Showing posts with label BS Hoàng Thị Mỹ Lâm. Show all posts
Showing posts with label BS Hoàng Thị Mỹ Lâm. Show all posts

Monday, December 10, 2018

Sự Chiến Thắng của Chân Lý
 
BS Hoàng Thị Mỹ Lâm


Sáng nay có hai tin vui đến với chúng ta gần như là cùng một lúc. Tin thứ nhất giải Nobel Hòa Bình năm nay được trao cho hai  người tranh đấu cho Nhân Quyền: Denis Mukwege và Jesidin Nadja Murat. Bác Sĩ Phụ Sản Denis Mukwege xuất thân từ Congo và là người tự nguyện dấn thân giúp đỡ và tranh đấu cho các nạn nhân bị hãm hiếp. Cô Jesidin Nadja Murat là nạn nhân trực tiếp của Quân Khủng Bố thuộc Nhà Nước Hồi Giáo, chẳng những gia đình cô bị Quân Khủng Bố giết hết trong năm 2014 tại Irak mà chính cô ra bị hãm hiếp khủng khiếp trong suốt thời gian  tù tội. Sau khi được  giải thoát ra khỏi tù cô đã định cư tại Baden-Württemberg  Đức Quốc và luôn hoạt động tích cực trong Liên Hiệp Quốc để thế giới quan tâm đến sự khủng bố tàn bạo của Nhà Nước Hồi Giáo ( Islamische Staat =IS )
 
Trong khi bản tin thứ nhất nói về tinh thần bất khuất trước bạo lực của những con người nhỏ bé tầm thường, thì bản tin thứ hai đăng trên tờ báo điện tử Tiếng Dân và Dân Làm Báo cũng không kém phần quan trọng nói về sự báo tử của một hoạt động trà trộn vào Cộng Đồng người Việt hải ngoại của Cộng Sản Việt Nam theo tinh thần Nghị Quyết 36.
Với sự điều tra công phu và trưng bày đầy đủ văn bản của Tòa Án Berlin, nhà báo Linh Nhân đã đưa tin Liên Hiệp Người Việt Toàn Liên Bang Đức đã bị giải thể chính thức từ ngày 27.11.2018 vì những vi phạm luật Hội Đoàn ở Đức, gây tranh cãi nội bộ dẫn đến kiện thưa trước tòa án Đức và vì những vi phạm hình sự liên quan đến việc sử dụng tiền tài trợ của chính phủ Đức qua cơ quan BAMF trong dự án "hỗ trợ xây dựng cơ cấu" (Strukturförferung).

Liên Hiệp Người Việt Toàn Liên Bang Đức là một Hội được thành lập ngày 22.10.2011 dưới sự bảo trợ của Đại Sứ Việt Nam tại Đức Đỗ Hòa Bình và Tổng Lãnh Sự Việt Nam tại Đức Trương Xuân Thanh. Nguyễn Văn Thoại được chỉ định làm Chủ Tịch Liên Hiệp  với mục đích tiếm danh làm đại diện cho "cộng đồng người Việt trước chính quyền Đức". Mục đích này được ghi rõ trong Điều Lệ của Liên Hiệp và trên bản tin chính thức của Trang Web Đại Sứ Quán Việt Nam tại Đức .
 
Sự ra đời của Liên Hiệp Người Việt Toàn Liên Bang Đức trong bối cảnh và mục đích như đã nêu trên đây là một thách thức đối với cộng đồng người Việt không chấp nhận chế độ Cộng Sản nói chung và là một sự đối đầu trực tiếp với Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Cộng Hòa Liên Bang Đức nói riêng.

Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại CHLB Đức đã đi vào sinh hoạt từ những năm đầu trong thập niên 1980 khi khối người  Việt Tỵ Nạn Boat people đến Cộng Hòa Liên Bang Đức ngày càng đông. Cho đến ngày  24.02.1989  Liên Hội chính thức ghi danh tại Tòa Án Frankfurt  với Ban Chấp Hành nhiệm kỳ mỗi hai năm  gồm năm người là Chủ Tịch, Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ, Phó Chủ Tịch Nội Vụ, Thư Ký và Thủ Quỹ. Ban Chấp Hành Liên Hội  được các Hội  Đoàn Hội Viên bầu ra và hoạt động hoàn toàn thiện nguyện cho những việc công ích của Cộng Đồng.
 
Sự kiện khai tử Liên Hiệp Người Việt Toàn Liên Bang Đức đã chứng minh cho sự việc Chân Lý thắng Tà Thuyết, Thiện Nguyện thắng Tư Lợi, Nhân Nghĩa thắng Tiền Bạc và cuối cùng là Dân Chủ Tự Do thắng Cộng Sản Toàn Trị.

Việc hoạt động bất vụ lợi và không ngừng nghỉ của các thế hệ người Việt tiếp nối nhau ở hải ngoại từ 43 năm nay để nói lên tiếng nói chính đáng chống lại sự độc tài toàn trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam tuy chưa đạt đến mục đích tối thượng, nhưng chúng ta vẫn dấn thân kiên trì đi từng bước trên con đường cứu đất nước dân tộc thoát khỏi cảnh nô lệ tà quyền và bất công xã hội.
 
Gương can đảm trước bạo lực của giải Nobel Hòa Bình 2018 và sự tự đào thải của những kẻ làm tay sai cho tà quyền là tin vui cho những người yêu chuộng Công Lý và Hòa Bình.

Berlin, ngày 10.12.2018
BS Hoàng Thị Mỹ Lâm

Monday, July 10, 2017

Người Việt "Hội Nhập" với chính thể Đa Nguyên tại Đức như thế nào "

Bs Hoàng thị Mỹ Lâm và Bs Trần văn Tích
Kính thưa quý Chủ Tịch Hội Hội Viên thuộc Liên Hội NVTN ,
Trong chiều hướng trao đổi suy nghĩ với Niên Trưởng BS Trần Văn Tích, tôi xin được phổ biến tiếp một bài viết nhân dịp Tết Đinh Dậu cũng về vấn đề này nhưng trên khía cạnh khác. Xin mời đọc:
Mặt Trái Của Đa Nguyên
Đành biết rằng làm công tác Cộng Đồng là cả một sự khó khăn vì trăm người ngàn ý , không ai có thể làm vừa lòng tất cả mọi người. Tuy vậy khi một tập thể có ít ra cùng một mẫu số chung , cùng một chiều hướng để làm việc thì sự hoạt động cũng thuận tiện hơn. Một ví dụ điển hình là Cộng Đồng người Việt tại Hoa Kỳ chẳng những cấm được cờ đỏ lộng hành tại Quận Cam mà tại San Jose Hội Đồng Thành Phố cũng đã thông qua Nghị Quyết chống cờ đỏ CSVN ngày 24.01.2017. Sự thành công của Cộng Đồng người Việt tại Hoa Kỳ đem lại hãnh diện cho người Việt hải ngoại và nêu cao chính nghĩa cho tinh thần Quốc Gia Dân Tộc.
Cộng Đồng người Việt tại Đức hiện tại thì ngược lại, đó là một tập thể chưa ổn định.
Trước khi nước Đức thống nhất thì chỉ có người Việt tỵ nạn Cộng Sản ở Tây Bá Linh và Tây Đức , sinh hoạt Cộng Đồng có tính cách ôn hòa đồng nhất vì sau một cuộc biển dâu đổi đời những người Việt tỵ nạn tha hương cảm thấy gần gũi nhau hơn . Lá cờ vàng được giương cao ngạo nghễ mà không ai cần phải đặt câu hỏi nên hay không nên, vì lá cờ vàng là biểu tượng đương nhiên của tự do dân chủ , là đã thoát được ách Cộng Sản.
Sau khi nước Đức thống nhất thì thoạt đầu sự lạc quan tràn ngập trong Cộng Đồng người Việt tỵ nạn . Lý do thứ nhất của sự lạc quan là sự tan rã của khối Cộng Sản Đông Âu báo hiệu một sự sập đổ liên hoàn trong khối Cộng đưa đến giải thể đảng CSVN trong thời gian sắp tới . Lý do thứ hai là Cộng Đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản tăng lên nhanh chóng vì số người Việt làm thợ khách hoặc du sinh ở Đông Đức tràn sang làm đơn xin tỵ nạn chính trị rất đông .
Tinh thần chống Cộng được thể hiện công khai và nhiều khi còn có tính cách phô diễn , vì khi họ càng chứng minh mình tham dự biểu tình chống Cộng càng mạnh , có hình ảnh và giấy chứng nhận đứng dưới lá cờ vàng càng nhiều thì cái cơ hội được công nhận là người tỵ nạn để chính thức ở lại nước Đức càng cao.
Điển hình là cuộc biểu tình ngày Quốc Hận 30.04.1995 ghi dấu mốc 20 năm mất nước tại Bá Linh có đến trên hai ngàn người tham dự. Lá cờ vàng bay phấp phới trên cả cây số đường trải dài từ Brandenburger Tor đến ngã năm Tượng thần Chiến Thắng .
Sau đó thì hiện tượng tỵ nạn của những người Việt từ Đông Đức và Đông Âu không còn làm thuyết phục các cơ quan xét đơn của chính phủ Đức được nữa. Một số lớn không được chấp nhận quy chế tỵ nạn , họ chỉ được giấy phép ở lại vì lý do nhân đạo . Người nào đã trụ được trên 18 tháng trên nước Đức có chứng minh được chỗ làm và không sống nhờ vào trợ cấp của chính phủ Đức thì họ sẽ nhận được giấy Aufenthaltserlaubnis (giấy phép cư trú) cho ở lại chính thức .
Thời điểm thay đổi quan trọng là vào ngày 17.11.2006 Bộ Nội Vụ các Tiểu Bang Đức đã thống nhất đưa ra bộ luật Bleiberecht (quyền lưu trú) ; theo luật này thì các người ngoại quốc đã ở được 6 năm (cho người có con ) hoặc 8 năm (cho người không con ) và có công ăn việc làm thì sẽ được cấp giấy cho ở lại nước Đức lâu dài.
Bước ngoặt về tinh thần chống Cộng bắt đầu từ đó.
Thế là người có tiền nhiều thì mở quán ăn sang trọng hoặc mở chuỗi tiệm ăn ở nhiều nơi , kẻ có tiền ít thì mở quán ăn nhanh nơi góc phố hoặc mở tiệm bán hoa tươi hoặc như khoảng mấy năm gần đây mở tiệm làm móng tay. Còn người không có vốn cũng sống được nhờ làm công rẻ mạt cho những người có vốn , hay ít nữa thì cũng bỏ chút ít tiền xin cấp một chứng nhận có việc làm từ các chủ tiệm Việt Nam . Từ đó sanh ra các dịch vụ không tưởng tượng được như :
Dịch vụ cấp giấy lậu có việc làm để làm đơn xin Bleiberecht , dịch vụ vợ chồng con cái khống với những người đã có giấy tờ ở lại hoặc với người có quốc tịch Đức, dịch vụ làm liều sanh con trên nước Đức để theo con mà được ở lại ….Cuộc sống của họ lao theo việc làm và giấy tờ cho đến khi được Bleiberecht. Khi được Bleiberecht rồi thì họ làm giấy tờ kéo con cháu họ hàng qua tiếp… và cái vòng luẫn quẩn cứ xoay tròn… và cái bùa "chống Cộng" không còn cần thiết để xin giấy tờ ở lại nữa .
Sứ Quán Cộng Sản nhân cơ hội này đem nghị quyết 36 áp đặt vào cái tập thể "bát nháo" đó với miếng mồi "quê hương là chùm khế ngọt" . Các Đại Tư Bản Đỏ xuất hiện, các hội đồng hương , hội du sinh , hội phụ nữ.. mọc như nấm dưới sự lèo lái của "Đảng và Bác".
Về phương diện chính quyền sở tại thì Cộng Hòa Liên Bang Đức là một nước mà căn bản pháp lý được xác định trong Hiến Pháp là "die Würde des Menschen ist unantastbar" (cf. Artikel 1 des Grundgesetzes), dịch ra là : phẩm giá con người là bất khả xâm phạm. Từ nguyên lý đó thì mọi con người khi đứng trước luật pháp đều có giá trị ngang nhau. Thêm vào đó là chủ trương đa nguyên , đa văn hóa trong một nền dân chủ vững mạnh đã nằm sâu trong tiềm thức mỗi người công dân Đức . Điều đó có nghĩa là đảng viên Cộng Sản VN cũng được có mặt , làm ăn và lập hội hè trên nước Đức miễn là họ không phạm luật . Không thiếu gì một số Giáo Sư Đại Học người Đức khuynh tả vẫn còn mơ tưởng thiên đường Cộng Sản đã yểm trợ lót đường cho tay sai Cộng Sản trên nước Đức ; nhưng đó chỉ là thiểu số, nếu không thì cả chế độ Cộng sản Đông Đức đã không sụp đổ.
Nhà cầm quyền CSVN lợi dụng khe hở của nền dân chù đa nguyên len lỏi thâm nhập vào Cộng Đồng người Việt hải ngoại . Trước là để kiềm chế tiến trình dân chủ trong lòng dân Việt xa xứ và ru ngủ họ rằng trật tự thế giới không hề thay đổi sau khi bức tường Bá Linh sập đổ (ví dụ chứng minh về trường hợp này là dự án tái tạo khu tưởng niệm Hồ Chí Minh tại Moritzburg của Đại Sứ Quán mà tập thể chống Cộng đã đánh bại ), sau là để phân hóa và tiện việc theo dõi người Việt trong cộng đồng hải ngoại. Những hội đoàn "yêu nước" nằm ngoan ngoãn dưới sự lãnh đạo của Đại Sứ Quán trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi : đừng chống lại nhà cầm quyền Cộng Sản VN thì muốn mua nhà bán đất ở VN , đem tiền ra vào bao nhiêu cũng được . Có cả hội đoàn mà ban chấp hành là đảng viên công khai của Mặt Trận Tổ Quốc xưng tên tiếm danh người Việt tỵ nạn Cộng Sản đứng ra nhận tiền tổ chức hội nhập cho người Việt tại Đức .
Sự khác biệt là người Việt tỵ nạn Cộng Sản là những người Việt đã đến Đức từ thập kỷ giữa 1978 đến 1988, quá trình hội nhập đã vững chắc và quy củ từ những bước đầu .
Còn người Việt đến Đức sau 1989 trong cái hệ thống "bát nháo" luôn tìm bắt kẽ hở để lách luật . Hệ thống hóa những con người đó là một điều mà luật pháp Đức mong mỏi . Để hệ thống hóa những con người này một cách hiệu quả là phải nhờ tay "dĩ độc trị độc" hoặc nhờ kẻ "nằm trong chăn mới bắt được rận" ; đó là các nhân viên Sứ Quán hay tổ chức Cộng Sản ngoại vi Mặt Trận Tổ Quốc . Chính quyền Đức thừa biết về sự hoạt động của CSVN trên nước Đức, nhưng sự hoạt động này không có hại đến nền an ninh Đức mà lại có lợi để chung tay kiểm soát người Việt di dân hoặc hồi cư .
Đó là mặt trái của nền đa nguyên dân chủ . Ngoài ra người Đức phải đặt quyền lợi của nước Đức trên hết . Trước tình trạng thâm nhập và trà trộn của con người Cộng Sản vào Cộng Đồng người Việt hải ngoại chẳng những người Việt tỵ nạn Cộng sản cảm thấy bất an mà còn có cảm nhận bị xúc phạm vì ngày xưa họ đã liều mình bỏ nước ra đi chỉ vì chế độ Cộng Sản thế mà ngày nay Cộng Sản và tay sai lại theo bén gót qua tận đây . Tuy rằng tay sai Cộng Sản trên nước Đức không thể công khai làm hại người Việt tỵ nạn Cộng Sản , nhưng các tay sai này vẫn âm thầm chơi xấu như lấn sân sinh hoạt , giành dựt tiếng nói cộng đồng người Việt trước công luận Đức, lập hồ sơ đen, trấn áp tinh thần người Việt tỵ nạn Cộng Sản khi có cơ hội …
Do đó người Việt tỵ nạn Cộng Sản phải luôn cảnh giác trước âm mưu xâm lấn tiếm danh của tay sai Cộng Sản và vạch rõ đường ranh Quốc – Cộng . Lá cờ vàng lại càng được giương cao hơn để nêu lên được ý chí quyết tâm chống độc tài độc đảng giành quyền lợi cho quốc gia và dân tộc. Trong sinh hoạt tự do và dân chủ chúng ta tin vào sự hỗ trợ của pháp lý Đức để bày tỏ thái độ chính trị hầu bảo vệ những tiếng nói kiên cường của người dân bị đàn áp trong nước. Chúng ta cũng không cần thi đua làm công tác hội nhập với các tổ chức tay sai của Cộng Sản, mà chỉ tiếp tục làm những việc mà chúng ta đã làm tự bao giờ và làm những việc phải làm .
Một Cộng Đồng người Việt tỵ nạn thành công và hội nhập trên mọi phương diện trên toàn nước Đức là một chứng minh hùng hồn cho những thành quả mà chúng ta đã và đang gặt hái được.
Ngoài ra còn có một vài luồng tư tưởng khác trong khối người Việt không Cộng Sản tại Đức cũng được một số người ủng hộ .
Đó là phe không cờ. Họ không treo cờ trong các buổi sinh hoạt của họ với quan niệm lá cờ Vàng chỉ là biểu trưng cho một chế độ . Thành phần này đa số là những người không liều mình vượt biên tìm tự do . Nền tự do đến với họ quá dễ dàng nên họ không thể hiểu lá cờ Vàng là hồn thiêng sông núi , là anh linh dân tộc. Họ đã chưa từng trải qua những cảm xúc chạm tới tận tâm linh khi cầm lại lá cờ Vàng trong tay như tìm lại được nguồn sống nhân bản tự do.
Vì đang sống và đấu tranh cho một xã hội đa nguyên dân chủ nên luồng tư tưởng này chỉ được xem là một tư tưởng khác biệt chứ không phải tư tưởng đối lập . Cũng vì vậy mà trên nước Đức này đã xảy ra trường hơp ca sĩ Mai Khôi vào đầu tháng 11/2016 tha hồ tung hoành từ Köln , Stuttgart , Frankfurt , München do nhóm không cờ yểm trợ và cuối cùng là Berlin do nhóm Phụ Nữ đỏ tổ chức. Người Việt tỵ nạn tại Đức chỉ nhìn mà ngao ngán. Sau khi hoàn thành chương trình ở 5 thành phố lớn tại Đức , ca sĩ Mai Khôi có lẽ lấy làm tự đắc nên tiến bước sang Hoa Kỳ mà không ngờ Cộng Đồng người Việt tại Hoa Kỳ quá vững mạnh , khác hẳn Cộng Đồng phức tạp của người Việt tại Đức , khiến cho nội vụ bị nổ bung một thời .
Sự thâm nhập trà trộn của tay sai Cộng Sản vào Cộng Đồng người Việt không dừng lại ở một biên giới lãnh vực nào. Trong vài tháng nay bỗng nhiên trang saigonbao.com trong cột Dân Chủ/Democracy xuất hiện thêm tên tờ báo Thoi Bao.de . Đó là một tờ báo điện tử tự xưng là của Cộng Đồng người Việt tại Cộng Hòa Liên Bang Đức có trụ sở tại Bá Linh và hay đăng tin, viết bài cho Đại Sứ Quán Cộng Sản . Tờ Thoi Bao này đồng thời cũng xuất hiện tại vị trí cũ trong cột Cộng Sản/Nội Địa . Không hiểu bàn tay nào đã đưa một tờ báo Cộng Sản xếp vào hàng ngũ Dân Chủ trong trang saigonbao.com.
Sự khó khăn trong Cộng Đồng người Việt tại Đức đòi hỏi người Việt tỵ nạn phải giữ một cái đầu lạnh trong cái xã hội đa nguyên đa văn hóa và phải luôn cân đo mức độ khoan dung (Toleranz ) của mình để kịp thời đối phó với những tình huống bất ngờ. Một ví dụ là trong một buổi tọa đàm với nhà văn Trần Trung Đạo năm 2014 tại Berlin có sự tham dự của một số người Việt đến từ phía Đông ; ban tổ chức ghi nhận điều này một cách cởi mở ; rất tiếc là khi chào Quốc Kỳ khai mạc họ không đứng lên như mọi người ; do họ ngồi những hàng ghế cuối cùng nên chỉ có một số anh em giữ trật tự phát hiện nhưng không can thiệp kịp thời để mời họ ra khỏi phòng trước khi chào cờ tiếp tục .
Về phía chính quyền Đức , người Việt tỵ nạn Cộng sản phải canh chừng cảnh báo họ trước sự tiếm danh của những tổ chức ngoại vi của cộng sản lấy tên cộng đồng người Việt thực hiện những âm mưu bất chính ; tuy nhiên người ta vẫn nên tin tưởng vào lối điều hành của chính phủ Đức đối với tập thể người Việt phức tạp ở đây. Luật pháp là để bảo vệ quyền công dân, người Việt tỵ nạn bây giờ là công dân Đức có quá trình di cư ( Deutsche mit Migrationshintergrund) . Với nguyên tắc "ngay thắng gian", chúng ta cứ sống và sinh hoạt theo đúng luân lý đạo đức công dân . Những con người vì cuộc sống nên lề thói chao đảo , thì một ngày nào đó khi tiến trình hội nhập hoàn tất thì có thể chính họ sẽ nhận ra con đường sai trái của chính mình để hướng thiện . Ngày đó họ sẽ nhìn ra họ sống ở đâu và chính thể nào đã nuôi nấng gia đình họ , đã nhào nặn ra con người và con cái của họ. Có phải đó lại là một cái kết "gậy ông đập lưng ông" cho tay sai Cộng Sản , vì chính do hội nhập thành công mà người Việt "bát nháo" bỗng nhiên nhìn ra chống Cộng là chính nghĩa.
Mồng hai Tết Đinh Dậu ( 29.01.2017)
BS Hoàng Thị Mỹ Lâm
---------
INTEGRATIONSGIPFEL (Hội nghị thượng đỉnh về Hội Nhập)
Kính thưa Ông Phùng Khải Tuấn,
Thưa Anh Đinh Kim Tân và Anh Phạm Công Hoàng,
Qua Chị Mỹ Lâm tôi được biết quí vị hằng tỏ nỗi băn khoăn về sự kiện Ông Nguyễn Văn Thoại đại diện Hội Liên Hiệp của Việt cộng được Văn phòng Phủ Thủ tướng mời tham gia ngày Integrationsgipfel ở Berlin năm ngoái trong khi Liên Hội lại vắng mặt.
Thực ra Phủ Thủ tướng đã mời phía bên kia tham gia Integrationsgipfel từ lâu rồi. Tháng giêng năm 2012 (trước khi cá nhân tôi nhận phụ trách Liên Hội) Hội Diên Hồng ở Rostock do Ông Nguyễn Duy Long đại diện đã nhận được lời mời của Thủ tướng phủ. Ông Nguyễn Duy Long có tham gia Gipfel (hội nghị thượng đỉnh) không, cá nhân tôi không được rõ.
Tuy nhiên năm ngoái, khi Ông Nguyễn Văn Thoại tham gia Gipfel thì không những tôi được phe Việt cộng cho xem hình ảnh rất lớn rất đẹp mà tôi còn được ít nhất năm nhân vật, xem như là thuộc phe chống cộng, phụ lực ViXi gửi hình cho tôi và nhiều đoàn thể, cá nhân chống cộng khác cùng xem! Ngoạn mục hơn nữa, ba tấm hình chụp Ông Nguyễn Văn Thoại với Bà Angela Merkel, với Ông De Maizière và với Ông Kurt Beck được chuyển đi nhiều nơi với đầu đề như sau : "Việt cộng ở Đức, còn người Việt tỵ nạn thì sao...????". Một dấu hỏi chưa đủ, phải có đến bốn dấu hỏi cơ! Lẽ ra những người chuyển tiếp hình ảnh và bình luận (bằng Đức ngữ) phải được Ông Nguyễn Văn Thoại cám ơn vì họ đã phụ giúp quảng cáo hình ảnh và hoạt động của Ông trên mạng mà quên mất rằng mình có phải là người tỵ nạn hay không nên mới nhẫn tâm nêu đến bốn dấu hỏi! Hình như họ không thấy có chút trách nhiệm nào trong vụ liên hệ nên nêu đến bốn dấu hỏi cho người khác, còn họ thì cứ tỉnh bơ, tự xem như hoàn toàn vô can! Tại sao họ không chịu khó gửi hình ảnh và bình luận cho một mình Chị Mỹ Lâm xem và đọc để biết mà liệu việc? Phải chăng họ đánh giá việc làm của mình là một kỳ công, phải cho bàn dân thiên hạ cùng biết mới xứng? Phải chăng họ không thấy có trách nhiệm gì cả trong vụ liên hệ?
Xin trở lại với điểm xuất phát. Tên gọi của buổi gặp mặt là Integrationsgipfel. Câu hỏi đặt ra ngay là quí vị – Ông Tuấn, Anh Tân, Anh Hoàng – có cần được integriert (hội nhập) không? Rõ ràng là không. Chẳng những thế, bên cạnh quí vị còn có một Dược sĩ Trung tá – có lẽ năm nay đã lên Dược sĩ Đại tá – hiện phục vụ trong Bundeswehr (phòng thủ liên bang) và đã từng cùng Quân đội Đức tham chiến ở A phú hãn. Bà Angela Merkel có bổn phận lo integrieren Ông Dược sĩ Đại tá này không ạ? Quí vị còn có một Giáo sư Bác sĩ hiện làm Giám đốc một bệnh viện lớn của Đức. Bà Angela Merkel có bổn phận lo integrieren Ông Giáo sư Bác sĩ này không ạ? Hay ho hơn nữa, Ông Giáo sư Bác sĩ có người hôn phối là một nữ bác sĩ gốc Đức 100% và đã có con với bà bác sĩ. Dường như Ông không cần Bà Angela Merkel integrieren Ông mà chính bản thân Ông đã integrieren người bạn đời gốc Đức vào đại gia đình họ Nguyễn của Ông!
Nói tóm lại, chúng ta đã integriert rồi. Tiến sĩ Rupert Neudeck còn bảo rằng chúng ta integriert tuyệt vời đến nỗi chúng ta hát quốc ca Đức thành thục hơn đội tuyển túc cầu quốc gia Đức!
Tất nhiên nếu muốn, Bác sĩ Mỹ Lâm có thể yêu cầu Văn phòng Phủ Thủ tướng ghi tên Liên Hội vào danh sách những đoàn thể được mời tham gia Integrationsgipfel. Nhưng chúng ta nếu có tham gia là tham gia cho người khác, vì người khác, do người khác; chứ không phải vì chúng ta cần quá trình Integration. Và Phủ Thủ tướng có mời Liên Hội hay không là quyền của Phủ Thủ tướng. Phần chúng ta, chúng ta còn có những việc khác thích hợp hơn phải làm.
Thực ra có một số hoàn cảnh riêng tư chi phối một số người thuộc tập thể chúng ta chưa được integriert. Tôi muốn đề cập đến các bà hay các ông có chồng hay có vợ người gốc xã hội chủ nghĩa, chẳng hạn. Nhưng con số đó có lẽ chẳng lấy gì làm đông lắm.
Suy tư của tôi về Integrationsgipfel là như vậy. Sở dĩ tôi viết thành bài và gởi đến ba vị qua điện thư là vì muốn nhiều người khác cùng suy tư với tôi, trong tinh thần chung lưng đấu cật chống cộng. Do đó, tôi xin phép phổ biến thư này đến một số bằng hữu hằng quan tâm đến vấn đề.
Xin kính chào Ông Tuấn và xin thân chào Anh Tân và Anh Hoàng. Hy vọng sẽ gặp mặt Ông và hai Anh ở Berlin vào Ngày Quốc Hận sắp tới.
Bonn, ngày 11.02.2017
Trần Văn Tích

Wednesday, May 10, 2017

Mười Phút Lội Ngược Dòng





Vào khoảng giữa tháng 9/ 2016 tôi rất bất ngờ nhận một cú phôn của một cô gái trẻ tuổi nhận mình là nhân viên của DOMID (viết tắt của Dokumentationszentrum und Museum ber die Migration in Deutschland có nghĩa là Trung Tâm Tư Liệu và Bảo Tàng di dân ở Đức, nằm ở Kưln) muốn tiếp xúc để phỏng vấn về đề tài di dân của người Việt tại Đức trong một dự án của DOMID. Là người làm việc cho Cộng Đồng Tỵ Nạn nên chuyện phỏng vấn của các phóng viên báo chí… là chuyện thường tình nên tôi sẵn sàng nhận lời. Ngày 28.9.2016 cuộc phỏng vấn đã diễn ra trong không khí thân mật tại nhà riêng. Cô gái 28 tuổi là một người Việt di dân, đã từ Hà Nội đến Đức một mình từ khi còn nhỏ để đi học. Cô ta sở dĩ biết đến tôi là qua một trang Wordpress. Sau cuộc phỏng vấn chúng tôi thỉnh thoảng vẫn liên lạc với nhau.

Cho đến đầu tháng 3/2017 cô ta báo cho tôi biết là cơ quan DOMID sẽ phối hợp với Phòng Đối Thoại Di Dân và Hội Nhập của Quỹ Friedrich Ebert để tổ chức buổi ra mắt cuốn sách " Vô Hình-Càc Hiện Thực Việt-Đức" vào ngày 25.4.2017 tại Friedrich Ebert Stiftung Berlin. Cuốn sách này là một công trình kết hợp các buổi phỏng vấn nhiều thành phần người Việt ở Đức và người Việt từ Đức hồi hương, trong đó có phần nhỏ viết về buổi phỏng vấn với tôi.

Khi nhận được thư mời chính thức và chương trình buổi hội thảo thì tôi mới biết rõ là mình sẽ tham dự với tính cách hội thảo viên trong một phần khoảng 40 phút của chương trình. Tôi sẽ là một trong 4 nhân chứng di dân Việt, mà trong đó 3 người kia là nhân chứng cho tầng lớp thợ khách, thợ khách đã hồi hương và du sinh trẻ đến từ Hà Nội; chỉ có tôi là người duy nhất là nhân chứng thuyền nhân trong phần chương trình đó và cả trong suốt buổi hội thảo với 14 hội thảo viên người Việt Nam ( phải nhắc lại là trong tổng số người Việt trên đất Đức dưới thống kê chính thức mới nhất là 176.000 người, người Việt tỵ nạn được đánh giá thành công trong hội nhập nhất và chiếm khoảng 1/3 tổng số đó). Ngoài ra trong danh sách khách mời còn có tên của Đại Sứ CSVN Đoàn Xuân Hưng. 

Khi nhìn thấy thư mời thì phản ứng đầu tiên của tôi là muốn từ chối không đến tham dự buổi hội thảo vì hai lý do: thứ nhất là vì ban tổ chức không công bằng với tập thể người tỵ nạn với bằng chứng là họ chỉ mời một thuyền nhân duy nhất trong số 14 người đến nói chuyện trong buổi hội thảo, thứ hai là vì sự có mặt của viên đại sứ CSVN chỉ làm cho buổi hội thảo mất tính cách khách quan. Nhưng sau khi tham khảo ý kiến của Ban Chấp Hành Liên Hội và các thân hữu thì tôi phải đổi ý kiến, vì thực sự tuy bị lép vế trước các thành phần khác nhưng tôi phải lấy đó làm cơ hội nói lên tiếng nói trung thực của người tỵ nạn trước hành vi man rợ độc tài của đảng CSVN từ gần 70 năm nay.

Để nói được tiếng nói trung thực tôi phải cần thời gian. Mà trong phạm vi chương trình tôi chỉ được tham dự trên bục diễn đàn 40 phút chung với 3 người khác dưới hình thức phỏng vấn bởi một MC; tính ra là phần của tôi chỉ có 10 phút và nếu có phỏng vấn qua lại thì tôi chỉ còn 5-7 phút để phát biểu. Vì thế tôi phải mặc cả với ban tổ chức là sẽ chỉ nhận lời tham dự làm hội thảo viên nếu họ cho tôi phát biểu tự do 10 phút và không phỏng vấn. Tôi đoán vì chương trình đã phổ biến nên ban tổ chức đã chẳng đặng đừng mà phải chấp nhận một cách miễn cưỡng điều kiện của tôi.

Mười phút để kể lại câu chuyện của một đời người đã là không phải là đơn giản. Huống chi đây là một đời người nổi trôi theo một khúc quanh đen tối của lịch sử dân tộc. Ngoài chuyện „dinh tề“, di cư vào Nam … các thảm kịch của nhà cầm quyền CS Bắc Việt tạo nên cho mỗi gia đình miền Nam sau ngày 30.4.1975 đã không giấy bút nào kể xiết, thế mà tôi chỉ có 10 phút để mô tả lại; thảm trạng vượt biên của những con người đi tìm cái sống trong sự chết cũng phải gom lại trong 10 phút; hội nhập và vươn lên trong một nơi xa lạ cũng chỉ gói ghém trong 10 phút; hệ lụy bi thương của dân tộc cho tới ngày nay cũng chỉ nằm trong 10 phút; nói với tuổi trẻ sanh sau chiến tranh cũng chỉ 10 phút đó. Tôi viết rồi gạch bỏ vài hàng, viết lại rồi gạch bỏ vài câu, viết thêm rồi gạch đi vài đoạn.. cứ thế rồi bấm đồng hồ đọc đi đọc lại sao cho đúng 9-10 phút phát biểu, quá 10 phút thì lại phải cắt đi vài câu vài chữ nhưng ý chính không thể thiếu….

Cuối cùng tôi hoàn chỉnh được bài diễn văn với thời gian đọc nhanh nhưng đủ cho người nghe và hiểu là 9-10 phút. Bài văn được thâu gọn tới mức không thể ngắn hơn nữa, nhiều chi tiết giá trị cũng phải gạt bỏ bớt.

Không những tôi bị sức ép về thời gian mà còn chịu lực ép về nội dung bài phát biểu, vì tôi biết chắc rằng những lời tôi nói sẽ đi ngược chiều với các lời tuyên truyền của CSVN từ bấy lâu nay và do đó sẽ không làm vừa lòng những nhân vật đang muốn giao hảo với CSVN. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, hãy trả lại sự thật cho lịch sử khi mà các chứng nhân còn sống sờ sờ đây. Friedrich Ebert Stiftung thuộc vào đảng SPD, một chính đảng trong guồng máy chính trị Cộng Hòa Liên Bang Đức. Thế nên tôi cũng tin tưởng phần nào vào tính cách dân chủ của những người điều hành ở Friedrich Ebert Stiftung và hy vọng họ sẽ để tôi nói đến câu cuối.

Khi bước chân vào khỏi cửa Friedrich Ebert Stiftung tôi đã được ông Gnther Schultze, đại diện Friedrich Ebert Stiftung, tiếp đón. Ông hoan hỷ báo cho tôi biết ngay là viên Đại Sứ Việt Cộng đã từ chối đến tham dự hôm nay. Nhìn nét mặt ông trong lúc nói chuyện tôi có cảm tưởng như ông đã trút được một gánh nợ.

Sau khi thỏa thuận với ban tổ chức và MC một lần nữa thì cuộc họp được bắt đầu khá đúng giờ. Phần đối thoại với các nhân chứng mở đầu chương trình sau các nghi thức khai mạc của ban tổ chức. Theo đúng giao hẹn tôi được phép đọc diễn văn 10 phút. Mười phút quý báu để nói với những người bạn Đức, những thế hệ Việt sinh sau cuộc chiến về những điều mà có lẽ họ chưa nghe bao giờ hoặc có nghe nhưng chỉ nghĩ là tin giả (Fake News). Tôi đọc nhanh và nhanh hơn vì muốn đề phòng sự trễ giờ sẽ bị cắt mất phần cuối là phần quan trọng nhất trong bài. Thế mà sau khi trình bày đến đoạn nói về giải thưởng nhân quyền của Hội Đồng Thẩm Phán Đức trao tặng khiếm diện cho Luật Sư Nguyễn Văn Đài, từ trên bục giảng tôi nhìn xuống thấy bà Katharina Deriks, thư ký trong Friedrich Ebert Stiftung, bước tới cạnh ông Schultze nói nhỏ điều gì, ngay sau đó ông Schultze tiến lên bục giảng đẩy một tờ giấy nhỏ ghi „ hết giờ“ cho tôi thấy. Vì đã dự đoán trước sẽ có tình huống này xảy ra nên tôi phản ứng nói lớn liền " hãy để tôi nói hết, chỉ còn hai giòng nữa" và tôi tiếp tục trình bày những giòng cuối về thảm họa ô nhiễm môi trường.

Khi bước xuống hội trường tôi bất ngờ nhận được những vòng tay ôm, những cái bắt tay, những lời khuyến khích tinh thần của một số bạn Đức Việt, họ bảo " bà phải nói lên sự thật như vậy cho chúng tôi biết ", " cám ơn bà", " chúng ta phải nói lên sự thật“ ….hoặc là mỉa mai ban tổ chức " tự do phát biểu mà như thế ấy à !!!". Đặc biệt là sự cổ vũ của một Linh Mục người Đức cũng có mặt tại đó.

Tôi cũng gặp các bạn trẻ Việt trong Ban Tổ Chức trong giờ giải lao và bảo với họ:“ cô đòi hỏi tự do dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam là muốn tạo cho tương lai của các em có một cuộc sống nhân bản pháp lý ở quê hương, riêng cho đời cô thì đã quá muộn để được hưởng những giá trị này tại VN. Hãy nhớ rằng cô không tranh đấu cho cô mà là cho thế hệ các em „.

Tôi cũng gặp ông Schultze để than phiền về sự việc tôi là người duy nhất trong suốt buổi hội thảo đã nhận thẻ đỏ của ông; ông ta chỉ cười gượng gạo " bà đừng nói nhiều, nói nhiều người ta không nghe đâu ". Nếu biết người ta không nghe thì tại sao ban tổ chức mở hội thảo làm gì, nhất là khi phải chi tiêu một số tiền thuế không nhỏ cả vào việc mua vé máy bay, đặt phòng Hotel cho nhiều người từ VN sang dự hội thảo.Tôi cũng không trách riêng gì ông Schultze, một ông chủ nhà muốn làm vừa lòng người đến đẹp lòng người đi. Nhưng chỉ vì muốn làm vừa lòng hết tất cả mọi người từ tả đến hữu mà họ đã quên những giá trị nhân bản nhất của con người, đó là giá trị chân chất của lịch sử, thì đó là một điều khó chấp nhận được trong một xã hội Đức dân chủ vững mạnh

Ngoài ra tôi cũng được biết đây là lần thứ ba Friedrich Ebert Stiftung mở hội thảo cho người di dân Việt Nam, nhưng hai lần trước hoàn toàn không có bóng dáng người tỵ nạn. Có lẽ sau lần này họ sẽ " rút kinh nghiệm " về nhân chứng thuyền nhân và sẽ cẩn thận hơn khi chọn lựa khuôn mặt người tỵ nạn để không phải nghe những lời " trung ngôn nghịch nhĩ "

Berlin ngày 10.05.2017

BS Hoàng Thị Mỹ Lâm


***


Bản dịch bài diễn văn ngày 25.4.2017 tại Friedrich Ebert Stiftung ( do chính diễn giả tự dịch)

Tại sao chúng tôi phải trốn chạy ? Câu trả lời: khi quê hương trở thành địa ngục thì người ta phải bỏ ra đi.

Kính thưa quý vị,

Hai cụ thân sinh của tôi đã phải bỏ chạy từ bắc vào nam năm 1954 trước sự đe dọa tính mạng vì cuộc cải cách ruộng đất của nhà cầm quyền Cộng Sản. Khi đó tôi được 3 tuổi.

Gia đình chúng tôi thuộc vào một triệu người miền bắc di cư vào nam trong thời điểm này.

Vào Nam cha tôi làm việc trong sở Hỏa Xa tại Qui Nhơn. Từ năm 55 đến năm 59 chúng tôi sống trong hòa bình mặc dù cuộc chiến du kích của Việt Cộng đã nổi lên lẻ tẻ ở các địa phương từ năm 57.

Năm 1960 cha tôi bị triệu hồi về Saigon vì các cuộc tấn công của Việt Cộng vào đường sắt ngày càng tăng. Thời gian ngắn sau đó thì các đường sắt và toa tàu bị mìn của Việt Cộng phá hủy cho đến nỗi cả hệ thống đường sắt nối Saigon đến tận Huế hoàn toàn bị tê liệt.

Tại Saigon tôi đã tiếp tục hoàn tất chương trình Trung học phổ thông để bước vào Đại Học Y Khoa Saigon.

Ở hậu phương Saigon người ta chỉ cảm nhận sự tàn nhẫn của chiến tranh qua các vụ khủng bố của Việt Cộng như ném lựu đạn vào các đám đông trong trung tâm thành phố hay những đêm bị Việt Cộng pháo kích bắn từ ngoại ô vào các quận ở Saigon. Ngay cả những chuyến đi dã ngoại ngoài thành phố của Sinh Viên Học Sinh cũng nguy hiểm chết người vì các con đường bị Việt Cộng cài mìn.

Các thanh niên miền nam phải nhập ngũ tòng chinh. Họ chiến đấu cho chúng tôi, cho những người dân ở Saigon yên ổn sống, yên ổn học hành …Hàng triệu người chết và bị thương nơi tiền đồn hoặc thành nạn nhân của các cuộc truy sát đẫm máu của Việt Cộng mà điển hình là vụ giết dân trong Tết Mậu Thân 1968. Họ là cha, là anh em, là bạn bè, bạn học của chúng tôi.

Mặc cho sự tấn công của Việt Cộng trên mọi lãnh vực, từ chính trường đến chiến trường, chính phủ VNCH đã xây dựng được:

Một chính thể pháp quyền thực thi những giá trị căn bản của nhân quyền.

Một hệ thống trường công lập miễn phí từ tiểu học đến đại học và một hệ thống nhà thương công miễn phí

Phát triển đời sống văn hóa. Chúng tôi đã có hàng ngàn văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, hàng trăm tờ báo độc lập, hàng trăm ngàn đầu sách và vô số nhạc phẩm giá trị

Cuộc sống của tôi thời đó cũng giống như cuộc sống của tất cả sinh viên trên thế giới: bên cạnh học hành tôi thích đọc sách, mê nghe nhạc và muốn mở rộng kiến thức ra toàn thế giới.

Sau khi thất thủ vào ngày 30.4.1975 toàn miền Nam chịu sự trả thù dưới hình thức đô hộ và khủng bố của kẻ chiến thắng. Nhà cầm quyền mới là một thể chế cộng sản toàn trị với bạo lực cộng sản mà không hề có hệ thống lập pháp và tư pháp.

Như vậy có nghĩa là một đất nước không có pháp luật.

Miền nam Việt Nam trở thành một nhà tù lớn sau bức màn sắt. Sách vở, ngay cả sách giáo khoa và văn chương, đều bị đốt phá. Âm nhạc bị cấm hoàn toàn. Con người bị bắt mà không qua bất cứ một quá trình xét xử.

Hàng trăm ngàn thanh niên miền nam bị bắt giữ trong trại cải tạo, nhiều người đã bị tra tấn nhục hình đến chết. Vợ con họ bị đuổi đi vùng Kinh Tế Mới, nơi mà chỉ có đất hoang và bàn tay trắng.

Sau 3 năm học giáo điều chính trị trong Đại Học tôi được phân phối làm việc trong một bệnh viện. Trong Bệnh Viện thì sự thất vọng và phẫn nộ lại còn nhiều hơn. Những người miền bắc nắm trọn chức vụ lãnh đạo, và họ rất yếu kém về hiểu biết, từ kiến thức tổng quát đến kiến thức chuyên môn.

Tư tưởng được uốn nắn theo chủ nghĩa Mác-Lê. Bất cứ hình thức tư tưởng suy nghĩ nào khác đều không được chấp nhận. Chúng tôi không còn một hy vọng nào cho tương lai.

Con người không những chỉ cần ăn và uống. Tâm hồn và linh hồn cũng cần thức ăn. Tư tưởng không ai kiểm soát được, nhưng khi tư tưởng không thoát ra được và con người hàng ngày phải kiếm sống để tồn tại thì tư tưởng sẽ bị vùi chết theo ngày tháng.

Vì không gian sống của tôi, từ riêng tư đến nghề nghiệp, càng ngày càng chật hẹp lại khiến tôi như nghẹt thở trong môi trường đó.

Cuối cùng chỉ còn vượt biên là cách giải quyết. Vượt biên là đồng nghĩa với chấp nhận cái chết và lìa bỏ người thân.

Ngày 17.4.1979 tôi chạy trốn với một ngưới bạn học, cô ta hiện đang sống tại Paris. Chúng tôi gồm 297 người đi cùng một tàu đánh cá. Con tàu dài 18mét, ngang 3 mét. Trong 4 ngày lênh đênh trên biển chúng tôi bị hải tặc Thái cướp hai lần nhưng may mắn không bị hãm hiếp.

Ngày 21.4.1979 chúng tôi cập vào bãi biển Trengganu / Mã Lai. Ba ngày sau chúng tôi được tàu của Cao Ủy đưa về tập trung ở đảo tỵ nạn Pulau Bidong. Tại đảo tôi làm việc trong Bệnh Viện Sick Bay và chăm sóc cho trên 100 phụ nữ bị hải tặc Thái hãm hiếp, có vài nạn nhân chỉ mới 13 tuổi và bị nhiễm trùng rất nặng.

Ngày 5.3.1981 tôi đến Tegel Berlin trên một chuyến bay của hãng Lufthasa. Tôi đến một mình.

Kính thưa quý vị,

Ở Berlin tôi trú ngụ tại một trại tỵ nạn và được học mơ6t khóa tiếng Đức 8 tháng. Không lâu sau đó tôi lập gia đình. Sau khi sanh cháu bé thứ hai thì bằng cấp y khoa của tôi được chính phủ Đức công nhận.

Tôi bắt đầu làm việc tại Bệnh Viện Westend. Từ năm 1986 cho tới khi tôi về hưu vào tháng 9 năm ngoái, tức là tròn 30 năm, tôi phục vụ người bệnh tại Bệnh Viện Bethel Lichterfelde Berlin.

Tại Berlin tôi có một cuộc sống toại nguyện. Tôi có thể sống như ý tôi muốn vì nơi đây phẩm giá con người được tôn trọng ( câu này là câu đầu tiên nằm trong hiến pháp Đức ).

Tôi đọc nhiều, viết các tiểu phẩm, thưởng thức những bản nhạc tôi yêu thích mà không sợ phải bị bắt. Tôi tận hưởng một cuộc sống đa văn hóa và tin vào sự bảo vệ của luật pháp Đức.

Kính thưa quý vị,

sau gần 40 năm hầu hết những người Việt tỵ nạn đả thành công dân Đức có nguồn gốc di dân. Chúng tôi đã hội nhập hầu như toàn diện.

Dầu vậy lòng chúng tôi vẫn hướng về quê hương. Đất nước VN sau 42 năm hậu chiến bây giờ ra sao.

Theo Tổ chức Ân Xá Quốc Tế thì tình trạng Nhân Quyền ở VN không hề tiến triển. Ở hải ngoại người Việt bị theo dõi. Trong nước thì các vi phạm Nhân Quyền vẫn xảy ra hàng ngày.

Cách đây 3 tuần, vào ngày 5.4.2017 Hội Đồng Thẩm Phán Đức đã tao giải Nhân Quyền cho Luật Sư Nguyễn Văn Đài. Ông Nguyễn Văn Đài là người luật sư dấn thân ngay từ đầu để bảo vệ các giá trị của Nhân Quyền. Ông đã ngồi tù nhiều lần và lần cuối là từ tháng 12/2015 cho đến nay. Vợ của ông cũng bị cấm cảnh không được rời VN để đi nhận giải cho chồng. Do vậy mà Tổng Thống Đức Steinmeier phải trao giải cho một người đại diện.

Bên cạnh những vi phạm Nhân Quyền thì tình trạng ô nhiễm môi trường đang xảy ra hàng loạt tại VN. Chỉ riêng vụ Formosa trong tháng tư 2016 tại Vung Ang Ha Tinh đã có hàng tấn cá chết dọc theo hàng trăm cây số bờ biển miền trung Việt.

Sanh mạng con người ở các vùng dó bị đe dọa vì môi trường bị nhiễm độc. Vì tham nhũng và độc quyền lộng hành nên các thảm họa môi trường tại VN bị che dấu trước công luận quốc tế.

Vì thế tôi kêu gọi quý vị khi đầu tư vào VN, dù chỉ là trợ giúp phát triển hay giao dịch thương mại, xin hãy đặt Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền trước lợi nhuận kinh tế.

Nước Đức là một nước gương mẫu về Dân Chủ và Nhân Quyền. Xin hãy đừng chỉ xuất cảng hàng hóa mà hãy xuất cảng cả những giá trị nhân bản của Đức cho một cuộc sống đáng làm người.

Kính thưa quý vị

Tôi là một nhân chứng cho một thời đại đen tối của lịch sử VN. Những gì tôi vừa phát biểu là những lời xuất phát từ trái tim tôi. Trái tim của một người tỵ nạn yêu Tự Do và Dân Chủ.

Xin cám ơn quý vị đã lắng nghe.

Berlin,25.4.2017

HTML

Blog Archive