong những năm là Ðệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ đã không có hạnh phúc gia đình vì ông chồng Tổng Thống Ða Dzâm.

Image result for margaret thatcher photos
Theo tôi bà Margaret Thatcher, Thủ Tướng nước Anh, là vị Ðệ Nhất Phu Nhân “Oanh liệt nhất, uy danh nhất, sáng giá nhất.” Tất cả các bà Ðệ Nhất Phu Nhân khác đều nhờ ông chồng mà thành Ðệ Nhất Phu Nhân. Riêng bà Thatcher là Ðệ Nhất Phu Nhân vì chức vụ Thủ Tướng của bà. Bà là vị Nữ Thủ Tướng duy nhất của nước Anh. Bà thành công trong nhiệm vụ Thủ Tướng đến nỗi bà được Ðảng Conservative : Bảo Thủ, đề cử làm Thủ Tướng đến ba nhiệm kỳ. Xưa nay chưa có vị Thủ Tướng Anh Quốc nào ở chức vụ hơn hai nhiệm kỳ.

Trong những năm bà Thatcher làm Thủ Tướng, nước Anh xẩy ra vụ dân Ireland đòi quyền độc lập. Từ mấy trăm năm nước Ireland vẫn là một thuộc quốc của Ðế Quốc Anh. Người Ái-nhĩ-lan biểu tình đòi độc lập trong hoà bình, không được chính quyền Anh đáp ứng, họ dùng bạo động. Họ đánh bom liên miên trong các thành phố lớn. Nhiều người dân thường chết vì bom. Thủ Tướng Thatcher coi việc đánh bom là tội hình sự, tội làm loạn, tội giết người, không phải là tội chính trị. Do đó những người Ireland đánh bom bị bắt, bị coi là tù hình sự, như trộm cướp, giết người. Những người Ái tranh đấu bị tù làm cuộc tuyệt thực phản đối việc họ bị coi là bọn giết người. Họ đòi chính quyền phải coi họ là tù chính trị. Chính quyền có thể ép những người tù tuyệt thực phải ăn - bằng cách khi họ đói lả, cho thức ăn vào dạ dầy họ, tiếp máu cho họ - nhưng Thủ Tướng Thatcher không làm việc bắt ép đó. Bà nói những người tù có quyền không ăn. Ðó là tự do của họ. Nhiều người Ái-nhĩ-lan tuyệt thực đến chết trong tù.

Cho đến nay người Ái-nhĩ-lan chưa dành được quyền độc lập.

Trận chiến tranh đảo Falklands. Hải đảo này nguyên thuộc nước Argentina. Ðế Quốc Anh chiếm đảo này từ trăm năm trước. Ngày 2 Tháng Tư 1982 chính phủ Argentina cho quân ra chiếm đảo, tuyên bố thu hồi đảo. Thủ Tướng Thatcher phái hải quân Anh ra đánh chiếm lại đảo. Hai bên đánh nhau dữ dội: Anh dùng hải quân, Ác dùng không quân. Ngày 20 Tháng Sáu 1982, quân Anh lên đảo, quân Ác đầu hàng. Ðến nay đảo Falklands vẫn thuộc lãnh thổ Ðế Quốc Anh.

Bà Thủ Tướng Margaret Thatcher được gọi là “Người Ðàn Bà Thép.” Bà từ trần Ngày 8 Tháng Tư 2013. Những ngày cuối đời, bà có bị Alzheimer nhưng nhẹ, không quên, không lẫn nặng như Tổng Thống Ronald Reagan.

***
Tôi - CTHÐ - viết về đề tài Ðệ Nhất Phu Nhân với chủ ý kể lại vài sự việc trong đời bà Trần Lệ Xuân, bà Ðệ Nhất Phu Nhân của nước tôi. Trong cuộc kể này tôi gọi bà Ðệ Nhất Phu Nhân Trần Lệ Xuân bằng cái tên Trần Lệ Xuân của bà.


Có thể nói tôi là anh phóng viên nhà báo đến dự những cuộc hội báo của Bà Dân biểu Trần Lệ Xuân nhiều nhất. Nguyên nhân là bà Bút Trà, bà chủ nhật báo Sàigòn mới của tôi, rất muốn được làm thân với bà Trần Lệ Xuân. Bà Bút Trà muốn lấy lòng bà Trần Lệ Xuân nên rất chăm đến dự những cuộc hội báo của bà Trần Lệ Xuân. Trong cuộc họp, đến phần diễn giả trả lời những câu hỏi của người dự, thể nào bà Bút Trà cũng lên micro hỏi một chuyện vô thưởng vô phạt để bà Trần Lệ Xuân thấy bà có mặt trong cuộc hội báo.

Là phóng viên nhật báo Sàigòn mới, tôi có nhiệm vụ đến dự những cuộc hội báo của bà Trần Lệ Xuân. Tôi đến ngồi ngắm bà Trần Lệ Xuân mà chẳng cần nghe, ghi chép bà nói gì. Hôm sau báo lấy bài tường thuật của VTX : Việt Tấn Xã - Cơ Quan Thông Tấn Nhà Nước - đăng là ăn chắc không bị mắc lỗi tường thuật sai. Các báo phải đăng tin về bà Trần Lệ Xuân thôi, người đọc chẳng ai đọc những tin ấy.

Những năm 1960 gần như tháng nào Bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân cũng mở một cuộc họp báo. Những cuộc hội báo của bà được tổ chức ở Phòng Khánh Tiết Tòa Ðô Chính. Nhiều lần tôi thấy Tướng Nguyễn Văn Là, khi ấy là Tổng Giám Ðốc Công An - Cảnh Sát, đi lờ phờ ngoài hành lang trong lúc bà Trần Lệ Xuân chủ tọa cuộc hội báo trong phòng. Việc ông Tổng Giám Ðốc phải đích thân đến để kiểm soát cuộc bảo vệ an ninh thì ít, mà đến để bà Dân Biểu thấy mặt chứng tỏ uy quyền của bà thời đó mạnh đến là chừng nào. Nghe nói các ông Tổng Giám Ðốc mỗi khi bị bà Trần Lệ Xuân hỏi đến là sợ quíu đít.

1960 - 2013. Năm mươi ba mùa lá đổ đã qua đời tôi, hôm nay sống ở xứ người, kể, viết chuyện cũ, tôi thấy hình ảnh bà Trần Lệ Xuân thời bà trẻ, thời tôi trẻ : bà thường mặc áo dài trắng phớt hồng, bà đeo vòng ngọc. Trước đó những bà nhà giầu Sài Gòn mang nữ trang kim cương, vàng. Bà Trần Lệ Xuân “Lăng xê mốt” vòng ngọc thạch. Có lần tôi thấy bà mang hai vòng ngọc, mỗi cổ tay một vòng.

Bà Hoàng Hậu Nam Phương cắt tóc ngắn nên khi mặc áo dài bà không thể quấn khăn, bà tạo ra cái khăn vành dây. Từ bà Nam Phương các cô dâu Việt Nam thường đội khăn vành dây, ngay cả hai Bà Trưng cũng đội khăn vành dây.

Bà Trần Lệ Xuân tạo ra kiểu áo dài hở cổ. Kiểu áo đó được phụ nữ Việt Nam dùng tới hôm nay.

Trong những cuộc hội báo tôi ngồi gần bà Trần Lệ Xuân nhất là xa bà 5 thước. Tháng Bẩy 2013, lang thang trên Internet, tôi gặp tấm ảnh bà Trần Lệ Xuân. Tôi đăng tấm ảnh bà cùng với bài này. Vẫn là ảnh xưa thôi, tôi từng thấy ảnh này nhiều lần, nhưng lần này nhìn ảnh bà tôi động lòng hoài cảm, tôi nhớ người trong ảnh 50 năm xưa, tôi viết bài này.

Tìm trên Web những bài viết về bà Trần Lệ Xuân, tôi gặp những đoạn tin này :

Hai mươi năm qua. Biên niên sử do tác giả Ðoàn Thêm soạn.

Ngày 13-12-1957. Quốc Hội họp bàn về dự án Luật Gia Ðình của bà Dân biểu Ngô Ðình Nhu.

Ngày 21-12-1957. Bà Ngô Ðình Nhu bỏ phòng họp ở Quốc Hội vì có nhiều Dân biểu muốn giữ những quyền của người chồng trong gia đình.

Ngày 19-1-1958. Trong phiên họp Quốc Hội, vài dân biểu tỏ ý phẫn nộ : bà Ngô Ðình Nhu đã chê trách nhiều vị muốn làm ngơ không biểu quyết dự luật Gia Ðình “Chỉ vì muốn lấy vợ lẽ.” Bà Nhu gọi các ông này là những người có thái độ “thật hèn.” Theo các dân biểu này, nói như thế là xúc phạm Quốc Hội, bà Dân biểu Ngô Ðình Nhu phải xin lỗi.

Ngày 20-1-1958. Bà Ngô Ðình Nhu cho đăng báo bài thanh minh, bà cải chính những lời gán cho bà : Bà đã nói các dân biểu “thất hẹn” chứ không nói “thật hèn.”

CTHÐ : Những năm 1960 tôi là phóng viên Sàgon mới đi dự khán những phiên họp của Quốc Hội. Tôi chỉ thấy bà Dân Biểu Trần Lệ Xuân đến họp vài lần. Ngày khai mạc Quốc Hội khoá mới thường có Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đến Quốc Hội đọc diễn văn, Dân biểu Trần Lệ Xuân, Dân biểu Trần Văn Khiêm có mặt trong những phiên họp khai mạc đó.

Rồi loạng quạng trên Web tôi gặp đoạn tin này :

Blog “Người đưa tin.” Hội Luật Gia VN. Ngày 27 tháng 2, 2013.

Theo Hồi ky' của Huỳnh Văn Lang viết :

Sự thân mật giữa Bảo Ðại và Trần Lệ Xuân là có thật, đến nỗi có lần Ngô Ðình Nhu đi ngoại quốc về đã tỏ ý ghen tuông và buông lời trách móc, la rầy Trần Lệ Xuân. Ðó là khoảng thời gian năm 1949, Ngô Ðình Nhu sang Pháp mấy tháng, còn Trần Lệ Xuân ở nhà rảnh rỗi nên đi chơi, đi săn với Bảo Ðại. Khi từ nước ngoài trở về nghe một số người nói bâng quơ, Nhu đã hằn học hỏi Lệ Xuân :

“Ở nhà bà đi chơi với “Hoàng thượng” thế nào mà để người ta nói tới tai tôi ?”

CTHÐ: Cái gọi là “Hội Luật Gia VN” đưa tin trên đây chắc là Hội của bọn Bắc Cộng. Tôi hỏi ông Huỳnh Văn Lang :

“Xin ông cho biết có phải ông viết đoạn chuyện trên đây không ? Nếu ông trả lời ông có viết như thế, xin hỏi thêm : “Ông Ngô Ðình Nhu nói với bà Trần Lệ Xuân câu đó làm sao ông nghe được ?”

Tôi không được gần bà Trần Lệ Xuân, ông Huỳnh Văn Lang là người biết nhiều về bà, tôi trích vài đoạn ông Huỳnh Văn Lang viết về Ðệ Nhất Phu Nhân Trần Lệ Xuân.

Ký Ức Huỳnh Văn Lang. Tập 1. Trang 319, 320, 321, 322. Trích :

Những khi có mặt tôi thì bà đi ra, đi vô, chào hỏi xã giao, không bao giờ bà dừng lại hỏi chuyện dăm ba câu, dù bà biết rằng tôi là người khách của ông chồng bà. Tôi có cảm tưởng bà có thái độ một đưá con cưng, có thể là lúc bấy giờ bà rất được ông chồng cưng kiêu và chiều chuộng nên hay giận dỗi và kiêu căng.

Bà có cặp mắt nhỏ thật sáng, mặt trắng trẻo, gò má cao, cầm nhỏ, môi dày, bà rất xinh nhưng không có thể gọi là đẹp, vì mặt bà hơi trẹt, nhìn ngang thiếu đường nổi ( profil ) (- ....... ) ..bà hay “châu mày,” làm cho mặt bớt sáng. Bà đi đứng nhanh nhẹn và giữ được vẻ duyên dáng cố hữu của người con gái Việt Nam, nhờ bà nhỏ thon thành mảnh khảnh, sánh với người đàn bà VN bà có phần hơi nhỏ, hơi lùn. Ngay lần đầu gặp bà, tôi thấy ngay bà thật thông minh và có rất nhiều nghị lực. Giọng nói của bà, Bắc không ra Bắc, Huế không ra Huế, có cả giọng Nam, tiếng nói của bà có tần số hơi cao hơn người thường nên có thể luận là bà có tánh bạo dạn, không phải là người thật nhu mì, mềm mỏng. Một điều tôi cần phải nói ngay ra đây, bà không bao giờ có thể gọi được là õng ẹo, lả lơi.

(.... )

Tuy nhiên trong lúc tôi ở Ðà-lạt, tôi cũng nghe người dân Ðà-lạt nói xấu bà, vì lúc ông Nhu đi Pháp vắng mặt, bà đã đi dự tiệc trong Dinh Quốc Trưởng, là một chỗ người dân Ðà-lạt cho là một trung tâm nay mưu mô chính trị, cũng là một ổ bê tha của Bảo-đại.

(.... )

Tôi cho rằng việc đi dự tiếp tân một mình của bà Nhu trong khi ông chồng bà vắng mặt chỉ là một chuyện trẻ con, thiếu suy nghĩ, thiếu ý thức, chỉ có vậy thôi, không hơn, không kém. Chẳng có chuyện chạy chức tước cho chồng hay dan díu gì, như người ta xấu miệng hay nói xấu hơn là nói tốt. Mà người dân lại hay tin những chuyện xấu hơn tin những chuyện tốt, đó là chưa nói đến những người thù ghét đã có ác ý sẵn.(.... ) Tất cả toàn là chuyện bịa đặt của những ngọn lưỡi rắn độc.

Ký Ức Huỳnh Văn Lang. Tập 1. Trang 468, 469, 470.

Tôi không nhớ rõ ngày nào, có thể là ngày 7 hay ngày 8 tháng 10, 1954. Khi tôi đến nhà thờ Phú Nhuận thì thấy đồng bào di cư đã tập hợp và đang xếp hàng năm, hàng bảy trên đầu đường Võ Tánh. Số đồng bào tập hợp có thể khoảng 5 ngàn người, có rất nhiều cờ xí, nhiều ban-rôn mầu trắng, mầu vàng, nhiều biểu ngữ, mấy cái loa. Thật là xôm tụ, ồ ạt, om xòm. Ðúng là một cuộc biểu tình ngoạn mục.

Nhưng ngoạn mục nhất là hình ảnh một cô gái mặc áo xanh lợt, quần đen chạy tới, chạy lui ! Rồi như giựt mình ! Tôi nhận ra bà Ngô Ðình Nhu, người thì nhỏ xíu, mà sao nhiều nghị lực đến thế, la hét to đến thế, lấn át cả tiếng hô “Ðả đảo quân phiệt" “Ðả đảo thực dân” của trăm, của ngàn người khác...Và trước những ống kính máy ảnh, máy truyền hình, bà Nhu đã dẫn đoàn người biểu tình rầm rộ đi về ngả Tổng Tham Mưu và Lăng Cha Cả.

Lúc đó tôi muốn khui trong ký ức của tôi xem có khuôn mặt nào trong lịch sử Việt Nam, Trung Hoa hay các nước Âu Tây giống như khuôn mặt của bà Nhu hôm đó không ? Nữ Hoàng Ðế Ðại Chu Võ Tắc Thiên ư ? Ỷ Lan Nguyên Phi của vua Lý Thánh Tôn ư ? Mã Hoàng Hậu của Hán Minh Ðế ư ? Nữ Tướng Bùi Thị Xuân ư ? Hay là Evita Peron của Á-căng-đình gần đây nhứt ư ? Tôi không thấy mặt mũi những người đàn bà lịch sử đó nhưng nhờ đọc sách tôi có thể hình dung mặt mũi và phong độ của họ phần nào và tôi không thấy một khuôn mặt nào như khuôn mặt của bà Nhu hôm đó.

Hôm đó tôi thấy trên mặt bà có cái gì khác thường, có cái gì thới quá, cũng có nghĩa là không kềm chế được. Tôi nghĩ đến hai loại (Species) đàn bà : đàn bà đi đánh giặc hay xuống đường và đàn bà chen vào chính trị. Có thể bà Nhu gồm cả hai bản chất đàn bà đó.

Trước kia khi ở Ðalạt, nhiều lần tôi đã gặp bà ở trước Nhà Thờ St. Nicolas hay ở trong phòng khách nhà số 10 đường des Roses, tôi chỉ thấy bà là một cô con gái nhà lành còn ngây thơ, rụt rè. Sáng hôm nay trên con đường Võ Tánh, Phú Nhuận tôi không còn nhận ra nữa. Bà hoàn toàn thay đổi, bà hung hăng, qua nhiều nghị lực, vẻ mặt can trường, giọng nói như la, như thét, có thể như là một trái bom nổ chậm ( Boule d’énergie) hay một nồi so-de ( Chaudiere ) đang sôi sùng sục, có thể kéo cả đoàn tầu xe lửa lên dốc, mà cũng có thể đẩy nó xuống đèo, xuống hố !

( .... )

Riêng với bà Nhu, trong thâm tâm tôi thán phục bà, nhưng có thể vì nhiễm truyện Tàu mà tôi có thành kiến ít nhiều với phụ nữ, nhứt là với phụ nữ làm chánh trị hay dẫn đầu xuống đường. Tôi nghĩ người đàn bà nên đứng sau hơn là chường mặt ra sẽ có nhiều kết quả hơn. Cái thái độ muốn đi trước, đứng trước của bà Nhu hoàn toàn ngược với ông Nhu, ông là người thích ngồi trong bóng tối như là một Trương Lương hơn là một Hàn Tín của Lưu Bang.

CTHÐ : Tôi thấy bà Trần Lệ Xuân là một người đàn bà Ðẹp trong số những người đàn bà Ðẹp tôi được thấy trong đời tôi.

Tôi thương bà. Bà là người không may. Bà bị cả hai bên Quốc Cộng mạ lỵ tàn ác. Không chỉ bọn Bắc Cộng bịa chuyện xấu về đời tư của bà, nhiều người Quốc Gia cũng vu khống bà, bôi bẩn lên đời tư của bà. 

Tên mạ lỵ bà trắng trợn nhất là Hoàng Trọng Miên, tác giả tiểu thuyết “Ðệ Nhất Phu Nhân.” Tôi ghê tởm, tôi khinh những tên khốn nạn ấy. Nhưng từ năm 1963 đến năm 2011 - 48 năm - không một tên nào bịa được một chuyện bẩn nào về đời tư bà Trần Lệ Xuân. Bà sống yên nghiêm, bà chết trong yên tĩnh như một mệnh phụ phu nhân.

Có một lần tôi đứng sát bên tay phải bà Trần Lệ Xuân. Trước ánh sáng những máy quay phim rọi vào bà, tôi nhìn rõ những nếp nhăn nơi đuôi mắt bà. Ðó là buổi tối bà lên phi cơ sang Hoa Kỳ để “Giải độc công luận Mỹ về Chiến Tranh Việt Nam.” Bà trả lời những câu hỏi của phóng viên truyền thông ở Phòng Khánh Tiết phi trường. Có phóng viên hỏi bà sẽ ở lại Mỹ bao lâu, bà trả lời bà chưa quyết định. Rồi bà nói :

Tôi như con chuồn chuồn. Khi vui thì đậu, khi buồn thì bay.”

Buổi tối cuối năm 1963 ở Phòng Khánh Tiết Phi Trường Tân Sơn Nhất, bà Trần Lệ Xuân 40 tuổi, tôi 30 tuổi.

Hoàng Hải Thủy

Blog Archive