Showing posts with label Nguyễn Ðạt Thịnh. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Ðạt Thịnh. Show all posts

Wednesday, July 11, 2018

Nạn Hoa Kiều
(Thợ đào vàng Trung quốc làm lậu ở Ghana)

Một hiện tượng lạ của thế kỷ trước là nước Tàu trở thành một nước Cộng Sản; lạ, vì người Tàu, bản chất vốn tham lam, thích dĩ công vi tư, lấy của công về làm của riêng, lấy của người về làm của mình, thì làm cách nào trở thành cộng sản được.

Trong một thời gian ngắn, con người có thể gượng ép giấu bản chất của mình, nhưng từ từ rồi sự thật vẫn lòi ra; hôm nay thì ông lớn vô sản nào cũng giàu nứt đố đổ vách trong cái nước Tàu trở thành Trung Cộng; lớp áo đỏ xúng xính họ mặc, không che được cái rốn lồi trên cái pụng pự.

Việt Nam khốn khổ vì nạn đồng chí vĩ đại; ngoài biển khơi thì chiến hạm, tàu tuần của chính phủ Trung Cộng, và tàu cá của ngư phủ Tàu san sát như lá tre, nhịp nhàng phối hợp để thực hiện chiến thuật cấp thời cướp cá, thư thả hút dầu; trong nội địa người Tàu lại gài một dàn thái thú mặt Việt lòng Tàu, thực hiện mọi thủ đoạn để tái lập chế độ Bắc Thuộc thêm một lần nữa –lần thứ 5.

Người Việt quốc nội xuống đường đòi đuổi bọn “Tàu Khựa” về Tàu; thái thú mặt Việt lòng Tàu, bắt người Việt chống ngoại xâm, bỏ tù; triều đình Bắc Phương khen thái thú “giỏi lớ, giỏi lớ”. Được chủ khen, bọn tôi tớ càng nức lòng, đêm ngày họp tòa án nhân dân, đem nhân dân ra trừng trị.

Làn sóng người Hoa tràn xuống Việt Nam lập nghiệp trở thành nạn Hồng Thủy khiếp đảm diễn ra công khai, đều đặn.

Giữa cảnh đáng buồn đó, người Việt tìm được một phút ngắn tạm vui với tin cảnh sát Ghana trị được nạn Hoa Kiều.

Ghana là một nước nhỏ và rất nghèo nằm về phía tây Phi Châu, với dân số 25 triệu người; đặc sản của Ghana là vàng; vàng không chỉ nằm trong mỏ mà nằm rải rác trong lòng đất, lòng sông, lòng suối. Ghana là quốc gia đứng thứ nhì trên thế giới về sản xuất vàng. Năm ngoái, số vàng xuất cảng đem lại cho Ghana 2.2 tỉ Mỹ kim – 90% tổng sản lượng quốc gia, nhưng chưa bằng 1% số tài sản ông Tim Cook, CEO của Apple đang giấu ở ngoại quốc.

Mùi vàng gọi người Tàu đến Ghana; Tập Cận Bình đem ngân khoản “Trung Quốc Viện Trợ” và đem công nhân “Tàu Khựa” đến khai thác vùng đất còn bán khai này.

Tổng thống Ghana – ông John Dramani Mahama – welcome người Tàu đến giúp ông xây dựng trường học, xây nhà thương; ông không để ý là cùng với những đồng Nhân dân tệ, hàng chục ngàn công nhân Tàu cũng lẩn vào Ghana. Họ vào xin làm việc cho các xưởng đãi vàng thô sơ, và chỉ vài tháng sau họ tự tổ chức những hệ thống đãi vàng hoạt động kết quả hơn những hãng của người Ghana.

Tinh khôn hơn người địa phương, người Tàu mò lên tận đầu các ngọn suối đắp ụ cản nước, giữ cát lại để đãi vàng; đãi xong, họ mới xả cho nước và cát chảy xuống hạ nguồn; người Ghana chợt thấy bà Thần Vàng không còn hậu đãi mình nữa; rồi dù chất phác đến đâu họ cũng vẫn tìm ra sự thật.

Các hãng đãi vàng người địa phương trình bày sự việc lên chính quyền; Tổng thống John Dramani Mahama ra lệnh truy nã những người Tàu gây xáo trộn sinh hoạt đãi vàng, nguồn lợi duy nhất của quốc gia.

Đại sứ Trung Cộng Gong Jianzhong xác nhận có khoảng 12,000 người Hoa nhập cảnh lậu vào Ghana, trong số này gần 10,000 xuất phát từ huyện Shanglin, một huyện nhỏ và nghèo thuốc tỉnh Quảng Tây. Viên chức Di Trú Ghana nói ông Gong xin trang trải mọi chi phí hồi hương cho những người Hoa nhập cảnh lậu vào Ghana.

Bà Mỗ, một phụ nữ Hoa, cư dân xã Mingliang, huyện Shanglin, nói hai đứa con trai và một đứa con rể của bà rủ nhau sang Ghana làm ăn, và đang trốn trong một căn nhà tại tỉnh Dunkwa cùng với trên 20 thanh niên người Hoa.

Bà nói con bà cho biết, qua điện thoại di động, không người Hoa nào dám ló mặt ra, sợ thổ dân đập chết; họ chưa tìm được cách móc nối với tòa đại sứ để xin giúp đỡ hồi hương.

Gia đình cậu Zhu Congli, một thanh niên khác trong đám 10,000 người Shanglin đi hốt vàng, cho biết Zhu và một nhóm người Hoa đang trốn trong một đồn điền trồng cây cocoa. Ban ngày họ chui xuống hang, xuống hố ẩn trốn, ban đêm mò ra, trở về địa điểm đãi vàng để nhờ điện tại đây charge điện thoại di động. Họ rất lo sợ cho tính mạng của họ.

Một thiếu phụ khác, bà Wen Ruchun, cư dân xã Shuitai, một xã nghèo khác nữa của huyện Shanglin, cho biết chồng bà, cũng là một người đi mò vàng, đang chờ giấy máy bay hồi hương tại Accra – một thành phố lớn của Ghana.

Tỏ ra là người sành sỏi, bà bảo những gia đình đồng cảnh, “Chính phủ Ghana quyết liệt lắm, phải rút về thôi. Nhưng vé máy bay từ hôm nay cho đến cuối tháng Sáu đã hết rồi”.

Bên cạnh chính sách “gồm thâu lục quốc” của chính phủ Trung Cộng, khối 1.35 tỷ người Hoa cũng là một nguồn áp lực di dân khiếp đảm: họ sẵn sàng ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc ngay khi gặp cơ hội đầu tiên.

Cái “nạn Hoa Kiều” tràn sang Ghana bất chấp cách trở đại dương, coi thường khắc nghiệt khí hậu, khác biệt ngôn ngữ, tập tục, như những trở ngại nhỏ; họ xung phong vào lãnh thổ Ghana, giật nghề đãi vàng của dân địa phương.

Phản ứng của chính phủ Ghana đang dạy chính phủ Việt Cộng một bài học về thái độ “mềm nắn, rắn buông” của Trung Cộng; cảnh sát Ghana thẳng tay ruồng bắt những kẻ nhập cảnh lậu, bắn giết bọn chống cự; tình hình căng thẳng đến mức hàng ngàn người mò vàng lậu phải “độn thổ” ban ngày, chỉ dám ló ra ban đêm để tìm lương thực, tìm cách liên lạc với tòa đại sứ, với thân nhân ở quê nhà.

Việt Cộng cứ đưa cảnh sát vào thị xã “Chợ Lớn Mới” tại tỉnh lỵ Bình Dương để kiểm soát giấy tờ nhập cảnh của những công dân Trung Cộng rồi trục xuất họ về Tàu thử coi.

Dĩ nhiên việc làm này rất khó, nhưng nếu vì khó mà không làm, thì thái độ hèn nhát này có nghĩa là ngay ngày hôm nay Việt Cộng đã chấp nhận việc Việt Nam thất thủ trước cuộc xung phong biển người của Hoa Kiều, mà không cần một trận tấn công quân sự của Trung Cộng.

Nguyễn Đạt Thịnh

Wednesday, April 13, 2016

Phế thải con người


Nguyễn đạt Thịnh


Image result for TRƯƠNG ĐÌNH HÙNG

Trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại, nữ luật sư Monique Trương Miller -cư dân California- nói người em trai của bà -thạc sĩ kinh tế David Trương- rất hiểu số phận con người là để bị phế thải. Ông David Trương vừa từ trần hôm 26 tháng Sáu 2014 tại Penang, Mã Lai, hưởng thọ 68 tuổi; ông chết vì bệnh ung thư.

Nguyên văn câu nói của bà Monique là, "Em tôi coi cuộc đời của nó là một vụ án chính trị, và nó chỉ là một con chốt bé nhỏ trên bàn cờ mà các lãnh tụ cường quốc so tài với nhau để hoàn thành mục đích chính trị của họ."

Ý bà Monique có thể là, em bà, một người đàn ông Việt Nam sinh ra trong thời chiến, đất nước đắm chìm trong tang tóc điêu linh, số phận của người Việt, của nước Việt lại không do người Việt, mà do những lãnh tụ quốc tế định đoạt.

Câu nói thê lương này có thể đúng cho nhiều người đàn ông Việt Nam khác, nhưng không đúng cho trường hợp của ông David Trương, em bà.

Tên khai sinh của ông David là Trương Đình Hùng, con trai của ông Trương Đình Dzu, một chính khách chống chiến tranh; và một luật sư hành nghề tại Sài Gòn.

Ông là chủ tịch một tổ chức luật sư trong đó có nhiều luật sư không hành nghề luật sư, như ông Nguyễn Hữu Thọ và ông Trần Văn Khiêm; ông Thọ làm chủ tịch Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và ông Khiêm là em của bà Trần Lệ Xuân, vợ ông Ngô Đình Nhu.

Cuộc đời ông David không bị các lãnh tụ cường quốc và cũng không bị cuộc chiến tranh Việt Nam định đoạt, mà do chính tay bố ông David -ông Dzu- xếp đặt. Ông Dzu đem con trai ông thoát ra ngoài số phận của những người trang lứa với cậu; 20 tuổi, David không vào quân trường, không trở thành một người lính như mọi thanh niên 20 tuổi khác -David đi Mỹ du học.

Lo cho con được yên thân, nhưng ông Dzu không an phận; ông tham gia vào chính trường, với chủ trương chống lại cuộc chiến đấu của người Nam Việt, lúc đó đang cầm súng đối phó với cuộc xâm lược của phe Cộng Sản.

Ông chủ trương hòa bình với bất cứ giá nào, ông đòi Hoa Kỳ chấm dứt không được oanh tạc Bắc Việt nữa, và đòi Nam Việt ngồi vào bàn thương thuyết với MTGPMN. Năm 1967 ông ra ứng cử tổng thống với phù hiệu con bồ câu hòa bình, và thất cử; người thắng cử là ông Nguyễn Văn Thiệu.

Sau cuộc bầu cử, ông bị ông Thiệu bắt giam, và chỉ được tổng thống Trần Văn Hương phóng thích ngày ông Thiệu bỏ đất nước, bỏ nhân dân, chạy theo Mỹ. Nhưng ông Dzu thù ghét ông Thiệu ít hơn thù ghét Việt Cộng, vì Việt Cộng không cần biết là ông thân cộng, cứ bắt giam ông thêm 9 năm nữa, từ 1978 đến 1987. Sau ngày được phóng thích, ông Dzu khắc khoải sống thêm được 4 năm rồi nhắm mắt lìa đời trong uất hận.

Quê ở Bình Định, ông ra Hà Nội học Lycée Albert Sarraut rồi vào Đại học Đông Dương học luật. Tốt nghiệp ông được bổ làm tri huyện, nhưng sau vài năm lại về Cần Thơ hành nghề luật sư. Năm 1945 Trương Đình Dzu dọn lên Sài Gòn nhận làm chánh văn phòng cho Ủy Viên Cộng Hòa của Pháp là Jean Cédille khi người Pháp đổ bộ tái chiếm Nam Kỳ. Ông từng là hội trưởng của hội Rotary Club rồi thống đốc Rotary Club Đông nam Á.

Cũng như David -con ông- ông Dzu không phải là nạn nhân trong cuộc cờ thế giới: ông tự tạo ra cuộc đấu tranh thân Cộng của ông và lãnh hậu quả của cuộc đấu tranh này.

David cũng khổ vì thân cộng, mặc dù cái dại của David không liên hệ, mà cũng không giống cái dại của ông Dzu.

David chuyển hai công hàm mật của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho Việt Cộng; ông nhận hai tài liệu này từ tay ông Donald Humphrey, một viên chức làm trong Bộ Ngoại Giao, và là một cựu sĩ quan Mỹ tham chiến tại Việt Nam, có vợ, con còn đang sống tại Việt Nam vào năm đó. Humphrey hy vọng đem hai tài liệu này đánh đổi việc Việt Cộng cho vợ con ông xuất ngoại sang Hoa Kỳ đoàn tụ với ông.

Cả hai ông David và Humphrey cùng bị bắt và cùng bị truy tố; Humphrey nhìn nhận có đánh cắp hai tài liệu này, David nhìn nhận có chuyển những tài liệu đó cho Việt Cộng; tuy nhiên cả hai cùng phủ nhận họ không phải là điệp viên, không ăn lương của Việt Cộng hay của bất cứ ai khác, và không chủ tâm gây nguy hại cho Hoa Kỳ.

Cả hai cùng lãnh 15 năm tù, và đại sứ Đinh Bá Thi (đại diện Việt Nam Cộng Sản tại Liên Hiệp Quốc) cũng bị chính quyền Mỹ trục xuất với tư cách "một đồng lõa không bị truy tố."

Việc ông Thi bị trục xuất đưa đến một hậu quả bất ngờ là Hà Nội nghi David là người của CIA Mỹ, tạo ra scandale để Mỹ có cớ trục xuất ông Thi. Tại Việt Nam, họ bắt vợ chồng ông Dzu và cậu con trai út đi quản chế.

Tại Mỹ, Trương Đình Hùng thọ hình được 7 năm 4 tháng, thì được trả tự do trước kỳ hạn, với điều kiện là phải ra khỏi nước Mỹ. Ông Hùng cùng bà Carolyn Gates -vợ ông- rời Hoa Kỳ sang sống tại Hòa Lan, với công việc làm cố vấn phát triển kinh tế cho Liên Âu; cũng với tư cách viên chức Liên Âu, vợ chồng ông còn làm việc tại Hà Nội một thời gian, rồi qua Mã Lai.

Với truyền thống bênh vực tự do cá nhân, truyền thông Hoa Kỳ chỉ trích FBI nghe lén điện thoại của David, đặt máy ghi âm và camera trong phòng làm việc của Humphrey để tìm bằng chứng buộc tội hai ông này. Bộ trưởng Tư Pháp Hoa Kỳ vào thời điểm đó -ông Griffin B. Bell- biện minh việc ông cho phép FBI nghe lén điện thoại của ông David, và đặt máy trong văn phòng ông Humphrey là những miễn trừ do yếu tố an ninh quốc gia cho phép hành pháp vi phạm tu chính án số 4.

Truyền thông còn chỉ trích tòa án theo lập trường của hành pháp, bác đơn kháng án của luật sư bênh vực hai bị can, căn cứ trên việc công tố viện đã thu thập bất hợp pháp những bằng cớ buộc tội. Nghị sĩ Edward M. Kennedy, cũng góp ý là "vụ án Humphrey và Trương chứng minh nhu cầu phải có một đạo luật kiểm soát tình báo."

Năm 2003, ông Michael E. Tigar -luật sư biện hộ cho Trương đình Hùng- xuất bản quyển "Fighting Injustice" (Chiến Đấu Chống Bất Công), kể lại vụ án, rồi kết luận, "đã không chịu học hỏi những sai lầm tại Việt Nam, chính phủ Mỹ còn quay lại trừng phạt những người chống chính sách Việt Nam của họ. Cũng không buồn thảo luận về những vấn đề an ninh quốc gia, chính phủ chỉ ban hành luật lệ khe khắt để giữ kín mọi việc."

Ông Tigar chủ quan nên nhận xét thiên lệch vụ án Trương Đình Hùng- Donald Humphrey; việc ông Humphrey thương nhớ vợ con, tìm cách cứu vợ con ra khỏi biển khổ Việt Nam là hành động đẹp, tạo thiện cảm cho nhiều người, nhưng không ai bênh vực việc ông đánh cắp tài liệu mật của Bộ Ngoại Giao trao cho Việt Cộng để đánh đổi lấy tờ giấy xuất cảnh của vợ, con ông.

Việc David Trương, một công dân Hoa Kỳ tiếp xúc với đại sứ Đinh Bá Thi để chuyển tài liệu mật do Humphrey đánh cắp được lại càng sai hơn nữa.

Trở lại với góc nhìn bi quan của bà Monique Trương qua câu bà nói,"Em tôi coi cuộc đời của nó là một vụ án chính trị, và nó chỉ là một con chốt bé nhỏ trên bàn cờ mà các lãnh tụ cường quốc so tài với nhau để hoàn thành mục đích chính trị của họ;" để thấy góc nhìn này cũng hoàn toàn sai.

Ông Hùng bị bắt, bị tù, bị "mời" ra khỏi lãnh thổ Hoa Kỳ không do quyết định của một lãnh tụ chính trị nào cả; ông ta tự tạo ra tất cả những điều đó, bằng cách tự tay và tự ý cầm tài liệu mật của Hoa Kỳ trao cho Việt Cộng.

Những con chốt bé nhỏ không có khả năng tự quyết định phải là những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa, bị Mỹ cúp đạn, bị Trung Cộng tăng cường viện trợ cho Việt Cộng, tạo ra thất thế cho miền Nam, khiến người lính anh hùng Việt Nam bị địch giết trong thất thế, và phải là những người đàn bà Việt Nam chân yếu, tay mềm bị hải tặc hiếp dâm trên Biển Đông trong lúc họ mưu tìm tự do.

Cuộc dâu, biển đổi đời đó mới chính là hậu quả của một nước cờ trên bàn cờ quốc tế; những người lính hết đạn bị địch giết, bị địch sinh cầm, vợ con họ bị hải tặc cưỡng hiếp trên mặt biển mới chính là những con người bị phế thải.

Nhưng phép lạ là những con người bị phế thải đó đang đứng dạy, rồi tạo thành một sức mạnh xây dựng mà những thế lực toan đào thải họ 39 năm trước cũng phải kinh ngạc, nể nang. 



Thursday, August 14, 2008

Thượng Ðế đồng bạc

Nguyễn Ðạt Thịnh

Một cựu tù binh Việt Cộng, anh Michael Benge chỉ trích chính phủ Mỹ đặt quyền lợi thương mại trên lý tưởng tự do tôn giáo, coi việc giao thương với Hà Nội quan trọng hơn tự do tín ngưỡng của người Việt Nam.

Benge nói :" bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã coi nhẹ chủ trương phát huy tự do tôn giáo toàn cầu của Tổng thống George W.Bush bằng cách ngó lơ để mặc Việt Cộng đàn áp tôn giáo".
Benge nói chính sách “đặt đồng bạc lên bàn thờ” không phải là chính sách mới mà là chính sách Hoa Thịnh Ðốn đã áp dụng tại Trung Cộng, chính sách chấp nhận chế độ đàn áp tôn giáo, để mở rộng cửa giao thương với nước cộng sản này.

Benge đã sống 11 năm tại Việt Nam, anh là một người Mỹ dân sự làm việc tại cơ quan ED (Economic Development – Phát Triển Kinh Tế), bị Việt Cộng bắt tại Ban Mê Thuột ngày 28 tháng Giêng 1968 trong trận tổng công kích Mậu Thân. Anh bị Việt Cộng giam cầm trên 5 năm, và theo lời mô tả của chính anh, “tôi bị biệt giam 27 tháng, bị giam trong ‘phòng tối’ một năm, và một năm trong ‘chuồng cọp’. Chúng trả tự do cho tôi trong đợt trao đổi tù binh năm 1973.”

Anh nói những “biệt đãi” của Việt Cộng kích thích anh tìm hiểu nhiều hơn về chế độ tàn bạo này, và tích cực yểm trợ những cuộc đấu tranh cho nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam.

Benge viết rất nhiều về đề tài này và về cuộc sống của tù binh Hoa Kỳ trong tay Việt Cộng. Anh chỉ trích nặng nề việc Hoa Kỳ chấp nhận nhiều trường hợp vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo của Trung Quốc, vì quan niệm rằng trao đổi thương mại và các nguồn đầu tư của Mỹ sẽ giúp Trung Quốc hoà nhập vào thế giới văn minh, thay đổi chính sách vi phạm nhân quyền, đàn áp dân chủ và tôn giáo ở xứ họ.

Benge khẳng định chính sách này không thành công, mà chỉ mang lại thâm thủng mậu dịch cho chính nước Mỹ bởi các ngân khoản khổng lồ để nhập khẩu các sản phẩm “made in China” trong lúc hàng chục ngàn người dân Tây Tạng và Trung Quốc bị giết hại, bị tù đày trong các trại lao động nô lệ.

Benge tố cáo chính quyền Bush là lo đốt nến trên “bàn thờ đồng bạc” mà nhắm mắt quay lưng trước các hành động đàn áp tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam. Ông bất bình vì chính quyền Bush tái sử dụng chính sách đã thất bại tại Trung Cộng.

Mô tả tình hình thực tế tại Việt Nam, Benge nói, liên tiếp trong thời gian gần đây hàng chục nhân vật bất đồng chính kiến, nhà báo, những người cổ võ dân chủ, lãnh tụ và tín đồ các tôn giáo bị bắt bớ hay giam tù. Ông lên án tình trạng vi phạm nhân quyền của Hà Nội là “làn sóng đàn áp tệ hại nhất trong 2 thập niên qua” và “không thể kiểm soát”.

Benge nói Hà Nội chỉ “cải trang” chính sách đàn áp tôn giáo, chứ không “cải thiện” chính sách này; ông chỉ trích nặng nề bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về việc bỏ tên Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo (CPC).

Benge viết, bề ngoài chính phủ Hà Nội làm như thể nới lỏng tự do tôn giáo, nhưng thực chất bên trong lại tăng cường quản lý các sinh hoạt đạo. Các gia đình theo đạo Tin lành có quyền được cầu nguyện tại gia, nhưng lại không được phép nhóm họp cầu nguyện ở những nơi công cộng hay nơi thờ phượng trừ khi được sự chấp thuận và kiểm soát của nhà nước.

Từng làm việc tại Cao Nguyên Darlac trước năm 1968, ông biết rất rõ về tình hình Việt Cộng đang đàn áp người Thượng; ông nói trong số hơn 350 tù nhân chính trị người Thượng đang bị giam giữ, phần đông là mục sư hoặc tín đồ Tin lành. Nhiều người Thượng bị đàn áp tôn giáo tiếp tục trốn chạy lánh nạn sang Campuchea bất chấp mọi hiểm nguy.

Tất cả các tổ chức hay sinh hoạt tôn giáo tại Việt Nam đều phải “đăng ký” với nhà cầm quyền. Tất cả các bài thuyết giáo đều phải được truyền giảng bằng tiếng Việt của người Kinh, cho dù là ở những nơi thờ phượng của những người sắc tộc thiểu số.

Tình trạng đàn áp tôn giáo tại Việt Nam là có thật; và câu hỏi cần nêu lên ở đây là “Có thật Hoa Kỳ đã để đồng bạc lên bàn thờ, thay thế ngôi vị của Thượng Ðế không?

Blog Archive