Showing posts with label người lính Việt Nam Cộng Hoà. Show all posts
Showing posts with label người lính Việt Nam Cộng Hoà. Show all posts

Sunday, June 21, 2026

BẠC MÀU ÁO TRẬN

Nguyet Nga Trinh

Nhân dịp Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà 19 Tháng 6 sắp đến, N muốn viết về các anh Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa từng là niềm hãnh diện và tin tưởng tuyệt đối của người dân miền Nam một thời dấu yêu

o0o

"Mùa hè năm nay anh sẽ đưa em rời phố chợ đôi ngày.
Qua miền xa mà nghe rừng thiêng gọi lá...
...Quê hương đau, nắng hạ cũng buồn.
Nước sông ngăn đôi sơn hà...
Thương những người giết giặc ngày đêm..."

Tiếng hát Duy Khánh đưa tôi trở về miền ký ức của hơn 60 mươi năm về trước. Khi đó tôi chỉ là một đứa con nít dưới 10 tuổi đang sống ở một quận lỵ nhỏ bé của miền Trung cằn cỗi đất cày lên sỏi đá nhưng chịu lắm thương đau vì chiến tranh tàn phá.

Thời Đệ Nhất Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vùng I rất bình yên, thỉnh thoảng có vài tên việt cộng mò vô làng xóm là bị giết liền, đem phơi xác ở bến xe để thị uy.

Qua tới thời Đệ Nhị Cộng Hòa vùng I hết yên ổn rồi, giặc giã nổi lên khắp nơi, nhiều vùng ở xa quận ban ngày của Quốc Gia, ban đêm của cộng sản.

Quận Điện Bàn nơi tôi đang ở cảnh vật giống như trong bài hát, cũng có một dòng sông trong vắt vì thiếu phù sa. Chạy dọc theo bờ sông đó đây vươn lên xanh xanh những lũy tre già hình ảnh điển hình của mọi miền quê nước Việt. Người dân rất hiền hòa, cam chịu khổ cực, nắng mưa dầu dãi và chiến tranh đè nặng lên giấc ngủ từng đêm...

Nhà tôi ở gần một cây cầu nối đôi bờ dòng sông Vĩnh Điện, có lao xá (là nơi nhốt tù), nhà đèn và bưu điện, đó là trung tâm của quận, là nơi lý tưởng để tụi việt cộng tấn công. Chúng muốn pháo cho sập cầu, chiếm lao xá để thả tù chính trị, và giật sập nhà đèn.

Thời đó hầu hết đêm nào cũng có đánh nhau, đang ngủ cũng phải bật dậy chạy giặc thiệt là khốn khổ! Tội nhất cho nhà nào có trẻ sơ sanh hoặc cha mẹ già đau yếu, giấc ngủ nghẹn ngào tức tưởi, không được trọn vẹn! Khi đánh nhỏ thì cả nhà tôi chui xuống bộ ván dày để tránh bị lạc đạn.

Những đêm đánh lớn sợ bị pháo kích trúng vô nhà, ba mẹ tôi phải dẫn các con chạy vô lô-cốt từ thời Pháp để lại ở sau vườn. Hỏa châu sáng rực trời, tiếng đại bác, tiếng xé gió của trái sáng được bắn từ tàu Hải Quân khi rớt vô nhà dân là có người bị đứt đầu, bỏ mạng, cùng đủ thứ âm thanh hỗn loạn từ các loại súng lớn súng nhỏ của cả hai bên làm rung chuyển đất trời, xé vỡ màn đêm, tan nát thân xác và linh hồn con người! Tụi em tôi còn quá nhỏ cứ khiếp đảm run rẩy, nép sát vô người cha mẹ rất tội nghiệp, người lớn cũng bạt vía kinh hồn! Có khi còn nghe tiếng kèn thúc quân của tụi chính quy, tiếng hô xung phong của bên ta, tiếng rên la của việt cộng bị thương nặng. Buổi sáng thức dậy thấy cửa chính của nhà tôi có nhiều lỗ đạn, xác tụi cảm tử nằm rải rác gần cổng lao xá, chúng chỉ mặc quần đùi màu đen, tụi này được dân "thờ ma" đào hầm giấu nên có vẻ mập mạp trắng trẻo.

Tuy sống ở nơi có bom rơi đạn lạc hàng đêm nhưng người dân chúng tôi vẫn may mắn bảo toàn được tính mạng, đó là nhờ các anh chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa luôn chống trả mãnh liệt làm tụi việt cộng phải ôm đầu máu chém vè (bỏ chạy) rất thê thảm.

Đôi khi quận Điện Bàn cũng có được những ngày vui và yên ổn, khi những tiểu đoàn Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến hay Biệt Động Quân ghé tới dưỡng quân chừng một tuần hay 10 ngày, thời gian đó không hề nghe một tiếng súng. Tụi tôi tha hồ đùa giỡn chạy nhảy trong xóm, tối về được ngủ yên một giấc tới sáng.

Các anh chiến sĩ tới nhà dân mượn chỗ nấu ăn bằng mấy chiếc nón sắt, tôi còn nhỏ không để ý nhiều, nhưng hình như các anh chỉ mượn chỗ nấu mà thôi, chớ ăn, ngủ, giặt giũ ở đâu thì tôi không biết, đúng là bí mật quân sự. Và một điều rất lạ, dù trời lạnh cũng không thấy một người lính nào mặc áo ấm hết, chắc các anh có sức mạnh phi thường chăng?

Người ta chỉ thấy trên đường phố mấy anh chàng sĩ quan trẻ dập dìu qua lại, áo hoa rừng xen lẫn những tà áo trắng học trò buổi tan trường trông thật đẹp, thật vui và bình an. Thời đó những cô nữ sinh đua nhau lấy chồng nhà binh, vì trai thời loạn mà, nhìn các anh oai phong đẹp trai và hào hoa như vậy sao mấy em gái hậu phương không nghiêng ngả cho được?

Tôi còn nhớ những kỷ niệm vui buồn khó quên với những người lính chiến...

Đó là lần đầu tiên tôi gặp ông anh rể tương lai khi ổng tới nhà cua chị Hai tôi, ổng ngó tôi cười làm quen, xã giao hỏi vài câu, nhưng tôi sợ và mắc cỡ quá lấy hai bàn tay che mặt lại, im lặng rồi rút êm liền. Vì tôi còn nhỏ thấy một gương mặt phong trần, đen đúa, râu ria tua tủa, tóc dài, sau khi đi hành quân về, chưa kịp chải chuốt đã vội tới trình diện người yêu, làm tôi hết hồn!

Lần nhà trường gởi chúng tôi đi choàng vòng hoa chiến thắng cho các chiến sĩ xuất sắc trong ngày Quân Lực 19 tháng 6, tụi tôi đang học lớp 9 khoảng 14, 15 tuổi thôi. Khi đứng sắp hàng đối diện với các anh hùng hào khí ngất trời, tụi tôi thẹn thùng mắc cỡ, run run lúc nhón chân choàng vòng hoa cho các anh đang đứng hơi cúi đầu chờ đợi, xong xuôi tụi tôi chỉ biết im lặng, ngượng ngùng "vân vê tà áo"; trong khi mấy anh vui cười nói chuyện với nhau rôm rả, và than phiền xui xẻo vì gặp các bé nhỏ quá chẳng tán tỉnh gì được! Nhóm các anh nào may mắn gặp được những chị nữ sinh lớp 11, 12 choàng vòng hoa, họ kết bạn nhanh chóng trao đổi địa chỉ tâm tình thắm thiết, sau này có những người đã làm đám cưới nhà binh rất hạnh phúc.

Trường Trưng Vương của chúng tôi đỡ đầu bịnh viện Thủy Quân Lục Chiến Lê Hữu Sanh ở Thủ Đức, nên các nữ sinh được khuyến khích viết thư thăm hỏi, thêu khăn gởi cho các anh, và đôi khi Ban Giám Hiệu đồng ý cho phép bịnh viện đem GMC tới trường chở các nữ sinh đi thăm và tặng quà cho thương bệnh binh. Vì xe GMC rất cao, nên các anh chiến sĩ phải đỡ chúng tôi đặt lên xe và khi muốn leo xuống xe các anh cũng phải đứng bên dưới giúp cho chúng tôi chạm đất (thiệt là ngại ngùng).

Lần thăm bịnh viện LHS vào năm 72 chiến trường đang khốc liệt, làm chúng tôi buồn và lo lắng cho tương lai. Một số anh bị thương nặng thì nằm im chịu đựng những vết thương đã được băng bó nhưng còn rỉ máu, chỉ những anh bị thương nhẹ thì vui vẻ trò chuyện với chúng tôi. Các anh nói vũ khí của việt cộng do nga-tàu cung cấp rất tối tân, bên VNCH dùng M16 thì cộng sản có AK 47, loại súng đa dạng bắn được dưới nước và khi hết đạn nó có thể dùng đạn M16 để bắn lại chúng ta. Bọn chúng có trang bị cả hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7của Nga sô rất lợi hại, dùng để bắn máy bay. Chúng ta có M113 thì chúng có xe tăng hạng nặng T54, v.v.

Tình quân dân như cá với nước, không có sự hy sinh nào cao đẹp bằng sự hy sinh của người lính Việt Nam Cộng Hòa, họ sẵn sàng đem xương máu bảo vệ quê hương, đất nước vô điều kiện! Không có nỗi khổ cực nào bằng, có khi họ đi hành quân hàng tháng trời dầm mưa mà không được tắm! Mỗi người chỉ có một tấm poncho là nhà, là mền, là quan tài khi nhắm mắt xuôi tay!

Trong khi những người tù khổ sai chung thân còn có mái nhà che mưa nắng, có cơm ăn ba bữa đúng giờ, có chỗ ngủ đàng hoàng, và giữ được tánh mạng, nguyên vẹn được hình hài, thì người lính phong sương ngày đêm bảo vệ Tổ Quốc. Các anh phải chiến đấu tới giọt máu cuối cùng để giữ vẹn toàn lãnh thổ dù thân anh có nát tan, bỏ lại cha mẹ già, người vợ trẻ và những đứa con bé bỏng chưa nhận biết mặt cha; dù có thể tàn phế một đời tàn tạ héo hắt!

Năm mươi năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa vẫn in đậm trong lòng dân tộc Việt Nam.

Tổ Quốc và người dân Việt Nam Cộng Hòa mãi mãi ghi nhớ công ơn và sự hy sinh vô bờ bến của các anh.

Saturday, June 20, 2026

19 THÁNG 6 - NGÀY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA

Một Thời Áo Trận
Một Đời Danh Dự
Có những ngày tháng đi qua rồi chìm vào lịch sử.
Nhưng cũng có những ngày, dù hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, vẫn sống mãi trong ký ức của hàng triệu người.
Ngày 19 Tháng 6 là một ngày như thế.

Đó không chỉ là Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Đó là ngày của danh dự.
Là ngày của trách nhiệm.
Là ngày của những người lính đã chọn đứng giữa lằn ranh sinh tử để bảo vệ màu cờ và quê hương mình tin tưởng.

Từ địa đầu giới tuyến bên kia vĩ tuyến 17, đến những cánh rừng Kontum, Pleiku, Hạ Lào, từ Cổ Thành Quảng Trị rực lửa đến đồng bằng sông Cửu Long đầy khói súng, dấu chân người lính Việt Nam Cộng Hòa đã in trên khắp nẻo đất nước.

Có người thuộc Sư Đoàn Bộ Binh.
Có người là Thủy Quân Lục Chiến.
Có người là Nhảy Dù.
Có người là Biệt Động Quân.
Có người âm thầm trong những sở của Nha Kỹ Thuật.
Có người chưa một lần được nhắc tên trong quân sử.
Nhưng tất cả đều có chung một màu áo.
Màu áo của bổn phận.

Người lính ấy đã ngủ dưới giao thông hào lạnh buốt.
Đã chia nhau từng nắp bi đông nước.
Đã lấy poncho làm mái nhà giữa mùa mưa.
Và không ít lần, chính chiếc poncho ấy trở thành tấm khăn cuối cùng phủ lên thân xác đồng đội.

Có những người ra đi ở tuổi đôi mươi.
Chưa kịp lập gia đình.
Chưa kịp nhìn thấy con mình chào đời.
Chưa kịp sống cho riêng mình một ngày bình yên.
Nhưng họ đã sống trọn cho Tổ quốc.

Ngày hôm nay, nhiều chiến hữu tóc đã bạc màu.
Có người chống gậy đến buổi lễ.
Có người ngồi xe lăn.
Có người chỉ còn hiện diện trong những tấm ảnh cũ ngả màu thời gian.
Thế nhưng khi bài quân hành vang lên, ánh mắt của họ vẫn sáng như ngày nào.
Bởi người lính có thể già đi.
Nhưng danh dự của người lính thì không bao giờ cũ.

19 Tháng 6 không phải để nuôi dưỡng hận thù.
Mà để nhớ.
Nhớ những người đã nằm xuống.
Nhớ những chiến hữu không bao giờ trở về.
Nhớ một thế hệ đã đặt Tổ quốc lên trên bản thân mình.
Và nhớ rằng, lịch sử của dân tộc Việt Nam luôn có những người con đã chiến đấu, hy sinh và gìn giữ lý tưởng của họ đến hơi thở cuối cùng.

Xin nghiêng mình trước anh linh các tử sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Xin kính chào những người lính năm xưa vẫn đang hiện diện giữa chúng ta.
Và xin cảm ơn một thế hệ đã viết nên ba chữ:
TỔ QUỐC – DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM

Dù thời gian có trôi qua bao lâu đi nữa, đó vẫn là những giá trị không bao giờ mất.
19 THÁNG 6 MUÔN ĐỜI ĐƯỢC TƯỞNG NHỚ.
Kính chào người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Phạm Sơn Liêm


Wednesday, June 3, 2026

GẶP LẠI PILOT 215 PHI ĐOÀN TRỰC THĂNG THẦN TƯỢNG


Ngày đó, giữa rừng sâu, chúng tôi không biết mặt nhau. Chỉ biết một điều: khi nghe tiếng cánh quạt từ xa vọng lại, là tim bắt đầu đập khác đi. “215 inbound.” 4 chữ ấy, qua làn sóng rè, đối với chúng tôi không chỉ là tín hiệu. Đó là hy vọng. Là con đường về. Là sự sống treo lơ lửng dưới bụng trực thăng. Tôi chưa từng thấy mặt người lái. Chỉ thấy bóng chiếc chim sắt lượn vòng trên rừng già. Chỉ nghe tiếng rotor quần nát khói và lá cây. Chỉ cảm được sự liều mạng khi nó hạ thấp hơn mức an toàn, để kéo chúng tôi ra khỏi vòng vây lửa đạn đang rượt đuổi. Trong đầu tôi, “Pilot 215” là một huyền thoại. Một người không sợ chết. Một thần tượng vô danh của toán lính dưới đất.
Rồi chiến tranh qua… Đơn vị tan…

Thần tượng ở lại trong ký ức như một biểu tượng, không tuổi, không tên, chỉ có tiếng máy và bầu trời.

Tết năm nay 2026. Một buổi họp mặt Tết Bính Ngọ cựu quân nhân vùng Bay Cali.

Tôi đứng lặng nhìn mấy ông già tóc bạc kể chuyện xưa.
Một người nhỏ con, dáng lưng hơi còng, đeo cặp kính dày. Ông nhìn phù hiệu trên ngực tôi, hỏi:
– Anh từng ở bãi bốc rừng năm… đó?
Tôi gật. Ông cười nhẹ:
– Bãi đó… tôi đáp bốc toán xâm nhập về hai lần.
Tôi lạnh tê sững người:
– Anh… bay 215?
Ông không nói ngay, chỉ gật đầu.
Thế giới như thước phim chậm lại….

o O o

Trước mặt tôi không phải huyền thoại. Không phải một biểu tượng bất tử giữa trời xanh. Chỉ là một ông lão với đôi tay đã run, với giọng nói trầm và hiền. Tôi nhìn ông mà cổ họng nghẹn cứng.

Ngày đó, khi ông cho máy bay hạ thấp hơn quy định, khi đạn bắn vạch những vệt lửa ngang thân tàu, khi chúng tôi bám càng leo lên trong khói, tôi nghĩ người Pilot trên buồng lái chắc là một vị thần.

Hoá ra… là một con người. Một con người cũng biết sợ. Cũng có gia đình chờ. Cũng có trái tim đập nhanh khi kim xăng tụt xuống và đạn chạm thân tàu. Tôi nói nhỏ:
– Anh là thần tượng của tụi tôi.
Ông cười, lắc đầu:
– Không. Tôi chỉ làm phần việc của mình. Mấy anh dưới đó mới là người liều mạng.
Câu nói ấy làm tôi quay mặt đi. Vì thần tượng của tôi, không chỉ từng cứu tôi mà còn khiêm nhường đến mức, không bao giờ nhận mình đã làm điều phi thường.
Chúng tôi bắt tay. Bàn tay ông gầy và ấm. Bàn tay từng giữ cần lái giữa lằn ranh sống chết.

Ngoài kia, Tết rộn ràng…
Còn tôi, đứng trước người phi công năm ấy, chỉ thấy lòng mình mềm ra như đất ướt.
Có những thần tượng không đứng trên sân khấu. Không có huy chương lấp lánh.
Họ chỉ lặng lẽ bay vào lửa đạn, để bốc một toán lính vài ba người dưới đất, còn có ngày, được già đi.

Và Tết này, tôi mới biết mặt người anh hùng của đời mình. Không phải trên trời. Mà ở ngay trước mắt.

Phạm Sơn Liêm


Sunday, May 24, 2026

NHỮNG BÓNG MA TRÊN DÃY TRƯỜNG SƠN

(Viết để tiễn biệt Trung úy Lê Văn Hữu, “Hữu Râu”)

Anh em mới tiễn một người bạn cũ vừa “đứt bóng”…
Trung úy Lê Văn Hữu, anh em quen gọi là Hữu Râu.
Một người từng nhiều lần bay Covey FAC trên bầu trời lửa đạn Đông Dương.
Có người hỏi:
— “Covey là gì vậy?”
— “Chỉ bay quan sát thôi mà nguy hiểm dữ vậy sao?”
Không…
Nếu chỉ là “bay quan sát”, thì đã không có nhiều phi công Covey nằm lại trên rừng già Lào, Campuchia như vậy.
Để hiểu vì sao mỗi lần nhắc tới hai chữ Covey FAC, dân Nha kỹ thuật đều lặng người đi vài giây.

Covey FAC là ai?
Covey FAC là những Sĩ quan từng thi hành những công tác, rồi nhu cầu, được tuyển chọn học khóa Covey, khi về họ thuộc toán điều không tiền sát (Forward Air Controller).
Họ đi theo những chiếc máy bay nhỏ như:
* Cessna O-2 Skymaster
* North American Rockwell OV-10 Bronco
Nhìn mấy chiếc phi cơ này nhỏ bé, bay chậm, tưởng hiền lành…
Nhưng nhiệm vụ của họ lại nằm trong hàng nguy hiểm nhất chiến tranh Việt Nam.

Bay thấp trên miệng tử thần,
Covey không bay cao như phản lực. Họ phải bay thật thấp… thấp đến mức nhìn thấy từng lối mòn, từng xe vận tải nguỵ trang dưới rừng cây Trường Sơn.
Dưới kia là cả một dàn phòng không dày đặc?
12 ly 7.
14 ly 5.
37 ly.
Súng từ dưới rừng bắn lên như mưa. Nhiều khi chiếc Covey rung bần bật vì trúng đạn. Khói lọt cả vào buồng lái. Nhưng họ vẫn phải vòng lại. Vì nếu không tìm ra mục tiêu… thì phi cơ oanh tạc phía sau như mù mắt, không biết đâu mà lần!

Khi phát hiện xe vận tải hay vị trí địch…., Covey sẽ lao xuống đánh dấu bằng rocket khói. Rồi liên lạc với các phi tuần:
— “Sandy, đây Covey…”
— “Mục tiêu ngay khói đỏ…”
— “Đánh hướng Bắc xuống Nam…”
— “Bạn hữu còn rất gần…”
Chỉ cần nói sai vài chục mét…
là bom sẽ rơi ngay đầu quân toán xâm nhập mình.
Cho nên Covey không chỉ cần gan lì.
Họ phải cực kỳ lạnh đầu và nhạy bén
Nhiều toán nha kỹ thuật kể lại:
“Nghe tiếng Covey trên đầu là biết còn hy vọng sống.”

Chưa hết, họ là Thiên thần của những toán mất tích, hay nhân viên toán thất lạc! Covey bay cả tháng trời để tìm mọi dấu vết…
Nhiệm vụ đau tim nhất của Covey… là cứu người.
Một toán thám báo 6 người bị lộ giữa rừng Lào... Địch bao vây bốn phía. Máy PRC-25 chỉ còn pin yếu.
Tiếng gọi vang trong máy:
— “Covey… tụi tôi sắp hết đạn…”
Lúc đó Covey là đôi mắt duy nhất trên trời.
Họ bay vòng ngay trên đầu địch để tìm vị trí toán bạn.
Rồi điều động:
* trực thăng bốc ra
* phản lực yểm trợ
* gunship AC-130
Có những phi công và Covey bay lì trên vùng nguy hiểm hàng giờ…
dù biết dưới kia cả rừng súng đang chờ mình.
Nhiều người bị bắn rơi.
Nhiều người không trở về.
Bây giờ Trung úy Lê Văn Hữu (Hữu Râu), cũng vừa bay chuyến cuối.
Anh em nhắc lại những ngày cũ… những lần anh Covey giữa trời đạn.
Có người nói nhỏ:
— “Mấy ông Covey gan thiệt…”
Ừ…
Gan thiệt.
Vì họ trên một chiếc phi cơ nhỏ xíu… ngay trên đầu cả một vùng chiến tranh.
Không có áo giáp dày.
Không tốc độ siêu âm.
Không hỏa tiễn tối tân.
Chỉ có đôi mắt, máy truyền tin…
và trái tim rất lớn.

Hôm qua anh em vừa chia tay Hữu Râu. Một cánh chim già cuối cùng rồi cũng khép lại giữa trời đời.
Nhưng với những toán viên nha kỹ thuật, từng nằm dưới rừng sâu nghe tiếng gọi “Covey đang tới”…
thì những phi công FAC ấy, vẫn nằm trong lòng của anh em nha kỹ thuật
Có rất nhiều Covey! Họ vẫn còn bay đâu đó…
trên dãy Trường Sơn đầy khói lửa năm xưa.

Phạm sơn liêm



BAY LẦN CUỐI CHO ANH EM

May 23- 2026.

Đêm Bắc Cali lạnh hơn mọi bữa.
Quán nhỏ của anh em lính già nằm nép bên con đường vắng.
Bia còn đầy trên bàn… mà chẳng ai muốn uống thêm.
Tối qua, Lê Văn Hữu, thằng anh em cùng màu áo, người mà tụi bạn già vẫn gọi là Hữu Râu, vừa chia tay anh em sau lần gặp hiếm hoi.

Mấy chục năm rồi mới đông đủ như vậy.
Những mái đầu bạc ngồi quanh nhau, kể lại chuyện của một thời mà mạng sống nhẹ hơn điếu thuốc cháy dở.
Người ta nhắc lại chuyện Hữu từng bay Covey cho Sở Liên Lạc.
Nhắc Chiến Đoàn 2.
Nhắc Chiến Đoàn 3 xung kích.
Nhắc những chuyến bay thấp tới mức nhìn rõ mặt lính dưới rừng.
Có thằng cười nói:
— Hồi đó thằng Hữu Râu bay thấp thấy mẹ… tưởng nó muốn cạo đầu luôn ngọn cây.
Cả bàn bật cười.
Hữu cũng cười.
Nhưng ánh mắt hắn xa lắm…
Xa như đang nhìn về một bãi đáp nào đó phủ đầy khói súng của hơn nửa thế kỷ trước.
Rồi hắn chậm chậm nói:
— Tụi mình còn ngồi đây được… là may mắn hơn nhiều anh em rồi.
Câu nói làm cả bàn im bặt.
Không ai dám nhìn ai lâu.
Bởi ai cũng nhớ.
Nhớ những thằng đã nằm lại trong rừng sâu.
Nhớ tiếng gọi nhau trên tần số ngắt quãng.
Nhớ những chiếc trực thăng bay vào mà không bay ra nữa.
Ngoài parking, gió Bắc Cali thổi lạnh buốt.
Mấy ông già lính đứng ôm nhau chia tay.
Không còn kiểu đập vai mạnh bạo ngày xưa nữa.
Chỉ là những cái ôm thật chặt… như sợ lần sau không còn gặp lại.
Hữu Râu vuốt chòm râu bạc, cười nhẹ:
— Thôi tụi bây… tao về.
Một thằng nghẹn giọng:
— Mai mốt còn nhảy dù nữa không mày?
Hữu nhìn lên bầu trời đen ngoài xa.
Rất lâu…
Rồi hắn đáp nhỏ, giọng khàn như tiếng rotor cũ:
— Chắc… khép dù được rồi.
Không hiểu sao, ngay câu đó… mắt nhiều thằng đỏ lên.
Bởi anh em đều hiểu.
“Khép dù” không phải chỉ là thôi nhảy nữa.
Mà là khép lại một thời trai trẻ đầy lửa đạn.
Khép lại những chuyến bay sống chết.
Khép lại những ngày mang phù hiệu nha kỹ thuật trên vai mà sống nhanh hơn người khác một đời.

Sáng nay…
Bãi cỏ Bắc Cali còn đọng sương.
Chiếc dù trắng của Hữu nằm gấp gọn bên cạnh chiếc xe cũ.
Không còn tung bay giữa trời nữa.
Như chính cuộc đời của những người lính già…
Sau bao năm giông bão, cuối cùng cũng chịu nằm yên.
Nhưng với anh em…
Hữu Râu sẽ mãi là cánh chim Covey năm nào.
Một thằng bạn cùng màu áo.
Bay qua lửa đạn.
Bay qua sinh tử.
Bay luôn vào ký ức của những người còn sống sót.
Để mỗi lần nhớ lại…
Nước mắt của những thằng lính già vẫn âm thầm rơi giữa một chiều Bắc Cali lạnh buốt.

Phạm Sơn liêm




Saturday, May 23, 2026

Cobra Bốc Toán. Trời Độ Một Mạng Người”

…(Lê thanh Xuân( Xuân nháy.. tường thuật)…

Biên giới Lào.
Mùa khô năm ấy, rừng cháy vàng như thuốc súng.
Toán thám sát của Đoàn 11 vừa đụng nguyên một đơn vị chính quy Bắc Việt. AK nổ dồn dập như bắp rang. Mảnh đạn chém nát lá rừng. Máy PRC-25 réo inh ỏi:
— “Kingbee! Kingbee! Đây Hổ Xám! Xin bốc khẩn cấp! Bị tràn ngập!”

Hai chiếc H-34 lao vào như điên giữa biển đạn. Cobra quần trên đầu, nhả rocket sáng rực cả triền núi.
Khói đỏ tung lên. Chiếc H-34 đầu tiên vừa chạm ngọn cây, anh em trong toán nhào lên như những bóng ma đầy bùn đất. Tiếng đại liên địch quất rát phía sau.
— “Lên hết! Lên hết mau!”
Nhưng giữa lúc đạn nổ hỗn loạn đó… anh Sĩ “Lé” biến mất, khi bị địch truy đuổi.
Chiếc H-34 không thể chờ thêm. Đạn 12 ly 7 kéo lửa đỏ ngang thân tàu.
Phi công hét lớn:
— “Pull up! Pull up!”
Chiếc trực thăng bốc dựng lên khỏi rừng già. Trên cao chỉ còn lại hai chiec Cobra hộ tống.
Trong máy truyền tin, tiếng gọi nghẹn lại:
— “Thiếu mất một người… mất anh Sĩ rồi…”
Không ai nói thêm. Ở dưới kia, rơi lại giữa cả trung đoàn địch… gần như chắc chết.

Anh Sĩ lúc đó đang lết qua một con suối cạn. Người đầy máu và bùn đỏ. Đạn AK vẫn xé lá trên đầu. Anh ngẩng mặt nhìn lên trời.
Hai chiếc Cobra còn đang đảo vòng. Không có PRC-25.
Không khói màu. Không cách nào liên lạc. Rồi bất ngờ… anh nhớ ra cái kiếng chiếu nhỏ trong túi áo. Anh leo lên tảng đá giữa khoảng trống hiếm hoi, dùng ánh nắng phản chiếu lên trời. Chớp… chớp… chớp…
Một tia sáng nhỏ nhảy giữa rừng già. Chiếc Cobra đầu tiên bay ngang. Không phản ứng. Anh Sĩ vẫn lia tiếp.
Mồ hôi và máu chảy đầy mặt.
Chớp!
Chớp!
Chớp!
Rồi kỳ diệu xảy ra.
Chiếc Cobra bỗng nghiêng cánh. Phi công Mỹ đã thấy tín hiệu.

Trên không, viên phi công Cobra gào trong intercom:
— “Jesus Christ… có người dưới đó!”
Chiếc Cobra chúi mũi xuống thấp đến mức ngọn cây quất vào bụng phi cơ.
Người gunner hét:
— “Không thể bốc bằng Cobra! Điên rồi!”
Đúng.
Không ai dùng Cobra để rước toán công tác.
Không cửa.
Không chỗ ngồi.
Không dây kéo.
Mà dưới đất, Bắc quân đang siết vòng vây.
Anh Sĩ đứng bật dậy giữa khoảng trống, hai tay vẫy tấm Pano như tuyệt vọng.
Phi công Mỹ nhìn xuống… chỉ còn vài giây quyết định.
Nếu bỏ đi… người lính kia chắc chắn chết.
Chiếc Cobra hạ thấp thêm nữa. Càng đáp gần như chạm đầu cỏ. Phi công hét qua cửa kính đang mở:
— “RUN! RUN!”
Anh Sĩ lé cắm đầu lao tới giữa tiếng đạn rít.
Anh nhảy lên… bám đúng cái càng sắt của Cobra. Cả thân người treo lơ lửng bên hông trực thăng.
Phi công Mỹ thò tay kéo mạnh cửa kính.
Trong khoảnh khắc sinh tử đó, anh Sĩ quàng luôn tay ôm chặt cổ viên phi công.
Chiếc Cobra rú động cơ.
Bốc dựng thẳng lên trời.
Đạn đỏ đuổi theo phía dưới như mưa lửa.
Người gunner quay đại liên quét điên cuồng xuống rừng:
— “GO! GO! GO!”

Khi về tới căn cứ tiền phương, anh em toán đứng chết lặng.
Không ai tin nổi.
Một chiếc Cobra… lại có thể bốc người sống khỏi vòng vây.
Anh Sĩ bước xuống, chân còn run, mặt đen khói súng.
Xuân nháy chạy lại ôm chầm lấy anh:
— “Đù má… trời độ mày rồi Sĩ …”
Anh Sĩ chỉ cười méo xệch:
— “Không phải trời độ không đâu… Là thằng phi công Mỹ đó liều mạng cứu tao…”
Xa xa, hai chiếc Cobra vẫn còn nóng đỏ thân tàu dưới nắng chiều biên giới.
Một cú bốc toán hy hữu.
Độc nhất vô nhị.

Và là câu chuyện có thật… được lính già truyền nhau suốt nhiều năm sau.

Phạm Sơn Liêm


Friday, May 15, 2026

BÓNG MA GIỮA RỪNG LÀO


KHÁNH “COWBOY”

Một huyền thoại về biệt kích VN , Đoàn Khánh, Khánh Cowboy vừa ra đi. Cowboy từng phục vụ cùng Lynne M. Black Jr. trong một trong những trận đánh lịch sử nhất của SOG tại Lào, khi Toán ST Alabama, ngày 5 tháng 10 năm 1968, giao chiến suốt một ngày với cả một sư đoàn Bắc Việt gồm 10.000 quân — và sống sót để kể lại câu chuyện
___________

Người cùng màu áo lính năm xưa lại vừa thưa đi một bóng hình.
Một người anh em của thời trận mạc, cùng đơn vị trước năm 1975, vừa bỏ lại cuộc chơi trần gian ở tuổi 78.
Đoàn Khánh. Anh em gọi ông bằng cái tên đầy ngang tàng và bụi đời lính trận:
Khánh “Cowboy.”

Cái biệt danh nghe như bước ra từ phim cao bồi, nhưng phía sau nó là cả một đời tung hoành giữa lửa đạn. Một tay biệt kích có số má của những năm tháng SOG vượt biên, sống chết giữa rừng già Lào, nơi mà mỗi chuyến đi là một lần cầm sẵn giấy khai tử trong túi áo trận.
Ông thuộc lớp người lính, không biết cúi đầu. Bị thương nhiều lần nhưng chưa từng bỏ cuộc.
Sống ngang tàng.
Chiến đấu dữ dội.
Và mang theo chất “dân chơi” rất riêng của lính biệt kích năm nào.
Giờ đây, Khánh “Cowboy” đã lên chuyến trực thăng cuối cùng… bay về một vùng trời không còn tiếng súng.
Xin nghiêng mình tiễn biệt một người lính cũ. Một chiến hữu.
Một huyền thoại của anh em mũ Xanh năm ấy.

———-
Khánh “Cowboy”, đã bước qua tuổi 78 May 13-2026 tại SanJose, Cali…Nhưng với những người từng sống chết trong các toán thám sát MACV-SOG, ông chưa bao giờ là một ông già.

Ông là thứ còn sót lại của một thời chiến tranh mà tiếng trực thăng, mùi thuốc súng và máu hòa lẫn vào nhau giữa rừng già Lào và Campuchia.
——-
Ngày 05 tháng 10 năm 1968.
Biên giới Lào. Toán ST Alabama bị nuốt chửng giữa biển quân Bắc Việt. Nhiều lính chinh quy, tràn xuống như thác lũ. Đạn AK xé nát rừng cây. Cối 82 ly dập liên hồi. Không khí đặc quánh mùi đất cháy và thuốc súng.
Trong địa ngục đó có Lynne M. Black Jr. Và có Khánh “Cowboy”.
“Cowboy! Tụi nó đông quá!”
Một người Mỹ hét lên giữa tiếng nổ.
Khánh ôm khẩu CAR-15, đôi mắt lạnh như thép.
“Đông thì giết tới khi tụi nó hết đông!”
Ông chạy khỏi giao ụ đất, chơi nguyên băng đạn vào làn sóng quân địch đang tràn tới. Đạn đỏ xé màn đêm dưới rừng già. Một trái B-40 nổ sát bên hất ông văng xuống đất. Máu chảy đầy vai trái.
Nhưng vài phút sau, Khánh lại đứng dậy.
Vẫn chiến đấu.
Vẫn bắn.
Vẫn kéo từng đồng đội bị thương sau gốc cây bự.
Chiếc trực thăng H-34 Phi đoàn King bee 219 xuống bốc nhiều lần không thể đáp xuống, vì hỏa lực dày đặc. Cả toán gần như bị xóa sổ. Nhưng ST Alabama đã giữ vững vị trí và chiến đấu suốt một ngày dài đẫm máu, một trong những trận chiến khốc liệt nhất lịch sử SOG.
Và Khánh “Cowboy” sống sót để kể lại câu chuyện đó.

Một tháng sau, ông lại quay trở vào Lào.
Không nghỉ ngơi.
Không lùi bước.
Lần này ông đi cùng ST Virginia và Doug “The Frenchman” LeTourneau.
Người ta hỏi:
“Khánh… ông bị thương mấy lần rồi?”
Ông chỉ cười nhẹ, đốt điếu thuốc:
“Đếm làm gì… miễn còn sống để quay về.”

Trong những năm tháng công tác các phi vụ tuyệt mật của MACV-SOG, Khánh bị thương nhiều lần. Mảnh đạn còn nằm trong người. Có lần trực thăng bốc toán vừa nhấc lên, thì trúng đạn phòng không. Có lần phải bò suốt đêm giữa rừng để tránh chó truy lùng của cộng quân.
Nhưng chưa bao giờ ông bỏ cuộc.
Những người như Khánh “Cowboy” không chiến đấu để được huy chương. Họ chiến đấu vì đồng đội.
Vì danh dự.
Và vì nếu gục xuống giữa rừng già … sẽ chẳng ai biết họ từng tồn tại.
Hôm nay, thời gian đã phủ bạc mái tóc người lính già năm xưa. 

Nhưng với anh em SOG còn sống, cái tên Khánh “Cowboy” vẫn là huyền thoại.

Một bóng ma vai mang CAR-15, lặng lẽ bước xuyên lửa đạn… rồi trở về từ cõi chết.

Phạm Sơn Liêm

(Viết theo YouTube: John Stryker Meyer)

…Bức ảnh chụp khi John Stryker Meyer đứng bên phải, Cowboy Khanh giữa đứng cùng Jocko Willink John phỏng vấn trên Jocko Podcast năm 2020. trên YouTube, Jocko Podcast #258." https://www.youtube.com/watch?v=1Ca73ynwzTs&t=373s 

John Stryker Meyer Soldier of Fortune Magazine Special Operations Association Special Forces Association.


Monday, April 13, 2026

Vĩnh Biệt Nguyễn Sơn 


Nói đến tên Nguyễn Sơn thì bất ai đã từng phục vụ ở Trung Tâm Hành Quân Delta (LLĐB), Liên Đoàn 81 BCD, Biệt Đoàn 222 CSDC cũng đều biết đến Anh, từ cấp Chỉ Huy Trưởng cho đến anh binh nhì vừa về đơn vị. Tính tình thâm trầm hiền hòa đôn hậu với mọi người mọi cấp, không le lói, không nỗ sảng mặc dù chiến công của Anh đã vang dội với những huy chương cao quý nhất của QLVNCH.

Buổi chiều ngày mùng 5 Tết Mậu Thân, một buổi chiều nắng đẹp, vẫn với những ngọn gió hiền hòa từ biển khơi, vẫn với bãi biển cát trắng chạy dài bên đường Duy Tân mang nhiều kỹ niệm, nhưng sao có vẽ đìu hiu vì những cơn bạo loạn của cộng quân tấn công vào thành phố Nha Trang giữa đêm giao thừa. Tôi đang ngồi với vài sĩ quan ĐĐ3/81/BCD ở quán số 1 cạnh bờ biển, một vài trứng hột vịt lộn, một đĩa mực nướng và không thể thiếu món ốc bưu luộc chấm nước mắm gừng thì Nguyễn Sơn bước vào với 2 người khác. Mũ xanh gặp mũ xanh bắt buộc dơ tay vẫy vẫy vài ba cái rồi bàn ai nấy ngồi. Tôi hỏi Trung Úy Nguyễn Đăng Lâu:

– Niên Trưởng, ai vậy?

– Trung Úy Nguyễn Sơn, Liên Toán Trưởng Trung Tâm HLHQ Delta!

Anh Lâu xoay người qua phía bên kia bàn:

– Ê Sơn... qua ngồi với tụi này cho vui.

Thế là cả bọn nhập cuộc. Delta-81 như anh em ruột, tuy một mẹ khác cha nhưng lúc nào cũng kề cận bên nhau khi xâm nhập. Mẹ là binh chủng LLĐB. Cha là khác nhau đơn vị. Các C, các B, các A, Mike Force, 81, Delta đều mang một huy hiệu giống nhau. Delta ở đâu thì 81 ở đó, bất kể không gian và thời gian. Các C,B,A trong tình trạng cần tăng viện thì Delta-81 có mặt trong vòng 24 tiếng đồng hồ cũng bất kể không và thời gian. Cho nên mặc dù chưa biết nhau nhưng cùng một lò, ngồi chung bàn thì chỉ năm ba phút sau pháo vang trời đất. Sơn tốt nghiệp tháng 8 năm 1965 Khóa 19 VKTĐ với cấp bậc Chuẩn Úy. Như vậy cuối năm 1967 Anh đã mang lon Trung Úy chứng tỏ công trạng anh cũng lẫy lừng. Tôi vừa mới ra trường chỉ được vài tuần lễ nên gặp đàn anh, tôi thường hay hỏi han vài ba câu cốt chỉ để làm quen, nhưng Anh vẫn cứ cười cười với điếu thuốc Ruby Queen trên tay. Chợt Anh đứng dậy bước vào trong vài phút rồi trở lại bàn. 5 phút sau bồi bàn mang ra 10 chai bia con Cọp và 2 dĩa bò lúc lắc nóng hổi. Khi mặt trời xuống dần chân trời góc biển Anh lại chợt đứng dậy bước vào trong rồi lại trở lại bàn. Trung Úy Lâu bảo tôi vào thanh toán tiền nong, vì anh em 81 đã gom góp trước và giao cho tôi rồi, đến khi vào quầy tính tiền thì cô cashier nói Trung Úy Sơn đã trả hết rồi.

– Trung Úy Sơn! Tụi tui đến trước, Trung Úy đến sau mà! Làm vậy kỳ quá!

– Đồng ý! Các anh đến trước, tụi tui đến sau... nhưng mà... tụi tui là Delta nên ai móc súng (bóp tiền) trước thì sống, móc súng chậm hay móc súng sau là... là gì tui cũng không biết nữa!

Rồi anh cười khì! Tôi “kết” với Nguyễn Sơn từ đó.

Rong ruổi trên những bước đường chinh chiến, tôi gặp Sơn rất thường. Làng Cùa, Huyện Hương Hóa, Mỏ Than Nông Sơn, Đức Dục, Đồng Xoài, Đồn Điền Hớn Quản. Có một lần ở Cùa, Sơn gọi tôi sang lều (bạt dã chiến) uống cà phê. Nhưng không phải cà phê mà là chai “Ông Già Chống gậy” với “cờ tây”. Mặt của anh đang ngụy trang với màu mực lá cây rừng và mặc bộ đồ Việt Cộng mang dép râu, tôi biết ngay anh sắp xâm nhập chiều nay, tôi hỏi:

– Bộ rủ tôi làm vài cống để khỏi lạnh cẳng hả?

– Coi ai lạnh cẳng trước. Tôi vào thung lủng Ashau-Alưới. Nhận lệnh sáng nay, nếu vào tới nơi phát hiện chúng nó là các ông nhào vô liền đó. Các ông (81) vô thì tụi tui (Delta) dìa!

Rồi anh cười khì khì, cái điệu cười bất hủ của anh, anh nốc một cốc Johnnie Walker, gắp một miếng dồi chó bỏ vào chén của tôi:

– Vô đi cha nội cho ấm cẳng.

5 giờ chiều ngày hôm đó, toán của anh âm thầm lặng lẽ lên trực thăng của Phi Đoàn 281 không số của Mỹ vào vùng. Thung lũng Ashau Alưới nằm phía cực tây bắc tỉnh Quảng Trị, nơi tiếp vận hậu cần của quân CS Bắc Việt. Nhiệm vụ của Delta là thám sát mục tiêu, nhiệm vụ của 81BCD là khai thác mục tiêu. Anh nói đúng, khi anh rời khỏi trực thăng thì toán của anh đã nằm giữa lòng địch.Sau này anh kể cho tôi nghe: “Mẹ, giữa đoàn hùng binh (VC) có anh đang vùi đầu trong bụi rậm”....

8 giờ sáng ngày hôm sau, 3 ĐĐ 81BCD (ĐĐ3, ĐĐ1, ĐĐ5) nhào vô thì anh đi dìa. Sau cuộc hành quân này, anh có ghé thăm tôi và Nguyễn Hiền ở Bệnh Viện Duy Tân Đà Nẵng, anh móc trong túi áo saut chai Remy Martell nhét dưới chân tôi, rồi lại cũng cười khì khì:

- Cẳng có lạnh thì ướp cái này sẽ ấm ngay!

Tháng tư 75 vất súng, lột lon Thiếu Tá mà nước mắt cứ chảy dài, anh trở về với vợ con, lòng nặng trĩu không phải vì mất lon thiếu tá mà vì mất màu áo hoa rừng đã ôm thân thể của anh trên một quảng đường dài binh nghiệp. Gia đình cha mẹ anh em của anh mang nặng một mối thù Cộng sản vì đã mang đến bao nhiêu nỗi bất hạnh cho gia đình anh. Anh căm thù CS một, nhưng anh căm thù Việt Gian tới mười, anh đã viết một bài viết tựa đề “CHÓ MÁ”, phân tích sự khác biệt giữa con Chó và con Má để ám chỉ những con Má đang sống lẩn quất bên cạnh anh. Sau ngày tự cởi bỏ quân phục và vào tù, tôi không còn có dịp gặp lại anh nữa. Người Bắc kẻ Nam, người lên non kẻ xuống biển, phận ai nấy giữ, thân ai nấy lo, gần 20 năm ly biệt tôi gặp lại anh ở trên phần đất này.

– Út Bạch Lan hả? Tôi đã tới Dallas, có lẽ tôi sẽ tới nhà anh khoảng 6,7 giờ chiều nay.

Anh đơn thân độc mã với cái xe “HO” từ Michigan về Houston tìm một sinh lộ cuối đời. Vật đổi sao dời sau khi anh được rời khỏi những rừng tre rừng nứa, những luống khoai mì khoai lang gần 13 năm tù tội, nay anh phải “rời khỏi” mái ấm gia đình một lần nữa và ngâm nga “đời tôi cô đơn nên tôi chẳng yêu ai, đời tôi cô đơn nên tôi yêu mấy bạn già”. Anh gọi tôi khi anh gần tới Humble (phía Bắc TP Houston vài chục mile).

– Anh Sơn, anh ghé nhà anh Sáng trước, anh Sáng đang đợi anh, tôi sẽ có mặt ở đó khoảng 30 phút.

Trung Tá Lai Văn Sáng, nguyên là Chỉ Huy Trưởng Biệt Đoàn 222 CSDC, anh Sơn về đơn vị này chỉ năm ba tháng với chức vụ Sĩ Quan Hành Quân Huấn Luyện, cùng là gốc eo eo đi bi (LLĐB) nên xem nhau như ruột thịt. Anh Sáng giữ Sơn lại tạm trú vài ngày rồi tính sau. Gọi điện thoại cho “Cò Quế”, nguyên là CHT Cảnh Sát quận Tân Bình Gia Định:

– Help... Help... Help!

Thế là một tuần lễ sau Sơn có việc làm và chỗ ăn chỗ ở ổn định, lương tháng hơn ngàn, bao ăn bao ở không phải chi phí gì cả, nhưng khổ nỗi cái job khiến anh nỗi nóng bất thường. Làm Cashier cho một Grocery. Cứ rình mò thằng nào vào chôm chỉa ba cái bánh kẹo lặt vặt là anh túm cổ ngay. Cái máu và tai mắt mũi họng của các toán Delta mà. Nghề của chàng, nhưng không đúng chỗ, vì nhiều lần sẽ gây thù hận, nhất là bọn mỹ đen, thì có ngày sẽ xảy ra những chuyện không hay. Ông Bà chủ khuyên anh:

– Thôi kệ nó, ba cái lặt vặt đó, anh cứ giả bộ làm ngơ, cái mạng của anh quan trọng hơn.

Sơn nhất quyết không chịu, khẳng định giữ vững lập trường và thái độ, tuyệt đối không nhân nhượng với bọn trộm ngày cướp đêm này, rồi cuối cùng anh xin thôi việc, anh tâm sự:

– Ông Bà chủ (vợ chồng Cò Quế) rất tốt với tôi, tôi có thể làm việc cho ông bà đến chết để đáp lại ân tình này, nhưng mà cứ hể mỗi lần thấy thằng Mỹ đen vào cửa hàng ngông nghênh lận lưng bỏ túi rồi vênh váo bước ra cửa là tôi cứ nghĩ tới mấy thằng Việt Cộng nửa đêm xông vào nhà bố mẹ của tôi hôi của và bắt đóng thuế nữa. Tôi phải xin nghỉ việc vì chẳng đặng đừng, nếu còn tiếp tục chắc có ngày tôi bắn vỡ sọ một vài thằng rồi đi tù. Coi vậy mà đi tù ở Mỹ sướng hơn!

Vài tháng sau, phóng viên chiến trường Phục Viên giới thiệu anh làm một việc khác: Nhà Quàn!!! Nếu mổ và tắm rửa hóa trang xác chết thì 15 US một giờ, còn cắm hoa quét dọn nhà xác thì 10 US một giờ. Anh chọn việc thứ hai. Nhưng cũng chỉ được vài tháng anh lại xin thôi việc, anh tâm sự:

– Mẹ! Hồi xưa vừa chạy vừa cõng xác chết anh em đồng đội, rồi chui vào bụi rậm ôm xác chết ngủ qua đêm, sao người chết rồi mà vẫn còn sưởi ấm cho thân mình. Bây giờ làm cái nghề này sao tôi thấy nó tởm lợm làm sao! Đi ra, đi vào thấy mấy gương mặt đen thủi đen thui, bị bắn chết vì cướp giật, hiếp dâm, uống rượu say lái xe đụng người ta chết, rồi chết luôn, đôi khi mấy ông già bà cả chết già, tôi còn liếc mắt nhìn, rồi kiếm chuyện ra phòng sau cắm hoa vòng hoa phúng điếu...

Có người giới thiệu anh làm một job khác: Lái xe Thiết giáp!!! Giờ làm việc anh lái chiếc xe Van bọc thép (Armor Vehicle) nhận tiền rồi đi đổi tiền, công việc nhàn nhả thư thả, nhưng đôi khi phải nhanh trí để giải quyết những trường hợp thay đổi khẩn cấp. Phần vì tiếng Mỹ chưa nhuần nhuyễn, lại đàm thoại trên vô tuyến (radio), mắt lại kém nên cứ lạc đường hoài, không theo đúng lời chỉ dẫn của supervise hay manager nên anh lại xin thôi việc, anh tâm sự:

– Nhà tôi nghèo lắm. Thuở nhỏ mấy anh em đi học chỉ có một củ khoai lang hay một củ sắn dằn bụng buổi sáng, mãi tới chiều mới có được vài chén cơm với cá mắm Lăng Cô. Khi đi lính, có được đồng lương hằng tháng không cần đếm, chỉ cần tính nhẩm thôi cũng biết ăn xài được mấy ngày. Bây giờ làm công việc này, cứ lên xe là thấy giấy 100 dollar chất đống, tiền của người ta không phải tiền của mình, mất 100 đồng là bị trừ 100 đồng. Một tuần chỉ được vài ba trăm đô, bị sọt (short) một cái, là húp cháo, lại nữa ngựa già làm sao phi đường xa như mấy người trẻ, lên xe xuống xe phải vịn vào cửa xe hay thành xe, lọm khọm kiếm nắp bình xăng không nhớ nằm bên trái hay bên phải, lờ quờ chậm chạp kiểu đó có ngày thằng Mỹ đen lụi một dao vào sau lưng rồi lái xe Van chạy mất với mấy trăm ngàn trên đó thì có nước tự vận.

Cái job cuối cùng của cuộc đời anh khi anh vừa 61 tuổi. Bờ lâm binh (plumbing)!!! Rotation job. Có khi làm từ 10 giờ tối cho đến 6 giờ sáng, có khi từ 2 giờ chiều đến 10 giờ đêm, công việc mà anh thường đùa là “thụt cầu tiêu”, nhưng anh rất happy với công việc này vì nó thuộc City nên benefit đầy đủ, anh tâm sự:

– 13 năm tù, ngày ngày đi hốt và gánh phân tù rồi đổ nước quậy lên cho loảng ra, múc từng gào đi tưới cải xanh, cải bắp, quần áo tay chân mặt mũi lúc nào cũng dính cứt. Bây giờ đi làm lại việc này, nhưng nhiều điều khác nhau. Không bao giờ thấy cứt, cũng không thấy hôi hám, tất cả đều dùng máy móc, bơm thông thụt rửa chỉ bật điện rồi châm thuốc hút chờ, cuối tuần cầm cái check, cảm thấy cái job của mình nó thơm chi lạ.

Nhiều khi ngồi với anh cả buổi, nghe anh tâm sự đời anh không khỏi ngậm ngùi. Thú thật, cho đến khi anh ra đi, tôi không biết anh theo đạo gì, không bao giờ anh nói đến chuyện đi lễ nhà thờ hay chùa chiền, cũng không bao giờ nhắc tới tôn giáo, nhưng trong những câu chuyện thường nhật anh gói ghém triết lý nhân sinh một cách khéo léo tài tình. Có lần chị Sơn hỏi tôi:

– Anh Út có hiểu ảnh nói gì không, hay anh Út đọc bài của anh Sơn anh có biết ảnh nói cái gì không, còn tôi thì mù tịt.

Sơn cười cười:

– Tôi viết và tôi nói, đôi khi tôi cũng không biết tôi nói và tôi viết cái gì huống hồ chi người khác, bà sao hay lộn xộn!

Nhưng tôi hiểu. Tánh tình anh điềm đạm, dè dặt cẩn trọng trong mọi việc suy tính, cách xử thế với tha nhân rất ôn hòa và lịch sự, nhưng cả cuộc đời anh từ thuở nhỏ cho đến khi nằm xuống quả là một cuộc đời bất hạnh mang nhiều nỗi khổ tâm. Chính vì những bất hạnh đó đã làm cho anh trở thành một người trầm lặng. Không màng danh lợi, không bon chen hơn kém với bất cứ ai, nhưng khi nói hay viết một điều gì đều mang máng một cái gì đó trong tâm thức sâu thẳm của anh. Ngôn ẩn ngữ, ngữ ẩn ngôn, ngôn ngữ ẩn ý, người nghe người đọc thoáng qua không hiểu anh muốn ngụ ý gì! Có lần anh hỏi tôi:

– Tôi đố anh biết tại sao khi con người ta chết thì hai cái chân chết trước rồi mới dần dần lên tới cái đầu?

– Tôi không biết!

– Này nhé, khi con người sinh ra là cái đầu ra trước, chỉ trừ phi bị đẻ ngược, còn hai cái chân ra sau cùng. Ra trước chết sau, ra sau chết trước. Cũng giống như toán trưởng Delta lúc nào cũng nhảy trước nhưng chết sau, khi triệt xuất về sau nhưng chết trước.

– Tôi không hiểu xin anh nói cho rõ.

– Này nhé! Khi trực thăng vào tới điểm xâm nhập (LZ) thì toán trưởng phải hoặc là tuột dây cáp, tuột thang dây, hay nhảy từ độ cao 5,7 thước trước rồi mới tới toán viên. Chỉ trong vòng 30 giây theo tiếng đếm, cả toán phải xuống hết mặt đất. Nếu trong vòng 30 giây này mà Việt Cộng trở tay kịp thì có phải thằng tuột dây sau cùng bị bắn khi còn tòn teng trên không hay không? Còn khi triệt xuất (PZ) thì luôn luôn toán trưởng phải đu dây cuối cùng khi cả toán đã ngồi trên trực thăng, cũng trong vòng 30 tiếng đếm, nếu mà Việt Cộng đuổi theo kịp thì có phải toán trưởng lãnh đủ hay không? Đi trước chết sau, về sau chết trước là thế đó.

Rồi anh giảng giải cho tôi nghe về Tứ Đại, Ngũ Uẩn, Lục Căn, con người từ đâu đến, chết sẽ đi về đâu. Tôi ngồi hằng giờ nghe anh nói và có cảm tưởng như ngồi trước mặt một vị thiền sư. Anh vói tay mồi một điếu thuốc, không biết điếu thứ mấy tự nãy giờ, rồi tiếp:

– Anh biết không, hồi nhỏ cha tôi dạy rằng, khi người ta chết thì thân xác lạnh ngắt nhưng còn một điểm vẫn còn nóng (trong Tứ Đại). Nếu điểm nóng này hội tụ trên đỉnh đầu thì người chết sẽ thoát vòng luân hồi sinh tử siêu thoát về nơi thánh cảnh. Nếu ở mắt thì sẽ siêu thoát về cõi trời. Ở ngực thì đáo sinh kiếp người. Ở bụng thì vào loài ngạ quỷ. Nếu ở đầu gối thì là, thì là súc sanh. Cho nên mấy thằng súc sanh, thường đi bằng hai đầu gối là như vậy đó.

11 giờ sáng ngày 6/12/2014. Bầu trời Houston âm u ảm đạm, mưa không nặng hạt nhưng buồn tê tái, lòng người buồn lòng trời cũng buồn theo, người nhỏ giọt lệ trời cũng nhỏ lệ theo.

Cất bước quay về thăm chốn xưa
Buồn ơi biết ngỏ hết sao vừa
Khi hay bạn đã lìa trần thế
Bỏ lại lòng tôi những giọt mưa

Bồi hồi mượn bút hạ vần đan
Mặn đắng bờ mi chợt lệ tràn
Gởi gió về Anh lời vĩnh biệt
Cầu xin giấc ngủ mãi bình an.

Tôi đưa anh về cõi vĩnh hằng, nơi thánh cảnh anh sống yên bình vĩnh cửu. Anh đã theo mây về trời, đã theo gió đến miền Cực lạc, trút bỏ mọi ưu phiền khổ lụy chẳng một chút tơ vương. Khi nắp quan tài khép lại, tôi sờ vầng trán cao rộng của anh, để nhỏ giọt lệ cuối cùng tiễn đưa anh, bàn tay tôi bỗng thấy nóng ấm lạ thường.

Như vậy theo lời anh giảng, thì anh đã thoát vòng luân hồi sinh tử siêu thoát về nơi không còn vướng bận trần ai tục lụy và không còn nhìn thấy những con chó con má mà lúc sinh tiền anh thường hay khinh bỉ và phỉ nhổ./.

Houston 2:00 AM
Ngày 7 Tháng 12 Năm 2014
Ut Bach Lan


Mũ đỏ Út Bạch Lan

Blog Archive