Showing posts with label Nguyễn Thị Hữu Duyên. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Thị Hữu Duyên. Show all posts

Tuesday, February 3, 2026

TÔI ĐI LÀM HÃNG AMAZON


TG cùng các đồng nghiệp trong hãng Amazon (hình do TG cung cấp)

Làm ở hãng Amazon khác hẳn các hãng khác. Nghe nói ai cũng thấy lạ nhưng đó là sự thật. Trước đây tôi đã từng làm ở hãng phụ tùng máy bay một thời gian ngắn rồi nghỉ. Làm thử chỗ này chỗ nọ cũng không xong cuối cùng thì lăn lộn trong các tiệm Nails cho đến tháng 3/2020.

Biến cố lớn xảy ra trên thế giới, Mỹ cũng không miễn trừ Covid 19 lan tràn, nhiều công ty, cơ sở làm ăn, mua bán phải đóng cửa kể cả ngành nails. Tiệm nails tôi làm cũng không tránh được thực trạng này, buộc phải đóng cửa vì an toàn cho sức khỏe mọi người.

Sau khi hưởng tiền trợ cấp thất nghiệp được ba tháng, tôi tình cờ dạo Facebook thấy công ty Amazon tuyển nhân viên kho hàng (warehouse) vì khi Amazon đóng cửa trong lúc cao điểm cơn dịch nhiều người đã nghỉ việc ở nhà sống bằng tiền trợ cấp, chờ qua dịch sẽ đi làm lại. Xã hội lúc bấy giờ trong tình trạng không làm nhưng ăn thì vẫn ăn, mặc thì vẫn mặc, mà đi chợ thì không dám vì sợ lây nhiễm. Do đó nhu cầu đặt hàng online bỗng bùng phát, khi công ty mở cửa lại thì thiếu nhân viên trầm trọng.

Tôi hỏi thăm bạn bè về công việc làm ở Amazon, ai cũng ngăn cản, “Cực lắm đó, mỗi giỏ hàng nặng tới 25kg làm nổi không?” Tôi há hốc mồm: “Ghê vậy? Thật không?”

“Thật mà, anh mình từng làm ở đó về than quá trời!” Bạn vừa nói vừa lắc đầu liên tục. “Nghĩ sao từ trước đến giờ làm nails công việc nhẹ nhàng nay bưng bê những giỏ hàng nặng như vậy không làm nổi đâu.” Thấy tôi nín thinh bạn tiếp tục góp ý.

Tôi bèn hỏi ông xã cho ý kiến nên làm hay không?

“Tiền trợ cấp thất nghiệp trong mùa dịch có thời hạn. Hãy cứ xin vào làm thử nếu không nổi thì em nghỉ cũng được mà.” Anh nói phân hai.

“Nhưng em lớn tuổi rồi sợ họ không nhận, hơn 63 tuổi rồi chứ đâu còn trẻ nữa.” Tôi e ngại.

“Ở Mỹ họ không kỳ thị tuổi tác hay tật nguyền, em không thấy có những người ngồi xe lăn vẫn được nhận làm theo khả năng và nhu cầu công việc hợp với họ đó sao? Cứ nộp đơn nếu không được nhận thì không làm, đơn giản thôi em.” Anh khích lệ.

Sau mấy ngày suy tới tính lui, nỗi sợ bị lây nhiễm, nỗi sợ không làm nổi vì lớn tuổi, nỗi sợ không giỏi tiếng Mỹ… Nhưng quan trọng nhất là sợ thu nhập kém vì lương khởi đầu $15 một giờ mà phải bị trừ thuế ngay mỗi check. Nếu làm trọn thời gian mỗi tuần chỉ được $600 chưa trừ thuế, trong khi ấy tiền trợ cấp thất nghiệp gần $800 một tuần do lúc làm nails lương tôi cao, tiền trợ cấp thất nghiệp căn cứ vào tiền thuế tôi đã đóng.

Đi làm sẽ ít tiền hơn nhận trợ cấp thất nghiệp, trong khi ấy nếu cứ nhận trợ cấp chờ tiệm nails mở cửa lại làm nhiều tiền hơn làm hãng. Tay nghề thợ bột hơn 18 năm, thu nhập của tôi không dưới một ngàn đôla một tuần.

Điều khiến tôi đắn đo thứ nhì là về giờ giấc làm việc, ca 3:20am đến 11:50am, năm ngày một tuần, 8 tiếng một ngày. Từ trước đến nay đi làm nails thường là chín giờ sáng mới ra khỏi nhà, không thức khuya dậy sớm gì cả, nay phải thức 2:30am để chuẩn bị 3:00am phải ra xe đi làm có thức nổi hay không? Haiza sao mà ngại thức sớm quá, suy tới, nghĩ lui mà từng tiếng ong ong cứ vang trong đầu.

Cuối cùng lòng tự trọng và ý thức trách nhiệm của một công dân đã thắng. Tôi không muốn là kẻ vô dụng, không muốn là gánh nặng của xã hội, không muốn ngồi hưởng tiền trợ cấp (mặc dầu cũng có tiền tôi đã đóng thuế). Tôi quyết định nộp đơn xin việc qua online. Đơn xin việc gửi đi tôi nhận được email báo sẽ trả lời trong vòng hai ngày.

Đúng hai ngày tôi nhận được email hẹn 3 ngày sau đi phỏng vấn. Khi ấy tôi đã lớn tuổi mà họ cũng nhận nên vừa mừng vừa lo (tuổi này ở Việt Nam là phải về hưu rồi). Mối lo lớn nhất là sợ làm không nổi, mối lo thứ nhì là sợ “anh nói anh nghe,” mặc “tôi tôi làm”… Tiếng Mỹ của tôi mặc dầu không tệ, tàm tạm, tôi làm nails hơn 18 năm, vốn liếng về đàm thoại thông thường để nói chuyện với khách và nói về nails thì cũng được nhưng… vô công ty lớn như Amazon không biết có đủ trình độ nghe và hiểu để nói và làm việc không? Đêm cứ trằn trọc mắt cứ mở trừng vào khoảng tối mênh mông không thấy hai chữ tương lai chỗ nào.

“Cứ đi phỏng vấn, được thì làm không thì thôi ai dám la mà em sợ? Em khá Anh văn mà, chỉ sợ chửi lộn không được thôi.” Ông xã lại khích lệ, lại đùa nên tôi cũng an tâm phần nào.

Trước khi đi phỏng vấn, công ty đã gửi những clip về công việc và về luật lệ như cách ăn mặc, tóc tai thế nào cho tôi xem trước. Họ dặn dò những gì cần mang theo để phỏng vấn, tất cả đều liên lạc qua email.

Đi phỏng vấn.

Amazon mướn một cái sảnh của khách sạn lớn, họ sắp xếp mỗi bàn cách xa nhau khoảng 10 feet (hơn hai mét). Bàn soát giấy tờ, bàn phỏng vấn, bàn hỏi thêm thông tin nếu đậu phỏng vấn… Họ làm việc rất chuyên nghiệp, không ồn ào hay lộn xộn, từ ngoài sân là có bảng hướng dẫn từng bước. Đó là thời cao điểm của dịch Covid 19, mọi người đều bắt buộc đeo mặt nạ, đứng cách nhau 6 feet, ở bàn nhận diện ID mở mặt nạ cho họ nhận dạng gương mặt.

Nói là phỏng vấn nhưng thực ra họ chỉ xác minh thông tin cá nhân, địa chỉ, số an sinh xã hội và hỏi có thích công việc làm trong kho hàng không? Có đồng ý tuân theo quy định công ty không? Tất cả những câu hỏi này tôi đều hiểu hết và trả lời đầy đủ cả. Sau đó họ cho biết tôi đã được chấp thuận, về nhà học việc qua email và sẽ được báo ngày bắt đầu vào làm.

Tôi về xem clip dạy cách làm việc đồng thời làm 8 bài kiểm tra sự học biết thế nào, tôi trả lời đúng 80-90%. Không thể không nói đến hai clip đầu tiên rất hay, họ dạy về nhân cách và ứng xử của nhân viên với nhân viên, nhân viên với công việc, nhân viên với lãnh đạo. Không được nói xấu nhau, không được nhiều chuyện về công việc của hãng hay về manager. Không được tấn công tình cảm người khác phái. Không làm cho đồng nghiệp mất tự tin trong công việc, không hù dọa, không gây cãi với nhau. Có thương tích trong khi làm phải viết báo cáo với manager ngay, có gì ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân trong công việc như đau vai, đau lưng hay đau cổ, tay, chân cũng báo cáo để ngừng làm việc đó,… Nói chung là nhân viên rất được tôn trọng theo như điều lệ của họ.

Ngay hôm sau tôi được email báo tin tuần sau đi làm.

Tôi đi làm. Thế là từ một thợ nails cầm từng ngón tay, ngón chân nhỏ xíu của khách hàng tôi trở thành một nhân viên của công ty bán hàng online có mặt khắp nơi trên thế giới, công ty AMAZON.

Ngày đầu manager hướng dẫn thực hành những gì đã được học qua video. Thực sự công việc vô cùng đa dạng, nhưng không khó như mình tưởng, chỉ là nặng hơn sức của tôi.

Thành thật mà nói sau ngày đầu tôi đã muốn bỏ cuộc (vì chưa từng lao động chân tay). Mặc dầu các đồng nghiệp luôn hỗ trợ, manager thì luôn có mặt giúp đỡ khi mình làm sai hoặc có điều gì không hiểu, tinh thần làm việc theo nhóm.

Công việc thường làm hàng ngày là: pull hàng (kéo), push hàng (đẩy), stowing hàng (xếp), pick hàng (nhặt), và một vài việc khác thuộc chuyên môn được hướng dẫn riêng một ít người làm thôi. Như repack là gói lại hàng hay đóng lại thùng bị hư bể, …
Phải mang những giỏ hàng từ 20-25kg chất lên những xe đẩy thành ba hàng ngang và ba hàng cao trong giờ “pick hàng.” Tôi thấp nên hàng thứ hai đã cao hơn đầu, phải tìm cách để đưa giỏ hàng thứ ba lên cho đủ mỗi xe chín giỏ (ba giỏ chiều ngang, ba giỏ chiều cao.) Chỉ cần hiểu mấy từ chính của công việc thôi thì làm được. Không cần biết nói tiếng Anh nhiều.

Ngày thứ nhì. Làm một mình mà không có manager theo kèm. Vì bệnh hay quên, tôi cứ bỏ qua những bước cần thiết nên thiết bị làm việc cứ kêu um sùm báo lỗi, manager phải đến sửa dùm nhiều lần trong một giờ. Tôi nghĩ thầm chắc họ sẽ cho nghỉ làm chứ nhân viên như tôi làm không chạy việc được. Ấy vậy mà không như tôi nghĩ, họ sắp xếp cho tôi làm việc khác vào hôm thứ ba.

Công việc safety (chỉ có trong mùa dịch). Mỗi ngày nhiệm vụ tôi là ngồi nơi phòng ở cửa ra vào building công ty đo thân nhiệt (trên trán) cho mỗi nhân viên vào làm. Ai nóng sốt thì yêu cầu về nghỉ. Sau giờ cao điểm ấy thì tôi sẽ cầm cái cây có đèn chớp xanh, đỏ, đi vòng vòng building nhắc mọi người giữ khoảng cách sáu feet và đeo mặt nạ che kín mũi. Thời điểm đó đa số đều chưa quen với việc đeo mặt nạ nên họ cảm thấy ngột ngạt, khó chịu và hay kéo xuống dưới cằm thấy tôi đến thì họ kéo lên. Họ hay tụm lại nói chuyện trong giờ giải lao mà không giữ khoảng cách sáu feet, tôi cũng phải nhắc. Thấy bóng tôi từ xa đi tới thì các bạn ấy nhốn nháo “Safety officer tới, safety officer tới,” để nhắc nhau rồi cười rần, tôi nhịp nhịp cây vào khoảng không cười ha hả với họ.

Làm safety tôi phải đi bộ vòng vòng một buổi trung bình 18 - 20 ngàn bước làm tôi mỏi chân vô cùng vì giày safety nặng hơn giày thường. Lại thêm bị đau chân vì giày loại có thép bọc đầu cho an toàn mang chưa quen. Tối nào cũng phải ngâm chân vô nước nóng pha muối và nhờ ông xã xoa bóp.

“Chắc không xong rồi anh ơi. Ráng làm đủ tuần rồi nghỉ.” Tôi than thở.

Ấy vậy nhưng sau giấc ngủ thì thấy đôi chân khỏe hơn tôi lại bật dậy tiếp tục đi làm. Ngày qua ngày cũng quen dần nên tôi làm safety cho đến khi có Vaccine thì trở lại vô làm các việc như mọi người.

Lúc này tôi đã rành hết các công việc rồi vì khi làm safety tôi đi vòng vòng ai nhờ giúp thì tôi giúp cho họ đi toilet nên tôi biết làm tất cả các thứ. Manager hỏi tôi cần huấn luyện lại không, tôi nói không cần, họ khen tôi thông minh (smart lady), tôi chỉ biết cười và cảm ơn (thầm cầu xin cho đừng bị quên khi làm).

Cuối cùng thì tôi cũng qua được giai đoạn khó khăn ban đầu và đã nhuần nhuyễn với mọi việc.

“Em còn muốn nghỉ làm không?” Ông xã nheo mắt với tôi.

“Ngu sao nghỉ. Cứ xem như mình đi tập thể dục được lương vậy. Hihi”. Tôi gục gật đầu nháy mắt lại.

Đúng là “vạn sự khởi đầu nan”. Tôi nay đã thành nhân viên toàn thời gian của công ty được hưởng đầy đủ mọi phúc lợi. Một năm sau tôi giới thiệu cho hai người bạn vào làm, ban đầu họ cũng lo sợ như tôi lúc trước. Một anh bảy mươi tuổi hỏi có thể vào làm được không?

“Được, trong hãng có hai ông Mỹ Trắng, bảy mươi hai tuổi vẫn làm tốt, anh còn khỏe và nhanh nhẹn hơn hai ông ấy đấy. Tin tôi đi, tôi làm nổi thì anh làm nổi mà.” Thế là tôi hướng dẫn anh cách điền đơn xin làm chung chỗ tôi. Sau hai tuần anh được hẹn phỏng vấn và đi làm vào tuần kế đó.

Một em gái mới được chồng bảo lãnh qua mướn phòng ở cạnh nhà tôi, em hỏi, muốn đi làm với chị mà không biết tiếng Mỹ nhiều có được không?

“Em học tới đâu và có biết chút gì Anh văn không?” Tôi hỏi lại.

“Dạ em học hết cấp ba, trước khi chuẩn bị đi Mỹ em có học đàm thoại thông thường nhưng nhát lắm không biết nói chuyện đâu chị.” Em ngập ngừng nhìn tôi e ngại.

Tôi hỏi em sơ về tên họ, địa chỉ bằng tiếng Mỹ em trả lời trôi chảy. Tôi cười động viên em “vậy được rồi.”

“Nhưng em sợ gặp người Mỹ họ nói em không hiểu.” Em lè lưỡi.

“Em chỉ cần yêu cầu họ nói chậm lại dùm, có biết nói không?”

“Dạ biết.” Em gật đầu.

Tôi hướng dẫn em điền đơn xin làm chung chỗ của tôi. Ngày đưa em đi phỏng vấn em lo sợ: “Em run quá chị ơi…”

Tôi trấn an em rằng không có gì mà sợ họ cũng là nhân viên thôi, công việc của họ là vậy sau này mình trở thành nhân viên thì cũng như họ, họ dễ thương lắm, không sợ nhe (tâm lý người Việt mình nghe nói Mỹ phỏng vấn là sợ lắm, nhất là người mới qua).

Em đậu phỏng vấn dễ dàng. Một tháng sau em được vào làm chung với tôi, em mừng lắm. Manager cũng biết phải đối xử với người mới ra sao nên khi cần nói gì với em mà có vẻ em không hiểu thì họ đến nói với tôi, tôi dịch lại cho em biết. Đến nay em vẫn còn làm với Amazon.

Em nói nhờ làm ở đây mà em có thể về rước con đi học dễ dàng (con riêng của em) không phải tốn tiền nhờ ai. Sáng chồng em đi làm đưa con đi học. Trưa em chạy về rước rồi trở lại chỗ làm. Em không ngờ công ty này dễ như vậy.

“Ở Việt Nam nằm mơ cũng không thấy cảnh đi làm mà ra về rồi vô lại như đi chợ thế này đâu chị.” Em thường gửi tôi những phần quà nhỏ bày tỏ lòng biết ơn.

Sau đó tôi có giới thiệu cho mấy người nữa vào làm; có lần tôi được thưởng một ngàn đôla giới thiệu một người vào làm (anh này cũng 70 tuổi rồi) còn mấy người kia thì mỗi người tôi được thưởng hai trăm đôla.

Chẳng những nhận người lớn tuổi Amazon còn nhận người “câm điếc” nữa. Các em này thường là học sinh ở trường khuyết tật, khi được học các video về công việc thì có người ra dấu cho các em hiểu. Các em biết Anh văn nên manager hoặc bạn làm chung muốn nói chuyện thì viết trên phone với các em. Cũng có vài manager biết ngôn ngữ câm (silent language) giao tiếp với các em khi cần thiết. Các em cũng giới thiệu những người lớn tuổi mà biết Anh văn vào làm. Tôi thường xuyên gửi cho những nhân viên câm điếc này lời thăm hỏi hoặc cảm ơn qua phone khi em nào giúp tôi việc nặng. Các em rất tự giác, thấy ai có hàng nặng gần bên là đến giúp ngay không cần phải nhờ.

Nói chung đủ mọi lứa tuổi, mọi thành phần, nhiều sắc dân có mặt trong Amazon. Trắng, đen, trung đông, châu Á như: Việt nam, Tàu, Cambốt, Thái, Ấn… đều vào được Ngôn ngữ để dùng chung là tiếng Anh. Không cần phải có kinh nghiệm làm việc. Không cần phải có quốc tịch chỉ cần có thẻ xanh.

Việc tôi thích nhất khi làm ở Amazon là giờ giấc rất uyển chuyển. Có giờ nghỉ được trả tiển (PTO= Personal time off) khi nghỉ bệnh hoặc bận việc, mỗi năm 80 giờ. Khi cần thì bấm vào xin nghỉ là được chấp thuận ngay lập tức. Số giờ này sẽ bị trừ dần đồng thời cũng tích cóp lại được khoảng 80 phút mỗi tuần.

Có giờ nghỉ không được trả tiền (UPT = unpaid time off) 80 giờ trong năm, khi cần thì nghỉ rồi số giờ sẽ tự động bị trừ dần. Số giờ này có thể tích cóp mỗi ngày từ 30-40 phút tùy theo giờ làm.

Có giờ VTO (volunteer time off) giờ này khi vào làm nếu thấy đông người ít việc thì manager sẽ hỏi ai muốn về cho về. Cũng có lúc họ gửi qua app ở nhà ai muốn lấy thì lấy và nghỉ khỏi vô làm hôm đó.

Lại có thể xin đổi ngày (swap day) làm trong tuần nếu cá nhân có đột xuất thay đổi ngày do hoàn cảnh gia đình cần hay có đám tiệc, tang chế (nghỉ có lương một ngày), hôn sự … xin trước một tuần rồi chờ chấp thuận sau vài ngày. Tôi đổi ngày hoài vì khi vào làm, lịch của tôi làm Chúa nhật, nghỉ thứ Hai và thứ Ba nhưng muốn đi nhà thờ nên tôi xin đổi qua ngày Chúa nhật nghỉ và làm ngày thứ Hai hoặc thứ Ba.

Công ty luôn giải quyết giờ giấc thích hợp cho nhân viên có thể thuận tiện đi làm hai jobs, hay đi học hoặc đưa đón con cái,… Ngoài ra còn giờ vacation cũng từ 60 giờ khi mới vào làm đến 80 giờ một năm khi bắt đầu năm thứ hai. Còn được trích tiền lương cho quỹ hưu(401K) công ty cho thêm 4% mỗi một trăm đôla. Ngày lễ nghỉ được hưởng lương, nếu đi làm thì được trả gấp rưỡi.

Điều khác hơn hẳn các công ty khác là khi có việc cần muốn nghỉ từ ba tuần đến ba tháng không hưởng lương thì cứ vào app xin nghỉ sau đó quay về lại làm tiếp. Thật tuyệt vời.

Công ty cũng giúp tiền cho học đại học chuyên nghành. Amazon có chương trình hỗ trợ nhân viên học đại học và phát triển kỹ năng gọi là “Career Choice” trả trước 100% học phí cho nhân viên làm giờ (hourly) cho các chương trình học từ chứng chỉ đến đại học, bao gồm cả tiếng Anh và hoàn thành bằng cấp 3 (GED).

Bây giờ nhìn lại tôi thấy rõ trong cái xui có cái hên là đây. Tôi lìa xa được nghề nails không phải hít mùi hóa chất hàng ngày. Không ở chỗ làm quá tám hoặc chín giờ đêm mới về đến nhà.

Làm ở Amazon như đi tập thể dục được trả lương. Mỗi ngày tôi đi bộ trong hãng từ 18-22 ngàn bước tùy theo bao nhiêu giờ làm. Khỏe mạnh, vui vẻ vì giúp ích được cho những người đồng hương còn bỡ ngỡ khi mới vào không biết tiếng Mỹ nhiều.

Tôi hay nói với mọi người rằng: “Công ty chỉ muốn mình vào làm và siêng năng làm là tốt, người ta đâu muốn mình nói chuyện đâu mà sợ không nói được.” Ai hỏi tôi tiếng Anh nay giỏi không vì giao tiếp hàng ngày, tôi cười và đùa: “Không giỏi đâu vì làm nhiều hơn nói, nhưng nếu cần cãi lộn với manager thì cũng ok. Hihihi.”

Tôi luôn tươi cười với mọi người nên có mấy người gọi tôi là “happy lady”. Cũng có người hỏi “You happy khi đi làm lắm sao?” Tôi nói nhỏ với họ “Yes, đi tập thể dục được trả tiền nên tôi rất happy”

Nhớ một hôm tôi đi xuống chỗ làm, mấy người đồng nghiệp đi phía sau lưng tôi, có một cô ở Việt nam mới qua thấy tôi vui vẻ chào mọi người trên đường đi qua, mọi người cũng gọi tên tôi chào lại, nhìn hai tay tôi vẫy liên tục, cô ấy nói: “Trời ơi hôm nay mình đi phía sau Hoa hậu thân thiện chắc mình cũng lọt vào camera luôn rồi. Hihi.” Mấy người bạn Việt nam ai cũng cười khi nghe cô ấy nói, còn tôi thì luôn miệng “Thank you” vì bỗng dưng mình được danh xưng ấy không cần thi hoa hậu.

Vậy mà tôi đã là nhân viên của Amazon được năm năm sáu tháng mười lăm ngày rồi. Chẳng lẽ lại nói cám ơn nàng COVID 19. Mọi người đều sợ hãi nhưng tôi thì nỗ lực đi làm vì muốn chung sức xây dựng một nước Mỹ hùng mạnh, muốn là một con người đóng góp chứ không chỉ thụ hưởng. Quan trọng là muốn làm gương cho con cháu, cho cộng đồng.

Nay tuổi đã suýt soát ngưỡng cửa 70 tôi vẫn chưa muốn nghỉ hưu vì luôn muốn mình là người hữu ích cho gia đình và xã hội. Có nhiều người muốn xin việc làm ngại sợ không làm nổi cho Amazon thì tôi nói: “Hãy nhìn tôi nè, tôi làm nổi thì ai cũng làm nổi hết, chắc chắn.”

Nam California
1/ 12/ 2026

Nguyễn Thị Hữu Duyên

 

Sunday, October 28, 2018

Tô Phở Duyên Nợ


Nguyễn Thị Hữu Duyên

Mùa lễ tết năm nay hai vợ chồng Hà quyết định qua Nam Cali chơi. Từ sân bay về, Thìn cho xe dừng trước tiệm phở ngày xưa.Thìn bế con gái nhỏ của Hà nhanh chân bước vào tiệm, Hà và chồng còn lục tục mang giỏ tã, sữa cho bé và dẫn con gái lớn vào sau. Cô tiếp viên trầm trồ: “Em bé đẹp quá, Mỹ hả chị?” Cô vừa bắc ghế cho bé ngồi vừa hỏi. “Cha Mỹ trắng, mẹ Mỹ vàng” - Thìn dí dỏm. 

Vợ chồng Hà cũng vừa vào bàn. Chồng lo cho đứa nhỏ, vợ lo cho đứa lớn, chị năm tuổi, em một tuổi rưỡi, hai chị em giống nhau như đúc. Mắt xanh, mũi cao, da trắng, tóc hoe pha lẫn nét dịu dàng của mẹ, nét dịu dàng đặc biệt của người phụ nữ Việt Nam khiến ai thấy cũng trầm trồ: “Đẹp quá, thấy thương quá”.

“Thấy mấy em bưng phở, nhớ bọn mình ngày xưa nhỉ” - Hà nhìn Thìn bồi hồi.

***
Hà sinh ra và lớn lên ở Thanh Hóa. Năm mười tám tuổi, vừa tốt nghiệp cấp hai xong, gia đình quyết định gom góp tiền của, và mượn thêm vàng của bác Hai lo cho Hà đi du học.Với giọng Bắc đặc sệt lại mang âm hưởng của vùng nhà quê Thanh Hóa nặng nề, cô không dễ tìm bạn Việt ở Mỹ vì đa số cho rằng Hà là Việt cộng nên không chơi. Hà tủi thân. Cùng một dải đất hình chữ S, cùng dòng máu đỏ, cùng màu da vàng mà sao lại phân biệt đến đáng thương. 

Hai năm đầu vẫn còn học ESL, tiền học đóng không nhiều. Vừa học, vừa làm để kiếm tiền trang trải mọi chi phí và dành dụm gửi về quê trả món nợ “du học". ”Cái giọng Thanh Hóa đặc sệt ấy là một trở ngại lớn khi gọi phone xin việc làm. Bất cứ việc gì: Bồi bàn, rửa chén, giữ em bé… Hà không nệ nhưng… người ta lại “nệ” cô vì là “Bắc kỳ”.

Hà thắc mắc trong lòng: “Sống ở Mỹ, tự do và không được kỳ thị đó là luật nhưng sao người Việt mình lại kỳ thị quá như vậy?”.

Xin việc nơi nào cũng bị từ chối, sau đó Hà quyết định đi đến tận nơi chứ không gọi phone nữa. Khi gặp mặt có lẽ họ sẽ dễ nhận hơn. Lần ấy Hà đến tiệm phở vừa đăng rao vặt cần hai nữ tiếp viên, biết tiếng Anh và tiếng Việt. Hà nhìn bà chủ cười thật tươi: “Xin lỗi, cháu thấy cô đăng báo cần tiếp viên nên đến xin việc, không biết cô đã có người chưa ạ”.

Qua cặp kính cận dày cộm, bà chủ lướt mắt thật nhanh từ đầu đến chân cô, bà chưa kịp trả lời, Hà nài nỉ: “Xin cô giúp cháu, cháu cần việc làm, cháu hứa sẽ làm siêng năng và cháu tin là cô sẽ hài lòng, bởi vì cháu quen cực khổ lắm rồi ạ”. Hà cất giọng dịu dàng và nhỏ nhẹ nhất ở mức độ có thể, mong nhận được thiện cảm của bà chủ.

Trời không phụ lòng, bà chủ chấp nhận cô sau khi bàn bạc với chồng vài câu. Hôm ấy có một sinh viên du học người miền Nam, Thìn, cũng được nhận cùng với Hà. Việc làm bưng bê phở là thịnh hành nhất, vừa học vừa làm kiếm tiền gửi về Việt Nam trả nợ ai cũng trải qua. Từ đó hai bạn làm chung với nhau trong tiệm phở ấy. 

Thìn dễ thương và không có thành kiến gì với Hà. Hai cô làm việc siêng năng, đúng giờ, cần mẫn vì cả hai có cùng hoàn cảnh giống nhau. Thìn rất thông cảm Hà, giúp được gì cho Hà thì giúp hết mình.

Thìn bảo: “Giúp Hà là mình đang làm việc cho Chúa”. Thìn cũng khuyên Hà nên đặt đức tin nơi Chúa Giêsu để nhận được sự bình an, sự giúp đỡ từ Đấng cầm quyền trên vũ trụ này.

***
“What are you thinking?”

Câu hỏi của Mark kéo hai bạn về thực tại. Thìn lắc nhẹ đầu, hé một vệt cười trên khoé môi, cô vui vì thấy ánh mắt anh tràn ngập hạnh phúc và thỏa lòng. Mark cho tương vào tô phở xe lửa, mặt tươi rói.

Hà loay hoay cắt phở và thịt cho con, con bé chun mũi hít hít ra vẻ tay ăn phở sành điệu. Thìn ngắt từng lá quế cho vào tô như thấy hình ảnh mình đang xếp các cọng quế và ngò gai vào đĩa giá chuẩn bị bưng ra cho khách. Còn nhớ vào những dịp lễ lớn, hoặc tết, tiệm mở cửa hai mươi bốn giờ, bà chủ yêu cầu làm tăng ca hai bạn cũng không dám từ chối, buồn ngủ đến khiếp nhưng vẫn cố gắng vì đó là dịp để kiếm thêm tiền.

“Bây giờ các em dễ kiếm việc hơn chúng mình ngày trước vì nhà hàng, chợ búa mọc lên như nấm”, Thìn vừa vuốt tóc đứa bé vừa nhẹ giọng. Kỷ niệm chợt ùa về như cơn gió tràn vào qua cánh cửa vừa được mở tung. Thìn nhắm mắt dâng lời tạ ơn trước khi ăn. Hai bạn và đứa bé gái cùng Amen với giọng hào hứng vô cùng.

***
Nợ duyên của Hà xuất phát từ tiệm phở này, nói đúng hơn là từ một “tô phở” khi đến lượt cô lấy “order” một ông khách Mỹ.

“Ông cũng biết ăn phở sao?” Hà hỏi khách tiếng Anh nhẹ như gió (chứ không nặng như khi nói giọng Thanh Hoá).

Cô thấy vui vui vì người khách dễ thương này. Khách giới thiệu tên “Mark” khi Hà bưng phở ra, gián tiếp muốn biết tên Hà.

Mark ở Michigan qua Nam Cali hai tháng một lần, mỗi lần năm ngày. Là kỹ sư giỏi, lâu năm, nhiều kinh nghiệm, làm việc trong hãng chế tạo máy bay. Anh đi đây đó đến các chi nhánh của công ty để hỗ trợ kỹ thuật. Qua Cali anh đến chi nhánh ở Tustin, Irvine. Anh thích thuê khách sạn ở G.G để được gần nhà hàng Việt Nam, được ăn món phở mà bạn bè giới thiệu và anh rất thích. Hầu như khi đến Cali Mark ăn phở mỗi ngày.

Khi gặp Hà tại tiệm này, hình như cô tiếp viên Bắc kỳ nho nhỏ xinh xắn ấy đã quấy động trái tim Mark. Anh xem “phở” như món ăn chính của mình. Rồi làm quen, rồi xin số phone, rồi hẹn hò, rồi tình cảm bỗng dưng không mời mà đến, rồi xa nhau chợt nhớ, rồi khi gần thì lại chẳng muốn xa. Không ai mà chẳng nhận ra giữa họ: “Tình trong như đã, mặt ngoài còn e”(*).

Mark hơn Hà 9 tuổi, nhưng anh vui nhộn, trẻ trung, đơn giản, không kiểu cách, không cầu kỳ, không hình thức, không đãi bôi, và có ước muốn cưới vợ Châu Á. 

Ba Mark từng có mặt ở chiến trường Việt Nam bốn năm và có mối tình đẹp, trong sáng với cô nữ sinh vùng sông nước Hậu Giang. Khi về Mỹ tình yêu của họ trở thành kỷ niệm, do đó ông thường ca tụng với mẹ con Mark về người phụ nữ Việt Nam.

Không có lý do gì để từ chối, thêm sự vun bồi của Thìn, Hà đồng ý.

Sau một chuyến đi Cali về, Mark trao cha tấm ảnh cô gái Việt có mái tóc đen tuyền, dài nửa lưng, ánh mắt huyền, tròn xoe tinh nghịch, chiếc miệng hơi rộng với đôi môi hơi dầy trông hiền và hấp dẫn. Chiếc cằm vuông biểu hiện bản chất kiên nghị, nhẫn nại. Nụ cười của cô như ánh đèn soi, sáng bừng cả gương mặt.

“Cô ấy tên Hà, con quen hơn một năm rồi. Con muốn cưới”, Mark nói với ba. Ba hỏi thăm về Hà và muốn gặp cô vào mùa Giáng sinh năm đó.

Hà rủ Thìn đi Michigan thăm gia đình Mark. Mùa đông Michigan thật lạnh, tuyết rơi trắng đường. Ba ngày ở Michigan, chơi với tuyết, chụp hình với tuyết, đi dưới tuyết, ngồi hứng tuyết rơi, xem xe rải muối cho tan tuyết, xúc tuyết trên lối đi bộ, cào tuyết đọng trên xe vào sáng sớm, hai bạn tranh nhau làm. Lần đầu tiên thấy tuyết nên vô cùng thích thú. Hà đem lòng yêu Michigan và yêu màu trắng của tuyết từ dạo ấy.

Gia đình Mark đồng ý, năm tháng sau, hôn lễ được cử hành tại Presbyterian Church ở Michigan nơi mà gia đình Mark đi nhóm thờ phượng Đức Chúa Trời hàng tuần. Ngày cưới hai bạn, Thìn bay qua từ Nam Cali. Từ đó Thìn không có dịp qua Michigan nữa, vì bận rộn chồng con rồi lo làm kiếm tiền bảo lãnh gia đình qua Mỹ. Hai bạn vẫn giữ liên lạc với nhau.

Hà cũng đã bảo lãnh được cả gia đình qua Mỹ. Bây giờ Hà là chủ tiệm nails ở thành phố T, Michigan. 

Vừa ăn phở vừa nhớ chuyện xưa, hai bạn thấy ấm lòng theo từng thìa nước lèo nóng hổi, thơm lừng. Tiệm phở này đã đổi chủ nên bây giờ họ không gặp người quen ở đây. 

Mark vừa ăn vừa đút cho con. Đàn ông Mỹ họ lo cho con rất giỏi vì họ nghĩ rằng lúc vợ mang con trong bụng họ không giúp được gì, khi con đã chào đời họ phải lo cho con giúp vợ. 

Vui vẻ, hạnh phúc khi được giúp vợ lo chăm sóc con chứ không phải bị ép buộc. Hình ảnh chồng đẩy xe, xách nôi, cho con bú bình ở bến xe, bến tàu, sân bay là chuyện thường xảy ra ở xứ Mỹ. “Hà nấu phở rất ngon, tôi ăn nhiều lắm”, Mark khoe.

Hai bạn cùng cười thích thú. Thìn đưa ngón tay cái lên về phía Hà ý nói: “Cô ấy là số một”, Mark hãnh diện nhìn vợ, ánh mắt đầy khâm phục, yêu thương. “Hà có về thăm Việt Nam không?”. “Có, năm 2010, lúc ông bác qua đời cả nhà về một chuyến”. 

“Mark thích không?”, Thìn hiếu kỳ.

“Dĩ nhiên, vì lần đầu về quê vợ mà. Ôi giời ạ, bao nhiêu người từ già đến trẻ đều bu vô ông ấy, ông ấy khoái quá. Chắc tưởng mình là nhân vật quan trọng gì đó”, Hà nhìn chồng cười.

***
Lúc trả tiền, Mark xem hóa đơn xong, ngoắc em tiếp viên ra, tay chỉ vào hóa đơn, nói bằng tiếng Việt: “Đắt quá. Một ngàn thôi”, Mark vừa giả bộ trợn mắt kinh ngạc vừa móc tiền ra trả. Thìn cười nắc nẻ, mấy người khách chung quanh cũng cười ké, còn vỗ tay.

Thìn đặt tờ giấy hai mươi đô lên bàn.

“Cho nhiều típ để mấy em chia nhau được nhiều, nhớ ngày ấy, hôm nào được tiền tip nhiều Hà mừng quá không thể nào chợp mắt được, cố nhớ lại từng gương mặt khách mà thầm cám ơn họ. Hà bảo với mình như vậy, có nhớ không?”, Thìn mỉm cười.

Hà chớp mắt cố ngăn xúc động, gật nhẹ đầu. Cô đảo mắt một vòng nhìn các em bưng bê, nam có, nữ có đi tới đi lui, nhanh nhẹn, trật tự và vô cùng lịch sự. Mi đã ngân ngấn lệ, Hà như thấy hình ảnh mình mười năm trước mờ ảo, ẩn hiện. 

Nhìn quanh thực khách như để cố đoán xem trong số những anh chàng đang ngồi ăn ở đây anh nào sẽ gặp được “cái xương sườn số tám” của mình. Để rồi thêm một mối tình lại bắt đầu qua “Tô phở duyên nợ” đậm tình quê hương.

Nguyễn Thị Hữu Duyên

Tuesday, April 26, 2016

Bé Khoai Mì

Nguyễn Thị Hữu Duyên 

Căn nhà của cặp vợ chồng người Mỹ trắng đối diện nhà Hà vừa đăng bảng bán được ba tuần thì đã có người mua. Gia đình chủ mới dọn đến mấy hôm rồi, sự có mặt của họ làm xáo trộn đời sống đang an bình của Hà. Vẫn biết quả đất tròn nhưng chẳng lẽ nó nhỏ như vậy sao?

Hôm qua đi làm về Hà nghe Hợp bảo gia đình mới bên kia chỉ có ba người, một người đàn ông ngồi xe lăn chắc cũng trên sáu mươi tuổi, một phụ nữ còn trẻ, xinh đẹp khoảng ngoài ba mươi và một bé gái độ ba bốn tuổi.

Hà nhìn chồng nhíu mày: "Vậy họ là cha con ông cháu hay chồng già vợ trẻ, con mọn?"

"Làm sao biết được, hôm nào mình sang thăm rồi sẽ biết."

Hợp lắc đầu, vô tư. Đàn ông là thế nhưng đàn bà lại khác, với bản tính tò mò sẵn có của phụ nữ, Hà vừa nấu ăn vừa phóng mắt sang nhà hàng xóm. Qua màn cửa sổ nơi phòng khách Hà loáng thoáng thấy bóng người đàn ông trung niên đang ngồi trên xe lăn chơi đùa với bé gái kháu khỉnh. Cả người đàn ông và cháu bé đều trông rất quen nhưng Hà không thể nhớ nỗi là ai.

Sáng nay khi ra xe Hà thấy sân nhà bên ấy ướt nước có lẽ họ rửa sân và tưới cây cảnh vì đã mấy tháng nay ông bà già Mỹ ấy về ở với con nên nhà này không ai chăm sóc. Người phụ nữ duy nhất bên ấy trẻ trung cao ráo xinh đẹp đang dọn dẹp ngoài gara không thấy rõ mặt nhưng hình như rất quen, dáng dấp này Hà đã gặp đâu đó và bao giờ mà không thể nào nhớ nỗi. Ai nhỉ? Hà chịu thôi, không tài nào nhớ được, có lẽ người giống người.

Trong bửa ăn chiều, Hợp bảo ngày mai thứ bảy, là ngày nghĩ, em thu xếp sắm chút quà rồi hai vợ chồng qua chào láng giềng vì "nhứt cận lân nhì cận thân," anh sẽ đi mua một con búp bê làm quà cho bé gái, Hà đồng ý và phụ họa "Dạ, bà con xa chẳng qua láng giềng gần mà anh" Đồng hồ trên tường chỉ 11 giờ đêm vậy mà Hà cứ chong mắt hết nhìn lên trần nhà lại xoay qua khung cửa sổ suy nghĩ lung tung không thể nào ngủ được. Dáng dấp người đàn ông này gợi nhớ một người, có thể nào là anh ấy sao? Còn đứa bé thì trông giống…à, chị à khẽ trong cổ họng, cái não đã chịu mở ra rồi.

Hà ngồi phắt dậy, rón rén rời khỏi giường bước nhẹ bước ra bàn rót ly nước lọc uống cạn một hơi, tỉnh người, câu hỏi quay quắt trong đầu: giống bé Khoai Mì quá, chẳng lẽ đó là anh Phúc cha của bé Khoai Mì còn cháu gái là con của Khoai Mì? Chẳng lẽ người con gái mình nhìn chưa rõ mặt ngoài gara là bé Khoai Mì? Đúng rồi, cô ấy có vóc dáng giống hệt mẹ nên Hà nhìn thấy quen vì mẹ Khoai Mì gần gũi với Hà năm sáu tháng nên Hà nhớ rất rõ. Còn chồng Khoai Mì đâu sao không thấy? Trước giờ họ ở đâu?

Bao nhiêu câu hỏi xoay quanh nhà hàng xóm ấy nhảy múa trong trí Hà. Chị chép miệng đứng lên "Đợi ngày mai sẽ rõ," rồi êm êm trở lại giường, nhè nhẹ nằm xuống bên chồng.

Đã quyết định thế nhưng sao vẫn không khép mắt được, người mới cảnh xưa bỗng chốc hiện về như muốn chia sẻ cùng bóng đêm nỗi dậy sóng trong tâm hồn chị. Hà làm sao quên được hình ảnh người đàn ông của mối tình đầu đời, nếu thật sự là anh ấy thì sao nhỉ? Vui hay buồn? Đã không thành vợ thành chồng thì biết được tin tức nhau sống gần nhau chắc là sẽ vui.

Hà nhẩm tính, đã hơn ba mươi năm rồi còn có thể nhận ra nhau không? Lại nhớ đến bài thơ Tình già của Phan Khôi mà bây giờ thấy giống tâm trạng của mình, "Hai mươi bốn năm xưa (còn mình thì khoảng 34 năm rồi,) Một đêm vừa gió lại vừa mưa (Mình và anh Phúc chia tay nhau vào đêm hè) Bên ngọn đèn mờ trong gian nhà nhỏ. Đôi mái đầu xanh kề nhau than thở…"

Hà khẽ thở dài nhớ lại thời gian ấy.

*
Đó là năm 1976 Hà tốt nghiệp lớp 12 trong thời điểm đổi thay của đất nước, sau đó về nhà nấu cơm chờ đợi kiếm việc làm thích hợp để giúp gia đình vì ba đã đi cải tạo. Đầu năm 1977 Hà ghi danh học khoá sư phạm cấp tốc sáu tháng do Sở giáo dục đào tạo. Khi tốt nghiệp Hà và khoảng hai mươi anh chị, bạn, được "Đảng và nhà nước phân công" về công tác ở vùng kinh tế mới xã Lộc Ninh huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

Vùng đất này được chính quyền khai phá "cơ bản," có nghiã là những cây cổ thụ to thì được đội "cưa xẻ" của phòng Kiểm Lâm đốn hạ hết chở đi cưa xẻ, lấy gỗ bán lại cho công trường xây dựng hoặc các cơ quan có nhu cầu xây dựng. Dân từ thành phố lên vùng kinh tế mới sẽ được cấp đất và cho sáu tháng nhu yếu phẩm để sống khai phá tiếp phần đất được phân cho mình ít nhiều tuỳ theo số lượng nhân khẩu; rồi tiếp tục khai phá cho trở thành đất sản xuất. Những phần đất ấy đa số còn những cây con thì dân dùng búa, rìu, hoặc cưa tam giác tự hạ xuống làm củi để nấu nướng hoặc bán cho những chuyến xe đò chở về tỉnh, lấy tiền mua thêm gạo, nước tương, nước mắm, mì gói, khô mắm mà ăn. Đất thì dùng cuốc, xẻng để cày xới mà "tăng gia sản xuất, trồng trọt chăn nuôi" cho đúng đường lối và chính sách Đảng là "nhà nhà có đất, người người có đất," ai cũng tự làm chủ lấy đất của mình, thật lý tưởng (?)

Có gia đình thì sẽ có trẻ em, có trẻ em thì phải có trường học thế là từng "Đoàn giáo viên xung phong" được đào tạo cấp tốc, sáu tháng, ba tháng tuỳ theo từng địa phương. Đoàn giáo viên xung phong này sẽ phải đi khai phá đất, mở trường học và kiếm học sinh vô để cho có học sinh mà dạy, nếu không thì bị "mất dạy," mà khi bị mất dạy thì sẽ bị kiểm điểm, bị phê bình, bị ghi vô lý lịch "Không thực hiện tốt công tác được giao."

Đoàn của Hà có tám thầy, bảy cô; các Thầy "quan hệ kết nối" với bộ đội và uỷ ban xã để vận động xây cất trường và nhà tập thể cho giáo viên, kế hoạch sau ba tháng phải xong để khai giảng năm học mới vào đầu tháng chín.

Thế là đoàn giáo viên chia nhau mỗi người một việc, các cô đạp xe đi vòng vòng khắp nhà dân để lấy danh sách trẻ trong độ tuổi đi học mời gọi đến trường. Các thầy ráo riết cất trường, vách đất, lợp tranh, ghế học trò làm bằng những cây rừng có thân tròn nhẵn đường kính cở cổ tay em bé. Khoảng năm hay sáu cây ghép lại thành một băng cho ngồi vừa cái mông đóng lên cái giá gỗ có chân chôn xuống nền, mỗi băng bề ngang khoảng bốn tấc, bề dài khoảng hai mét ngồi được năm em (ngồi riết chai đít hết.) Bàn viết thì cũng làm theo cách ấy, nhưng trên mặt bàn có phủ tấm ván cho bằng phẳng dễ viết, những miếng ván này đưa thẳng từ xưởng cưa về nên còn sần sùi, sợ các em bị dằm sóc vào tay nên các cô phải dùng tiền túi mua giấy nhám về chà cho mòn những cái dằm lớn, dằm nhỏ để an toàn cho các em.

Nhà tập thể giáo viên cũng cất xong nhưng các cô giáo không dám ở vì thiếu thốn đủ thứ. Không giường mà chỉ ngủ võng, mỗi người được cấp cho cái võng nylon hai lớp, cột vào hai đầu cây cột nhà rồi chui vào giữa nằm, giản đơn tiện lợi khỏi giăng mùng. Muỗi chích nát lưng, khi trời nóng thì trùm một lúc mồ hôi đổ hầm hập, do đó chỉ có các thầy ở còn các cô giáo được gửi trọ nhà dân xung quanh trường.

Hà và hai chị bạn được giới thiệu ở trọ nhà bác Sáu bán nước giải khát cách trường khoảng năm trăm mét. Bên cạnh nhà bác Sáu là nhà vợ chồng anh chị Phúc dân ở Bùi Môn, gia đình anh có máy dệt vải. Anh cưới chị vào tháng 10 năm 1974, chị về làm vợ, làm dâu chưa được bao lâu thì đến ngày mất nước. Gia đình anh có tên trong danh sách "Tư sản mại bản" bị tịch thu hết máy móc và căn nhà ở Bùi Môn; còn căn nhà và mảnh vườn nhỏ ở Củ Chi gia đình dời về đó, vợ anh phải mua gánh bán bưng để lo cho gia đình. Mỗi sáng chị đón xe lam đi đến chợ Cầu muối ở Sàigòn mua mấy bao khoai lang về rửa từng củ khoai, nấu từng nồi khoai rồi chở từng thúng khoai trên baga xe đạp ra chợ chiều gần nhà bán kiếm từng đồng lời nuôi gia đình. Anh Phúc là sinh viên năm thứ hai trường kỹ thuật Phú Thọ nên biết chút đỉnh về máy móc. Anh che tấm bạt, treo lên hàng rào cái bảng "Bơm vá xe đạp."

Năm 1976, trong đợt đổi tiền lần thứ nhất "năm trăm chỉ đổi lấy có một đồng," ba anh đã uất ức đến đứng tim mà chết.

Mấy tháng sau mẹ anh vì quá buồn lo sầu khổ nên cơn đau bao tử bộc phát nặng phải đưa đi cấp cứu ở bệnh viện. Mỗi ngày được phát cho ba chục viên thuốc xuyên tâm liên uống làm ba lần, thời đó bệnh viện không có thuốc, bệnh gì cũng thấy bác sĩ cho uống cùng thứ thuốc ấy. Tim, gan, phèo phổi gì cũng dùng xuyên tâm liên để trị. Uống được mươi ngày, bệnh càng nặng cho đến một đêm bà lặng lẽ về với ông không một tiếng rên than, chỉ thấy bờ môi bà rướm máu có lẽ bà đã cắn chặt để nén cơn đau đớn. Bác sĩ ghi vào hồ sơ bệnh án "Bệnh nhân chết vì bị ung thư bao tử".

Anh Phúc cố nuốt nước mắt ngược vào lòng, bán phần đất bên cạnh nhà lo cho mẹ mồ yên, mả đẹp. Thời gian ấy chị vừa có thai hai tháng, vì hôi cơm tanh cá, không ăn uống được nên chị ốm yếu, xanh xao, gầy rọc hẳn, anh không cho chị bán buôn nữa vì sợ ảnh hưởng cái thai.

Số tiền bán đất còn lại mòn dần vì anh sửa xe cũng không đủ sống, anh quyết định bán luôn căn nhà "đăng ký" đi kinh tế mới lập nghiệp. Anh thầm tính, với số tiền ấy sẽ đủ nuôi vợ con khoảng ba năm, còn anh thì sẽ sống với số lương thực của nhà nước cấp và cố gắng lao động để trồng trọt chăn nuôi ba năm sau con lớn, vợ khoẻ và cùng anh nuôi gà vịt bán cũng có được cuộc sống ổn định. Thôi thì, phải biết theo thời thế mà sống vả lại anh cũng muốn giống như nhà thơ nào đó "Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến chốn lao xao."(*)

Thời thế này thì đành phải thế, anh chưa từng biết cái khổ cực của lao động tay chân như thế nào, chưa từng cày sâu cuốc bẩm ra sao nên anh tưởng mọi việc sẽ như mình tính. Rõ là "chưa thấy quan tài chưa đổ lệ," sau này anh tâm sự với Hà như vậy.

Đa số dân lên vùng Kinh tế mới đều được nhà nước khuyến khích trồng cây mì vì cây khoai mì không bỏ thứ gì, củ mì dùng để ăn, làm bột, xác mì nuôi heo, thân cây và vỏ củ mì cho bò ăn hoặc phơi khô làm củi, lá già cho bò ăn, đọt mì non luộc lên chấm muối dành cho người ăn cũng qua bữa. Anh Phúc làm đổi công với bác Sáu đã trồng được mấy công mì và vẫn còn đang tiếp tục khai phá đất để trồng thêm.

Một hôm chị bị thai hành mệt và khó thở anh vội vàng đưa chị đi trạm xá khám thai quên khoá cái tủ sắt duy nhất anh mang từ Sàigòn lên nên kẻ gian lẻn vào lấy hết số tiền và vàng của anh chị. Từ đó hai vợ chồng thường xuyên ăn cơm độn khoai mì như bao nhiêu người khác, chỉ thương cho chị đang mang thai gần ngày sinh nở.

Khi Hà và hai bạn đến ở nhà bác Sáu, bọn Hà và bác Sáu thường chia xẻ lon gạo, tô canh tép hay chén cá kho cho chị, để chị có thêm phần dinh dưỡng nuôi thai nhi trong bụng. Họ thân nhau như ruột thịt, mọi người giúp anh chị sắm quần áo, khăn tã cho bé, nôn nao mong sớm được thấy mặt bé ra đời.

Ngày 25 tháng 12 năm 1977, giai đoạn khổ nhất từ sau 30-4 -1975, chị chuyển bụng hạ sinh một bé gái đẹp như thiên thần. Vì ăn uống thiếu thốn nên chị kiệt sức nhiều trong hậu sản; hai tháng sau chị bị ngộ độc khoai mì và ra đi vĩnh viễn.

Chỉ có hai năm mà đội lên đầu ba vành tang trắng, tưởng chừng anh Phúc không còn nước mắt để khóc nữa. Nỗi đau như chai lì vô cảm, không ai thấy anh nhỏ một giọt lệ nào khi đưa tang vợ; anh chỉ rơi nước mắt khi ôm con thơ vào lòng âm thầm ngồi trước bàn thờ mỗi đêm.

Nhớ vợ, thương con anh cô đơn với thân gà trống nuôi con và gọi bé là: Khoai Mì, hỏi vì sao anh lại gọi bé tên ấy và anh có định làm khai sinh với tên khác cho bé không? Mắt anh ửng đỏ, giọng trầm buồn: "Tôi muốn qua cái tên đó nhắc nhớ cái chết của vợ tôi, và cũng để cho tôi đừng quên bổn phận mình với đất nước với đồng loại đang trong cảnh đói nghèo, bi đát tột cùng này."

Hà và hai người bạn trọ chung nhà bàn với bác Sáu mang bé về chăm sóc cho anh được rảnh tay lo kiếm tiền nuôi con. Anh Phúc lúc đầu còn ngần ngại chưa đồng ý, anh lắc đầu nguầy nguậy, bác Sáu kiên nhẫn giải thích: "Anh à, được các cô giáo thương cháu giúp như vậy là quý quá. Anh cần phải lo đi làm thêm kiếm tiền mua sữa cho cháu; sống nơi rừng thiêng nước độc này cháu còn bé dễ bệnh tật, anh phải có chút tiền mà đưa cháu đi bác sĩ hoặc lo thuốc thang khi cần. Vả lại anh là đàn ông đâu biết cách chăm sóc trẻ con như chúng tôi."

Nghe có lý và cũng nể bác Sáu nên anh thuận tình, vả lại hai nhà sát cạnh nhau chứ có xa xôi cách trở gì đâu. Từ đó bé Khoai Mì là con chung của mọi người, bé kêu ba cô giáo bằng mẹ khi bắt đầu bi bô tập nói.

Dường như biết thân phận mình bé Khoai Mì rất dễ: dễ ăn, dễ ngủ, dễ tắm, dễ nuôi, dễ mọi thứ và đặc biệt là rất khoẻ mạnh. Không đủ tiền mua sữa hộp nên bé phải bú "độn" với nước cơm pha đường thùng mà không bị đau bụng hay tiêu chảy. Thật ngán ngẩm cái giai đoạn lầm than ấy, "lao động là vinh quang" nên người lớn ăn cơm độn khoai, bé bú độn nước cơm thay sữa mà không ai dám hé môi than phiền lời nào. Cứ mỗi tối anh nhận Khoai Mì về ngủ với con.

Một năm qua mau, nhìn bé chập chững bước những bước đầu đời lòng anh cũng nguôi ngoai nỗi thương nhớ vợ hiền.

Tình cảm thật khó nói, nó đến bất ngờ chỉ với một chữ "yêu", nó trêu ghẹo, nó gây thờ thẩn, nó tạo nhớ nhung nhưng không thể định nghĩa được nó. Ai đó đã viết "Làm sao cắt nghĩa được tình yêu, Có nghĩa gì đâu một buổi chiều. Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt, bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu" Cũng thể ấy, Hà thương con rồi yêu cha từ lúc nào không biết; anh Phúc cũng đã nhìn Hà bằng ánh mắt âu yếm tự bao giờ không hay.

Tình cảm giữa hai người nảy sinh qua cây cầu nối là bé Khoai Mì. Hè năm 1979, Phúc theo Hà về thăm gia đình cô và nhân dịp này anh ngỏ lời xin được tổ chức "Lễ tuyên bố" với Hà.

Nhưng Mẹ không tán thành mối tình này vì cho rằng Hà là con gái mới lớn lại đi lấy một người hơn đến bảy tuổi, đã có một đời vợ, có con riêng cộng thêm cái nghèo. Mẹ giọt vắn giọt dài tỉ tê:

"Gia đình mình đã quá khổ, mẹ mong con có tấm chồng kha khá cho đở cực tấm thân, lại giúp được cho các em phần nào."

Hà nao lòng trước những giọt nước mắt của mẹ, cô như đứng trước ngã ba đường, còn năm đứa em thơ dại và phải lo thăm nuôi ba trong trại cải tạo mỗi quý.

Tuy mối tình đầu đời có tạo cho Hà nhiều cung bật cảm xúc nhưng cô là người sống với lý trí nhiều hơn. Do đó suy tới nghĩ lui nhiều đêm trằn trọc cô quyết định nếu không thành vợ thành chồng với anh Phúc, Hà nguyện sống độc thân trọn đời để cùng mẹ lo cho gia đình.

Tình yêu mới nẩy mầm như cây non hé nụ, không thể phát triển thêm vì bị tình cảm và bổn phận đối với gia đình đè nặng như cây lớn đè cây bé. Hôm nói cho anh biết mẹ không chấp nhận việc hai người thành thân, Hà gục đầu vào vai anh nức nở: "Nếu không thành vợ anh thì em sẽ ở góa trọn đời. Em quyết định rồi, em ở vậy lo cho mẹ và các em, em hứa sẽ cùng anh lo cho bé Khoai Mì đến lớn nếu anh không bước thêm bước nữa."

Từ sau đêm ấy, Hà rũ rượi như con chim bị thương. Mỗi lần ôm Khoai Mì vào lòng, trái tim Hà thắt từng cơn, thầm nhủ "Chờ thời gian sẽ năn nỉ mẹ thêm." Anh Phúc cũng lảng tránh không dám gặp Hà thường, nỗi buồn và sự cơ cực khiến anh già trước tuổi.

Bé Khoai Mì càng lớn càng giống mẹ như đúc, gương mặt trắng hồng giữa nắng trưa hè đôi má như hai qủa lựu rám nắng, cặp mắt to, đen bóng tợ hai hạt nhản lúc nào cũng sáng rực lung linh như hai vì sao đang nhấp nháy. Mỗi khi nghe gọi đến tên, bé cười nhoẻn đôi môi đỏ mộng trên chiếc miệng nhỏ xíu trông xinh xắn vô cùng, Hà và mọi người vẫn thương yêu lo lắng cho bé.

Đầu xuân 1980, anh Phúc xin phép đưa bé về Sàigòn để thăm bà nội của anh. Đêm ấy, sau khi Khoai Mì ngủ, Hà phụ sắp soạn quần áo của bé để anh mang theo, Hà nhìn anh qua ánh đèn dầu leo lét:

"Anh định đi mấy ngày để em biết mà soạn đồ cho Khoai Mì?"

Anh kéo Hà ngồi xuống bên cạnh, nâng cằm người yêu lên nhìn sâu vào đáy mắt luôn u buồn của Hà, nén xúc động anh thì thầm vừa đủ Hà nghe:

"Hà nè, anh ra đi lần này không biết bao giờ trở lại. Bà nội gom góp được số vàng cho anh và chú Út đi vượt biên, mang cả bé Khoai Mì theo. Xin lỗi em, anh phải ra đi chưa biết thế nào, sống chết ra sao, anh xin tạ lỗi vì đã không thể mang em theo được cho đến tận cùng trời cuối đất như lòng hằng ao ước. Nếu anh còn sống, quả đất còn tròn và mình còn có cơ duyên gặp lại nhau mà em vẫn độc thân anh sẽ xin lấy em làm vợ." Anh nói một lèo như thể sợ bị ai ngăn lại, Hà chới với như vừa bị tung lên khoảng không.

Chóang váng, mụ mẫm, ánh mắt đã buồn càng thêm u uất nhìn chằm chằm anh khiến anh phải quay đi lãng tránh, ôi ánh mắt này có lẽ sẽ theo anh suốt đời.

Hà cắn chặt môi, cố nén nỗi đau vào lồng ngực. Giọng anh như gió thoảng bên tai, đứt quãng "Anh xin lỗi,.. cho anh xin lỗi em ngàn lần... Anh thề yêu em đến trọn kiếp này. Hãy quên anh đi em, rồi thời gian…" Anh định nói thời gian sẽ là liều thuốc mầu nhiệm giúp em quên anh, nhưng Hà đã vuột khỏi tay anh bỏ chạy về nhà.

Vậy đó, tình yêu của Hà và anh Phúc chấm dứt kể từ đêm chia tay ấy. Thế rồi, một tháng, hai tháng… một năm trôi qua không có tin tức gì cha con Khoai Mì. Để chạy trốn kỷ niệm Hà xin nghỉ dạy, chuyển qua công việc thuyết minh phim cho đội chiếu phim tỉnh đoàn và về ở với gia đình.

Vì nhớ bé Khoai Mì và vẫn không có ý định lập gia đình nên Hà đã quyết định mang về một bé gái bị bỏ rơi giữa chợ để nuôi làm con. Hà nghĩ rằng sẽ không bao giờ có người đàn ông nào khiến tim Hà rung động như anh Phúc. Ban đêm Hà đi thuyết minh phim, ban ngày mua bán những mặt hàng nhu yếu phẩm kiếm thêm thu nhập. Khi con gái nuôi được năm tuổi Hà gặp Hợp, rồi những buổi hẹn hò, những lần họp bạn bình thơ, những chuyến công tác thuỷ lợi chung làm sâu đậm thêm tình cảm giữa hai người.

Thấy Hợp có nhiều đức tính giống anh Phúc trái tim Hà lại rung động bởi sợi tơ tình được nối lại với nhịp yêu. Hà kết hôn với Hợp mang theo con gái nuôi về Sàigòn sống với gia đình chồng cho đến khi sinh được con trai mười tháng thì cả gia đình chồng đậu phỏng vấn đi Mỹ theo diện H.O. Hợp cũng có tên trong danh sách xin đi Mỹ trước khi gặp Hà bảy năm.

Ngày chia tay chồng, Hà quay vào phòng ngồi bó gối nhìn con, đắng lòng nhớ lại lần chia tay với anh Phúc, tuy có khác nhau nhiều nhưng vẫn là hai chữ "chia tay." Với Phúc là chia tay một mối tình vô vọng, không mong gì có dịp đoàn tụ với nhau. Với chồng là sự chia tay trong hy vọng đoàn tụ nơi một xứ sở mới tốt đẹp hơn; lần chia tay này Hà đã là gái một con trông mòn con mắt với nhiều cám dỗ cho cả hai.

Thời gian qua nhanh, rồi cũng đến ngày Hà được chồng bảo lãnh qua Mỹ với hai con. Gia đình hạnh phúc, con cái thành nhân, con gái đi dạy học, con trai đang học trường Y, vợ chồng Hà vẫn còn đi làm. Bây giờ không ngờ gặp lại anh Phúc và bé Khoai Mì nơi đây. Tại sao anh phải ngồi xe lăn? Anh bị tai biến chăng? Bao lâu rồi? Lâu nay anh vẫn sống độc thân?

Cố nhắm mắt nhưng cái đầu lì lợm vẫn mở, Hà nhìn lên đồng hồ, đã ba giờ sáng. Hà cố dỗ giấc ngủ với dự định ngày mai sẽ làm ổ bánh khoai mì nướng (món bánh anh Phúc thích nhất) mang sang tặng nhà "hàng xóm."

*
Tám giờ sáng, Hà ra sân tưới cây chị cố ý đưa mắt sang nhà đối diện vì Hà muốn biết chính xác có phải là cha con bé Khoai Mì không? Cửa vẫn đóng im ỉm, chắc họ còn ngủ nhưng không thấy xe đậu ngoài sân, có lẽ cô ấy đậu trong gara. Hà thất vọng vào nhà chuẩn bị cơm trưa và làm bánh như đã định.

Từ cửa sổ nhà bếp Hà nhìn qua nhà đối diện rất rõ, chị vừa nấu nướng vừa để ý chờ bên kia mở cửa. Khoảng chín giờ ba mươi, họ về đến, à, họ đi chợ sớm Hà hồi hộp bước ra sân vườn đứng bên cây ổi sum suê vờ tìm ổi nhưng thực ra ánh mắt lọt qua khe lá chăm chú quan sát những người từ xe xuống.

Kia rồi, người phụ nữ rời tay lái xuống mở cốp xe lấy chiếc xe lăn đẩy lại phía cửa bên kia, đỡ người đàn ông ngồi vào xe. Hà đưa tay chặn ngực, tim đập thình thịch. Đúng là anh Phúc và Khoai Mì rồi, cô ấy đẹp và giống mẹ quá, giống từ gương mặt đến vóc dáng, cả tướng đi cũng giống. Anh Phúc trông dày dạn hơn nhưng không thể nào Hà nhầm lẫn cái gương mặt chữ điền với hàm râu quai nón ấy. Hà ngồi bệt xuống khoảng đất có bụi hồng nhung um tùm mắt dõi theo cha con họ trong hồi hộp và xúc động. Hà quệt vội hai giọt lệ nóng vừa lăn dài. Khoai Mì tiếp tục đỡ con gái xuống xe, cháu khoảng ba, bốn tuổi giống y Khoai Mì lúc còn nhỏ. Bé chạy đến đòi đẩy xe cho ông, hạnh phúc hiện rõ trên gương mặt của cha con ông cháu họ.

Hà đứng lên môi hé một nét cười mãn nguyện chị lẩm bẩm: "Thật quả đất vẫn tròn," chị đi vội vào nhà để chuẩn bị nướng ổ bánh khoai mì. Vừa làm bếp chị vừa nghĩ đến thái độ anh Phúc không biết sẽ ra sao với cuộc hội ngộ bất ngờ này, cả chồng chị nữa? Biết tính chồng nhân hậu và rất cảm thông nên Hà mới dám dành cho anh sự ngạc nhiên này. Chị tủm tỉm một mình "Hợp ơi, anh luôn là người chồng tốt và là người yêu tuyệt vời của em, anh Phúc chỉ là người của dĩ vãng mà thôi, em biết anh hiểu lòng vợ anh mà."

Hà ngồi trước gương nhìn kỹ từng nét trên mặt, kẻ lợt lằn chì đen lên mi mắt trông có vẻ buồn hơn, Hà nhớ anh Phúc thường bảo "Đôi mắt em buồn thiu à"; dặm tí phấn hồng, phớt nhẹ lớp son chị săm soi từng nét thắc mắc "Không biết anh Phúc có nhận ra mình không?" Thảo nào Phan Khôi đã viết "…tình cờ đất khách gặp nhau, Đôi mái đầu đều bạc. Nếu không quen lung đố nhìn ra được, con mắt còn có đuôi." Chị cố che lấp mấy dấu chân chim nơi đuôi mắt bằng chút phấn hoá trang.

Mười một giờ trưa, đoán chừng gia đình hàng xóm chuẩn bị bữa ăn đã xong vợ chồng Hà sắp xếp qua thăm trước giờ ăn "Để kịp tặng ổ bánh cho họ ăn tráng miệng," Hà nói. Chị hồi hộp tay xách ổ bánh thơm lừng tay ôm con búp bê còn trong hộp, ông xã nhấn chuông. Thiếu phụ ra mở cửa vừa thấy vợ chồng Hà cô vui vẻ mời vô phòng khách, cô xin lỗi vì mới về chưa ổn định nên chưa qua chào gia đình Hà được. Lát sau cô đẩy xe lăn cho bố ra chào khách, anh Phúc vui vẻ bắt tay Hợp, hai người tự giới thiệu với nhau.

Nãy giờ Hà cố ý kéo dài thời gian mở quà cho cháu gái và quay lưng về phía anh Phúc để nén xúc động. Khi chị quay lại chào anh mặt đối mặt, anh sửng sốt ấp úng:

"Xin lỗi…là Hà phải không?"

"Dạ là em đây," giọng chị lạc đi "Thật không ngờ gặp lại bố con anh ở nơi này, em cứ ngỡ là mơ."

Niềm vui vỡ oà, sóng mũi cay cay hai hàng nước mắt ứa ra Hà quay sang chồng:

"Anh Đây là anh Phúc và con gái là Khoai Mì mà em đã thường kể cho anh nghe, anh nhớ không?"

Chồng Hà cũng bất ngờ như anh Phúc. Hai người đàn ông nhìn nhau thoáng một nốt lặng, mỗi người một suy nghĩ. Không biết họ nghĩ gì nhưng chắc chắn là họ tìm cách tránh sự khó xử cho cả hai, chắc chắn họ không muốn Hà buồn. Khoai Mì đặt vội khai nước lên bàn sà xuống cạnh Hà, ôm vai chị lắc lắc gìọng gấp rút, vui mừng, phá tan bầu không khí ngỡ ngàng của mọi người:

"Vậy cô là cô Hà mà khi con còn bé cô đã nuôi con thay mẹ đây sao? Ôi, không ngờ con được gặp cô ở đây, cô đẹp quá, ba con nhắc cô hoài và kể cho con nghe về thời khốn khổ đó. Ngoài cô còn hai cô và bà Sáu cùng nuôi con nữa đúng không cô?"

Vừa lau nuớc mắt vừa vuốt tóc Khoai Mì, Hà chỉ biết gật đầu chứ không thốt thành lời. Anh Phúc hít một hơi dài rồi thở ra nhè nhẹ, hết nhìn chồng Hà rồi đến hai người phụ nữ lắc đầu:

"Thôi, hai người đừng làm cho ông trời đổ mưa nghen. Đàn ông chúng tôi sợ nước mắt lắm đó, phải không anh?"

Anh Phúc khéo léo kéo chồng Hà vào cuộc, thế là câu chuyện tự nhiên hơn sau phút giây ngỡ ngàng của cuộc gặp gỡ bất ngờ này. Nhờ vậy, câu chuyện dần tự nhiên, thoải mái.

Một bữa cơm trưa thân mật được góp với món cá kho tiêu và canh mùng tơi nấu tôm tươi của Hà mang qua. Hai người đàn ông vừa trò chuyện vừa nhâm nhi vài chai bia, Hà và Khoai Mì cũng cụng ly rượu đỏ mừng ngày hội ngộ.

Anh Phúc cho biết lần đi vượt biên đó trời thương nên một tuần họ đến đảo, sáu tháng sau bác của anh Phúc ở Úc bảo lãnh ba người qua đoàn tụ. Tại Úc anh đã một thân nuôi Khoai Mì với đồng tiền trợ cấp của chính phủ. Đến khi cháu đủ tuổi đi học thì anh cũng đi làm và vẫn sống cảnh gà trống nuôi con; anh thường kể cho con nghe cuộc sống khốn khổ ở Việt nam và lý do mẹ mất.

Anh thường nhắc đến những ân nhân đã giúp anh nuôi cháu và mối tình không thành của anh với cô Hà. Anh làm phụ bếp cho nhà hàng ban ngày, buổi tối ở nhà với con để nhắc nhở và giúp con học hành, hai bố con anh là nguồn khích lệ lẫn nhau. Anh Phúc chọn tên Mỹ cho Khoai Mì là Kiera vì mái tóc đen nhánh giống mái tóc của mẹ. Nhưng ở nhà anh vẫn gọi là Khoai Mì. Khoai Mì là học sinh giỏi mỗi năm, cô tốt nghiệp ngành nha khoa theo mong ước của bố. Chồng cô là bác sĩ ở Mỹ qua Úc thực tập để bảo vệ luận án tiến sĩ, trong thời gian đó họ gặp nhau.

Theo chồng về Mỹ sống ở Ohio là một tiểu bang khá lạnh, khi con gái được hai tuổi thì chồng Hà vĩnh biệt vợ đẹp con thơ trong một tai nạn giao thông. Hôm ấy anh con rể chở cha vợ đi từ Michigan về Ohio, tuyết rơi dầy đặc hạt tuyết to như những mảng bông của trái gòn từ trên cây rơi xuống trắng cả bầu trời và ngập cả đường, Đến một cua quẹo gắt anh đã giảm tốc độ nhưng vì không nhìn thấy rõ lằn ranh anh không định vị được nên tay lái trượt qua len đường bên kia. Xe ngược chiều cũng không thắng kịp và tay lái bị trượt theo tuyết, tai nạn xảy ra cả hai tài xế đều tử vong. Anh Phúc bị chấn thương hai chân bất tỉnh, sau tai nạn hai chân anh liệt hẳn không còn cử động được nữa từ đó anh Phúc phải di chuyển trên xe lăn.

Anh lắc đầu hướng ánh mắt thương cảm về con và cháu: "Số phận nghiệt ngã cứ đuổi theo Khoai Mì, thật tội cho nó, mới chừng ấy tuổi đầu đã hai lần chịu tang; mới hai tháng đã mang tang mẹ, hơn nửa đời người lại đội tang chồng. Nếu không có nghị lực chắc cháu đã ngã qụy chứ không đứng nổi đến ngày nay để lo cho bố, cho con"

Hà cố nuốt nhưng cổ họng nghẹn lại không trôi được miếng cơm. Anh Phúc cho biết quyết định chuyển về Cali sống là theo ý của Khoai Mì, cô bảo Nam Cali thời tiết ôn hoà hai chân bố sẽ không đau nhức thường xuyên như ở xứ lạnh. Năm trước cô nộp đơn xin việc ở các trung tâm nha khoa đến năm nay mới có chỗ chấp nhận. Xin được việc làm ở quận Cam, Khoai Mì bèn tìm mua nhà và quyết định di chuyển ngay. Không ngờ thượng đế nhân từ còn cho anh và Khoai Mì có được niềm vui là tìm được căn nhà vừa ý mà lại được gặp Hà sau mấy mươi năm bặt vô âm tín.

Anh nhìn Hợp ánh mắt xa xăm giọng bức xúc: "Cũng may là đi được đến bến bờ tự do chứ nếu còn kẹt lại ở Việt Nam ngày nay không biết bố con tôi ra sao? Có thể cháu Khoai Mì đang mua gánh bán bưng hay bán vé số dạo hoặc đi làm mướn làm thuê..."

Hợp đồng tình:

"Anh nói đúng lắm, biết bao nhiêu đứa trẻ chứ không riêng gì cháu khi qua được đất nước tự do trở thành nhân tài. Nếu các cháu ở lại Việt nam chắc chắn không được đi học tới nơi tới chốn thì nói gì đến chuyện phát triển tài năng cho được."

Anh Phúc mời mọi người nâng ly chúc mừng cho buổi hội ngộ như huyền thoại này:

"Biết Hà có mái ấm gia đình, có người chồng tốt và con cái đều thành nhân lòng tôi vô cùng ấm áp và mừng vui. Từ nay tâm hồn tôi sẽ nhẹ nhàng và không còn tiếc nuối gì nữa. Ít nhiều gì Hà cũng là ân nhân của bố con tôi nên xin phép anh Hợp cho Khoai Mì được cơ hội đền ơn đáp nghiã mẹ nuôi của cháu."

Ông xã Hà mở lời:

"Từ nay sống cạnh nhau đây, anh cho phép chúng tôi xem gia đình anh như người nhà, anh lớn tuổi hơn nên làm anh của chúng tôi, còn cháu (anh quay sang Khoai Mì) hãy xem cô chú như ba mẹ cháu vậy, cháu cứ gọi cô Hà là mẹ nếu thích còn chú là ba, vì suýt chút nữa cô Hà cũng đã là mẹ cháu rồi, đúng không?"

Hợp cười giòn sau câu hỏi khiến mọi người bật cười theo. Khoai Mì nhìn bố dò ý, anh Phúc khoát tay với con:

"Còn không cám ơn ba mẹ đi, từ nay có thêm người thương yêu con lo cho cháu ngoại và con gái bố là bố mừng rồi đấy."

Hà mở vòng tay, Khoai Mì nhào vào hôn chị chùn chụt giọng nhẹ như gió thoảng: "Từ nay con có mẹ rồi. Mẹ ơi..."

Tiếng gọi thiêng liêng ấy khiến mọi người đều xúc động. Hà đi cắt ổ bánh khoai mì bưng đến bàn, anh Phúc chớp chớp mắt cảm động vì không ngờ Hà còn nhớ đến món bánh thuở cơ cực ấy, anh nhìn sang Khoai Mì, nhìn Hà rồi lại nhìn ổ bánh, cả ba như nhập nhoè trong mắt anh. Bưng điã bánh mời Hợp, Khoai Mì vòng tay như trẻ con:

"Dạ, con xin cám ơn ba Hợp cho con được làm con của ba mẹ. Xin mời ba dùng bánh." Cô cũng mời anh Phúc và Hà cùng thưởng thức món bánh nướng mang tên cô do tay mẹ Hà làm. Hà vuốt tóc Khoai Mì, lòng bồi hồi, lặng yên để lắng nghe con tim đang thổn thức với niềm hạnh phúc bất ngờ vừa đến, chị vấn lòng: "Tôi đang mơ hay tỉnh đây?"

Garden Grove, 3/ 25/2016
Nguyễn Thị Hữu Duyên

Ghi chú: (*) Trích trong bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Sunday, April 10, 2016

Bài Học Nhớ Đời



* * *

blank
Na (góc trái) trong giờ thực tập tại UCI, 2015.

Cầm xấp thư trong tay chưa kịp ngồi xuống thở chị Mùa soát nhanh từng thư một, không dằn được vui mừng chị reo: “Đây rồi, nó đã về.” Mở ra xem, chị ngạc nhiên vì lần này bằng lái chỉ có hiệu lực trong ba năm mà thôi, không như lần đầu tiên nó cho chị năm năm, chị chặc lưỡi: “Có nó là tốt rồi, tới đó sẽ tính tiếp, thật là một bài học nhớ đời.”

Chị vào bếp lo chuẩn bị bửa ăn cho hai mẹ con vì bé Na đi học sắp về. Hôm qua Na vừa nhận được thư báo của trường Stanford University cho học bổng hai lớp nghành Y của muà hè 2016 ($10,000.) Chị thầm khấn nguyện: “Xin Chúa cho năm nay Na đi học được suông sẻ.” Chị vừa nấu nướng vửa hồi tưởng lại mùa hè 2015, Na nhận được học bổng hai lớp ($9,000) cũng về nghành Y của trường University of California, Irvine ( UCI). Phước vừa đến chưa kịp trọn mừng thì họa cũng ập vào chị ngay ngày đầu đưa Na đến trường, lúc đó khoảng tháng 8/2015.

Hôm ấy chị đã nhờ ông Mục sư chỉ cho cách đi đường local từ nhà đến trường UCI vì từ lúc được lái xe đã hơn bốn năm qua chị chưa lần nào lái trên xa lộ bao gìờ.

Sáng sớm hai mẹ con đã dậy chuẩn bị mọi thứ, ngày đầu không biết ăn uống ra sao nên chị gói cho Na hai lát bánh mì kẹp trứng chiên ăn trưa. Na có nỗi hồi hộp của Na, chị có nỗi âu lo riêng của chị (lo sợ bị lạc đường) nên hai mẹ con quyết định đi sớm cho dư giờ, đến sớm còn hơn bị trễ, chị bảo:

“Ngày đầu tiên mình phải tạo ấn tượng tốt với thầy giáo và bạn bè, đi trễ là bày tỏ hành động xem thường lớp học, biểu lộ sự không ham thích học hành.” Chị vừa lấy thức ăn sáng vừa dạy con thêm bài học ở đời, tính chị hay thế, tranh thủ mọi khi, mọi hoàn cảnh để dạy con được điều gì hay điều ấy. Na luôn miệng dạ, đối với Na chị vừa là mẹ vừa là cha, khi cha còn sống ông ấy chẳng màng gì về việc dạy dỗ Na đến khi ông mất thì Na càng gắn bó với Mẹ hơn.

Từ nhà đến trường UCI nếu đi xa lộ thì khoảng 20 phút, nhưng đi đường local nên mất đến 45phút. Hai mẹ con đến nơi an toàn lại còn sớm 15phút, chị và con có giờ để ngắm cảnh quang ngôi trường. Lần đầu tiên trong đời chị đứng trước ngôi trường đại học lớn, lớn cả tên tuổi lẫn cơ sở vật chất. Chị bồi hồi trong dạ, nằm mơ cũng không dám nghĩ Na được trường UCI cho học bổng khi em vừa mới học xong lớp mười. Nhìn gương mặt hớn hở của con chị biết Na sung sướng và nôn nao lắm, chị không thể ngờ trong thân thể nhỏ bé mình hạc xương mai ấy Na lại có niềm ước mơ lớn như vậy, mơ được trở thành bác sĩ.

Tuổi thơ của chị ở Việt nam luôn xem các vị bác sĩ như bậc thánh, có thể trị được bệnh cho mọi người, mỗi làng chỉ có một bác sĩ thôi. Danh xưng bác sĩ đối với chị sao vĩ đại quá, cao quý quá chỉ có con nhà giàu mới dám mơ học nghành Y. Ở Mỹ lại khác, mọi người đều được quyền mơ dầu giàu hay nghèo vì ở xứ sở này chính phủ cho mượn tiền đi học nếu bạn muốn học. Chính phủ không bao giờ từ chối cho mượn tiền học bất cứ sinh viên nào, không phân biệt màu da, tiếng nói hay giai cấp. Mỹ là một quốc gia luôn xem học vấn là chìa khóa dẫn đến mọi phát triển và là nguồn gốc của văn minh. Chị nhớ ba vẫn thường dạy khi thấy em chị trốn học “Nhân bất học bất tri lý,” quá hay và quá đúng. Không học hành không thể có tri thức và lý luận, không học chỉ có ngu muội và dốt nát mà thôi vì học hành là chìa khóa mở cửa tri thức.

Ông mục sư ở Hội thánh thường nhắc nhở các cháu rằng ở Mỹ có vào là có ra, có nhập học thì cũng có ngày tốt nghiệp dầu học chậm cỡ nào, nhà trường luôn tạo điều kiện giúp đỡ học sinh hết lòng. Học sinh ở Mỹ thật sướng, chính phủ khuyến khích cho đi học, không đóng tiền học, tiền tập sách hay bất cứ thứ tiền gì từ cấp một cho đến hết cấp ba, chị thường nhắc con: “Ở đây chỉ có kẻ lười biếng mới dốt.”

Chụp với con mấy tấm hình trong kuôn viên trường, từ giả con, chị chuẩn bị sẵn tờ giấy chỉ đường đặt lên đùi và nổ máy xe chầm chậm trở về. Chị hạ cửa kính xe xuống vì máy lạnh đã hư, hơi nóng hừng hực bao vây chị, khi sáng lúc chọn quần áo để mặc chị nghe Na bảo “Wow, hôm nay cao nhất 85 độ đó mẹ nhe.” Thảo nào mới giờ này đã nóng bức, có mấy cô gái đang đi bộ trên lề đường với y phục hè thật mát mắt, lòng chị reo vui với cảnh vật, thiên nhiên đáng yêu và sự sống thì vô cùng quý.

Xe sắp đến ngã tư bất chợt một luồng gió lùa vào, tờ giấy trên đùi bay rớt xuống phía dưới ghế bên phải; chị lúng túng chưa biết làm sao thì đã đến chỗ rẽ, sẵn đang ôm len đường bên phải nên chị rẽ đại vào lối ấy, chạy chút xíu chị mới biết đó là len đường trổ ra xa lộ. Thấy xe lao vùn vụt, vùn vụt, chị hốt hoảng, mồ hôi rịn ra trán hai tay cầm vô lăng cứng ngắt chưa biết tính sao? Gần đến chỗ nhập vào xa lộ chị nhìn bên trái là lối đất trống, rộng, đó là phần phân cách giữa xa lộ và đường từ local ra, thấy khoảng đất cũng vừa tầm xe có thể quay đầu lại nên chị vòng xe quay đầu vào lối cỏ ấy. Chị mở đèn cấp cứu và chạy tốc độ thật chậm ngược hướng hai lằn xe đang chạy tới; một trên xa lộ, một ở đường local ra còn chị ở chính giữa. Biết đi ngược chiều như vậy là sai luật nhưng vì chị muốn quay về đường local mà đi nên làm liều, không có cách nào khác để trở lại. Chị nghĩ rằng chạy trên lối cỏ ấy thì xe hai bên đường nhìn thấy chị và họ sẽ tránh. Lúc nào đến lối trở lại đường local thì chị chờ an toàn sẽ ra nhanh để nhập vào rồi tìm chỗ dừng lại nhặt giấy chỉ đường lên xem mà đi về.

Chị vừa lái vừa suy tính bỗng “Wóet, wóet, wóet…” vang dội tiếng còi xe cảnh sát hú inh ỏi phía trước, phía sau, bên trái, bên phải bốn xe nhấp nháy đèn màu xanh đỏ vây quanh chị. “Thôi rồi,” chị than thầm, trời đang chói nắng mùa hạ mà chị phát lạnh như người đi giữa đông quên mặt áo len; cái run kéo đến từ trong ruột run ra, hai hàm răng đánh vào nhau lập cà lập cập, hai tay tưởng như rả rời không cầm nỗi vô lăng. Chị nhớ lại lúc học lái xe thầy dạy nếu có sự cố và bị cảnh sát theo thì phải tìm chỗ an toàn dừng ngay lạị, hai tay gát lên vô lăng chờ đợi, khi cảnh sát ra hiệu thì quay kính xe xuống chừng một gang tay vừa đủ để nói chuyện. Chị lập tức thắng xe, tắt máy và ngồi im, tim đập lùng tùng như trống giục múa lân, chị không biết tại sao cảnh sát lại biết mà đến nhanh như vậy? Có lẽ cũng tốt, chị sẽ nhờ họ giúp trở lại đường local; chắc người dốt như chị họ sẽ thương mà giúp chứ không nở phạt. Chị ngồi thừ người hít sâu mấy hơi cho bớt run, lấy lại bình tĩnh và chờ đợi.

Cảnh sát gõ cửa yêu cầu chị đưa bằng lái và giấy tờ xe để kiểm tra, chị mau mau làm theo. Sau khi xem xong cảnh sát hỏi chị mấy câu mà chị không hiểu được nên chị trả lời rằng: “Tôi không hiểu tiếng Anh nhiều xin cho gọi Mục sư của tôi.” Câu tiếng Anh này chị được Na dạy cho để nói khi cần thiết và bây giờ chị áp dụng, cảnh sát đồng ý.           

blank
Đứng giữa trong 3 người.

Chị lục tìm cái phone trong túi xách nhưng không có, sáng nay vội quá chị quên mang phone. Chị lắc tay dùng tiếng bồi nói phone chị bỏ ở nhà, cảnh sát mở phone của ông ấy bảo chị đọc số và liên lạc được với mục sư của chị. Không biết hai bên nói gì với nhau sau đó họ cho mục sư nói chuyện với chị; mục sư bảo chị phải ký vào cái gìấy cảnh sát đưa và xe chị sẽ bị kéo đi, bằng lái cảnh sát tạm giữ, còn chị thì cảnh sát sẽ đưa về đến nhà, mọi chuyện khác tính sau. Mục sư hỏi lại địa chỉ nhà của chị để cung cấp cho cảnh sát, chị trao phone lại và bước như kẻ vô hồn sang xe cảnh sát quên cả lấy cái túi xách.

Chị cắn môi nuốt nỗi cay đắng đang chực trào ra, nghĩ mà xót cho thân phận mình sao luôn gặp hoạn nạn, chị oán trách cơn gió suồng sả ập vào xe thổi bay tờ giấy chỉ đường của chị. Chị giận mình sao lại mở cửa kính xe xuống có nóng thì ráng chịu một chút đâu có chết, khi xưa bị vu khống ở tù oan trong nhà tù cộng sản, bị nhốt phòng biệt giam nóng hơn gấp trăm lần còn sống nổi. Chị nghi ngờ những lời ca tụng về lòng tốt của cảnh sát Mỹ mà bấy lâu nay chị thường nghe kể, bỗng dưng chị thấy ghét cay ghét đắng cảnh sát. Chị thấy họ ác quá, không giúp chị thì thôi lại còn thu bằng lái, kéo xe đi rồi làm sao chị đưa đón bé Na theo học xong hai lớp hè này.

Làm sao và làm sao bao nhiêu câu hỏi làm sao khiến chị nhức tưng đầu, chị đưa hai bàn tay ôm mặt và tiếng nấc đã phải bậc lên không kềm được nữa, nỗi tức tưởi tràn qua hai vai rung lên theo từng tiếng hực, hực, hực phát ra từ cuống họng khô đắng.

Đến nhà, chị cố nói hai chữ cám ơn cho phải phép, lóng ngóng mở cửa rồi nhào vào sô pha nằm khóc hu hu, khóc như ngày ở trong tù nghe hung tin mẹ mất, khóc như chưa từng được khóc bao giờ. Khóc trong oán hờn, khóc trong bế tắc, khóc đến rã rời rồi thiếp đi trong mõi mệt đến khi thức dậy gật mình vì sắp đến giờ rước con. Chị gọi nhờ mục sư đi rước dùm bé Na còn chị nằm đó mà không nhúc nhích nổi, rủ riệt tứ chi giống như vừa bị Flu, tay chân đau nhức, đầu váng mắt hoa chị nhớ lại từ sáng đến giờ mình chưa bỏ tí gì vô bụng. Bao tử cứ quặn lên từng cơn co thắc chỉ muốn nôn ra ngoài, ôi! chán đời!!!

Về đến nhà thấy mẹ thần sắc bơ phờ Na lo lắng:

“Mẹ khỏe không mẹ, mẹ có sao không?”

“Không sao con, con học được không?” Chị gượng cười với con. Bao giờ cũng vậy, chuyện học của Na là mối quan tâm hàng đầu của chị.

“Dạ vui lắm mẹ, mẹ nghĩ khỏe rồi con kể cho mẹ nghe sau, mẹ ăn gì chưa?” Na rối rít.

Chị bảo Na tự lấy cơm ăn còn chị thì hỏi mục sư chuyện của mình. Mục sư bảo, cảnh sát được phone người đi đường báo có xe chạy ngược chiều ở len phân cách trên xa lộ. Khi nói chuyện với ông họ muốn biết chị là người bình thường hay chị có bị bệnh về thần kinh không? Chị có chuyện gì buồn trong gia đình và muốn chết không? Họ cho mục sư biết họ phải giữ bằng lái của chị và trong tuần này chị phải đi gặp bác sĩ tâm thần, họ cần giấy bác sĩ xác định tâm thần chị bình thường. Sau đó họ sẽ gửi thư hẹn ngày cho chị ra tòa, lúc bấy giờ tòa sẽ quyết định tiếp chị cần làm gì.

Bây giờ chị mới hiểu, khi sáng cảnh sát nghi ngờ chị bị tâm thần hoặc muốn tự tử; vì chỉ có người tâm thần mới lái xe như vậy, còn người muốn chết sẽ lái như thế cho đến lúc nào đó lao thẳng vào xe ngược chiều thì có trời mà đỡ, tai nạn khủng khiếp như thế nào sẽ xảy ra không thể lường được? Chị thừ người nghe mục sư giải thích và bây giờ chị mới thấy múc độ nguy hiểm của việc chị đi vào len đường ngược, đó là hành động của “người điên, hoặc người muốn chết.” Vì thế cảnh sát bắt buộc phải làm việc để bảo vệ sự sống cho mọi người, họ bắt buộc phải chặn xe chị, họ không đáng trách. Na ngồi nghe mẹ và mục sư nói chuyện trố mắt từng hồi, cuối cùng Na nhào tới ôm mẹ nức nở:

“Tạ ơn Chúa mẹ con được bình an về nhà hu, hu.” Hai mẹ con ôm nhau nước mắt dàn dụa, mục sư hứa sẽ đưa đón dùm Na đi học cho xong chương trình hè.

Hôm sau chị đi khám bác sĩ gia đình rồi xin giấy đi khám bác sĩ tâm thần. Tuần sau chị nhận được giấy chấp nhận của bác sĩ tâm thần. Chị gọi lấy hẹn hai tuần sau mới vào khám được, trong thời gian đó chị nhận được thư báo ở Driver Safety in Organe hẹn ngày gặp chị để giải quyết. Khi đi chị mang theo giấy xác nhận của bác sĩ tâm thần chị là người bình thường. Chị phải trình bày nguyên nhân và lý do vì sao xảy ra việc ngày hôm ấy, Na dịch ra tiếng Anh dùm mẹ trong xúc động và thương cảm. Cuối cùng chị được giấy giới thiệu qua DMV để thi lại bằng lái cả thi viết lẫn thực hành.

Nói thì nhanh nhưng sự việc kéo dài mấy tháng trời, chị phải đóng tiền học lái xe lại rồi mới dám đi thi, thi đậu chị được DMV cấp giấy lái tạm 30 ngày, đến ngày hết hạn vẫn chưa có bằng lái gửi về, chị lên lần nữa và bổ sung thêm giấy tờ còn thiếu rồi được cấp giấy tạm cho 30 ngày nữa. Cứ thế mà chờ đợi mỏi mòn đến nay nhận được nó, bằng lái chính thức, thời hạn cho phép ba năm. Chị thầm nghĩ: “Chắc họ còn nghi ngờ mình có bệnh thần kinh nên không cho lâu, ba năm sau chắc phải thi lại, quan trọng là từ nay đến đó mình phải thật cẩn thận đừng vi phạm luật giao thông là tốt.”

Nghĩ thế chị yên tâm, nhớ lại hôm ấy chị thấy tinh thần trách nhiệm của người dân xứ Mỹ thật cao, nếu họ không gọi báo cảnh sát thì sự việc đến đâu chưa biết được, chị cũng chợt nhớ đến lời kinh thánh dạy: “Nếu biết điều lành mà không làm thì phạm tội,” thật chính xác, nhất là trong trường hợp của chị là một điển hình.

Na (đứng giữa nhóm ba người) và các bạn trong lớp hè 2015 tại UCI

Nhớ lại thời gian ấy hai mẹ con chị thật gian nan, mặc dầu mục sư hứa đưa đón dùm Na nhưng được vài ngày sau, khi đã hoàn hồn chị tìm cách để có thể đưa Na đi học không làm phiền mục sư nữa. Phần Na cháu hứa với mẹ sẽ ráng học giỏi cho mẹ vui. Thứ bảy tuần ấy chị bàn với Na tìm cách đi xe bus đến trường, thế là Na hỏi thăm các tuyến xe bus và hai mẹ con bắt đầu đi thử. Chị canh đồng hồ và ghi vào sổ tay số từng chuyến xe, mất bao nhiêu phút cho một chuyến, đến trạm cuối đi bộ vào trường bao nhiêu phút cả hai lượt đi và về chị ghi chép cẩn thận. Thứ hai hai mẹ con chị cùng đi xe bus đến trường, đi bộ với con vào trường xong chị lội bộ ra lên xe về, buổi chiều chị lại đón xe lên để cùng về với con, Thỉnh thoảng có vài em thanh niên trong Hội thánh rảnh lúc nào thì giúp đưa đón Na lúc ấy, rồi mủa học hè cũng qua.

Cuối khoá, Na nhận bằng xuất sắc về phần may khâu vết thương, em được thầy cô và bạn bè khen là “Cô bé có bàn tay vàng.”

Na nói trong nước mắt khi kể lại chuyện với mọi người tại Hội thánh:

“Trước hết con cám ơn Chúa cho con có người mẹ thật vĩ đại, chính mẹ là nguồn động viên, niềm khích lệ và là sức mạnh giúp con thành công trong khoá học hè này. Con không ngờ con được học với những bạn học ở các quốc gia: Úc, Pháp, Đức, Koria, China, Nhật, Hàn. Cũng có các bạn các tiểu bang khác đến học, đa số gia đình rất giàu có và họ phải đóng tiền hơn bốn ngàn đô la cho mỗi lớp. Có bạn là con nhà giàu ở bên Anh, cả gia đình qua đây bằng máy bay riêng, mướn khách sạn ở trong khi chờ bạn ấy đi học chỉ một lớp để bổ sung vào chương trình học của mình. Có bạn là học sinh xuất sắc ở tiểu bang khác mà con không bằng các bạn về vật chất lẫn học vấn, các bạn cực kỳ giỏi. Con cũng không ngờ con được học bổng này, được tiếp xúc với các bạn thuộc tầng lớp thượng lưu ấy như món quà thật quý đối với con. Con học được ở các chị, các bạn cách ăn nói, đi đứng, ánh nhìn của một con người được giáo dục tốt trong gia đình thượng lưu là thế nào, gia đình gia giáo tốt là thế nào. Các bạn rất yêu thương con và quý con khi biết con nghèo và đến học được là nhờ học bổng của trường cấp cho con. Con biết ơn chính phủ Mỹ và ban lãnh đạo đại học UCI đã lưu tâm đến con là một đứa trẻ thuộc thành phần nghèo hiếu học và cho con có những học bổng ấy. Nếu còn ở Việt nam không biết ngày nay con là đứa trẻ bán vé số hay rửa chén mướn cho người ta; nếu còn ở Việt nam con không bao giờ dám nghĩ đến cái nghề bác sĩ. Con muốn nhắc lại lần nữa là con vô cùng biết ơn nước Mỹ đã san bằng giai cấp cho con được đứng bằng mọi người. Con cám ơn người mẹ vĩ đại của con, con cũng cám ơn các ông bà anh chị em trong Hội thánh đã hết lòng yêu thương hai mẹ con của con. Xin cám ơn.”

Mọi người vỗ tay rào rào, có mấy cô chậm nước mắt, có tiếng khịch mũi đâu đây và tiếng chị Mùa nói với ai đó: “Cháu Na học được hai lớp còn tôi thì học được một bài học nhớ đời về nghiệp lái xe.”

******
Có tiếng gõ cửa, chị Mùa bước ra nhìn lên bầu trời cao rộng, trong xanh không gợn một áng mây lòng bình an, hạnh phúc. Na ôm mẹ hôn “chụt” luyến thoắng: “I love you, mom.” Cay cay nơi khoé mắt, chị Mùa áp má lên tóc con hít mùi nắng xém thơm thơm quen thuộc, môi hé một vệt cười sung sướng.

Nguyễn Thị Hữu Duyên

Blog Archive