Showing posts with label Phạm Hồng Ân. Show all posts
Showing posts with label Phạm Hồng Ân. Show all posts

Wednesday, November 23, 2022

Nỗi Buồn Mùa Tạ Ơn 

Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày lễ Tạ Ơn, sau khi đi nhà thờ, tôi liền phóng xe một hơi đến đường 50, ở tận East-San Diego. Tới căn nhà nhỏ cổ kính, có đám bìm bịp xác xơ thả ngọn phủ kín mái sau, tôi mới tấp vào lề, tắt máy xe, rồi buồn bã ngó vào căn nhà mà trầm ngâm nhớ đến những người ơn, bây giờ đã biệt tăm, không biết chừng nào mới gặp lại.

Tháng Chín năm 1993, gia đình tôi qua Mỹ theo diện HO. Những ngày đầu tiên ở San Diego, trong căn apartment rộng rãi đầy đủ tiện nghi, gia đình tôi có cảm giác như vừa đến một xứ sở thần tiên nào đó. Vài ngày sau, một bà Mỹ già đến gõ cửa. Bà tự nhiên tiến đến bắt tay chúng tôi và ôm từng người một vào lòng.

- Sao? Các con thế nào? Có khỏe không?

Tôi ngơ ngáo như người từ cung trăng vừa rớt xuống. Bà già Mỹ nào đây? Bà đi lộn nhà? Bà nhìn lầm người chăng? Tại sao bà tự nhiên quá cỡ thợ mộc, và thân thiết với mình quá đột ngột như đã từng quen biết với nhau từ lúc nào? Vợ tôi cũng hoảng lên, chạy vội đến bên tôi, nói nhỏ:

- Ông ơi! Ông phải cảnh giác nha! Không chừng ở đây cũng giống như ở Sài Gòn. Người ta lường gạt nhau ghê lắm!

Bà Mỹ già vẫn nhoẻn miệng cười với chúng tôi. Bà âu yếm xoa đầu thằng con tôi, và chầm chậm nói:

- Sao? Các con thế nào? Các con không biết nói tiếng Anh à? Good or no good?

Tôi lạnh nhạt nhìn Bà:

- Bà có lầm ai với chúng tôi không? Chúng tôi vừa mới đến đây, từ Việt Nam.

- Đúng rồi. Các con gồm ba người. Có phải các con tên này không?

Bà móc trong túi ra tờ giấy, lật lên, đưa tôi coi:

- Tên các con này! Đây, đúng không?

Tên của chúng tôi thật rồi. Trong giấy, người ta còn ghi rõ địa chỉ và số phòng apartment của chúng tôi nữa. Tôi chưa kịp rõ nguồn cơn, bà già Mỹ đã tiếp lời:

- Mẹ ở cơ quan thiện nguyện, có nhiệm vụ giúp đỡ các con. Mẹ tên là Maurice. Còn con, tên là “en” phải không?

Mẹ Maurice tự nhiên quá, thân mật quá, khiến tôi gọi trả lại bà la “mom” chẳng chút ngượng ngùng.

- Con xin lỗi Mẹ. Mẹ tới thăm chúng con, vậy mà chúng con vô tình không biết. Tên con là AN, không phải đọc là EN, Mẹ ạ!

Bà xuýt xoa quay qua vợ và thằng con tôi:

- Còn cô này và thằng này? Cái tên cũng khó kêu quá!

- Vợ con tên là T…U…Y…E…T…Còn thằng con tên là C…U…O…N…G…

Mẹ Maurice vừa cười vừa lắc đầu. Bà đọc tới đọc lui, vẫn lọng cọng, vẫn không thể gọi tên vợ và thằng con tôi một cách chính xác. Cuối cùng, Mẹ dắt tôi ra xe, mang vào nhà lỉnh kỉnh những túi xách. Mẹ vui vẻ bày từng món lên chiếc thảm màu vàng rực.

- Đây là bình trà và sáu cái tách dễ thương. Đây là lô dĩa chén cho các con dùng bữa. đây là chậu rửa rau, bình pha cà phê, máy xay sinh tố, máy xay thịt. Còn cái này là nồi nấu cơm, nồi hầm thịt, chảo chiên trứng…

Vợ tôi trố mắt nhìn từng cái. Nàng rất đỗi vui mừng vì được làm chủ những vật dụng mà từ trước tới giờ nàng chưa bao giờ chạm tay tới.

- Con rất cám ơn Mẹ. Mẹ đã tặng các con những vật dụng quí giá. Khi xài chúng, chắc con sẽ luôn nhớ đến Mẹ.

- Mẹ không cần cần các con nhớ Mẹ đâu. Mẹ muốn phần nào hàn gắn lại vết thương mà thời gian qua chính phủ Mỹ đã bạc đãi các con trong chiến tranh Việt Nam.

Tôi cảm động đến rưng rưng nước mắt. Mẹ Maurice đã làm tôi nhớ lại chiến trường, nhớ đến đồng đội. Tội nghiệp cho tuổi trẻ chúng tôi, vừa lớn lên, xếp bỏ bút nghiên để hiến thân bảo vệ đất nước. Và đau đớn thay, chúng tôi bị bức tử, bị lùa vào ngục tù một cách tức tưởi.

- Bây giờ Mẹ có việc phải đi ngay. Ngày mai hai đứa con của Mẹ: thằng David và con Ann sẽ đến đây dẫn các con đi chợ. Chào các con nha! Chúc các con một ngày tốt đẹp.

Tôi đưa Mẹ Maurice ra cổng. Nhìn dáng Mẹ tất bật, vội vã – tôi chợt nhớ đến Mẹ tôi ở Việt Nam. Ôi! Những bà Mẹ, dù khác giống nòi, khác màu da…đều có chung một tấm lòng giống nhau – một tấm lòng bao dung, độ lượng… cao như núi non, rộng như biển cả.

Đúng như lời Mẹ Maurice hứa, trưa hôm sau, có hai vợ chồng trẻ người Mỹ đến gõ cửa phòng tôi.

- Chào ông bà. Xin giới thiệu tôi là David, còn vợ tôi là Ann. Chúng tôi đến đây để đưa ông bà đi chợ. Mời ông bà ra xe.

Ann đưa vợ tôi vào một ngôi chợ Mỹ. Còn David chở tôi đi lòng vòng. Hắn tắp xe vào những khu có cộng đồng người Việt sinh hoạt, giới thiệu với tôi từng chi tiết. Trò chuyện một lát, hắn và tôi thân thiện nhau ngay.

- Mày có thích ra biên giới Mễ nhìn cho biết không?

Tôi ngập ngừng, ngần ngại:

- Ở gần đây không? Xa thì thôi. Sợ làm phiền mày.

- Gần đây. San Diego sát với biên giới Mễ mà. Mày chưa coi bản đồ sao?

David chạy một hơi đến biên giới. Hắn lái xe giỏi thật! Hắn xàng qua lách lại điêu luyện như tên nài chơi ngựa trong trường đua. Cuối cùng, hắn dừng lại trên một đỉnh cao.

- Nhìn kìa! Mày có thấy border/biên giới phía tay phải không? Bên kia là Mễ. Mày sẽ có dịp qua đó du lịch, khi mày cầm thẻ xanh trong tay.

Tôi nhìn border phía trước. Border chỉ là một cánh cổng rộng cho sự ra vào hợp pháp giữa hai bên. Mù mờ tít xa là nước Mễ bao la. Cũng những cụm mây xám sà xuống với hàng loạt dãy núi kéo dài.

David đưa tôi về Apartment cũng vừa lúc Ann và vợ tôi xách lỉnh kỉnh những túi thức ăn vào nhà. Vợ tôi không giấu được nỗi vui mừng, cứ cười toe toét:

- Gần năm chục đồng thức ăn đó anh ạ! Mình không dám mua nhiều, nhưng chị Ann cứ bảo: lấy đi, lấy đi! Chị sẽ trả tiền cho. Mình ngại quá anh à!

Từ đấy, gia đình tôi và gia đình Mẹ Maurice gắn liền với nhau như bóng với hình. Cuối tuần, David lái chiếc truck đến nhà gọi tôi đi làm công tác thiện nguyện. Công tác chỉ vỏn vẹn vài tiếng đồng hồ. Chúng tôi thường đến giúp đỡ những người già neo đơn. Đôi khi giúp họ ăn uống. Đôi khi dọn dẹp rác rến trong garage. Đôi khi cắt cỏ xung quanh nhà. Đôi khi di chuyển một món đồ nào đó qua nơi khác… Lần đi nào, Mẹ Maurice cũng dành cho tôi một phần ăn to tổ bố.

Và sau chuyến công tác, Mẹ luôn thân thiện đặt vào túi tôi những tờ giấy bạc mười đồng.

Một hôm, David lù lù tới, trao tận tay tôi một chiếc xe đạp mới toanh, và một tấm giấy của Mẹ Maurice:

Certificate chứng nhận chiếc xe đạp này của AN do Mẹ Maurice thân tặng.”

Trước khi về, David còn nhấn mạnh:

- Mẹ có dặn, mày nhớ đạp xe đến thăm Mẹ vào mỗi ngày cuối tuần.

Nghe lời Mẹ, cứ mỗi cuối tuần, tôi đạp xe từ đường 43 đến đường 50 thăm Mẹ. Mẹ ở với vợ chồng David trong một ngôi nhà nhỏ nhắn, nhưng rất xinh xắn. Tôi thích những hàng cây xung quanh nhà, David trồng đủ loại, từ cam, quít, chanh… đến nho, lê, táo.

Buổi sáng, Mẹ Maurice thường ngồi uống cà phê với Ann nơi chiếc bàn bằng đá, dưới bóng mát của tàng cam xum xuê trái. Lúc nào Mẹ cũng để dành cho tôi một phần hot dog với tách cà phê sóng sánh hương vị. Mẹ luôn xem tôi như một người con trong gia đình. Tôi cũng vậy. Tôi tự nhiên như anh em với David từ lâu, tôi cần cù bầu từng nhánh cam, chiết từ cành quít cho David trồng thêm trên phần đất trống xung quanh nhà. Nhìn những nhánh cây mọc rễ trắng xóa trong bầu, Mẹ Maurice thích chí cười ha hả:

- Thằng này giỏi thật! Vậy mà thằng David không biết cứ xách tiền đi mua từng cây về trồng. Nhờ con, bây giờ Mẹ chỉ cần chiết nhánh, rồi chờ ngày bén rễ đem xuống đất vun phân tưới nước. Vừa tiết kiệm tiền, vừa tiết kiệm công. Hay quá!

Ngày qua ngày, tám tháng trợ cấp của chính phủ Mỹ vùn vụt trôi qua. Tôi chưa kịp có ý định tìm việc làm thì Mẹ Maurice đã nhắc David:

- Thằng An sắp hết trợ cấp. Ngày mai con dắt nó xin việc làm đi!

David nheo mắt, ngó tôi từ đầu tới chân:

- Ê, ở Việt Nam mày làm nghề gì?

Tôi cười hề hề, rồi đưa ngón tay trỏ lên, cong lại:

- Bóp cò.

- Trời đất! Mày đùa hay nói thật, thằng quỷ?

Mẹ Maurice chêm vào:

- Thì nó đi lính, ngày xưa…

David nhảy chồm lên, hớn hở:

- Vậy, tao có job cho mày rồi.

- Job gì?

- Security.

Ngày mai, sáng sớm, chưa kịp nhâm nhi ly cà phê đầu ngày, tôi đã thấy chiếc truck của David sà ngay cổng apartment. Hắn tức tốc bốc tôi lên xe, chạy một mạch đến các hãng security nằm trong vùng San Diego. Đi tới đâu, khi nhìn bộ vó chưa đầy 48kg của tôi, ai ai cũng lắc đầu từ chối. Tức quá, David nổi khí xung thiên, vừa chỉ vào người tôi, vừa lớn tiếng với ông Mỹ, chỉ huy toán security:

- Ê! Mấy ông đừng coi thường thằng này nha! Nó chuyên môn bóp cò ở xứ nó đó. Ê! Nó là sĩ quan chỉ huy, thâm niên công vụ… Mấy ông biết không?

Toán security lao nhao, tên chỉ huy phải chạy đến gần David, xuống nước nhỏ:

- Khi nào opening job, tôi hứa, tôi sẽ gọi điện thoại cho ông.

David lôi tôi phóng lên xe, trước khi rồ máy chạy, hắn còn nói vói theo tên chỉ huy:

- Ê! Hứa giữ lời nha! Tao chờ điện thoại tụi bây đó.

Mẹ Maurice buồn rầu khi nghe David kể lại chuyện tìm job của tôi. Mẹ cũng rưng rưng nước mắt khi nhìn lại thân thể gầy gò ốm nhách ốm nhom của tôi.

- Con phải uống sữa, ăn thịt bò hàng ngày… để có da có thịt một chút. Có sức khoẻ, con mới làm việc được.

Nghe lời Mẹ dặn, sau vài tuần tẩm bổ, tôi đã lên cân vù vù. Và kế đó, tôi cũng đã tìm được việc làm ở một hãng golf. Mặc dù đồng lương giới hạn, nhưng công việc bận rộn liên miên. Tôi làm overtime lu bù. Có khi làm luôn cả ngày chủ nhật.

Lần đầu tiên là nhân viên một hãng xưởng, nên tôi rất thích thú và đam mê công việc, vì vậy một thời gian dài tôi đã không đến viếng thăm Mẹ Maurice. Có lẽ vì bặt tin tôi, nên ngày chủ nhật hôm đó, Mẹ Maurice lọ mọ đến tìm tôi. Trời ơi! Mẹ Maurice đây sao? Một bà già Mỹ yếu ớt, chống gậy liêu xiêu gõ cửa apartment.

- Mẹ ơi! Làm sao Mẹ ra nông nỗi này hỡi Mẹ?

- Mẹ bị stroke con ạ! Mẹ đến thăm con lần này, rồi Mẹ sẽ về New York, gần gũi với đứa con gái của Mẹ.

- Chuyện gì đã xảy ra cho Mẹ?

- Không. Chẳng có chuyện gì hết. Mẹ muốn đi thăm con gái.

Tôi ôm Mẹ Maurice vào lòng, và chợt nghĩ đến những nỗi đau âm thầm mà những người Mẹ đã một mình gánh chịu. Sự hy sinh vô bờ bến đó chỉ có trong trái tim, trong tấm lòng người Mẹ. Mẹ Maurice và Mẹ ruột của tôi giống nhau ở điểm này.

Thời gian dài sau nữa, tôi hoàn toàn mất liên lạc với Mẹ Maurice, David và cả Ann. Rồi một hôm, trong lòng tôi bỗng xốn xang bức rức, như có linh tính báo về điềm xấu nào đó, tôi vội xách xe chạy lên đường 50. Căn nhà xinh xắn vẫn còn đây. Những hàng cây xum xuê trái vẫn dày đặc bóng mát. Cái bàn đá vẫn ở chỗ cũ. Những nhánh cây do bàn tay tôi chiết cho David giờ đã mơn mởn xanh, phơi phới đón gió chiều. Chỉ có căn nhà là đổi chủ.

Người ra tiếp tôi là một ông Mễ bụng phệ. Ông ta cho tôi biết David và Ann đã ly dị nhau, và họ đồng ý bán căn nhà này lại cho ông. Còn bà Maurice mất rồi, hình như bà mất lúc đang ở New York thăm con gái. Tôi xin phép hỏi thêm vài câu nữa, nhưng ông ta lắc đầu và khép cánh cửa lại.

Như có ai cầm dao đâm thấu tim gan mình, tôi lảo đảo ra xe, gục mặt vào tay lái, thổn thức từng cơn. Trời ơi! Tôi đã vô ơn với Mẹ Maurice. Tôi đã bội nghĩa với David và Ann. Niềm hối hận này, không biết bao giờ mới xoa dịu được.

Thưa Mẹ Maurice,
Hôm nay, con viết bài này như nén nhang kính dâng lên Mẹ, như ngàn lời tạ lỗi cùng Mẹ, và rất mong Mẹ rộng lượng thứ tha cho đứa con nuôi vô ơn và bạc nghĩa này.

Cho tới bây giờ, tôi vẫn chưa gặp lại David và Ann. Chẳng biết họ đã nối lại tình xưa hay mỗi người mỗi nơi với cảnh ngộ khác nhau?

Và mùa lễ Tạ Ơn nào cũng vậy, tôi luôn phóng xe đến đây với chai rượu trong tay, cố gắng xóa đi nỗi buồn khi tưởng nhớ.

Phạm Hồng Ân

Saturday, November 12, 2022

Đồng Đô La 

Buổi họp giữa các kỹ sư trưởng ngành và customer diễn ra tại phòng ăn nhân viên. Người ta đang giới thiệu sản phẩm, đang trình bày đồ án vừa design trong tháng qua.

Phòng ăn nằm kề phòng assembly, chỉ cách nhau bằng một khung kính trong suốt. Ở đây, tôi vừa lắp ráp sản phẩm, vừa nhìn mồn một buổi họp đang tiến triển linh động.

Một phụ nữ Việt Nam trung niên được ông Giám Đốc giới thiệu, bà đứng lên trịnh trọng, thao thao nói về điều gì đó, ở phía tương lai. Mái tóc xõa dài chấm sát lưng ong của bà... đã thu hút tôi ngay từ lúc đầu. Và cái bảng tên màu xanh đính trước ngực: Vicki TIET. Cùng với chiếc nút ruồi ngồ ngộ ở nhân trung. Tất cả những chi tiết đó, ào ạt đập vào trí tôi, khiến tôi dềnh lên, choáng váng, mơ hồ trôi về cõi quá khứ xa xôi.

"...Khoảng đầu tháng 4 năm 1975, khi đoàn T.54 của VC từ Bắc lũ lượt tiến vào Nam như nước vỡ bờ. Thì ở Đà Nẵng, Quảng Ngãi...rồi Nha Trang, Bình Tuy...binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa và dân địa phương ào ạt rút lui. Họ rút lui trên bộ, trên không, trên biển.

Trong lúc toán Mig-21 của Bắc Việt vần vũ trên bầu trời, như dương oai diệu võ giữa chốn không người. Chiến hạm chúng tôi đang hộ tống các Hải Vận Hạm chở dân và lính xuôi Nam. Lúc này, biển Đông nổi sóng liên hồi. Những cơn sóng hung hăng, cao ngất ngưởng, trút thẳng vào thân tàu, sẵn sàng xóa tan mọi dấu tích trên biển.

Buổi sáng, trời còn tối đen như mực, tầm nhìn xa chưa được 10m - giữa tọa độ vùng II duyên hải - chiếc ghe vận tải nhóc nhách người đã đâm sầm vào tàu Wec của hải quân. Chiếc ghe tan thành mảnh vụn. Người ta tuôn ra, rơi đầy mặt biển, tiếng la hét thất thanh vang rợn cả vùng trời. Chúng tôi nhào đến, ném phao xuống cấp cứu, các toán rescue được nhanh chóng hình thành, trục vớt nạn nhân lên tàu.

Trong số nạn nhân do tôi trách nhiệm, có một cô gái trần truồng đang trong cơn ngất. Tôi vội vã làm hô hấp nhân tạo, vội vã chạy xuống phòng sĩ quan tìm một bộ đồ hải quân ấm áp cho nàng...

Sau cuộc hành trình nguy hiểm và vất vả, chiến hạm chúng tôi cũng về đến Vũng Tàu an toàn. Tôi đưa cô gái lên bờ, rồi chia tay nhau nơi quán cóc đầu đường. Lúc đó, chiến tranh đang khốc liệt. Nó bùng nổ khắp nơi và bám riết theo số phận mỗi người. Tôi không có thời gian để tìm hiểu về cô gái, chỉ kịp ghi vào ký ức mông lung: cái tên Tiết Kim Uyên dễ thương. Cùng với mái tóc dài chấm sát lưng ong. Và chiếc nút ruồi ngồ ngộ ở nhân trung cô gái..."

Bây giờ, bà kỹ sư người Việt đang đứng đó -cách tôi một tấm kính- thao thao nói tiếng Mỹ như gió.

23 năm lao đao trôi qua, kể từ ngày chia tay nơi quán cóc ở Vũng Tàu. Nhân dáng cô gái đã thay đổi nhiều. Nhưng, những dấu tích riêng tư vẫn chưa thể nào thay đổi được. Chắc chắn, bà kỹ sư mang bảng tên "vicki TIET" là Tiết Kim Uyên ngày xưa. Tôi quyết định gặp nàng, như một phần nào tìm lại kỷ niệm -của thời hào hùng xa xưa.

Vicki TIET nhận ra ngay, khi tôi nhắc lại con tàu định mệnh cũ:

"Trời ơi ! Anh Ân... Em tìm anh khắp nơi..."

" Cô qua Mỹ lúc nào" Bao giờ mới có địa vị vững vàng như thế""

"Em vượt biên năm 1976 anh ạ! Địa vị chi" Ồ! coi vậy chớ không phải vậy. Em đang vất vả. Em đang khổ tâm vì gia đình..."

Tôi trợn mắt ngạc nhiên. Vicki TIET sang Mỹ năm 76, hôm nay đã là kỹ sư. Thế mà, nàng vẫn còn vất vả, còn khổ tâm... Nghĩ lại mình, mới qua đây diện HO, đi làm với đồng lương thấp nhất... chắc sẽ còn lận đận dài dài...

Vicki TIET rủ tôi ăn tối. Nàng chọn chiếc bàn trong góc mù mờ, yên tịnh nhất của quán ăn... để dễ dàng phơi bày tâm sự. Nàng nói một mạch về gia đình; về người mẹ đang bán thân bất toại; về người cha đang lâm bệnh nan y; về các đứa em đang đạp xích lô, đang làm ăn thất bại, nợ nần...v...v...

Hai mươi mấy năm ở Mỹ, nhiều khi, nàng phải làm đến ba job để lấy tiền gửi về gia đình. Nhưng, hết chuyện này... rồi đến chuyện khác, gia đình nàng vẫn túng thiếu triền miên.

Nhìn tấm thân gầy gò của Vicki TIET, qua hơn 20 năm ở Mỹ, tôi thấy tội nghiệp thật sự. Nàng nặng gánh gia đình. Nàng luôn hy sinh cho người khác, quên nghĩ đến mình, đến hạnh phúc riêng tư.

"Còn cô" Chuyện tình duyên ra sao" Người yêu đâu""

Vicki TIET rũ rượi cười. Đôi mắt nàng đã có những dấu chân chim. Vài nếp nhăn bắt đầu xuất hiện lác đác trên khuôn mặt hom hem. Nhìn gần, nốt ruồi nơi nhân trung cũng to ra, không còn ngồ ngộ như xưa.

"Người yêu nào" Chỉ có ma quỷ mới chịu em! Lớn tuổi rồi!"

Tôi loáng thoáng buồn. Buổi ăn bỗng trở nên nhạt nhẽo. Tôi nghĩ về quê hương như một nỗi đau rã rời. Việt Nam nghèo đói. Việt Nam lầm than. Việt Nam là một hố sâu to lớn, không bao giờ lấp đầy.

Tôi nhớ, cách đây vài năm, khi gia đình tôi vừa qua Mỹ được ít tháng, chợt nhận được fax từ Việt Nam của một người anh bên vợ. Những dòng fax khiến tôi sửng sờ, mất hết tinh thần :

..." Cô dượng Sáu, gửi gấp về cho anh mượn tạm 20 ngàn đô. Anh đang hùn hạp buôn bán lớn. Anh chờ tin Cô Dượng từng phút từng giờ..."

Coi xong, thằng con tôi tức tối, vò nát tấm fax, vụt xuống xó nhà :

"Hừm, người ta cứ nghĩ ở Mỹ, đô la rớt đầy đường... Qua đây, thiên hạ cứ việc...chổng mông...lượm..."

Chẳng bao lâu, một tấm fax khác lại đến. Lần này, đến lượt thằng em của tôi ""tả oán":

..."Nghe dư luận nói, anh chị vừa lãnh trọn số tiền lương lính tính từ 1975 đến nay. Em xin chúc mừng. Rất mong anh chị biếu em chút ít, để mua lại chiếc Honda đã cũ và xây lại căn nhà đã hư hỏng bấy lâu..."

Đến phiên bà vợ tôi giận dữ, dằn mạnh tấm fax xuống bàn, léo nhéo:

"Hừm, người ta cứ nghĩ ông làm lính đánh thuê cho Mỹ, nên nó trả lương mấy chục năm nay đấy!"

Tôi đau khổ kể điều này cho Vicki TIET nghe. Suốt buổi ăn, nàng ngồi im lặng nhìn ra cửa sổ. Mưa đang nhỏ giọt ngoài kia. Đang thánh thót rơi, ràn rụa trái tim người lữ thứ. Có lẽ, nàng thầm oán trách tôi, oán trách vì lỡ trút tâm sự với một kẻ quá đỗi vô tâm.

Sau buổi tối đó, tôi không có dịp gặp lại người đàn bà thành đạt mà tội nghiệp này nữa. Hãng tôi vẫn duy trì những buổi họp cho customer. Mỗi lần họp, tôi đều dán mắt vào tấm kính để tìm nàng, nhưng lần nào cũng như lần nấy - nàng đã như bóng chim tăm cá.

Một hôm nọ, bỗng có cú điện thoại gọi đến tôi, từ một bệnh viện ở ngoại vi thành phố.

"Hello, có phải ông là An Phạm không ạ" Có một bệnh nhân tên Vicky TIET cần gặp ông gấp! Xin vui lòng đến phòng 406. Chào ông."

Tôi lật đật đến bệnh viện. Đường đến đó không xa, nhưng tôi đã lúng túng, chạy vòng vèo, lạc đường mấy chập. Mưa lại giăng giăng bay. Hình như, trời đang báo trước điều không may nào đó, đã xảy đến với nàng. Phòng 406 hiện ra. Và nàng nằm đấy, còm cõi, xanh xao như một tàu lá rũ.

"Cô ơi! Cô khỏe không" Cô có nhận ra tôi không""

Nàng lờ đờ, cố giương đôi mắt nặng trĩu nhìn tôi, rồi thều thào nói trong hơi thở :

"Em bệnh nan y, sắp chết..Mong anh, một lần cuối, giúp em...Có về VN, nhớ ghé thăm gia đình dùm em...Đừng nói với họ...về cái chết của em...tội nghiệp...Địa chỉ em để trong ví...trên bàn..Cám ơn..."

Vài ngày sau, tôi ngậm ngùi tiễn đưa Vicki TIET ra phần mộ. Đám tang giản dị, họ chuyển quan tài nàng đến nơi an nghỉ, trong cảnh mưa bay lất phất lạnh lùng. Giữa nhóm kỹ sư người Mỹ dềnh dàng, chỉ có tôi lúi húi theo sau, lặng lẽ rơi những dòng nước mắt xót thương.

Mãi đến hôm nay, tôi vẫn chưa có dịp trở về Việt Nam thực hiện lời gửi gấm của nàng. Tuy vậy, tôi có kể chuyện này cho thằng bạn thân ở Victoria (Australia) biết. Và nhờ nó, khi về Việt Nam, bằng mọi giá, nhớ ghé thăm dùm gia đình của Vicki TIET.

Ít lâu sau, tôi nhận được lá thư từ Việt Nam. Những dòng chữ "thực tế" của thằng bạn, khiến tôi hết sức ngạc nhiên và trăn trở khôn cùng :

"...Thằng quỷ, tau có tìm đến gia đình Tiết Kim Uyên. Theo mày nói, tau đã dự định một số quà tặng để trao cho họ - hầu an ủi họ phần nào, trong cảnh khốn cùng. Nhưng, thằng quỷ.. .đó là một biệt thự sang trọng nhất trong vùng. Có xe hơi bóng loáng đậu trên sân. Có cả bầy chó bẹc-giê lao nhao bên trong. Sợ lầm địa chỉ, tau mới ghé vào nhà bên cạnh hỏi thăm. Thằng quỷ, người ta cho biết gia đình Tiết Kim Uyên đang ở ngôi biệt thự giàu sang đó. Ngôi biệt thự được xây cất từ lâu, do tiền đô la của chính Tiết Kim Uyên từ bên Mỹ ào ạt gửi về. Ba má họ đã mất cách đây gần 20 năm, bởi một tai nạn xe hơi. Không có câu chuyện thương tâm, như mày đã nói...thằng quỷ..."

Tôi nghẹn ngào như có ai đấm một cú đấm vào ngực. Ngày mai, có lẽ tôi sẽ mang bức thư này ra mộ Vicki TIET. Rồi... đốt nó thành tro, hy vọng dưới chốn tuyền đài, nàng sẽ nhận được nó, và an tâm về gia đình bên Việt Nam của nàng.

PHẠM HỒNG ÂN (San Diego)

Monday, April 4, 2022

CHỊ HƯỜNG

Năm tôi mười lăm. Chị Hường đã mười chín, hai mươi tuổi. Năm đó, tôi chuẩn bị thi Trung học đệ nhất cấp thì Chị nghỉ học, ở nhà trông coi Sản nghiệp Gia đình. Ba Má chị là thợ máy, phải lên Sài Gòn, chạy theo công việc. Chị thui thủi một mình, nên thường ra quán kiếm tôi, nói chuyện dưới đất trên trời. Sản nghiệp Gia đình Chị thật ra chỉ có một căn nhà để che gió che mưa và một thẻo đất chứa đầy những chiếc Peugeot vẹo đầu sứt đuôi thời xa lơ xa lắc.

Những chiếc xe rêu phong đã phủ đầy, cỏ dại mọc kín, vậy mà chúng vẫn nằm đó, ngó tuổi thơ chị Hường đi lên, một cách tội nghiệp. Chị càng lớn càng đẹp. Cái đẹp mộc mạc, mặn mà của loài hoa thôn dã. Lúc này, họa sĩ Lê Trung nổi tiếng trên báo chí. Tôi thường “cọp” báo hàng ngày, nên biết rõ về Ông. Những bức tranh vẽ thiếu nữ của Lê Trung thường để lại trong tôi ấn tượng rất đẹp. Chẳng biết Ông họa sĩ tài hoa có bao giờ đến Cà Mau chưa? Có gặp chị Hường chưa? Sao mà những bức tranh Thiếu nữ nào cũng giống hệt bóng dáng diễm kiều của Chị?

Ngoài giờ đến trường, tôi ghi tên thêm học thi. Nhà ông thầy dạy tư ở tận xóm Tân Lập, gần phi trường. Muốn đến học, tôi phải đạp xe trên mấy cây số, phải còng lưng vượt qua cái cầu quay có con dốc cao dễ sợ. Khi đến nơi, phải đứng trước thềm nhà Ông thầy vài phút, cầm cuốn tập quạt qua quạt lại cho bớt mồ hôi, mới yên tâm bước vào chỗ học. Thấy tôi cực khổ, chị Hường tình nguyện chở tôi đi học. Đến nơi, Chị qua nhà Thờ ngang đường, thơ thẩn gần hai tiếng đồng hồ, để chờ tôi tan lớp, chở về. Ngồi sau yên xe, gió thổi lất phất, vạt áo Chị tung bay, thốc vào mũi tôi một mùi hương lạ kỳ.

Má tôi có cái quán cóc bên đường, bán tạp hóa và kẹo bánh lặt vặt. Cái quán, cách thẻo đất chị Hường chỉ một lối đi nhỏ. Ngồi trước quán, có thể nhìn thấy những chiếc Peugeot đen xì bên đó, nằm lúp xúp trong cỏ và bóng dáng Chị tha thướt trên sân nhà. Má thương Chị, vì tính Chị hiền lành, hay giúp đỡ Má trong công việc khó khăn. Riêng tôi, tôi thấy Chị còn đẹp, thùy mị và có thể là đối tượng của Ông họa sĩ Lê Trung nổi tiếng.

Thương Chị, Má thường giao quán cho Chị, giao cả tôi cho Chị trông nom, nhắc nhở học hành. Đôi khi, ban đêm, Chị ngủ lại quán với tôi, như người thân trong Gia đình. Cho tới một hôm, anh Tư tôi từ Sài Gòn trở về. Mùa Hè, Anh được nghỉ học. Anh muốn về quê tìm lại tuổi thơ, đang lẩn trốn đâu đây, quanh bờ ao, vạt cỏ. Nhưng chưa bắt gặp tuổi thơ, anh đã chớm thấy tuổi Xuân trên đôi môi hồng thắm của chị Hường. Tuổi xuân lung linh những nụ mộng. Tung tăng một đóa hoa còn khép cánh e lệ, giữa trời xanh.

Từ ngày đó, chị Hường quên tôi, như quên một món đồ không cần thiết nữa. Tôi tự đạp xe đi học thêm. Khi cong lưng đạp kịch liệt lên dốc cầu, tôi kêu lớn tên Chị, réo gọi Chị như oán trách, giận hờn. Ban đêm, tôi ngủ chèo queo trong quán. Càng lạnh, tôi càng nhớ vòng tay ấm của Chị, càng tưởng hơi thở êm đềm của Chị đang phà bên tai tôi, thầm thì những lời khuyên bảo đậm đà. Suốt tháng nay, hai người hò hẹn, đưa nhau đi mất tiêu. Có bữa, Má tôi phải đi kiếm khắp nơi. Vì cái món ruột mà Anh tôi thích, Má đã sẵn sàng để đãi Anh. Từ ngày đó, chị Hường được Má tôi công nhận là một phần tử trong Gia đình. Chị tạm quên những chiếc Peugeot chết tiệt để làm quen với những viên kẹo óng ánh sắc màu, nằm la liệt trong cái quán Má tôi.

Chẳng hiểu Tình cảm của hai người thế nào mà Anh tôi, bỏ xứ biền biệt. Chị Hường đếm từng ngày, từng tuần, từng tháng, rồi từng năm, rồi từng năm nữa… Anh vẫn không trở về. Tội nghiệp, Chị mòn mỏi đợi chờ, héo hắt dung nhan, người lúc nào cũng rũ xuống, như một đóa hoa sắp rơi. Má tôi buông tay đầu hàng. Má không biết thằng Con trai của Mình nghĩ gì, khi cô dâu đã dâng đến trước mặt, khi mọi chuyện đã hoàn tất, chỉ chờ sự trở về của chú rể.

Tôi nhìn chị Hường đau khổ, lòng không cầm được xót thương. Muốn nguôi ngoai, tôi quay qua làm thơ, diễn tả nỗi thất tình của một người yêu bị bỏ rơi. Bài thơ ấu trĩ đó, lại lọt vào mắt Chị. Đêm, ngủ trong quán, gần Tết, gió bấc lạnh thấu xương. Tôi day lưng về Chị, nằm co quắp, ngủ ngon lành. Tôi tỉnh dậy, vì có cánh tay ấm áp dang ra, kéo nhẹ tôi vào lòng. Và tiếng thỏ thẻ của Chị, vang lên trong đêm khuya.

– Bộ em thất tình hả Bé? Con trai mà thất tình, kỳ lắm nha!

Tôi vươn vai cho tỉnh ngủ, rồi rúc sâu vào ngực Chị. Một mùi hương kỳ lạ từ da thịt Chị phả ra, làm tôi ngây ngất.

– Sao chị biết? Chắc coi lén thơ phải không?

– Thấy em làm thơ, Chị tò mò. Té ra em bỏ học, chạy theo một cô gái.

Tôi muốn phân trần với Chị, về bài thơ. Tôi làm thơ vì xót thương Chị. Vì không chịu nổi cảnh một người yêu chờ mãi một người yêu. Nhưng thôi, hãy để Chị nghĩ đến tôi như kẻ thất tình, có vẻ hay hơn, có vẻ lãng mạn hơn đôi chút.

– Em tưởng tượng Chị ạ! Em vẫn học thi, có bỏ đâu?

Chị Hường ôm tôi, nhẹ nhàng. Những lọn tóc dài rớt xuống mặt tôi, trong đêm tối, sao nó huyền ảo, lung linh như bức tranh vẽ Thiếu nữ của họa sĩ Lê Trung. Tôi mơ màng, quay lại, quấn chặt lấy Chị.Và bên tai,vẫn văng vẳng tiếng thỏ thẻ của Chị.

- Bé nè! Bé đẹp trai. Hổng có thất tình, nghe chưa?

Cho tới một hôm, chị Hường ra đi. Ngày Chị đi, tôi không hay. Khi biết được, cánh cửa nhà Chị đã khóa kín. Hàng bông huệ sân trước, rũ lá, khô cành. Đứng trong thẻo đất Chị, bên cạnh đống Peugeot tật nguyền, tôi cảm thấy cô đơn muốn khóc. Xung quanh đây, từ căn nhà Chị đến cái quán má tôi, dường như đầy dẫy bóng dáng Chị, dường như đó là phần thân yêu, buộc chặt vào đời sống tôi, không thể bứt rời.

Những ngày sau, tôi như một kẻ Thất tình, thật sự. Tôi bắt đầu chìm ngập theo thơ. Tôi bắt đầu uống rượu, tụ ba tụ năm với Bạn bè, say khướt trong những đêm muốn nổi điên. Nhưng tôi vẫn học. Vì học để vươn lên, để thoát khỏi bàn tay nhầy nhụa của Chiến tranh. Đến năm tôi chuẩn bị thi tú tài II, chị Hường bỗng trở về. Chị đi thẳng vào quán, ôm Má tôi, nức nở. Cả nhà ngạc nhiên. Má tôi cảm động, bật khóc. Tôi ngỡ ngàng, ngó Chị. Vừa mừng, vừa xót thương vô vàn. Chị không còn là thiếu nữ mộng mơ của Lê Trung nữa. Chị đã già dặn, đã vàng võ hơn xưa. Hình như Chị đang lao lung. Đang bị cuộc đời quăng vào nơi chốn bất an.

Thăm Má một lát, Chị vội vàng từ giã đi. Tôi chạy theo, nắm tay Chị, kéo lại.

– Tối rồi. Chị ngủ lại đây cho vui. Mai sẽ về.

Chị Hường bùi ngùi nhìn tôi. Tôi se sắt nhìn lại. Tôi thấy đôi mắt Chị long lanh ngấn lệ.

– Không được em ạ! Chị có Bạn. Bạn chị đang chờ.

Từ đó, tôi mất chị Hường luôn.

Mãi sau này, lên đại học, rồi đi lính. Tôi có ý định tìm Chị, nên lang bạt khắp nơi. Chẳng mãn nguyện, tôi tìm trong thơ, trong rượu, trong nhan sắc của mỗi gái điếm. Tôi nhào vào cuộc chiến như nhào vào cuộc tình. Đánh rồi rút. Yêu rồi đi. Chẳng cần ngày mai. Chẳng cần tương lai. Cho tới một hôm, tôi về Vũng Tàu. Đêm ở đây yên lành. Biển ở đây êm đềm. Trời đẹp như thế này, sao không thả ra phố làm một cốc cà phê cho ấm dạ? Tôi lủi vào góc một quán nhỏ, ngồi nghe dòng nhạc Trịnh bay nhảy trên môi Khánh Ly.

Quán thưa người, có vài cặp đang thu mình ở các góc vắng, thầm thì. Tôi chờ cà phê bằng những ngụm thuốc lá. Lâu rồi, những ngụm khói vô tri này đã trở thành bằng hữu, bên cạnh tôi, trong suốt các nỗi buồn. Nó cũng hút tung bụi thơ lấm tấm từ hồn tôi, truyền tình cảm xuống bàn tay, bắt viết nên từng con chữ vấy huyết, tận cung tim. Vì vấy huyết, tôi yêu các con chữ này, đến hơi thở cuối. Tôi không bỏ thơ. Có thể, từ lâu, nó đã là phần tế bào, trong khối óc tôi.

– Bé! Bé đấy ư? Bé đi lính hồi nào vậy? Trời ơi! gặp em, Chị mừng quá.

Một Thiếu phụ rời khỏi cánh tay ông đại úy biệt động quân, xà xuống bên tôi.

– Trời! Chị Hường. Lâu quá, không gặp Chị. Chị khỏe không?

Tôi trân trối ngó Chị. Nhan sắc tàn phai, năm xưa, đã phục hồi. Khuôn mặt sáng hơn. Đôi môi vươn cao, chín mọng. Chị siết chặt tôi, gật đầu. Những giọt nước mắt rơi xuống, cảm động. Ông đại úy tiến tới, bắt tay tôi. Màu áo vằn vện của Ông khiến tôi nhớ đến Anh tôi, cũng đang lăn mình trong chiến trận. Tới giờ, tôi vẫn chưa hiểu, tại sao Anh tôi nỡ đành bỏ rơi chị Hường?

– Anh Khả, Chồng chị. Chị theo ảnh về Biên Hòa sống, lâu rồi.

Chị Hường chỉ tay về Ông lính, giới thiệu. Anh Khả hùng dũng, oai nghi với bộ quân phục. Anh trò chuyện cùng tôi, cười cợt như đã quen từ lâu. Sau đó, chúng tôi cũng chia tay. Chị Hường lại thút thít. Chị ôm vai tôi, không muốn rời. Mùi hương kỳ lạ năm xưa lại phả vào mũi tôi, khiến tôi xúc động. Những giọt nước mắt tự nhiên lăn xuống, rơi trên tóc Chị.

Tôi trở lại Cà Mau, lần cuối, lúc chế độ cộng sản nhuộm đỏ miền Nam. Trở lại thăm thằng em út đang lặn ngụp trong đời sống cơ hàn, tiện thể, thăm Bạn bè. Những đứa học chung lớp. Những đứa từng làm thơ, từng uống rượu nổi điên, trong những đêm hào sảng. Cũng muốn gặp lại chị Hường, xem đời sống Chị ra sao, sau khi anh Khả gãy súng.

Cà Mau, những năm đó, thảm thương. Dân số tăng nhanh. Cuộc sống bần hàn hơn xưa. Người ta tranh nhau kiếm sống. Tranh nhau buôn bán. Có nhà, tuôn hết những vật Kỷ niệm trong Gia đình ra đổi gạo, ăn qua ngày. Tôi tìm không gặp một thằng Bạn nào. Dường như, cuộc sống khó khăn đã lôi tụi nó đi khắp nơi, bươn chải. Còn thằng em tôi, mua nợ một chiếc gắn máy cà tàng, chạy xe ôm, nuôi con hằng bữa.

Nhưng tôi gặp chị Hường. Chị phất lên như diều gặp gió. Chị đang an hưởng trong cảnh lầu cao cửa rộng. Ba Má chị, sau 30 Tháng Tư, trở về là cán bộ cao cấp của phe bên kia. Ngày xưa, họ tung tin đi Sài Gòn làm thợ máy, nhằm che mắt Thiên hạ. Tôi gặp Chị không khó khăn. Vì nghe tin tôi về, Chị vội vã tìm tôi. Chị Hường chở tôi trên chiếc xe Honda đàn bà. Chị ghé nhiều chỗ. Mỗi chỗ, Chị dừng lại lâu, cho tôi nhớ Kỷ niệm. Tôi nhớ nhất cái quán Má tôi. Những đêm giáp Tết, trời lạnh tái tê, tôi và chị Hường ôm nhau ngủ, một cách hồn nhiên. Cái quán bây giờ không còn nữa. Mảnh đất đó đã bị người trong bưng, túa ra, chiếm mất rồi. Chạy loanh quanh một chập, chị Hường tấp vào một quán cà phê bên đường. Quán vắng khách. Những cái bàn lộ thiên, trải dài ngoài vườn. Không khí thiên nhiên, hợp với tâm hồn thôn dã của chúng tôi. Chị Hường chọn cái bàn sâu nhất, giữa hàng cây rậm rì, xanh mướt.

– Mấy năm trước, Má rời Cà Mau, Chị mất liên lạc với Má luôn. Những năm sau này, Chị tìm em khắp các trại tù miền Nam, nhưng vô vọng. Bộ người ta đưa em ra Bắc hả ?

– Không chị. Em bị nhốt ở miền Đông. Rừng Xuyên Mộc.

Chị chăm chú nhìn tôi, thở dài.

– Anh Khả mất. Chị như người không có linh hồn. Buồn thật buồn em ạ!

Tôi giật mình. Người đại úy mà tôi chỉ gặp một lần đã mến phục. Mất rồi sao? Tôi nóng nảy.

- Ảnh mất lâu chưa? Lâu chưa?

– Ảnh tử trận. Trước Tháng Tư chỉ vài tuần.

Nói xong, Chị đưa hai tay ôm đầu, vò tóc, nghẹn ngào. Tôi ngậm ngùi. Nhớ đến Anh tôi. Anh tôi cũng vậy. Cũng thời gian đó, Anh tôi mất tích ở “đại lộ kinh hoàng”, trong toán quân di tản về miền Nam. Nhưng tôi không dám thở than điều này. Chẳng ích gì. Chỉ làm cho vết thương lòng chị Hường, vấy thêm đau nhức.

Chị Hường tiếp tục tức tưởi.

– Bây giờ, Chị đã có Chồng. Ba chị bắt, ép gả cho một Ông cán bộ.

Tôi tròn xoe mắt. Chị lấy cán bộ? Thôi rồi, Chị đã phản bội anh Khả, phản bội quê hương, đất nước. Nhất là, Chị phản bội tấm lòng của em. Chị biết chưa? Tôi hét lớn. Nếu có thêm vài ngụm rượu, chắc chắn tôi sẽ nổi điên, đập phá tứ tung. Chị Hường khóc rống lên. Tiếng khóc ai oán biết bao. Xót thương biết bao. Tiếng khóc làm tôi nguôi giận, hối hận và tự trách mình sao quá đỗi hung tàn. Tôi lặng lẽ đứng dậy, đến bên chị Hường vuốt vai, vỗ về.

– Em xin lỗi chị. Giận quá, mất khôn. Chị biết không? Em căm thù giặc. Căm thù đến hơi thở cuối cùng.

Tôi chưa nỡ bỏ Cà Mau đi sớm. Vì thằng em đơn chiếc. Nó vừa nuôi con vừa chạy xe ôm kiếm sống. Vợ nó làm ăn xa, lâu lâu mới thăm nhà một lần. Nó cần tôi ở lại đây, trông mấy đứa nhỏ, chừng tháng sau, Mẹ chúng trở về. Thương em, tôi chấp nhận lời yêu cầu của nó. Cũng là dịp tôi có thời gian tìm Bạn, xem Bạn có công việc nào giúp mình sinh sống không?

Một hôm, thằng em phóng xe về, la lớn.

– Chị Hường đang bị công an bắt kìa, anh Bé.

Tôi đang bới cơm cho con bé, nghe đến tên chị Hường, bỗng hoảng hốt, chạy ra.

–Sao bị bắt? Làm gì bị bắt?

– Chị cầm dao đâm Chồng, khi ổng đang ngủ. Ớn quá!

Tôi nhào lên xe thằng em, đốc nó chạy nhanh đến nhà chị Hường. Đám đông bao quanh căn nhà. Công an cố gắng đẩy dòng người hiếu kỳ sang một bên, lấy chỗ cho xe cộ chạy qua. Tôi lủi vào dòng người, cố chen ra phía trước, dáo dác tìm bóng chị Hường. Trong nhà Chị, công an dày đặc. Họ đứng che lấp khoảng cửa, bít kín hiện trường để làm việc gì đó, với kẻ gây án. Thất vọng, tôi chỉ còn biết lắng nghe dư luận xầm xì.

– Nạn nhân được xe cứu thương chở đi rồi. Máu ra nhiều quá, tôi e khó sống.

– Giết được thằng nào hay thằng nấy. Ở đâu, về đây làm trời.

Nóng lòng quá, tôi khều một Ông kế bên, hỏi nhỏ.

– Thủ phạm bị đưa đi chưa Chú? Hay đang còn trong nhà?

– Chưa đưa đi đâu. Người ta còn điều tra mà.

Lát sau, đám công an đưa chị Hường ra xe. Lúc này, hai tay Chị bị còng, bẻ quặt ra phía sau. Tôi cố vượt đám đông, tiến tới gần Chị.

– Chị Hường!

Chị quay lại, thấy tôi. Ánh mắt bỗng trở nên nghiêm nghị, sắt đá và cương quyết. Đám công an lôi Chị, vượt lên, đi thẳng về chiếc xe bít bùng. Nhưng tôi vẫn nghe rõ giọng Chị, oang oang trong gió.

– Chị trả thù chồng. Nó giết anh Khả.

PHẠM HỒNG ÂN

Tưởng tiếc chị Hường,
Escondido, California, Feb 2022

Wednesday, September 8, 2021

Bài ca vọng cổ đầu tiên và cuối cùng

I.
Tôi nhớ căn phòng này anh hai tôi nằm. Tấm màn xanh che ngang, phía trong là chiếc giường chị hai tôi, kề cận... để hai vợ chồng có thể trông nom nhau trong những đêm hôm vắng lặng, nơi khu nursing home cổ kính này. Tôi nhớ số phòng, tất cả con số cộng lại bằng con 3. Đây là second floor. Vậy chỉ có phòng 201 hay 210 mà thôi. Phòng 201 tôi đã đến rồi. Đó là phòng có hai ông già Mỹ ốm nhách ốm nhom, vừa thấy tôi bước vô, hai ông đã vội vàng xổ một tràng ho xù xụ để chào mừng. Còn phòng 210 thì là phòng của hai bà già mập ú. Họ cũng giương cặp mắt kèm nhèm ngó tôi trưng trửng, như ngó người hành tinh lạ vừa lạc vào cõi trần ai lai khổ. Tôi gãi đầu, tháo lui, rồi đi ngược ra hành lang, vòng phía cầu thang thoát ra bên ngoài.

Đặt đít xuống cái băng gỗ nhơm nhớp cát bụi, tôi kiểm soát lại trí nhớ lem nhem của mình một lần nữa. Một tháng trước, anh chị hai tôi nằm đây. Một tháng sau - thời gian quá dài, bao nhiêu cuộc đổi thay có thể xảy ra? Biết đâu anh hai tôi nhuốm bệnh nặng phải chuyển đi nơi khác? Biết đâu chị hai tôi đã bình phục, trở về với gia đình? Trong lúc tôi đang phân vân với những nghi vấn nặng nề thì có giọng ca vọng cổ mùi mẩn cất lên, làm đầu óc tôi dịu lại và trái tim bắt đầu se thắt.

"Những thân cây cao là những thân cây chịu nhiều phong ba bão táp, nhưng là những thân cây bám sâu vào đất, bền bỉ trung kiên ngăn gió dữ mưa...cuồng".

Giọng ca của một chàng thanh niên nào đó, phát ra từ phía sân sau Nursing Home. Giọng ca bất ngờ đã làm tôi xúc động. Không phải vì lời ca hay, cũng không phải vì người ca điêu luyện, mà vì nó kéo tôi trở về một kỷ niệm xót xa, vì bài vọng cổ đó là bài chính tay tôi viết ở trong một trại tù, và chỉ dành riêng cho một người...

Tôi luống cuống mò xuống sân sau, nơi có bóng mát của những hàng cây phơi lá dưới ánh nắng ban trưa. Cậu thanh niên vừa ca vừa đẩy xe lăn cho một ông cụ đi dạo. Tôi chờ cậu dứt câu, liền đưa hai bàn tay lên vỗ vào nhau liên hồi. Ông cụ cũng mỉm cười, vỗ tay phụ họa.

- Hay, hay quá! Giọng ca của cậu làm tôi nhớ đến giọng ca Út Trà Ôn ngày trước.

Cậu thanh niên bẽn lẽn, ngó tôi từ đầu tới chân.
- Cám ơn chú. Ông cụ thích vọng cổ. Con muốn ca cho ông vui vậy mà...

Tôi tiến đến xe lăn chào ông cụ và nắm chặt tay cậu thanh niên.
- Chú thứ sáu. Cứ gọi chú là chú sáu. Chú muốn hỏi cháu bài ca này ở đâu cháu có vậy? Chú không thấy nó xuất hiện trên đài hoặc trên tivi trong nước và ngoài nước bao giờ?

- Cháu tên Phùng. Làm việc ở đây. Chuyên đẩy các ông cụ bà cụ đi dạo sau giờ cơm. Cháu ca vọng cổ khi nào có ai yêu cầu. Bài ca cháu hát do dượng út của cháu ghi lại. Dượng nói, đó là bài ca "tủ" của người bạn gái vượt biên chung với chú.

Tôi hồi họp.
- Người bạn gái vượt biên? Bây giờ cô ta ở đâu? Dượng cháu ở đâu? Họ đang định cư nơi San Diego này?

- Không. Cô đó cháu không biết ở đâu. Còn Dượng Út đang sinh sống tại Virginia. Năm nay ổng già, về hưu rồi.

Tôi bám theo Phùng, tiếp tục lần ra manh mối.
- Dượng út cháu tên gì? Ông ta cũng biết ca vọng cổ?

- Dượng út tên Hiện. Dượng chỉ là một tay đờn vọng cổ tài tử. Theo ổng kể, tết năm 1976 là cái tết đầu tiên của người Việt nơi xứ Mỹ. Họ buồn nhớ quê hương quá, nên tụ họp với nhau tổ chức đờn ca xướng hát cho vui. Lúc đó, giới nghệ sĩ cải lương không có ai hết. Chỉ có dượng út cháu biết đờn và người bạn gái của dượng biết ca. Thế là họ lên sân khấu diễn bài này. Không ngờ bà con cô bác vỗ tay hoan nghinh quá xá.

Biết không thể tìm hiểu thêm được điều gì khác. Tôi tỏ vẻ ái mộ dượng út Phùng để xin số phone ông ta. Trước khi từ giã, tôi không quên hỏi thăm về tình trạng của anh chị hai tôi. Phùng vui vẻ trả lời, hai ông bà đó được mấy đứa con rước về rồi. Họ khỏe lắm.

II.
Lúc tôi mới tập thả ngụm khói thuốc đầu tiên trong đời, thì Kim Xuyến cũng vừa bỏ trò chơi nhảy cò cò với đám con nít chung xóm để bắt đầu ru em bằng những bài bản vọng cổ mùi mẩn.

Kim Xuyến có giọng ca trong vắt, như lưỡi dao sắc, cắt nhè nhẹ trái tim người. Nhà Kim Xuyến kế sát nhà tôi, cách nhau bởi một tấm vách lá mong manh, nên trái tim tôi ngập tràn vết cắt. Tuy vậy, cả hai chưa bao giờ tự mở miệng làm quen. Nhưng, từ một thần giao cách cảm nào đó, tôi biết hàng ngày Kim Xuyến âm thầm gửi đến tôi những tình cảm thầm kín qua từng câu vọng cổ bi thương não nuột. Niềm im lặng cứ theo thời gian kéo dài, cho đến một ngày tôi chuẩn bị đi lính, Kim Xuyến mới chận đường, thốt lời thăm hỏi.

- Nghe nói anh sắp đi lính, vui quá, em muốn đến chia tay với anh.

Câu nói đầu tiên mà như dao cắt trong lòng. Tôi ngậm ngùi.
- Đi lính, người ta buồn thấy mồ. Sao cô lại nói vui?

Kim xuyến bụm mặt, cười khúc khích.
- Đi lính vui chớ sao buồn? Được đi đây đi đó, biết chỗ này chỗ nọ. Còn hơn là ngồi một chỗ, như em, chán thấy ông bà ông vải!

- Không sao. Cô muốn vui thì tui vui. Còn bây giờ, cô có nhắn gửi gì không? Sáng sớm, tui sẽ lên xe đi rồi.

Kim Xuyến mân mê tà áo.
- Em biết anh làm thơ nhiều lắm. Thơ anh tặng cho cô này cô nọ ở trong trường, ai cũng đồn um lên. Còn em, chẳng bao giờ thích thơ. Em muốn anh tặng em một bài vọng cổ, kỷ niệm. Anh có dám không?

Kim Xuyến lúng lắng mái tóc dài. Hình như có những sợi tóc thướt tha, theo gió, muốn quấn chặt đời tôi, bắt đầu từ giây phút này.
- Tội chi mà không dám. Nhưng cô ráng chờ. Tôi sẽ đi tìm thầy học nhịp vọng cổ. Sau khi nhuần nhuyễn, sáng tác tặng cô một bài, khỏe re.

Bỗng Kim Xuyến nhào tới, vỗ vào vai tôi nghe cái độp, rồi cắm đầu cắm cổ chạy một hơi.
- Anh nhớ nha! Em chờ bài vọng cổ của anh đó!

III.
Tháng Tư năm 1975, quân bắc phương tràn xuống, chiếm trọn miền nam. Những thằng lính còn lại, như tôi, bị đối phương lùa vào các trại tù. Đầu tiên, tôi bị tạm giam ở trại Mỹ Phước Tây. Đó là một đồn lính địa phương quân của Việt Nam Cộng Hòa, quân bắc phương trưng dụng biến thành trại tù một cách công khai. Vì là trại tạm giam nên có cả tù quân sự lẫn hình sự, tù nam lẫn tù nữ. Đêm Mỹ Phước Tây buồn. Chúng tôi ngồi tụ vào nhau hút thuốc, ôn lại kỷ niệm và thầm oán trách cuộc đời. Đêm quá nửa khuya, chúng tôi vẫn chưa ngủ, ly nước trà vẫn chuyền tay nhau, những mẩu tâm sự vụn vặt vẫn tiếp nối trong bóng đen tràn ngập ưu sầu. Bỗng có tiếng ca vọng cổ cất lên, vang vang một cách ai oán. Tiếng ca đào của một thiếu nữ đang ở trại tạm giam? Tiếng ca trong vắt, như lưỡi dao sắc, cắt nhè nhẹ trái tim tù nhân, khiến anh em chúng tôi ngẩn ngơ, nhìn nhau, rối bời cả gan ruột. Tiếng ca réo rắt xoáy vào ký ức tôi, làm tôi choáng váng, ôm ngực. Hình ảnh Kim Xuyến hiện lên, quay cuồng trong trí. Sáu câu vọng cổ nói lên sự tích Bá Nha Tử Kỳ. Phải chăng nàng muốn nhắc nhớ đến tấm chân tình năm xưa, đến lời hứa hẹn ngày trước? Phải chăng nàng đang tìm kiếm, trách móc cố nhân đã nhẫn tâm bội ước, bội thề? Chờ cho đến dứt câu số sáu, tôi đưa hai bàn tay lên miệng làm loa, hướng thẳng về phía tiếng hát, la lớn.
- Có phải Kim Xuyến vừa hát không? Có phải không?

Một giọng nói trong trẻo, thân quen, từ phía bên kia vang lên.
- Ừa. Chính em đây. Còn anh, anh là ai vậy?

Tôi mừng quá, la lớn hơn.
- Anh Sáu đây! Em có nhớ không?

- Trời đất! Làm sao quên được. Anh còn nợ em một bài vọng cổ, phải không?

- Tối nay anh sẽ thức suốt đêm để sáng tác sáu câu tặng em. Mai này em sẽ ca bài đó lên cho các anh chị em ở đây nghe nha!

- Anh nói anh nhớ nha! Còn chuyện hát hò là nghề của em. Sẵn sàng.

- Xuyến ơi! Lý do nào em vào trại giam này vậy?

- Thì...giống anh. Đi lính.

- Hả? Đi lính? Đi hồi nào?

- Em mới vào quân trường. Đang học, họ vô "hốt" không còn một móng.

- Bây giờ, em ngủ đi. Ngon giấc nha! Sáng mai xuống nhà bếp lấy nước, anh sẽ qua bên đó gặp em.

- Dạ. Anh cũng ngủ ngon nhá!

Đêm đó, tôi thức trắng để sáng tác sáu câu vọng cổ theo lời hứa với Kim Xuyến. Đêm sau, tất cả trại tù đều không ngủ. Họ đốt thuốc, uống trà...ngồi chờ tiếng hát trong vắt, sắc như dao...xuất hiện. Mảnh trăng lưỡi liềm vừa lên đến ngọn tre, tiếng hát Kim Xuyến chợt trỗi lên, cao vút giữa thinh không.

"...Những thân cây cao là những thân cây chịu nhiều phong ba bão táp, nhưng là những thân cây bám sâu vào đất, bền bỉ trung kiên ngăn gió dữ mưa...cuồng. Trời đất đổi thay vẫn một dạ một lòng. Em muốn đứng ngàn năm nơi góc nhớ, tưởng tiếc từng đồng đội đã ra đi. Nhưng thời gian vẫn là cánh cửa cách ngăn, một ống khóa lạnh lùng và tàn nhẫn. Anh và em hãy cùng phá tung cánh cửa, tháo khóa cách ngăn mới mong nói chuyện xum vầy..."

Bài ca ẩn giấu niềm yêu nước của chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đựợc tiếng hát mượt mà của Kim Tuyến ngân vang khắp trại tù, làm hừng hực ý chí của hàng trăm tù nhân chính trị. Rồi cũng chẳng bao lâu, tới một ngày, chúng tôi bị "xúc" lên các xe nhà binh, mỗi nhóm mỗi ngã, chia nhau đến những trại tù xa xôi khác. Từ đó, tôi không còn gặp Kim Xuyến nữa.

IV. 
Nhờ số điện thoại của Phùng, tôi liên lạc với Hiện một cách dễ dàng. Hiện hứa sẽ chỉ nơi Kim Xuyến trú ngụ, với điều kiện tôi phải qua Virginia chơi một chuyến. Tôi vội vàng thu xếp công việc, chuẩn bị cho cuộc hành trình đầy thú vị của mình.

Virginia mùa hè, nắng ấm, phố biển như trải tơ vàng. Hiện sống ở Chesapeake, rất gần Virginia Beach. Mùa này, du khách rất đông. Biển luôn náo nhiệt, ồn ào. Nhà Hiện, đúng là nhà của một nghệ sĩ nòi. Xung quanh tường, anh treo đầy các nhạc khí cổ nhạc. Tôi thấy, nào là: đờn nguyệt, đờn nhị, đờn tranh, đờn sến, guitare, violin...Ngoài ra, còn có cả sáo trúc, cây cuỗn (nhạc cụ trong hát bội), tỳ bà...Tôi mãi mê và tò mò táy máy các nhạc khí, suýt chút nữa đụng vào cây đờn bầu đang nằm khép nép một góc trong phòng khách.

- Anh chơi đờn bầu nữa sao? Tuyệt vậy?

Hiện kéo ghế cho tôi ngồi, rồi châm hai tách trà thơm phức.
- Tôi bắt đầu chơi nó vài năm nay. Độc huyền hợp với tuổi già. Nó chậm rãi, sâu lắng và xót xa. Nó dày vò những hoài niệm.

Tôi nôn nao, tiến sâu vào vấn đề. 38 năm rồi, tôi chưa gặp lại Kim Xuyến. Tôi muốn đối diện nàng ngay, bây giờ, để coi nàng mập hay ốm, tròn hay vuông thế nào?

- Trễ rồi. Anh làm ơn cho số phone hoặc địa chỉ Kim Xuyến. Tôi phải thăm cô ta ngay.

Hiện vói tay lên bàn, quơ chai Cordon Bleu xuống, rót đầy hai ly nhỏ.
- Khoan đã. Làm với tôi vài ly cho ấm bụng, rồi chúng ta cùng đi...

Tôi cầm ly rượu, ực một hơi.
- Anh biết nhiều về Kim Xuyến?

Hiện cầm ly rượu lên, cũng ực một hơi.
- Kim Xuyến trốn trại ở Mỹ Phước Tây và vượt biên ngay. Chúng tôi cùng chuyến thuyền và may mắn được tàu Mỹ vớt đem thẳng về nước. Tôi và nàng quen nhau vì duyên văn nghệ: Nàng ca, tôi đờn. Thế là chúng tôi gắn bó nhau từ đấy. Bài ca đầu tiên nàng hát ở hải ngoại là bài ca anh sáng tác. Rồi đi đâu, nàng cũng hát bài đó. Nàng hát trong các buổi lễ hội, trong dịp tết, trong các kỳ ra mắt sách, ở khắp nơi - bất cứ nơi nào có cộng đồng người Việt.

- Nàng chỉ trình diễn có một bài ca tôi sao?

- Còn nhiều bài ca khác nữa chứ! Nhưng bài ca anh được mở đầu. Vì bài ca anh gợi lại lòng yêu nước của người Việt tỵ nạn. Tôi cũng thuộc lòng. Những đứa cháu tôi cũng thuộc lòng. Có nhiều người thuộc lòng.

Tôi vội vàng chồm dậy, đi tới đi lui, nóng lòng nhìn đồng hồ.
- Trễ rồi. Tôi van anh, làm ơn cho gặp cô ta.

Hiện đứng lên một cách nặng nhọc.
- OK. Bây giờ chúng ta đi ra biển.

Tôi trợn mắt, ngạc nhiên.
- Ra biển? Sao lại ra biển?

Một dòng nước mắt tự dưng chảy dài xuống má Hiện. Hiện ôm mặt, buồn bã.
- Thì...thì Kim Xuyến ở biển. Người ta đã đem tro cốt nàng rải ngoài khơi. Nàng...mất rồi.

Tôi chới với. Dường như gian phòng của Hiện đang nghiêng ngửa, quay cuồng. Dường như hai đầu gối tôi không thể điều khiển được nữa. Bất ngờ, tôi chợt khụy xuống, một cách yếu ới.

- Hả? Trời ơi! Kim Xuyến mất rồi sao? Mất hồi nào?

- Cách đây năm năm. Nàng lâm trọng bệnh...

V.
Tôi và Hiện mướn du thuyền đâm thẳng ra biển. Tôi bảo tài công cứ chạy ra khơi, chạy đến khi nào thành phố Virginia Beach nhỏ lại bằng cái nắm tay. Chiều xuống mịt mùng. Sóng đẩy sóng, trườn lên nhau, vỗ nát mặt biển. Mũi tàu đập sùng sục trong nước. Khí trời như khói như sương bao phủ xung quanh chúng tôi một màn huyền ảo lạ thường. Trong màn huyền ảo mênh mông đó, tôi trườn ra mũi tàu, phình mắt ngó xuống trùng dương thăm thẳm.

Bỗng tiếng ca trong vắt vang lên từ đáy sâu.

Tiếng ca như lưỡi dao sắc cắt nát trái tim người. Tôi vội vàng đưa hai bàn tay lên miệng làm loa, hướng thẳng về phía tiếng ca, la lớn: KIM.....XUYẾN, KIM...XUYẾN...

Cứ thế, tôi tiếp tục la cho đến khi khàn giọng, tắt tiếng. Phía sau, Hiện đứng sững như tượng đá, nước mắt rớt như mưa, nhạt nhòa khuôn mặt...

PHẠM HỒNG ÂN

Monday, August 30, 2021

Những bữa ăn không thể nào quên

Cuối cùng, tôi về hưu. Số tiền làm việc bấy lâu đủ để hùn với bà vợ mua một mobile home vùng Escondido. Chúng tôi muốn có một chỗ riêng để đón hai đứa cháu nội cùng với ba mẹ nó từ Bắc Mỹ lạnh lẽo trở về, mục đích quây quần bên nhau cho vui cửa vui nhà…

Tôi gọi điện thoại xù diện housing, trong lúc đã đúng thời điểm nhà nước ưu tiên cấp nhà. Tôi từ giã bạn bè vùng East San Diego đông đúc để lên núi ẩn dật, trúng với cảnh các bậc tiền nhân tìm chốn hoang vu ngâm thơ thưởng nguyệt. Ra đi, chân còn bịn rịn, chưa muốn lên xe. Vì hai mươi mấy năm ở đây, tôi đã quen từng căn apartment chật chội, quen tiếng guốc về khuya gõ khắc khoải lên cầu thang một cách vội vàng, quen bài ca vọng cổ Lan và Điệp mỗi đêm ngân vang từ giọng hát xế chiều của bà già lựu đạn mê karaoke ở tầng dưới, quen mấy ông già trời ơi đất hỡi mỗi sáng kéo nhau ra sân hút thuốc, trò chuyện inh ỏi cả chung cư.

Chẳng có ông già nào tỏ vẻ lưu luyến. Chẳng có bà già nào vẫy tay tạ từ. Họ coi chuyện đi và ở của tôi như chuyện thường tình. Như chuyện Sơn Tinh phải lên núi, Thủy Tinh phải về biển. Tôi đành rơm rớm nước mắt ngó ra con lộ một chiều 43. Con lộ một chiều như tình cảm một chiều của tôi – cô đơn và lặng lẽ. Nhưng không. Nếu đi ngược lại, tôi cũng có những kỷ niệm vô vàn. Khi City Height chưa đổi mới, khu này đầy cỏ dại và ổ gà. Các quán của người Trung Đông mọc lên như nấm rừng. Đi ngang qua, mùi trái cây chín thúi bốc lên nồng nặc và chua lét.

Đầu phố, có tiệm bánh mì của người Mễ. Sáng, bánh ra lò. Tối, bánh ra lò. Trùng với những bữa ăn của vợ chồng tôi, nên tôi thường lội bộ ra đây, mang về một túi bánh mì nóng giòn. Vượt qua ngã tư một chút, đối diện với khoảnh đất trống bỏ hoang, là nhà hàng châu Á. Tiệm này nổi tiếng mì thập cẩm. Nước súp rất béo, thơm. Húp vào là ghiền ngay. Và chắc chắn khách sẽ trở lại đều đều để thưởng thức hương vị đặc biệt của nó. Tôi cũng đã đến đây nhiều lần “to go” mì cho vợ khi nàng nhuốm bệnh cảm cúm, hoặc nhõng nhẽo đòi bỏ ăn. Rất tiếc, khi City Height trùng tu, hàng loạt tiệm quán đã bị phá vỡ, thay vào đó là các khu thương mại khang trang, thư viện và ngôi trường ESL bề thế dành cho di dân học Anh ngữ.

Trước khi định cư Mỹ, dù nghèo, những bữa ăn của gia đình tôi thường vui vẻ và thân mật. Vợ tôi làm bếp rất dở. Có lẽ nàng ít tiếp xúc với các món sơn hào hải vị. Quanh năm chỉ lòng vòng kho quẹt, rau luộc… hoặc khá hơn một chút: mắm kho, canh chua, cải xào… Nhưng không khí bữa ăn vui nhộn. Đáng kể là những bữa ăn đoàn tụ với anh chị em, với họ hàng thân thích. Thơ mộng nhất, lúc còn tình nhân, hai đứa thường dẫn nhau vào các quán ăn ở thành phố Mỹ Tho. Bữa ăn chiều rất thịnh soạn. Nào là canh chua cá bông lau, cá kho tộ, tôm lăn bột… Cả hai ăn ít, vì còn dành thì giờ để nói chuyện yêu đương, chuyện nhớ thương, xa cách.

Qua Mỹ, chúng tôi chỉ gặp nhau ở những ngày cuối tuần, hoặc những buổi lễ kỷ niệm, trong các bữa ăn có hẹn trước. Đời sống Mỹ quá cao, nên chi phí rất nhiều. Vợ chồng phải cùng làm. Con cái phải phụ thêm, mới mong trả đủ mọi thứ tiền hàng tháng. Bữa ăn trưa nơi sở làm vỏn vẹn chỉ có nửa tiếng. Mỗi người lủi vào một góc, lặng lẽ ăn vội vã. Bữa ăn chiều, mỗi nhà mỗi cảnh. Có khi vợ chồng đi làm hai ca khác nhau. Lúc vợ ngủ chồng làm. Lúc vợ làm chồng ngủ. Những bữa ăn tẻ nhạt và cô đơn, cứ thế diễn ra.

Tôi chỉ có độc nhất một đứa con trai. Khi qua Mỹ, nó vừa 19 tuổi. Sống với chúng tôi vài tháng, nó ngứa chân chạy theo bè bạn, lò dò sang tiểu bang khác kiếm sống. Cali nắng ấm ngập tràn. Mùa đông không tuyết. Có thể mặc áo ấm đi rong chơi khắp nơi, tìm lại hương vị Đà Lạt mến yêu mà chúng tôi bắt buộc phải rời bỏ. Thằng con lại có ý nghĩ khác. Nó muốn khám phá thêm Bắc Mỹ, muốn trầm mình trong giá lạnh mùa đông, muốn nhìn thấy tuyết chôn vùi trắng xóa một thành phố có tầm vóc của nước Mỹ, muốn đo lường cảm xúc của da thịt khi thời tiết xuống dưới âm độ, muốn để ba mẹ chìm ngập trong nỗi lo, trong nhớ thương bầm dập.

Rồi vài năm sau, nó lại trở về. Nó trở về dắt theo con vợ mới, mua xe mới và mướn một apartment xây dựng hạnh phúc riêng. Ở chưa nóng đít, nó lại ngứa chân dẫn vợ đi Florida lập nghiệp. Florida không chuộng người lạ. Nó đành trở về Bắc Mỹ, dừng chân lần nữa nơi ngoại ô Chicago lạnh lùng. Vợ chồng tôi phải bỏ nơi ở cũ, sang chỗ mới của nó để giữ đồ đạc và chiếc xe mới mua. Thế là chúng tôi phải trả thêm tiền nhà, đóng thêm tiền bảo hiểm.

Bây giờ, tôi đã hưu. Thằng con lại muốn kéo vợ về Cali đoàn tụ. Chúng dắt thêm đứa cháu nội kháu khỉnh. Tuổi già quây quần với cháu cũng là một niềm vui. Đó là lý do tại sao chúng tôi mua mobile home ở vùng Escondido. Khu mobile home vùng núi giống như ngôi chùa không Phật. Chẳng có bóng dáng một người Việt. Chỉ có người Mễ và người Mỹ già sống đìu hiu thầm lặng ở những dãy phía trong. Họ trầm mặc như tu sĩ.

Có điều họ không gõ mõ tụng kinh, không hình tượng, nhang khói. Những người trẻ thì hừng sáng đã lên xe đi làm, tới chạng vạng mới lọ mọ về. Các mảnh đường xẻ dọc xẻ ngang luôn vắng tanh, suốt ngày chỉ có tiếng chim ríu rít trên cây, chỉ có tiếng lá reo vang trước cơn gió lạ, hoặc tiếng hoa nở thầm thì dọc theo lối đi dẫn vào cửa nhà. Buổi trưa, tôi soi bóng tôi trên đường. Cái bóng cô đơn đến tội nghiệp. Tôi dắt bóng đi suốt đoạn đồi dài, rồi suốt đoạn đồi ngang. Cái bóng vẫn là cái bóng. Và tôi cũng chỉ là tôi. Mặc dù bên trong những dãy nhà, chắc chắn, người ta vẫn sinh hoạt gia đình một cách thân thiết.

Cuộc đoàn tụ chan chứa tình thương. Những bữa ăn đầy hải sản. Tiếng cười giòn tan của đứa cháu nội khiến niềm vui tràn lan căn nhà. Kết cuộc, bà nội dành rửa chén. Ông nội tự động bê các thức ăn thừa đổ xuống thùng rác. Hai vợ chồng thằng con ngồi nói chuyện thời sự. Trong khi bên ngoài khu mobile home vẫn vắng tanh bóng người.

Có lẽ đất lành chim đậu. Hay nơi đây là ổ tình của những đôi tình nhân chán cảnh sông hồ, nên chỉ vài năm sau, vợ thằng con cho chào đời một thằng cháu nội kháu khỉnh nữa. Căn nhà thêm tiếng cười. Bà nội lại có thêm việc làm. Ông nội bớt làm thơ để có thì giờ đổ rác và chơi với các cháu. Hai vợ chồng thằng con thoải mái đi làm, ban đêm về chơi karaoke, cả hai đều ít bận tâm đến công việc nhà. Cho cháu ăn, cháu bú, cháu tắm, cháu ỉa… đều do đôi tay nhẫn nhục của bà nội đảm trách. Khi thằng cháu nội út biết bò, rồi biết đi chập chững, mẹ nó bỗng tha về một con chó con, dí vào tay bà nội.

– Mấy đứa nhỏ thích chó. Tụi nó cứ đòi mẹ tìm một con để làm bạn cho đỡ buồn.

Vợ thằng con khúc khích.

– Giờ con tìm được rồi. Giao cho mẹ đó!

Thế là bà nội đảm nhiệm thêm chức nuôi chó. Có nghĩa là: mỗi ngày cho chó ăn, hốt cứt, và tắm rửa. Công việc càng lúc càng nhiều. Việc này đẻ ra việc kia, khiến bà nội làm túi bụi và bực dọc kiếm chuyện gây gổ với ông nội.

Những bữa ăn cũng cạn dần thân mật. Cuối cùng mạnh ai nấy ăn, nhưng dọn dẹp sạch sẽ vẫn là bà nội. Tôi biết phận biết thân, nên tới giờ ăn bới một tộ cơm lưng, gắp vài lát thịt, rồi lẳng lặng vô phòng, khép kín cửa lại. Hai vợ chồng thằng con thích ăn ngon nên thường order thức ăn nhà hàng. Cuối tuần, lúc nào cũng chở con đi ăn hoặc về Santa Ana họp mặt vui chơi với anh chị em bên vợ. Những ngày lễ lớn, người Việt đi làm xa thường về đoàn tụ với cha mẹ. Họ có những bữa ăn rất vui vẻ bên nhau. Không khí gia đình, lúc đó, rất thân mật và đầy yêu thương. Những ngày này, thằng con tôi lại chở vợ con đi tìm nguồn vui khác, bỏ ba mẹ nó ngồi quạnh hiu trong căn nhà dẫy đầy hơi hướm hai đứa cháu nội. Bà nội đi ra đi vô, nhớ cháu, buồn quá.

– Ông chở tui tới nhà bạn tui chơi cho đỡ buồn. Con Vê Ly cứ mời tui hoài, mãi bận giữ cháu nội nên chưa bao giờ tới cho biết nhà nó.

– Bà ơi! Hôm nay là ngày đoàn tụ gia đình của người ta. Bà tới đó, ai tiếp bà? Chẳng lẽ người ta bỏ con cháu để đón mừng bà sao? Bà đừng có mơ…

Thế là chúng tôi lại cự lộn nhau. Rồi mạnh ai nấy về phòng, đóng sầm cửa lại, nghe cô đơn gặm nhấm từng mảng tâm hồn.

Ngày phóng thích con chó là ngày não nề nhất. Chẳng biết bà nội trong lòng có nhẹ nhõm không, vì vừa trút bỏ được gánh nặng. Nhưng riêng tôi thấy tội nghiệp con chó vô cùng. Vợ thằng con kéo nó lên xe, nhưng nó cứ trì lại, lom lom ngó tôi như không muốn chia tay. Vợ thằng con thích nuôi chó, nhưng không bao giờ săn sóc chó. Mỗi năm, con chó chỉ được đưa đến tiệm để cắt lông, gội rửa một lần.

Lúc đó con chó mới được sạch sẽ để vợ thằng con dắt đi biểu diễn vài vòng trên đường phố. Rồi sau đấy, vợ thằng con quên lãng luôn cho đến sang năm. Bà nội lo tất bật với công việc hàng ngày, lo các bữa ăn cho các cháu, lo vườn tược và nhất là luôn đau nhức, mệt mỏi ở tuổi xế chiều thì còn sức lực đâu lo đến con chó. Tôi thương chó, nhưng cũng chỉ biết ngậm ngùi nhìn nó sống cầm tù trong một góc sân, và thầm nghĩ đến phận mình, cũng từng bị cầm tù trong các trại giam hà khắc của cộng sản.

Ước vọng về hưu nhàn hạ của tôi đã tan như mây khói. Chuyện ngâm thơ thưởng nguyệt không thể diễn ra trong sinh khí gia đình như thế này. Hai đứa cháu nội la ó, khóc lóc, lúc đòi ăn, lúc đòi đồ chơi mỗi ngày đã làm điên đầu ông bà nội. Riết rồi, tôi phải tự lo cho tôi, tự độc diễn để có cơ hội sống còn. Bệnh già ập đến chỉ là bệnh đương nhiên. Bệnh mãn tính đi trước mới là điều đáng lo ngại. Hàng ngày phải ực trọn vẹn gần 10 viên thuốc.

Mỗi viên thuốc trị mỗi thứ bệnh. Mỗi thứ bệnh là mỗi nỗi đau riêng, chỉ có người đồng bệnh mới hiểu. Những bữa ăn bắt đầu nhạt dần, nhạt đến nỗi không có gì có thể nhạt hơn. Lúc cảm cúm, khi bật dậy, chỉ thấy nồi cháo trắng bạc phếch. Lúc bụng đói, mò vào bếp, khó tránh khỏi cặp mắt dò xét của bà nội. Bà sợ mất phần của cháu. Bà sợ con trai bà về không đủ món ăn. Rốt cuộc, muốn ăn phải lén lút. Múc gấp vài vá cơm. Gắp đại ít miếng thịt. Rồi lủi nhẹ về phòng, đóng nhanh cửa lại.

Tôi biết bà nội không thích thơ. Nhất là thơ giao lưu với đàn bà. Nhưng thơ không người đọc là thơ chết, thơ đóng băng, thơ để thẫn thờ với chính mình. Tôi đã làm thơ từ thời học trò. Làm thơ trước khi tôi gặp vợ. Trước khi tôi ngồi ăn với nàng những bữa cơm thịnh soạn có canh chua cá bông lau, có cá kho tộ trong những quán ăn sang trọng ở Mỹ Tho. Tôi chợt hiểu câu nói của ông bà già xưa. Một câu nói giản dị, nhưng rất thực tế. Muốn ăn phải lăn vô bếp.

Thế là muốn ăn, tôi phải làm bếp. Phải biết làm cá, làm thịt. Phải biết chiên xào, nêm, nếm. Phải biết dung hòa giữa đường, muối, nước mắm, dầu hào, bột nêm… Tôi nhớ ngày xưa tôi cũng đã từng chui vào bếp. Lúc còn đi học, Má đi Sài Gòn thăm Ba, giao cho tôi coi sóc hai thằng em. Ngày đó, tôi chỉ việc nấu nước cho thật sôi, chan vào mì ăn liền thay canh cho em tôi húp. Muốn ăn mặn thì bắc chảo lên, cho vào vài muỗng nước mắm, vặn lửa nhỏ, dùng đũa quậy cho đến khi sền sệt. Thế là có món kho quẹt. Lớn lên, khi bị cộng sản cầm tù, tôi cũng đã từng nấu bếp, sau khi ngán những lát sắn chua lè dội lên tận cổ họng. Nhưng cũng chỉ là rau dại, nấm rừng, cộng với vài loại củ hằm-bà-lằng-xắn-cấu, trộn chung lại thành một loại thập cẩm đặc biệt của người tù.

Ở Mỹ, không thể chơi kiểu giang hồ như vậy được. Tôi phải vào YouTube học các món ngon. Muốn như vậy, việc đầu tiên là chạy ù ra chợ mua một airfryer để tập dượt. Từ đó về sau, tôi tự đi chợ, tự nấu ăn và tự dọn dẹp cho riêng mình. YouTube đúng là nơi để các ông các bà thi thố nấu ăn. Tôi học được của một chị nhà hàng ở Cần Thơ món cháo cá hấp dẫn. Học của một anh nể vợ món xíu mại thơm lừng. Tôi làm thành công keo dưa leo ngâm nước tương và củ cải ngâm nước mắm. Cả hai món này, khi làm xong, cho vào tủ lạnh dành ăn dài dài. Càng để lâu càng thấm, càng thơm, càng ngon. Ai ai trong gia đình cũng đều thích thú.

Nói đến xíu mại, tôi chợt nhớ Má tôi. Ròng rã gần mười năm sống gần trại lính, Má tôi mở quán cà phê, buổi sáng có bán bánh mì xíu mại cho lính ăn lót dạ. Cái quán nhỏ xíu, chỉ có cái bàn duy nhất để mấy ông lính vây xung quanh. Không đủ chỗ ngồi, có ông phải đứng ăn, hoặc ngồi chồm hổm trước quán, trông rất tội nghiệp. Xíu mại Má tôi làm rất ngon, nhưng rất cực. Tối trước đó, Má tôi phải thức khuya băm thịt cho thật nhuyễn. Tiếng lụp-cụp-lạc-cạc đã đưa tôi vào giấc ngủ đêm đêm một cách nhẹ nhàng, để tờ mờ sáng hôm sau dậy thật sớm, ba chân bốn cẳng chạy đến lò bánh mì, vác đầy một bao nóng giòn về quán. Lúc đó, mùi cà phê và mùi xíu mại đã bốc lên thơm phức cả căn nhà. Má tôi chịu khó như vậy. Đều đặn như vậy. Mới nuôi nổi anh em tôi học hết trung học.

Má tôi lo cho con đến quên cả Má. Má tận tụy với công việc để có miếng ăn manh áo cho con ấm no, an bình trước phong ba cuộc sống. Bởi vậy, tôi không trách vợ tôi. Vợ tôi cũng quên cả nàng, quên cả tôi để lo cho thằng con, cho các cháu nội. Tôi chỉ trách vợ thằng con – một người đàn bà không có trách nhiệm. Sống vô tư như chưa hề có con, có chồng. Cô ta giống một người khách lạ đến trọ trong khách sạn. Chỉ việc tiêu pha, vui sướng. Xong rồi ung dung để lại những bề bộn, rác rến, và những thứ thừa mứa lộn xộn cho bồi phòng. Vợ tôi chính là người bồi phòng bất hạnh đó.

Những bữa ăn trong đời tôi khổ sở như vậy. Dù ở Việt Nam, ở Mỹ, ở chiến trường đẫm máu hay ở chốn ngục tù khỉ ho cò gáy, hoặc ở vùng lao động chó ăn đá gà ăn muối. Kẻ giang hồ như tôi, chắc chắn chẳng bao giờ nghĩ đến điều vật chất đó để buồn rầu. Tôi chỉ nghĩ đến cái tâm, cái phong cách, cái đạo đức của con người. Chẳng lẽ văn minh giúp cho con người bội bạc với nguồn gốc thiêng liêng của mình hay sao? Rồi đây thế giới sẽ đi về đâu, khi chủ nghĩa cá nhân bùng phát, khi thân xác được ca tụng, khi giá trị tinh thần bị hủy hoại hoàn toàn.

Tôi không bao giờ quên những bữa ăn thân tình của Má tôi, dù nó đã đi vào quá khứ, dù nó xa vời, cách đây mấy chục năm về trước. Những bữa ăn đó chỉ là những bữa ăn dân dã, thiếu thốn. Nhưng là những bữa ăn đầy tiếng cười, tràn ngập sức sống yêu thương. Lúc đó, Ba tôi đi làm nuôi cả gia đình. Má ở nhà, nội trợ, chăm sóc đàn con. Thường, Ba tôi về muộn. Vì chỗ làm rất xa, ông phải đạp xe từ ngoại ô vào đến trung tâm thị xã, mỗi ngày. Và buổi trưa, trời nắng gay gắt, Ba phải đạp xe trở về ngoại ô để ăn trưa. Biết thế, Má tôi vẫn đều đặn dành phần ăn cho Ba, rồi lấy lồng bàn đậy kín. Sau đó, Má mới dọn cơm lên chiếc bàn dài, gọi chúng tôi tụ lại ăn uống với nhau. Lúc nào Má cũng nhai nhỏ nhẻ, nhường thức ăn cho các con. Má rất vui khi chúng tôi nô đùa, yêu thương lẫn nhau. Và phần ăn của mỗi đứa, bao giờ cũng ngang nhau, không ai bị Má bỏ quên.

Lúc còn học trung học đệ nhất cấp, mỗi lần nghỉ hè, Má tôi thường đưa tôi lên nhà Cô để học nghề sửa xe hơi. Cô Dượng tôi là một thương gia có tiếng ở Bạc Liêu. Cô giàu nhờ có tiệm sửa xe gần bến xe đò đi lục tỉnh. Bữa cơm nhà cô tôi rất ngon và cũng rất đông. Nhưng cũng có phong thái kẻ trên người dưới một cách đàng hoàng. Hàng chục công nhân ngồi ăn chung với Cô Dượng tôi quanh một chiếc bàn tròn. Người nào vai vế nhỏ nhất thì ngồi gần nồi cơm để sẵn sàng phục vụ cho các người khác. Tuy vậy, người vai vế nhỏ này được đền bù lại bằng cách có quyền ngồi ăn đến sau cùng, cho tới khi nào no bụng thì thôi. Tất cả các món đều có riêng một cái muỗng bên cạnh. Mọi người đều dùng muỗng đó để múc thức ăn, không ai được quyền thọc đũa mình vào thức ăn để gắp. Cách ăn này rất lịch sự và được truyền lại mãi cho đến đời cháu con.

Bây giờ, tôi không có cơ hội duy trì những bữa ăn thân mật, lịch sự và trật tự như thế. Nhưng tôi vẫn nhớ mãi cung cách của Má tôi, của Ba tôi, của Cô Dượng tôi trong những bữa ăn như vậy. Và mỗi lần nhớ lại, tôi thật sự ngậm ngùi, như đã đánh mất một cái gì đó quý báu trong đời sống thường nhật của mình.

Phạm Hồng Ân

Blog Archive