Showing posts with label Tình Hoài Hương. Show all posts
Showing posts with label Tình Hoài Hương. Show all posts

Wednesday, February 28, 2018

 Cuối tháng Hai bi thương huyết lệ

Tình Hoài Hương 

Mấy con kiến dương, con cánh cam từ đâu bay vù vào tầng hầm đã bị bể những ô kính, chúng liệng đi liệng lại vài vòng, rồi đâm sầm vào vách tường đá, nghe cái "cộp", lớp vỏ cứng bóng láng ánh lên màu xanh biếc, lẫn màu cánh cam lóng lánh xoè ra, che phủ hai cánh bên trong mỏng te rất duyên dáng hài hòa có nhiều sợi gân nổi trên lớp vỏ mềm mại khép dần. Thế rồi chúng loay hoay cố tìm chỗ thoát ra ngoài, nên bò đi bò lại trên vuông cửa bể.

Tôi chợt nhớ ngày xưa ấy, tôi ưa ngồi dựa lưng vào cây thông chạc hai, chạc ba, tôi đong đưa đôi chân trên cây thông lùn tách chẽ thân ra làm đôi, để rình bắt cho bằng được con cánh cam, và bụm nó ở trong hai bàn tay, khum khum mà nương nhẹ, nâng niu. Lúc ấy tôi ngó lên bầu trời xanh lồng lộng gió, nhìn chiếc máy bay lượn trên cao, tôi hy vọng hão huyền, vui vẻ hát nho nhỏ những bài tình ca, khi hai bàn tay tôi thoăng thoắt đan áo thật đều, sợi len lướt nhanh và thành thạo trên cây kim mà tôi chẳng thèm nhìn.


Ngày nay, tại tụ điểm lánh nạn có nhiều phi cơ không nhìn thấy rõ vụt bay trên bầu trời, qua khung kính bể dưới vòm mái cao. Thì, câu chuyện hứng khởi về các kỳ công, thành tích của chiến binh giàu kinh nghiệm chiến trường, thường là đề tài bàn thảo đầy hấp dẫn, hứng thú, nuôi dưỡng trong lòng người dân đen niềm sung sướng, hứng khởi và kiêu hãnh khác thường. Chúng tôi đang ăn không ngồi rỗi ở dưới tầng hầm của nhà thờ Domain de Marie nầy. Những chiếc phi cơ thi nhau gào rú trên bầu trời, khẩu minigun sáu nòng có bốn ngàn viên đạn nhấp nháy chỉ vài phút đã khạc lửa ra khỏi nòng đang vút bay đến mục tiêu, khiến lòng tôi càng nôn nao, bồn chồn, cuống quít, lo lắng, sợ hãi xiết bao. Quá khứ rồi sẽ giống như cánh cửa sắt đóng chặt lại sau lưng tôi. Rồi cũng giống như thau nước hứng mưa dột dưới góc nhà vừa bị sập, tôi đã cong cong lưng bưng thau nước đầy sóng sánh bóng mình trong thau, nhanh nhẹn bước ra hiên nhà, tôi hắt mạnh nước vào màn mưa đục ngầu, cho nước hoà tan trong mưa, mất hút, như hắt cả hiện tại và tương lai lui về với quá khứ muộn phiền.


Đời có lắm chuyện tôi không hiểu, không thể hiểu nỗi. Từ lúc có “bọn giặc đỏ” về, mỗi ngày chúng tôi phải bồng bế con đội nắng mưa mà đi, vì căn hầm của nhà thờ Domain sẽ đóng khoá cửa. Mấy người trong xóm và gia đình tôi cùng nhau đi ngang qua Tiểu-đoàn lính trấn thủ Thị Xã Đà Lạt, tôi ngẩng nhìn anh hiệu thính viên giữ máy truyền tin AN/PRC 25 đang liên lạc giữa Tiểu-đoàn và Đại-đội. Các chiến sĩ có người cài lựu đạn M 26, mang súng colt 45, có người mặc áo poncho ướt đang mở nắp bi đông uống nước, anh vác khẩu M 16. Bên chiến xa M 48 trọng pháo cơ động, mấy quân nhân nằm lăn lóc trên các nẽo đường, dưới ngọn đồi chiếm đóng, trên cành cây còn ngái ngủ. Người choàng áo ca pốt ngồi sưởi lửa trong cái chốt dựng tạm vài hôm nay, mấy anh hong đôi bàn tay sạm nắng trên bếp than hồng, từ những trái thông khô xẹt tia lửa ly ti nổ tí tách. Cành lá thông tươi chất thêm vào lửa, tỏa khói mù mịt và phả ra mùi nhựa thông thơm hăng hắc, nhưng thật dễ chịu. Họ hong lửa mong xua tan bớt gió rét vì cơn mưa trái mùa. Giá lạnh ban mai làm tê cóng người lính phong sương dãi dầu mưa nắng.


Tôi rất quý mến và kính trọng những người lính không quản ngại gian khổ, vì bản tính chiến sĩ đa số thích phóng khoáng, tự do, hăng hái, nhiệt thành, nhất là trọng danh dự lo bổn phận có trách nhiệm. Thời gian lạnh lùng nghiệt ngã trôi qua, họ không tính bằng gian lao cay cực, khó nhọc, hạnh phúc hay hoài bão, ước vọng. Khi mùa hạ tới, thu đi, đông về, xuân đến... đời chiến sĩ phong sương, dãi dầu nắng gió khuya chiều, không gian bàng quan chả nương nhẹ đôi tay: dù phũ phàng, cay nghiệt, và buốt giá. Niềm nhớ thương da diết mỗi lúc một hao gầy trong đớn đau thầm lặng. Khóe mắt lính choáng đọng huyết lệ bi ai cảnh chiến tranh quyết liệt. Chiến sĩ ấy chấp nhận chết ngoài sa trường vì quê hương, vì dân tộc, thì có sá gì cái lạnh rét run run ngoài da và gió buốt vã vô mặt. Nhưng chiến sĩ ấy đã chết lịm trong lòng, vì cảnh huyết nhục tương tàn thật vô nghĩa trước tiên do bọn khát máu “đều têu” gây ra. Họ phải dấn thân, vì rằng:


Bất dâng cao sơn, bất tri thiên chi cao.

Bất lâm thâm cốc, bất tri điạ chi hậu

(không lên núi cao, không biết trời cao đến mức nào.
Không xuống hang sâu thì không biết đất dày ra sao) (tục ngữ)

Lần đầu tiên vấp phải sức kháng cự không tương xứng với đối phương, các chiến binh không dám ra tay càn quét cộng quân. Bởi vì, nơi vùng sẽ giao tranh tại khu Số 6 và khu Số 4 nầy, còn kẹt lại khá nhiều người dân vô tội trong tầm tay kềm tỏa. Khiến anh lính chiến có chiếc nón sắt rộng, thỉnh thoảng úp xuống tận sóng mũi, che cả cằm đến nồng ngộp nghẹt thở, hơi mỏi mệt, ngỡ ngàng, và bồn chồn xôn xao bâng khuâng làm sao ấy. Lính nằm ngửa trên đám cỏ bồng chờ đợi quyết định của chính phủ, anh bực tức, vác súng đi lui đi tới, bồn chồn đứng ngồi không yên. Người lính chiến biết nghe đạn xoáy rít bên mang tai ù ù, mà không có mũ sắt đội đầu thì e rằng đời đi đon. Anh biết bổn phận làm trai phải trả nợ núi sông. Lính gồm đủ mọi thành phần phong tục khác nhau, đã sống trên miền đất quê hương khác nhau, với hoàn cảnh gia phong và ước muốn càng khác xa nhau hơn.


Khung trời Đà Lạt se lạnh giữa lưng núi gom từng phiến mây bạc ùn ùn trôi dưới nắng vàng tươi rói. Mây phơi phới hào phóng bay bay khắp đỉnh đồi thông, quyện lẫn mùi hương hoa ngâu, hoa lý, hoa lài, hoa bưởi tỏa ra thơm thơm. Gió lồng lộng vỗ vào hàng hiên bên giại nứa sau hè nhà ba má tôi, phối hợp cùng bầy chim én lý lắc ríu rít vút vút bay lên bay xuống. Nắng và gió vô tình lùa tới, thi nhau đẩy khói lửa bốc cao vào cuộc chiến. Cho đến lúc chết vẫn tranh chấp kịch liệt những con đường nhấp nhô trồng nhiều hàng hoa anh đào, hoa xá lị, hoa mimosa óng ả lả lơi uốn khúc, lượn sóng vòng vòng quanh co ven đồi núi Đà Lạt. Khiến ta thèm những đồng bằng ruộng dâu, vườn bông cải su hào, đất đai phì nhiêu, cả những luống hoa muôn màu tươi đẹp, bao đồi thông ngút ngàn xanh um bóng mát.


Thế nên ta phải giành lại những gì đúng thuộc về riêng ta. Lính VNCH lũ lượt kéo nhau lên đây quyết giữ gìn thành phố Đà Lạt nho nhỏ; nhưng nổi tiếng xinh lịch nên thơ, nơi có những ông già bà lão chất phát thật thà, hiền hậu chăm chỉ làm việc. Nơi ươm nhiều mộng đèn sách chuyên cần và hải hồ phong sương của những chàng trai đơn sơ ôn nhu chớm lớn. Những nữ sinh nề nếp ngoan hiền “một dạ hai thưa”... thùy mị và đặc biệt đa số các cô hồn nhiên với… nụ cười duyên nồng nàn chúm chím, với… đôi mắt hồ thu long lanh tia nhìn trìu mến, với… hai “má hoa đào” có lúm đồng tiền rất xinh. Những em bé mủm mỉm dễ thương, tay chân mềm mại, các em có đôi mắt đen lay láy, hàng mi cong dài lưa thưa như đôi mắt nai, hai má em phúng phính trắng hồng. Nhìn thấy các em bé, không mấy ai mà chẳng có cảm tình với người Đà Lạt.


***

Ngày cuối tháng Hai, cả nhà tôi dù lo lắng sợ hãi trăm bề, nhưng phải lò mò đến chân khu nghĩa trang số 4, vì bị bọn Việt+ lẽn về thành phố quậy phá, nên chúng tôi không thể đi viếng nghiã trang. (Không cứ gì riêng chúng tôi lo sợ, mà phải kể như toàn miền Nam Việt Nam ai nấy đều bàng hoàng thảng thốt lo lắng, khi người dân đang vui vẻ sum họp gia đình để đón Tết). Lâm lúi húi đốt hương trầm trên những nấm mồ tiên tổ; nào ngờ có nơi đã phơi ra thi hài lõa lồ lắc lẽo, rửa nát, tanh hôi, sình bủng, không trọn vẹn hình dáng ai rải rác bên vệ đường ở thành phố cao nguyên Lâm Viên chưa có người kịp nhặt đi chôn. Bỗng nhiên tiếng súng bên kia rau ráu ầm vang nhức nhối nổ thật rát tai, quá kinh thiên động địa, tạo thành một chiến trường bi phẫn, bạt ngàn khói lửa tuông về, chết chóc, rùng rợn, thê thảm sẽ ập đến nữa mà thôi! Chiến tranh ngang nhiên ngốn đi biết bao thanh niên trai tráng, và ông già bà lão trẻ thơ vô tội; kể cả động vật có hai chân, bốn chân, hoặc không có chân nào như giun, rắn... và bất động vật. Bất kể “chủng loại” nào, thế mà “bọn chúng nó” cũng chẳng từ nan. Chiến sự không tốt đẹp gì.


Phía Việt Nam Cộng Hòa chưa thể ra tay! Nếu có đề phòng trước, không bị bất ngờ, và có quyền quyết định như người xưa “tiền trảm hậu tấu”, vị tất bên phe ở miền Nam chẳng nhường cho “kẻ dị tộc” tràn vô Nam xâm lăng một tất đất. Lẽ nào chính phủ Việt Nam Cộng Hoà để “người lạ phương xa” tự do ra vào tung hoành, tranh phần lãnh thổ của riêng ta, mặc cho nó thao túng!? Vì chính bọn họ đã ngang nhiên vi phạm quy ước hiệp định “The 1954 Geneva Cease-fire Agreements” đã ấn định: chia đôi đất nước Việt Nam ra làm hai phần: miền Bắc – miền Nam tách bạch (riêng rẽ chủ quyền lãnh thổ). Lấy cầu Hiền Lương, vĩ tuyến 17, con sông Gianh làm mốc chuẩn mực. Dù phải chia lìa quê hương, xa nơi chôn nhau cắt rốn - Ngăn cách đôi bờ xót xa, tủi nhục, một sự tủi hờn điếng lặng đớn đau muôn đời khắc in vết chàm, không bao giờ kỳ cọ gột rửa sạch! Chính phủ Miền Nam Việt Nam Cộng Hoà vẫn tôn trọng quy ước, tuyệt nhiên không xâm phạm lãnh thổ của ai. Cũng không so đo chịu chút “lép vế” do đã “nhường & nhịn”… là rõ lòng nhân đạo ra sao! Ấy vậy mà, những tên “bố tổ cha bác kia” đã làm động mồ động mả, động những ngôi cổ mộ tôn kính từ lăng Nguyễn Hữu Hào xa tít trên triền núi Cam Ly Thượng, chạy dài xuống nghĩa trang… động cả thánh thần muốn yên nghỉ giấc nghìn thu ngoài nghiã trang khu số 4. Ngay trên bàn thờ mọi gia đình cũng bị lật tung, ông bà tổ tiên bị dựng đứng dậy! Nhất là hương hoa đèn nến nghi ngút toả ra tại các chùa chiền linh thiêng, am tự, nhà thờ, nơi đình đám hội hè, mọi nhà cư dân yên ấm vui vẻ ba ngày Tết Nguyên Đán cổ truyền, đâu đâu cũng bị bốc cháy, rụi tàn.


Thảng thốt. Bàng hoàng tột độ. Thật phi đạo đức! Tôi thương những người chân thật, mềm yếu rụt rè, phần nữa là họ cùng tôi có những nét tương giao đồng cảnh ngộ. Mặc dù sự phòng tránh bom đạn ở trong nhà tôi chẳng chắc chắn chu đáo gì, Lâm đã kê ở bốn chân giường lên những cục táp lô, rồi chất bao đất cát ở bốn phiá chung quanh giường đôi, làm thành căn hầm tạm trú. Nền xi măng lạnh lẽo được quét sạch và lau đi lau lại bằng khăn lông vắt khô nước. Tôi trải tấm nệm xuống nền nhà để ngả lưng. Mới bốn giờ chiều mà cả nhà lo chui vô “hầm trú” nầy. Buồn không nói nên lời! Ở thời buổi chiến tranh không biết nghỉ mệt, làm sao bây giờ? Không sáng tối nào mà tôi khỏi thấy đầu đạn mới, mìn cày xới trong vườn hoa trước sân nhà, trong phòng ngủ, phòng ăn. Có nhiều hôm đạn ghim vào nệm, vào gối. Dễ sợ chưa! Đầu đạn ghim vào vách ván thì không kể xiết. Tất cả cửa kính bể nát, tha hồ cho gió lạnh lộng hành rít vù vù, lật tung hết mọi trật tự trong gia đình. Mấy cái phuy chứa đầy nước uống đạn xuyên qua, nước chảy cạn xuống đáy thùng. Sáu bóng đèn điện trong nhà cứ vài hôm bị đạn "xơi tái" đi. Riết rồi trong nhà tôi, ngoài ngỏ, nơi đường cái tối thui, không còn một bóng đèn nào, Đà Lạt bấy giờ gần giống như "thành phố chết" ở nghĩa trang buồn khu số 4. Không ai có thì giờ nghĩ đến chuyện dọn dẹp nhà cửa khang trang tươm tất hơn.


Thế rồi chúng tôi không thể nằm lì ở nhà, mà phải bồng bế nhau chạy lên khu nhà Dòng Domain lánh nạn, vì đạn nổ réo rát tai, tức lồng ngực kinh khủng, cư dân trong thành phố tôi ai ai cũng đi đi về về lánh nạn (người dân ở vùng nào, thì tạm lánh ở những cao ốc an toàn nhất của vùng đó, (ví dụ khu ở nhà Chung, nhà Bò… họ sẽ chạy vô núp trong nhà thờ Chánh Toà). Dưới khu Điạ Dư thì dân vô ngủ nhờ ở trường Grand Lyce’), vân vân... Bảy gia đình ở khu Mai Hắc Đế cuả chúng tôi cư ngụ gần dòng tu Domain de Marie (dòng tu có biệt hiệu là: “Dòng Bà Xơ Xanh”, còn có tên là “dòng Nữ Tu Mai Anh”, vì trên khu đồi nầy trồng toàn hoa Mai Anh Đào”). Sau vài ngày sửng sốt bàng hoàng dáo dác lấp ló nhìn nhau; thì mấy ông mồ côi (con nuôi của các Bà Mẹ Dòng) không cho “cánh đàn ông ở ngoài Đời” (đây là “từ” mà các con nuôi cuả bà mẹ dòng Domain muốn ám chỉ về: -Những người ngoài đời ấy không phải là con nuôi, con mồ côi “thuộc quyền cai trị” của các bà mẹ dòng tu-). Mấy “ông mồ côi” không cho mấy “ông ở ngoài đời”, vào ngủ nhờ dưới tầng hầm.

 
Mấy “tướng mồ côi” nầy được các bà mẹ dòng Domain đi nhặt nhạnh ở đâu đó trong thành phố, hoặc vài nơi: Tỉnh, Thành nào… đã bị cha mẹ họ dã tâm bỏ rơi con. Rồi các bà dòng bác ái ấy cưu mang, ra tay làm phúc, gây đức, lụm khụm tay bồng tay dắt đùm túm tha nhặt mang trẻ không cha mẹ, tứ cố vô thân về nhà dòng, mà nuôi dạy cho nên người hữu dụng. Khi các bà có “cục cưng” thì ôi thôi họ lo nuôi nấng, ấp ủ cho “đàn con côi cút” có cơm ăn áo ấm mặc, học hành tử tế. Dĩ nhiên “các cưng” được các bà cho ăn cơm ngon và không khỏi với… ăn đòn (khi các con ưa quậy tưng trời)! Đàn con nuôi dần dà lớn lên thành nhân, thành tài, các mẹ dòng lại đứng ra dựng vợ gã chồng “hợp tác” cho con mồ côi có tổ ấm riêng. Các bà dòng làm một dãy nhà gỗ, hoặc nhà xây ở tít dưới thung lũng (khu đất rộng trong khuôn viên dòng). Các bà mong họ sống ấm no thoải mái, sanh con đẻ cháu ở đó cho tới già, tới chết. Khi họ lìa đời, mẹ dòng lại bưng họ đi chôn trong một góc tư điền tư thổ xa xa dòng Domain nầy. Đúng là bác ái Mai Anh!


Trở lại chuyện mấy ông: Mặc dù “mấy ông tướng mồ côi” dư biết bảy gia trưởng “ở ngoài đời” là những cư dân sống đàng hoàng, lương thiện, có công ăn việc làm cố định, có nhà cửa, đồng thời họ là hàng xóm láng giềng thân cận với khu đất dòng Domain. Ngày ngày mấy “tướng gia mồ côi” thường lui tới, ra vào nhà mấy ông “láng giềng bạn dân” ngoài kia; đôi bên vui vẻ la cà tưng bừng ăn nhậu lai rai. Chưa say, không đã, không xỉn, không quên nghêu ngao ca hát, đưa lui đưa tới: “anh hân hoan đưa em về, rồi thì em lại dùng dằng chẳng chịu chia tay, lôi kéo nhau… em đưa anh ra”. Họ “khắng khít” với đàn anh ngoài đời thắm thiết, chả chịu bò lết trở về nhà.


Thế mà hôm nay lúc bên ngoài súng đạn bay vèo vèo, nhưng “bạn mồ côi ấy” phớt lờ khoá chặt cửa nẽo, bình thản và tàn nhẫn đứng ở trong cửa hầm, vô tư lự nhìn ra nhóm đàn ông ở ngoài cửa. Dù mấy tay đàn ông đứng ở ngoài cửa hết hơi năn nỉ ba ông mồ côi thân quen gác cửa muốn gãy lưỡi, họ vẫn không cho mấy ông ở ngoài trời vào. Lâm giận run đã chưởi họ một trận. Anh nổi cộc dùng tay không đấm rõ mạnh vào một ô cửa kính, khiến nó bể nát, mảnh kính ghim vô bàn tay Lâm, máu tươi chảy ròng ròng.


Tôi xanh mặt, ớn lạnh và run lẩy bẩy không thốt nên lời. Lâm xỉ tay vào bên trong cửa kính vừa bể, hét to:

- Không cho chúng tôi vào. Hãy mở cửa cho vợ con tôi ra ngay.

Bác Hải chống hai tay lên sườn:
- Ông không sợ lũ hèn nhát chúng mày. Nhớ nhá!

Báu rung mạnh cánh cửa bể:

- Bà dòng cho mọi người vào đó ở tạm. Chứ nào phải nơi nầy là của riêng bố tổ ...tổ cha chúng mầy, mà không cho ông vào. Hử?

- Chúng mầy là loài liu điu, nở ra dòng liu điu, mà cứ tưởng mình là chó sói, nên thị oai ở rừng ha. Có ngon, thì chúng mầy mở cửa ra đây. Sẽ biết tay ta.

May mà mấy cha nội mồ côi đứng lấp ló ở bên trong hầm. Chứ nếu họ đứng gần cánh cửa bể, thể nào cũng bị Lâm thộp ngực áo lôi sát tới ngoài tầng hầm, thì... thể nào họ cũng bị “các ông ngoài đời” thẳng tay "nện, dần, đục, tộn" cho một trận nên thân. Kẹt lại bên trong hầm không ra được, mẹ con tôi thấy cảnh tượng Lâm bị máu chảy ruột mềm, thì tôi đã chưởi vu vơ nhoi trời đất. Tôi bắt họ mở cửa lớn cho mấy gia đình chúng tôi (ở chung dưới xóm) đi ra. Nhưng tên giữ chìa khóa cửa lớn đã lủi trốn đi đâu, lúc nào không rõ. Đêm đó, bác Hải, Báu và Lâm nằm tơ hơ trống huếch trống hoác ngoài trời mà co quắp dưới chân bàn thờ bên hang đá Đức Mẹ, không mền chiếu. Vì có thiết quân luật sau 7giờ tối là không ai được phép đi loạng quạng ra ngoài đường. Trời Đà Lạt lạnh vào khoảng 10/o C. Họ cứng đơ như bị ướp đá. Lâm giơ tay vuốt bầy muỗi rơi khỏi khuôn mặt sưng vù, dày cộm, muỗi tha hồ hút máu đông. Họ không còn cảm giác, gần như chết cóng. Dù cuống họng, lưỡi và môi không trỗi nhạc, mà hai hàm răng va lộp cộp từng cơn run. Họ thức trắng đêm thì thầm cầu nguyện, mong bình an và cầu trời mau sáng. Nhìn chiến trường bốc lửa từ phía Khu Số 4. Khu Số 6, họ lo sợ kinh khủng!


Thỉnh thoảng hoả châu đỏ rực bầu trời suốt từ chập tối đến rạng sáng. Cứ mươi lăm phút thì súng lớn từ hướng Bắc câu đi đâu đó vút vút ầm ầm ầm. Súng nhỏ gần gần trong địa bàn thành phố lại nổ từng hồi pằng pằng pằng… Tạch tạch tạch… đùng đùng đùng. Ầm! Oành! Bầu trời rực sáng màu đỏ tía, do trực thăng bay vòng vòng rất gần đỉnh đầu chúng tôi đã khạc ra những tràng lửa đỏ lòm, những tia đạn dài ngoẵng vút vút lao xuống dưới, rồi bầu trời bỗng tối đen như đêm ba mươi. Trong đêm tối mà chứng kiến tận mắt những tia lửa từ nòng súng khạc ra, mới cảm thấy sự vô tri bạo tàn không kém phần oai dũng cuả súng ống lạnh tanh tua tủa bắn ra, để trừ kẻ gian đi xâm lăng. Khói bay toả trên tít tầng mây xám, không trung quyện lẫn màu khói pha sương mù mịt mùng. Mùi hôi theo gió lùa về khét lẹt, chua chua, thum thủm, hôi chịu không nổi.


Suốt thời gian chiến cuộc, sau vụ Lâm đã đấm bể ô kính cửa ở nhà dòng Domain, dù bàn tay anh băng bó rồi, nhưng máu vẫn rỉ ra, ban ngày Lâm đi làm việc, chiều chiều một mình anh đến nhà bác Chiểu ở đường Phan đình Phùng ngủ nhờ. Khi nào không có phiên trực ở Tiểu khu, choạng vạng tối Lâm ghé tạt về nhà thăm chừng mẹ con chút xiú, là đi. Nơi chốn nầy khá hẻo lánh, ai nấy đều cảm thấy sợ.


* * *

Hôm nay thì chúng tôi bồng bế nhau lên ngủ nhờ trong dãy hành lang của Dân Y Viện Đà Lạt. Vào bệnh viện ngưởi thấy mùi nồng nồng, hôi hôi, tanh tanh, mùi thuốc sát trùng thật khó chịu, hầu như ai nấy muốn nôn ọe. Nhưng gia đình chúng tôi phải ráng chịu đựng. Mẹ chồng, tôi và hai con trai nằm đất ẩm ướt lạnh lẽo luôn luôn. Các con bị ho, sỗ mũi, nóng lạnh. Nhất là bé Tuấn ọc sữa thường xuyên. Mặc dù tôi đã mặc cho bé Dzũng và bé Tuấn áo lót, áo cánh, hai áo ấm, quần nỉ dày, mũ len, bít tất, mền bông ủ kín cả người. Nhưng các con bé bỏng đã chịu cảnh gió sương, lạnh lẽo quá chừng không thể ấm hơn, vì hiên ngoài lồng lộng gió và sương muối đặc sệt giăng mắc. Tôi quá đổi buồn phiền, thương các con, lo lắng vô cùng. Tôi thương bé Tuấn chưa tròn hai tháng, con nhỏ xíu, còn đỏ hỏn mà ngày ngày tôi bế con đi ngủ nhờ ngoài hành lang lạnh lẽo lắm. Sáng sáng tôi lại bế con về nhà, giữa nắng mưa sương gió khuya chiều lạnh buốt xương sống.


Đêm đêm súng đạn vang rền, tại bệnh viện tôi vẫn chứng kiến quá nhiều cảnh đau đớn, rên siết, chết chóc của người già có, trẻ có, đang mang bệnh tật, kể cả thương binh trào máu tươi. Cảnh nào cũng đau đớn khổ sở, đắng cay như nhau. Tôi cảm thấy sợ kinh khủng! tuy suy nghĩ thà ngủ gần người bệnh, ngủ gần nhà xác, còn hơn ngủ chung với người đang dẫy đùng đùng vặn mình chờ chết. Khi nghe tiếng súng, mọi người với phản ứng tự vệ tự nhiên, ai ai cũng ngồi bật dậy, lao xuống đất và chui vào gầm giường, gầm bàn. Trước muôn vàn chinh chiến điêu linh tang tóc, khổ sở đã vỡ bung ra trên mọi miền đất nước thân yêu, không một ai vô tình trong cơn quặn đau thắt ruột lịch sử dân tộc Việt Nam, là nỗi nhục nhã ê chề, đớn đau gớm ghiết, tủi hổ tột cùng. Triệu triệu người từng chứng kiến qua nhiều góc cạnh cuộc đời khác nhau, nơi bề trái lịch sử: Tham tàn, cuồng loạn vụng về núp bóng dưới lớp mây đen u tối nghịt trời, đang tỏa sức sống trên vòm trần kính.


Thời gian thấm thoát trôi qua… bé Tuấn vừa được ba tháng, con biết lật vào một buổi tối nằm ngủ nhờ ở góc hiên ngoài bệnh viện. Mẹ chồng, tôi và bé Dzũng vui mừng sảng khoái cười la thật to, vỗ tay reo vui hoan hỉ. Đó là niềm vui mừng trong veo, duy nhất có tiếng cười hồn nhiên thoải mái kể từ hôm chạy giặc! Tôi vui mừng hết sức. Tôi cầu mong cho các con hay ăn chóng lớn, gia đình an mạnh một phần. Phần lớn nữa là mong quê hương sớm yên ổn, để chúng tôi và mọi người trở về ngủ dưới căn nhà bé nhỏ đơn sơ, tránh khỏi cảnh ăn đậu ở nhờ nơi đầu đường, xó xỉnh bẩn thỉu và buồn da diết thế nầy. Do vui mừng cười to khi bé Tuấn biết lật, chúng tôi đã quên chuyện đi ngủ nhờ ngoài hành lang bệnh viện, khiến mấy cô y tá trực bệnh viện không hiểu chuyện gì, họ lo sợ mở cửa dáo dác nhìn quanh. Mẹ con bà cháu im bặt, chúng tôi sợ họ bực mình, sẽ đuổi chúng tôi đi không cho tá túc ở xó góc nầy, thì biết trông cậy nương nhờ vào đâu!


Kẻ xâm lăng thành phố Đà Lạt như thế đã chiếm tới cuối tháng Hai ròng rã trôi qua… Chiến cuộc cứ thế bên thủ bên nằm, đôi khi quân lực Việt Nam Cộng Hoà tiến lên từng bước, từng bước tiến vào cửa ngỏ loạn ly. Dù lính có kế hoạch quy mô, có sách lược điều quân, và nguyên tắc phối hợp hành quân từ lăng kính thuần tuý quân sự. Nói nôm na hơn là sự tranh giành đất đai, quyền lực “với nhau”, việc nầy không phải đỗ lỗi là vì do chiến tranh, hay không chiến tranh! Phía nào không củng cố, không bảo vệ, không cẩn trọng, là mất! Nói một cách thẳng thắng lạnh lùng hơn: nếu không có bổn phận trách nhiệm, mất cảnh giác– thì sẽ mất tất cả! Nhưng bắt buộc quân nhân Việt Nam Cộng Hoà phải uể oải nằm ù lì phơi nắng phơi sương, dầm mưa nướng mình trên đất cỏ, để chờ đợi lệnh trên ban xuống. Lính ngao ngán mỏi mòn chờ đợi… rồi đợi chờ… lệnh tổng tấn công. “Trò đánh giặc” nầy tương tự như “trò chơi đánh bạc”, ta cay cú vì thua mất tiền trong ván bài ấy, do ta không đoán biết trong lòng cuả cái tô úp trên diã đặt ở manh chiếu kia là: chẵn hay lẻ!? Thì khi ta thua, ta phải nghỉ vài ván, để tìm “đối sách”. Tất nhiên người cầm cái tuyệt đối không muốn nghỉ, (nghỉ là đồng nghiã với thua). Họ nghỉ tức là buông mất cơ hội tốt lành vơ vét tiền khi “con bạc” đang say nước cờ đen đỏ!


Lính nằm dưỡng sức trên đám cỏ bồng cũng thế! Muốn thắng địch quân, người Lính TRUNG, TRÍ, NHÂN, DŨNG không những cần có vũ khí, mà còn cần: Kiên nhẫn, dũng khí và ý chí. Từng đường máu cộm phồng co giật bên mang tai người lính phong sương dãi dầu mưa nắng, có một sự kiên định và vững chãi. Một số Lính Thủy Quân Lục Chiến các vùng khác biệt phái, Bộ-Binh, Biệt Động Quân nằm ép bụng sát đất, họ xã láng cuộc đời trên những thăng trầm đen đỏ số phận, xây dựng tình yêu nơi hoang tàn quê hương đổ nát. Mặc bao mưu toan đen đỏ trong cơn lốc chính trị lịch sử dùng dằng đẩy đưa, đầy cay đắng. 


Về phần dân thị thành Đà Lạt thì bị cô lập mọi mặt, mọi ngã đường ở nơi “khỉ ho cò gáy” chỉ có thông reo triền miên, có một đường “lả lướt lên đào nguyên”, mà khi muốn về… thành phố, ngộ lỡ như con đường “độc đạo” bị “cách trở mấy nhịp cầu bị gãy”, thì kể như thành phố Đà Lạt đã “bế quan”, sẽ đói dài dài… vì không có lối đi tiếp tế lương thực! Cả bầu trời Đà lạt dường như thu gọn lại trong chiếc máy xay sinh tố cũ khô khan kêu cót két, rít rít, ù ù rột rột quay lông lốc, nghe điếc ù cả tai, xốn xang, nghẽn nghẹt buồng tim lá phổi. Ưu điểm của Đà Lạt là thành phố thơ mộng kiều diễm trong lành mát mẻ. Yếu điểm của Đà Lạt là con đường “độc đạo” đi và về một lối quanh co uốn lượn lên đào nguyên trong vũng sương mù!

Bầu trời bao la càng trống trải, trực thăng bay lừ đừ như con chuồn chuồn ốm, dễ làm mục tiêu cho các họng súng cối ở nơi xa xa dựng đứng dưới đất chĩa thẳng lên trời, súng bắn từng phát (nghe dường như về hướng khu Số 6 hay Tùng Lâm thì phải). Suốt hai ngày đêm, loa phóng thanh trên phi cơ chĩa xuống đất, kêu gọi người dân ai còn mắc kẹt giữa hai lằn đạn, hãy cố gắng di tản ra khỏi mục tiêu sẽ quầng thảo. Họ (Việt Cộng) tự động tổ chức nhân sự bị kẹt lại ở đây, thành từng tổ tam tam. Họ vừa xoa, vừa tuyên truyền, vừa đánh đập, để kích động tâm lý trong lòng “kẻ bại”!? Trong khu Số 4, Số 6 đó, đa số dân lành còn bị kẹt lại vô tình làm bình phong, làm mấu chốt đỡ đạn. Họ bắt dân đen khiêng vác đất đá, đào hầm hố trú ẩn, rất cực khổ, ngỏ hầu trốn bom đạn, mà dân bị nhịn ăn. Vã lại ở trong vùng tạm chiếm nầy, làm gì có họp hành chợ búa, không ai có thể mua lương thực ăn uống!


Trời đổ mưa tầm tã, mưa trái mùa suốt từ trưa tới chiều, hạt mưa xiên xiên to tròn nặng hạt rơi lộp độp trên mái ngói mãi hoài không dứt, gió lồng lộng thổi vun vút theo dọc hai hàng hiên. Non vài giờ sau là cả đỉnh núi Lâm Viên tuyệt diệu xứ hoa đào thơ mộng cũng không được chú ý bằng mỏm đồi khu Số 4. 


“Khu Số Bốn”! Đại danh ngữ ấy mới thoảng nghe qua thiệt “quê quê”, nhưng đầy nồng ấm ngọt ngào mật thiết tình quê, dịu dàng êm ả thân mến, chất phác, mộc mạc, đơn sơ gần gũi như tính ngữ danh xưng. Thân thương làm sao! Nồng thắm trìu mến dường bao! Ấy thế mà suốt bao ngày qua chiến tranh tàn ác đang bám riết lấy nó. “Kẻ lạ” nhanh như sóc, lủi như chuột chù, chuột hôi len lỏi vào mọi ngóc ngách, họ ở lì trong nhiều nhà. Bắt dân đào hầm hố, len lén trèo qua những hàng rào, lủi sâu vào vườn tượt nhà dân. Họ leo trèo lên cây quả, vụng trộm thập thò rình mò dáo dác dòm ngó, coi rất gian, rù rì to nhỏ, nhìn trước ngó sau, lấm la lấm lét như kẻ cướp cạn. Chiến tranh không tốt đẹp gì. Chưa thể phân định đâu đúng đâu sai, đâu là điều hay lẽ phải. Chưa thể, chứ không phải là không thể. Nhưng chắc chắn một điều chính xác là “bên kia” đã hoàn toàn sai trái luật -do vi phạm hiệp định công ước quốc tế-, họ đã cố tình loang vết nhơ, sóng thần cào cuộn từng dòng máu chảy ruột mềm.

Trực thăng bay lượn chậm chạp, từ trong lòng phi cơ tung thả vô số truyền đơn xuống đất, che mờ một góc trời miền núi. Thỉnh thoảng có nhiều tiếng súng rời rạc. Ùm… ùm… Ầm ầm… cắt… bụp… xè… rào rạo. Thật chói tai dễ sợ. Thế mà đằng góc trời nầy, mấy chú chuồn chuồn sắt cứ điềm nhiên, tỉnh bơ lượn qua lượn lại trên đầu chúng tôi. Dường như họ coi đó là chuyện nhỏ, chả có gì quan trọng khi cơn binh lửa bừng bừng thổi về! Vì, phi vụ của họ là ủy lạo đồng bào, dùng truyền đơn từ trong lòng phi cơ vừa rải xuống đất, ngỏ hầu chỉ dẫn dân về cách di tản. Ấy là những tấm giấy phép có uy tín, hiệu lực, để mọi người dân còn mắc kẹt trong khu vực Số 4, Số 6, Tùng Lâm... vân vân… bị tạm chiếm, “dân ta” có thể đi ra an toàn khỏi vùng phong tỏa. Đồng thời loa trên trực thăng vẫn kêu gọi “hàng binh” ra đầu thú, thì sẽ được chính phủ Việt Nam Cộng Hoà khoan hồng ưu đãi. Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà luôn khuyên "Vi ci": 


- Hãy buông tha người dân vô tội đi.


* * *

Quê hương đầm ấm dịu ngọt cuả tôi đó, cũng như nhiều nơi khác trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam đã không thoát khỏi cảnh xâm lược nghịch lý hung tàn của bè lũ Việt+. Khi vấn đề chiến tranh thật sự phức tạp, làm điên đầu các vị nguyên thủ quốc gia. Người khôn ngoan (của người khôn ngoan nhất), bình tĩnh sáng suốt, có lập trường dứt khoát, kiên định, cần giành lại từng tất đất, từng thành phố. Tất nhiên họ nhanh chóng đánh đuổi “bè lũ khát máu” đi khuất dạng (mỉa mai thay người dân da vàng mũi tẹt, đầu đen máu đỏ, sống từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, từ phương Bắc họ chuyên mò mẫm đi đêm, xâm phạm qua vĩ tuyến 17, để xâm lăng phần đất của miền Nam Việt Nam. Gây nên cảnh chiến tranh tàn khốc, chém giết, nồi da xáo thịt quá kinh hoàng thế nầy ư!? Dân chúng nhìn chiến cuộc xảy ra rất gần, với vẻ tò mò nhút nhát, hiếu kỳ không chịu nỗi. Phải! Bên muôn nấm mồ tàn rụi hương nhang, là sự gặp gỡ giữa trùng trùng lớp lớp khuôn mặt lạ xa, hiện diện trong cuộc chiến phức tạp quá cay đắng. Lính miền Nam Việt Nam Cộng-hoà mang đến cho ta sự hy vọng và niềm tin tưởng bừng sáng, nụ cười rộng mở, ước mong an bình, thư thái, ôn hòa, từng ngày, từng giờ, lẫn trong chung cuộc sớm kết thúc. Dù chắc chắc cuộc sống không hứa hẹn an thư dễ chịu chút nào.


Ngoài dãy hành lang của khu bệnh viện Đà Lạt, người người tới tấp tha bùn sình, bê bết đất đỏ bẩn thỉu lê vào trên thềm nhà thương, nền xi măng ướt nhẹp nước mưa bì bỏm, lủng bủng, tanh tanh. Chúng tôi không thể ngủ nhờ ở góc hành lang nầy như mấy ngày qua, nên gia đình tôi đành phải “làm mặt mo” xách chiếu mền lết bết, lội đồi cỏ trũng nước mưa băng qua đường Trần Bình Trọng, để xin vô ngủ nhờ. Vừa chân ướt chân ráo lọt vào được trong khu tầng hầm, tôi mệt mỏi đứng thẫn thờ nhìn quanh. Chưa tìm thấy có chỗ nào còn trống, thì hai cánh cửa lớn kiên cố dẫn vào hội trường sau lưng tôi bị ai đó đóng ập nhanh, khóa chặt. Người giữ chìa khóa đã lủi vào trốn núp trong nhà dòng. Ông ta chẳng bao giờ nở nụ cười thân thiện với người chung quanh, có lẽ do ông nhát hơn cáy! Hoặc không muốn chứa thêm người lạ, các bà sợ "bọn lạ" trà trộn vào ẩn nấp, sẽ thừa cơ hoạt động bí mật chăng?


Ba khu tầng lầu của nhà dòng Domain: tất cả cửa sổ nhà thờ có những bức ảnh kính màu thủy tinh trang trí hình tuyệt đẹp, đều vỡ nát, rơi loảng xoảng khắp mọi nơi, rơi xuống tận khu tầng hầm. Từ dưới mặt đất của tầng hầm khu Domain ngó lên hàng cửa kính, (cao khoảng chừng bốn mét), tường đá phẳng lì, không có thể với tay lên hàng cửa sổ nhỏ ở tít chóp trần trên cao. Dù mấy tay đàn ông cao lớn kia đã chồng chất hai cái bàn, họ hy vọng trèo lên đó, dáo dác nhìn ngó lung tung ra bên ngoài, thăm chừng. Người ta, nhất là tôi cảm thấy vô cùng hối hận, vì tại sao ta không tìm nơi thuận tiện; hay mình tự đào hầm đào hố ở nhà riêng, mà ẩn nấp cho an toàn? Hoặc trốn núp tại tư gia nhà ai có hầm hào kiên cố. Có phải là hơn không, mà dồn cục một chỗ đông người như kiến thế nầy. Mình tự chui vào cái hầm nhốt người kín bưng, to khổng lồ, chẳng khác chi tự đem thân vô cửa tử.

Dưới tầng hầm thì người đạo Thiên Chúa đang lâm râm đọc kinh cầu nguyện, sám hối, đấm ngực ăn năn tội thống thiết. Đạo Tin Lành úp mặt trên hai bàn tay, run rẩy đọc kinh thánh. Phật Giáo niệm Phật, tụng kinh cầu khẩn Đức Phật Thích Mô Ni Ca rất chân thành. Cao Đài, Hòa Hảo bi thiết gọi tên Trời Phật, gọi tên các giáo chủ. Trong nguy cơ bị hủy diệt tập thể thì lành ít dữ nhiều, người ta không phân biệt giàu nghèo, đảng phái, tôn giáo. Vì tôn giáo nào cũng khuyên con người hướng thiện, luôn làm lành lánh dữ, chia sẻ, dùm bọc, bác ái, yêu thương. Tôn giáo cũng như gia đình là nền tảng của xã hội: có nề nếp gia phong, có tôn ty trật tự, biết tôn trọng tự do và nhân phẩm. Giờ phút thập tử nhất sinh gần kề cửa tử thần, họ tự động mở rộng vòng tay thân ái, ngỏ hầu chia sẻ, tìm đến với nhau, mong vơi hận sầu, thân thiết ôm chặt nhau, tựa vào nhau vỗ về an ủi. Họ thành tâm khẩn cầu van vái xin bình an rót xuống mọi nơi, nồng nhiệt kêu xin ơn Trên hãy ra tay cứu giúp tất cả mọi người.


Bây giờ là mười hai giờ trưa, trên trời trực thăng luôn bay lượn ì ầm, loa phóng thanh liên tục gọi đồng bào nhanh chóng tìm nơi ẩn nấp an toàn, vì tụ điểm giao chiến kịch liệt sẽ là chung quanh khu vực nhà thờ Domain de Marie. Ôi Trời ơi! Vậy chết là cái chắc rồi! Non giờ sau… Không thể tưởng tượng nỗi khi lựu đạn ì ì ầm ầm nổ, súng lớn, súng nhỏ rào rạo bay. Đạn vun vút vèo vèo bay xuống, bay lên, bay qua, bay lại: Đùng đùng đùng… Pằng pằng pằng… Róc róc róc… Ùm ùm ùm… Oằng ùm… bay tới tấp trên đỉnh đầu người dân đang ẩn nấp dưới tầng hầm cuả ngôi giáo đường kiên cố, ép lồng ngực mọi người như vỡ tan ra từng mãnh. Ngoài sân nhà thờ đã có tàn quân “Vi ci” nép bên hông trên nhà thờ đang cố tìm đường trốn chạy tháo thân về khu Số Bốn.


Thỉnh thoảng mấy tay Việt+ chĩa súng lên trời bắn vài chiếc phi cơ trực thăng, bắn lép tép cắt cắt… bụp bụp… xè xè… từng phát súng nhát gừng nổ vu vơ. Qua trần kính tôi thấy rõ trực thăng bay ầm ầm, tràng đại liên tóe lửa nổ rền rất to. Phi cơ lượn qua lượn lại vòng vòng quanh nóc nhà thờ Domain. Những viên xạ thủ đeo mặt nạ mặc áo giáp ngồi trên ghế chiã họng súng xuống đất, khạc từng tràng rocket róc róc róc… xíu xíu… xít xịt… Dù ban ngày mà toé lửa qua họng sung đỏ lòm, đạn vùn vụt bay xuống hông nhà thờ. Vô cùng chát tai rùng rợn kinh khủng! Thế là trong tầng hầm người ta đồng loạt nhốn nháo, hỗn độn, bừng bừng dâng cao nỗi lo sợ tột cùng: Già trẻ lớn bé đều rú to, kêu khóc inh ỏi, không chừa một ai. Tiếng la, khóc, gào, kêu cứu, rên rú, hét tướng lên to hết biết. Người ta dồn chặt cứng vào một góc chật như nêm, rồi đùn lại với nhau ở cuối tường hầm nhà đá. Họ dày xéo lên nhau, dẫm đạp lên nhau, bất kể người khác tắt thở, chết ngạt. Vài ngàn người dồn cục trong góc kẹt xó vách, họ đè nhau bẹp dí thành một đống, chồng chất lên nhau tại một chỗ. Người ta không còn liêm sĩ, chả cư xử nhã nhặn làm gì. Mặc xác! Người nào đang đứng ở bên ngoài, thì cố dằng kéo người đứng ở giữa ra, để họ chui tọt vào giữa đám đông mà ẩn nấp, cho an toàn chính thân, cần riêng bản thân ta an toàn thôi.


Nơi xó xỉnh ngột ngạt tối mờ khói thuốc súng, họ không muốn súng đạn nhìn thấy, chỉ cần súng đạn và Việt-cộng trên kia đừng nhìn thấy mình. Bản năng tự phát cần tự bảo vệ sinh tồn là điều tiên quyết, nếu có ai đối xử với đồng loại tàn nhẫn, có tỏ ra thô lỗ, hỗn loạn đến bàng hoàng, âu đó là tất nhiên, cũng đành. Mặc kệ. Ai ai cũng sợ súng đạn hơn cả mọi thứ trên đời! Là đủ. Lạy Trời xin tha thứ. Ấy thế mà súng đạn vô tình cứ bắn càng lúc càng rát bỏng, tai ù ù, điếc đặc. Rồi đạn cay, đạn ói, đạn khói, đạn mữa, khói thuốc súng, lựu đạn hoả mù tuông theo các khung cửa sổ bể tới tấp bay vào dưới tầng hầm. Tại tầng hầm nầy không có ngườI nào có kinh nghiệm trong chiến tranh để hướng dẫn, vã lại giờ nầy không ai chịu nghe ai chỉ huy, mạnh ai nấy bon chen, hầu mong sống còn với đời. Đoàn người ty nạn hỗn độn hết biết (như bầy gà vịt nhốn nháo, bay lung tung, kêu quang quác khi con sói đến cửa chuồng). Nước mắt nước mũi ai ai cũng chảy tùm lum tà la. Họ ói mửa nôn ọe, hỉ mũi sột sột lên đầu lên cổ nhau. Thật kinh khủng và kinh tởm vô cùng.


Tôi thật giận Lâm, vì hôm ấy tự dưng anh nổi sùng đấm bể một ô khung cửa kính làm chi, (khi anh không được mấy ông con mồ côi cuả mẹ dòng Bác Ái Mai Anh cho Lâm vô trong hầm trú ẩn), anh trét máu cục đông cứng trên miếng kính bể, còn đó; vô tình anh đã làm “đầu têu” làm gì, mà bây giờ mọi cửa kính cuả nhà dòng Domain đã vỡ toang, mùi khét cuốn theo chiều gió bay vào, càng hôi kinh khủng vậy!? Cạnh đống đồ đạc ngổn ngang trong tầng hầm có từng dòng máu tươi của ai đó trây trét bừa bãi; cũng do những bàn chân ai đó vừa đạp lên mãnh kính vỡ, họ tha lê lết đi khắp mọi xó, máu tươi loang ra, loang ra... trộn với nước đái và phân trẻ con ị vãi ra bừa bãi. Người ta lớn giọng la hét, tru hú, rú rên, khóc hụ hụ hụ từng cơn. Nghe rùng mình dựng đứng tóc gáy. 


Bỗng cánh cửa chính (khu nhà hầm có hai lớp cửa sắt chắc chắn) là cửa ngoài của khu từng hầm bằng sắt dày cui, vừa bị ai đó gài mìn ở phía bên ngoài, đã nổ tung. Toà nhà thờ đồ sộ rung rinh, tiếng rền rền âm âm nghe rất hãi hùng, mái ngói nhô lên hụp xuống rêm rêm, gầm gừ tha hồ rớt xuống rào rạo, loảng xoảng. Gạch đá vôi vữa rơi rào rào, dường như ngôi nhà đồ sộ đang tự đào hố để chôn vùi tập thể dân lành di trú xuống đáy mồ!? Thế nhưng sao tôi thấy cánh cửa sắt trong lớp thứ hai nầy vẫn chưa chịu bung ra? Cảnh ồn ào huyên náo, càng sôi sục, nhốn nháo cồn cào, náo loạn gấp ngàn lần trước. Kinh khủng! Kinh khủng trầm trọng! Người ta lại dày xéo lên nhau, dẫm đạp lên nhau, lôi kéo, giành giựt chỗ trốn, nên họ húc bừa vào nhau. Họ xô nhau chạy qua bên góc tường phía trái của căn hầm, nơi chưa bị rớt gạch và ngói, có cánh cửa phụ. Cửa hông nầy cũng làm bằng sắt dày kín mít. Tự dưng họ lại ùn ùn kéo nhau chạy qua bên phải. Họ cứ huà nhau chạy qua, rồi ùn ùn chạy lại. Xô nhau chạy theo sau lưng nhau, bất kể đàn bà trẻ con ốm yếu chết ngạt dưới chân. Bất kể tiếng la khóc, gào thét vang lên chát chúa. Tôi nghe thật hãi hùng, rùng rợn như nghe con dê, con heo, con bò, con trâu, con cừu bị chọc tiết, đang trợn mắt le lưỡi, rống rú man dại trong khu lò mổ ở ba toa.


Gia đình tôi (và mấy gia đình bạn cùng xóm) biết khôn hơn, chúng tôi không chen lấn đến chỗ đông người, nhưng trong lòng cảm thấy rất ân hận, vì mấy mẹ con tôi hôm nay xui rủi làm sao, tự dưng lại chui vào ẩn núp trong hầm nầy. Sao tôi không đi qua trú nhờ trong hành lang khu bệnh viện như mấy ngày trước hỉ!? Thế mới đau khổ. Chúng tôi ngồi bệt dưới gầm bàn, lỏ hai con mắt ra thật to, miệng há hốc, hai hàm răng va vô nhau lộp cộp, hai đầu gối nhịp nhàng run rẩy, mà thấp thỏm nhìn người đàn ông đang nhảy lên bàn để đánh trống, tiếng trống dù làm chúng tôi điếc tai nhức óc và choáng váng. Nhưng chúng tôi tránh được cảnh tượng xô đẩy vùi dập nhau đằng kia vô cùng dã man và ác ôn. Đó là người đàn ông trung niên sĩ khí dáng vóc khỏe mạnh, mặc áo sọc xanh, quần tây đen, dù qua nhiều đêm âu lo thức trắng, mái tóc nhuốm bạc. Ông ta thấy cảnh xô xát cuồng nộ thật đáng xấu hổ, nên ông ta bèn nhảy lên mấy cái bàn gỗ chất đầy ghế dựa. Ông ta cầm trên tay một cái vồ, và đánh rất mạnh vào chiếc trống trường học đang treo lơ lửng trên đà ngang. Tiếng trống nghe rất tức ngực và điếc con ráy. Mọi người đứng ở góc tường quay lại, trợn mắt, im bặt, lo sợ rợn tóc gáy, sửng sốt ngó quanh. Họ không biết chuyện gì xảy ra. Ở đâu? Ông ta kêu gọi mọi người cố giữ trật tự, im lặng ngồi xuống tại chỗ, không ồn ào chen lấn. Ông giải thích về sự lâm nguy:


- Việt-cộng đang đứng rải rác trên sân nhà thờ. Tui đã thấy có người chết cháy đen thùi lùi ở trển. Khi qúy ông bà anh chị em ở trong khu hầm trú nầy dồn nén xô đẩy, dẫm đạp lên nhau, ồn ào. Ta không nghe được động tĩnh bên ngoài kia, thì chẳng khác nào: "lạy ông tui ở bụi nầy", sẽ tạo cơ hội thuận tiện cho Việt-cộng đã đứng trên sân nhà thờ, họ sẽ phá một cánh cửa nữa, là tràn vào đây. Họ sẽ lấy dân làm bình phong mà đỡ đạn. Thì chết hết cả đám.


Nghe thế, mọi người càng nhốn nháo, xì xào, dáo dác, tiếng ồn ào đồng loạt rộ to. Bỗng im bặt như ngọn đèn dầu phụt tắt trước gió. Mặt mày ai nấy xanh lè, tay chân run rẩy, họ cố bám bíu vào nhau… lết nhè nhẹ đến gần chỗ khuất kín hơn, và im thin thít. Khi đó, tôi nghe bên dãy nhà của các mẹ dòng có những đọc đoạn kinh lạy cha, rồi nhiều tiếng hát nhạc thánh ca cầu xin bình an vang lên. Sự im lặng bao trùm cả căn hầm kéo dài dường như rất lâu, lâu lắm.


Hai giờ chiều, lính Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà và Thuỷ Quân Lục Chiến mặc quân phục, chân đi giày botte de saut, đầu đội nón sắt, lưng đeo đầy đạn, ngực móc hai quả lựu đạn. Họ mang súng máy lên đạn trên nòng, lăm le chĩa mũi súng về đằng trước, ngón trỏ đặt trong nòng. Đoàn quân nhanh chóng leo lên từ hướng nhà Thương, từ hướng Mai Hắc Đế, đường Hai Bà Trưng và Ngô Quyền. Họ tràn lên khu đồi Domain, chia ra bọc hết toàn diện khuôn viên nhà thờ Domain. Sau cùng họ vào hầm trú đang chứa lương dân. Những người lính đi một vòng lục soát mọi cửa nẽo, ngỏ ngách, xó xỉnh. Rồi lính giàn ra thành hai hàng ngang, một toán lính khác sung vẫn chỉa về hướng chúng tôi, bạn của họ cấp tốc cứu nguy những người bị thương, chết nghẹt, hoặc đã chết. Họ làm việc gọn gàng và nhanh thoăn thoắt.


Tất cả dân chúng ở trong căn hầm nầy đều im phăng phắc. Chả bù cho lúc nãy căn hầm ồn ào muốn đinh tai nhức óc. Vị sĩ quan chỉ huy dõng dạc kêu từng gia đình ở trong hầm hãy xếp thành hàng dọc, từ từ từng tốp một, từng người bước chầm chậm ra ở ngoài khu chỗ trống, ngay tại trong tầng hầm của nhà thờ. Khi vị sĩ quan đã đếm tất cả đầu người trong hầm xong, ông ta bảo cánh đàn ông, thanh niên, thiếu nữ, tuần tự đi qua bên góc trái căn hầm. Từng người một riu ríu trình báo giấy tờ tuỳ thân, thì làm ơn vui lòng lấy hai tay đan lại, giơ cao để trên đầu, tay ôm ra sau cổ. Ông già bà lão lụm khụm và trẻ con: thì đứng qua bên phía phải, theo hướng chỉ của anh lính phụ tá. Lính yêu cầu những đàn ông trai tráng nam nữ và đàn bà không có con thơ bận rộn ở trong hầm của nhà thờ, sau khi trình diện, từng người một đi ra khỏi tầng hầm của khu nhà thờ Domain.


Đồng bào đông đúc đi giữa hai hàng quân lính nghiêm trang đứng bồng súng gác ở ngoài sân. Mọi người tay xách tay mang. Tay bế tay bồng. Họ lục tục ríu rít và trật tự kéo nhau ra cửa. Họ chạy xuống ngồi bên cạnh hang đá Đức Mẹ. Hoặc dân bò từ từ xuống chân nhà thờ, lủi nhanh về hướng Cẩm Đô. Họ chạy qua lối bệnh viện Đà Lạt. Một tay bế con trai Tuấn ba tháng tuổi, khuỷu tay tôi lại kẹp chặt cánh tay bé Dzũng lôi con xềnh xệch theo mình!?: ba mẹ con chạy ra ngoài sân sao nhanh đến thế!. Quả thật tôi tự khen tôi tài tình khi quắp hai đứa con nhỏ vào lòng, và cả "gánh” thức ăn, đồ dùng nữa. Từ trên dốc đồi cỏ Domain cao gần như thẳng đứng, tôi ngồi thụp xuống, hai chân chuồi thẳng về trước, lăn như khúc cây tròn.

 
Trước khi tuột dốc, đầu tôi trùm khăn, tôi mặc hết ba bộ đồ, với áo len lông xù, áo manteau, nên mới thoạt nhìn ai cũng có thể nghĩ là tôi mập ú tét. Toàn thân tôi toát mồ hôi hột giữa nắng xế oi ả, (nhưng tôi lạnh run vì sợ hãi). Chân tôi mang bít tất, chiếc giày thấp run lẩy bẩy trong cổ chân. Còn chiếc kia bay mất lúc nào không rõ. Tôi mặc cả thảy năm chiếc quần mỏng, bị vướng móc vào thép gai, đã rách toạt ra tự bao giờ không biết. Khi cùng những người khác ngồi yên ổn dưới hang đá, lúc đó tôi cảm thấy đau nhức rần rần ở hai mông. Rờ tay vào, tôi mới biết là mông tôi bị chảy máu khá nhiều. Một bàn chân rơi mất chiếc giày, tôi đã đạp lên xác chết ở trên sân nhà thờ. Chiếc tất trắng nõn dính đầy máu tươi. Ui trời ơi! Tôi sợ mất hồn, mất vía. Tôi đã thấy hai xác người trợn mắt phơi thây lúc nãy mà. Có một ông co quắp. Một ông nằm ngửa tênh hênh trên vũng máu. Chiếc áo màu cải úa chỗ thâm đỏ, chỗ tím bầm. Khô đọng. Ruồi bu đen nghịt trên thân thể họ. Cạnh đấy có hai cây khiêng bằng tầm dông luồng qua lớp võng vải bố, (loại vải bố của bao gạo). Họ dùng mấy thứ nầy làm đòn tải thương. Có lẽ khi vừa đến đây họ bị đại liên trên trực thăng nả cho, nên chết tươi.


Bà nội (của các con tôi), mặt mày hốc hác, bà đờ đẫn, mắt đã lạc thần. Bà muốn chết đứng, tay chân bà lắc lư đung đưa run rẩy như cầy sấy. Tay bà ôm bình thủy đựng đầy nước sôi, bà chạy theo đoàn người sơ tán. Chiếc bình thủy vỏ mây mà bà đang ôm trên ngực, bị bể tan, nước sôi chảy ra, hơi nóng bốc lên từ đám cỏ hoa vàng không tên, tàn úa héo dần. Ấy vậy, thật may mắn vì bà không bị phỏng nước sôi. Bà sợ Việt-cộng kinh khủng. Sợ quá chừng! Bà đã bỏ quê hương tận ngoài miền Bắc, bỏ làng xóm thân quyến, bà vất hết của cải, bà chạy bán sống thừa chết từ Bắc vào Nam. Bà trốn tránh họ bao năm nay, bà sống hiu hiu mong an vui nhàn hạ đôi chút cho qua kiếp già:


“Tân niên vạn phúc bình an đến.
Xuân nhật vinh hoa, phú quý lai”,

cho khỏi bỏ những ngày lao đao lận đận nơi quê xưa. Bà tưởng thoát nạn, tưởng đã yên ổn tấm thân còm, bà sẽ hạnh phúc nhờ “phước thâm tự hải, lộc cao như sơn”, do ông cha cố tổ của bà ưu ái để lại. Nào ngờ... giờ đây họ đùng đùng xách súng đến bên đít, đuổi bà vắt giò lên cổ mà chạy có cờ! Bà ngồi thụp xuống đất, giống như em bé lên sáu tuổi chơi trò cầu tuột. Bà xoạt hai chân lướt phom phom trên đồi cỏ. Bà bị té nhào hai ba vòng, đầu bù tóc rối xổ ra dài lết thết trên đất cỏ. Tôi sợ thắt họng, tưởng bà sẽ bị u đầu bể trán chảy máu, hay ít ra cũng gãy cần cổ, lặt lìa lặt lọi tay chân. Thế mà bà tỉnh bơ không việc gì. Bà chỉ hốt hoảng dáo dác nhìn quanh, đau khổ lo sợ tột cùng, không sao chịu thấu:

“Sông sâu có thể bắc cầu.
Lòng người nham hiểm, biết đâu mà mò”.

Vì, “Thà rằng chả biết cho xong.
Biết ra, như xúc, như đong lấy sầu”.

Bà than như thế! Tôi phải kính phục bà mẹ chồng vô biên, vì bà thuộc về lớp người từ đầu thế kỷ thứ 19, ở nơi vùng quê Hưng Hiền tận ngoài Yên Mô miền Bắc, thuở xưa ấy ông bà cố đã cho bà đi học chữ quốc ngữ. Bà viết chữ thông thạo, đọc chữ làu làu, đúng là mẹ chồng tôi được đi học có “văn hay chữ tốt”. Bà nói những câu văn hoa tinh tế. Nhất là bà hát những câu ca đồng dao, quan họ trữ tình luyến nhớ quê hương, thì hay hết biết. Sau khi bà cháu mẹ con chúng tôi an toàn tuột dốc Domain De Marie nầy cùng đồng bào trong Thị-Xã Đà Lạt bị dồn vào ngỏ cụt không lối thoát. Tôi và họ cũng bỏ lại sau lưng những gì quý giá nhất, hầu thoát thân mưu cuộc sống còn. Dù cùng cực đắng cay, lo toan, đớn hèn, đau khổ đối mặt với nỗi cô quạnh muộn phiền bất ngờ không lường trước được, hãi hùng giữa cuộc đời muôn mặt. Nhưng xin cám ơn Trời đã cho thoát khỏi nanh vuốt cái người tôi không muốn xác nhận, mà đành phải coi như quân thù.

Nếu không lầm, thì hơn ba tuần sau ngày bé Tuấn biết lật, Quân đoàn II gởi một Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân. Tiểu Ðoàn của Trung Ðoàn 53 Bộ Binh tăng cường cho Thị-xã Ðà Lạt, để tiêu diệt tàn quân Việt Cộng ẩn nấp trong Khu Số 4. Khu số 6. Tùng Lâm, v.v… Kể từ sau vụ “càng quét” đó, mọi người đã yên ổn bình an. Toàn dân ở Đà Lạt Tuyên Đức nói chung, và riêng khu xóm cùng gia đình tôi nói riêng trân trọng cám ơn qúy quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hoà. 


Tình Hoài Hương

Saturday, December 30, 2017

Đêm NOEL và những Phím Loan

Tình Hoài Hương

Đêm Noel về thật sâu lắng, sương muối hạt to to, mòng mọng tròn tròn lung linh là đà rơi đầy trên thành phố Đà Lạt trầm lặng nên thơ, thi vị và mơ mộng mà huyễn hoặc. Từng bè mây trắng phiêu lãng thấp thoáng sau những vũng sương mù tan loãng bay bay về cuối rừng, mây cuộn thành từng lọn trắng bồng bềnh nhấp nhô lờ lững trôi trên không trung nhợt nhạt. Gió lồng lộng lũ lượt thổi qua vườn thông sau đồi nhà ba má tôi, nhạc thông reo vi vu nghe lao xao, rì rào và bất diệt. Mùi thơm muôn hoa trong vườn quyện lẫn mùi nhựa thông thoang thoảng đưa vào phòng, bất giác lòng tôi se lại qua khe rèm hở giữa hai cánh cửa chớp. Bầu trời tỏa lạnh cùng khắp mạch núi rừng hoang dại, cái lạnh buốt giá se se xoáy vô thịt da, ăn sâu vào lòng người, nhưng đầy thi vị và hữu tình biết bao!

Sau khi các bạn đã đi rồi, tôi tỉnh ngủ nhưng vẫn leo lên giường nằm đắp mền kín cổ, nhìn mấy con thạch sùng cắn đuôi nhau chạy quanh ánh đèn néon. Lòng cảm thấy trống trải, ưu phiền, bâng khuâng vô ngần, chen lẫn nỗi buồn chán tiếc nhớ vẩn vơ, nghẹn ngào muốn ứa lệ. Tôi hồi tưởng không biết bao nhiêu buồn vui xếp lớp lăn tăn, và nhịp tim dập dồn đập mạnh, cuồng quay trong những phím loan. Tôi không thể hiểu tôi cần gì, muốn gì!? Bây giờ… Có thể người ta đang tưng bừng rộn rã đón mừng đêm Noel, đang hoà mình vào làn sóng người lượn trên phố như trẫy hội. Chứ chả ai ngu dại trầm mình vào nỗi cô quạnh như tôi. Tôi hiểu rằng: Từng nầy cảm xúc, buồn phiền, tủi hờn, có thể quật ngã một con người khỏe mạnh, vui tươi nhanh chóng như vậy!

Ừ nhỉ! Lẽ ra mình không nên “ác” với Phú trước mặt các bạn. Không nên diễu cợt tình cảm với Nam đến thế! Để làm gì? Tất cả những thứ đó chỉ là đùa trò trẻ con và lố bịch. Vì những tha thiết mặn nồng yêu thương chân thật, tôi có thể tìm thấy ở Phú (nếu không phải là người xưa, hay là ai khác). Thế nhưng, tại sao tôi lại chối từ Phú? Sao tôi nỡ lòng quay lưng ngoảnh mặt, “tự dày vò và làm khổ nhau” đến vậy không biết?! Tại sao? Hay chả còn bao lâu nữa, tôi sẽ lạnh lùng quay mặt về hướng khác, vứt bỏ sau lưng quãng đời dài thân thiết nhất? Dù những chuyện đó sâu thẳm như thung lũng tình yêu, hấp dẫn đầy ắp như chân trời hứa hẹn một tương lai tươi sáng đang bừng tỉnh?

Bỗng chú kiến lửa cắn vào cổ tôi nhức nhối đau nhói. Tôi nhăn mặt xuýt xoa, vụt ngồi dậy. Tung mền ra, tôi quay quắt chà xát vào chỗ sưng vù và đau nhiều lần. Sợi dây chuyền vướng vít vào ngón tay đã bị đứt lìa ra hai đoạn. Sợi dây chuyền nầy vào dịp Noel năm xưa cố nhân trao tặng, anh ta đã ưu ái đeo vào cổ tôi, ân cần nói những lời âu yếm nồng nhiệt yêu thương xiết đỗi. Kỷ vật đó suốt tháng năm tôi mang trong cổ, dù thời gian đã trải qua bao giông tố, ấy thế mà tôi vẫn không rời. Sợi dây chuyền vàng có chữ H, là quà tặng đính ước của hôn phu đã nói với tôi điều gì!? Trước mắt tôi là những đợt sóng ngầm lạnh lùng vùi dập, làm tan biến hình ảnh người yêu, nó đã mất hút tầm nhìn vào vùng kỷ niệm tháng ngày qua.

Nay, dù đã xa rồi nhưng chẳng hiểu sao bừng sống lại, khiến tim tôi đau thắt và sợ hãi kinh khủng. Tôi ngẩn người cầm hai đoạn dây chuyền đưa ra ánh đèn xem xét, lòng cảm thấy tiếc ngẩn tiếc ngơ. Dường như tôi vừa đánh mất một cái gì quý giá nhất đời: mất một cánh tay, một bàn chân, một nhịp thở lỗi nhịp, một mãnh tim vỡ, một chéo mộng quan hoài khiến vết thương lòng thêm héo hắt hơn. Bởi vì chuyện chia xa nầy rất phi lý là: do chính tôi đoạn tuyệt mối tình nên thơ êm đẹp rất trong sáng, đứng đắn đàng hoàng; cả hai người đối với nhau chẳng hề có lỗi lầm nho nhỏ nào (nhưng chỉ vì anh ta ưa có thói buông thả tình cảm lả lơi đùa cợt tíu tít với mấy cô! Do lỗi tại tôi quá ghen, tức bực, nên tự ý giã biệt, mà ra nông nỗi)! Tôi đã muốn như thế, thì lẽ ra tôi đừng khêu to đống tro tàn bên lò sưỡi, đừng đốt thêm ngọn bạch lạp nơi góc phòng xưa.

Bản tính muôn thuở của tôi vốn dĩ không thích thay đổi, tôi rất mến yêu kỷ niệm, thủy chung. Dư vị quá khứ đắng cay đọng trên lệ nến nầy: Khung ảnh gỗ xinh xinh lồng tấm ảnh anh ta ngày ấy, nay còn trống chỗ vẫn ở trên mặt bàn lạnh từ bao năm, kỷ vật đã yên ổn an vui trong vị trí tôi đặt để: Lọ hoa màu huyết dụ còn cánh nhung hồng đơn lẽ héo úa gục đầu. Bàn viết, ghế dựa, sách vở, bút viết, tạp chí, giấy trắng với bình mực tím vơi cạn. Những phong thư bạn bốn phương nằm im trong hộp đựng. Tủ quần áo, giường nệm độc thân y nguyên chỗ cũ. Chúng lẵng lặng nhìn chân dung tôi có nét ủ dột thẩn thờ đã treo trên bức tường vàng lạnh lẽo. Tôi tin rằng mình không sai lầm khi con búp bê biết cười nói đặt trên giá sách do anh Phong gởi từ Mỹ về. Cạnh ô cửa là chú mèo lông xù của Thắng. Bên đàn gà mẹ gà con lít chít của Đan. Phía dưới là chú nai tơ xinh xắn của Phú ngơ ngác nhìn tôi buồn rầu đau đớn. Cạnh đó là gấu đen của Nam bừng giận lúc tôi chán chê cuộc đời. Mấy cành hoa giấy đỏ của Yến Nga cúi đầu rơi lệ khi tôi khóc. Còn đây, gần khung cửa sổ là những kỷ vật của “người xưa”.

Những món quà vô tri vô giác nhưng thiết tha trìu mến vô ngần: Chúng từng theo gót chân tôi phong trần đi đó đây suốt quãng đời dài, lẵng lặng đồng cảm cùng tôi vui buồn thương giận, yêu và đau khổ, mà không thốt nên lời chăng!? Sáng, trưa, khuya, chiều, sớm, tối; “chúng” lặng câm chia sẻ nỗi niềm. Tôi yêu chúng, vì chúng đã tận hiến cho tôi bao kỷ niệm đắm say yêu kiều dịu ngọt lẫn vò xé nỗi đớn đau tận cùng. Chúng trọn vẹn tận hiến cho tôi một lần duy nhất trong cuộc đời vô tri, rồi lặng lẽ xếp mình vào niềm vui kỷ vật. Chúng trân trân nhìn tôi đắm chìm trong cơn mê, như muốn nhắn nhủ tôi điều gì!? Gợi lên lòng mình những bài học xót xa đã bị vùi quên vào dĩ vãng lăn lăn sóng gợn. Chúng nhìn tôi như thầm trách bao điều không thể nói được. Vì thế, chúng lạnh lùng câm nín giận dỗi giương đôi mắt nai tơ chối từ thân thiện.

Cùng với sự giận dữ vô cớ bừng bừng dâng cao, phản ứng tuy vô tình nhưng chớp nhoáng, nhanh hơn nhịp đập tim co giật trong lồng ngực cuồng quay, tôi nhảy phóc xuống giường, chạy đến mở cửa sổ, mạnh tay quăng hai khúc dây chuyền lủng lẳng chữ H vào đêm tối, xa thật xa khu vườn thông rợp bóng đêm. Gió lạnh ùa vào phòng tê buốt, khiến toàn thân tôi co ro, cúm rúm, mặt mày dúm dó, tái xanh, tay chân nổi ốc trâu sần sùi, hai hàm răng lập cập va vào nhau lộp cộp. Tôi bàng hoàng, xúc động, run rẩy ngẩn ngơ tựa lưng vào tường, đăm đăm nhìn giá sách mập mờ đong đưa kỷ niệm vàng son một thuở. Tại sao thế nhỉ?! Nhất cử nhất động hôm nay, là bước lại những bước chân quá thuộc lối trên nẽo đường mòn hôm qua. Ở mỗi lối ngoặt trong cơn lốc đều hiện rõ từng nét mặt thân thiết, ân cần mời gọi, nhớ nhung, mơ hồ, và tuyệt vọng!? Cho dù sóng thần có cuốn phăng đi chân dung người tình và gió bão uà về xua mây mù che khuất nẽo tương lai. Thì cái thế trong tôi vẫn không nao núng! Kỷ niệm xa xưa về cuốn phim tình ẩn hiện chập chờn trên sóng nhấp nhô, bừng sống trong lòng tôi dù trong khoảnh khắc, nhưng rõ đến nỗi tôi nhìn trân trân vào bóng tối, mà hình dung bước tình xưa rón rén bên hiên nhà, có tiếng thì thầm rất khẽ lời tỏ tình vụng dại giữa đêm đông!

Bầy dế quay cuồng bay lượn reo hoan ca hát trong đêm muôn trùng, rồi bu quanh trên những ngọn đèn đường vàng vọt trước cổng nhà, vòng bay mỗi lúc một nhanh, khi chúng bay toả rộng ra, khi thu nhỏ lại, rồi hình như chóng mặt, bất thần chúng rơi phịch xuống đất. Trên lầu ngay chỗ tôi đứng, một con cánh cam có lớp vỏ cứng, bóng láng, ánh lên màu biếc xanh, trông rất đẹp, nó xòe đôi cánh cứng, bên trong lộ ra hai cánh màu nâu mỏng te, có nhiều sợi gân nổi trên lớp cánh thưa mềm mại như tấm voan xinh xinh. Nó khéo léo uyển chuyển khép dần bốn cánh, coi thật gọn ơ. Nó lại bay vù vù và bỗng dưng đập đầu vào ô cửa kính kêu cái cộp. Tôi mở cửa sổ ra, len lén thò tay nhón bắt con cánh cam, cúi xuống nâng niu trong hai bàn tay khẽ khàng bụm lại. Con cánh cam thừa lúc tôi sơ hở không bụm chặt tay, nó vuột ra khỏi lòng bàn tay tôi, bay đi mất dạng.

- Ngân Thụy! Làm gì mà ngẩn ngơ ra vậy? Em?

Giật bắn người, tôi bàng hoàng nhìn xuống đường, ngơ ngác ngó kỹ, tìm kiếm trong bóng đêm khi ngờ ngợ nghe Cảnh gọi. Tôi cứ tưởng người đứng thấp thoáng dưới cánh cổng cao dày kia, là kẻ trộm định leo tường vô nhà mà run run. Những giọt sao đêm Noel qua ô cửa lấp lánh nghiêng mình vẫy gọi tôi vui mừng hân hoan bước xuống lầu. Tôi đi dọc theo khu vườn hoa đã thấm đẵm sương đêm, đôi dép da nghiến lạo xạo trên lớp sỏi trắng, con đường rộng dẫn ra cánh cổng sắt rất to dày và cao lút đầu người. Tôi tới gần cổng ngoài, lách cách mở ổ khoá, tôi do dự có chút ngỡ ngàng giây lát rồi chào Cảnh, nhìn anh chằm chằm, rồi né qua một bên cho anh vào. Cảnh đóng cánh cửa, bấm ổ khóa xong, anh quay nhìn tôi mỉm cười, e dè hỏi:

- Trong nhà đi lễ hết rồi sao? Em!?
- Dạ vâng. Chẳng còn ai.
- Anh đến bất ngờ. Xin lỗi em.
- Ư hừ…
- Em dám ở nhà một mình?
- Sao lại không.
- Ghê ha.
- Lẽ là người và ma quỷ thì sợ em, chẳng dám tới đây quậy phá.
- “Yên hùng” hơn anh rồi.

Cười tít mắt, tôi đi trước dẫn đường, anh bước vào phòng khách, tôi trêu ghẹo Cảnh:
- Anh không sợ gì bằng sợ bị ký củ ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật. Nên anh thấy em “yên hùng” hơn anh. Ha!?
- Em nhảy dô trong tim đen của anh rồi còn gì…

Tôi cười, nụ cười ngọt hơn mía lùi. Tôi nói:
- Mời anh ngồi tạm, để Thụy đi “pha chút ấm áp” nha.

Cảnh ngồi vào chiếc ghế bành da cười hì hì. Tôi loay hoay dưới bếp cắm điện, pha cho anh ly cà phê sữa bốc hơi thơm phức. Bưng ly cà phê ra đặt trên bàn, tôi mỉm cười thân thiện mời anh. Cảnh mồi diêm hút thuốc, anh nhả khói thuốc thành từng vòng chữ O uốn khúc bay lượn lên trần nhà. Dường như anh gắn chúng với dòng suy nghĩ, đắn đo nào đó. Tôi lại trở vào bếp làm cho anh bốn miếng French Baguette kẹp thịt nguội quẹt bơ và ba tê. Khệ nệ bưng dĩa bánh ra, tôi vui vẻ ngồi xuống ghế đối diện Cảnh. Chúng tôi nhìn nhau mỉm nụ cười vu vơ. Tôi cũng hồn nhiên ăn lát bánh lạt phết bơ và rắt chút đường. Bất ngờ tôi nghe anh nói:

- Ngày lễ trọng đại vui vẻ vậy, mà em không đi chơi đâu sao?
- Biết đi đâu bi giờ! Anh!
- … Anh được trường cho phép đi ra phố. Cố ý đến thăm em, nhưng anh cứ do dự, lo lo, thắc mắc riết. Anh đi qua đi lại ngoài đại lộ mấy vòng rồi. Anh thấy nhà tối đen, tưởng là không có ai ở nhà. Nào ngờ có em. Vui quá và may mắn thiệt.


Bây giờ tôi mới để ý thấy trên góc kệ cạnh cái bàn tròn có gói quà nho nhỏ thắt nơ hồng. Cảnh để xuống đó từ lúc nào.
- Anh có món quà mọn nầy gởi tặng em.
- Anh đến thăm em, dù bất ngờ... nhưng vui rồi, quà bánh làm gì, anh.
- Em vui là anh mừng húm.

Tôi mỉm cười nhìn Cảnh giả vờ trợn mắt lên, rồi nheo nheo chớp chớp. Cảnh cũng không vừa, anh đá lông nheo kịch kịch. Chúng tôi cười to.
- Thụy nghĩ sao về việc chúng ta được quen biết nhau?
- “Được” quen biết nhau?!
- Chính vậy.
- Nếu anh nói “được”, thì em trả lời “rất hân hạnh”. Còn anh nói “bị”, thì em trả lời “không có chi”.
- Một câu đáp lễ sâu sắc.
- Còn anh nghĩ sao khi hỏi em câu đó?
- Sau bóng mây đen cùng cơn gió lộng, sẽ có trận mưa dầm ấm áp mát mẻ, giống như trời Đà Lạt luôn trong lành, thoáng mát, thi vị ấy em à.
- Chưa hẳn thích.
- Bởi vì chưa quen. À... Ngày mừng Tết Dương Lịch, anh có nhã ý mời em vào trường Võ Bị dự buổi dạ tiệc. Hen!
- Sao anh mời em? Em thiết nghĩ chị Dung thân anh hơn em nhiều.
- Thân không có nghĩa là thương. Thương lại chưa hẳn là yêu say đắm. Nhất là Dung kia không phải là Ngân Thụy nầy.
- Em chịu thua.
- Có nghĩa là em từ chối khéo ha?

Tôi cười cười, vui vui nhìn Cảnh giả lả:
- Anh nghĩ sao về việc kia?
- Dễ thương đến thế là cùng.

“Dễ thương” theo nghĩa của Cảnh vừa vang lên, nghe hay hay thế nào ấy! Nó ẩn chứa cái gì đó vừa hờn mát, trách yêu lẫn dịu ngọt, hóm hỉnh ân cần vẫy gọi nhau thân thiết, như nước suối rì rào giao hoà, se sẻ chảy qua bờ bụi lau lách. Giống vết điêu khắc thần tiên sống động của nghệ nhân tài ba tạt trên đá. Không có nét dễ thương, thì bức vẽ sẽ không linh động, vô cảm, vô hồn. Tôi biết rằng người thanh niên lịch lãm đối diện với tôi đang thành tâm thật lòng yêu tôi, (chứ chưa hẳn là người tôi yêu). Tuy thế tôi không thể dễ dàng tự do, nhanh chóng, đường đột nhận lời Cảnh đi vào trường Võ Bị ngay. Vì; đây là lần đầu tiên tôi trực diện Cảnh, (trong căn nhà vắng lặng đến rùng rợn, mà "chỉ có hai người ú ớ dật dờ" và… khuya khoắt thế nầy). Tôi dám mời “người ta” vô nhà, trao đổi chuyện trò với một thanh niên mới quen biết vài tháng trước, cũng là điều quá đáng lắm rồi.

Chúng tôi ngồi nói chuyện về gia đình cha mẹ, bầy em của anh, Cảnh là anh Hai, trai trưởng mà! Tôi cũng nói về gia đình cha mẹ, anh chị, các cháu của tôi. Chúng tôi tếu tếu dí dỏm vui đùa cười nói với nhau những câu vớ vẩn, không thân mà chẳng nhạt, đôi khi đắt ý qua vài vấn đề nào đó, chúng tôi lại nhìn nhau đá lông nheo kịch kịch và khúc khích cười. Thế rồi không ngờ trong “tâm đầu ý hợp” vô tình và vu vơ, pha chút thi vị lãng mạn hữu duyên thật tình cờ kia, chúng tôi chụm đầu vào nhau, luyến lưu viết thành bài thơ: Tình Sương Cỏ

Muôn thuở tình anh sương về bên cỏ.
Thao thức đêm trường chuyện ảo không thôi.
Cọng cỏ rung rinh môi hứng sương rơi.
Thời gian lắng đọng sương giao tình đó.

Bẽn lẽn thẹn thùng cùng sương nói nhỏ.
Trăng tàn sao rụng sương giọt tinh mơ.
Sương rơi lốt đốp lá cỏ đợi chờ.
Cỏ ẩn vào sương bên bờ sông ướt.

Đào Nguyên thơ mộng cỏ non xanh mướt.
Đà Lạt ru đời hòa nhịp hoan ca.
Cọng Cỏ dầm sương kết lá đơm hoa.
Dãi dầu mưa gió giao tình muôn ngả.

Mộng ước đêm dài luyến thương nhánh cỏ.
Nhạc sương gieo tình cọng cỏ tơ vương.
Nhún nhảy dưới trăng hoa cỏ ngậm sương
Sương rơi rụng ướt cỏ vườn đêm vắng.

Bông cỏ ngậm sương nở hoa trăng trắng.
Tình yêu thiên nhiên quyện lẫn cỏ cây.
Nghê Thường luân vũ tấu khúc đêm nầy.
Sương tưới cỏ đời ngạt ngào hương ngát... (*)

Chuông giáo đường rộn ràng ngân vang báo hiệu giờ tan lễ nửa đêm Noel. Biết anh chị Tuế đi lễ sắp về, Cảnh từ giã tôi đi ra phố, anh đến tạm nghỉ ở nhà của anh chị bạn ngoài đường Phan Đình Phùng.
*

(*) Thơ Tình Hoài Hương

Tình Hoài Hương

Friday, December 29, 2017

Trở về Quê Hương bẽ bàng

Tình Hoài Hương


 “Quê hương trái đất nửa vòng.
Ngày thương đêm nhớ, những mong ngày về”.

Hành đứng lên lại nằm xuống, đi ra đi vào xem ti vi chiếu tin tức thế giới, xem “chuyện lạ Việt Nam”. Thỉnh thoảng trên ti vi Mỹ vẫn chiếu đi chiếu lại những cuộc biểu tình gay gắt cũ: Các phe nhóm chống chính phủ, các cấp lãnh đạo tôn giáo, các tổ chức chính trị, sinh viên học sinh rầm rộ phản đối, biểu tình, rối tung rối mù, mù… mịt trời đất, hầu hết diễn ra ở miền Nam Việt Nam. Trong khi ngoài chiến trường ở Việt Nam, vẫn sôi sục đêm ngày. Nỗi buồn đau bỗng trĩu nặng trên vai Hành, dưới đất vầng trăng như chiếc dĩa bạc sáng toả vằng vặc, soi rõ mọi thứ trong góc phòng bệnh viện.

Không biết làm gì hơn, là tối ngày Hành soạn va ly ra xem những gói quà to tướng sẽ mang về tặng thân nhân ở quê nhà. Hành dùng chất vitriol mà rửa những hình thể đá thạch bóng ngời, trông giống như màu da thật. Hành lại bồi hồi thở vắn than dài, thẩn thờ đóng mấy cái va ly vào. Các bạn cùng khoá hầu hết đang trở về Việt Nam, lâu lắm rồi! Chỉ còn độc nhất mỗi mình “ta cứ nằm ù lì lại”. Trước khi về VN, Vinh, Lợi, Bé, vân vân… đã đến chia tay bạn, họ xúm lại chọc quê anh:

- Thôi, yên trí đi, mầy cứ ở lại Mỹ “an giấc nghìn thu” hen.
- Nằm nghỉ ngơi cho sướng cái đít đi.
- Còn sống, thì mầy chộp cổ ngay một con Mẽo, con Xì… là “xong bén đời giai”.
- Tầm bậy! Sao xúi hắn an giấc ngàn thu?
- Vì, không bao giờ có ai nói: An giấc ngàn xuân cả.
- Vậy thì đừng biểu nó: An giấc ngàn đông nghen?
- Hãy an giấc ngàn hạ xuống, để tàn đời trai cho rùi.
- Xuân, Hạ, hay với Thu?
- Ư hừ!
- Mầy théc méc mần chi hỉ!
- Hổng chịu mở méc ra, coi tụi tao tôm gốp thùng bẹc két “rủng rỉnh xung xướng” đem tiền Mỹ đi dzìa Việt Nam nè.

Hành phải mòn mỏi chờ đợi chiến cuộc ở Việt Nam (qua tháng 4, khi giảm bớt cường độ giao tranh kinh khủng) tạm lắng xuống. Nghĩa là: Sau khi “phe ta” tái chiếm Sài Gòn. Đà Lạt. Huế. Khi nào “Cờ Bay trên thành phố Quảng Trị”, mới tính sau. Tết Mậu Thân 1968 Việt Nam đang xảy ra chiến trận. Đụng độ dữ dội giữa hai phe miền Nam Việt Nam và miền Bắc Việt Nam có chiến tranh. Những buổi tối, Hành nằm thao thức hằng giờ đăm đăm xem thời sự trên tivi, nhìn cảnh chiến tranh Sài Gòn đổ nát, chết chóc. Cộng sản tràn ngập vào Thủ Đô. Hành nghĩ thầm: “Thôi. Thế là hết”.

Mấy bạn Mỹ thường trêu:
- Làm sao anh về nước? Khi tay chân bó bột? Khi chiến tranh đang xảy ra liên miên?

Nhưng Hành quyết chí đòi họ cho anh về quê hương. Vì, ít nhiều gì, Hành vẫn mang canh cánh bên lòng mối tình hoài hương. Vã lại, toàn bộ gia đình ba má, anh, chị, em, các cháu của mình còn kẹt lại ở Việt Nam mà. Cũng có thể là: Hành còn nghĩ đến chút xíu tình với Trân Thư, nên anh nhất định đòi trở về Việt Nam. Đại bàng có bay xa bao nhiêu cũng phải dừng cánh, đàn ông có đi xa bao lâu, cũng phải có ngày trở về nhà. Ở Việt Nam có thể có người muốn đi du lịch ra ngoại quốc, còn anh trải qua bao tháng năm sống ở nước ngoài rồi, nay chỉ nôn nao mòn mỏi ngóng trông “tung cánh chim tìm về tổ ấm”, hạnh phúc thay khi có ngày mình được trở về quê mẹ thân yêu.

Ngày ngày... chẳng biết làm gì ngoài việc giết thì giờ nhàn rỗi quá chán ngán, Hành cùng những anh quân nhân thương binh Không-quân Mỹ cùng xúm lại coi thời sự trên ti vi, lúc nầy đài Mỹ chiếu đi chiếu lại chuyện lạ bốn phương: nhất là chuyện nóng hổi; ông Jean Bedel Bokassa, đã tham gia trong đoàn quân viễn chinh Pháp. 

Ông qua Việt Nam hồi thập niên 1950, Jean Bedel Bokassa (thuộc bộ tộc M’Baka ở Phi Châu) sinh ngày 22-2-1921 tại làng Bobangui, cách xa thủ đô M’Baiki (Phi Châu Xích Đạo - Equatorial Africa). Năm 1950, Trung-sĩ-nhất Bokassa là quân tình nguyện của Lục-quân Pháp, thuộc binh chủng lính Lê Dương (Légion étrangère), khi ấy Trung Phi vẫn là thuộc địa của Pháp. Năm 1953, ông Trung-sĩ-nhất Bokassa 32 tuổi, đóng tại Chánh Hưng, Sài Gòn (quận 8 bây giờ). Thời gian sang Việt Nam tham chiến, chàng Lê-dương Bokassa tây đen tăng cường về Biên Hòa làm nhiệm vụ gác cầu ở Cù Lao Phố (cầu Gành), nơi Cầu Gành có một máy nước công cộng. Ông ta đã “tò te” với một bà Việt Nam xồn xồn ở miền Tây Việt Nam. Bokassa mê cô Nguyễn Thị Huệ nghèo gánh nước mướn ở Tân Thuận Đông. Họ thuê một căn nhà nhỏ ở Tân Thuận Đông, quận Nhà Bè, nơi đơn vị anh ta đóng quân gần cầu Tân Thuận. Khi Huệ có bầu, thì Bokassa buộc lòng phải rời khỏi Việt Nam quay gót trở về cố hương. Bao nhiêu năm thăng trầm trôi qua, ông Jean Bedel Bokassa từ từ leo lên chức Tướng, rồi ông trở thành hoàng-đế Cộng-Hoà Trung-Phi. Tháng 1 năm 1966, Bokassa đảo chính, lật đổ David Dacko, tự lên làm tổng thống.

Năm 1966 hoàng đế Jean Bedel Bokassa sực nhớ đến người tình cũ và con gái, ông bèn gởi một văn thư nhờ bộ Ngoai Giao Pháp, chuyển đến Bộ Ngoại Giao miền Nam Việt Nam Cộng Hoà: xin họ giúp ông tìm con gái ruột tên là Nguyễn thị Martine. Biết bao lần Bộ Ngoại Giao ráo riết tìm kiếm, nhưng không thể tìm ra Martine. Họ bèn đem một cô gái lai da đen 19 tuổi tên Baxi (con bà Nguyễn Thị Thân ở Xóm Gà, Gia Định) giả làm con gái Tổng-thống Bokassa. Đúng là có một “nàng con” đến trình diện bộ Ngoại-giao, và cô gái nầy làm thủ tục xuất ngoại. Tổng-thống vui mừng tổ chức buổi tiếp nhận con rất long trọng.

Phần bà Huệ sanh con gái có làn da ngăm đen và hơi ngà ngà trắng, thì bà vui buồn lẫn lộn. Y như lời dặn dò của Bokassa, bà Huệ đặt tên con gái là Nguyễn Thị Martine. Thời gian mấy năm đầu, thỉnh thoảng Bokassa và bà Huệ có liên lạc trao đổi tin tức, sau đó do hoàn cảnh mỗi người, và nhất là không gian và thời gian xa cách biền biệt người góc biển kẻ chân trời, thì dần dần họ vắng bặt tin tức. Lớn lên, Martine là một cô gái nghèo khổ chịu khó giúp mẹ làm việc vất vả khuân vác tại nhà máy Xi-măng Hà Tiên, nhưng cô bé hiếu thuận và ngoan ngoãn. Nào ngờ, khi biết tin ấy, cậu ruột của cô gái Nguyễn Thị Martine đã đến toà soạn nhật báo Trắng Đen trình bày tự sự, cùng y chứng thư đầy đủ chính xác giấy tờ hộ tịch. Chính phủ và đồng bào khắp nơi ở miền Nam Việt Nam, “ồn lên” bàn tán sôi nổi về hai cô công chúa lọ lem. Không biết ai là thiệt, ai là giả?

Tin nầy đến tai vua Cộng Hoà Trung Phi. Hoàng Đế Bokassa lại gởi văn thư khác, xin Tổng-thống Thiệu cho “cả hai cô nàng công chúa”, đi tuốt về thủ đô Bangui, thuộc Cộng Hoà Trung Phi. Phái đoàn đại diện cao cấp Cộng hòa Trung Phi sang Việt Nam & ngoài phái đoàn ngoại giao Việt Nam, còn có: ông bà chủ nhiệm báo Trắng Đen, bà Nguyễn Thị Huệ, cô Martine, một tùy viên sứ quán Pháp đại diện Bộ Ngoại giao Pháp, và thông dịch viên. Họ đi Trung Phi. Tổng thống nhận ra người tình cũ, và cô con gái “công chúa Martine”, nên càng vui mừng khôn xiết, ông ra lệnh tiếp đãi phái đoàn Việt Nam như thượng khách. Ông cũng không ngần ngại nhận cô Baxi giả công chúa kia làm con gái nuôi. Bà Huệ trở về Việt Nam. Dù khi đó bà Huệ đã có chồng vẫn được lãnh trợ cấp mỗi tháng 200,000$ tại Pháp Á ngân hàng Sài Gòn. Thời điểm đó số tiền nầy rất lớn (do Tổng thống Bokassa cấp dưỡng).Thật là chuyện hy hữu ngàn năm có một không hai. Và hai nàng lọ lem sau một đêm hãi hùng đói khổ ở quê nhà, hôm nay đã tót lên đỉnh cao sang, phú quý trong ngôi vị công chúa. Thật là đời lên hương ngát, “xung xướng” tê người, họ lánh xa nơi vùng đất chiến tranh đang xảy ra liên miên. Chuyện duy nhất nầy có thật bàng hoàng thiệt.

*  *  *

Do sự cương quyết can thiệp của Thủy-quân Lục-chiến Hoa Kỳ, và Hạm-đội thứ Bảy, lúc đó họ mới cho Hành biết là: Sẽ đưa anh trở về Việt Nam. Cuộc đi kéo dài hơn cả tháng, vì cứ bay “nhảy cóc” như là mình đang bồng bềnh dạo chơi trên không trung, du hí vậy. Thoạt đầu, họ mang anh ra phi trường, khi Hành còn nằm trên cáng thương. Họ xách theo bốn va ly to tướng đầy nhóc quần áo, đồ đạc linh tinh & hai thùng carton lớn đựng quà dành riêng cho cô bồ, hai thùng nữa dành cho gia đình, và một xách tay samsonite đầy đủ thuốc men, do bác sĩ ghi toa chỉ định cách uống thuốc. Một mình Hành là “thượng khách” trên một phi cơ rộng lớn. Trong buồng lái chỉ có: Phi hành đoàn. Tiếp viên hàng-không. Bốn anh lính Không-quân thay nhau khiêng cáng, bưng đồ dùng của Hành. Hai bác sĩ quân-y. Một y-tá. “Phi Hành”. Hết. Ngoài ra không có ai nữa.

Bay đến Colorado, nằm lại ba đêm. Rồi bay qua San Francisco, nằm tại bệnh viện hai tuần. Hành ăn no rồi ngủ kỹ. Tự nhiên có một ngày Hành được đám phóng viên, truyền thông ở Mỹ đến tận nơi quay phim, đưa anh “oai dũng” hí hửng lên ti vi nữa. Tức cười thật. Họ bảo:

- Anh cứ “giả đò, làm bộ” anh chính xác là thương phế binh sống ở Mỹ, gốc người Hoa. Anh cầm phone gọi về nhà, nói chuyện với thân nhân gia đình anh nhe.

Thiệt tình! Xạo hết chỗ nói. Nằm tại San Francisco hai tuần, thì chiếc phi cơ C – 130 rất to, chở Hành đi. Lại vẫn chỉ có bấy nhiêu người cũ, tất cả lên phi cơ bay một lèo qua Clark Field (Phi Luật Tân). Họ lại đưa anh vô bệnh viện, nằm đợi thêm hai tuần nữa. Ôi là ngao ngán! Chỉ mong chờ bớt pháo kích ở miền Nam Việt Nam, thì anh mới được trở về Việt Nam. Những ngày đêm chờ đợi mòn mỏi, trông ngóng đợi chờ hoài, sao mà ta cảm thấy quá căng thẳng, lo âu, mệt mỏi và lâu quá chừng chừng! 

Thế rồi buổi sáng thứ Bảy giữa tháng Tư, năm Mậu Thân, chiếc C-130 hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhứt. Mặc dù khi phi cơ còn lăn bánh, chạy chầm chậm trên phi đạo. Họ đã hạ cái bửng phía sau đuôi phi cơ xuống. Ngay lập tức có một chiếc xe cứu thương, một xe cứu hoả, chạy cặp sát hai bên hông chiếc phi cơ C -130 chạy rề rề. Hai anh lính phi công Mỹ, ở bên xe cứu thương, liền nhảy phóc xuống dưới đường phi đạo. Họ chạy bộ rất nhanh, bưng cái cáng trống chưa có ngưởi, họ chạy qua bên chiếc C-130. Đồng thời trên phi cơ, hai anh lính Mỹ “áp tải thương binh Lữ Phi Hành”, họ nhanh nhẹn khiêng sẵn cáng tụt nhanh xuống đất.

Họ giao cáng thương cho người đứng dước đất ở Việt Nam nhận. Lúc xe cứu thương và phi cơ đang còn chạy chầm chậm, rề rề. Họ thảy bốn chiếc va ly to tướng, mấy thùng carton lớn, cùng tất cả đồ dùng, chiếc xách tay đựng thuốc men của anh xong. Phi cơ C-130 lo dzọt vút bay đi thật lẹ. Vì lúc nầy, tất cả xe cứu thương, phi cơ, đang ở trong tầm ngắm của hoả tiễn 122 hay 130 bên “phe kia”, nằm đâu đó ngoài vòng phi đạo. Phi cơ tăng tốc độ, chạy một đoạn ngắn. Cất cánh bay bổng. Hai chiếc xe cứu hoả, cứu thương lo rẽ vào đường Taxiway. Họ đưa Hành qua bên bệnh viện dã chiến số 3. (Third Field Hospital). Vài ông Mỹ ngồi bên cạnh nói:

- Are you crazy?
- Coming back to Việt Nam?

Phi Hành hoảng hốt la lên:
- Ô! Các anh lầm rồi. Tôi là người của bên Không-quân Việt Nam. Không phải bên Không-quân Hoa Kỳ.

Họ vội quay đầu xe, đem Hành bàn giao qua bên Không-quân Việt Nam. Úi Trời! May mà ông Mỹ kia không nói, chắc là anh sẽ “bị” quay trở về Mỹ mất rồi! Gặp bác sĩ Thành khám anh rất kỹ. Ông định cho Hành xuống nằm ở bệnh xá Không-quân. Hành năn nỉ bác sĩ quá:

- Em du-học suốt ba mươi lăm tháng rồi. Nhớ nhà quá. Em còn chống nạng đi đứng tốt. Xin bác sĩ cho phép em về thăm ba má. Nhà em ở gần đây. Sáng thứ Hai, em xin trở vô bệnh viện.

- OK.

Thế là bác sĩ kêu xe cứu thương cho chở Hành về, xe đậu ngay trước cửa nhà. Lữ Phi Hành mặc bộ quần áo ở bệnh viện, chậm bước dưới phố chiều Sài Gòn rực nắng tươi. Mọi người và cảnh vật vui tươi huyên náo lạ! Lòng ta cảm thấy vui và hồi hộp không thể tả! Hai binh sĩ Việt Nam khiêng, xách, vát bốn va ly, mấy thùng quà bước lên thềm nhà trước Hành. Ba của anh đang ngồi đọc báo trên sofa, ông đứng lên, hoảng hốt nhìn kỹ. Ông liền chạy đến, ôm chầm lấy con, kêu lên rất to:

- Trời ơi! Thằng Lữ Phi Hành đã về rồi nè.

Ba khóc. Lữ Phi Hành khóc. Bà má chạy ra, mừng rỡ níu lấy cổ con, hôn chùn chụt và khóc rống lên. Các chị, em, ở trên lầu ba, lầu bốn, vụt chạy xuống, họ xôn xao mừng rỡ và khóc oà. Cả nhà đều choáng váng và bất ngờ tột độ. Vì anh không hề báo trước về chuyện anh sẽ trở về Việt Nam. Hành muốn dành cho gia đình mình một sự ngạc nhiên thú vị mừng vui tuyệt vời. Thật là một cuộc đoàn tụ bất ngờ. Kinh hoảng mà đầy nước mắt hân hoan vui mừng trào lên bờ mi “kịch tính”. Lạ lùng như vậy đó. Quả đất tròn vo, tưởng là to lớn lắm! Ấy thế mà, khi đi xa nửa quả địa cầu, nay trở về quê hương, hoá ra Hành vẫn thấy nhỏ ha.

Ngay lập tức, ba anh gọi phone cho “em Trân Thư yêu rấu” biết tin “ngày trở về của anh thương binh bước lê trên quãng đưởng đê”. Hành nóng lòng nóng ruột nôn nao đi ra, đi vào, chờ đợi cuộc trùng phùng thật tình cờ. Hành đang nằm lim đim trên sofa, thì cô ta đến. Trông Trân Thư chẳng vui vẻ, hân hoan mừng rỡ, hay lo âu cuống quít một mảy may gì! Nét ưu tư, lỡ làng gượng ép dường như hằn rõ lên gương mặt Thư đã héo hon rồi. Thế là, Hành và cô ta lúng túng, e ngại hững hờ ngồi trên sofa, nói những câu chuyện hết sức vô duyên, nhạt nhẽo hơn nước ốc, gượng ép, ngượng ngùng và xa lạ, chả ra môn ra khoai gì. Cô ta luôn cúi đầu xuống, hay sượng sùng né tránh cái nhìn lặng lẽ của anh. Sau khi Thư cho Hành biết: cô ta đã đổi nhà, dọn lên đường Phan thanh Giản, cô ta vội vội vàng vàng đứng dậy, cáo từ. Cuộc gặp gỡ nầy chưa đầy mười phút. Hành vội hẹn Thư hôm sau sẽ lên đón cô ta đi ăn sáng. Cô ta ấp úng, ngập ngừng, lưỡng lự, do dự ậm ự... rồi nhẹ gật đầu.

Bây giờ, mặt đối mặt, diện kiến trực tiếp, anh kiểm chứng lại điều nầy: Thái độ ngượng ngùng của Thư đang trả lời anh thật là rất chính xác. Nên anh đã chuẩn bị tinh thần, từ cái nhìn xa lạ hững hờ dè dặt đầu tiên, chỉ sau hai năm xa cách biền biệt, nay mới gặp lại. Không có gì khó hiểu đâu. Xa mặt cách lòng! Xa nhau, dĩ nhiên có nhiều thay đổi (khi con người không có sự trung kiên, không có tình yêu chân thực. Tình yêu chỉ là sự chọn lựa trên địa vị, danh vọng và tiền tài. Thì tình cảm cũng dễ dàng thay đổi chớp nhoáng, bạc bẽo theo).

Hành đã biết ngay từ dạo còn ở Mỹ. Khi Thư nghe hung tin anh báo bị tai nạn phi cơ. Lẽ ra, như bao người yêu chân tình, hay những vị hôn thê thủy chung khác, họ sẽ tỏ ra cuống quít âu sầu, lo lắng, ngày ngày thư từ, hoặc gởi điện tín tấp nập hỏi thăm người yêu rối rít. Đằng nầy... lúc Hành vừa qua Mỹ, và trước khi anh bị tai nạn, thì mỗi tuần Thư viết cho anh ít nhất vài ba lá thư. Nhưng kể từ khi biết “anh lâm nạn”, kể từ đó đến nay hơn hai mươi tám tháng, thì cô ta đã tỏ ra lạnh nhạt, lâu thật lâu cô ta mới “nhỏ giọt” có vài hàng chữ “cầm hơi” rồi... im bặt. Ở Mỹ anh luôn suy nghĩ: Chẳng lẽ Thư bây giờ sinh tệ như: “sông sâu có thể bắc cầu. Lòng người thâm hiểm, biết đâu mà dò”! Thì cũng phải... Hành bây chừ chẳng khác nào: Làm trai cho đáng sức trai. Khom lưng chống gối gánh hai “hạt vừng”. Khổ nỗi người ta làm trai còn chống gối vì hai hạt vừng, còn tôi đây chỉ còn “một hột” cũng chả xong...

Buổi sáng, Hành lái chiếc xe bedford đi lên điểm hẹn chờ Thư, anh chỉ đậu xe ở xa xa. Vì Thư nói:

- Em không muốn cho người nhà em biết chuyện hẹn hò nầy.

Lúc bấy giờ, chân phải của anh đã hoàn toàn cưa cắt bỏ băng bột, nhưng còn phải chống nạn, và đi khập khễnh (cho tới bây giờ. Tuy thế, nếu ai không nhìn kỹ, và anh không đi nạng, thì ít ai lưu ý điều nầy). Loại nạng đặc biệt do bên bệnh viện Hoa Kỳ chế tạo riêng. Vì, tay phải của Hành vẫn bó bột, đã đặt ở độ cong 90o. Nên chiếc nạng bình thường được lắp thêm cái tay, để anh có thể tựa cả cùi chỏ lên mà làm điểm tựa, và anh đi vững vàng chắc chắn hơn nhờ có thêm cái nạng.

Thư lấm lét nhìn anh, vẻ mặt ngượng ngùng, e ngại, bối rối. Thấy thế, tự nhiên Hành cũng lúng túng ngượng ngùng không kém. May là Hành lo xa đã mặc bộ đồ bay màu xám đính huy hiệu con rồng thè lưỡi trước ngực áo, mà cô ta còn tỏ thái độ lấm lét ngượng ngùng ái ngại rụt rè như thế. Nếu chẳng may anh chỉ là tên lính quèn, nghèo xơ nghèo xát; thì ắt hẳn hồi xưa Thư sẽ chả bao giờ ngó ngàng, hay tự động làm quen Hành trước đâu nhỉ! 

Hai người đến tiệm ăn Sing Sing ở đường Phan đỉnh Phùng. Khi anh và Thư bước vào tiệm, thì hầu như tất cả thực khách thân ái và đầy cảm tình dồn mắt nhìn về phía “tụi tôi”. Một thiếu úy phi công, lái chiếc xe hơi bedford diễu qua phố, đậu ngang trước nhà hàng, rồi chống nạng đi với người đẹp! Khiến ai ai cũng ưa thích ái mộ về sự phô trương, lác mắt vì thời thế tạo anh hùng thế thời phải thế. Chắc ai ai cũng nghĩ anh bị tai nạn xe cộ. Vì, nếu là phi công thì... ít khi có ai què quặt, hoặc lành lặn trở về nhà sau một phi vụ không chiến.

Hôm qua, lần đầu tiên mới nghe bản nhạc “Kỷ vật cho em” của Phạm Duy, trong đó Hành nhớ mang máng hình như câu nầy:... “Anh trở về trên đôi nạng gỗ, anh trở về bại tướng cụt chân, bên người yêu tật nguyền chai đá” - (hay là... “ngập ngừng cay đắng... Phải không em Thư ui!). Hành mỉm cười luống cuống vụng về, vướng vít tí chút khi tay ôm cái nạng gỗ cho dựa vô góc tưởng. Hành run run tỳ chống một tay mà lết đít tự ngồi vào ghế. Thư thản nhiên gần như dửng dưng nhìn, và tự động ngồi đối diện với anh Sau đó đầu cô ta luôn đăm chiêu cúi gầm xuống mặt bàn, lâu lâu cô ta ưa liếc nhìn trộm anh. Cái nhìn dường như có ý đồ bất chính nào đó, mà lúc nầy Hành không thể hiểu nỗi. Thư chẳng thèm nhìn thẳng vào mặt anh, không hề hỏi thăm thương tích của “anh” ra sao rồi? Hoặc giả nếu cô ta có “vờ như” ân cần vui vẻ, liếng thoắng nói câu an ủi vỗ về nào (khác hẳn như hồi xưa). Thì anh sẽ tin và không bao giờ nghĩ xấu về những “hành vi lố bịch” lúc bấy giờ... chẳng qua là một “tai nạn nghề nghiệp”. Hành ngao ngán kín đáo và thất vọng thở dài, anh cũng chả cần hỏi thăm Thư hiện nay ở quê nhà Thư thay đổi tới đâu!?

Cứ thế, cả hai người cúi gầm đầu, im lặng ăn ăn, húp húp và uống uống... mệt nghỉ. Nghẹn đắng cổ họng khô lông lốc. Ăn xong, anh lặng lẽ đứng dậy khập khễnh từng bước đi tính tiền. Hai người đi ra khỏi tiệm. Ngồi trong xe riêng tư bây chừ lại càng khó chịu hơn, chả bù cho ngày trước khi anh đi Mỹ, thì một tay anh cầm lái, còn một tay Hành vòng qua kẹp cổ nàng ôm ôm bóp bóp, nắn nắn chỗ nầy chỗ nọ... Còn Thư thì tay bận rờ mó cổ, bấu víu tai tóc và rờ bụng nắn ngực của anh, thỉnh thoảng cô nàng chồm qua hôn anh chùn chụt, miệng nói tía lia: “em yêu anh, em nhớ anh quá”. Nhưng... gặp nhau lần nầy thiệt quá xa lạ, bẽ bàng đến độ xót xa, dường như Hành và Thư chưa hề có một thời gian thân mật đậm đà yêu thương nồng nhiệt, khắng khít hơn vợ chồng trước suốt thời gian anh chuẩn bị đi Mỹ, hay sao ta?! Bi giờ coi Thư có thái độ quá dị hợm, xa lạ... xa lắc xa lơ, bẽ bàng, trơ trẽn đến độ thê thảm

Trước khi thả Thư xuống lề đường, nơi gần nhà cô ta, vì Thư muốn như vậy. Hành hỏi:
- Bao giờ... anh mới có thể gặp lại em?

Hoàn toàn im lặng. Không một cái lắc đầu hay gật đầu. Càng tệ hại hơn không có cái liếc nhìn, mà cúi gầm xuống đất, không có câu trả lời.

- Cho anh xin số phone nha.

Lắc đầu quầy quậy. Im lặng. Không cho. Âm thầm lặng lẽ chia tay nhau ra về. Thật hết rồi: “Yêu nhau sinh tử cùng liều. Thương nhau lội suối qua đèo có nhau” mà! Ở đây Phi Hành và Trân Thư: Chẳng thà không gặp thì thôi. Gặp nhau rồi, cùng phơi bày những điều quá trắng trợn, càng buồn đau và tủi hờn hơn. Thế thì... quá rõ ràng rồi. Còn nghi ngờ gì nữa!

Sông sâu có thể bắc cầu.
Lòng người nham hiểm biết đâu mà mò.
Sông sâu còn có kẻ dò.
Lòng người nham hiểm ai đo cho tường. (*)

Ngay lúc đó, Hành quẹo xe lái một mạch vào bệnh xá Không-quân. Sau khi khám xong, ông Thiếu-tá bác sĩ phi hành cho biết:

- Mọi việc đều ổn.

Xem xét tập hồ sơ bệnh án dày cộm của anh, ông bảo:

- Cứ ở lại đây mấy tuần. Tôi theo dõi anh. Sẽ quyết định sau.
- Xin bác sĩ vui lòng cho em về nghỉ. Nhà em ở rất gần đây.
- Anh đến đây bằng cái gì?
- Em tự lái xe hơi đến.

Ông trố mắt, kinh ngạc nói:
- Ôi! Chết rồi. Làm sao tay chân anh như vậy, mà tự lái xe đến? Không được đâu. Để tôi cho xe đưa anh về. Từ ngày mai sẽ có xe cứu thương đến, rước anh vào đây khám, rồi có tài xế đưa anh về.

Hành đành phải tuân lệnh thôi. Nhưng, mỗi ngày khi khám bệnh xong, chú tài xế Trung-sĩ vừa đưa anh ra khỏi cổng Phi Long, Hành liền bảo chú dừng lại, anh cho chú ta ít tiền, và nói:

- Chú không phải đưa tôi về nhà nhé. Tôi tự lái xe được. Ngày nào cũng thế. Chú cứ đậu xe, chờ tôi ở chỗ nầy. Tôi gởi xe ở chỗ người bạn. Đơn vị anh ấy làm ở phòng an ninh phi trường. Rồi, chú chở tôi vô bệnh xá thôi. OK?

Dĩ nhiên là chú ta rất vui mừng. Vì chẳng mất công đưa đón, mà mỗi ngày Hành còn tặng chú vài trăm đồng, để chú uống cà phê.

* * *

Dẫu sao thì trong lòng Hành cũng bứt rứt không vui, ba tuần nay anh ưa lái xe lảng vảng đến gần nhà Thư. Có mấy lần Hành lái xe đến đậu thẳng vào bên mé cổng. Khi anh bấm chuông, thì thấy Thư hăng hái bước ra thềm. Rồi... chợt Thư ngước nhìn thấy Hành, nên cô ta vội vã thụt lùi, vụt lui nhanh vào phía sau phòng khách. Chờ một lúc khá lâu, Hành bấm lại mấy lần chuông. Người nhà ra cổng, nhìn anh ú ớ lạnh lùng:

- Cô Thư... đi vắng rồi.

Lần sau. Lần sau. Lần sau nữa... vẫn cứ thế! Dĩ nhiên Hành thất vọng và thật buồn. Nhưng thôi, anh đã hiểu. Khi con người đã tàn nhẫn quay lưng đi, thì nếu mình cố níu kéo, càng vô ích và thêm mang nhục. Dù rằng anh rất muốn mọi chuyện yêu đương giữa Thư và Hành: nên giải thích rõ ràng, minh bạch, hầu: “cư xử với nhau, không gì hay bằng nghĩa. Và không có gì quý bằng nhân”. Sau nầy, nếu hai người có vô tình hay hữu ý gặp lại nhau, cũng không thể bẽ mặt bôi tro trét trấu, dị hợm nói xấu nhau chả ra gì. Thật là anh đã rất lầm khi yêu Trân Thư. Một mối tình không xứng đáng với lòng tin yêu nồng nhiệt thân thiết của mình.

Một ngày kia, Thư phone đến, biết Hành đi vắng nhà. Cô ta khệ nệ bưng đem trả lại anh tất cả thư từ, hình ảnh, và quà bánh mà anh đã gởi tặng Thư, nhiều thật nhiều. Ba má của anh nói Thư ráng ở lại chút, chờ Hành về, hai người ngồi lại nói chuyện phải trái sau. Cô ta lắc đầu quầy quậy. Cộc lốc nói:

- Không. Cháu bận.

Người ơi gặp gỡ làm chi
Để rồi hai đứa chia ly hai đường. (*)

Sau cú chia tay “tuyệt đẹp của cô ta”, Hành sống những tháng ngày trôi qua rất vô vị, chán chường và hụt hẫng biết bao! Hành trôi lênh đênh như con thuyền không bến đậu. Trước ngày đám cưới Thư, cô ta nhờ Hiền, (bạn thân của cô ta) Hiền gọi phone tới nhà gặp anh, để “bắn tin”:

- Thư lấy chồng, để “trừ cấn món nợ” cờ bạc khổng lồ, vì bà dì mắc nợ ông chồng của Thư đó.

Bỗng dưng anh sảng khoái cười xoà. Úi trời đất qủi thần thiên địa ơi! Gạt đứa con nít, có lẽ nó còn kinh ngạc nữa là. Nghe giống y hệt chuyện “nàng Kiều lâm nạn thời nay”!! Nợ của bà dì, thì mắc mớ chi mà cháu gái họ xa xôi (nếu dùng củ cà nông bắn đi, chưa chắc đã trúng họ với hàng) mà cháu hờ… ấy phải nai lưng ong nuột nà ra, để gánh vác, đỡ đần cho họ (chứ không phải nợ của cha mẹ), hoặc là cô ta vì mắc nợ ông chồng cao cấp, danh giá giàu sang, nên trừ cấn cho dứt điểm “món nợ hồi môn” ấy!? Cô nàng “hy sanh” cuộc đời son trẻ, tương lai rạng rỡ, và hạnh phúc tình yêu?! Ô là là... Sao nói dối ngọt xớt thế, mà không biết ngượng? hả trời!!!

Ngày Thư làm đám cưới, là đúng vào ngày đầu năm dương lịch, ngày ấy không xa ngày mà Hành đến bên cổng nhà nhìn Trân Thư núp lén sau rèm, cô ta không muốn gặp mình bao lâu, Hành đã lái xe đến đậu ở bên kia bưu điện Sài Gòn sớm hơn nửa giờ. Anh ngắm nhìn xe hoa chở cô dâu chú rể trờ tới. Hành để ý quan sát tỉ mỹ thật kỹ: Rõ ràng Trân Thư không hề có cử chỉ ủ dột, miễn cưỡng, hay lo buồn, bâng khuâng thương tiếc người tình xưa, lẫn tiếc thương thân phận mình khi phải “ hy sanh bán mình” chuộc nợ cho “bà dì khả ố” nào cả. Ngược lại Thư đang hân hoan, hí hửng, khoan khoái, ung dung vui vẻ lí lắc rìu rịt cặp tay chồng. Nói đúng ra cô ta chẳng hề có chút nào bị gượng ép, bị ép buộc đi lấy chồng để trả nợ đậy cho bà dì, trái lại coi cô ta rất lả lơi, tình tứ nép sát vào ngực chồng, hai anh chị một già một trẻ dung dăng dung dẽ cùng tiến vào vương cung thánh đường Đức Bà Sài Gòn. Không hiểu ở trong nhà thờ Trân Thư có thở than cùng Chúa:

Người đâu gặp gỡ làm chi.
Để cho khổ thế còn gì tuổi xuân?
Chúa ơi! Con khổ vô ngần.
Chúa mà không giúp là thân con tàn.
Con đang thiếu nợ trăm ngàn.
Nhìn đồ “chồng” sắm hai hàng lệ rơi.
Con quỳ lạy Chúa trên trời.
Giúp cho con trốn được người con yêu. (*)

Hành ngồi trong xe hơi, lặng câm thừ người ra suy nghĩ: Buồn bã mất mươi phút. Khi thật sự nhìn thấy và hiểu ra… anh vui vui chút ít. Nên kết thúc xong một chuyện tình mà Hành cứ lầm tưởng là “đẹp như giấc mơ hoa dâm bụt”. Dẫu sao thì... khi xưa đã rất nhiều lần anh giăng rộng vòng tay ra ôm ấp ghì siết Trân Thư đắm đuối si dại để tình tự. Hành cùng đi chung với cô nàng trên một đoạn đường đời luyến ái khá dài. Khá dài... khoảng trên dưới một năm khi ở cùng nhau thuở trước... cũng đủ để thấm đượm nỗi vui mừng ái ân cuống quít, hay hờn ghen nho nhỏ về chuyện ngày xa xưa. Hành đã cười trên nỗi đắng cay bẽ bàng vô duyên tệ lậu của đời mình. Ha Ha Ha!!! Anh mạnh dạn lái xe đi về nhà, cảm thấy lòng nhẹ nhõm, hết băn khoăn, sầu muộn. Quả thật đúng như thế, chẳng lẽ anh “rên”:

Người đi một nửa hồn tôi mất...
Một nửa hồn kia... đứng chửi thề! (*)

Sau nầy, khi đã an cư lạc nghiệp ở Mỹ, ly dị ông chồng già khú nhưng giàu sang và đầy danh vọng xong. Cô ta gọi phone về nhà anh, tò te ỏn ẻn nỉ non tha thiết nói: 

- Lúc em xa anh, mà đi lấy chồng đó; không ai hiểu được em đâu. Em hy sinh vì bà dì mà thôi.

- Thì vâng! Anh hiểu! Hô hô hô!!! 

Tình Hoài Hương

Blog Archive