Showing posts with label Vũ Thế Thành. Show all posts
Showing posts with label Vũ Thế Thành. Show all posts

Friday, August 7, 2026

Trăm năm nghĩa tình

Ông Võ Hương An thời sinh viên, dám tán tỉnh con gái thầy giáo. Chuyện tưởng khó mà lại thành, đúng như câu ca dao Nam Bộ: “Ai ai cũng tưởng bậu hiền, cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai”.

Ông thầy thuộc hàng “thứ dữ”, chứ không xoàng. Đó là giáo sư Nguyễn Đình Hàm, hiệu trưởng Quốc Học Huế những năm cuối thập niên 50. Trước đó ông từng làm quan triều Nguyễn, đeo bài ngà hẳn hòi chứ không phải cấp thơ lại. Sau chức hiệu trưởng thầy Hàm làm Chánh sự vụ thuộc Bộ Tài Chính.

Ông thầy có hai cô con gái cũng theo học tại Quốc Học. Thuở đó, con gái học tới đệ nhị cấp đếm đầu ngón tay. Hoa lạc giữa rừng gươm nên là đối tượng cạnh tranh của đám học trò. Trường Quốc Học Huế được xem là trường đào tạo tinh hoa cho cả miền Trung.

Theo lời thú nhận của ông Võ Hương An, việc học chỉ trên trung bình một chút, coi như không có cửa cạnh tranh với các đồng môn nặng ký.

Khi vào Đại học Sư phạm ban Khoa học (Toán – Lý- Hóa), ông lại tái ngộ GS Nguyễn Đình Hàm khi học môn Luân lý chức nghiệp. Bà Minh Lệ, con gái thầy Hàm cũng theo học tại ĐHSP. Nếu nàng đem Toán học ra “gieo cầu” thì ông thua chắc. Họ chơi chung một nhóm với nhau thời sinh viên. Ông phân trần với tôi, không phải là tán tỉnh, mà là chơi chung một nhóm hồi đại học, rồi mưa dần thấm lâu. Hai người nên duyên vợ chồng năm 1967. Đúng là cắn cơm không bể, nhưng cắn tiền lại bể hai…

Tốt nghiệp ĐHSP, ông được bổ nhiệm về trường trung học Hàm Nghi, nằm trong khuôn viên của Quốc Tử Giám. Lúc đó trường thừa người dạy Lý Hóa, mà thiếu Sử- Địa, nên Võ Hương An đành lấp vào chỗ thiếu. Không ngờ môn Sử sau này lại trở thành cái nghiệp với ông suốt đời.

Cung đình Huế thì lắm chuyện thâm cung bí sử, tin đồn rỉ tai, tam sao thất bổn nhiều hơn chính sử. Tôi đọc mấy sách loại này như đọc tiểu thuyết vì suy diễn nhiều hơn suy luận. Nhưng có một tác giả viết về chuyện cung đình khiến tôi phải… nể. Đó là ông Võ Hương An.

Cha ông Võ Hương An là thị vệ trải hai đời vua Khải Định và Bảo Đại. Chức vụ cuối cùng là Nhất đẳng thị vệ. Thuở nhỏ ông Võ Hương An vẫn hóng chuyện cha ông nói chuyện với khách, thỉnh thoảng theo cha vào cung cấm. Chưa kể nghe mệ nội, mệ ngoại đi chợ về tán chuyện đàn bà cung cấm. Lớn lên, ông trao đổi trực tiếp với cha nhiều hơn về thời cha ông làm thị vệ. Thị vệ là chức quan theo sát nhà vua, truyền ý chỉ của vua. Không phải tất cả những gì cha nói, ông Võ Hương An đều tin ngay. Có những thông tin ông kiểm chứng và lật ngược lại. Cách làm việc khoa học của ông khiến bài viết có độ tin cậy cao.

Tôi và ông Võ Hương An quen nhau đã hơn mười năm, qua những bài báo của nhau. Ông biết tôi qua các bài an toàn thực phẩm đăng ở báo online khoahocnet ở nước ngoài. Tôi phục ông qua các bài viết về cung đình Huế với sự cẩn trọng.

Thỉnh thoảng mail qua mail lại, tặng sách cho nhau. Ông nói, ông tốt nghiệp ĐHSP Huế, môn Lý Hóa. Tự hỏi, sao ông lại viết về oral history (lịch sử truyền khẩu) rất thuyết phục và đúng phương pháp như thế? Tôi thắc mắc hoài. Sau này mới biết, ông học thêm và tốt nghiệp Cao học Sử năm 1974, với thesis “Lịch sử Đà Nẵng 1306-1950”. Hèn gì!

Trở lại với chuyện “cắn tiền bể hai”. Cô giáo Minh Lệ cũng được bổ nhiệm về trường Hàm Nghi, và dạy môn Toán. Ông Võ Hương An thì cứ từ từ với công việc “trái ngành” như thế, dạy Sử Địa, rồi lên làm giám học. Có thời làm quyền Hiệu trưởng. Như vậy, ở trường ông là sếp của bà. Về nhà chắc vị trí đảo ngược. Sau này ông Võ Hương An làm việc ở Đà Nẵng, cô giáo Minh Lệ cũng theo chồng về đây, dạy học tại trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng.

Sau năm 1975, ông Võ Hương An phải đi tù cải tạo 7 năm. Tôi thắc mắc, đi dạy Lý-Hóa, hay Sử đâu có gì mà phải đi tù 7 năm. Sau này mới biết, ông làm thanh tra Giám sát Viện VNCH. Giám sát viện có quyền thanh tra, điều tra các chức vụ cao cấp nhất của Hành pháp, Tư pháp và Lập pháp.

Sau khi ra tù, ông làm đủ nghề, ai mướn gì làm nấy. Khi qua Mỹ theo diện H.O. ông làm công nhân hãng xưởng cho đến khi về hưu.

Nơi xứ người, ông Võ Hương An viết tùy bút kể lại nhóm ông đã nấu mì Quảng trong tù thế nào (tôi có đề cập tới tô mì Quảng thần thánh của ông trong sách “Ẩm thực ven đường – Huế”, xb 2024). Đôi lúc nhớ lại tô mì Quảng trong tù, ông Võ Hương An nhờ vợ nấu lại món mì Quảng thời hoang sơ, mà với ông, ngon nhất trần đời. Các bà vợ Huế có thể “độc tài toàn trị” với chồng, nhưng vụ bếp núc, nhất là những món ăn dịp giỗ kỵ không bao giờ để chồng nhúng tay. Đó là sĩ diện của mấy bả. Bà Minh Lệ nghe ông nhờ nấu, chỉ cười “… Chừ mà nấu kiểu đó, anh phải ráng ăn cho hết, vì không ma nào ăn mô”.

Ở Mỹ, ông Võ Hương An viết nhiều sách khảo cứu: Huế của một thời, Vua Khải Định – hình ảnh và sự kiện, Từ điển nhà Nguyễn, Lịch sử Đà Nẵng, Chân dung H.O,… Trong đó, tôi đánh giá cao nhất là sách “Huế của một thời”. Đặc biệt là sách “Vua Khải Định” đã giải mã nhiều câu chuyện oral history, vì không phải nhà sử học nào cũng có cơ may cọ sát với nhân chứng cung đình như ông.

Còn bà Minh Lệ thì sao? Qua Mỹ bà không có cơ hội quay lại nghề dạy toán. Phải làm những chuyện lặt vặt. Sau này ông viết lách cho đỡ buồn, bà biên tập các bài viết cho ông – công việc tỉ mỉ lặng lẽ sau lưng những biên khảo rất giá trị của chồng.

Vài năm sau này, ông nói với tôi, vợ ông bị Alzheimer. Người cả đời từng sống với những con số, rồi lại tỉ mỉ biên tập sách cho chồng. Vậy mà ký ức cũng dần lãng quên thế sao? Bạn bè tôi trong nước, vài người có cha mẹ bị Alzheimer, nên tôi biết chăm sóc họ vất vả thế nào. Ở nước ngoài, nhiều gia đình lựa chọn viện dưỡng lão vì điều kiện chăm sóc người bệnh tốt hơn, rồi hàng tuần vào thăm cha mẹ.

Nhưng ông Võ Hương An lại chọn cách khác. Ông tự tay chăm sóc vợ ở nhà, với những công việc osin không tên, đếm sao cho hết! Ông thường trả lời thư tôi muộn, rồi kín đáo giải thích “… nhờ hai ngày cuối tuần, có con cái về phụ coi mẹ nó nên tôi có chút thời gian đọc mail và trả lời”.

Ông Võ Hương An tên thật là Võ Văn Dật. Võ Hương An là bút hiệu khi viết những sách biên khảo. Ông nói, chánh quán của ông ở làng An Ninh Hạ, huyện Hương Trà – Ghép lại thành Hương An để nhớ quê.

Bà Võ Văn Dật, nhũ danh Nguyễn Thị Minh Lệ, giáo sư Toán trường Hàm Nghi (Huế) và Phan Chu Trinh (Đà Nẵng) đã mãn phần ngày 01/07/2026 tại San Jose.

Bạn tôi có người là học trò cô Minh Lệ ở trường Hàm Nghi đã đến thắp nhang tưởng niệm cô giáo cũ. Tôi nhắn, thắp giùm tôi nén nhang.

Ông Võ Hương An năm nay đã vào tuổi U 100. Chỉ mới vài tháng trước ông vẫn lặng lẽ chăm sóc người vợ không còn nhớ mình là ai. Tình đưa họ đến với nhau, Nghĩa làm họ gắn chặt nhau. Chẳng phải là trăm năm nghĩa tình đấy sao!

Vũ Thế Thành

(hình riêng tư trong bài được post với sự đồng ý của ông Võ Hương An)



Saturday, May 23, 2026

Tháng Tư, Nhớ Mì Gói 


Tháng tư và mì gói nào có liên quan gì với nhau. Tháng tư năm 75 chỉ là cột mốc, thoắt chốc mì gói đã trở thành sơn hào hải vị trong các bữa ăn của người dân Sài Gòn.

Những năm sau 75, con đường vương bá của mì gói bất ngờ nổi lên. Miền Tây là vựa lúa mà Sài Gòn thiếu gạo mới đau, dù chiến tranh đã trôi qua vài năm rồi. Mỗi tháng tiêu chuẩn gạo của kỹ sư như tôi được 13 kg. Gạo thiếu, thay một phần gạo bằng mì gói. Một kg gạo quy thành sáu gói mì, và chỉ một kg gạo được quy đổi thành mì gói thôi, còn lại là những lương thực độn khác như bo bo, bột mì, khoai sắn. Rồi đến lúc bao bì gói mì cũng không đủ, cho mì vụn vào túi nylon đóng bao nửa kg.

Mì vụn hay không, không thành vấn đề, vì trước sau mì cũng được bóp vụn để nấu canh. Tô canh bành ky, mì vụn lõng bõng. Gói bột nêm đi kèm trở nên thần thánh. Có ai ngờ nổi?

Rồì mì gói bị đổi tên thành “mì ăn liền”. Ai đầu tiên đổi tên mì gói? – Tôi không biết, nhưng chữ “mì ăn liền” nhanh chóng trở thành tiếng lóng mang nghĩa“chụp giựt” trong một xã hội… “mì ăn liền”. Bây giờ tiếng lóng này vẫn còn thông dụng.

Tôi không nhớ mì gói có mặt ở miền Nam từ hồi nào, có lẽ cuối thập niên 60 hay đầu 70. Hồi đó thức khuya học thi, làm một tô mì gói thì cái đầu trở nên sáng suốt lạ thường.

Hình như chỉ có hai hãng sản xuất mì gói, mì Vị Hương Tố nổi trội hơn so với mì Colusa. Nổi trội hơn chỉ vì dễ mua, đến tiệm chạp phô gần nhà, có thứ nào mua thứ đó. Cũng đôi lần tôi nếm thử mì gói Đại Hàn, vị lạ và cay, nhưng tôi vẫn thích mì gói Hai Tôm hơn.

Thiệt tình, tôi cũng chẳng bao giờ đặt câu hỏi trong đầu về mức dinh dưỡng của mì gói. Đơn giản, đó là món ăn vặt. Nấu mì gói nhanh lẹ hơn chiên cơm. Đêm hôm học thi, thời gian đâu mà bày vẽ nấu nướng, hơn nữa mùi vị của tô mì gói cũng đậm đà, dễ chịu, và dễ… nuốt.

Rồi đến thời khó khăn, cái thời mà có nhà khoa học hùng biện trên báo, rau muống bổ hơn thịt bò. Mẹ tôi không tin – Bà già bán xôi mù chữ không tin nhà khoa học. Còn tôi, như bao người trong nước thuở đó, ăn để tồn tại thì mì gói, bo bo , khoai sắn gì cũng như nhau, để ý làm chi đến chuyện dinh dưỡng. Mà chẳng phải mì gói đang được tôn vinh thành món canh vương bá đấy sao?

Ít ai biết mì gói còn là món mồi đưa cay rất… tới. Mì gói đưa cay làm tôi nhớ đến chuyện liều lĩnh, bạt mạng một thời.

Hồi đó tôi đang làm ở một Trung tâm nghiên cứu, thỉnh thoảng xuống phòng thằng bạn, cùng trường nhưng khác khoa, nói chuyện đời. Thằng này giỏi tử vi, nó gần như thuộc lòng quyển “Tử vi đẩu số” của Nguyễn Phát Lộc, còn tôi chỉ mới biết xem chập chững. Tôi không tin chuyện bói toán, bây giờ vẫn không tin, nhưng thời buổi khi đó nhiều nỗi hoang mang, bế tắc, nên cũng tập tành coi tử vi chơi, để xem đời mình lắm rệp cỡ nào.

Có hôm hai thằng luận tử vi, từ 3 giờ đến 6 -7 giờ chiều vẫn chưa mãn cuộc. Nó “phán” (tôi nhớ đại khái), “Số mày, Mệnh, tử phủ vũ tướng – Quan, hóa khoa, xương khúc hồng đào đủ cả. Nhưng tất cả đều ngộ Không – Kiếp, Hóa kỵ. Số mày, làm vua thì đi tu, làm quan thì đi tù”… Tôi bật cười ha hả – nói, “Điều tao muốn biết là, tao có số đi nước ngoài hay không thôi. Dẹp cung Mệnh – Thân – Quan lộc gì đó qua một bên, luận cung Thiên Di cho kỹ. Đi không được thì ở đây Thân – Mệnh cũng chẳng nghĩa lý gì”.

Câu chuyện tới hồi gay cấn, thằng bạn chợt hỏi, “Có chút gì để mềm môi không?” Tôi lắc đầu, cuối tháng, túi thằng nào cũng rỗng. “Thầy” lại gật gù,“Liệu có thể lên phòng lab pha chế ra thứ gì đó nhâm nhi không?” Thằng bạn gốc nhà trâm anh thế phiệt, nên lúc nào cũng nói năng thủng thỉnh. Tôi ngẫm nghĩ, phòng lab dĩ nhiên có đủ thứ hóa chất tinh khiết, có thể “sáng tạo” được. Tôi trả lời, “Đợi đấy!”

Tôi vào phòng thí nghiệm, lấy chai ethanol 96 độ, tự nhủ, tinh khiết tới cỡ này chắc không đến nỗi…. Rót ethanol vào bình erlenmeyer (loại bình có thể lắc để trộn dung dịch), pha loãng với nước cất để còn 30 độ. Chưa hết, cho thêm chút đường dextrose (tương tự như đường glucose) để có chút đậm đà, rồi vài lát chanh nữa.

Tôi mang rượu xuống, cùng với một dĩa mì gói bóp vụn, vắt vài giọt chanh. Thiệt bất ngờ, bắt mồi không thể tả. Từ rượu tới mồi, tất cả đều tinh khiết để luận tử vi với cung Thiên Di thần thánh.

Trẻ người non dạ, tôi đã không ý thức được rằng, cồn trong phòng thí nghiệm, dù tinh khiết 96 độ, cũng chỉ là cồn công nghiệp, không phải cồn thực phẩm. Vậy mà mà hai thằng cũng chia nhau cạn hết nửa lít, không bị ngộ độc methanol thì đúng là trời độ. Ngẫm lại, chẳng có cái dại nào giống dại nào.

Mì gói thời gian khổ trở thành sơn hào hải vị. Bữa cơm trong nhà có khi chỉ là tô canh mì gói, một trái hột vịt luộc dầm nước mắm loãng, pha chút gia vị mì gói. Vậy mà chỉ chan canh, còn hột vịt thì “tế nhị” nhường nhau, ưu tiên người già con nít.

Chừng 20 năm sau này, mì gói “nâng cấp” trở thành món ăn thường xuyên của sinh viên, lao động nghèo, và tiện lợi làm hàng cứu trợ. Mới đây tôi còn chứng kiến một em sinh viên ăn một lúc hai gói mì. Khỏi cần chất đạm chi cho đỏ da thắm thịt, chỉ cần chất bột chất béo, ăn mì gói như thế thì no lâu, phải thế không em, những tiềm năng của đất nước? Hai trăm gói mì trị giá bằng một tô phở bò Kobe.

Năm ngoái, Sài Gòn mắc đại dịch thê thảm, cả 3-4 tháng bị phong tỏa tuyệt đối, nhà nào biết nhà nấy. Rau quả thịt cá không mua được, mì gói trở thành món ăn cầm cự để tồn tại của dân Sài Gòn. Nhiều nhân viên y tế cũng ăn mì gói để dằn bụng cho qua ca trực đêm. Vậy mà lại bùng lên vụ mì gói có chứa chất gây ung thư ethylen oxide (EO). Hầu hết các nước trên thế giới kể cả Mỹ, Nhật, Canada… đều cho phép xài chất EO, chỉ có EU là cấm. Khác biệt quan điểm về an toàn thực phẩm giữa các quốc gia là chuyện thường. Nhưng vài KOLs, không chút kiến thức về an toàn thực phẩm, hay về luật chơi xuất khẩu đã nhảy lên facebook hùng hồn khuyến cáo…

Sáng nay tôi vào tiệm phở. Bàn bên cạnh là đôi vợ chồng trẻ và đứa con chừng 6-7 tuổi. Cả cha lẫn mẹ đều thay phiên nhau, vừa dụ ngọt, vừa đút phở cho con. Còn thằng nhỏ vừa hờ hững há miệng, vừa nhìn vào smart phone chơi game.

Tôi bỗng nhớ tuổi thơ của mình, phải giả vờ ốm mới được mẹ cho ăn phở. Tôi nhớ tô canh mì gói bóp vụn, nhớ quả trứng luộc chia năm xẻ bẩy, nhớ cả những năm tháng gian khổ mà sao đâu đó vẫn còn chút tình người thật mặn.

Mì gói ăn vặt, mì gói lên hương, mì gói cứu trợ, rồi mì gói tai bay vạ gió với đủ thứ chuyện buồn vui của đời người. Mì gói của một thời như thế đó, làm sao quên được!

Vũ Thế Thành
Sài Gòn 25/04/2022




Thursday, October 23, 2025

Viết từ quán cà phê, kênh Nhiêu Lộc

Tôi viết loạt bài “Chia sẻ với các bạn già” chỉ nhằm chia sẻ với các bạn cùng thế hệ tôi, - hoặc ít ra là thế hệ đứng sát sau tôi, cũng được xếp vào chữ “thọ” rồi. Họ ít nhiều đã từng nếm mùi ăn độn. Thế hệ tôi, còn phải thêm gánh nặng mưu sinh vì bổn phận, ăn uống bất cần thân thể cả thời gian dài. Sống được tới 60 là giỏi. Tới 70 thì coi như bonus trời cho. Cái giá trời cho, nhưng thân xác phải trả giá, bệnh tật đủ thứ.

Ngồi cà phê với nhau, kẻ than tê tay, người đau khớp gối, vọp bẻ, về đêm khó ngủ, … Ai cũng mang đủ chứng bệnh, người bệnh này, người bệnh khác, mà toàn là bệnh mạn tính. Đi bác sĩ, nếu là bs giỏi, ít khi họ dám chữa khỏi triệt để (trừ trường hợp cần thiết). Sao vậy?

Uống thuốc vừa lợi, vừa hại. Bs phải cân nhắc, lợi nhiều hơn hại, nên mới kê toa. Chữa triệt để bệnh này, thì bệnh kia nặng hơn. Mà người già thì đủ chứng bệnh, gan thận rệu rạo. Bs đâu dám kê toa tới bến. Bs lão khoa ít khi chạy theo con số. Chữa tiểu đường, mà đòi HbA1C xuống 6 hay 6,5, trong khi kháng insulin thì người già tầm cỡ chuyên nghiệp rồi. Huyết áp tâm thu đòi 11 - 12, như người trẻ sao được, khi mà mạch máu hết muốn đàn hồi.

Bác sĩ dư sức chữa để đạt được những con số đẹp như thế, nhưng họ sẽ không làm chuyện đó triệt để. Mục đích của họ, chữa bệnh cho người già là để kéo dài sự sống, và chất lượng sống. Buồn vậy đó. Sống bonus thì đành chịu. Còn sức cà phê tán chuyện thì cũng đáng tiền bonus rồi.

Bạn biết không, xưa nay nhét được một viên thuốc vào miệng tôi, không dễ chút nào. Tôi tra cứu rất kỹ trước khi quyết định uống hay không, loại nào cần, loại nào không cần, dù đó là toa từ bs. Này, có bs kê toa cho tôi vẫn đang follow Facebook này đấy. Thuốc đã khó như vậy, huống gì mấy viên bổ sung, là 1 dạng thực phẩm chức năng (tpcn), đâu dễ gì thuyết phục tôi.

Trong 6 bài chia sẻ đã post trên fb, chỉ có 2 bài liên quan đến viên bổ sung. Đó là Magnesium, và vitamin B12. Các loại vitamin và khoáng là một dạng thực phẩm chức năng. Tôi không mặn mà gì lắm với TPCN. Phải cân nhắc rất nhiều tôi mới nói về chúng, và sắp tới có thể là vitamin D và K2. Tôi đọc rất kỹ những nghiên cứu về chúng, thường là loại review study. Có những thứ tôi đã trải nghiệm, và biết lợi hại của nó thế nào. Nhưng bao giờ tôi cũng nhấn mạnh: nó có hiệu quả với tôi, nhưng chưa chắc đã hiệu quả với bạn. Cơ thể người già, không ai giống ai, mức độ bệnh cũng không giống nhau.

Trong bài B12 vừa rồi, tôi đã cẩn thận nói đến xét nghiệm máu để biết có thiếu B12 không, thậm chí còn nói thêm cả kết quả xét nghiệm ảo. Nếu thiếu thì uống bổ sung. Không thiếu thì uống làm gì cho tốn tiền.

Có bạn trẻ vào comment, tôi đã uống 3B rồi. Các loại vitamin này có đầy trong thực phẩm. Các bạn còn trẻ, hấp thu tốt, chuyển hóa tốt. Tại sao không ăn, mà lại đi uống mấy viên bổ sung?

Bạn có biết rằng, trong thực phẩm có nhiều dưỡng chất, vitamin, khoáng, mà tính khả dụng sinh học của chúng tốt hơn nhiều so với viên bổ sung.

Với người cao tuổi, B12 rất khó hấp thu, nên tôi mới khuyên đi xét nghiệm, nếu thiếu thì uống, thậm chí bổ sung B12 liều cao. Còn các vitamin B khác hấp thu dễ hơn, người già có thể lấy từ thực phẩm. Như thế tốt hơn. Uống bổ sung làm gì cho tốn tiền!

Tôi không liên quan gì đến việc buôn bán tpcn, nếu không muốn nói là dị ứng. Bạn đừng hỏi tôi nên mua nhãn hiệu nào, mua ở đâu. Một số bạn đã share bài viết của tôi về fb của họ để quảng cáo bán hàng. Đó là chuyện của họ, ngoài kiểm soát của tôi. Nhưng nếu post vào trang tôi để quảng cáo thì tôi sẽ block. Và tôi đã block vài người rồi đấy. Đừng làm thế nữa!

Tôi không theo trường phái ăn uống nào cả. Tôi lại càng không tin, thực phẩm chữa lành, chữa bệnh gì hết. Bệnh thì đi bác sĩ chuyên khoa. Các bạn marketing khỏi cần mang ông bác sĩ này nói, bà tiến sĩ kia viết, để tranh luận với tôi. Những ông bà tiến sĩ này không phải là bằng chứng khoa học. Tôi biết thừa kiểu cách ngụy biện của họ, và không muốn mất thời gian tranh cãi vô ích.

Một vài độc giả hiểu lầm tôi là bác sĩ. Thật hân hạnh, nhưng rất tiếc, tôi không phải là bác sĩ. Chuyên môn của tôi là an toàn thực phẩm. An toàn thực phẩm và ngành y đều liên quan đến sức khỏe con người, nhưng công việc khác nhau. Không khó để bạn đọc nhận thấy, trong những bài tôi viết, những gì liên quan đến chẩn đoán, điều trị, thuốc men là tôi rất dẻo tay “bán cái” hết cho bác sĩ. Tôi không muốn giẫm chân vào lĩnh vực mà tôi hoàn toàn mù tịt về kỹ năng lâm sàng.

Nếu tôi mà là bác sĩ, thì tôi đã nổ tưng bừng về an toàn thực phẩm cho thiên hạ sợ chơi rồi.

Những gì tôi chia sẻ với các bạn già là nói về lối sống, ăn uống. Tất cả đều dựa trên kiến thức khoa học mà tôi tích lũy được. Điều đó chỉ có tính cách hỗ trợ điều trị. Tôi không thể thay thế công việc của bác sĩ, là chẩn đoán và điều trị. Đó không phải là chuyên môn của tôi.

Tôi thường viết về an toàn thực phẩm cho tờ Tuổi Trẻ Cuối Tuần, tờ báo duy nhất hiện nay tôi cộng tác. Độc giả báo này đa số tốt nghiệp đại học. Nhiều người trong số này không ở trong ngành khoa học. Do đó, thường là tôi không viết nặng nề lắm, nhưng tuyệt đối tuân thủ bằng chứng khoa học, khách quan và lạnh lùng, không có “cái tôi” gì ở đây cả. Đôi chỗ tôi còn phải khôi hài để làm “chiếu nghỉ”, thư giãn để lôi kéo họ đọc cho hết bài.

Viết loạt bài chia sẻ với bạn già, tôi cũng tuyệt đối dựa trên khoa học, nhưng đôi lúc xen chút kinh nghiệm cá nhân, diễn đạt nhẹ nhàng hơn, đùa cợt nhiều hơn, chế giễu cay hơn. Chế giễu các bạn có khác gì chế giễu chính tôi đâu? Cơ bàng quang rệu rạo, tiền liệt tuyến phồng to, ông nào, bà nào lại chẳng… “lợi tiểu”. Già rồi, còn nhiều chứng bất tiện như thế. Chúng ta đâu còn thời gian để mắc cỡ nhưng chuyện đời thường như thế. Cười cợt nhau đôi chút, để tạm quên đi những “nặng lòng” riêng tư khác, mà ai cũng có. Người già hiểu người già là chỗ đó.

Tôi viết loạt bài chia sẻ này, viết theo kiểu cà phê ven đường, nên rất thoải mái phóng bút. Chỉ đôi lúc phải kiểm tra lại về mặt khoa học, xem có tiến bộ gì mới không. Thú thiệt, viết thoải mái hơn nhiều so với viết cho tờ TTCT. Viết báo thì phải nghiêm túc như ông cụ non, hài hước cũng phải lập trình. Viết tới đây, tự nhiên thấy chột dạ. Thì là cụ… già rồi, chứ còn non gì nữa. Chẳng qua quen miệng nói thành ngữ vậy thôi.

Viết ngẫu hứng, vậy mà lượt view, lượt chia sẻ tăng đột biến. Tôi bất ngờ. Có gợi ý tôi nên gom những loạt bài này để ra sách. Một nhà xuất bản đã làm việc với tôi, nhưng tôi còn cân nhắc, chưa quyết định gì lúc này. Nếu ra sách, bài chia sẻ cuối cùng mà tôi muốn đưa vào sách, sẽ có tựa là “Giấc mơ chăm sóc tuổi già” – Vâng, chỉ là giấc mơ thôi.

Thôi, ngồi café vỉa hè, tán nhảm như thế đủ rồi. Chúc cuối tuần vui vẻ.

Vũ Thế Thành







Thursday, July 10, 2025

Tượng Thương Tiếc

Trong bài “Sài Gòn la de vài hột” tôi có nhắc đến bức tượng người lính nhớ bạn đặt ở nghĩa trang Biên Hòa. Tác giả bức tượng này là điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu.


Ông Nguyễn Thanh Thu tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Gia Định. Khi được giao làm bức tượng trên, ông là Đại úy trong quân đội Sài Gòn. Một hôm ông đến nghĩa trang quân đội ở Gò Vấp (nghĩa trang Biên Hòa còn đang xây dựng). Ghé vào quán nhậu gần đó, ông bắt gặp người lính Nhảy dù ngồi uống một mình, vừa nâng ly với một cái ly khác để trước mặt. Ông uống với cái bóng của đồng đội vừa tử trận. Ông Thu bắt gặp được thần sắc của người say nhớ bạn. Khi về, ông liên lạc với đơn vị người lính, xin mượn người lính này làm người mẫu để tạc tượng.

Trong một bài phỏng vấn, ông Thu thuật lại, có lúc ông phải nấp vào phòng khác, nhìn ra người mẫu, mới bắt gặp được hết nét buồn bã, đăm chiêu của người lính, như ông đã gặp ở quán nhậu. Bức tượng hoàn thành năm 1966, ông đặt tên là “Thương Tiếc”, và đặt ở cổng nghĩa trang Biên Hòa. Bức tượng đoạt giải thưởng Tổng thống năm 1968. Trước đó, ông bức tượng “Ngày Về” của ông cũng đoạt giải thưởng TT năm 1963. Sau đó tượng “Thương tiếc” được đúc đồng, và dựng lại chỗ cũ. Còn bản gốc bằng xi măng cốt thép lưu tại nhà ông.

Sau năm 75, bức tượng ở nghĩa trang Biên Hòa bị kéo đổ. Bức tượng xi măng ở nhà ông cũng bị đập nát ngay sau khi ông đi tù cải tạo ở Hàm Tân 7 năm.

Tượng “Thương tiếc không còn, nhưng lòng thương tiếc vẫn còn!

Sau khi ra tù, ông vượt biên và định cư ở Mỹ. Sau15 năm ông trở về VN, và cư trú ở căn nhà sân vườn ở Gò Vấp. Tôi có ghé đó uống cà phê. Cuộc chuyện trò với ông có đôi chút khó khăn vì ông bị mất thính lực trong thời gian ở tù, cũng vì… “Thương tiếc”.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu vừa mãn phần ngày 06/05/2025 tại Sài Gòn, thọ 92 tuổi – R.I.P (Vtt)

——————————————-

Sài Gòn, la de vài hột

Thâu đêm ròng rã kêu ai đó
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ (*)

Lần đầu tiên nếm mùi bia 33 là hồi tôi mới đậu Tú tài. Thằng bạn và tôi rủ nhau đi Vũng Tàu, uống cà phê ở Bãi Trước, ngắm biển và ngắm… người (nữ). Chưa biết nhậu nhẹt, nên chỉ có thế cho bõ công đèn sách. Trên đường về lại Sài Gòn, thằng bạn rủ ghé ông anh nó đang đóng quân đâu đó ở Biên Hòa. Đàn anh chơi đẹp, dẫn hai thằng đệ “tân khoa tú tài” đi nhậu lề đường. Gọi bia 33, ba anh em nâng ly, nốc một nhát cạn. Nửa ngọt, nửa cay, hương thơm, vị đắng. Bia mát lạnh, ngoài mặt nhăn nhó, nhưng trong bụng sảng khoái vô cùng. Hồi lâu, ông anh ngập ngừng, Uống chút băm ba cho biết mùi đời. Giữa tháng, anh hết “đạn” rồi, hai chú chịu khó làm tiếp “nước mắt quê hương” cho… chóng lớn!. “Nước mắt quê hương” mà ổng nói là rượu đế.

Tình dang dở khó quên. Sảng khoái dang dở cũng không ngoại lệ, huống chi đó lại là ấn tượng sảng khoái bia bọt thuở ban đầu. Sau này đám bạn đi lính về phép, lại kéo nhau ra quán nhậu bù khú. Ít tiền thì la de con cọp, nhiều tiền thì bia 33.

Bia 33 là loại bia sang nhất hồi đó do hãng BGI sản xuất, và đây cũng là hãng bia duy nhất của miền Nam. Hãng chỉ sản xuất chỉ có hai loại bia: chai lớn dung tích 66 phân khối và chai nhỏ, 33 phân khối.

Ngôn ngữ thường được sáng tạo nơi bàn nhậu, mà bàn nhậu đã sáng tạo thì không thể thay đổi. Chai nhỏ, dân nhậu gọi là bia băm-ba, chẳng ai buồn gọi cho đúng “phép tắc” là ba-mươi-ba.

Còn bia chai lớn, gọi là la de con cọp. Gọi thế là vì nhãn chai có in hình đầu con cọp lớn. Còn lade, thì có người giải thích là do chữ Larue, tên của người sáng lập hãng, đọc nhanh thành ra la de. Giải thích thế thì biết thế, nhưng nghe hơi gượng ép.

Bia 33 tuy nhỏ, nhưng có độ cồn cao hơn, hương đậm và vị đắng hơn la de con cọp chai lớn. Tôi nhớ, giá bán hai loại bia này cũng sàn sàn như nhau. Như nhau, nhưng thiệt ra đắt hơn, vì dung tích chai bia 33 chỉ bằng một nửa so với chai bia lớn. Hồi đó, lính Mỹ thích bia 33 hơn bia Mỹ cũng vì hương vị đậm đà này. Cách nay vài năm ra nước ngoài chơi, ghé vào hiệu sách, tôi thấy có quyển hồi ký của một trung úy Mỹ, đã từng có mặt ở Việt Nam. Lướt thử vài trang, thấy chú GI này cũng nói đến bia 33, mà lính Mỹ rất ưa chuộng.

Cái bóng đầu cọp in trên cổ chai là logo của BGI, chai lớn chai nhỏ đều có. Dù chỉ là cái bóng, nhưng cũng đủ cho các chú GI khoái chí gọi bia 33 theo tiếng lóng là “nước đái cọp” (tiger piss). Anh lính viết hồi ký này còn bốc lên rằng, bia 33 được làm từ gạo.

Làm bia từ gạo chỉ đúng một phần thôi. Về nguyên tắc thì ngũ cốc nào cũng đem làm bia được, nhưng trước khi lên men, phải malt hóa chúng, nghĩa là ngâm nước để ngũ cốc nảy mầm. Ngũ cốc nảy mầm mới tạo ra nhiều enzyme để cắt tinh bột thành đường. Từ đường mới lên men thành bia (rượu) được. Trong các loại ngũ cốc, thì lúa mạch (barley) tạo ra nhiều enzyme nhất. Làm bia không thể thiếu lúa mạch. Vì lúa mạch đắt, nên người ta phải “độn” thêm các loại ngũ cốc khác sẵn có ở địa phương như lúa mì, gạo, bắp… để giảm giá thành. Có thể hồi đó hãng BGI đã “độn” thêm gạo để làm bia, nhưng chủ yếu vẫn phải là lúa mạch.

Những năm sau 75, hãng BGI rút về nước, làm gì có đủ lúa mạch để làm bia. Phải độn thêm, rồi độn thêm nhiều ngũ cốc hơn nữa. Nhưng ngũ cốc loại gì? Cơm gạo cho người ăn còn không đủ, thì gạo đâu mà dành cho bia, không chừng còn độn bo bo, khoai bắp cũng nên. Bia Sài Gòn hồi đó uống có vị ngai ngái. Ngai ngái, nhưng thuộc hàng quý hiếm trong những năm tháng đó.

Dân Sài Gòn hồi đó nhâm nhi ly bia ngoài quán hay vỉa hè cũng ít khi ồn ào, chỉ xù xì nói chuyện, nhìn phố người qua kẻ lại, chứ không nâng ly cụng chén “dzô dzô”. Mồi đơn giản thường là đậu phộng, hột vịt lộn, khô bò, khô mực… Nhậu “dữ ” hơn thì xài tới rượu đế, với các món chiên xào bếp núc. Hạng cao cấp, sang trọng thì vô nhà hàng với Chivas, “Ông già chống gậy”… Hạng này, miễn bàn. Còn thứ sinh viên như bọn tôi, dạy kèm rủng rỉnh chút tiền, ra quán vỉa hè làm vài chai la de con cọp, sang hơn thì gọi bia 33 cho ra cái vẻ… sành điệu vậy thôi. Chỉ có những thằng bạn đi lính, thứ gì cũng uống, thức nào cũng ăn, già dặn trưởng thành sau những lần về phép thấy rõ.

Mà có tiền nhâm nhi ly bia đã là khá bảnh rồi, chứ của đâu mà uống cho tới xỉn. Nhưng có câu chuyện (thiệt) về cái “thần” của người uống bia tới xỉn mà tôi đọc được, kể ra đây nghe chơi: Một điêu khắc gia được yêu cầu tạc một bức tượng để đặt ở nghĩa trang. Ổng nghĩ hoài không biết tạc cái gì, mới đi vào nghĩa trang quân đội (Sài Gòn) ở Hạnh Thông Tây để quan sát tìm cảm hứng. Ghé vào quán nhậu gần đó, ổng bắt gặp một người lính đang ngồi uống bia một mình, trên bàn đặt hai ly bia. Anh lính vừa đi đưa đám bạn mình. Nâng ly, rồi cụng ly, rồi uống… Cứ thế, người lính uống với cái bóng của bạn mình, cho tới khi gục xuống bàn. Nhà điêu khắc lặng lẽ quan sát. Ông bắt được cái “thần sắc” nỗi buồn trên khuôn mặt, trên đôi mắt của người say nhớ bạn… Bức tượng hoàn thành, được đặt ở nghĩa trang Biên Hòa. Hồi đó, người ta đồn, đêm đêm bức tượng đến nhà dân quanh đó, gõ cửa xin nước uống… Sau năm 75, bức tượng không còn nữa.

Chiến tranh, đau thương mất mát buồn lắm. Trải qua mới thấm.

Ngoài la de con cọp và bia 33 một mình một chợ, tôi không thấy nhãn hiệu bia nào khác trên thị trường nữa. Bia BGI một thời tung hoành, và nghe nói còn xuất cảng đi những đâu nữa đấy. Trên nhãn bia 33, tôi còn nhớ ghi “Export”.

Sau năm 75, Sài Gòn đổi tên, con cọp mất tích, chẳng ai còn nhắc đến la de con cọp một thời, nhưng nhãn hiệu bia 33 thì còn. Ông chủ mới chỉ thêm một con số 3 nữa, thành bia 333, thương hiệu còn cho đến bây giờ. Dân Sài Gòn vẫn gọi đó là bia “băm ba”. Ba mươi ba dân nhậu còn chả gọi, huống gì ba trăm ba mươi ba.

Thay chủ, thay tên thì chất lượng bia cũng khác, nhưng chẳng ai phàn nàn. Bia bọt là hàng xa xí phẩm lúc đó. Chạy chọt tem phiếu, chen lấn để mua được ly bia hơi thì cũng… tàn hơi. Có khi cửa hàng còn bắt chẹt, phải mua kèm mồi. Uống rượu đế thì cay xè, vào nửa ly xây chừng là bốc hỏa lên rồi. Nhưng sau 75, thì chẳng còn phân biệt gì nữa. Bia hơi là deluxe, là premium quality. Thường nhật chỉ còn rượu đế, rượu Cây lý, rượu Gò Đen… Bia thì là loại “bia lên cơn”, lên men từ vỏ thơm, cùi khóm ruồi nhặng bu đầy… Uống chỉ để uống, uống để quên đời. Uống tạp như thế, không hiểu sao giờ này vẫn còn sống để… viết.

Những năm đầu thập niên chín mươi, tôi làm công việc dịch tài liệu và điểm báo cho một cơ quan xúc tiến ngoại thương, chung với anh Phan Tường Vân. Làm từ trưa tới chập tối là xong, nhưng hai anh em thường nán lại, bù khú với nhau. Chỉ một, hai chai bia Sài Gòn xanh với hột vịt lộn, kéo dài có khi đến khuya mới về… Anh Vân là tiến sĩ kinh tế ở Mỹ, trước 75 làm việc trong chính quyền Sài Gòn, nên bao chuyện thâm cung bí sử cứ rù rì tuôn ra. Bia Sài Gòn nhạt, nhưng ký ức cứ chảy ngược, dòng đời vẫn chảy xuôi. Anh Phan Tường Vân mất cũng hơn mười năm rồi…

Đời cọp thăng trầm từ sau 75, sống kiếp lưu vong, cũng bị buôn qua bán lại nhiều đời chủ. Rồi đâu đó cũng cỡ đầu những năm chín mươi, cọp quay lại Việt Nam. Cũng là tên hãng BGI, nhưng đã bán cho chủ hãng bia khác, lớn hơn. Sài Gòn lạnh nhạt, cọp bèn về nương náu ở Mỹ Tho. Cọp tái xuất giang hồ, nhưng dân Sài Gòn chỉ gọi là bia con cọp. Dĩ vãng đã giữ chặt hai chữ La de mất rồi.

Bia Con cọp và La de có gì khác nhau? Cũng chai nâu lớn, cũng đầu cọp, cũng Larue BGI, nhưng dân nhậu đồn rằng bia con cọp uống vào nhức đầu. Nhức đầu là do nguồn nước ở Mỹ Tho không thích hợp để làm bia? Tôi không biết nguồn nước có phải là nguyên nhân, và bia có thực sự làm nhức đầu hay không. Nhưng với trò chơi thương trường thì điều gì cũng có thể. Các hãng mua lại BGI cũng đều là hãng bia “đồng nghiệp” với nhau cả. Họ mua, đâu chỉ là mua nhà máy, mà mua cả thương hiệu, kênh phân phối, phân khúc khách hàng… Vẫn là con cọp, nhưng ruột cọp thế nào, chủ mới dư sức biến hóa công thức.

Hồi đó, miền Nam chỉ có duy nhất một hãng bia là BGI, và BGI cũng chỉ có một nơi duy nhất để sản xuất bia nằm ở đường Trần Hoàng Quân (nay là Nguyễn Chí Thanh, quận Năm). Bây giờ thì nhiều hãng bia với cả vài chục nhà máy sản xuất, rót hơn bốn tỷ lít bia cho non một trăm triệu dân, tính luôn đàn bà và trẻ em…

Cọp hồi hương làm khách nhức đầu thì cọp cũng nhức đầu. BGI đổi chủ, rồi mới đây lại đổi chủ nữa cho một tỷ phú Thái Lan, nhưng đầu cọp thì vẫn còn, thương hiệu 33 vẫn còn, thế nhưng văn hóa nhâm nhi ly bia liệu có còn? “Con cọp” lạc lõng giữa văn hóa tiếp thị, chân dài chân ngắn trong những quán nhậu đông người.

Bia ngon bia dở khó luận, nhưng chắc trong bia có phần ký ức. Ừ, thì đôi lúc cũng phải la de vài hột, rồi như khách giang hồ lục tìm trong ký ức, mới thấy đời người còn biết bao điều dở dang, nuối tiếc. Có khác gì tiếng cuốc đêm hè đâu, phải thế không?

Vũ Thế Thành (trích từ sách “Sài Gòn, một góc ký ức và bây giờ”, tái bản 2022)


Trí thức sến

Trí thức trong Nam, trước 75 cũng như bây giờ, có thể không thích nhạc sến, nhưng không ai dám mở miệng phê phán hay dè bỉu.

Khoảng chục năm trở lại đây, lại nổi lên những phê phán, cạnh khóe về nhạc sến, là thứ nhạc dành cho những người bình dân ít học. Hầu hết nhận định đó đến từ một số trí thức trẻ, gốc gác Miền Bắc. Nói là trẻ, nhưng cũng trên dưới 40, nghĩa là ở độ tuổi chín muồi, không còn nông nỗi. Dù sao, đó là quan điểm riêng của giới tinh hoa, thành danh. Còn tôi lỡ mê nhạc sến thì đành là giới bình dân ít học. Mà đúng là thế. Má tôi bán xôi dạo ở Sài Gòn, mù chữ (thứ thiệt), còn thấp hơn là ít học. Xuất thân khác nhau. Quan điểm khác nhau. Hồn ai nấy giữ.

Thật ra, ban đầu tôi cũng chẳng mặn mà gì với nhạc sến lắm đâu. Tôi trích ra đây một đoạn trong tùy bút “Già đầu còn mê nhạc sến” mà tôi viết cũng hơn chục năm rồi:

“… Năm tháng trôi qua, ở cái tuổi xem xi-nê không còn hào hứng đứng dậy vỗ tay nữa, tôi xoay qua nghe nhạc lãng mạn. Thời sinh viên ai chẳng uống cà phê nghe nhạc, mà nghe nhạc gì mới được. Phải là nhạc cổ điển, nhạc tiền chiến, nhạc trữ tình, lời lẽ ẩn dụ, êm ái như thơ… Cái goût nhạc ngon lành này đã vô tình (?) vạch ra một ranh giới mù mờ giữa cái gọi là nhạc “hàn lâm”, và phía kia là nhạc sến. Một đàng là của giới có học, thưởng thức điệu nghệ. Đàng kia của giới bình dân, lời lẽ giản dị, phơi bày, âm điệu dễ nghe, dễ hát, thường là điệu bolero, rumba, habanera…

Chữ “sến” hàm ý chê bai giễu cợt một kiểu cách bày tỏ nào đó: Thằng này ăn mặc“sến” quá! và người ta cũng có thể nói: Thằng này ăn mặc “cải lương” quá! Theo cách hiểu đời thường, chữ “sến” đồng nghĩa với “cải lương”. Đụng tới “cải lương” là tôi thấy…phiền, dù sao đó cũng là ký ức của một thời hào hiệp. Nhạc sến và cải lương có quan hệ mật thiết, chẳng phải người ta nói là tân cổ giao duyên đấy sao! Tôi không yêu cũng không ghét cải lương hay nhạc sến. Nói đúng ra, hồi đó tôi mơ hồ thấy nhạc sến cũng không tệ, chỉ có điều không dám nói ra điều đó với ai.

Những năm sau 75, lắm chuyện đổi đời. Một buổi khuya lạng quạng về nhà trong cơn say, tôi chợt nghe văng vẳng, giọng hát của ai đó:

Có người con gái buông tóc thề,
Thu về e ấp chuyện vu quy…

Bài hát đúng là sến, giọng hát cũng sến, nhưng làm tôi ngẩn người… Cái âm u kinh viện của đống sách triết học, chỉ muốn với tay lên cõi trên, khiến tôi thờ ơ với chút tâm tư giản dị và hết sức đời thường của một thiếu nữ. Chợt nhớ đến đám bạn, sau 75, bỗng nhiên ào ào lấy vợ lấy chồng để gọi là “thích nghi với tình thế ”, hay chờ ngày ra đi. Con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo còn đọng những vũng nước mưa. Như vừa thấm thía ra điều gì đó, tôi dừng chân, dựa tường nghe đến hết bản nhạc: …Có ai ngồi đếm mùa nhung nhớ, nỗi niềm đầy lại vơi, mỗi mùa tiễn đưa một người… (Nỗi buồn gác trọ – Mạnh Phát (?)

“Nỗi buồn gác trọ” làm tôi liên tưởng đến một bản nhạc khác (không nhớ tựa đề), lõm bõm vài câu thế này:… "..Em biết thân em phận gái nghèo hèn, mà lỡ yêu thương ai rồi, cầm bằng như áng mây trôi…"

Chuyện tình tan vỡ vì thân phận giàu nghèo, giai cấp có đầy trong cuộc sống. Nỗi đau được bày tỏ qua tiếng nhạc bằng ngôn ngữ đời thường dù hơi thiếu chất thơ một chút, thì liệu có nên lãnh đạm chỉ vì nó là nhạc sến? (hết trích)

Dạo trước lông bông ở khu phố cổ Hà Nội, bắt gặp ban nhạc lưu động. Toàn ban chỉ… có hai bạn trẻ, cũng micro, ampli, loa… mà hát toàn nhạc sến. Đừng tưởng giọng Bắc kỳ hát sến mà xem thường. Hai bạn trẻ này hát nhạc sến mùi không thể tả, xuống giọng trầm trong bài “Sương trắng miền quê ngoại” ngọt sớt, giọng lại chững chạc, chứ không sến rện.

“… Mẹ biết bây giờ con ngồi hố nhỏ, gió hẹn mưa thề
Một khi con về quê ngoại xưa, để mẹ nhắn lời thăm
Đường làng cũ, năm nào khi con còn bé nhỏ theo mẹ đến trường…”

Tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội, tình cờ nghe được nhạc sến, mà giọng lại rất sến, chẳng khác nào “tha hương ngộ cố tri”.

Thật ra, đôi lúc làm việc mệt mỏi, tôi cũng xả stress, nghe vài bản nhạc không lời, nhạc cổ điển, nhạc ngoại quốc như Mal, Main dans la main, Love me with all of your heart,… thứ nhạc của một thời ngồi cà phê đèn mờ, nhịp chân, búng tay theo khói thuốc, tạm quên chiến cuộc trôi qua. Nhưng hễ vô vài ly, có chút hơi men, dù ngồi với bè bạn hay uống một mình, là phải nghe nhạc sến. Lời lẽ nhạc sến mộc mạc, từ ly rượu chui thẳng vào tim, khỏi vòng qua cái đầu chi cho mất công suy diễn lời ca ẩn dụ (mà có khi chỉ là trò chơi chữ).

Thuốc chích phê hơn thuốc uống. Phê lắm!

Vũ Thế Thành



Và người ơi xin chớ quên

Nếu phải đánh giá tác phẩm văn học nghệ thuật nào nói về nỗi đau, nỗi buồn của Huế Mậu Thân đầy đủ nhất, tôi sẽ nói ngay đó là ca khúc “Cơn Mê Chiều” của Nguyên Minh Khôi. Nếu thêm tiếng hát Thái Thanh thì không còn gì để nói thêm. Nghe lạnh người !

Tôi không biết nhiều về tác giả, chỉ biết ông tên thật là Vĩnh Khôi, dòng dõi vua Minh Mạng. Nghệ danh là Nguyên Minh Khôi (Nguyên Minh là pháp danh, và Khôi là tên). Có thời ông dạy Anh văn và Triết ở trường trung học Hàm Nghi, Huế (trường Hàm Nghi khá nổi tiếng, chỉ sau Quốc Học và Đồng Khánh ở Huế. Sau năm 75, trường bị giải thể).

Ông có mặt ở Huế khi chiến cuộc Mậu Thân xảy ra, và ca khúc “Cơn mê chiều” ra đời trong hoàn cảnh này. Trong sách “Ẩm thực ven đường, Huế”, tôi đưa vài ảnh minh họa, trong đó có ảnh cầu Trường Tiền bị gãy, và trích vài ca từ trong “Cơn mê chiều” để chú thích ảnh. Để không “làm khó” nhà xuất bản, tôi chỉ trích câu đầu “ Chiều nay không có em, mưa non cao về dưới ngàn…”. Tôi nghĩ, nhưng người cùng thế hệ tôi sẽ hiểu.

Câu kế tiếp thật đau và thật buồn: “ …Đàn con nay lớn khôn, mang gươm dao vào xóm làng…”

Một câu khác cũng thật buồn: “Kim Long ơi, bờ lau ngóng, chuông chùa tắt rồi…” Chuông chùa tắt mà tôi lại liên tưởng đến “chuông chùa réo” trong Bà mẹ Gio Linh của Phạm Duy. Thê thảm!

Không có sự hận thù trong ca khúc, chỉ có nỗi buồn và xoa dịu nỗi đau:

“…Tôi là người trong đêm, mang ngọn đuốc về nội thành
Xin làm người soi đường đi xoá hết đau thương…”

Và chỉ xin một điều: “… Và người ơi xin chớ quên, người ơi xin chớ quên ..”

Sau năm 75, tác giả vào Sài Gòn và tiếp tục nghề dạy cho đến khi về hưu.

Có bài báo viết, ông còn sáng tác thêm một ca khúc nữa “Huế mù sương”, nhưng tôi không biết ca khúc này.

Đời người chỉ cần một tác phẩm để đời là đủ. “Cơn mê chiều” đã đi vào lòng rất nhiều người cùng thế hệ tôi. Mỗi lần nghe “Cơn mê chiều”, tôi lại nghĩ đến Huế. Huế đúng là buồn thật, từ vụ binh biến kinh thành Huế năm 1885, đến Mậu Thân năm 1968!

Vũ Thế Thành

Saturday, November 23, 2024

MÓN ĂN DĨ VÃNG SÀI GÒN..

Vũ Thế Thành

Ông già cháo huyết hay bà cháo lòng có khác gì “những người muôn năm cũ”. Họ là phần ký ức nhỏ trong một quãng hành trình nào đó của đời người, đầy nhọc nhằn biến động, gắn liền với bao chuyện vụn vặt, không sao quên được… Nhớ đâu viết đó.

Xe cháo huyết… đêm
Mùa đông năm 1975, Sài Gòn lạnh khủng khiếp, lòng người cũng lạnh. Chiều xuống là… nhậu. Còn biết làm gì lúc đó bây giờ? Nuối tiếc quá khứ, hoang mang với hiện tại và nghi ngờ ở tương lai. Vô vài xị với bè bạn cho ngấm mùi đời. Nửa đêm lửng lơ đạp về nhà, tấp vô xe cháo huyết gần trường Lê Bảo Tịnh, đường Trương Minh Giảng (bây giờ là Lê Văn Sỹ). Chủ quán, một ông già Tàu, không biết nấu cháo kiểu gì, mà ngon kinh khủng…

Cháo huyết ngon, ngon từ cháo tới huyết. Cháo ngọt thịt và huyết mềm và dai, với vài khoanh quẩy mỏng dính, cho ớt bằm thiệt cay, ấm lòng say xỉn. Hình như cháo huyết này được nấu với tôm khô và mực khô. Cháo đã ngon, mà sao miếng huyết vừa dai vừa mềm thế!

Ông già Tàu tính kỹ, kích thước tô cháo nhỏ xíu, cháo múc chỉ tới nửa tô. Phải ăn tới năm tô mới tạm đủ… Hôm nào hẻo, kêu một tô, cho ớt thiệt cay, uống nhiều trà đá, cũng đỡ vã.

Mười năm sau, ông già Tàu không bán nữa, để xe cháo lại cho vợ chồng người con trai. Thằng con vẫn nhận ra khách quen, bàn tay múc cháo của nó nhuần nhuyễn như ông già, vẫn “cháo nửa tô”, đúng chuẩn!

Rồi mười năm sau nữa, vật đổi sao dời… Xây cất nhiều, cảnh đổi thay, chẳng biết xe cháo trôi dạt về đâu…

Năm nay Sài Gòn lạnh, lạnh bất thường. Mỗi tối, tôi vẫn đi bộ qua con đường cũ, đôi khi nhớ ông già Tàu, nhớ “cháo nửa tô”, nhớ ớt cay che khuất cơn đói, nhớ cả tâm trạng của thằng say xỉn lỡ cỡ…

Tôi có thể nói mà không lưỡng lự, cháo huyết ở đó ngon, chắc chắn ngon nhất đời…

Quán cháo lòng… chiều
Gọi là quán cho bảnh, chứ đó chỉ là cái sạp, ngó xéo sang chợ Đa Kao ở đường Nguyễn Huy Tự. Quán chỉ bán buổi chiều, từ hai giờ đến năm giờ là vãn.

Bà chủ quán trạc ba lăm, chưa chồng, chảnh… Khách chiều bả, chưa thấy bả chiều khách bao giờ. Mặt lạnh, dễ quạu, ít cười. Ít không có nghĩa là không, thỉnh thoảng cũng thấy cười với… đàn ông.

Cháo lòng là phải đủ bộ: Huyết, tim, gan, phèo, phổi… Huyết không có gì đặc biệt, thua xa cháo huyết đêm của ông già Tàu, nhưng tim gan phèo phổi, bả cắt nhát nào ra nhát nấy, to và dày. Dồi làm mới… tuyệt! Khúc dồi to như ống nước, và chỉ nhồi thịt, không biết bả làm cách nào mà chiên giòn, ăn đã không chịu được, nhất là những khúc đầu dồi. Khách thích, muốn mua dồi về nhậu, không bán! Mua cháo và dồi, cũng không bán! Chảnh thế đó!

Cháo hầm xương, nên ngọt, nhưng hậu vị không dai dẳng như cháo huyết hầm tôm khô mực khô nói trên. Cháo lòng ăn với hành củ tím thái mỏng, ngâm dấm, ớt bằm…

Cháo ngon, nhưng hơi đắt, tới 4 đồng/tô. Lương tôi hồi đó 73 đồng, trừ tiền gạo, nhu yếu phẩm này nọ, còn chừng 35 đồng, làm sao đủ… nhậu cho cả tháng đây?

Tiêu chuẩn tháng, gạo (13kg), đường (500gr), bột ngọt (50gr), thịt mỡ (600gr)… mang về nộp cho bà già gọi là… trả hiếu (để tối về còn có cơm nguội lục ăn). Còn mấy thứ khác thẩy ra chợ trời tuốt. Thuốc lá đen (ba gói), đẩy ra lấy thuốc rê hút. Sữa hộp, làm phòng lab nên nhà nước “bồi dưỡng độc hại” mỗi tháng một hộp. “May” quá, bà già tôi không biết uống sữa, nên sữa cũng chạy ra chợ trời luôn… Đẩy hàng ra chợ trời hồi đó cũng dễ, có bà bán thuốc lá ngồi trước cổng cơ quan (đối diện chợ Đa Kao) thu gom… Đắt rẻ một chút, thôi kệ, hơi đâu trả giá…

Tô cháo lòng 4 đồng là xa xí phẩm. Thèm, nhiều khi thèm, xuân thu nhị kỳ mới dám rớ tới. Hồi đó thèm đủ thứ, thèm thịt, thèm cá, thèm chả lụa, thèm phở, thèm điếu thuốc thơm… Coi như trên đời không có protein. Bỏ hết! Nhịn hết! Nhưng nhịn rượu, thì không. Mỗi tối, không ngồi bên quán cóc, không đong đưa vài ly rượu, không san qua xẻ lại nỗi lòng với mấy thằng bạn, người đi kẻ ở, tù tội chín phương, lừa vàng mất bạc, tình người điên đảo… Không ngấm qua men rượu, không nói được ra lời, làm sao ngủ được, sức đâu mà chịu nổi những bế tắc trước mắt, những giả dối của ngày mai khi bước chân vào cơ quan…

Lương kỹ sư hồi đó đại khái là vậy. Thời hậu chiến, người ta cho rằng, trong ba dòng thác cách mạng, thì cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt. Thứ then chốt này được “ưu đãi” đại khái như thế, còn sống sao thì tùy. Mỗi năm ôm một đề tài nghiên cứu, sáng chiều mặc áo blouse, nghía qua nghía lại mấy cái ống nghiệm, becher, burette… Tối về đi “cảo” xích lô kiếm tiền… nhậu. Thường thì tôi đi dạy luyện thi đại học nhiều hơn. Hồi đó chưa có… lò, nên chỉ dạy kèm, dạy nhóm. Học trò đa phần là con cán bộ từ rừng, trình độ quá yếu, dạy phải hạ thấp, hạ thấp nữa, căn bản của căn bản. Vậy mà tụi nó đậu, đậu Y Dược hẳn hoi. Có vài em rất giỏi, nhưng lại rớt. Học tài thi phận, cái phận lý lịch buồn từ trong nhà ra tới ngoài đời. Mấy em bây giờ ở đâu?

Viết tới đây bỗng dưng khựng lại. Đang nói tới cháo lòng heo, sao lại quay sang nói lòng… người thế này?

Quán cháo lòng nằm ngay trước cửa cơ quan tôi, coi như chòm xóm, vậy mà lâu lâu cũng phải “hót” bả một chút mới được việc. Bà chủ chảnh, nhưng cũng có khi dễ chịu. Cuối tháng lãnh lương, cỡ hai giờ chiều, đang dọn hàng còn ít khách, tôi ra quán gạ bả:
- Chị cười, sao tôi thấy ngồ ngộ…

- Ngộ cái gì?

- Ngộ là đẹp đó, chẳng lẽ tui nói huỵch toẹt ra. Chị coi được mắt, làm đồ mồi ngon, sao giờ chưa chịu lấy chồng? Thằng nào phụ chị, đâu chị nói tui nghe thử, tui đá cho nó mấy cái…

Thế là bả xả ra hàng chùm hàng loạt, nào là bả đào hoa thế nào, nào là thằng nào thầm yêu trộm nhớ mà bả không chịu… bla… bla…

Khách tới đông, tôi xin kiếu vô làm việc lại, nhưng không quên bỏ nhỏ bà chủ, Hôm nay tui lãnh lương, đãi mấy thằng bạn nhậu. Tui quảng cáo món dồi chiên của chị quá xá. Chị bán cho tui một tô, không lấy cháo, chỉ lấy lòng và dồi, càng nhiều đầu dồi càng tốt. Cho vào bao nylon, lát về tui lấy… Chất lượng hàng hóa hôm đó, ngon rẻ đẹp bền (bền là lần sau mua cũng khuyến mãi như thế), vượt trên mức mong đợi.

Lắm khi tôi tự hỏi, phịa đại một câu, vô thưởng vô phạt, làm người khác sướng, mà mình cũng có lợi, có phải là hành vi… đạo đức không? Thế giới này cả ngàn nhánh khổ rồi. Giây phút nào buồn, giây phút nào vui đây?

Năm 84, tôi chuyển chỗ làm khác, chỉ thỉnh thoảng mới ghé quán cháo lòng Đa Kao. Giữa thập niên chín mươi, trở lại quán cũ, thì người khác ngồi bán. Nghe nói, bà chủ cũ chơi đề, vỡ hụi hay sao đó, đã bỏ đi xa rồi…

Ông già cháo huyết hay bà cháo lòng có khác gì những người muôn năm cũ. Họ là phần ký ức nhỏ trong một quãng hành trình nào đó của đời người, đầy nhọc nhằn biến động, gắn liền với bao chuyện vụn vặt, không sao quên được… Nhớ đâu viết đó.

Lúc đầu định viết Món ăn dĩ vãng, viết hết đủ món, viết một lần cho xong, nhưng mới tới cháo huyết cháo lòng đã thấy dài, thấy mỏi tay… Rồi tôi sẽ viết tiếp nếu còn người muốn… đọc. Mà dù không còn người đọc, tôi cũng viết. Viết để trả nợ quá khứ, một quá khứ chẳng đâu vào đâu.

Còn gỏi khô bò, còn sò lông, còn bia lên cơn, còn rượu Cây Lý… Những thứ này xa lắc rồi. Mấy ai còn nhớ đâu, nhưng có khi lại thấy chúng gần, thật gần… tưởng chừng như mới đâu đây thôi, như hôm nay tôi ngồi viết bài này.

Chạm tay vào dĩ vãng, sao thấy ngậm ngùi quá !






Saturday, October 12, 2024

Con Gái Rượu

Tác Giả : Vũ Thế Thành Nguồn: Báo Mai 
Tôi gặp cha con họ trong một quán phở gần nhà thờ Ba Chuông, hồi năm 80 hay 81 gì đó.

Tối đó trời mưa. Đi chơi về khuya, tôi tấp vào quán phở. Quán vắng khách, chỉ có hai người: ông già và cô gái. Họ đang uống rượu, thủ thỉ nói chuyện.

Tô phở đã kết thúc mà mưa chưa dứt. Sài Gòn mưa tháng Bảy nhì nhằng bất kể lúc nào, tối khuya hay nửa đêm về sáng cũng không chừa…

- “Chú em qua đây làm một ly cho ấm bụng”, ông già nâng ly nói với qua.

Đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh. Mưa rả rích thế này, đang thèm rượu, mà uống một mình, cay ai chịu nổi! Không khách sáo, tôi bước qua bàn ông, cạn ly.

Ông già chỉ qua cô gái với chút hãnh diện: “Đây là con gái tôi. Nó làm ở tổ hợp đan lát. Hôm nay nó lãnh lương, rủ bố đi nhậu”. Cô gái trạc hai mươi, tóc ngắn, có da thịt, trông có vẻ quyết đoán.

Ông tự giới thiệu là họa sĩ. Trước năm 75, có triển lãm tranh ở nhiều nơi, kiếm tiền rủng rỉnh, tay chơi một thời. Bây giờ chẳng ai mua tranh, bèn đi vẽ thuê pa-nô, áp-phích qua ngày.
Tôi dốt hội họa bẩm sinh, dốt từ thời đi học, và bây giờ vẫn dốt, nên không hào hứng lắm với chuyện tranh ảnh, nhưng nghe ông kể cuộc đời lãng tử của ông, chuyện văn nghệ sĩ Sài Gòn…, cũng thấy vui vui.

Chuyện vãn, tôi đoán ông khoảng ngoài năm mươi, tóc dài chấm vai, thưa, nhiều sợi bạc, mắt hõm sâu, tinh anh, mặt gầy, xương xẩu, áo sơ mi đuôi tôm rộng thùng thình. Trông ông có vẻ già hơn tuổi nhiều.

Tô mồi gân bò còn hơi đầy, nhưng xị rượu gần cạn. Có vẻ như cha con họ uống nhiều, nói nhiều và nghe nhiều hơn là ăn. Tôi gọi thêm xị rượu, “Xin phép chú, từ chai này cháu tính, mời chú và cô em”. Ông xua tay, hơi to giọng: “Chú em gọi rượu được, tính tiền được, nhưng không được gọi tôi bằng chú, phải gọi là anh, mình là dân nghệ sĩ”.

Ông già chơi thế mới… nghiệt. Tôi hơn cô gái chừng năm, sáu tuổi chứ nhiêu. Thiệt lỡ cỡ… Tôi rót rượu mời ông, mời cô gái. Cô chỉ nhấp môi, lí nhí: “Cám ơn… chú”. Lỡ cỡ là ở chỗ đó! Ông già cười ha hả: “Con này nó chỉ phá mồi”.

Rượu ngấm qua bờ môi… Bỗng nhiên ông đứng dậy, lảo đảo, một tay vịn mép bàn, và hát:


Tiếng hát không cần nhịp, lúc ngắn lúc dài, khi hát khi nói, lúc nhỏ lúc to… Ông khom người xuống, tay phải áp vào tim, tay trái giang ra diễn đạt. Đã còng lưng sẵn, khi hát trông ông lại càng còng đến thảm hại.

Ông hát không cần người nghe, hát cho chính ông, hát để trang trải nỗi lòng. Rồi ông thẳng người lên:


Giọng ông khàn, gào lên như tiếng con gà bị cắt tiết. Tôi nhìn sang cô gái, mắt cô chăm chăm nhìn cha. Tôi buột miệng: “Mẹ đâu?”. Mắt cô vẫn không rời cha, môi mím chặt: “Bỏ đi rồi!”. Tôi thấy khóe mắt cô có giọt nước.

Những năm tháng đó, lòng người đổ vỡ nhiều, kẻ đi người ở, tâm trạng lao đao, nhân tình thế thái. Giọng hát của ông họa sĩ dở nhất trên đời, nhưng nghe ông hát, nhìn ông diễn mới cảm ra được số phận thế nào. Tiếng hát không đi vào lòng người thì đi về đâu? Ánh mắt của cô con gái nhìn cha đã ám ảnh tôi cả một đoạn đường dài.

Cách đây không lâu, tôi có đọc một truyện ngắn của một cô gái kể về cha mình. Cha cô là một người đàn ông có trách nhiệm, nghiêm khắc, thương con. Từ ngày qua Mỹ, ông làm quần quật để lo cho các con ăn học. Mục tiêu của ông là thế, rồi dựng vợ gả chồng. Mẹ cô tiếng Anh kém, chỉ ở nhà nội trợ.

Đến tuổi, mẹ cô lãnh tiền già, ba cô lãnh lương hưu. Mẹ cô bỗng đổi tính đổi nết, ăn nói ngang ngược, suy diễn lung tung. Ba cô trở nên ít nói, suốt ngày ở trong phòng, niềm vui duy nhất là đứa cháu ngoại. Rồi một hôm ba cô bỏ đi, để lại mảnh giấy nhắn, đừng lo cho ông và cũng đừng tìm ông. Cô lo lắng, dọ hỏi khắp nơi. Không ai biết tin về ông.

Một hôm cô nhận được thiệp mừng sinh nhật của ông gửi cho con gái cô. Ông nhớ cháu ngoại. Thư không ghi địa chỉ người gửi. Cô xin nghỉ phép, lần theo dấu bưu điện tìm cha. Hai cha con gặp nhau ở quán cà phê. Cô mời ông về nhà để cô chăm sóc, nhưng ông từ chối. Ông cho biết ông đang trông cửa hàng cho một người bạn học. Bà ta đã góa chồng, hiện ở với đứa con gái trạc tuổi cô. Cả hai đều quý ông, và ông cảm thấy thoải mái khi ở đó. Trông cha cô khỏe ra, vui hơn, cô thấy yên tâm.

Vài năm sau, ông về thăm nhà. Ngày hôm sau bị đột quỵ, rồi mất ở bệnh viện vài ngày sau đó. Mẹ cô cũng than khóc như bất cứ bà vợ mất chồng nào khác.

Ở nghĩa trang, cô thấy xa xa hai người phụ nữ mặc đồ đen, một già, một trung niên, lặng lẽ đứng dưới gốc cây. Một trong hai người dùng khăn chậm nước mắt.

Linh cảm cho cô biết họ là ai. Cô tiến về phía họ, định nói lời cảm ơn đã chăm sóc cha cô những năm tháng cuối đời, nhưng cả hai đã quay lưng, bước ra khỏi nghĩa trang. Cô cảm thấy có điều gì đó ân hận và nuối tiếc…
Chuyện chấm dứt ở đây.

Cô thương cha, cô muốn phụng dưỡng, chăm lo ăn uống, sức khỏe cho ông. Cô cũng hiểu cha cô buồn bực, khổ tâm vì những lời nói ngang ngược của mẹ. Là con, cô cảm thấy mình khó xử. Cô muốn cha vui. Nhưng liệu cô có hiểu, người già như cha cô, khi xong nghĩa vụ với con cái, thường có xu hướng quay về với quá khứ, với những ước mơ thời trẻ, không phải để thực hiện hay nuối tiếc, mà để sống với giấc mơ, đắm chìm với nó như một níu kéo mà phần lớn cuộc đời, vì cơm áo gạo tiền, vì trách nhiệm với gia đình họ đã không dám phiêu lưu.

Người già thấm thía số phận hơn người trẻ. Lý trí và cảm xúc, cố chấp và khoan dung, tự tôn và nhẫn nhục… Yếu tố mâu thuẫn trong những cặp này đan xen vào nhau, vế sau thường trội hơn vế trước. Người già thường nghiêng về vế sau: cảm xúc, khoan dung và nhẫn nhục.

Như con hổ già trong gánh xiếc bỗng nhiên nhớ rừng, người già thường cô đơn, dễ tủi. Họ cần sự cảm thông và chia sẻ, nhưng bất cần trước sự mỏng manh của chính mình, hờ hững với tiện nghi vật chất. Thế giới tâm linh trở nên gần gũi hơn.

Với người già, thức ăn trở nên nhạt nhẽo, sức khỏe là điều miễn cưỡng. Con cái quan tâm đến cha mẹ già như một đối tượng khách quan; chữ hiếu được làm tròn bằng sự chăm sóc duy ý chí với những kiến thức khoa học hiện đại. Nước mắt chảy xuôi là quy luật, nhưng chảy ngược như thế liệu có phải là những thứ người già cần?

Khi cha mất, cô mới nhận ra nhu cầu tinh thần của ông. Người đàn bà lặng lẽ ở nghĩa trang đã làm cô hiểu ra điều đó.
Cô hiểu, nhưng chưa thấu được những giọt nước mắt “không chính danh” mà người phụ nữ kia đã phải nuốt ngược vào tim. Tử Kỳ mất rồi, cây đàn Bá Nha còn để làm gì? Cô chưa với tay được tới tri âm. Chưa với tay được, có lẽ vì cô chưa bao giờ ngồi… nhậu với cha cô. (chữ “nhậu” ở đây mà hiểu theo nghĩa cụng ly chan chát, thì buồn chết).

Không khí bàn nhậu thường làm tâm hồn người ta chùng lại, đôi khi nói với khoảng không, nói mà như không nói. Trong những khoảnh khắc đó, cô có thể bắt gặp được cha cô. Người già biết quãng đời còn lại của họ như gió thoảng, sống chỉ là sống nốt cho hết tuổi đời.

Tôi không có duyên để gặp cha con ông họa sĩ lần thứ hai. Chẳng biết bây giờ họ ra sao? Nếu gặp lại, có thể tôi vẫn nhận ra ông. Ông không thể già hơn được nữa. Còn cô gái, bây giờ cũng xấp xỉ năm mươi với nếp nhăn trên khóe mắt, và còn biết bao biến đổi khác… Chỉ một lần gặp, rồi ba mươi năm trôi qua, làm sao có thể nhớ được khuôn mặt.

Nhưng nếu gặp nhau ở quán rượu, chỉ cần bắt gặp ánh mắt của cô nhìn cha, có thể tôi sẽ nhận ra. Đó là ánh mắt xót xa thương cảm vô bờ, rõ ràng là ánh mắt của người mẹ, không phải của đứa con nhìn cha. Chắc chắn tôi sẽ nhận ra.

Vũ Thế Thành

Blog Archive