Showing posts with label Ton Giao. Show all posts
Showing posts with label Ton Giao. Show all posts

Saturday, August 15, 2026

SÔNG HẰNG LUÔN CHẢY KHÔNG NGỪNG

Một hôm, Đức Phật đang ngồi nói chuyện với các môn đồ ở bên dưới một cái cây to thì đột nhiên có một người đàn ông đi tới và nhổ nước bọt vào mặt Ngài. Song trái lại với mọi dự đoán, Đức Phật vẫn ngồi điềm tĩnh, Ngài chỉ lau mặt và hỏi lại người đàn ông một câu: "Tiếp theo là gì nào?".

Trong khi đó, các môn đồ của Ngài thì rất tức giận. Môn đồ gần gũi nhất với Đức Phật là Ananda nói: "Thế này là quá lắm. Chúng ta không thể tha thứ cho hành động vô lễ này. Cần phải trừng trị hắn, nếu không những kẻ khác sẽ lại bắt chước điều đó".

Nhưng Đức Phật đã trấn an Ananda: "Ngươi hãy im lặng đi. Anh ta không khiến ta thấy phiền, nhưng ngươi thì có. Anh ta là một người mới, là người ta không quen biết.

Hẳn anh ta đã nghe người khác nói gì đó về ta, rằng ta là một người đạo đức giả, một người nguy hiểm, khiến người ta đi chệch hướng, một kẻ xấu xa. Và có thể trong đầu anh ta đã hình thành một định kiến về ta. Anh ta không nhổ nước bọt vào ta, mà vào hình ảnh mà anh ta nghĩ ra trong đầu.

Anh ta nhổ nước bọt vào hình ảnh đó vì anh ta không hiểu ta. Nếu suy nghĩ kỹ, ngươi sẽ thấy người đàn ông đáng thương này hẳn là có điều gì đó muốn nói, đây là cách anh ta bày tỏ điều đó. Nhổ nước bọt là cách để anh ta nói điều gì đó.

Có những lúc, khi ta thấy bất lực với ngôn từ, ta sẽ dùng hành động để biểu đạt. Ta có thể hiểu được anh ta. Vì thế, ta mới hỏi anh ta rằng: “Tiếp theo là gì nào?".

Ta cảm thấy rất thất vọng, không phải vì anh ta, mà vì các ngươi. Đã đi theo ta nhiều năm như vậy rồi, mà các ngươi vẫn còn có cách phản ứng như vậy".

Trước phản ứng bất ngờ này, người đàn ông như đứng chết trân tại chỗ. Anh ta chưa từng gặp chuyện như vậy trong đời. Anh ta đã từng sỉ nhục rất nhiều người, và họ đều phản ứng lại tương tự.

Với những kẻ hèn nhát và yếu thế, họ cố cười gượng rồi tìm cách lấy lòng anh ta. Nhưng Đức Phật thì khác. Ngài không tức giận, cũng không cố tỏ ra vui vẻ. Nét mặt của Ngài toát ra sự điềm tĩnh, và Ngài chỉ muốn biết anh ta có muốn nói gì không?

Chẳng biết nói gì nữa, người đàn ông trở về nhà. Tối đó, anh ta không thể ngủ được. Anh ta bị ám ảnh bởi những gì đã diễn ra. Anh ta không thể giải thích cho bản thân chuyện đã xảy ra.

Anh ta run rẩy, người vã ra đầy mồ hôi. Anh ta chưa từng gặp ai như vậy. Đức Phật đã khiến cho thứ tâm trí rối bời, đen tối, đầy oán hận cũng như toàn bộ quá khứ của anh ta như bị vỡ vụn thành trăm mảnh.

Sáng hôm sau, người đàn ông quay trở lại, phủ phục dưới chân Đức Phật. Đức Phật ân cần hỏi anh ta: "Sao nào? Đây cũng là một cách nói điều gì đó. Khi ngươi đến phủ phục dưới chân ta, ngươi đang muốn gián tiếp nói một điều gì đó mà ngôn từ dường như bất lực."

Rồi, Đức Phật nhìn sang Ananda: "Ananda, người đàn ông này lại tới, anh ta đang nói điều gì đó. Anh ta là một người đang chất chứa rất nhiều cảm xúc".

Mỗi con người là một dòng sông
Người đàn ông ngẩng đầu lên nhìn Đức Phật rồi nói: "Xin Ngài hãy tha thứ cho những gì tôi làm hôm qua".

Đức Phật hỏi lại: "Tha thứ điều gì? Nhưng ta đâu phải là người mà ngươi đã sỉ nhục. Sông Hằng luôn chảy không ngừng, sông Hằng của hôm nay đâu phải sông Hằng của hôm qua. Mỗi người đều là một dòng sông.

Người bị ngươi sỉ nhục đã không còn ở đây. Ta chỉ giống người đó thôi, chứ không phải ông ta. Trong 24 giờ đồng hồ, có rất nhiều chuyện xảy ra. Vì thế, ta không thể tha thứ cho ngươi, vì ta không có gì oán hận ngươi cả. Và ngoài ra, ngươi cũng không phải là người đàn ông hôm qua tới đây.

Vì anh ta lúc đó rất giận dữ, anh ta khạc nhổ vào ta, còn ngươi thì phủ phục dưới chân ta. Sao 2 người các ngươi lại là một được? Vì thế, hãy quên chuyện đó đi. Hãy tới gần ta hơn và nói về chuyện khác".

(Sưu tầm & biên soạn)

Saturday, July 25, 2026

Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn

Nằm bên trong Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn (Q.1) có một ngôi nhà nguyện cổ kính và trang nghiêm mang nét kiến trúc Gothic đặc trưng của Pháp vẫn còn tồn tại. có tuổi đời 163 năm.

- Chỉ khi đi sâu vào khuôn viên của Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn thì mới có thể phát hiện và ngắm nhìn trọn vẹn ngôi nhà độc đáo này một cách chân thực nhất.

- Ngôi nhà được lợp bằng mái ngói âm dương đỏ sẫm phong cách Á Đông, mang đặc trưng của Pháp các vòm nhọn cao vút, cùng phù điêu chạm khắc tinh xảo đắp nổi trên nền tường trắng kem.

- Theo tài liệu của Hội đồng giám mục Việt Nam, Đại chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn được khởi công năm 1863 bởi linh mục người Pháp Théodore Louis Wibaux.

- Sau 3 năm xây dựng, chủng viện hoạt động với 60 chủng sinh đầu tiên. Nơi đây cũng được xem là một trong các trung tâm đào tạo linh mục Công giáo xưa và lớn nhất Việt Nam.

- Sau đó, cha Wibaux tiếp tục công việc xây dựng nhà nguyện và khánh thành năm 1867. Công trình này có chiều dài 30 mét, chiều cao và chiều rộng 10 mét.

- Phía sau nhà nguyện là phần mộ của linh mục Wibaux, đặt trong một nhà mồ được thiết kế tinh tế, yên bình. Còn ở phía trước là khu nhà truyền thống trưng bày đồ cổ, vật thể văn hóa.

(Đặc biệt) trong nhà nguyện, phía dưới bục làm lễ là 3 phần mộ được đặt cạnh nhau của các vị giám mục. Đó là mộ phần Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, Đức Giám mục phụ tá Louis Phạm Văn Nẫm và Đức Tổng giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc.

Vào ngày 1.11 hằng năm (ngày lễ các Thánh), cũng được xem như ngày "giỗ chung" để tưởng nhớ các linh mục đã chọn nơi đây làm nơi yên nghỉ vĩnh hằng.

Nguyen Tien



Monday, July 20, 2026

THƯỢNG ĐẾ CỦA SPINOZA

Khi A. Einstein giảng bài tại các trường đại học Hoa Kỳ, câu hỏi mà sinh viên hỏi ông nhiều nhất là:
“Ngài có tin vào Thượng Đế không?”

Và ông luôn trả lời:
“Tôi tin vào Thượng Đế của Spinoza.”

(Baruch de Spinoza là một triết gia người Hoà Lan được coi là một trong những nhà duy lý vĩ đại của triết học thế kỷ 17, cùng với Descartes).

——-

Theo Spinoza, Thượng Đế sẽ nói rằng:

“Hãy ngưng cầu nguyện. Ta muốn con bước ra ngoài thế giới và tận hưởng cuộc sống của mình. Ta muốn con hát, vui vẻ và tận hưởng mọi thứ ta đã tạo ra cho con.

“Đừng đi vào những ngôi đền tối tăm, lạnh lẽo mà các con tự xây dựng, và nói rằng đó là nhà của ta.

Nhà ta ở trên núi, trong rừng, sông, hồ, bãi biển.

Đó là nơi ta ở và đó cũng là nơi ta cho con cảm nhận được tình yêu mà ta dành cho con.”

“Đừng trách ta về cuộc sống khốn khổ của con.
Ta chưa bao giờ chỉ trích rằng ở con có những điều xấu xa tồi tệ; hay ta cũng chưa bao giờ phán rằng con là kẻ có tội; ta cũng chưa bao giờ lên án tình dục là một điều gì đó xấu xa.

Tình dục là một món quà mà ta ban tặng con và nhờ đó con có thể vươn đến tình yêu, sự thăng hoa, niềm vui thú trong đời sống của con.

Vì thế đừng đổ lỗi cho ta về mọi điều người khác đã làm cho con tin.”

“Hãy ngưng đọc những lời giảng dạy trong kinh sách được cho là thiêng liêng, vốn không liên quan gì đến ta.

Nếu con không thể thấy được ta trong ánh bình minh, trong những vẻ đẹp của thiên nhiên, trong ánh mắt bạn bè, trong mắt con cái của con, ... thì con sẽ không tìm thấy ta trong bất cứ cuốn sách nào!”

“Hãy ngưng khấn cầu ta: Ngài có thể chỉ dạy cho con cách thực hiện mọi công việc của mình không?

Đừng quá sợ hãi ta như thế nữa.
Ta không phán xét hay chỉ trích con, cũng không tức giận hay bận tâm đến những việc như thế.
Ta là tình yêu thuần khiết.

“Đừng cầu xin sự tha thứ nữa, không có gì để tha thứ cả.
Nếu ta tạo ra con, ta đã lấp đầy con bằng những đam mê, giới hạn, thú vui, cảm xúc, nhu cầu, sự mâu thuẫn và trên hết là ý chí tự do.

Tại sao ta lại đổ lỗi cho con nếu những gì con làm là phản chiếu lại những gì mà ta đã đặt vào con?

Làm sao ta có thể trừng phạt con vì con người hiện tại của con, nếu chính ta là người đã tạo ra những điều đó ở con?

Con có nghĩ rằng ta tạo ra một nơi gọi là Địa Ngục để thiêu rụi tất cả những đứa con của ta vì chúng đã từng lỡ có những hành vi sai trái trong cuộc đời của chúng không? Loại Cha Mẹ nào lại làm những điều như vậy?

“Hãy tôn trọng đồng loại của con và đừng làm những gì mà con không muốn người khác làm cho chính mình.

Tất cả những gì ta yêu cầu ở con là hãy tỉnh thức trong cuộc sống, sự tỉnh thức ấy sẽ là kim chỉ nam cho cuộc sống của con.”

“Con yêu dấu của ta, cuộc sống này không phải là một thử thách, không phải là bước đi trên một hành trình, không phải là một cuộc diễn tập, cũng không phải là sự chuẩn bị cho Thiên Đường.

Cuộc sống này là duy nhất, ở đây và bây giờ - và đó là tất cả những gì con cần.

“Ta đã cho các con hoàn toàn tự do, không thưởng phạt, không tội lỗi hay đức hạnh, không ai để lại những chứng cứ, không ai ghi chép thưởng phạt.

Con hoàn toàn có quyền tự do sáng tạo cuộc sống của chính mình. Chính con, chứ không phải ai khác, là người tạo ra Thiên Đường hay Địa Ngục.

“Ta không thể tiết lộ cho con biết trước liệu có kiếp sau hay không, nhưng ta có thể cho con một lời khuyên:

Hãy sống như thể sau kiếp sống này không còn kiếp sống nào nữa.
Như thế, con sẽ sống như thể đây sẽ là cơ hội duy nhất cho con để tận hưởng, yêu thương và tồn tại.

Theo cách ấy, nếu không có kiếp sau, thì con cũng đã tận hưởng được trọn vẹn cơ hội mà ta đã trao cho con.

Và nếu có kiếp sau, thì con hãy yên tâm rằng ta sẽ không xét xử con vì đã cư xử đúng hay sai.

Ta sẽ chỉ hỏi: Con có thích Cuộc Sống mà con đã có không? Con có an vui hạnh phúc không? Con thích điều gì nhất? Con đã học được những bài học gì?...”

“Đừng tìm cách đặt Đức Tin vào ta nữa; Đức Tin là giả lập, là phỏng đoán, là hư cấu.

Ta không muốn con tin vào ta, ta muốn con tin vào chính con.
Ta muốn con cảm nhận được ta trong con khi con hôn người yêu của mình, khi con ôm con gái nhỏ vào lòng, khi con vuốt ve con chó của con, khi con tắm biển.”

“Đừng khen ngợi ta nữa. Con nghĩ ta là loại Thượng Đế vị kỷ nào vậy?
Ta chán việc được ngợi khen hay tôn thờ rồi.
Ta mệt mỏi vì phải nhận những lời biết ơn rồi.

Muốn thể hiện lòng biết ơn với ta ư?
Con hãy chứng minh điều đó bằng cách chăm sóc bản thân, sức khỏe, các mối quan hệ của con và chăm sóc thế giới mà ta đã tạo ra cho các con.
Sống một cuộc đời thật trọn vẹn với những cung bậc vui buồn của con!
Đó là cách ngợi khen ta.

“Hãy ngưng phức tạp hóa mọi chuyện và lặp lại như một con vẹt những gì con đã được dạy về ta.
Tại sao con cần chứng kiến nhiều phép màu hơn?
Tại sao con cần nhiều lời dẫn giải, tranh biện để biết về ta như vậy?
Điều duy nhất mà con có thể chắc chắn, đó là con đang ở đây, con còn sống; và thế giới mà ta đã tạo ra cho con vốn luôn ngập tràn những điều kỳ diệu.”

Nguồn: Tạ Minh Trãi sưu tầm, dịch và biên tập từ bản tiếng Anh của Jillene Moore.



Thursday, July 2, 2026

"Vatican có tin vào phép lạ không?"

Nhân dịp sự kiện lớn Cha Trương Bửu Diệp được phong Chân phước, mình bàn đôi chút về chủ đề: "Vatican có tin vào phép lạ không?"

QUY ĐỊNH CỦA VATICAN VỀ CHÂN PHƯỚC VÀ HIỂN THÁNH

Vatican có một quy trình pháp lý và thần học rất chặt chẽ, có thể kéo dài hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Tiến trình này do Bộ Phong Thánh (Dicastery for the Causes of Saints) phụ trách.

Bốn giai đoạn trong tiến trình phong thánh:

Tôi tớ Chúa (Servant of God)
Đấng Đáng kính (Venerable)
Chân phước (Blessed)
Hiển thánh (Saint)

ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHONG CHÂN PHƯỚC

Để phong Chân Phước thì cần có một trong hai điều kiện:

Tử đạo: Nếu một người được xác nhận đã chết vì sự thù ghét đức tin (odium fidei) hoặc vì trung thành với đức tin, không cần có phép lạ để được phong Chân phước.

Nếu không tử đạo, thông thường phải có ít nhất một phép lạ được cho là nhờ lời chuyển cầu của người đó. Và phép lạ phải được Vatican điều tra và công nhận.

TRƯỜNG HỢP CỦA CHÂN PHƯỚC PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP

Điều đặc biệt trong trường hợp của Cha Trương Bửu Diệp là có sự khác biệt giữa "những phép lạ được người dân truyền tụng" và "phép lạ được Vatican chính thức công nhận".

Từ sau khi cha Diệp qua đời năm 1946 đến nay, Nhà thờ Tắc Sậy và các tổ chức liên quan đã ghi nhận rất nhiều lời chứng của các tín hữu. Họ kể rằng sau khi cầu nguyện qua lời chuyển cầu của cha Diệp, họ đã:

* Khỏi bệnh hiểm nghèo.
* Thoát khỏi tai nạn.
* Có con sau nhiều năm hiếm muộn.
* Vượt qua khó khăn tài chính hoặc pháp lý.
* Tìm được việc làm hoặc đoàn tụ gia đình.

Nhiều video và sách về "Ơn Cha Diệp" cũng ghi lại các câu chuyện này. Tuy nhiên, lý do là cha Diệp được phong Chân phước theo diện tử đạo, chứ không phải là do phép lạ. Hiện tại Vatican chưa chính thức công nhận các phép lạ mà các nhân chứng công nhận, cần thêm thời gian kiểm chứng.

Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (1897-1946) là một linh mục Công giáo thuộc Giáo phận Cần Thơ, được rất nhiều người Việt Nam kính mến vì tinh thần hy sinh bảo vệ giáo dân.

Theo các tài liệu của Giáo hội, vào ngày 12 tháng 3 năm 1946, trong bối cảnh chiến sự và xung đột tại miền Tây Nam Bộ, cha Diệp đã tình nguyện ở lại với giáo dân thay vì bỏ chạy. Khi lực lượng vũ trang bắt giữ một số giáo dân và đe dọa giết họ, cha xin được chết thay để họ được tha. Sau đó, cha bị sát hại. Chính sự hy sinh vì đức tin và vì đoàn chiên là nền tảng để Giáo hội xem xét ngài như một vị tử đạo.

Sau khi qua đời, mộ cha tại Nhà thờ Tắc Sậy (huyện Giá Rai, tỉnh Cà Mau; trước đây thuộc tỉnh Bạc Liêu) trở thành một trong những điểm hành hương Công giáo lớn nhất Việt Nam. Mỗi năm có hàng triệu người đến viếng, không chỉ người Công giáo mà còn nhiều người thuộc các tôn giáo khác hoặc không theo tôn giáo nào. Nhiều người tin rằng họ đã nhận được sự nâng đỡ hoặc những ơn lành sau khi cầu nguyện qua lời chuyển cầu của cha Diệp.

PHÉP LẠ TRONG TIẾN TRÌNH PHONG THÁNH LÀ GÌ? AI ĐÃ ĐƯỢC PHONG THÁNH GẦN ĐÂY?

Thông thường, phép lạ được hiểu là một biến cố:

* Không thể giải thích bằng kiến thức khoa học hiện có.
* Xảy ra sau khi người cầu nguyện chỉ xin sự chuyển cầu của vị đang được xét phong thánh.
* Có bằng chứng y khoa và nhân chứng đầy đủ.
* Phép lạ phải trải qua quá trình điều tra rất chặt chẽ của các bác sĩ, thần học gia và Bộ Phong Thánh của Vatican.
* Cuối cùng, Đức Giáo hoàng sẽ quyết định có tuyên phong Hiển thánh hay không.

Ví dụ phổ biến nhất là:

* Người mắc bệnh nan y được chữa khỏi hoàn toàn.
* Sự hồi phục xảy ra đột ngột.
* Không có phương pháp điều trị nào giải thích được.
* Người bệnh không tái phát trong nhiều năm.

Một vị nổi tiếng được phong Hiển Thánh gần đây:

Mẹ Têrêsa Calcutta được phong Chân phước năm 2003 và Hiển thánh năm 2016 (13 năm sau). Để được tuyên phong Hiển thánh, Mẹ Têrêsa Calcutta (Thánh Têrêsa thành Calcutta) đã có hai phép lạ được Vatican chính thức công nhận.

Phép lạ thứ nhất (để được phong Chân phước năm 2003):
Người được cho là nhận phép lạ là Monica Besra, một phụ nữ nghèo ở bang Tây Bengal, Ấn Độ. Monica mắc một khối u lớn ở vùng bụng, kèm theo nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

Ngày 5 tháng 9 năm 1998, đúng một năm sau khi Mẹ Têrêsa qua đời, các nữ tu của Dòng Thừa sai Bác ái đặt một ảnh nhỏ và một huy chương có hình Mẹ Têrêsa lên bụng bà, rồi cùng cầu nguyện xin Mẹ chuyển cầu. Monica kể rằng trong đêm đó bà thấy một luồng ánh sáng phát ra từ bức ảnh, và sáng hôm sau khối u biến mất.

Vatican điều tra như thế nào?
* Hồ sơ được xem xét trong nhiều năm.
* Thu thập toàn bộ bệnh án.
* Lấy lời khai của các bác sĩ.
* Hội đồng y khoa của Vatican đánh giá.
* Hội đồng thần học xem xét việc cầu nguyện có thực sự hướng đến Mẹ Têrêsa hay không.

Đến tháng 12 năm 2002, Vatican kết luận rằng sau khi xem xét toàn bộ hồ sơ và ý kiến chuyên môn, sự hồi phục không thể giải thích đầy đủ bằng y học, nên công nhận đây là phép lạ theo tiêu chuẩn của Giáo hội.

Phép lạ thứ hai (để được phong Hiển thánh năm 2016)
Người được cho là nhận phép lạ là Marcilio Haddad Andrino, một kỹ sư người Brazil. Ông mắc nhiều áp-xe não (brain abscesses), tình trạng rất nguy hiểm. Ông được chỉ định phẫu thuật khẩn cấp.

Trước ca mổ, vợ ông cùng cộng đoàn giáo xứ cầu nguyện xin Mẹ Têrêsa chuyển cầu.

Theo hồ sơ, ngay trước khi ca mổ diễn ra:

* Các triệu chứng biến mất.
* Kết quả kiểm tra cho thấy các tổn thương đã hết.
* Ông hồi phục hoàn toàn và sau này vẫn có cuộc sống bình thường.

Sau nhiều năm điều tra, tháng 12 năm 2015, Đức Giáo hoàng Phanxicô phê chuẩn đây là phép lạ thứ hai. Nhờ đó, ngày 4 tháng 9 năm 2016, Mẹ Têrêsa được tuyên phong Hiển thánh với tước hiệu Thánh Têrêsa thành Calcutta.

TÓM LẠI

Qua quy trình phong Chân phước và Hiển thánh, có thể thấy Vatican không phủ nhận phép lạ, nhưng cũng không chấp nhận một cách cảm tính. Mỗi trường hợp đều phải trải qua quá trình kiểm chứng rất nghiêm ngặt trước khi được công nhận.

Khoa học, thần học và các ngành nghiên cứu khác đều đang tiếp tục tìm lời giải cho những điều con người chưa hiểu hết.

Nếu bạn yêu thích thần học, lịch sử tôn giáo hay huyền học, đừng ngần ngại học hỏi với một tinh thần cởi mở, tôn trọng chứng cứ và không ngừng tìm kiếm tri thức.

Hình là mình chụp nhà thờ St. Andrew's Church, nằm tại 73 Simcoe Street, Toronto. 

Được thành lập năm 1830, là một trong những giáo đoàn Trưởng Lão lâu đời nhất ở Canada. Công trình được công nhận là di sản theo Ontario Heritage Act nhờ giá trị kiến trúc và lịch sử. 

Dòng chữ trên bảng điện tử: "Out of the Cold - Take-Away Breakfast" - là chương trình phục vụ bữa sáng và hỗ trợ người vô gia cư, một hoạt động cộng đồng mà St. Andrew's đã duy trì nhiều năm

Jenny Dang

Wednesday, July 1, 2026

AI ĐÃ GIẾT NGÀI?

CỘNG SẢN CHỨ KHÔNG PHẢI NHẬT BẢN!!!

Tôi không theo đạo Công giáo. Tôi không cầu nguyện bằng kinh sách của họ, không quỳ trước tượng Đức Mẹ, không hiểu hết những nghi thức trang nghiêm trong các thánh đường. Nhưng có những con người, dù thuộc về một truyền thống tâm linh khác với tôi, vẫn khiến tôi phải dừng lại, cúi đầu, và thấy lòng mình rưng rưng từ sâu thẳm bên trong.

Linh mục Trương Bửu Diệp là một người như vậy.
Ngài sinh năm 1897 ở một họ đạo nghèo tại An Giang. Mẹ ngài qua đời khi ngài mới 7 tuổi. Có những đứa trẻ học được bài học về sự vô thường rất sớm, trước khi chúng kịp hiểu hết ý nghĩa của hai chữ đó. 

Rồi ngài theo cha sang Campuchia, sống trong một gia đình làm nghề thợ mộc, học hành, tu tập, và năm 1924 trở thành linh mục.

Từ năm 1930, ngài về làm cha sở họ đạo Tắc Sậy, một vùng đất nghèo ở Bạc Liêu. Ngài ở đó suốt mười sáu năm, dài hơn bất kỳ quãng thời gian nào khác trong cuộc đời ngắn ngủi của ngài. Ngài tận tụy chăm sóc giáo dân, thường xuyên thăm hỏi, động viên và giúp đỡ những người nghèo khổ, bệnh tật, không phân biệt ai theo đạo, ai không theo đạo.

Điều khiến tôi kính ngưỡng không phải là chức danh linh mục của ngài. Mà là cách ngài đã sống, và cách ngài đã chọn chết.

Năm 1945, 1946, đất nước rơi vào loạn lạc. Người ta khuyên ngài nên lánh đi. Ngài từ chối: “Tôi sống giữa đoàn chiên. Và nếu có chết cũng chết giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết.”

Một người Pháp từng đề nghị cấp súng để ngài tự vũ trang bảo vệ nhà thờ. Ngài đáp: “Không. Linh mục thì cần gì súng ống. Linh mục chăm sóc bầy chiên và sống với bầy chiên theo chân Chúa, chứ không theo phe phái chính trị nào.” Tôi cứ nghĩ về câu nói này. Một người có cơ hội tự vệ, lại từ chối, để giữ một điều ngài tin còn quan trọng hơn mạng sống của chính mình.

Ngày 12 tháng 3 năm 1946, ngài cùng khoảng 70 giáo dân bị bắt giữ. Ngài tự nguyện hiến mình để đổi lấy sự an toàn cho những người bị bắt cùng.

Một nhân chứng, người sau này mang theo nỗi hổ thẹn suốt đời vì từng có liên quan đến vụ việc, kể lại rằng ngài bị chém hai nhát vào đầu, nhát đầu lạng sớt sau ót vì người chém run tay, nhát thứ hai mới khiến đầu lìa khỏi thân.

Khi tìm thấy thi thể ngài dưới một cái ao, người ta thấy hai tay ngài vẫn chắp lại, gương mặt bình thản.

Tôi không phải người Công giáo. Nhưng đọc đến đoạn này, tôi nghĩ đến tất cả những bậc thầy, ở mọi truyền thống, từng chọn ở lại nơi nguy hiểm vì những người mình thương yêu, thay vì chọn con đường an toàn cho riêng mình.

Gần 80 năm đã qua từ ngày ngài mất. Điều tôi thấy lạ nhất, là lòng kính ngưỡng dành cho ngài không những không phai nhạt, mà còn vượt qua chính đường biên đã từng khiến ngài phải trả giá bằng mạng sống. Rất nhiều người đến viếng mộ ngài tại Tắc Sậy không phải là người Công giáo. Họ là Phật tử, người theo đạo Cao Đài, hoặc không theo tôn giáo nào, nhưng đều mang một lòng thành kính rất thật. Người ta đến đó không phải chỉ để cầu xin, mà để được ở gần với một điều rất hiếm: một con người đã sống và chết đúng như những gì mình tin.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, Giáo hoàng Phanxicô đã chính thức cho phép ban hành sắc lệnh nhìn nhận sự tử đạo của ngài, sau 13 năm điều tra. Và chỉ còn vài ngày nữa, ngày 2 tháng 7 năm 2026, một lễ tuyên phong Chân phước sẽ được cử hành ngay tại Tắc Sậy, nơi ngài đã sống và đã ngã xuống. Đây là lần đầu tiên trong gần 500 năm Công giáo có mặt tại Việt Nam, một nghi thức như vậy được tổ chức trên chính đất nước này, với dự kiến hơn 70.000 người đổ về tham dự.

Tôi viết những dòng này không phải để mời ai theo một tôn giáo nào. Tôi viết vì tôi tin có những con người, bất kể thuộc về truyền thống tâm linh nào, đã sống một cuộc đời đủ trọn vẹn để chạm đến phần thiêng liêng nhất trong mỗi chúng ta, phần vẫn còn biết rung động trước một người sẵn sàng đặt mạng sống mình xuống cho người khác mà không hề toan tính.

Linh mục Trương Bửu Diệp đã chọn ở lại, khi mọi lý lẽ đều bảo ngài nên rời đi.

Có lẽ đó là lý do, gần một thế kỷ sau, người ta vẫn còn tìm đến nơi ngài đã ngã xuống. Không phải để hỏi xin một phép lạ. Mà để được đứng gần, dù chỉ một chút, với một người đã sống đúng như những gì mình tin cho đến giây phút cuối cùng.

Nguồn:  Nguyễn Cảnh Thi

Monday, April 20, 2026

Elon Musk vs Giáo hoàng Leo XIV


Trong cuộc phỏng vấn đầu tiên sau khi nhậm chức, Giáo hoàng Leo XIV đã nhắc đến Elon Musk. Ngài nói: "Musk đã trở thành tỷ phú nghìn tỷ đầu tiên trên thế giới. Điều đó có nghĩa là gì? Nếu đó là điều duy nhất quan trọng, thì chúng ta đang gặp rắc rối lớn." 

Ngài cũng nói rằng 60 năm trước, các CEO được trả lương gấp bốn đến sáu lần so với người lao động bình thường, trong khi hiện nay con số đó là gấp 600 lần. Musk không im lặng. Ông đáp trả trên X bằng một câu trích dẫn từ sách Phúc âm Ma-thi-ơ 7:3: "Ngươi thấy cái bụi trong mắt anh em mình, mà không thấy cái xà trong mắt mình." Hàm ý là: trước khi chỉ trích người khác, hãy tự xem xét bản thân mình.

Câu Kinh Thánh mà Musk trích dẫn là một lời phản bác ngầm: Vatican, với hàng thế kỷ tích lũy của cải và quyền lực, lấy quyền gì để phán xét người khác? 

Giáo hội Công giáo sở hữu bất động sản trên toàn thế giới có diện tích tương đương với tiu bang Texas, bao gồm các đại sứ quán, nhà thờ, thánh đường, trường học và tu viện. Riêng Nhà thờ Thánh Patrick trên Đại lộ số 5 ở New York đã trị giá hàng tỷ đô la. Việc tích lũy tài sản của Giáo hội trải dài hai thiên niên kỷ, sử dụng các phương pháp kém minh bạch hơn nhiều so với thị trường vốn ngày nay. 

Vào thời Trung cổ, giấy xá tội được bán cho các tín đồ như những tấm vé lên thiên đường; khẩu hiệu được lưu truyền rộng rãi là, "Khoảnh khắc đồng xu được ném vào hộp, linh hồn sẽ thăng thiên từ luyện ngục." Việc bán giấy xá tội trên quy mô lớn thậm chí còn trực tiếp dẫn đến cuộc Cải cách của Martin Luther. 

Giáo hội cũng được hưởng các miễn thuế dài hạn. Vatican nắm giữ cổ phần đáng kể trên thị trường chứng khoán Ý, với các khoản đầu tư trải rộng trên các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, hóa chất, thép, xây dựng và bất động sản, nhưng lại tránh được việc nộp thuế cổ tức, khiến truyền thông cánh tả Ý gọi họ là "kẻ trốn thuế lớn nhất nước Ý". 

Ngân hàng Vatican vẫn hoạt động mờ ám về mặt tài chính, quản lý khối tài sản ước tính từ 90 đến 100 tỷ euro, phần lớn trong số đó chưa bao giờ được công khai. 

Thật thú vị khi thấy một người quản lý tổ chức tích lũy tài sản lâu đời nhất, lớn nhất và đa dạng nhất trong lịch sử thế giới lại chỉ trích sự giàu có của người khác.

FB Du Di



LỜI KÊU GỌI MA QUỶ !

Trên chuyến bay từ Cameron tới Angola trong chuyến công du Châu Phi, Pope Leo XIV trả lời phóng viên rằng ông không có hứng thú thảo luận với TT Trump về chiến tranh ở Iran!

Pope Leo XIV cũng nói thêm khi ông phát biểu về WAR & PEACE là nói CHUNG CHUNG chứ không nói riêng về cuộc xung đột tại Iran, và khi dùng từ TYRANT, ông cũng không ám chỉ ai (?), mà do truyền thông mạng diễn dịch quá xa, gây nên xáo trộn!

Nói thành thật, khi đọc những trần tình nói trên, tôi cảm thấy quá sức thất vọng, một người đứng đầu VATICAN như Pope Leo XIV mà tư cách quá kém cỏi !

Những gì Pope Leo XIV phát biểu trong thời gian gần đây khiến công luận phản ứng dữ dội, bây giờ Pope Leo XIV PHỦI một phát sạch trơn!

Nhưng dù ông nói thế nào thì trong vai trò một Giáo Hoàng, ông đã đánh mất niềm tin của khá đông người có Đạo Thiên Chúa, còn người không có đạo đả kích thái độ thiên tả, đạo đức giả, thiển cận ..v.v. của ông thì vô số, không kể hết được!

Người ta vạch trần SỰ THẬT là không đợi tới chiến tranh MỸ, ISRAEL & IRAN, mà từ khi còn là HỒNG Y ROBERT F. PREVOST, Pope Leo XIV đã chống TT Trump một cách mạnh mẽ, nhất là về CHÍNH SÁCH ĐÓNG CỬA BIÊN GIỚI, TRỤC XUẤT DI DÂN LẬU của TT Trump !

Vừa khi trở thành Giáo Hoàng, ông đã xoá bớt một số tút có tính cách hằn học với Trump (?)

Khi Mỹ & Israel không có chọn lựa nào khác hơn là phải dùng sức mạnh quân sự để triệt hạ dã tâm tàn bạo của chế độ thần quyền Iran, Pope Leo XIV công khai nói hành động gây chiến của Mỹ & Israel Là PHI NGHĨA (unjust) . Ông nói “Đừng lợi dụng danh Chúa để biện hộ cho chiến tranh, Thượng Đế không đứng về phía người cầm gươm và bom đạn!

Khi TT Trump cầu nguyện “God bless our soldiers!”thì Pope Leo XIV tuyên bố “Thượng đế không lắng nghe cầu nguyện của những người gây chiến, tay dính đầy máu ( Trích Isaah 1:15)”

Khi gạch đá ném tới tấp về phía mình vì những tuyên bố đầy bản chất thiên tả, ủng hộ cái ÁC, đả kích những hành động bảo vệ an toàn của nước Mỹ và cả thế giới trước dã tâm TÀN BẠO của chế độ thần quyền Iran, Pope Leo XIV lươn lẹo chối bỏ tất cả những gì ông đã tuyên bố ?

Khi TT Trump đưa ra giới hạn 10 ngày cho chế độ Tehran, nếu không mở cửa eo biển Hormuz hoàn toàn vô điều kiện thì TT Trump sẽ ra lịnh tiêu diệt Iran trong một đêm !

Pope Leo XIV không hề nói tới Trump khi nói về chiến tranh ?

- Vậy ai đã nói “LỜI ĐE DOẠ TIÊU DIỆT IRAN TRONG MỘT ĐÊM LÀ KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC!”?

- Vậy ai đã nói CUỘC CHIẾN TẠI IRAN LÀ PHI NGHĨA ( UNJUST )?

Tôi mới đọc một bản tin về Pope Leo XIV và PTT JD Vance, cả 2 đều có vẻ muốn HẠ NHIỆT nên dịu giọng, nhưng những gì Pope Leo XIV tuyên bố đã khắc sâu vào tâm trí người Mỹ, không dễ gì quên được. Chúng phơi bày trọn vẹn một đầu óc thiên tả không tưởng, bị lũ ma quỷ ám chướng nên thốt ra những lời cực kỳ trái tai!

Không hiểu bạn sẽ nghĩ gì nếu bạn có cơ hội nghe một thiếu nữ trẻ Iran nói với gương mặt buồn thảm, rằng Cô sẵn sàng chết nhưng chỉ muốn Mỹ tiêu diệt chế độ ma quỷ tại Tehran, Cô bảo bạn không ở Iran như Cô nên không thể hiểu được hoàn cảnh thê thảm của Cô, vì vậy đừng ĐẠO ĐỨC GIẢ, lên tiếng ngăn Mỹ tiến hành dội bom lên đầu bọn IRGC !

Pope Leo XIV nói ông rao giảng PHÚC ÂM, KIẾN TẠO HOÀ BÌNH, KHUYẾN KHÍCH SỐNG CHUNG HOÀ HỢP THÂN THIỆN GIỮA NGƯỜI CHRISTIANS VÀ NGƯỜI ISLAMISTS ?

Pope Leo XIV tới Lebanon và tuyên bố rằng Lebanon là điển hình tuyệt vời nhất về sự hoà hợp thân thiện giữa người Christians và người Islamists?

Một phụ nữ từng sống ở Lebanon lên mạng chế diễu Pope Leo XIV, Cô nói tất cả là một màn kịch cho Pope Leo XIV xem và ông này đã tin tưởng một cách ngớ ngẩn!

Thật là mỉa mai khi một Giáo Hoàng, luôn dẻo miệng nói về yêu thương, hoà bình, lại tuyên bố những câu MỘT CHIỀU rất tởm.

Suốt 47 năm qua, người dân Iran như sống trong địa ngục cực kỳ dã man khủng bố, họ không có chọn lựa nào khác, phải xuống đường dù phải chết. Những thanh niên nam nữ đầy nhiệt tình lại bị chế độ Tehran giết hại, tàn sát mà con số đã lên tới gần 40000 người chỉ trong 3 tháng đầu năm 2026!

Thế mà Pope Leo XIV chẳng hề có lấy một câu để quan tâm tới tình trạng đau thương của người dân Iran. Ông cũng chẳng để mắt tới tình trạng bị giết hại tràn lan của những người Christians tại Nigeria, những nạn nhân thê thảm của bọn dân quân hồi giáo tại nước này. Thời gian của ông là để tìm mọi lý lẽ để tấn công Trump và ca ngợi sự hiệp thông với người hồi giáo ?

Nói về Pope Leo XIV làm tôi nhớ tới một nhân vật khác của MIỀN NAM VIỆT NAM trước 1975, đó là thằng giặc trọc THÍCH NHẤT HẠNH!

Lão trọc này cũng có cách hành xử rất giống với Pope Leo XIV !

TNH ăn hạt gạo của VNCH nhưng đầu óc lại cảm tình với lũ cộng sản Hà Nội. TNH kêu gọi hoà bình nhưng lại ca ngợi lũ cộng sản Hà Nội và dựng đứng những điều không thật để tố cáo VNCH trước thế giới. Năm 1973, vụ HOÀ ĐÀM PARIS, TNH đưa ra đề nghị của lão - Quân đội VNCH không được hành quân tìm diệt CS, phải đóng quân một chỗ. TNH không hề đả động gì tới những sư đoàn CS Bắc Việt đang đóng quân trên đất miền nam, chẳng khác gì lão muốn quân đội VNCH tự trói tay cho kẻ thù tập bắn ?

Pope Leo XIV cũng y như thế, ông ta tố cáo Mỹ & Israel gây ra cuộc chiến mà ông cho là PHI NGHĨA, nhưng lại không có lấy một lời phản đối tham vọng giết người của chế độ hồi giáo Iran !

Bi hài là ngay cả Hồng Y Piertro Parolin, Secretary Of State của Vatican, cũng kêu gọi người Thiên Chúa Giáo hãy đứng cùng với Pope Leo XIV, đừng để LỜI KÊU GỌI HOÀ BÌNH của ông ta tan loãng trong sa mạc ?

Kêu gọi hoà bình của Pope Leo XIV là gì? Phải chống Mỹ & Israel, bãi bỏ phong toả, bồi thường chiến tranh, dễ dãi cho chế độ Tehran tiếp tục tinh lọc Uranium để chế tạo vũ khí hạt nhân? Là khuyến khích người dân Mỹ bớt sợ người hồi giáo và sống chung thân thiện, hữu hảo với họ?

Đó là lời kêu gọi của ma quỷ, chứ có phải kêu gọi hoà bình gì đâu!

Huỳnh Hậu




Friday, April 17, 2026

Bài viết của Charles C. Odogwu

Khi Giáo hoàng Francis qua đời, một số tín hữu Cơ Đốc đã thở phào nhẹ nhõm, tin rằng Vatican sẽ làm tốt bổn phận của mình khi chọn ra một vị Giáo hoàng kính sợ Chúa, am tường Kinh Thánh—chứ không phải một vị Giáo hoàng lại đi "mang ách chung" với người Hồi giáo và những kẻ vô tín—mà là một người bảo vệ chân lý của Tin Lành về Chúa Cứu Thế Giê-xu, và là một chiến sĩ đấu tranh cho quyền lợi của các tín hữu Cơ Đốc trên khắp thế giới. 

Nhưng rốt cuộc, Vatican đã mang lại cho thế giới điều gì? Vẫn là cùng một khuôn mẫu như các vị Giáo hoàng tiền nhiệm—những người đã hành động chống lại các tín hữu và Tin Lành của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Giáo hoàng Leo cũng y hệt như người tiền nhiệm của ông—Giáo hoàng Francis. Và thậm chí, ông ta có thể còn tệ hại hơn cả Giáo hoàng Francis nữa.

Tôi cũng nghe thấy một số người nói rằng lẽ ra ông Trump nên dành chút sự tôn trọng cho Giáo hoàng Leo—người đã dành trọn nhiều năm tháng để phục vụ trong chức vụ rao giảng Tin Lành—nào là thế này, thế nọ...

Câu trả lời của tôi là thế này: điều đó thì có liên quan gì đến chân lý và sự công chính của Đức Chúa Trời Toàn Năng—Cha chúng ta—và của Chúa Cứu Thế Giê-xu hay sao?

Bất kể vị Giáo hoàng ấy đã dành bao nhiêu năm để nghiên cứu Kinh Thánh hay phục vụ trong chức vụ, thì qua những phát ngôn gần đây, ông ta đã tự chứng minh rằng mình vẫn chỉ là một kẻ "tập sự" trong sự hiểu biết về Kinh Thánh mà thôi. Điều quan trọng không nằm ở số năm người ta bỏ ra để nghiên cứu Kinh Thánh, mà nằm ở việc nói ra chân lý và sống đúng theo chân lý ấy. Vị Giáo hoàng này không phải là một đại diện chân chính của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ông ta chỉ đơn thuần là người đang nắm giữ vị trí cao nhất trong Giáo hội Công giáo mà thôi. 

Tôi sẽ chẳng dành chút sự tôn trọng nào cho bất kỳ ai tự xưng là "người của Chúa" nhưng lại không sống đúng với danh xưng đó. Chẳng có bất kỳ "người của Chúa" hay "giáo hội" nào có quyền đưa tôi xuống địa ngục hay đưa tôi lên thiên đàng cả. Chính tôi—nhờ vào đức tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu—mới là người được bước vào thiên đàng. Phải, thiên đàng chính là nơi cư ngụ vĩnh viễn của tôi—nhờ ân điển của Đức Chúa Trời—sau khi tôi hoàn tất cuộc lữ hành trần thế trên cõi đất đầy tội lỗi này. Và tôi cũng vậy—nhờ ân điển của Đức Chúa Trời—cũng chính là một "người của Chúa". Hãy thử so sánh Giáo hoàng Leo và Tổng thống Trump, bạn sẽ thấy sự khác biệt rõ rệt: Trump vượt trội hơn ông ấy rất nhiều.

Kể từ khi nhậm chức, Giáo hoàng đã thực sự làm được gì cho Cơ Đốc giáo?

Nigeria hiện được đánh giá là quốc gia nguy hiểm nhất trên toàn thế giới đối với những người thực hành đức tin Cơ Đốc. Nạn diệt chủng người Cơ Đốc đang diễn ra ngay tại đó. Ngay cả khi tôi đang gõ những dòng này, người Cơ Đốc vẫn đang bị sát hại hàng loạt, ngày qua ngày, tại miền Bắc Nigeria dưới bàn tay của những kẻ Hồi giáo cực đoan. Giáo hoàng Leo đã làm gì để giải quyết vấn đề này? 

Ngược lại, Tổng thống Trump – người mà một số kẻ thiếu lý trí vẫn gọi là "Satan" – mới chính là người đã và đang đấu tranh bảo vệ quyền lợi của người Cơ Đốc: không chỉ tại Nigeria, mà còn ngay tại nước Mỹ và trên phạm vi toàn cầu. 

Trong khi đó, vị Giáo hoàng – người tự xưng là "người đứng đầu cộng đồng Cơ Đốc giáo trên toàn thế giới" – lại chọn cách giữ im lặng, thậm chí còn tỏ thái độ lừng khừng, thỏa hiệp với người Hồi giáo; gần đây ông còn thực hiện chuyến thăm tới Algeria. 

Trong chương trình nghị sự của ông, hoàn toàn không hề có chỗ cho vấn đề Nigeria. Giáo hoàng Leo đã phát ngôn gì về số phận của hơn 45.000 người Iran (trong đó có cả những người Cơ Đốc) đã bị thảm sát dưới bàn tay của chế độ Ayatollah Ali Khamenei? Và tôi vừa đọc được tin rằng một cô gái Iran 18 tuổi (vẫn còn trinh trắng) sắp sửa bị hành quyết vì tội phản đối chế độ độc ác này; theo những tín điều quỷ quái của họ, cô gái sẽ bị cưỡng hiếp ngay trước giờ hành quyết để đảm bảo rằng cô không thể bước vào Thiên Đàng với tư cách là một trinh nữ.

Tôi hoàn toàn chẳng bận tâm hay coi trọng cái chức vụ "người của Chúa" mà một kẻ nào đó đang nắm giữ trong Giáo hội; nếu kẻ đó không sống đúng theo những lời răn trong Phúc Âm của Chúa Cứu Thế Giê-xu, thì xin cho kẻ đó phải chịu lời nguyền rủa!

Chúa Giê-xu là Chúa Tể.


 ODOGWU’S ARTICLE ALREADY!
Hau Huynh
SCANDAL PHÓ TẾ VŨ THÀNH AN

Thời gian gần đây, cộng đồng Công giáo trong và ngoài nước đang xôn xao trước những hoạt động của Phó tế - Nhạc sĩ Vũ Thành An liên quan đến việc ông Phó tế Nhạc sĩ nổi tiếng với chuỗi bài "Không tên" này thành lập "Tu hội Thừa sai La Vang", gây hoang mang đức tin và tiềm ẩn nguy cơ lừa đảo lòng bác ái trong lòng giáo dân. Tôi viết bài này với sự hiểu biết chừng mực và trên quan điểm cá nhân của mình và dưới góc nhìn của một giáo dân để phân tích vụ việc này gửi đến những ai chưa nắm rõ.

Để thành lập một dòng tu hoặc tu hội trong giáo hội Công giáo, qui trình cực kỳ nghiêm ngặt và phải trải qua những giai đoạn thử nghiệm dưới sự giám sát của giáo quyền. Cụ thể phải có sự phê chuẩn của Giám mục giáo phận hoặc Toà thánh Vatican sau nhiều năm thử nghiệm dưới sự giám sát của vị giám mục sở tại trong một thời gian dài.

Tuy nhiên qua sự vụ này, ông Vũ Thành An đã tự ý:

*Sử dụng danh xưng " Nữ tu"," Tu hội", cho thành viên mặc tu phục và cấp thẻ nhà dòng dù tổ chức này chưa bao giờ được công nhận là dòng tu chính thức. Ông mặc phẩm phục phó tế đứng ra chủ trì nghi thức khấn dòng cho các thành viên, điều này hoàn toàn vô hiệu về mặt giáo luật vì phó tế- phẩm trật thấp nhất của hàng giáo sĩ -không có thẩm quyền này, thẩm quyền này thuộc về giám mục hoặc phẩm trật cao hơn.

Một vấn đề nghiêm trọng là ông Vũ Thành An đã tạo" linh mục giả" và gửi đi truyền giáo bất hợp pháp. Có những cáo buộc và những bằng chứng cho thấy ông ấy đứng sau việc tổ chức phong linh mục cho các thành viên trong nhóm mà không qua chủng viện hoặc chương trình đào tạo của giáo hội. Những người này được ông gửi qua các vùng xa xôi như Tanzania (châu Phi) để hoạt động. Vì không có giấy tờ hợp lệ từ giáo phận sở tại, họ bị coi là linh mục giả mạo danh giáo sĩ để thực hiện các nghi lễ và quyên góp tiền bạc.

Ông Vũ Thành An đã lợi dụng danh tiếng nhạc sĩ và chức danh phó tế để tạo niềm tin, từ đó kêu gọi quyên góp tài chính từ giáo dân khắp nơi dưới danh nghĩa " giúp người nghèo".

Khi bị giáo quyền để ý nhắc nhở, ông chuyển sang tổ chức khấn dòng qua mạng cho các ứng sinh tại VN để né tránh sự kiểm soát.

Và một điều nữa là,Theo quy định của giáo luật: tài chính của một dòng tu phải được quản lý của một Ban cố vấn và Thủ quỹ độc lập từ Toà giám mục, nhưng các nguồn tiền đóng góp cho tổ chức này của ông An được cho là nằm dưới sự điều hành cá nhân mà thiêú sự giám sát của giáo phận.

Trước những sự việc của Phó tế Vũ Thành An, các cơ quan chức năng của Giáo hội đã lên tiếng:

Giáo phận Portland _ nơi ông An thuộc về_ đã ra văn bản khẳng định tổ chức của ông ấy không được công nhận là một tu hội Công giáo chính thức.

Giám mục Nguyễn Thái Thanh_ giám mục phụ tá giáo phận Orange _đã có văn thư nhắc nhở, yêu cầu ông An ngưng các hoạt động tự phát vì vi phạm trật tự và kỉ luật giáo hội, khẳng định tổ chức của ông là bất hợp pháp và yêu cầu giải tán các hình thức " tu giả".

Và các linh mục , như linh mục Nguyễn Văn Khải, Dòng Chúa Cứu thế, đã vạch trần các dấu hiệu lừa đảo của ông An như việc sử dụng giấy tờ của các " linh mục giả" tạiTanzania không đúng với nơi được sai đi, hoặc các giấy phép không khớp với hoạt động truyền giáo. Cha Khải cho rằng: những hoạt động này sử dụng danh nghĩa truyền giáo để quyên góp.

Các vị chức trách đã lên tiếng: đây là hành vi " ly giáo" trá hình, lợi dụng lòng tốt của tín hữu để xây dựng một "đế chế cá nhân" ngoài tầm kiểm soát của giáo hội.

Trước các cáo buộc đó, ông Vũ Thành An không đưa ra được bằng chứng pháp lý hay con dấu cụ thể để bác bỏ, mà chỉ lên tiếng nhấn sâu vào " lòng nhân từ" và khuyên mọi người " đừng xét đoán".Ông ấy ví việc thành lập "tu hội" của mình như trồng một cái " cây bác ái" vì người nghèo.

Tôi biết và tất cả mọi người chắc đều đã biết : Lòng bác ái là cốt lõi của Đạo Công giáo, nhưng bác ái phải đi đôi với sự vâng phục và tuân giữ các giáo luật, nhất là hàng giáo sĩ. Phó tế Vũ Thành An đã không nắm được điều này qua những việc làm của ông ấy.

Với vị trí là một giáo dân tôi muốn nói : làm việc bác ái là điều tốt và cần làm. Nhưng làm việc bác ái phải thực hiện trong một đức tin vững vàng, lòng mến nhiệt thành và cái đầu sáng suốt quản lý...túi tiền của mình nữa. Nên khi làm việc bác ái cần xác minh thông tin, khi đóng góp cho bất kỳ " nhà dòng" hay"tu hội" nào, kiểm tra xem tổ chức đó có văn thư công nhận của giám mục sở tại không. Và phải cẩn thận với những danh xưng. Không phải ai mặc áo dòng xưng là " Cha", là"Sơ" thì đều là tu sĩ thật, nhất là khi các nghi thức khấn hứa, phong chức được thực hiện mập mờ thiếu minh bạch như ông Phó tế có vợ Vũ Thành An này đã làm.

Sự việc của ông Vũ Thành An là bài học đắt giá về việc" nhân danh Chúa làm việc riêng". Chúng ta cầu nguyện cho hàng giáo sĩ, cầu cho sự hiệp nhất của giáo hội nhưng cũng phải tỉnh táo để không trở thành nạn nhân của những hoạt động tôn giáo lệch lạc kiểu như ông phó tế này.





Tuesday, March 3, 2026

CẨN THẬN VỚI '' CÁI NGÃ TÂM LINH

Bản ngã không chỉ là sự khoe khoang những hình thức.. hay ngạo mạn thô thiển. Đó chỉ là lớp vỏ. Kẻ thù thực sự nằm ở bản ngã vi tế – thứ ẩn mình sau lòng tốt và sự thông thái. Khi bạn nghe giảng, đọc sách, bạn thuộc lòng các kinh điển nhiều, và bạn bắt đầu cảm thấy mình "biết".

Nhưng cái "biết" này chỉ là sự tích lũy của trí năng. Bản ngã vi tế sử dụng tri thức để tạo ra một bức tường ngăn cách bạn với sự thật. Bạn không trải nghiệm sự thật; bạn chỉ đang trải nghiệm ý niệm về sự thật. Một người ít hiểu biết có thể dễ dàng buông bỏ bản ngã hơn một "kẻ thông thái" chứa đầy lý thuyết.

Cái ngã tâm linh, nó không hét lên: "Tôi giỏi nhất."
Nó thì thầm: "Tôi khiêm tốn nhất. Tôi tỉnh thức hơn.
Tôi khác biệt với đám đông ngoài kia."
Đó là lúc bản ngã vừa thực hiện một cú đào tẩu ngoạn mục:
Nó rũ bỏ bộ quần áo trần tục để khoác lên mình chiếc áo cà sa thánh thiện.

Điều gì là ''Cái ngã của sự Thánh thiện''?

Khi bạn ăn chay và bắt đầu nhìn những người ăn thịt bằng ánh mắt thương hại.
Khi bạn thiền định và thấy những người bận rộn thật tầm thường.
Khi bạn sống tối giản và âm thầm khinh miệt sự xa hoa.
Khi nhà tu khước từ tấm cà sa kim tuyến và chỉ đắp chiếc y chắp vá.

Chính lúc đó, bản ngã đang ăn mừng chiến thắng. Nó không mất đi, nó chỉ vừa được "nâng cấp" lên một tầm cao tinh vi hơn. Tự hào về sự khiêm tốn của mình chính là đỉnh cao của sự ngạo mạn.

Người thực sự tỉnh thức là người bình thường đến mức tận cùng .
Họ không có hào quang để khoe, không có tri thức để '' khè '' thiên hạ. Họ nhẹ như một chiếc lông hồng, trống rỗng như một ống sáo.

Họ không nói: "Tôi đã đến đích".
Bởi vì khi đến đích, cái "Tôi" đã tan chảy từ lâu.
Chỉ còn lại đại dương, không còn bóng dáng một cái ''tôi thánh thiện''.

Tỉnh thức không phải là vươn tới một đỉnh cao nào đó. Mà là buông xuống – buông sâu vào sự giản đơn nhất của chính mình.

'' Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha ''

Thiện Tri Thức
Namo Buddhaya


Blog Archive