Showing posts with label Lê Nguyễn Hằng. Show all posts
Showing posts with label Lê Nguyễn Hằng. Show all posts

Sunday, May 26, 2019

Bố và Con


Ngà lướt tới lướt lui trên cái iPhone để tìm những tấm hình mới chụp hôm đi thăm gia đình cậu con út ở căn cứ hải quân Rhode Island rồi đưa tôi xem.

Nhìn mấy tấm ảnh mà tôi không tin vào mắt mình.  Trông cậu út Toàn đẹp trai và oai phong trong bộ quân phục Sĩ Quan Hải Quân  Hoa Kỳ chụp với vợ và hai cô con gái, tôi không thể nào nhận ra đây chính là cậu bé mà tôi đã từng gặp nhiều lần trước đây.

Ngày xưa thỉnh thoảng đến nhà Ngà chơi, cứ thấy nó với mấy đứa bạn cùng lứa phóng vun vút trong xóm ngoài làng trên cái skate board là tôi hết hồn. Dù là trong khu gia cư, nhưng con đường khá rộng nên xe cộ cũng ngược xuôi như mắc cửi, tôi cứ nhắc Ngà là bảo cháu phải cẩn thận, nhưng Ngà cười nói: “Ối giào, trông vậy chứ chúng nó nhanh nhẹn và điều khiển cái ván trượt tài tình lắm, không sao đâu, bồ đừng lo.”

Thời gian thấm thoắt trôi, mới đó mà đã bốn chục năm, cậu bé nghịch ngợm ngày nào bây giờ đã là một Trung Tá Hải Quân Hoa Kỳ.

Ngà và tôi quen nhau năm 1968, thuở hai đứa cùng làm chung sở ở Saigon và đều mới có con đầu lòng.

Tôi còn nhớ, mỗi lần Ngà đi sanh con đều vượt biển mồ côi một mình vì Long, chồng của Ngà trong binh chủng Hải Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lúc nào cũng có “lý do chính đáng”, trốn việc quan đi ở chùa bằng cách đi tu nghiệp ở Mỹ. Thế là tội nghiệp bạn tôi một mình sinh nở và một mình nuôi con cho đến khi chồng về.

Ngà kể rằng…

Quen nhau năm 1962, khi đó Long sắp sửa chuẩn bị nhập ngũ, còn Ngà đang đi học. Thuở học trò nhiều mơ mộng, thỉnh thoảng mới trốn bố mẹ gặp chàng để cùng nhau lả lướt trên chiếc xe Honda chạy quanh thành phố, rồi tay trong tay tung tăng nơi vườn Tao Đàn thơ mộng, buổi chiều biến vào hẻm Casino ăn bún chả Đồng Xuân, bánh tôm Cổ Ngư, hay bánh cuốn Thanh Trì, no nê rồi là chui vào rạp xi nê gần đó.

Những giây phút bên nhau ấy, mọi thứ chung quanh đều là bóng mờ, thế giới là chỉ riêng của đôi tình nhân đang đắm trong hạnh phúc, khiến cho tình yêu của Ngà và Long càng ngày càng thắm thiết nhưng vẫn thật là trong sáng. Ngà đã xao lãng việc học và cứ suốt ngày mong đợi lần hẹn hò kế tiếp.

Rồi đến lúc Long phải từ giã Ngà để đi Nha Trang vào Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân.  Những ngày ở quân trường, dù vất vả cực khổ, thỉnh thoảng Long vẫn lẩm nhẩm trong đầu những câu hát của Phạm Duy mà lòng cồn cào nhớ người yêu:

Trả lại em yêu, con đường học trò
Những ngày thủ đô tưng bừng phố xá
Chủ nhật uyên ương hẹn hò đây đó
Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt.

Ngà đã phải nói dối bố mẹ, xin đi với cô bạn học về thăm nhà ở Nha Trang, để đến dự lễ ra trường của Long. Lễ mãn khóa đã được tổ chức rất trang nghiêm và trọng thể. Trải qua những tháng huấn luyện gian khổ, nhìn Long khỏe khoắn, mạnh dạn, oai phong trong bộ lễ phục lúc làm lễ gắn lon, trông anh như thể đã sẵn sàng xông pha vào vùng lửa đạn hiểm nguy trên khắp nẻo đường quê hương để bảo vệ đất nước thân yêu, Ngà thấy tình yêu cho Long giờ đây còn pha thêm niềm tôn kính.

Hôm ấy là ngày hạnh phúc nhất của Ngà vì chỉ có Ngà đến dự lễ, điều này chứng tỏ Ngà là người con gái duy nhất của Long và Ngà nâng niu ấp ủ niềm tin này trong quả tim non nớt để có thể chịu đựng được niềm nhớ nhung nung nấu trong những ngày chàng tung hoành ngoài biển cả.

Ngà không còn đầu óc nào nghĩ đến chuyện học hành và hai người đã xin phép cha mẹ đôi bên cho làm đám cưới khi Long được về phép. Từ đó hai người nên duyên vợ chồng.

Những ngày lênh đênh ngoài khơi, nhiều khi Long trễ nải thư từ cho Ngà, chàng đều mượn bài hát Lính Mà Em của Anh Thy để làm hòa:

Tàu lắc lư làm sao viết thư tình,
Trăng đại dương không đủ viết thư đêm,
Nên thư muộn đừng trách lính mà em.

Rồi lần lượt ba cậu con trai ra đời. Toàn là con út và là một đứa trẻ dễ nuôi từ lúc sinh ra đến khi khôn lớn. Không khóc đêm, không đau ốm vặt vãnh. Khi lớn lên đi học Toàn không bao giờ bỏ lớp đi chơi theo lời rủ rê của bè bạn.

Lúc còn nhỏ, thỉnh thoảng khi Long được về phép là cậu bé Toàn ôm lấy bố hôn lấy hôn để, rồi đi giầy bốt đờ sô và đội mũ của bố, đứng trước gương ngắm nghía và hỏi bố mẹ: “Xem con có đẹp trai và oai như bố không? Lớn lên con sẽ đi lính giống bố đó.” Long xoa đầu con: “Chắc chắn là cái gì con cũng hơn bố rồi. Con hơn cha là nhà có phúc mà.”

Dịp nào bố về phép, Toàn cũng quấn quít bên chân rồi mấy bố con dẫn nhau đến công viên thả diều. Bố con đang thi nhau xem diều ai bay cao hơn thì bỗng Toàn bị tuột sợi dây và la chói lói: “Diều của con bay lên cao mất rồi bố ơi!” Mặt Toàn tiu nghỉu, buồn thiu trên suốt quãng đường về.

Hôm sau bố con rủ nhau đến hồ câu cá. Trong khi bố dùng con giun làm mồi thì Toàn làm tài khôn lấy cơm ngào với nước vò lại thành viên cho bố, thế mà cá cũng cắn câu.  Thấy bố con trở về quần áo lem luốc, mà trên tay thằng Toàn chỉ xách lủng lẳng mấy con cá tép riu, Ngà giễu:

Ba con cá bằng ngón tay thế này thì ai ăn ai nhịn đây. Để tôi ra câu cá ở chợ về nấu cho bố con ông ăn còn rẻ hơn.

Long bảo:

Ai chả biết thế, nhưng bố con tôi đã có những giây phút hồi hộp, thú vị lắm. Mấy lần tưởng bắt được cá lớn mà lại trượt mất đó.

Long làm việc tại Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang, lâu lâu mới được nghỉ phép về Saigon một lần nên anh cố gắng dành hết những giờ phép ngắn ngủi, hiếm hoi với vợ con để bù đắp cho những ngày dài xa nhà, ở nơi trùng dương vạn dặm.

Khi hết phép, Long trở lại căn cứ với con kình ngư vùng vẫy, bọt tung trắng xóa đập vào mạn tàu. Buổi chiều khi hoàng hôn xuống, con tàu như đi trong màu sắc rực rỡ của cầu vồng và ngày tháng qua đi với những chuyến hải hành dài đằng đẵng nối tiếp nhau.

Thỉnh thoảng rảnh rỗi ngồi trên boong tầu với cảnh bao la giữa trời và nước, nhìn về xa xăm nơi vợ con đang yên lành, Long thầm bảo, nơi xa xôi kia chắc mẹ con nó đang ăn cơm tối. Nghĩ đến vợ con, cảm xúc dâng tràn, thương cho Ngà phải một mình vất vả vừa đi làm vừa chăm sóc đàn con và anh tự hứa lần về phép tới sẽ làm mọi điều cho vui lòng Ngà.

Khi những ngày cuối tháng 4 năm 1975 ập đến, may mắn lúc đó Long về Saigon công tác nên cả gia đình được sở làm của Ngà cho di tản sang Hoa Kỳ.

Dù bắt đầu cuộc sống mới với hai bàn tay trắng nơi xứ người nhưng Long không lo lắng thái quá vì anh đã vượt qua được bao thăng trầm của cuộc đời và thêm nữa anh có vài bằng cấp chuyên môn nhờ những lần đi tu nghiệp bên Mỹ. Vốn đã từng là chuyên viên cơ khí nên anh tìm được việc làm cho hãng sửa tàu ở San Francisco một cách dễ dàng và không phải lo về vấn đề sinh kế cấp bách như những gia đình Việt Nam di tản cùng thời gian đó.

Rồi ba đứa con trai lớn lên vùn vụt. Khi đi học, lúc nào Toàn cũng được điểm cao và có hạnh kiểm tốt. Thoáng một cái đã 18 tuổi và tốt nghiệp trung học.

Toàn xin phép bố mẹ được chọn hải quân làm binh nghiệp. Ngà đã trải qua những lo lắng và gian truân của cuộc đời vợ lính nên có ý bàn ra.

Nhưng Long đã ngồi xuống hỏi con cặn kẽ đủ điều và nói chuyện với con một cách nghiêm chỉnh “như hai người đàn ông” về bổn phận và trách nhiệm của một người lính hải quân mà lúc nào cũng phải tuân thủ với tất cả tấm lòng yêu nước, thương người và sự cẩn trọng vì lệnh ban ra có thể ảnh hưởng đến mạng sống của lính dưới quyền và những người dân vô tội; về chuyện phải xa nhà, có khi lênh đênh trên biển cả nhiều tháng liên tiếp không nhìn thấy đất liền, hoặc đến một nơi xa lạ rồi cô đơn dễ sa ngã… Con phải chuẩn bị tinh thần.

Toàn thưa rằng:

Từ thuở bé con đã có mộng hải hồ, muốn được đi đây đi đó. Lớn lên con thích đi lính, nhất là nhìn thấy bố, người con kính yêu oai phong trong bộ lễ phục hải quân màu trắng không một nếp nhăn và lúc nào cũng lấy Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm làm phương châm trong cuộc sống, con lại càng tôn sùng người lính Việt Nam Cộng Hòa hơn và quyết tâm theo bước chân của bố, hơn nữa con đã có anh lớn cũng trong Hải Quân của Quân Đội Hoa Kỳ rồi mà.

Và một điều quan trọng nữa là ngày xưa còn bé, con vẫn nghe bố nói đi lính là thương nòi giống, nước nhà. Bây giờ con đã lớn khôn, con cũng muốn được góp phần giữ gìn đất nước đã bảo bọc gia đình mình và nuôi chúng con khôn lớn thành người hữu dụng. Bố con mình đều yêu thương nên muốn bảo vệ nơi chôn nhau cắt rốn và nơi ấp ủ dưỡng dục mình.”

Để được vào binh chủng Hải Quân, Toàn đã phải trải qua những cuộc tuyển lựa gay go về thể chất, học vấn và nhất là đạo đức. Thời gian huấn nhục ở trại Great Lakes Naval Training Center ở Illinois đã hướng dẫn về khả năng lãnh đạo, học thức, nghi lễ và huấn luyện về thể chất lẫn quân sự để Toàn trở thành một sĩ quan hải quân. Sau bốn năm huấn luyện tại Naval Academy, Toàn học thêm 2 năm lái máy bay. Ra trường, Toàn mang lon Thiếu Úy và đóng quân ở Seattle, tiểu bang Washington.

Trước khi ghi danh vào quân đội, Toàn đã có người yêu tên Helen, một cô bạn thuở trung học và cũng là hàng xóm. Khi Toàn cho cô ấy biết ý muốn đi lính của mình, cô ấy ủng hộ nhiệt tình nên Toàn đã yên tâm nhập ngũ.

Ngà đã trải qua nỗi cô đơn và vất vả của cuộc đời làm vợ lính nên khi Toàn ngỏ ý xin bố mẹ để cưới Helen, Ngà đã ngồi xuống trò chuyện rất thân tình với Helen. Ngà nói rằng: “Lấy chồng nhà binh, nhất là hải quân là chấp nhận chuyện chồng luôn ở xa vợ con. Người vợ cứ phải là trung tâm, là cột trụ lo toan mọi việc khi chồng vắng nhà. Nhiều khi mình phải sinh con và nuôi con một mình trong thời gian dài đằng đẵng mà không có bố mẹ, anh em và bạn bè thân thiết ở chung quanh giúp đỡ nên cảm thấy rất lẻ loi và đôi khi oán trách chồng. Nên khi chồng về phép, thật là một trời hạnh phúc. Sự xa vắng lâu ngày làm những giây phút gần gũi quý giá và tuyệt vời hơn.”

Helen đã ôm Ngà và rơm rớm nước mắt cám ơn bà mẹ chồng tương lai đã thông cảm và giúp nàng chuẩn bị tư tưởng trước khi bước lên xe hoa.

Rồi ngày ấy đã đến, Helen và Toàn hạnh phúc nắm tay nhau trong một tiệc cưới thân mật của hai gia đình. Helen đã theo chồng lên Seattle ở và xin được việc làm cho trường Đại Học Washington State trong khi Toàn tiếp tục sự nghiệp nhà binh, có khi đi tàu, có khi đi bay, chu toàn nhiệm vụ được giao phó.

Lấy nhau được hai năm thì Helen sinh con gái đầu lòng nên nghỉ việc ở nhà nuôi con. Sau đó bé gái thứ hai ra đời trong một gia đình êm đềm hạnh phúc mặc dù bố hay vắng nhà.

Helen là một cô gái da trắng nhưng suy nghĩ và hành động rất giống đàn bà Á Đông. Cô ấy rất hiền thục, dịu dàng, lúc nào cũng chăm lo cho chồng con và kính trọng gia đình nhà chồng. Thương chồng, Helen đã nhờ mẹ Ngà chỉ dẫn, hay lên youtube tập nấu những món ăn Việt Nam, nào chả giò, phở, canh bún, thịt kho, cá kho, pha nước mắm… Helen đều làm được cả. Ngà đã nếm và công nhận là ngon.

Cũng như mẹ Ngà, Helen không bao giờ phàn nàn chuyện chồng vắng mặt trong những lần cô ấy sinh đẻ, ngày sinh nhật của vợ con, ngày nhập học cũng như ra trường của hai con gái, ngày chúng nó tham dự những buổi thi đua thể thao hay trình diễn văn nghệ…Helen chấp nhận mọi sự hy sinh mà không một lời than vãn để cho chồng được toại nguyện giấc mộng hải hồ và làm tròn bổn phận của một quân nhân.

Ngoài những cuộc điện thoại nhìn thấy hình ảnh của mọi người, những ngày lễ Tết, Helen luôn nhớ gửi quà và chúc tụng bố mẹ chồng. Mỗi năm cả gia đình về California thăm bố mẹ hai bên một lần. Nếu không được thì Toàn mua vé máy bay mời ông bà nội các cháu qua thăm.

Tôn trọng sự hiểu biết và kinh nghiệm chiến trường của bố, thỉnh thoảng Toàn vẫn điện thoại xin ý kiến bố về một vài vấn đề quân sự hay nhân sự. Bố con chuyện trò rất tương đắc và Toàn rất hãnh diện có một người cha hiểu biết, rộng lượng và đạo đức.

***
Hiện tại Trung Tá Toàn đang phụ trách một lớp huấn luyện trong trường hải quân ở Rhode Island. Tính đến nay Toàn đã ở trong quân đội được 28 năm, còn dài hơn thời gian bố cháu ở trong Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.

Toàn cho biết vài năm nữa khi về hưu, cháu có thể vẫn làm huấn luyện viên cho Hải Quân vì họ rất cần; cháu cũng có thể ra cộng tác với một vài hãng tư hoặc có thể ở nhà “hầu hạ vợ con” trước khi hai cô con gái dời khỏi mái ấm ra tự lập hay có cuộc sống riêng.

Lòng yêu nước của gia đình bé nhỏ này thật đáng ca ngợi, bố đi lính bảo vệ biển đảo của Việt Nam Cộng Hòa, bây giở hai cậu con trai lại theo bước chân bố đi lính để bảo vệ quê hương thứ hai, đất nước Hoa Kỳ. Như thế, với hai cậu con trai đều là Trung Tá Hải Quân Hoa Kỳ, gia đình của Ngà đã trả ơn nước Mỹ thật hậu hĩnh.

Tôi luôn ngưỡng mộ và tri ân những viên cảnh sát, những lính cứu hỏa và những quân nhân mọi binh chủng vì họ đích thực là những anh hùng đã dũng cảm, hy sinh tối hậu bản thân, nhảy vào vùng lửa đạn, những nơi hiểm nguy để bảo vệ quốc gia, dân tộc và cả những người họ không hề quen biết.

Cầu xin cho những con người tuyệt vời này được an toàn trong khi thi hành công vụ, những việc làm cao quý mà họ yêu thích để phục vụ cho đời. 

Lê Nguyễn Hằng

Sunday, May 12, 2019

Bao La Tình Mẹ




Image may contain: flower, plant and nature
Mẹ hiền! Hai chữ thật đơn giản mà sao nghe gần gũi, thân thương quá! Mỗi khi nhắc đến Mẹ, lại làm cho lòng ta xôn xao, dạ ta bồi hồi. 


Tình mẫu tử là tình yêu thiêng liêng, vĩ đại và vô điều kiện người Mẹ dành cho con từ lúc còn mang thai nhi trong bụng cho đến lúc Mẹ từ giã cõi đời. 

Mẹ nuôi dưỡng con từ thể xác đến tinh thần, những tiếng ru, những câu hò, hay những lời thầm thì bên tai ta luôn là những bài học dạy ta đạo lý làm người và là điểm tựa tinh thần khi ta gặp khó khăn, vấp ngã.

Mẹ luôn hy sinh cho con, vượt mọi khó khăn cực khổ để nuôi con nên người. Dù con bao nhiêu tuổi, dù đã khôn lớn và thành công nhưng trong mắt của Mẹ, con vẫn là đứa con bé bỏng cần được Mẹ chăm sóc và bảo vệ. 

Dù mẹ đẹp hay xấu, thông minh hay chậm chạp, giỏi giang hay mù chữ, lành lặn hay tật nguyền, may mắn hay bất hạnh, bất kể trong thế hệ nào, thời gian nào, thế giới nào, đất nước nào, mọi trái tim đều mang dòng máu đỏ, tình mẫu tử vẫn luôn là tình cảm thiêng liêng, sâu sắc, cao đẹp và vĩnh cửu trong trái tim và máu thịt của con người, ai trên thế gian này cũng đều yêu mẹ và thương con. 

Đôi khi vì yêu con quá mà Mẹ phải nói dối. Khi thiếu cơm thì Mẹ bảo: “Mẹ no rôi, con ăn đi”, hoặc là: “Mẹ không thích ăn thịt” dù Mẹ rất thèm, hay là: “Mẹ chưa mệt, làm xong việc này mẹ sẽ ngủ” dù Mẹ đã còng lưng làm bánh để lấy tiền nuôi con, rồi Mẹ để dành chỗ chiếu lành cho con ngủ và mẹ nằm bên phía rách.

Khi con nhỏ thì chăm nuôi khổ cực. Rủi ro con đau ốm hay bệnh nặng, Mẹ luôn cầu xin cho Mẹ được lãnh tất cả đau đớn bệnh tật cho con, để con được lành lặn, để con được khoẻ mạnh, để thân thể con không xanh xao vàng vọt, để con không rên xiết đớn đau và ngay cả sự chết thay cho con để con bảo toàn mạng sống.

Dù con có lỗi lầm gì mẹ cũng luôn luôn tha thứ. Cánh cửa nhà và cánh cửa lòng mẹ luôn luôn rộng mở đón con trở về.

Ở Việt Nam trước đây, lớn lên con trai đi lính, Mẹ hằng đêm thao thức, nghe tiếng pháo kích vọng về mà lo lắng cho thằng con ngoài mặt trận xa xôi, nguyện cầu bom tránh đạn né để con được trở về bình yên. Nhưng đau đớn thay, có những bà mẹ thiếu may mắn thì đón con về không còn lành lặn hoặc với hòm gỗ cài hoa để người đầu bạc phải khóc kẻ tóc xanh.

Nếu con không chết nhưng bị kẹt lại sau năm 1975 thì lại bị đi tù cải tạo, Mẹ cũng phải ăn nhịn để dành, rồi thân già yếu đuối băng rừng lội suối vất vả đi thăm nuôi. Nhìn thấy đứa con thân yêu còm cõi xiêu vẹo mà lòng Mẹ. tan nát.

Có những bà mẹ bất hạnh bị bọn cướp làm nhục trên đường vượt biển, may mắn có được ông chồng hiểu biết, thương xót cho cái oan khiên người vợ phải gánh chịu, nhưng cũng có người lòng dạ hẹp hòi, đay nghiến hành hạ vợ mình.

Trong chiến tranh hay khi đã chấm dứt, người vợ, người Mẹ bao giờ cũng chịu nhiều nỗi truân chiên và đau khổ.  

Tôi đã từng nghe và đọc những mẩu chuyện thương tâm và tấm gương cao cả của những bà mẹ Việt Nam. 

Tôi có người bạn tên Nguyên, sau nhiều lần cả gia đình tìm cách trốn chạy đều thất bại, cuối cùng Nguyên đã phải để chồng đi một mình, rồi được tin anh chết trên đường vượt biển. Dù vật vã khóc thương cho người chồng đoản mệnh, nhưng vì tương lai của ba đứa con còn nhỏ, Nguyên đã liều lĩnh đem chúng vượt phong ba bão táp và may mắn đến được bến bờ tự do. 

Qua bao nhiêu chông gai và mất mát đau thương trong cuộc đời, Nguyên đã không ngồi đó than thân trách phận mà quyết tâm làm lại cuộc đời. Đơn thân độc mã, Nguyên sắt son, trung trinh thờ chồng, cực khổ chăm sóc con thơ, vừa đi học, vừa đi làm, nuôi con ăn học thành bác sĩ, kỹ sư và tạo cho mình một cơ sở kinh doanh vững chắc. 

Một người bạn khác tên Hoa, chồng cô ấy từng là một sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tung hoành vùng vẫy trong đại dương bao la. Tháng tư đen đến, anh bị nhốt trong trại tù cải tạo, Hoa đau xót bán hết của cải để lo cho con và nuôi chồng trong tù. Cuối cùng, anh cũng được trở về sống với gia đình. 

Nhưng niềm vui đoàn tụ chỉ kéo dài được vài tháng, Hoa hy sinh tìm cách cho kình ngư vượt sóng đến vùng biển rộng lớn bên trời tây, nhưng số Hoa bạc phước nên bạn đời đã lạc dấu nơi mây nước thênh thang xứ lạ, anh đã xây tổ mới nơi thiên đường mà Hoa đã khổ công góp sức trao anh. Hoa không nài nỉ hay khóc than mà can đảm một mình bế con thơ đi tìm tự do và trải qua một cuộc vượt biển khủng khiếp, hãi hùng nhất trên đời. 

Trôi dạt vào một hoang đảo, trong cơn đói rét hoảng sợ, Hoa đã phải ẵm con chui rúc vào trong những hốc đá nhọn sắc để trốn hải tặc và bảo vệ đứa con còn non dại. Đến khi thân tàn sức kiệt, may mắn được tàu lớn cứu vớt rồi đến được nước Mỹ. Hoa đã kiên tâm nuôi con ăn học thành tài. Và bây giờ, Hoa sống yên vui với con trai, con dâu, hai đứa cháu nội và sự thành công của chính mình. 

Cả Hoa và Nguyên đều là những bà mẹ vĩ đại, tuyệt vời, quên hạnh phúc riêng tư của chính mình, ở vậy vất vả, đơn thân nuôi con. Và các con vì thương Mẹ nên đã ngoan ngoãn học hành và thành danh để tạ ơn lòng yêu thương và sự hy sinh của Mẹ.

Một người bạn nữa tên Hồng, sau ngày mất nước, chồng đi tù cải tạo, vợ con phải đi vùng kinh tế mới. Kết quả của những ngày gian khổ nơi vùng rừng thiêng nước độc là bạn tôi mang đủ thứ bệnh trong người. Khi hai vợ chồng và bốn đứa con vượt biển đến được Hoa Kỳ, cơ thể ốm yếu lại kém tiếng Anh, nên chồng phải đi lấy mối của một chủ Việt Nam lãnh thầu may quần áo, cho vợ đơm khuy, cắt chỉ mỗi cái lãnh vài xu. 

Nhờ nghề dạy nghề, chỉ một thời gian ngắn, bạn tôi được giao may quần áo lố và sau đó lấy mối thẳng từ hãng may. Bây giờ, đã trên 70 tuổi, các con đã học xong và có công ăn việc làm, sau mấy chục năm, bạn tôi vẫn tiếp tục miệt mài trên máy may bốn ngày một tuần, thay vì bẩy ngày như trước đây, để kiếm tiền phụ thêm phần tài chánh cho gia đình và giúp bà con bên Việt Nam. 

Ba người bạn của tôi ở trong ba hoàn cảnh khác nhau, bây giờ khi đã lớn tuổi, được đền bù và sống quây quần, hạnh phúc bên con cháu hiếu đễ.
Và biết bao nhiêu bà Mẹ Việt Nam khác, may mắn đến được bến bờ tự do, quần quật cật lực làm việc bất kể ngày đêm để xây dựng cuộc đời mới cho con cái. Có những bà Mẹ khom lưng nhổ khoai, hái ớt, làm thuê trong những khu nông trại, ruộng vườn mênh mông bát ngát. Có những bà Mẹ gò người trên chiếc máy may suốt 10 tiếng một ngày, sáu ngày trong tuần cho kịp thời hạn giao hàng. 

Có những bà Mẹ làm tóc và móng tay chấp nhận đối đầu với những hóa chất độc hại. Có những bà Mẹ chong mắt nhìn vào những con chip nhỏ li ti trong hãng điện tử, khi về đến nhà hoa mắt như bị quáng gà… Các bà Mẹ làm đủ thứ nghề, không màng đến sức khỏe và sự an nguy của chính mình để kiếm tiền nuôi con ăn học nên người.

Tôi biết chắc là các bạn tôi và những bà mẹ khác đều không đòi hỏi sự báo đáp, trả ơn của những người con mà sự thành tài và hiếu thảo của con cái là phần thưởng vô giá cho sự hy sinh của họ rồi.  

Ôi Mẹ hiền! Đâu có thứ gì trên đời này có thể xứng đáng để đền đáp được ơn sâu nghĩa nặng này. Chúng con mong rằng lòng hiếu thảo, những món nữ trang, những bó hoa rực rỡ, những hộp chocolate ngọt ngào chúng con tặng cho Mẹ, một phần nào nói lên lòng biết ơn và tình yêu của chúng con dành cho Mẹ.

Xin thỉnh thoảng hãy gác bỏ những bận rộn cơm áo gạo tiền, thăm viếng hỏi han Mẹ, để Mẹ thấy được sự lưu tâm và tình yêu của chúng ta đối với Người.

Khi còn Mẹ. chúng ta nên luôn luôn trân quý Mẹ và tình yêu của Mẹ, đừng để những ngày tháng ngọc ngà này mất đi thì sau này tiếc nuối cũng muộn màng.

Ông Trần Trung Đạo đã có hai câu thơ nổi tiếng:

Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng Mẹ cười



*
Sau đây là những mẩu chuyện cảm động về tình mẹ và lòng con khiến ta đọc xong phải rưng lệ cảm động và xót thương.



Tình Mẹ

Sau khi trận động đất ở nước Nhật vừa lắng xuống, đội cấp cứu đến một căn nhà đổ nát, qua những kẽ hở, họ nhìn thấy một người đàn bà trẻ khom người quỳ gối trong dáng dấp như đang cầu nguyện. Người cứu cấp thò tay vào lôi bà ta với hy vọng bà ấy còn sống, nhưng khi thấy cơ thể bà ấy đã lạnh cứng thì họ biết chắc bà ấy đã chết nên họ bỏ đi cứu người khác. Tuy nhiên người dẫn đầu đội cấp cứu vẫn thấy một điều gì khiến ông băn khoăn ở trong lòng nên quay trở lại. Ông quỳ xuống và cố hết sức dùng tay luồn dưới xác chết xem xét và ông hét lên mừng rỡ, “Một em bé, có một em bé!”

Cả toán cùng nhau hợp lực, lôi trong đống đổ nát một em bé trai 3 tháng tuổi được gói kỹ trong một tấm mền hoa nằm dưới xác chết của người đàn bà. Rõ ràng là người mẹ đã dũng cảm làm một việc hy sinh vĩ đại là dùng thân mình che chở bảo vệ mạng sống của con mình.

Khi các bác sĩ mở tấm mền để khám sức khỏe em bé thì tìm thấy một cái cell phone ở trong mền, có một câu nhắn: “Nếu con sống sót, con phải nhớ rằng Mẹ luôn yêu con.” 

Ôi, có trái tim nào cao quý hơn trái tim của Mẹ! Sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình để bảo vệ sự sống cho con. Khi biết rằng mình sắp chết, người Mẹ vẫn muốn cho con biết là mình yêu con. (1)

Chắc chắn rằng khi lớn lên, cậu bé sẽ khóc thầm với Mẹ rằng: “Sao Mẹ bỏ con đi sớm vậy, không cho con có dịp nói con thương Mẹ lắm, Mẹ ơi!”

Lòng Con

Một người đàn ông vào tiệm hoa đặt họ gửi hoa cho Mẹ ở cách 300 dặm. Xong việc, khi ra xe đi về, ông thấy một cô bé đang ngồi khóc một mình. Hỏi ra thì được biết là cô bé muốn mua hoa tặng cho Mẹ, nhưng một cành hoa giá 2 đồng mà em chỉ có 1 đồng.

Người đàn ông đã trả tiền mua hoa cho cô bé và tình nguyện chở cô bé đi gặp Mẹ. Cô bé chỉ ông ta đến một nghĩa trang và cô đặt cành hoa hồng trên một ngôi mộ còn mới.

Người đàn ông chợt tỉnh ngộ, liền trở lại tiệm hoa hủy bỏ giấy mua hàng lúc nãy, mua một bó hoa khác và tự lái xe 300 dặm để chính tay đưa hoa tặng Mẹ. (2)

Cảnh tượng người mẹ đang ngồi buồn nghĩ đến con, rưng rưng nước mắt khi bất ngờ được người con ở xa, lái xe mấy trăm dặm về với bó hoa trên tay, ôm Mẹ thầm thì vào tai rằng: “Con nhớ Mẹ quá, Mẹ ơi!” Thật là một bức tranh cảm động tuyệt vời!



Đôi Mắt Của Mẹ

Người con kể rằng: 

“Suốt thời thơ ấu và cả khi lớn lên, lúc nào tôi cũng ghét Mẹ tôi. Lý do chính vì bà chỉ có một con mắt. Bà là đầu đề để bạn bè chế giễu, châm chọc tôi.

Mẹ tôi làm nghề nấu bếp để nuôi tôi ăn học. Một lần bà đến trường kiếm tôi khiến tôi xấu hổ muốn chôn mình xuống đất, tôi chỉ muốn bà biến mất khỏi cuộc đời tôi. 

Tôi mong muốn được thoát ra khỏi nhà, không còn liên hệ gì với Mẹ tôi. Vì thế tôi cố gắng học hành và có được học bổng để đi học ở nước ngoài.

Sau đó, tôi lập gia đình, mua nhà và có mấy đứa con. Vợ tôi là con nhà gia thế, tôi giấu nàng về bà mẹ của mình, chỉ nói mình mồ côi từ nhỏ. Tôi hài lòng với cuộc sống, với vợ con và những tiện nghi vật chất có được.
Tôi mua cho Mẹ một căn nhà nhỏ, thỉnh thoảng lén vợ gởi một ít tiền về biếu bà, tự nhủ thế là đầy đủ bổn phận. Tôi buộc Mẹ không được liên lạc với tôi.

Một ngày kia, Mẹ bất chợt đến thăm. Khi thấy một bà già trông có vẻ lam lũ đứng trước cửa, mấy đứa con tôi có đứa cười nhạo, có đứa hoảng sợ.
Tôi vừa giận vừa lo vợ tôi biết chuyện nên hét lên: "Bà đi khỏi đây ngay!" Mẹ tôi chỉ nhỏ nhẹ trả lời: "Ồ, xin lỗi, tôi nhầm địa chỉ!" và lặng lẽ quay đi. Tôi không thèm liên lạc với bà trong suốt một thời gian dài.

Một hôm, nhận được một lá thư mời họp mặt của trường cũ gởi đến tận nhà, tôi nói dối vợ là phải đi công tác. Sau buổi họp mặt, tôi ghé qua căn nhà của Mẹ, vì tò mò hơn là muốn thăm Mẹ.

Mấy người hàng xóm nói rằng Mẹ tôi đã mất vài ngày trước đó và do không có thân nhân, sở an sinh xã hội đã lo mai táng chu đáo.

Tôi không nhỏ được lấy một giọt nước mắt. Họ trao lại cho tôi một lá thư Mẹ để lại cho tôi:

Con yêu quý, lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi về việc đã dám  bất ngờ đến thăm con và làm cho các cháu phải sợ hãi.

Con biết không, hồi con còn nhỏ xíu, con bị tai nạn và hỏng mất một bên mắt. Mẹ không thể ngồi yên nhìn con lớn lên mà chỉ có một mắt, nên mẹ đã cho con con mắt của mẹ.

Mẹ đã bán tất cả những gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con, nhưng chưa bao giờ mẹ hối hận về việc đó. Mẹ rất hãnh diện vì con đã khôn lớn, thành công và mẹ kiêu hãnh vì những gì mẹ đã làm được cho con.

Con đã nhìn thấy cả một thế giới mới, bằng con mắt của mẹ, thay cho mẹ.

Mẹ yêu con lắm, Mẹ.” (3)
. . .
Bây giờ thì đã quá trễ.  Người con chắc chắn sẽ suốt đời thèm khát được một lần ôm Mẹ để nói rằng: “Mẹ ơi, con xin tạ lỗi cho tội bất hiếu. Con rất yêu Mẹ và vô cùng biết ơn Mẹ.”



*
Tại nước Mỹ, hằng năm người ta mừng Ngày Của Mẹ vào chủ nhật thứ nhì của tháng năm do sáng kiến của bà Anna Jarvis ở West Virginia. Năm 1908, bà đã vận động và thành công trong việc khởi xướng cho một ngày toàn quốc chú tâm đến sự quan trọng của người mẹ trong gia đình. 
Vào ngày này, người ta thường ăn mừng và tôn vinh “Mẹ” cho những người phụ nữ trong vai trò người mẹ gồm mẹ, bà nội, bà ngoại, mẹ ghẻ và cả mẹ nuôi nữa. 

Phần lớn người ta gửi thiệp chúc, tặng quà, quần áo, nữ trang, kẹo bánh và hoa, hoặc mời Mẹ ăn một bữa tại nhà hay ở tiệm. Ngày của Mẹ đã trở thành một biến cố quan trọng cho tiệm ăn và công việc sản xuất và bán thiệp cũng như quà cáp. 

Ở trường tiểu học, các thầy cô thường giúp học trò tự làm những cái thiệp hoặc món quà nho nhỏ tặng cho Mẹ.

Nhiều gia đình cũng ăn mừng ngày của Mẹ bằng cách nấu bữa điểm tâm cho Mẹ ăn ngay trên giường. Cũng có những người con yêu cầu Mẹ nghỉ một ngày, không làm bất cứ việc gì, ngay cả những điều thường nhật như nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa. 

Khi thế giới ăn mừng Ngày Của Mẹ, mỗi quốc gia tổ chức ngày lễ này một cách khác nhau, vào các ngày khác nhau trong năm. Ở Thái Lan, sinh nhật của Nữ Hoàng Sirikit là ngày của Mẹ. Ở Ethiopia, gia đình ăn mừng bằng cách tụ tập vào mùa thu ca hát và ăn đại tiệc.

Ngày-Của-Mẹ này dành riêng cho việc tôn vinh hằng triệu người Mẹ đã sinh ra và nuôi dưỡng các con. Tiếp tục ăn mừng Ngày Của Mẹ để bày tỏ lòng biết ơn công lao và sự hy sinh cao cả của Mẹ và cho Mẹ biết là mình yêu người là một điều đáng hoan nghênh và khuyến khích. 

Mong sao những người con luôn yêu thương và hiếu đễ với Mẹ để ngày nào mẹ cũng cảm thấy là Mother’s Day. 



Lê Nguyễn Hằng
Mother’s Day 2019



Tài liệu tham khảo:



https://www.facebook.com/notes/kids-zone-dubaii/this-is-a-true-story-of-mothers-sacrifice-during-
the-japan-earthquake/
2600985 440 247 60/

- http://moralstories26.com/heart-touching-stories-about-mother-son-daughter-rose/

- https://www.truyenngan.com.vn/truyen-ngan/truyen-ngan-gia-dinh/885-doi-mat-cua-me.html

Monday, April 22, 2019

Niềm Vui Tuổi Hạc





Mỗi buổi sáng khi tung mền ra khỏi giường, nhiệt độ thay đổi thình lình là ông Lê hắt hơi liên tiếp một tràng năm sáu cái “chào buổi sáng” làm bà Diệu thức dậy nhưng bà vẫn nằm yên, lắng nghe những tiếng động thân quen trong nhà.

Tiếng máy sưởi chạy xào xạc, tiếng dép của ông Lê di chuyển trên sàn, tiếng ho khan, tiếng tằng hắng, tiếng mở cửa phòng tắm, tiếng vòi nước chẩy và tiếng chân nhè nhẹ đi ra ngoài.

Khi bà Diệu dậy lo xong phần mình thì nghe thấy tiếng reo của ấm nước đang sôi, bà đi ra ngoài bếp thì ông Lê vừa ngồi xuống ghế nơi bàn ăn, ông với tay lấy hũ coffee cream và mấy viên đường, rồi tiếng muỗng lách cách khuấy trong ly và mùi cà phê tỏa ra ngào ngạt đánh thức khứu giác vào buổi đầu ngày.

Ông Lê nói:

- Cà phê của em có rồi đó.

Bà Diệu gật đầu:

- Ừ, thơm quá, bây giờ em làm thức ăn sáng.

Bà mở tủ lạnh lấy 2 khúc bánh mì và 3 quả trứng. Bà bỏ bánh mì vào lò nướng rồi làm trứng ốp la, hai quả cho ông và một cho bà.

Khi bà vừa ngồi xuống thì ông bắt đầu kể lể:

- Ông Trời này quá quắt thật, ổng cộng trừ nhân chia chi li từng tí với người già. Đêm hôm trước anh ngủ được sáu tiếng, dôi ra một giờ đồng hồ là sáng nay ông ấy đòi lại và bắt mình thức dậy ngay sau bốn tiếng, không sai một li nào cả.

Bà Diệu đáp:

- Tuổi này ngủ năm, sáu tiếng một đêm là đủ rồi, thôi đừng kêu ca gì nữa.

Ông Lê hỏi:

- Chiều nay chủ nhật, mấy đứa nhỏ về như thường lệ chứ hả?

- Ừ. Anh lo ăn sáng kẻo nguội.

Ông Lê chợt chỉ tay ra ngoài hàng hiên:

- Mấy cây lan của em bị đổ xuống rồi kìa.

Cả ba tháng nay mưa gió liên miên, tốc mấy cây hoa rơi xuống sàn gỗ, đất văng tung tóe. Bà Diệu nhìn ra mà lòng xót xa.

Ăn xong, ông Lê bưng ly chén xuống bếp rồi vào phòng computer đọc và trả lời thư từ trên mạng. Bà Diệu dọn dẹp và rửa bát vội vàng, nóng lòng ra sửa sang lại những chậu hoa.

Bước ra sân, thấy chung quanh cây cỏ như bừng lên sức sống, thức dậy sau mùa đông giá lạnh và những trận mưa đầu xuân. Những cây ăn trái bắt đầu nhú lá non tươi mơn mởn. Cây quân tử lan màu cam đỏ đẹp rực rỡ bên cạnh chậu tú cầu màu xanh dương trang nhã. Thoang thoảng mùi đất ẩm nhưng vẫn không lảm giảm được hương thơm nhẹ nhàng của hoa lan tím và nồng nàn của bụi lan trắng. Bà Diệu vực mấy chậu cây đứng lên, hốt đất và gỗ vụn đổ lại vào chậu rồi vun cho đều. Bà tự an ủi, may quá chỉ gẫy có hai cành hoa.

Ông Lê và bà Diệu lấy nhau hơn năm chục năm, bây giờ đã lớn tuổi, mà hai ông bà vẫn còn xưng anh em chứ không đổi thành ông, bà và tôi như nhiều cặp vợ chồng khác. Thỉnh thoảng các bạn chọc ghẹo bảo rằng, “Hai người còn tình dữ há”, bà nói, “Quen rồi, thay đổi sao khó quá, nhà tôi ông ấy thường bảo cái gì đang yên lành thì chớ sửa đổi, Mỹ cũng có câu ‘Don’t fix what is not broken’ đấy thôi.”

Vừa đẩy mấy chậu hoa vào chỗ khuất gió và quét dọn sàn gỗ cho sạch sẽ, bà vừa nghĩ đến câu chuyện giữa bà và thằng cháu ngoại. Cách đây ba năm, lúc Nicholas mới tám tuổi, khi bà Diệu hỏi nó: Lớn lên cháu muốn làm nghề gì.

Thay vì nói sẽ làm cảnh sát hay lính chữa lửa như những anh Mỹ con khác thì cậu bé tóc vàng này nói rằng: Cháu sẽ mua hãng Google.

Bà Diệu ngạc nhiên hỏi: “Thật hả? Sao cháu lại chọn hãng đó?”

Nicholas trả lời tự nhiên không chút ngập ngừng:

Tại vì Google biết tất cả mọi điều, cần gì cứ hỏi Google là có ngay, cháu vẫn bảo Má cháu như vậy.

Bà Diệu hỏi tiếp: “Thế tiền đâu mà cháu mua hãng Google, hãng đó lớn lắm cháu biết không?”

Nicholas ngây thơ đáp: “Cháu sẽ để dành, thằng Aron và Bryan bạn cháu cũng đòi chung, thiếu bao nhiêu thì cháu mượn ba má cháu và ông bà ngoại.” Bà Diệu lại hỏi: “Làm sao cháu có thể cai quản một hãng khổng lồ như vậy được?

Nicholas đáp: “Cháu sẽ học thật chăm, đọc thật nhiều sách. Cái gì không biết cháu sẽ hỏi ba cháu và ông bà ngoại. Bà lo giữ tiền (phần tài chánh) còn Cậu Út lo an ninh cho cháu là được rồi.”

Bà Diệu nghĩ thầm, khi mình bằng tuổi nó chỉ biết chơi chuyền, rải ranh, ô quan, nhảy lò cò với các bạn cùng trang lứa, đời nào dám nghĩ đến chuyện sau này sẽ mua một tiệm tạp hóa nho nhỏ để buôn bán chứ đừng nói đến một cửa hàng, thế mà thằng bé này mới ngần ấy tuổi đã biết nó muốn gì và phải làm gì cho tương lai, bà xoa đầu nó và thì thầm “Bà phục cháu quá. Đúng là con nhà tông không giống lông cũng giống cánh.”

Ba nó sau khi tốt nghiệp đại học, đã rủ bốn người bạn cùng lớp lập ra một hãng nhỏ trong nhà chứa xe, chế tạo ra chất liệu để làm những món hàng dùng cho Bộ Quốc Phòng, hãng phát triển rất nhanh và thành công. Bây giờ nó cũng định theo chân ba nó làm kinh doanh. Cũng chẳng biết chừng, con nít nói rồi lớn lên có khi làm thật.

Xong việc ngoài vườn, bà Diệu trở vào bếp nấu miếng xôi trong nồi cơm điện để ăn với lạp xưởng cho bữa trưa. Cậu con Út rất thích món này nên bà làm dư ra để cho nó đem về nhà tối nay.

Ăn xong, như thường lệ, ông Lê nằm trên chiếc ghế dựa ở phòng gia đình coi truyền hình và thiu thiu ngủ, còn bà Diệu vào trong ngả lưng một tí trước khi bận rộn nấu bữa chiều cho con cháu.

Bà chợt nhớ đến mới mấy tháng trước đây, khi ông Lê xem trận Super Bowl giữa hai đội Los Angeles Rams và New England Patriots trên đài truyền hình, quen lệ bà Diệu mang thức ăn để lên chiếc bàn nhỏ và rang bắp trong lò vi sóng.

Ông Lê rất mê football nhưng xem một mình thì buồn nên đã chỉ vẽ cho bà để hai vợ chồng cùng coi cho có người bàn cãi và hoan hô. Với lại ngày xưa lúc còn đi làm, bà Diệu hay đi ăn trưa với bạn bè và khách hàng, nên cũng phải biết để góp chuyện với họ, bà không muốn mình cứ ngồi đơ ra như vịt nghe sấm khi họ bàn tán về thể thao, thế rồi từ chiều chồng bà cũng mê xem lúc nào không biết.

Hai người vừa coi trận đấu rất hồi hộp vừa nhai ròn rã, bỗng ông Lê “á” lên một tiếng, nhăn mặt rồi đem tô bắp để lên bàn và nói:

- Mấy cái răng của anh nó kiếm chuyện rồi. Chắc từ nay không ăn đồ cứng được nữa đâu.

Bà Diệu nói:

- Thôi anh ăn pizza vậy.

Bà liếc qua nhìn ông Lê, thấy mái tóc của chồng bây giờ thưa thớt, muối nhiều hơn tiêu trên khuôn mặt gầy gò, điểm đồi mồi cùng những nếp nhăn hằn trên trán và hai đuôi mắt, khiến lòng bà chùng xuống, ngậm ngùi thương cảm cho người bạn đời. Tuổi thanh xuân của hai người đã vội vã trôi đi theo dòng đời xuôi ngược, nhưng bà vẫn thầm cám ơn trời là hai vợ chồng đã nhờ tình yêu thương chung thủy, cùng nhau vượt qua bao nhọc nhằn, khổ đau, mất mát và còn có nhau yên bình trong buổi hoàng hôn của cuộc đời.

Mới ngày nào…trung tâm nơi bà Diệu làm việc đang sửa sang nên mượn tạm hai phòng trên tầng lầu dư chưa dùng tới của ty ông Lê trong Tòa Hành Chánh Tỉnh, tiếng guốc Đa Kao của bà ở trên lầu gõ lộp cộp làm ông nhức đầu và định lên “khẻ chân cái cô mang guốc cao gót”, nhưng khi gặp Diệu, một cô em bắc kỳ nho nhỏ, tha thướt trong chiếc áo dài lụa Hà Đông và nói năng dịu dàng thì ông đổi ý, không còn muốn khẻ chân cô ấy mà lại thăm hỏi vồn vã rồi mời đi ăn trưa để chào đón “người hàng xóm” mới.

Sau đó hai người đã trở thành đôi bạn luôn quấn quít bên nhau và ông Lê thường thân mật gọi bà Diệu là “kẹo chanh” vì tóc bà thơm mùi nước bồ kết nấu với lá hương nhu và nước cốt chanh. Kết quả là hai người nên duyên vợ chồng và có ba đứa con cùng bốn đứa cháu ngoại.

Bây giờ sau mấy chục năm lên thác xuống ghềnh, ở tuổi này tình nghĩa vẫn gắn bó keo sơn. Ngoài tình yêu cho chồng, bà Diệu luôn tôn trọng tư cách của ông Lê. 

Ông là con út, thua người chị lớn cả hai chục tuổi nên rất được cưng chiều và không phải làm việc gì trong nhà nhất là chuyện bếp núc. Khi còn đi làm, mỗi lần trước khi đi công tác xa, bà Diệu đều phải nấu mấy món ăn để trong tủ lạnh cho cha con ông vì cách đây gần bốn chục năm, người Việt ở California chưa bán “cơm chỉ”.

Ngày mới đến Hoa Kỳ năm 1975, khi gia đình ông bà tá túc trong nhà người bảo trợ ở Virginia, chỉ hai ngày sau, vợ chồng họ đã dẫn hai ông bà đến một hãng quen gần nhà để làm việc nhét thư vào phong bì, rồi dán tem, hôm đó vợ chồng kiếm được 32 đô la đầu tiên trên đất Mỹ.

Mấy ngày sau, qua một “cơ quan tìm việc tạm thời”, ông Lê làm phụ việc di chuyển văn phòng cho một công ty. Đầu bên kia là một anh Mỹ da mầu vạm vỡ, mỗi lần anh ta quăng qua ông cái thùng giấy không biết chứa gì ở trong, là một lần ông Lê chúi nhủi ráng gồng lên cho khỏi ngã, nhất là khi phải dời những cái bàn hay tủ sắt, bên kia anh Mễ lực lưỡng nâng lên cao, còn bên này phía ông Lê thì kéo lết sát đất.

Vài hôm sau, ông xin được việc làm cho tiệm thuốc tây Dart Drug. Hằng tuần vào ngày thứ tư, chuyến xe vận tải vừa rộng vừa dài không biết mấy chục bánh xe chở hàng đến, ông Lê cùng với một anh sinh viên làm bán thời gian, hai người phải chuyển những thùng hàng ra khỏi xe tải để hôm sau chất lên kệ, tối về những lóng xương của ông muốn rớt ra từng khúc, bà Diệu phải mở sẵn nước ấm trong bồn tắm để ông Lê nằm ngâm mình cho đỡ đau nhức. Cứ tối thứ ba, là ông nghĩ đến công việc của ngày mai mà rùng mình ớn lạnh.

Ít tháng sau, ông kiếm được việc làm trong tiệm giặt ủi và sửa quần áo cho đỡ nặng nhọc nhưng lại phải đối phó với khách hàng, có người rất khó tính, vạch vòi từng li từng tí, mà tiếng Anh của ông vừa nói bằng miệng vừa múa bằng tay làm sao mà hai bên hiểu nhau được.

Rồi người bảo trợ tìm được cho ông chân rửa chén lúc buổi tối cho một tiệm ăn Hy Lạp sang trọng. Cái ngân phiếu lương đầu tiên của ông bị trừ mấy chục đồng vì ông đã đổ hết đống vỏ ốc của món “escargot” đáng lẽ phải rửa đi để dùng lại.

Làm việc ở tiệm ăn này, tuy rửa chén bằng máy, nhưng phải tráng bao nhiêu ly, đĩa bằng nước nóng trước khi bỏ vào máy, mà tiệm ăn càng sang thì họ dùng chén đĩa càng nặng để giữ thức ăn được nóng lâu. Thỉnh thoảng, đang ở chỗ rửa chén nước nóng hổi, người đầu bếp sai ông vào tủ đá lấy thịt, cá ra cho họ nấu. Tủ đá này là một “căn phòng nhỏ chứa đồ đông lạnh”, thế là sự thay đổi đột ngột từ quá nóng sang quá lạnh rồi lại thật nóng khi ông trở về phần rửa chén, cơ thể ông Lê không kịp điều chỉnh nên hắt hơi một tua cả chục cái, từ đó bệnh hắt hơi đeo đẳng ông. Có một đêm ông thất thểu đi bộ từ tiệm ăn về đến nhà lúc 3 giờ sáng vì chiếc xe đạp, phương tiện để đi làm của ông đã bị mất cắp mặc dù ông đã cẩn thận xích nó vào gốc cây phía sau tiệm.

Ông Lê sẵn sàng làm những công việc lao động dù nặng nhọc thế nào, để kiếm tiền nuôi gia đình, mà không hề buồn bực hay than vãn, ông vẫn thường bảo, “Bao nhiêu thằng bạn còn bị tù đày không biết ngày về, cái đau trong lòng mới đáng kể chứ cái khổ thể xác thì có xá gì.”

Phần bà Diệu, sau mấy cuộc phỏng vấn khó khăn, gay go, bà bảo trợ đã giúp bà kiếm được việc làm cho National Council on Alcoholism, công việc văn phòng hợp với khả năng và ý thích của bà nên cũng tạm ổn.

Còn ông Lê thì quá vất vả và cực nhọc, nhất là giờ giấc việc làm tréo cẳng ngỗng của hai vợ chồng khiến không có cơ hội gặp nhau.

Buổi sáng khi bà Diệu thức dậy đi làm thì ông Lê đang ngủ vùi vì ông mới chạy xe đạp lóc cóc lên đồi xuống dốc từ tiệm ăn về đến nhà lúc 2 giờ sáng. Khi bà Diệu về nhà lúc 7 giờ chiều sau hai chuyến xe buýt thì ông Lê đã đi làm để phục vụ bữa tối cho tiệm ăn.

Thấy thế, vài tháng sau vợ chồng nhà bảo trợ đã đề nghị ông Lê thôi việc để đi học lại, một mình bà Diệu đi làm tần tiện vén khéo cũng đủ sống, khi ông Lê học xong có việc làm rồi thì đến lượt bà trở lại trường. Vậy là bà Diệu một mình kiếm cơm còn mọi người trong gia đình, từ ông Lê đến hai đứa em bà và ba đứa con nhỏ đều đi học.

Qua bao nhọc nhằn gian khổ của buổi ban đầu, ba năm sau hai vợ chồng quyết định dời Virginia, nơi khí hậu quá khắt khe, dọn qua San Jose, tiểu bang California lúc kỹ nghệ điện tử ở thung lũng hoa vàng đang bùng phát, dễ kiếm việc làm và khí hậu hợp với người Á Châu hơn. Nơi đây hai ông bà may mắn kiếm được việc làm tương đối vững chắc nên cùng nhau gắng sức xây dựng một gia đình êm ấm với tâm nguyện rằng, không cần con cháu làm nên vương nên tướng gì, miễn chúng ăn học chăm chỉ đàng hoàng, sống đúng đắn và lương thiện là mãn nguyện rồi.

Bây giờ tuổi già, ông Lê thích sự yên tĩnh nhàn hạ nên chỉ quanh quẩn trong nhà, đọc sách, lên mạng đọc thư rồi trả lời cho bạn bè, chơi game, xem truyền hình những phim ngày xưa, những chương trình thể thao, nhất là phim thú vật.

Thỉnh thoảng ông đi ăn trưa với những người bạn làm cùng sở trước đây ở San Jose để nói chuyện trên trời dưới đất, hay dự những buổi họp mặt xuân thu nhị kỳ với bạn thời trung học, đại học để nhắc lại thời tuổi trẻ với ước mơ đội đá vá trời. Cuối tuần chơi giỡn với mấy đứa cháu.

Ông Lê không hề tập thể dục hay hoạt động tay chân, lại còn hút thuốc, ăn thịt mỡ, ăn mặn và kẹo bánh suốt ngày, thế mà người lúc nào cũng mảnh khảnh và trời thương cho ông một sức khỏe tốt, đã trên 80 mà ông không bị thứ gì trong bốn bệnh ba cao, một thấp của người già. Ông vẫn thường bảo là những người bạn ông kiêng cữ đủ thứ mà người nào cũng vài ba thứ bệnh, hoặc đang nằm nhà thương, ở viện dưỡng lão hay đã ra đi.

Bà Diệu lần nào cũng nói:

- Anh nên cám ơn trời đã cho anh may mắn như vậy chứ đừng tưởng anh hay mà làm quá.

Không giống như chồng, bà Diệu rất hoạt động. Ngoài giờ làm vườn, nấu ăn và lo cho con cháu, bà thường cùng với bốn người bạn thân đến chùa lễ và làm công quả, đi tập thể dục ở trung tâm cao niên, đi dự những buổi văn nghệ của cộng đồng, đi thăm thắng cảnh, gặp bạn cũ trường xưa, thỉnh thoảng viết dăm ba truyện ngắn, lúc nào bà cũng bận rộn.

Cách đây hơn một năm, hai ông bà đi dự đại hội trường đại học cũ của ông, có gần năm trăm người tham dự và kết thúc với chuyến đi du thuyền năm ngày cùng 99 bạn đồng môn. Những giây phút êm đềm bên nhau kể lại chuyện xưa tích cũ, gọi nhau bằng những “biệt danh” thân thương của từng người như Chung “hói”, Long “cận”, Hậu “vổ”, Thiện “mét”…

Cảnh trùng dương bao la tuyệt mỹ bên những người bạn cùng trường cùng cảnh ngộ, đã từng chia sẻ vui buồn suốt thời gian trên ghế trường đại học rồi được bổ nhiệm làm việc rải rác khắp nơi trên toàn cõi Việt Nam, đã giúp mọi người quên những trầm luân và gập ghềnh của cuộc sống mấy chục năm qua. Trước khi chia tay, các bạn cười đùa rằng đây có thể là chuyến đi chơi xa cuối cùng vì người trẻ nhất cũng ở tuổi bẩy mươi rồi, nghe thật cảm động và thấm thía. Bà Diệu thoáng thấy có vài chị quay đi cố ngăn giọt nước mắt xót xa, thương cảm.

Tiếng lao xao ở phòng ngoài cắt đứt những suy nghĩ lan man của bà Diệu. Vừa ra tới phòng gia đình là nghe con gái nói, “Bốn đứa nhỏ ở đây với ông bà, cậu Út bận đi làm sáu giờ mới về ăn cơm nên tụi con chạy ra chợ Việt Nam một tí về ngay nghe má".  Nhìn ra thấy thằng Ben khệ nệ bưng thùng gì trên tay vừa hổn hển:

- Ông Ngoại ơi, cháu mới được món quà sinh nhật này, ông giúp cháu ráp mấy cái máy bay này nhá.

Tiếng ông Lê:

- Đương nhiên rồi.

Thế là ông cùng hai thằng cháu ngoại Nicholas và Ben, mở tung thùng quà đổ ra bàn nơi phòng khách.

Trong khi đó, con cháu ngoại Sophie hỏi:

- Tuần trước bà ngoại nói cần làm thêm dưa món để gửi xuống quận Cam cho bạn, bà có mua rau củ chưa, hôm nay Lily và cháu sẽ cắt cho bà.

Bà Diệu hớn hở:

- Mừng quá, biết cuối tuần tụi cháu lên nên bà mua sẵn để trong tủ lạnh rồi, dạo này mấy ngón tay hay bị nhức nên bà không cắt nhiều được. Nếu hai đứa làm hộ cho bà thì hai bàn tay của bà cám ơn các cháu nhiều lắm.

Bà giao mấy bịch rau củ cho hai đứa cháu gái, rồi vào bếp lo bữa cơm chiều cho đại gia đình. Trong lúc nấu nướng bà nghĩ thầm, mới ngày nào bồng bế chúng nó trên tay ru khản cả tiếng, rồi đọc hết truyện cổ tích này đến truyện khác thế mà bây giờ lũ cháu đã suy nghĩ nói năng như người lớn và trở thành nguồn sống của ông bà. Cuối tuần nào mà chúng nó bận việc không về được là hai ông bà ra ngẩn vào ngơ. Tiếng cười của bốn đứa cháu đem lại niềm hạnh phúc khiến ông bà quên hết những thăng trầm của cuộc đời, nhọc nhằn nuôi con, trông cháu mà không cần báo đáp.

Trong bếp hai cháu gái đang thi nhau cắt củ cải, dưa leo vừa hát một bài dân ca. Nhìn ra phòng khách thấy ông Lê và hai thằng cháu đang chụm đầu vào nhau, ba mái tóc một bạc, một vàng và một đen, chỉ chỉ chỏ chỏ, lắp lắp ráp ráp, bà Diệu mỉm cười, cảm nhận được niềm vui thật đơn sơ mà hạnh phúc đã tràn ngập trái tim tuổi hạc.

Tháng 4 năm 2019

Lê Nguyễn Hằng

Blog Archive