Showing posts with label Trần C. Trí. Show all posts
Showing posts with label Trần C. Trí. Show all posts

Tuesday, April 21, 2026

Nỗi Buồn Tháng Tư: Những Người Không Chịu Chết 



Bài viết này lấy cảm hứng từ tựa đề của một tác phẩm nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam Cộng Hoà. Đó là tựa đề “Những người không chịu chết” (1972), một trong những vở kịch nổi tiếng của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan. Lúc vở kịch ra đời, tôi hãy còn nhỏ lắm, nhưng cũng phần nào đủ trí khôn để thưởng thức vở kịch này. Tôi được đọc vở kịch trước rồi sau mới xem kịch trên truyền hình. Đã mấy mươi năm rồi nên bây giờ tôi chỉ còn nhớ lờ mờ rằng vở kịch đó nói về một nhóm tượng người mẫu, cứ đêm đêm đêm lại trở thành người, sống, ăn nói và sinh hoạt như bao con người bình thường khác, với đầy đủ tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố, thất tình lục dục. Bài viết này mượn cảm hứng đó để nói về - không hẳn chỉ là những con người - mà còn là những thực thể khác, cũng không hề chịu chết, qua dòng lịch sử nghiệt ngã của nước Việt, tính từ ngày 30 tháng Tư năm 1975.

(Hôi Nghị Quốc Tế Bandung, Indonesia, 2015)

LÁ CỜ KHÔNG CHỊU CHẾT! Đó là lá cờ vàng ba sọc đỏ, lá cờ tượng trưng cho tinh thần dân chủ và tự do của mọi người Việt khao khát một cuộc sống an lành, hạnh phúc, xứng đáng với nhân phẩm. Lá cờ này không nhất thiết đại diện cho một chế độ hay một chính phủ nhất thời mà là một sự tiếp nối truyền thống lâu đời của một dân tộc hào hùng.

Nền vàng của lá cờ bắt nguồn từ cả ngàn năm trước, thuở Hai Bà Trưng quyết đánh đuổi quân Hán xâm lược, “đầu voi phất ngọn cờ vàng”. Một số vì vua sau đó cũng dùng cờ vàng để làm biểu hiệu cho quốc gia. Lá cờ vàng được thêm thắt, sửa đổi về sau để thành cờ Long Tinh (triều Nguyễn 1920-1945), cờ quẻ ly (chính phủ Trần Trọng Kim) và cuối cùng là cờ quẻ càn, hay lá cờ vàng ba sọc đỏ mà chúng ta có ngày nay, được dùng trong thời kỳ Quốc Gia Việt Nam (1949-1955) và Việt Nam Cộng Hoà (1955-1975).

Xem như thế đủ hiểu rằng lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ của một dân tộc, thấm đẫm hồn thiêng của tổ quốc từ đời này qua đời khác. Ngày 30 tháng Tư năm 1975, lúc cả trăm ngàn người miền Nam bỏ chạy ra khỏi nước để trốn tránh một chế độ độc tài sắp áp đặt xuống phần đất phương nam, lá cờ vàng ba sọc đỏ cũng cùng mọi người đi tìm tự do. Lúc ấy, lá cờ vàng như vị thần hộ mệnh, đi theo đoàn người viễn xứ để bảo bọc, che chở họ, đồng thời giữ vững, hâm nóng ngọn lửa tự do dân chủ trong lòng họ.

Trong lịch sử nhân loại từ trước đến nay, chưa có lá cờ dân tộc nào tồn tại dai dẳng và kiêu hùng nơi xứ người như lá cờ vàng ba sọc đỏ, tính đến nay đã hơn bốn mươi năm trời, và còn biết bao nhiêu năm tháng trước mặt nữa. Không những sống vững, sống mạnh trong các cộng đồng người Việt tự do khắp thế giới, lá cờ vàng ba sọc đỏ còn tiếp tục “sinh sôi nẩy nở” khắp nơi trên những phần đất tự do của các quốc gia sở tại.

Cách đây vài năm, như một phép lạ diệu kỳ, tại hội nghị quốc tế Bandung ở Indonesia vào tháng 4-2015, lá cờ vàng ba sọc đỏ lại hiên ngang sánh vai với các các lá quốc kỳ khác với tư cách là lá cờ của một quốc gia hội viên. Đây là một ngoại lệ vô tiền khoáng hậu! Trên nguyên tắc, một hội nghị quốc tế không bị ràng buộc phải trưng một lá cờ của một quốc gia không tồn tại về mặt pháp lý. Ấy vậy mà hội nghị Bandung đã làm một việc mà ngay cả những nguyên tắc ngoại giao quốc tế cũng khó mà giải thích. Riêng ở Hoa Kỳ, đã có khoảng 14 tiểu bang, 7 quận hạt và 88 thành phố chính thức công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ chính thức đại diện cho cộng đồng người Việt tự do sinh sống nơi đây.

Hằng năm, vào các dịp lễ lạt cổ truyền hay sinh hoạt cộng đồng, lá cờ vàng ba sọc đỏ vẫn phất phới tung bay như góp vui với mọi người. Nơi tôi ở—Little Saigon, Orange County—cứ mỗi độ 30 tháng Tư về là các đường phố chính rợp bóng cờ vàng, xen lẫn với lá cờ của nước sở tại. Mỗi buổi sáng trong mùa tháng Tư Đen, vừa lái xe ra khỏi cổng tôi đã thấy những lá cờ vàng tung bay bên lá cờ sao Hoa Kỳ. Tôi vừa vui vừa buồn khi nhìn những lá cờ thân yêu ấy. Hy vọng một ngày nào đó không xa, khi đất nước Việt Nam trở thành một quốc gia tự do, dân chủ, toàn dân sẽ đồng lòng chọn lá cờ vàng truyền thống để làm biểu tượng cho tinh thần bất khuất ngàn năm của người Việt Nam.

THÀNH PHỐ KHÔNG CHỊU CHẾT! 

Thành phố Sài Gòn, cho dẫu trong hiện tại có phải “mang tên xác người”, cũng như lá cờ vàng ba sọc đỏ, là một “thành phố không chịu chết”. Bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng tên gọi Sài Gòn không bao giờ mất đi trên môi những người Việt xa xứ. Không những vậy mà ngay tại Sài Gòn, tên gọi này cũng không những không mai một đi mà còn tồn tại song song với cái tên xác người. Đối với người dân thành phố, người ta vẫn nói “mưa Sài Gòn, nắng Sài Gòn” chẳng hạn—nghe vừa thân mật lại vừa thơ mộng— chứ chẳng ai biết “nắng mưa thành phố hồ chí minh” là cái chi chi! Một buổi sáng thức dậy trong lòng thành phố, bạn có thể nghe tiếng người cười nói lao xao ngoài ngõ, tiếng xe cộ, tiếng kèn xe, mùi khói xe lẫn với mùi cà-phê và hủ tiếu.

Và bạn bảo tất cả những âm thanh cùng những mùi khác nhau trộn lẫn lại đó là một cái gì rất đặc trưng của thành phố này, rất “Sài Gòn”; chứ chẳng có ma nào nói, tất cả những điều đó là một cái gì rất “thành phố hồ chí minh”! Loại ngôn ngữ khiên cưỡng đó tự nó đã sượng sùng, ngượng nghịu nên không bao giờ có dịp thoát ra khỏi đôi môi người nói. Thêm nữa, không biết bao nhiêu công ty, cửa tiệm, nhãn hiệu hàng hoá ngày nay vẫn còn ưu ái mang tên Sài Gòn trong thành phố (bị xui xẻo) mang tên “người… chết” này! Thành phố có thể đang tạm mất tên nhưng cái hồn Sài Gòn vẫn còn đó, trong từng con người đang thở mỗi ngày ở đó, chờ dịp thực sự hồi sinh.


Ở hải ngoại, Sài Gòn không những không chết đi trong lòng những người dân Việt lưu vong mà còn thoát thai sống lại thành những Sài Gòn mới trên đất nước tự do xứ người. Đây là những “Little Saigon” đã mọc lên ở những nơi có đông người Việt cư ngụ. Những nơi có tên Little Saigon chính thức có thể kể đến là ở Westminster (California), San Jose (California), San Francisco (California), Sacramento (California), San Diego (California), Houston (Texas), Vancouver (Canada), v.v. Đó là chưa kể những khu Little Saigon mang tên chưa chính thức khắp nơi trên Hoa Kỳ và thế giới mà sinh hoạt thương mại, văn hoá, chính trị cũng rộn rịp không kém gì những Little Saigon chính thức.

Những bảng tên đường tiếng Việt nhắc nhở đến Sài Gòn có thể tìm thấy ở Houston (Texas) hay Little Saigon (California), hay những bảng chỉ đường vào Little Saigon trên các xa lộ ở California đã đánh dấu sự “sinh sôi nẩy nở” của Sài Gòn không khác chi trường hợp của lá cờ vàng ba sọc đỏ. Sài Gòn không những không chết đi mà còn tiếp tục nở rộ ra như những bông hoa biểu hiện cho dân chủ, nhân quyền trên khắp các vùng đất tự do trên thế giới. Một mai không xa, những Sài Gòn nhỏ này sẽ sum vầy cùng Sài Gòn lớn, như những dòng sông hân hoan đổ về biển rộng, cùng hát bài “Hội trùng dương” trong ngày hội lớn của dân tộc.

…VÀ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CHỊU CHẾT! 

Những người không chịu chết này là những người phải bỏ xứ ra đi vì không chấp nhận sống dưới một chế độ phi nhân, độc tài. Về chủ nghĩa cộng sản, rất nhiều danh nhân thế giới đã phát biểu những danh ngôn vô cùng sâu sắc, thấm thía. Tuy nhiên, không gì hay bằng nghe chính những người đã từng là cộng sản nói về nó. Một trong những người này là ông Boris Yeltsin, vị tổng thống đầu tiên của nước Nga hậu cộng sản (nhiệm kỳ 1991-1999). Ông Yeltsin đã từng là đảng viên Đảng Cộng Sản Nga trong 29 năm (1961-1990) và từng giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền Xô-viết.

Vào năm 1989, một trong những năm cuối cùng của Liên Bang Xô-viết, ông Yeltsin thực hiện một chuyến công du sang Hoa Kỳ. Trên danh nghĩa, lúc này ông vẫn còn là một người cộng sản. Trong chuyến công du, ông phát biểu như sau, do tạp chí The Independent của Anh tường thuật lại: “Let’s not talk about communism. Communism was just an idea, just pie in the sky”. (Xin tạm dịch: “Đừng nhắc đến chủ nghĩa cộng sản nữa. Chủ nghĩa cộng sản chỉ là một ý tưởng, chỉ là một cái bánh vẽ trên nền trời”). Những người trốn chạy cộng sản—hay trốn chạy “cái bánh vẽ” này—ở tất cả những nước đã từng bị hiểm hoạ này, kể cả ở Việt Nam, giờ đây đã trở thành những người không chịu chết. Nói như vậy là nói với một ý nghĩa có tính cách biểu tượng.


Người viết muốn nhấn mạnh rằng đa số những người tị nạn cộng sản không bao giờ quên được vì sao họ đã trốn chạy. Khi đã an thân ở chốn tự do, họ không chịu chấp nhận một lối sống mòn, sống cho qua ngày đoạn tháng, cho hết kiếp lưu vong. Sống như vậy cũng không khác gì đã chết. Vì vậy, đa số vẫn hướng lòng về quê hương, vẫn xót xa khi thấy đồng bào trong nước bị đàn áp dưới chế độ của bạo quyền. Mỗi người trong họ vẫn làm một điều gì đó, bằng cách này hay cách khác, để góp phần vào công cuộc tranh đấu chung của dân tộc cho một ngày mai không còn hiểm hoạ cộng sản trên quê hương. Cũng cần phải thấy rằng những người “không chịu chết” này là những người “không sợ chết” khi họ đã liều mình ra khơi, nơi mạng sống chỉ như sợi chỉ mành treo chuông. Ngày nay, những người không chịu chết này không chỉ là bậc ông, cha, chú của thế hệ lưu vong đầu tiên mà còn là cả thế hệ thanh niên gốc Việt sinh ra và lớn lên tại hải ngoại. Thế hệ trẻ này không cam tâm, ích kỷ hưởng thụ cuộc sống tự do dân chủ mà mình đã may mắn có từ được lúc ra đời. Họ đã cùng đứng lên, sát cánh với cha ông đấu tranh cho tự do, dân chủ ở quê nhà bằng nhiều hình thức khác nhau.

Ở Việt Nam, ngoài thiểu số được hưởng đặc quyền đặc lợi, sẵn sàng làm lơ trước đau khổ của đồng bào, hay thậm chí đàn áp, hành hung người dân vô tội, đa số người Việt Nam cũng là những người không chịu chết, không chịu thua trước cường quyền. Họ là những nhà dân chủ sẵn sàng hy sinh sự an toàn của bản thân và gia đình để cất lên tiếng nói phản đối những điều trái tai gai mắt do chế độ gây ra trong xã hội. Họ là những người dân oan bị tước đoạt nhà cửa, đất đai, dám chấp nhận cảnh lấy trứng chọi đá để bảo vệ tài sản mồ hôi nước mắt của mình. Họ là tất cả những người nghe tiếng gọi của dòng máu Lạc Hồng trong huyết quản, đặc biệt là thế hệ trẻ, dám đứng lên để cất tiếng đòi lại những phần đất nước máu thịt của tổ quốc đang bị bọn cầm quyền “hèn với giặc, ác với dân” nhượng bộ cho chủ nghĩa bành trướng Đại Hán từ mấy ngàn năm nay.

Bốn mươi lăm năm đã trôi qua, kể từ khi miền Nam lọt vào tay bạo quyền cộng sản. Đó là một thời gian dài đối với một đời người ngắn ngủi, nhưng lại chỉ như là một khoảnh khắc phù du trong lịch sử, nhất là lịch sử của một đất nước có gần năm ngàn năm văn hiến. Lá cờ không chịu chết - thành phố không chịu chết - những người không chịu chết, tất cả những thực thể không chịu chết đó chính là biểu hiện của một đất nước không chịu chết. Đất nước chúng ta như đang trải qua một căn bệnh ngặt nghèo. Nhất định đất nước sẽ hồi phục một ngày không xa. Với niềm tin vào lịch sử, vào thực tế và vào tinh thần bất khuất của mỗi người dân Việt, chúng ta có quyền chờ đón một ngày đất Việt sẽ lại được thái bình thịnh trị như xưa.

Trần C. Trí





Friday, February 20, 2026

Mùa Xuân Ngọt Ngào 

Tháng Chạp bắt đầu với những làn gió nhẹ, đã nghe thoang thoảng mùi hương xuân, chẳng biết có phải là vì cô Thuỷ Tiên giàu tưởng tượng hay không. Cả ấp Trà Cuôn đã rộn ràng chuẩn bị đón Tết, làm cô cũng thấy nao nao trong dạ. Nhạc xuân tưng bừng cất tiếng từ những máy truyền thanh bên hàng xóm. Bên thì réo rắt tân nhạc, Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa/Một chiều xuân ai đã hẹn hò...1, bên thì bùi ngùi vọng cổ, Tết năm nay chắc nhà mình buồn lắm/Ngõ trước vườn sau tiêu điều vắng lặng/Xuân đã về chưa mà con của Mẹ vẫn chưa về...2 Tết sắp về ai lại chẳng nôn nao, nhưng riêng cô Thuỷ Tiên còn thêm nỗi niềm xa nhà nên nghe mấy bài hát đó cô cũng buồn nẫu ruột. Mùa xuân sắp tới, đánh dấu một năm tròn hương lửa mặn nồng giữa Minh Anh và cô, tình yêu còn phơi phới như đoá hoa bừng thắm. Nhưng mùa xuân cũng gợi cho cô những ngày Tết thời con gái vui tươi, hồn nhiên với gia đình ở Sài Gòn. Năm nay là năm đầu tiên cô ăn Tết bên nhà chồng, buồn vui lẫn lộn, nụ cười của cô lúc nào cũng thoáng chút trầm tư.

Nghĩ cũng lạ, chuyện tình duyên là điều không bao giờ cô Thuỷ Tiên hiểu nổi. Nhiều lúc cặm cụi nấu ăn trong căn bếp của ngôi nhà nhỏ ở miền Tây này, vừa làm việc cô vừa lẩn thẩn suy nghĩ, tại sao một người ở chốn phồn hoa đô hội như cô lại thành duyên với kẻ ở miền quê sông nước như chồng mình bây giờ. Có ai ngờ trong giảng đường đại học rộng lớn ngày nào mà anh và cô đã gặp nhau, quen nhau rồi đem lòng tương cảm, trở thành vợ chồng như bây giờ. Những lúc ấy cô cứ tủm tỉm cười một mình, chắc ai tình cờ thấy được tưởng trong lòng cô có điều gì bí mật mà thú vị lắm.

Năm năm về trước, Minh Anh—chàng trai miền Tây—lên Sài Gòn, vào Đại Học Sư Phạm, tiếp tục dồi mài kinh sử sau khi học xong bậc trung học ở quê nhà. Anh mang trong người hai dòng máu Miên-Việt, cha anh là người Khmer chính gốc, còn mẹ là người Việt thuần tuý. Vì vậy mà anh có một nét đẹp là lạ, hay hay. Da anh ngăm ngăm, mắt sâu, mày rậm, mũi cao dọc dừa. Còn Thuỷ Tiên thì trắng trẻo, má thắm, môi tươi, thêm hai cái núng đồng tiền duyên dáng. Ngày cưới của hai người, thân bằng quyến thuộc ai cũng tấm tắc khen cô dâu chú rể xứng đôi hết biết. Cha mẹ hai bên ai nấy đều vui lòng đẹp dạ.

Nếu như hồi trước Minh Anh lên Sài Gòn thấy choáng váng trước nhịp sống hào nhoáng của chốn đô thành, thì bây giờ cô Thuỷ Tiên cũng thấy ngỡ ngàng không kém trong khung cảnh sống động của miền quê vùng Trà Vinh này. Về đây, cô thấy mình như bước vào một thế giới rất riêng tư, mới lạ, cũng là trong nước Việt Nam mà thấy khác nhiều lắm. Minh Anh nói rành cả hai thứ tiếng Việt, Miên, cũng như hầu hết người dân địa phương ở đây. Anh dạy cô nhiều chữ, nhiều câu tiếng Miên, nghe thiệt vui tai. Anh giải thích cho cô rằng tên Trà Cuôn là từ tiếng Miên tro-kuôn, có nghĩa là “rau muống”. Tiếng Miên nghe vậy mà cũng khá rắc rối. Minh Anh cho cô biết là chữ “có” không phải chỉ nói có một kiểu, đàn ông nói là bat, còn đàn bà thì nói là cha. Tuy vậy, khi nói “không” thì đàn ông hay đàn bà gì cũng đều dùng tê để trả lời. Minh Anh còn nheo mắt, dặn dò cô:

“Ở đây, khi ra ngoài mà có chàng trai nào hỏi em “On sro-lanh bon tê?” thì em nhớ trả lời “Tê” cho chắc ăn nghen!”

“Sao vậy anh?” Cô Thuỷ Tiên trố mắt hỏi.

“Đó là y muốn nói ‘Em có thương anh không?’ em à,” Minh Anh cười ngặt nghẽo.

Nhưng điều thật sự làm cô Thuỷ Tiên thấy thán phục nhất không phải là vấn đề tiếng này tiếng nọ, mà thiệt ra là chuyện bánh trái. Ôi thôi, cha sanh mẹ đẻ tới giờ cô chưa từng thấy ở đâu mà có nhiều loại bánh như ở đây. Về ở ngôi ấp miền Tây này mới mấy tháng, cô đã được nếm qua không biết bao nhiêu là thứ bánh. Nào là bánh in, bánh bò rễ tre, bánh da lợn, bánh ống lá dứa, bánh tằm bì, bánh phồng dừa... nhưng phổ biến nhất phải kể tới bánh tét, mà có tới cả chục loại chớ không chỉ một thứ. Đặc biệt, bánh tét Trà Cuôn, quê chồng của cô, nổi danh khắp nơi, nhiều người từ xa chịu khó lặn lội tới đây cũng chỉ để được thưởng thức đặc sản có một không hai này.

Những món bánh ngon lành, lạ miệng đó, cô Thuỷ Tiên được biết tới do mua ngoài chợ về thì ít, mà do bà Ba, mẹ chồng cô, tự tay làm ra thì nhiều. Bà Ba nổi tiếng khắp trong cái ấp nhỏ bé này về tài bánh trái bao nhiêu, cô Thuỷ Tiên càng thấy ngại ngùng bấy nhiêu. Lúc còn là cô sinh viên ở Sài Thành hoa lệ, cô chỉ biết ngày hai bữa đi học, về nhà phụ mẹ nấu nướng qua loa, cuối tuần rảnh rỗi thì đi chơi với bạn bè, còn thì giờ đâu mà học nữ công gia chánh. Bà Ba, tuy không nói ra, cô Thuỷ Tiên đoán thấy bà coi nặng chuyện nội trợ lắm. Chắc bà cũng không lấy làm hài lòng mấy về cô dâu tỉnh thành ăn trắng mặc trơn như cô. Trong thâm tâm, cô Thuỷ Tiên lòng hẹn với lòng rằng sẽ cố gắng học nấu nướng trong những tháng ngày sắp tới cho vui cửa vui nhà.

Hai vợ chồng cô về đây, có được mảnh bằng Đại Học Sư Phạm trong tay, cả hai cùng may mắn kiếm được mỗi người một chân làm giáo viên ở một trường trung học cách Trà Cuôn gần bốn cây số. Ngày ngày, hai vợ chồng đạp hai chiếc xe đi sóng đôi, phấn chấn tới trường lớp, vừa đạp xe vừa nói với nhau những mẩu chuyện về công việc, về gia đình, tưởng như không bao giờ cạn hết đề tài. Hai vợ chồng cùng mơ đến ngày có được một mụn con để ẵm bồng, nuôi nấng, tưng tiu như hầu hết những cặp vợ chồng trẻ ở cái ấp xa xôi hẻo lánh này.

Trong ấp, rất nhiều bà nội trợ làm bánh tét Trà Cuôn ngon nức tiếng, và dĩ nhiên bà Ba phải được kể tới trong số đó. Món bánh tét này làm quanh năm, nhưng tới Tết nó mới trở thành món ăn vừa ý nghĩa, vừa thơm ngon đặc biệt ít nơi nào bì kịp. Lần đầu tiên được thấy những khoanh bánh tét cắt ra bằng sợi chỉ dài chớ không dùng dao, cô Thuỷ Tiên không khỏi trầm trồ khen ngợi. Cô thấy mỗi khoanh bánh tét chẳng khác nào một tác phẩm nghệ thuật vô cùng khéo léo. Nó y như một bức tranh ba chiều, nhỏ nhắn mà có sức lôi cuốn thiệt mãnh liệt. Ai đời nếp mà có tới bốn màu khác nhau: lớp nếp ở vòng ngoài có màu trắng, màu xanh, màu đỏ cam và màu tím. Ở giữa là màu vàng của nhưn đậu xanh đãi vỏ, màu đỏ của hột vịt muối, bên cạnh màu nâu lợt của miếng thịt ba chỉ ngó thiệt là muốn chảy nước miếng. Bánh thơm tho và đẹp đẽ đã đành, ăn vô tới đâu lại càng thấy thấm tháp tới đó. Cái dẻo của nếp, độ mềm của đậu, vị mặn của trứng, chất béo của mỡ, tất cả quyện vô nhau, hoà tan trong miệng, thiệt tình là còn miệng ăn mà hết miệng nói!

Đã hơn một lần, cô Thuỷ Tiên nói xa nói gần, ngỏ ý muốn được học tài làm bánh tét của bà Ba. Mà bà cũng ngộ, một mặt thì có vẻ như mong con dâu biết làm bánh làm trái, một mặt lại như muốn giấu nghề. Vì vậy mà mỗi lần cô Thuỷ Tiên ướm lời, bà lại đánh trống lảng, lái qua đề tài khác, khiến cô cũng nhiều phen cụt hứng. Nhưng cô đâu có bỏ cuộc dễ dàng như vậy. Cô cố nghĩ ra cách để làm mẹ chồng xiêu lòng mà bày vẽ cho cô làm món bánh gia truyền đó, như nhiều lần bà đã khoe với chòm xóm.

Tết càng lúc càng kề cận, cô Thuỷ Tiên nhắc bà Ba:

“Má, chừng nào má mới bắt đầu làm bánh tét đây? Má cho con phụ má với nghen!”

“Ờ, chắc nay mai gì thôi con,” bà Ba đáp, giọng ỡm ờ, “mà công việc này có nhiều nhặn gì đâu để con phải phụ. Má làm quen rồi, mấy chục năm nay chớ ít ỏi gì.”

“Ậy, có con phụ má cũng đỡ một tay chớ!” Cô Thuỷ Tiên vui vẻ nói. “Phụ má là một chuyện, con còn có dịp học hỏi tay nghề của má nữa.”

Bà Ba ậm ừ cho qua chuyện, y như những lần trước. Cô Thuỷ Tiên nghĩ trong bụng, lần này thế nào cô cũng phải học nghề, chẳng lẽ bà không cho mình vô bếp hay sao. Hai mươi sáu tháng Chạp, bà Ba đi chợ mua đồ về nấu ăn Tết, tất nhiên là có cô Thuỷ Tiên xách giỏ đi theo. Kỳ này, cô quyết tâm học hỏi mẹ chồng, từ A tới Z, kiểu nói mà cô đã học được trong những ngày còn ngồi ghế nhà trường sư phạm ở Sài Gòn.

Đi chợ về, bà Ba bắt tay vô làm bánh tét trước tiên, còn những món khác như mứt, dưa món, món kho, món xào, món canh, bà có thể từ từ làm sau, miễn là xong xuôi trước đêm giao thừa đặng kịp làm mâm cơm đón ông bà về ăn Tết là ổn rồi. Cô Thuỷ Tiên lăng xăng giúp mẹ chồng, bà Ba sai tới đâu, cô te tái làm tới đó. Cô rửa lá chuối, lau sạch sẽ, xếp tươm tất bên mớ dây tre lạt, sẵn sàng để gói bánh. Trong lúc đó, bà Ba luộc đậu xanh, đãi sạch vỏ để làm nhưn. Cô Thuỷ Tiên chăm chú theo dõi nhất cử nhất động của bà. Cô để ý thấy bà nhuộm màu nếp bằng những nguyên liệu tự nhiên. Bà dùng lá dứa để nhuộm nếp màu xanh, lá cẩm để nhuộm màu tím và thịt trái gấc để nhuộm màu cam đỏ. Màu còn lại là màu trắng ngà tự nhiên của nếp, loại nếp cái bông vàng mà bà Ba đã cẩn thận lựa chọn. Vừa làm với con dâu, bà vừa thủ thỉ:

“Con biết không, má của má, tức là bà ngoại của chồng con, ngày xưa khéo tay lắm. Má bây giờ thua xa! Từ nhỏ, má đã được bà dạy dỗ ‘Học ăn, học nói, học gói, học mở’, rồi má học thêu thùa, học nấu nướng. Bao nhiêu lời hay ý đẹp, công dung ngôn hạnh học được, bà dạy lại hết cho má. Bây giờ, má chỉ có thằng Minh Anh mà không có con gái, nên má coi con cũng như con gái mình vậy.”

Cô Thuỷ Tiên nghe mà mủi lòng, cảm động hết sức, nhưng chưa biết phải nói ra sao, thời bà Ba đã tiếp:

“Thằng Minh Anh kém phước kém phần nên mất cha sớm, để má phải một mình nuôi nó cho tới lúc thành nhơn chi mỹ. Giờ thì má đã tạm bớt lo, vì đã có con làm bầu làm bạn với nó, má chỉ còn mong có được vài đứa cháu nội thì thiệt là mừng hết lớn.”

Cô Thuỷ Tiên đỏ mặt khi bà Ba nhắc tới chuyện con cái. Cô cũng mong có con không kém, nhưng chuyện trước mắt là cô mong được có tài làm bánh trái như mẹ chồng cái đã. Bà Ba lại tỉ tê tâm sự:

“Con thấy cơ ngơi của hai mẹ con má bây giờ, đừng tưởng là hồi giờ cũng vậy. Lúc nhỏ, má cực lắm, cha mẹ nghèo, làm gì được thảnh thơi như bây giờ. Má phải phụ bà ngoại làm bánh làm trái, đem ra chợ bán mỗi ngày. Có bữa bán hết sạch, mừng không kể xiết, nhưng cũng có ngày trời mưa, không bán được cái bánh nào. Hai mẹ con phải đem rổ bánh ế về nhà, cùng ông ngoại ăn trừ cơm. Nhưng cũng nhờ vậy mà má có tay làm bánh, lớn lên lấy chồng, tiếp tục nhờ đó mà đắp đỗi qua ngày. Ba thằng Minh Anh thì lo chuyện vườn tược, trồng cây trồng trái, cũng đem bán ngoài chợ, làm nhiều, ăn ít, vậy mới từ từ có vốn mà sắm sửa chỗ ở, chỗ ăn như con thấy ngày nay...”

Tới lúc này, cô Thuỷ Tiên mới bắt đầu góp chuyện:

“Ba má thiệt là giỏi. Con thấy anh Minh Anh may mắn được ba má nuôi nấng, dạy dỗ đàng hoàng. Lần đầu tiên con gặp ảnh trên Sài Gòn, con đã cảm mến ảnh ngay vì tánh tình hiền lành, chân chất của ảnh.”

Đây là lần đầu tiên mẹ chồng con dâu mới có dịp tâm tình, kể từ ngày cô Thuỷ Tiên theo chồng về làm dâu xứ lạ. Nghe con dâu thổ lộ những lời đơn sơ mà đầy cảm xúc, bà Ba chợt thấy tới bây giờ bà mới thiệt sự cảm được mối quan hệ mới mẻ này giữa hai người đàn bà, một già một trẻ. Sực nhớ ra một điều, bà chặc lưỡi:

“Ờ, má cũng quên là Tết năm nay con không về thăm nhà được, ba má con chắc cũng nhớ con lắm! Thôi, rảnh rồi vợ chồng con liệu thu xếp về trển thăm ổng bả mấy bữa. Con thấy không, tiền bạc, sự nghiệp mà chi, nếu trên đời này thiếu đi tình gia đình, tình cha mẹ, vợ chồng... Tụi con có ăn có học, má nghĩ bây còn thấm thía điều này hơn má nữa.”

Miệng nói, tay bà Ba vẫn thoăn thoắt làm, còn cặp mắt của cô Thuỷ Tiên cũng không lúc nào rời hai bàn tay đó, coi bà Ba làm ăn ra sao. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, bà Ba bắt đầu gói bánh. Tới lúc này, cô Thuỷ Tiên mới nhận ra là bà Ba tâm sự nhiều hơn là chỉ vẽ mình làm bánh, nhưng bù lại cô cũng đã quan sát mọi thứ thiệt kỹ càng, hy vọng sẽ có lúc làm được món bánh gia truyền này.

Bà Ba gói bánh tét thiệt nhanh và đều tay. Chẳng bao lâu, từng đòn bánh tét chắc nịch, tròn lẵn đã nằm tú ụ, ngay ngắn trên mấy cái mẹt bằng tre. Được chừng quá nửa số bánh đã định, bà Ba vươn vai than:

“Ui da, sao má mỏi quá vầy nè! Chắc phải nghỉ chút rồi mới làm tiếp được đa!”

Cô Thuỷ Tiên mừng khấp khởi:

“Dạ, má đi nằm một chút cho khoẻ đi. Chỗ còn lại con gói được mà.”

Bà Ba ngó con dâu, giọng nghi ngờ:

“Con gói được không đó?”

“Dạ, được mà má,” cô Thuỷ Tiên đáp, giọng cương quyết. “Nãy giờ con coi cách má gói bánh kỹ lắm rồi.”

Bà Ba quay đi, khẽ nhún vai một cái, tỏ ý chưa thiệt sự bị thuyết phục. Cô Thuỷ Tiên ngó theo, kín đáo cười một nụ rồi khởi sự gói cái bánh tét năm màu đầu tiên trong sự nghiệp bếp núc của mình. Tới bây giờ cô mới bắt đầu khớp, thấy đây là chuyện đại sự chớ không phải giỡn chơi. Ngồi ngó bà Ba gói bánh là một chuyện, mà tự tay gói thì lại là chuyện khác. Cô xếp lá chuối xuống cái mẹt, run run trải từng lớp nếp đã nhuộm màu sẵn cho nằm song song với nhau, đoạn cô rải một lớp đậu xanh lên trên mặt nếp rồi để một miếng thịt ba chỉ cùng một tròng đỏ trứng muối đã luộc chín vào chính giữa. Nhớ lại cách cuốn lá chuối của bà Ba, cô hồi hộp, chậm rãi làm. Cuốn bánh tới đâu, cô ém tay tới đó cho bánh được chắc. Rốt cuộc, sản phẩm bánh tét đầu tiên của cô Thuỷ Tiên cũng được hoàn tất sau khi cô cột sợi lạt tre cuối cùng. Lẽ tất nhiên là cái bánh tét không được tròn trịa như bánh của bà Ba, nhưng cô nghĩ nó cũng không đến nỗi tệ. Cô thấy tự tin hơn một chút, bắt tay vào gói cái bánh kế tiếp. Lần lượt, cái bánh sau ngó được hơn cái bánh trước, cứ vậy cho tới cái bánh tét sau chót.

Cô Thuỷ Tiên cao giọng kêu chồng vô bếp, vì tới giai đoạn này là phận sự của anh lo chất bánh vô nồi, khiêng ra sân sau để bắt lên lò nấu. Buổi chiều đang xuống chậm chạp. Cô Thuỷ Tiên cũng bắt đầu thấy hai bàn tay mỏi nhừ. Để mặc chồng lễ mễ đem nồi bánh ra sau, sửa soạn châm lửa, đốt lò, cô lững thững trở lên nhà trên, nhẹ nhàng ngồi xuống cái ghế dài bằng mây. Những ngày cuối năm ở miền quê cũng êm ả như mọi ngày quanh năm suốt tháng, có khác chăng là tiếng lũ trẻ đã bắt đầu được nghỉ học, cười vui ngoài ngõ, và văng vẳng lời ca ở đâu thoảng bay tới, Mùa xuân sang ngàn nơi ngát niềm tin yêu đời/Bầy chim non lượn bay hót lời ca vang trời/Đàn bé hé môi cười ngọt ngào tình thương áo xanh, vàng/Chào đón Chúa Xuân huy hoàng...3 Cô Thuỷ Tiên ngả đầu vào thành ghế, lim dim hai mắt, trong lòng nghe rất đỗi bình yên.

o O o

Trong tiếng gà lao xao gáy sáng, gia đình nhỏ của cô Thuỷ Tiên, Minh Anh và bà Ba đang tíu tít bận rộn với một ngày mới, một trong những ngày còn lại của năm cũ. Tối hôm qua, hai vợ chồng cô Thuỷ Tiên đã thức suốt đêm canh nồi bánh tét. Năm nay, lần đầu tiên Minh Anh có cô bạn đời cùng chia ngọt xẻ bùi bên nồi bánh Tết, rủ rỉ chuyện trò bên tiếng củi kêu lách tách lẫn tiếng côn trùng rả rích đều đều ở sân sau. Buổi sáng hôm đó, hai người thức giấc trễ hơn thường lệ, còn bà Ba đã dậy từ lúc nào, đang lúi húi châm trà, đốt nhang ở bàn thờ gia tộc phía nhà trên. Theo lệ thường, bà Ba cắt một cái bánh tét coi năm nay làm ra sao. Cô Thuỷ Tiên lo lắm, không biết số phận của mấy cái bánh mình gói như thế nào. Cô nhìn qua hai mẹt bánh, biết ngay những cái nào là do mình gói. Bà Ba liếc nhìn mấy cái bánh rồi cầm lên một cái... do cô Thuỷ Tiên gói! Cô nhìn theo cái bánh trong tay bà, gần như nín thở. Minh Anh đứng bên cô cũng hồi hộp không kém. Mấy chục giây im lặng nặng nề trôi qua, sau cùng bà Ba mới đủng đỉnh lên tiếng:

“Hừm, con gói bánh lần đầu tiên như vầy là cũng không tệ lắm!”

Cô Thuỷ Tiên muốn thở phào một cái mà kịp kềm lại, vì bánh vẫn chưa mở ra. Minh Anh nhanh nhẩu nói:

“Để con lấy sợi chỉ giúp má tét bánh ra nghen!”

Nói xong, anh chạy đi trong tích tắc rồi trở lại với một sợ chỉ dài gấp làm tư trong tay. Lúc này, bà Ba đã gỡ hết lớp lá chuối bên ngoài cái bánh. Minh Anh, một tay đỡ lấy đòn bánh tét, miệng ngậm một đầu chỉ, tay còn lại cầm đầu kia, anh quấn chỉ quanh khúc bánh rồi khéo léo tét ra khoanh đầu tiên, cho nó rớt nhẹ xuống cái dĩa đang nằm chờ sẵn trên bàn. Cô Thuỷ Tiên lặng người ngó tác phẩm đầu tay của mình. Lớp nếp bốn màu, thiệt là may mắn cho cô, nằm bao quanh phần nhưn đậu xanh cùng thịt mỡ và trứng. Nói nào ngay, các lớp nếp bốn màu cũng không thiệt đều đặn cho lắm, mà miếng thịt cùng cái trứng cũng không nằm ngay chính giữa cái nhưn, nhưng... cô Thuỷ Tiên đã tưởng tượng ra nó còn tệ hơn như vậy nữa. Bà Ba nhoẻn một nụ cười rộng lượng:

“Bánh ngó được lắm, con à!” Bà nói, giọng dịu dàng. Cô Thuỷ Tiên mừng muốn ứa nước mắt. Minh Anh cũng vui lây, tay anh thoăn thoắt siết chỉ để tét ra những khoanh bánh còn lại. Trong một thoáng, các khoanh bánh tròn trĩnh, đủ màu nằm trên đĩa, rực rỡ như niềm vui cô Thuỷ Tiên vừa tìm thấy.

Ba mẹ con ngồi xuống bàn, mời nhau thưởng thức mấy miếng bánh mẫu. Tình cờ, cô Thuỷ Tiên lại thích ăn bánh tét theo kiểu mẹ chồng, tức là ăn bánh với đường cát, còn Minh Anh thì lại khoái ăn với nước mắm. Cô Thuỷ Tiên nếm lát bánh tự tay mình gói, vị ngọt của nếp, vị mặn của trứng và vị béo ngậy của thịt tan ra trong miệng cô. Cả người cô như ngây ngất trong những hương vị tuyệt vời đó.

Tiếng bà Ba đều đều, cô nghe như trong một giấc chiêm bao êm ái:

“Con gói bánh đẹp nên ăn mới ngon được như vầy. Nhưng có một điều còn quan trọng hơn cả những món ngon vật lạ nữa, đó chính là tình thương của chúng ta đối với nhau, lưu truyền từ đời trước qua đời này và những đời về sau nữa, phải không bây?”

Tết sắp tới. Còn biết bao nhiêu món ăn ngon đang chờ đợi nữa, nào mứt, nào bánh, nào trái, nhưng cô Thuỷ Tiên chỉ thấy có một thứ ngọt ngào hơn hết thảy, đó chính là mùa xuân vừa khẽ khàng bước vào căn nhà ấm cúng ở miền quê yên tĩnh này.

Trần C. Trí

2026

_________________________________

1 Đón Xuân Này Tôi Nhớ Xuân Xưa (1967) – Anh Châu & Châu Kỳ

2 Xuân Này Con Không Về (1969) – Trịnh Lâm Ngân – Loan Thảo

3 Chúc Mừng Xuân (1969) – Thanh Sơn

Sunday, December 28, 2025

Máng Cỏ Ấu Thời 

Tôi vừa gặp một người có ít nhiều liên quan đến quãng đời xưa cũ, xa lăng lắc của mình. Đang đứng tần ngần nhìn các cây thông Giáng Sinh bằng nhựa đủ kiểu, đủ cỡ bày trong một cửa tiệm, chưa biết lựa cây nào thì tôi nghe có tiếng người hỏi từ phía sau:
– Xin lỗi, cậu là cậu Việt, phải không?

Tôi hơi giật mình, quay lại, thấy một người đàn ông đứng tuổi mà trước đây tôi chưa bao giờ gặp.
– Dạ phải.

Tôi e dè đáp.

– Tôi hơi đường đột, cậu bỏ qua cho.

Người đàn ông nói tiếp:
– Tôi là Nhơn, em của ông Quới, trung sĩ Quới ngày trước làm chung chỗ với ông thân của cậu.

– Chú Quới...

Tôi nhớ ra ngay:
– À, chú Quới làm quân tiếp vụ ở trường Đồng Đế Nha Trang, cháu nhớ chứ. Nhưng... chú thì hồi đó cháu không được biết.

– Cậu không biết tôi là phải.

Người đàn ông mỉm cười:
– Tôi vô Sài Gòn làm ăn từ lâu, thỉnh thoảng mới về Nha Trang thăm nhà một lần. Khi cộng sản chiếm miền Nam, từ Sài Gòn tôi chạy thẳng luôn qua Mỹ.

Tôi chợt thắc mắc:
– À, mà làm sao chú nhận ra cháu được vậy?

– Cũng tình cờ thôi.

Ông Nhơn đáp.
– Mấy tuần trước tôi đọc trên báo thấy cậu có viết một bài về ba cậu, có cả hình hai cha con nữa. Tôi mừng quá, tưởng đâu là sẽ bắt được liên lạc với ông cụ. Dè đâu dọc tới cuối bài, thấy cậu ghi là để tưởng niệm ba cậu, tôi mới biết là ông cụ đã mất rồi.

Ông Nhơn ngó tôi một hồi lâu:
– Cậu giống ba cậu lắm. Không cần cái hình trên báo, tôi cũng có thể nhận ra cậu được.

– Vậy là chú cũng có gặp ba cháu rồi sao?

Tôi hỏi.

– Có chớ, lần nào về Nha Trang, ghé thăm anh Quới ở trường Đồng Đế, tôi cũng gặp ba cậu hết.

Tôi sực nhớ ra:
– Gia đình chú Quới bây giờ ra sao, chú?

– Chị Quới mất hơn 15 năm rồi, còn anh Quới mất sau đó 3 năm. Thằng con của 2 người... tôi mất liên lạc với nó cũng mấy năm nay. Lần chót tôi còn thơ từ qua lại với nó, nó vẫn còn ở Nha Trang...

– Thằng On, phải không chú?

– Cậu nhớ tên nó hay đó, mấy chục năm rồi... Ông Nhơn gật gù nói:
– À, tôi muốn nói chuyện thêm với cậu nhưng bây giờ chưa tiện, vậy cậu cho tôi xin địa chỉ email để tôi với cậu liên lạc, hẹn một bữa khác, đi uống cà-phê cà-pháo...

– Dạ, để cháu cho chú số điện thoại, mình text qua text lại cho nhanh.

– Số điện thoại thì được, nhưng tôi không quen text, cậu à.

Ông Nhơn thú nhận:
– Tôi biết dùng email cũng là tân tiến lắm rồi.

Tôi mỉm cười thông cảm, nhờ ông đọc số điện thoại của ông để tôi gọi ngay lúc đó. Khi điện thoại của ông Nhơn reo lên, tôi nói:
– Chú cho cháu mượn cái phone của chú đi. Cháu sẽ giúp chú save lại số của cháu mới gọi chú đó... Rồi bây giờ chú đọc địa chỉ email của chú, cháu sẽ ghi lại vào phone của cháu.

Trao đổi chi tiết liên lạc với nhau xong xuôi, chúng tôi chào tạm biệt nhau. Tôi đứng yên chỗ cũ, định thần một lát rồi mới nhớ lại hồi nãy mình đang làm gì. Tôi tiếp tục ngó qua các cây thông, cuối cùng chọn một cây cỡ trung bình, chắc là vừa với family room của nhà tôi. Tôi hí hoáy ghi mã số của cây thông, tiến lại quầy tính tiền để thanh toán. Khi người thu ngân gọi nhân viên mang ra cây thông chưa ráp, còn nguyên trong hộp, tôi đỡ lấy cái hộp dài một cách máy móc. Từ đó đến khi ra bãi đậu xe, tôi vừa vác cái hộp, vừa bâng khuâng nghĩ tới một quãng đời cũ mà ông Nhơn vừa khiến tôi nhớ lại...

*****
Năm đó tôi đâu khoảng 9, 10 tuổi. Lúc ấy cũng là vào lúc mùa Giáng Sinh sắp tới. Từ trường tiểu học của tôi đi bộ về nhà, tôi phải đi qua 3 block đường. Mấy đứa bạn cùng xóm, học cùng trường với tôi ngày nào cũng đi qua một ngôi nhà thờ tin lành trên đường về nhà. Ngôi nhà thờ này hằng năm là nơi báo hiệu mùa Giáng Sinh sắp về, qua những món trang trí, đèn hoa giăng mắc ở mặt tiền, đặc biệt là cái máng cỏ to tướng nằm bên cạnh lối ra vào nhà thờ. Mấy đứa bạn hàng xóm nhà có đạo tha hồ khoe nhau nhà đứa nào sẽ có cây thông Giáng Sinh và máng cỏ to nhất, đẹp nhất. Gia đình tôi theo Phật, nhưng tôi rất mê nét hào nhoáng của cây thông Noël, đèn đóm lung linh bên những món trang trí đủ màu sắc, hay không khí huyền diệu tỏa ra từ những cái máng cỏ, bên trong có những bức tượng nho nhỏ, xinh xinh. Những món đồ Giáng Sinh trang trí cho máng cỏ đó, chỗ nhà thờ đã bày bán trong khoảng sân rộng từ cả tháng trước Noël. Tôi khoái nhất là những cây thông bé xíu, chỉ bằng mấy ngón tay chụm lại, mà người ta còn tỉ mỉ xịt sơn trắng lốm đốm lên để giả làm tuyết. Năm nào cũng như năm nào, tôi đều kiên nhẫn thuyết phục má tôi cho mua cây thông và máng cỏ như nhiều nhà khác trong xóm, nhưng không lần nào làm má xiêu lòng được.
– Nhà mình không có đạo.

Má ca đi ca lại một điệp khúc mỗi lần tôi vòi xin mua đồ Giáng Sinh.
– Phật có phải là một đạo không má?

Một lần, tôi “gài” má với câu hỏi này.
– Phật cũng là đạo chớ sao!

Má cao giọng đáp.
– Con hỏi gì mà kỳ vậy?

– À há!

Tôi đắc thắng nói:
– Vậy thì nhà mình cũng “có đạo” như ai, phải không má?

– Nhà mình theo đạo Phật.

Má sửa lại:
– Nhà theo Phật mà chưng cây Noël với hang đá thì không nên.

Má tôi hay dùng hai chữ “không nên” để chỉ những việc gì phạm đến tính thiêng liêng, huyền bí có dính dáng đến tôn giáo hay ông bà tổ tiên. Má là cả một kho ngữ vựng tiếng Việt phong phú, linh hoạt, hết sức đậm đà tính địa phương. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn dùng nhiều chữ trong kho ngữ vựng đó của má khi có dịp, dù đang sống ở Mỹ.

Cho đến một hôm... Ba tôi đi làm về, trông ông vui vẻ hơn thường ngày. Ông ngồi xuống cái divan ở gian phòng ngoài, vừa tháo đôi giày lính ra, vừa hỏi tôi:
– Việt, con muốn có một cái hang đá cho Noël năm nay không?

Tôi còn chưa tin vào tai mình, chưa kịp hiểu hết điều ba vừa nói thì má đã từ trong phòng khách bước ra bảo:
– Anh nói hang đá gì mới được? Nhà mình có đạo đâu... À không... nhà mình có theo công giáo đâu chớ!

– Hang đá này không phải tốn tiền mua!

Ba điềm nhiên nói tiếp:
– Anh mới biết ra, trung sĩ Quới có tài làm hang đá bằng bao xi-măng hay lắm! Chú hứa sẽ làm cho thằng Việt một cái.

– Tốn tiền hay không tốn tiền đâu phải là vấn đề!

Má cằn nhằn:
– Anh thì chỉ ưa chiều thằng Việt, riết rồi nó hư hồi nào không biết.

Má quày quả trở vào trong, coi bộ rất bực mình. Lúc này, tôi mới dám lên tiếng:
– Thật vậy hở ba? Chừng nào con mới có cái hang đá?

– Chắc một hai bữa gì đó thôi.

Ba đã tháo giày ra xong, đứng dậy vươn vai mấy cái:
– Ba sẽ chở con tới nhà chú Quới để lấy.

– Nhưng... còn mấy thứ ở bên trong...

Tôi ngập ngừng:
– Chắc má không cho con mua đâu ba.

– Để ba cho.

Ba vỗ vai tôi rồi đi vào trong.

Tôi ngồi xuống cái divan, mơ màng mường tượng ra cái hang đá mình hằng mơ ước, bên trong sẽ là cái máng cỏ có đầy đủ những thứ mà tôi đã từng thấy. Mình sẽ đặt nó ở đâu há? Trong phòng khác hay ở gian phòng ngoài này? Chắc là nên để ở ngoài cho má khỏi thấy chướng mắt. Hy vọng thấy hang đá đẹp chắc má cũng không nỡ nào phản đối...

Vậy là từ đó trở đi tôi đếm từng ngày, thấy sao mà thời giờ trôi qua chậm quá. Tôi chỉ sợ chú Quới quên làm hang đá cho tôi thì chắc tôi thất vọng lắm lắm. Nói nào ngay, hồi giờ tôi vốn không thích chú Quới. Chẳng là vì chú rất nghiêm, chỉ nói chuyện với ba má tôi, chứ ít khi chú nói gì với tôi, chắc là vì chú nghĩ tôi còn con nít con nôi, miệng còn hôi sữa... Thoạt đầu, thỉnh thoảng chú mới đến nhà tôi chơi một lần. Về sau, tôi thấy ba tôi thường nhắc đến chú, đến vợ chú nhiều hơn trước, và cuối cùng, ba giới thiệu chú vào làm thư ký cho công ty xuất nhập cảng của ông ngoại tôi. Trong công ty này, ông ngoại cho má tôi giữ chức quản lý. Từ đó, mỗi lần ghé công ty của ông ngoại chơi, tôi gặp chú Quới thường xuyên hơn. Người chú gầy gò, trông lạnh lùng và khắc khổ. Lúc đó chắc chú chỉ ngoài 30 thôi mà tóc chú hói đã gần hết. Lúc làm việc, chú còn mang cặp kính viễn thị, khiến ngó chú già trước tuổi rất nhiều.

Có lần, tôi đang chạy chơi ở công ty, tình cờ đi vào căn phòng bên trong, thấy má tôi và chú Quới đang đứng nói chuyện. Hồi đó, tuy còn nhỏ, tôi cũng mang máng nhận thấy chú đang nói một chuyện gì quan trọng với má tôi mà hình như không phải là chuyện công việc. Thấy tôi bước vào, chú Quới nghiêm giọng bảo:
– Việt đi ra ngoài chơi, để chú đang nói chuyện với má!

Tôi tiu nghỉu quay ra, trong lòng thấy giận chú Quới quá. Tôi còn nhỏ thật, nhưng hồi giờ chưa có người lớn nào trong gia đình hay là người quen của ba má nói với tôi bằng cái giọng kẻ cả như thế. Đã vậy, sao không thấy má tôi đỡ lời cho chú Quới chút nào, làm như má cũng đồng ý với chú. Tôi để ý thấy má rất quý chú Quới. Đi làm về, má hay kể chuyện trong công ty cho ba nghe. Trong những mẩu chuyện đó, má thường nói “Chú Quới thế này, chú Quới thế nọ...” cùng những chi tiết mà má muốn kể. Chú Quới nhỏ hơn ba má tôi gần cả chục tuổi nên ba má tôi thường gọi chú là “chú” với ý nghĩa là “chú em”. Về phần chú Quới, chú cũng “chị chị, em em” với má tôi ngọt xớt; ai nghe thấy mà không biết rõ về gia đình tôi chắc phải nghĩ hai người là chị em ruột thịt.

Một đặc điểm khác của chú Quới làm tôi chú ý là cái tên của chú. Tôi chưa từng thấy ai trùng tên chú (cho đến tận bây giờ!). Tôi nhớ có hôm tôi hỏi ba:
– Ba ơi, tại sao chú Quới có cái tên nghe kỳ cục vậy ba?

– Kỳ là tại vì hiếm ai có tên này...

Ba cười, trả lời tôi.
– Đó là một cách đọc trại đi của chữ “Quý”, con à.

– Đọc trại là sao hở ba?

Tôi vẫn chưa hết thắc mắc.

Ba từ tốn giảng giải:
– Đọc trại một chữ là đọc chữ đó cho khác đi một chút, nhưng vẫn còn nghe giống một phần nào. Trong tiếng Việt, có nhiều chữ người ta đọc trại đi để tránh tên của những người nổi tiếng như vua chúa trong lịch sử hay của ông bà trong gia đình. Thí dụ trong Nam người ta nói “cây kiểng” thay vì “cây cảnh”, để tránh tên của Hoàng tử Cảnh, tức là Nguyễn Phúc Cảnh, con của vua Gia Long. Đọc trại đi một chữ là để tránh việc “phạm húy”, “húy” có nghĩa là tên đó con. Ba nghĩ chắc nhà chú Quới đã có ai tên Quý rồi.

Lúc hai cha con đang nói chuyện với nhau, má tôi cũng nghe thấy. Bà đi vào trong lấy vật gì đó rồi trở ra đưa cho tôi xem và hỏi:
– Cái này con gọi là cái gì?

– Cây kim!

Tôi đáp thật nhanh, không hiểu má muốn gì.

Má tôi cười bảo:
– Vậy mà ông ngoại con gọi nó là “cây châm” đó!

Má giảng giải thêm:
– Ông ngoại cũng sợ phạm húy như ba con nói, vì má nghe ông ngoại nói ông tằng, ông tổ của má có tên là Kim. Nhưng thay vì đọc trại chữ “kim” ra cho khác, ông ngoại lại dùng chữ “châm” để thay thế.

(Sau này lớn lên, tôi dạy tiếng Việt và ngoại ngữ, có dịp học hỏi nhiều điều từ môn ngôn ngữ học, nhớ lại chuyện má kể, tôi mới thấy phục ông ngoại. Chữ “kim” là một danh từ, nếu cố đọc trại nó ra cho khác thì cũng không dễ tìm ra âm nào nghe cho được tai na ná như vậy. Chắc vì lý do đó mà ông ngoại chọn động từ “châm”, có liên quan đến danh từ “kim”, thật là tài!)...

Tôi phải đợi đến buổi chiều trước Giáng Sinh mới được ba cho biết là chú Quới đã làm xong cái hang đá cho tôi. Ba có nói trước là năm nay chú Quới bận lắm, vì thím Quới sắp sinh em bé. Biết vậy, nhưng lúc ba gần đi làm về, tôi đã chực khóc vì thấy buổi chiều sắp hết rồi mà cái hang đá chưa thấy tăm hơi đâu, trong khi nhà mấy đứa “có đạo” trong xóm đã tưng bừng khoe đèn đóm và đầy đủ những thứ trang hoàng mùa Giáng Sinh. Chưa bao giờ tôi thấp thỏm đợi ba về đến thế. Khi thấy chiếc xe Jeep của ba quẹo vào cổng xóm, tim tôi muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Lúc xe của ba từ từ ngừng trước nhà, tôi chạy ra đến cửa, hồi hộp chờ xem ba nói gì. Ba ngồi yên trên xe, nheo mắt nhìn tôi, nói vọng ra:
– Việt, lên xe đi con! Mình đi lấy hang đá về.

Không đợi ba nói thêm tiếng nào, tôi vội nhảy thót lên xe, ngồi chễm chệ cạnh ba. Trong lúc ba im lặng lái xe, tôi nghe người như bồng bềnh trong một giấc chiêm bao êm ái. Cảnh vật hai bên đường chợt nhuốm màu ngũ sắc, lấp lánh như những sợi kim tuyến trên cây thông Giáng Sinh (mà tôi cũng rất muốn có. Nhưng thôi, hãy cứ “từng bước từng bước thầm” cái đã. Má mà không la là may lắm rồi. Hy vọng năm sau tôi sẽ có...).

Lúc sắp đi ngang ngôi nhà thờ, ba cho xe rẽ vào, đậu đằng trước. Tôi lặng người đi vì sung sướng. Ba không quên những món cần có trong hang đá! Lúc hai cha con đi qua cổng nhà thờ, ba ngó tôi bảo:
– Hy vọng giờ này người ta còn đầy đủ các thứ.

Thật may, trên chiếc bàn bày bán các món trang trí Giáng Sinh, chỉ còn ba bộ tượng nữa là hết. Tôi run run lựa từng món, tượng bà Mary, tượng ông Joseph, tượng Chúa Hài Đồng, tượng Ba Vua, cả tượng anh mục đồng, một con bò và một con cừu nữa. Tôi tuy không “có đạo” nhưng đã thuộc những tượng nào có trong hang đá! Nhìn hai cây thông nhỏ còn lại trên bàn, tôi rụt rè hỏi ba:
– Ba cho con lấy một cây thông nhe ba?

Ba tôi gật đầu. Ông còn mua thêm cho tôi một nắm rơm để trải trong máng cỏ. Trả tiền xong xuôi, hai cha con quay ra xe. Tôi xách khư khư cái túi đựng các bức tượng, đi thật nhẹ, cứ sợ chúng va vào nhau thì vỡ hay nứt trước khi về đến nhà thì tiếc lắm.

Nhà chú Quới ở Phường Củi, nơi tiếp giáp với vùng ngoại ô Nha Trang. Khi chúng tôi đến, căn nhà nhỏ của chú cửa đóng im ỉm. Ba gõ cửa mấy lần mà không ai trả lời. Ông lẩm bẩm:
– Chắc chú Quới còn ở bệnh viện chưa về. Thím mới sinh em bé hồi trưa.

Ba và tôi đứng lóng ngóng đợi chừng 10 phút thì thấy chú Quới cỡi chiếc Honda cũ kỹ về nhà. Chú hấp tấp dựng xe, vừa thở vừa hỏi:
– Đại úy đợi em lâu chưa?

Ba tôi không trả lời mà hỏi lại chú:
– Sao? Mẹ tròn con vuông hết hả Quới? Con trai hay con gái?

– Con trai, anh à.

Chú Quới vẫn còn thở dốc. Từ ngày vào công ty làm việc với má tôi, chú Quới trở nên thân mật với ba tôi hơn, lúc thì vẫn gọi ba là đại úy như trong quân ngũ, nhưng cũng có lúc anh anh em em với ba như vậy.
– Con trai hả?

Mắt ba hình như sáng lên, có vẻ như muốn vui lây với chú Quới. Nhưng lúc đó tôi thấy gương mặt chú không vui mà lo âu nhiều hơn thì có.
– Quới đặt tên con là gì?

Ba lại hỏi.
– Thằng nhỏ tên là On.

Chú Quới đáp, giọng không có gì hào hứng.

– On hả?

Ba lặp lại cái tên ít ai có. Tôi đoán ba đang ngẫm nghĩ coi nó là cách đọc trại chữ gì, như ba đã từng nói về tên chú Quới.

Chú không nói gì, lặng lẽ mở cửa mời ba và tôi vào. Gian phòng nhỏ vừa là chỗ tiếp khách, vừa làm phòng ăn, tối lờ mờ, mùi ẩm thấp xông lên khiến tôi thấy ngột ngạt. Chú Quới mời chúng tôi ngồi rồi tất tả đi ra phía sau. Một lát sau, chú trở lên, khệ nệ ôm cái hang đá còn bay mùi sơn mới. Chú đặt hang đá trên cái bàn nhỏ trước mặt chúng tôi rồi bước lại bật đèn lên. Dưới ánh sáng của cây đèn néon, tôi được chiêm ngưỡng cái hang đá lộng lẫy nhất trên đời từ trước tới giờ! Tôi như nghẹn lời, chỉ biết nhìn chú Quới bằng ánh mắt biết ơn. Chú biết tôi thích lắm, giọng chú chợt vui vẻ hẳn lên, trái với lúc chú nghiêm nghị la tôi ở công ty hôm nào:
– Việt thích không? Chú làm một cái khung bằng tre rồi phủ giấy bao xi-măng lên đó. Xong rồi chú xịt sơn đen lên, đợi cho khô rồi mới rắc sơn trắng, giả làm tuyết...

Tôi mê mẩn ngắm cái hang đá đầu tiên của mình, đến khi nghe ba nói cám ơn chú Quới và giục tôi ra về, tôi mới như quay lại với thực tại. Ba giúp tôi mang cái hang đá ra xe vì nó khá cồng kềnh. Từ đó đến khi về nhà, tôi lại bồng bềnh trong giấc mơ đẹp, muốn nó không bao giờ chấm dứt...

Về đến nhà, tôi vừa vui vì có cái hang đá, vừa ké né sợ má la. Cũng may lúc đó má đang bận nấu ăn trong bếp. Tôi vội vàng lấy cái bàn nhỏ hồi giờ vẫn để trong góc, chất đầy sách truyện con nít, cất hết sách vở đi rồi mang bàn ra để ở một góc trong gian phòng ngoài. Mùi sơn thơm tho tỏa ra từ cái hang đá vẫn làm tôi ngây ngất. Tôi cặm cụi trải lớp rơm xuống sàn bên trong hang đá rồi trịnh trọng bày từng bức tượng lên trên, xê tới xê lui cho vừa mắt. Cuối cùng, tôi đặt cây thông be bé, xinh xinh ngay trước cửa hang. Vậy là cái máng cỏ trong ước mơ của tôi đã thành sự thật!

– Con biết còn thiếu cái gì nữa không?

Má đã đứng đằng sau tôi tự lúc nào, lên tiếng hỏi làm tôi giật nẩy mình.

– Thiếu cái gì, má?

Tôi hồi hộp hỏi, thoáng mừng vì câu đầu tiên của má không phải để rầy la.

– Thiếu đèn bên trong cho sáng!

Má trả lời. Giọng bà không có vẻ gì là bực bội vì chuyện “không nên” này cả.
Ba đã vào trong thay quần áo xong xuôi, trở ra đứng bên cạnh má, ngắm nghía công trình của tôi. Ông bảo:
– Ba có một cái bóng đèn nhỏ trong hộc tủ, có dây đàng hoàng. Để ba giúp con đục một lỗ từ trên nóc hang đá xuống, bỏ đèn vô trong và gắn dây điện vào ổ cho sáng.

Khi cái bóng đèn bật sáng bên trong hang đá, trời cũng vừa ngả tối bên ngoài. Máng cỏ xinh xắn bên trong nổi bật hẳn lên dưới ánh sáng lung linh, lung linh như niềm vui bất tận của tôi trong mùa Giáng Sinh đáng nhớ đó…

********
Má tôi mất vài năm trước khi ba tôi qua Mỹ. Trong những lần ôn lại chuyện cũ với tôi, thỉnh thoảng ba có nhắc đến chú Quới, nhưng chắc là để có cớ nhắc tới thằng On thì đúng hơn, tôi thấy vậy. Tôi đoán ba nhớ tới nó vì cái tên độc đáo, nếu không muốn nói là lập dị. Có điều lạ là tôi không thấy ba liên lạc gì với chú Quới, trong khi ba vẫn thư từ khá đều đặn với một số bạn bè khác trong quân đội ngày trước. Có lần tôi đã tò mò hỏi vì sao ba không biết nhiều về chú thím Quới thì ba chỉ im lặng nhún vai. Tôi cũng không hỏi tới nữa.

Tôi gởi cho ông Nhơn một cái email theo địa chỉ chú đã cho. 2 chú cháu hẹn gặp nhau ở 1 quán cà phê nằm khuất trong một khu thương xá lúc ấy khá vắng vẻ. Từ cái bàn chỗ 2 người ngồi, chúng tôi nhìn ra một khoảng sân cỏ xanh rờn, thoáng mát. Ông Nhơn gọi một ly cà phê sữa đá, còn tôi gọi một ly trà xanh vì trước đó đã uống 2 ly cà phê rồi.

Tôi hỏi thăm về gia đình ông Nhơn, và ông cũng ân cần hỏi về gia đình tôi. Trông ông không giống gì với chú Quới ngày xưa cả. Ông Nhơn to người, râu ria xồm xoàm, còn chú Quới, trong ký ức của tôi, rất thư sinh. 2 anh em mà như kẻ võ, người văn.
– Được biết chú, bây giờ cháu mới hiểu hết ý nghĩa của 2 cái tên cộng lại!

Tôi nhận xét:
– Chú biết không? Cháu nhớ chú Quới hoài vì chính chú là người làm cái hang đá Giáng Sinh đầu tiên cho cháu.

– Tên anh Quới như vậy, mà đời ảnh không có gì là “quý” cả!

Ông Nhơn thở dài.

– Sao chú lại nói như vậy, cháu không hiểu.

Tôi ngạc nhiên hỏi.

– Anh Quới có một nỗi buồn sâu kín mà trong gia đình ai cũng biết nhưng không thấy rõ, cho đến khi thằng On ra đời...

Tôi ngồi yên lắng nghe, không muốn đặt câu hỏi nào nữa, vì cảm thấy có một điều gì đó, to tát, mà ông Nhơn sắp nói tới.

– Nghe thì trái khoáy thật, phải không cậu? Ông Nhơn tiếp tục:

– Lý do là anh Quới của tôi đã được bác sĩ cho biết là ảnh vô sinh từ lâu!

Tôi lặng người đi, nhưng vẫn không biết phải nói gì, chỉ ngồi chờ xem câu chuyện diễn tiến tới đâu.

Giọng ông Nhơn vẫn đều đều:
– Tôi không hiểu cậu có biết không, thằng On là con của ba cậu; nó là em của cậu đó!

– Dạ không, cháu không biết! Cháu... không hề... hay biết!

Tôi lắp bắp.

Ông Nhơn thở ra, như đã trút hết một gánh nặng trong lòng, không nói thêm gì nữa. Phải một lát sau, tôi mới đủ bình tĩnh nói:

– Lúc còn sống, ba cháu đôi lúc có nhắc đến On, nhưng không bao giờ nói gì khác.

Tôi nhìn ông Nhơn:
– Chú nói vậy thì cháu hay vậy, nhưng sự thật là ở đâu? Bây giờ ba cháu không còn để xác nhận hay phủ nhận được nữa.

Ông Nhơn cười gượng:
– Chị Quới, lúc hấp hối, đã thú nhận chuyện đó rồi, cậu à.

Ông Nhơn ngưng lại một hồi lâu rồi nói tiếp:
– Lúc vừa thấy tấm hình của ba cậu và cậu trên báo, tôi đã nghĩ là mình sẽ có dịp gặp ba cậu để hỏi xem ông và thằng On có liên lạc với nhau trong mấy mươi năm qua không, nhưng không còn cơ hội đó nữa...

Ông Nhơn nhấc tách cà phê lên, nhấp một ngụm. Tôi cũng hớp một miếng trà. Chẳng biết ông có thấy cà phê đắng hơn mọi lần hay không mà vị trà thật chát trong miệng tôi. Bãi cỏ trước mặt chúng tôi bỗng dưng không còn thấy mượt mà nữa. Trời chợt tối sầm lại vì nhiều đám mây mù từ đâu kéo về. Tôi uể oải đứng lên gọi tính tiền và nói lời chia tay ông Nhơn.

– Cháu sẽ liên lạc với chú qua email. Cám ơn chú nhiều.

Tôi nói, như vô hồn. Ông Nhơn khẽ gật đầu rồi quay đi.
Buổi tối hôm đó, tôi ăn uống qua loa rồi vào phòng làm việc, kiếm cái cặp của ba, hy vọng có tìm ra manh mối gì trong đó không. Từ ngày ba mất, tôi chưa bao giờ mở cái cặp đó ra, sợ phải thấy những vật dụng, giấy tờ của ba, chỉ làm buồn thêm chứ chẳng được gì. Tôi còn một thắc mắc nữa – Má có biết được chuyện này không? Tôi nhớ mấy hôm sau khi thím Quới từ bệnh viện về, ba má tôi có tới thăm 2 mẹ con. Má mang nhiều quà, áo quần em bé và mấy thùng sữa Ông Thọ. Hôm đó tôi cũng đi theo ba má. Chú Quới đứng lóng ngóng bên mọi người, rồi lại lăng xăng tới lui trong phòng. Chắc chú cưng thằng On lắm, cái đầu nó tròn quay, không một sợi tóc, hai con mắt đen lay láy, nổi bật trên làn da trắng nõn.

Về nhà, má nói với ba:
– Tên thằng nhỏ nghe ngộ quá há anh? Không biết chú Quới có dựa vào tiếng Tây mà đặt tên cho con là On, Đơ, Troa… không! Chắc chú thím định sinh mấy đứa nữa…

– Chuyện đó ai mà biết được!

Ba nói xuôi xị. Bây giờ nghĩ lại, tôi chắc lúc đó ba tôi trả lời hết sức sượng sùng mà có lẽ má không để ý.

Đúng như tôi đã nghĩ, vừa nhìn những món đồ lặt vặt trong cặp của ba, tôi đã thấy lòng nao nao, thổn thức. Mỗi món đồ nho nhỏ của ông lúc sinh thời như cặp kính cận, cái bóp đựng giấy tờ, còn cả vài tờ đô la lẻ, cái đồng hồ Seiko ba thường đeo, những tấm huy chương ba được thưởng trong thời kỳ quân ngũ… nhất nhất từng thứ đều gợi lên những kỷ niệm ngày trước. Ba có cả một cái folder đựng đủ loại giấy tờ, từ cái bằng quốc tịch Mỹ, bằng cấp thời ông đi học, một số hình ảnh, đến giấy tờ trong quân đội mà ông còn giữ được. Nằm cuối cùng trong xấp giấy đó là một thếp giấy có kích thước chỉ bằng một nửa các loại khác, được ba cẩn thận gài một cái kẹp giấy để giữ chung lại. Tôi tháo cái kẹp, lấy một tờ ra coi thử. Đó là tấm biên lai gởi tiền về Việt Nam, đề tên người nhận là Nguyễn Văn On! Tim tôi như thắt lại thật mạnh. Tôi hấp tấp nhìn các tờ biên lai còn lại. Có tờ ghi tên vài người bạn của ba, nhiều tờ khác đề tên của On. Lần nào ông cũng gởi 100 đô cho… em tôi! Nằm sau cùng trong xấp biên lai đó là 1 tấm hình của 1 thanh niên... thằng On! Trông nó thật mạnh khỏe, cao ráo, nhưng không có gì giống tôi cả. Lần đầu tiên tôi gặp nó là lúc nó mới sinh, mấy chục năm sau tôi mới thấy lại nó qua bức hình này. Tôi lật tấm hình ra phía sau, không thấy có ghi gì cả.

Tôi run run gộp những tờ biên lai gởi tiền cho On chung với nhau, rồi xếp lại theo thứ tự ngày tháng. Xong xuôi nhìn lại, tôi mới thấy ra là ba tôi đã gởi tiền cho On chỉ 1 năm sau khi ông đến Mỹ, chắc là khi ông đã bắt đầu được lãnh “tiền già”. Ông gởi tiền rất đều đặn, cứ 2 tháng một lần, theo như ngày tháng ghi trên các biên lai. Tôi đọc kỹ lại từng tờ thì thấy có ghi địa chỉ thằng On ở Nha Trang, chỉ trừ 3 tờ sau cùng là có địa chỉ ở Tuy Hòa, thành phố cách đó hơn trăm cây số về phía Bắc…

Ngồi thừ người một lúc trước mớ giấy tờ, đầu óc tôi ngổn ngang trăm ngàn ý nghĩ. Đêm đã khuya nhưng tôi không thấy buồn ngủ chút nào. Lát sau, tôi bùi ngùi xếp lại mọi thứ, bỏ vào cặp, cất nó vào chỗ cũ. Gian phòng làm việc của tôi chợt như rộng hẳn ra. Đám sách nằm im lìm trên hàng kệ sát vách. Cái đèn màu vàng trên bàn tỏa một thứ ánh sáng nhợt nhạt, vàng vọt trong cănphòng im ắng đến lạ thường.

Tôi đi ra hàng hiên sau nhà, bật ngọn đèn lên và đến chiếc xích đu ngó ra bãi cỏ, lặng lẽ ngồi xuống. Trời đêm mát lạnh. Tiếng côn trùng kêu rả rích nghe buồn buồn. Tôi nghĩ đến những nhân vật trong câu chuyện vừa tình cờ biết được này, y như trong một cuốn phim: Ba, má, chú Quới, thím Quới, chú Nhơn, thằng On… Còn tôi thì sao? Tôi cũng là 1 nhân vật trong đó, hay chỉ là 1 khán giả vô tình? Ba đã sống và nghĩ gì trong suốt thời gian đó,cho đến ngày ông mất? Trong đầu tôi chợt lóe lên những đoạn phim ngắn về mối tình vụng trộm giữa ba và thím Quới, hình ảnh chú Quới đau khổ, nhẫn nhục nuôi đứa con không phải là của mình, thím Quới với mặc cảm tội lỗi, thằng On… còn thằng On, nó chắc cũng biết chuyện này, qua những món tiền của người ngày xưa là cấp chỉ huy của ba nó? Còn má, bây giờ tôi không thể hỏi má điều gì về câu chuyện này cả.

Và tôi? Tại sao tôi phải biết chuyện này, vào thời điểm này? Nếu như chú Nhơn không gặp tôi ở cửa tiệm hôm nào... Tôi, cậu bé hồn nhiên ngày xưa với niềm vui òa vỡ vào 1 buổi chiều trước lễ Giáng Sinh... Và chú Quới, người đàn ông, người chồng, người cha bất đắc dĩ, người thuộc cấp trung thành của ba… người phải vừa tất tả, đôn đáo đón một đứa bé ra đời, vừa phải hoàn thành cái hang đá cho một đứa bé khác kịp đón Noël…

Tôi thấy mình có bổn phận phải biết thêm về chú Quới, biết chú sống ra sau từ lúc thằng On bắt đầu khôn lớn cho đến những ngày cuối cùng của chú. Tôi cũng có bổn phận phải xác minh câu chuyện này với ông Nhơn, vì tôi đã tỏ ra không tin điều ông nói. Và... chắc tôi cũng phải tìm cho ra thằng On để liên lạc với nó, thằng em bất ngờ của tôi…

Đêm đã sâu và lạnh lắm rồi. Tôi vẫn chưa buồn ngủ nhưng thấy mình dù sao cũng phải vào trong, cố dỗ một giấc ngủ để ngày mai còn có sức đi làm. Tôi trở vào phòng làm việc, ngồi xuống trước cái computer, mở lên và bắt đầu viết một cái email cho ông Nhơn. Trong thư, tôi xin lỗi ông vì đã nghi ngờ sự thật của câu chuyện. Tôi cho ông biết là tôi đã tìm được chứng cớ của câu chuyện đó và ngỏ lời mời ông đến nhà dùng cơm tối để nói chuyện thêm, để ông biết địa chỉ mới của thằng On, và cũng để tôi có dịp tìm hiểu về quãng đời sau này của chú Quới…

Thư tôi gởi đi cả tuần lễ không thấy ông Nhơn trả lời. Bận bịu với công việc, có lúc tôi đã quên bẵng là mình đang đợi thư của ông. Một hôm, khi mở mailbox để xem thư từ mới, tôi nhận được hàng chữ từ địa chỉ của ông Nhơn gởi về lại như sau:

Sorry, we were unable to deliver your message to the following address:
<*******@yahoo.com >:
Unable to deliver message after multiple retries, giving up.

Lấy làm lạ, nhưng tôi vẫn thử gởi lại bức thư mình đã gởi cho ông Nhơn lần trước. Chỉ vài tiếng đồng hồ sau, tôi lại nhận cái message tự động, lạnh lùng như cũ. Chưa nản, tôi lại gởi thư đi lần thứ 3 - Quá tam 3 bận - tôi nhủ thầm. Rồi cũng những dòng chữ máy móc đó trở lại với tôi. Tôi lấy điện thoại, tìm số ông Nhơn đã cho tôi, gọi thử. Chưa kịp nghe chuông điện thoại ở đầu kia reo lên, tôi đã nghe tiếng bíp bíp và giọng nói thu sẵn trong máy: “We're sorry; you have reached a number that has been disconnected or is no longer in service.”

Đặt cái điện thoại xuống, tôi ngồi ngẫm nghĩ một lúc. Tại sao địa chỉ email và số điện thoại của ông Nhơn, mà trước đó tôi còn dùng được, đột nhiên cùng nhau ngưng hoạt động hẳn? A… tôi có thể đặt ra một vài giả thuyết, rằng đó là lý do chủ quan hay khách quan, cố ý hay tình cờ, rằng thế này… rằng thế nọ… để tìm 1 câu trả lời cho việc mất liên lạc với ông Nhơn. Nhưng thôi, chắc cũng chẳng đi tới đâu… Bỗng dưng tôi cảm thấy vô cùng mệt mỏi… Tôi cần thoát ra tình huống éo le này, những cảm xúc hỗn độn này, những câu hỏi không bao giờ dứt, những điều tưởng tượng… Tất cả… Tất cả…

Tôi sực nhớ rằng sự việc mấy ngày hôm nay đã làm tôi quên mất chuyện ráp cây thông Giáng Sinh mới mua về. Cùng lúc, tôi chợt nảy ra ý nghĩ phải đi mua mấy bức tượng bày thành một máng cỏ cho năm nay, một điều tôi chưa từng làm. Tôi không có cái hang đá nào, nhưng sẽ dùng cái tủ nhỏ có một khoảng trống phía dưới, trong đó tôi đang bày những món souvenir có hình dạng những kiến trúc nổi tiếng trên thế giới mua được qua những lần du lịch. Tôi sẽ lấy những thứ đó ra, biến cái tủ thành hang đá, và bày biện máng cỏ vào trong đó.

Tối mai, tôi sẽ ở nhà, ráp cây thông và trang hoàng thật rực rỡ. Tôi sẽ bật nhạc Giáng Sinh lên trong lúc làm việc này cho có không khí mùa đông, lúc Chúa Hài Đồng giáng thế. Rồi tôi sẽ làm máng cỏ trong cái hang đá “dã chiến” có sẵn của mình. Lúc trải rơm vào bên trong cho thành máng cỏ, rồi trịnh trọng đặt từng bức tượng nho nhỏ vào trong đó, tôi sẽ chìm theo tiếng nhạc du dương, đưa tôi trở lại những ngày tháng hồn nhiên cũ trong mùa Noël năm nào. Tôi sẽ nhớ đến hình ảnh 2 cha con hân hoan đi sắm tượng máng cỏ và lấy hang đá vào buổi chiều rộn rịp trước ngày Chúa ra đời. Và, cố nhiên, tôi sẽ ngậm ngùi, thương cảm nhớ đến chú Quới, người đã đem lại niềm vui bất ngờ cho tôi vào mùa đông năm ấy, trong lúc lòng ông chắc hẳn đang đau buồn khôn tả./.

Trần C. Trí


Blog Archive