Showing posts with label Phan Nhật Nam. Show all posts
Showing posts with label Phan Nhật Nam. Show all posts

Tuesday, October 28, 2025

Bắt Đầu Từ Một Đêm Trăng


Một bài viết thật nhiều tình tiết đặc biệt và có chất lịch sử hiếm có mà ít người được biết!...

Trước năm 1975, ở miền Nam có hai nghệ sĩ thổi sáo nổi tiếng: Nguyễn Đình Nghĩa và Tô Kiều Ngân. Nguyễn Đình Nghĩa đã mất ở Mỹ và nghệ sĩ Tô Kiều Ngân (1926- 2012) qua đời tại Sài Gòn. Gởi đến các bạn một bài viết của nhà văn Phan Nhật Nam nói về cuộc đời, cuộc tình của nghệ sĩ Nguyễn đình Nghĩa, ông sinh năm 1940 và mất năm 2005 thọ 65 tuổi. Nguyễn đình Nghĩa được mệnh danh là "tiếng sáo thần", đam mê tiếng sáo ông đã phát minh ra nhiều nhạc cụ về sáo.

Mời các bạn. Ara

Với Quê xa, Ðà Nẵng
Với Trường xưa, Phan Châu Trinh

VÀ MỖI NGƯỜI BẠN LUÔN HIỆN MỚI.

Bạn tôi, nếu mới gặp lần đầu, ta có thể nghĩ đấy là gã tay chơi, kẻ sống theo lề lối, sinh hoạt sôi nổi bề mặt. Cũng có thể đúng như thế, một phần do bạn vốn môn đồ Thiếu Lâm, vô địch điền kinh học sinh, khuôn mặt sắc nét tươi vui, đều đặn. Bạn cũng có thể trở nên một tay hào hoa ăn chơi không âu lo với cung cách quen thuộc của dân học trường Tây, gia đình tài sản lớn. Nhưng, đời bạn đã không theo con đường dễ dàng thuận lợi đó. Bạn chọn ngã chông chênh, nguy biến hơn, cũng là lối đi rực rỡ huyền hoặc của tất cả nhân sinh – Ðường của người-yêu- người với phương tiện đặc thù để diễn đạt tình yêu ấy – Nghệ Thuật. Và bạn đã chọn hướng nghệ thuật hàng đầu – Âm Nhạc – Với thanh sắc kỳ ảo của riêng.

Bạn tôi, là một cô gái tội nghiệp trong số những thiếu nữ hẩm hiu bất hạnh. Bạn không có nét quyến rũ, lộng lẫy dù đang lúc thanh xuân khởi sắc. Bạn chỉ là một vóc dáng nhỏ bé linh hoạt, tóc nâu nhạt và đôi mắt luôn sáng ánh ngạc nhiên, loáng lạ lẫm của tâm hồn đơn giản trung hậu trước những điều dữ dội, đe dọa từ cuộc sống. Bạn mất cha từ tấm bé nên gia đình đã là một điều phiền muộn u uẩn, và lớp học, nơi bạn hằng ngày nôn nao đi về, đôi khi cũng gây nên đớn đau… Tân không có quần áo mới! Tân mặc quần… cháo lòng!”. Gã bạn nhỏ cùng lớp chỉ do nghịch ngợm vô tình nói lên câu ác độc… Bạn bật khóc, lòng ghi sâu mối rúng động gớm ghê. Nỗi xót xa khi trái tim bị xúc phạm. Trong đơn độc tủi hổ của tuổi lớn lên, Bạn như con chim nhỏ giữa đám lá sũng nước. Bạn cảm thấy bị đe dọa, và cần được che chở.

… Hai bạn tôi yêu nhau từ một đêm trăng.

Gã thanh niên quả tình chỉ để ý đến người thiếu nữ như một phản ứng bù trừ. Anh học trường Pháp từ bậc tiểu học nên quen giao tiếp phóng khoáng, văn minh. Từ căn gác của gia đình, ngôi nhà lầu mặt tiền con đường lớn nhất thành phố, hằng ngày anh nhìn thấy cô bé từ xóm nhà nghèo đi ra. Xóm nhỏ phần lớn là nhà tranh quây quần quanh khu đường cát lỡ. Những lối đi cát xám, nhỏ vừa đủ hai xe đạp tránh nhau, chạy vướng vít dưới tàng cây sầu đông, vào mùa Hè thoáng hương thơm ngan ngát theo gió từ vịnh biển tản lan. Cô bé (Khi khởi đầu câu chuyện, chỉ là cô bé gái vừa qua tuổi dậy thì) đã đi từ hẻm cát ra đến gốc cây đa, tiếp tục theo một con lộ khác lớn hơn, cũng là đường đất cát mà bộ hành chỉ xử dụng hai lối nhỏ hai bên, khoảng giữa tâm đường, cát gồ lên gò, đống. Ði hết đoạn đường cát, cô mới rẽ vào phố chính trải nhựa.

Một ngày, không nhớ rõ là bao giờ, người thanh niên thấy ra cô bé… Sao “nó” có nét mặt chịu đựng tội nghiệp đến thế?! Vẻ lặng lẽ cam phận này rất dễ nhận vì cô vốn có nét sắc sáng loáng tinh anh với sống mũi cao thẳng, da trắng và ánh mắt loáng xanh linh động. Anh theo dõi bước chân của cô bé như thế từ lúc nào không rõ. Chỉ biết, Hè vừa qua, cô gái đã là một thiếu nữ toàn hảo, nói lời tiếp xúc đầu tiên: “Thưa anh, em đã đậu trung học, đậu kỳ vừa rồi. Ðậu bình thứ”. Giọng nói trong trẻo, tự tin, chững chạc.

Hai bạn tôi tiếp xúc quen nhau sau ba năm nhìn thấy vào ngày Hè 1958. Mùa sống động nồng nhiệt của tuổi trẻ và đất trời. Họ thường hẹn gặp nhau nơi vịnh biển trong rừng dương liễu. Họ chọn khu rừng gần hồ nước, hướng về làng Thanh Bồ, nơi lau lách, đồng cỏ ngút ngàn, tiếp giáp rừng dương, bờ biển để thiên nhiên còn nguyên độ hoang sơ thuần nhã thích đáng, hòa hợp với tình yêu trong sáng, thắm thiết của họ. Ở đấy không bóng người, chỉ tiếng gió vi vu xao động qua tàng cây và hàng lau nghiêng ngã. Chuyến tàu hỏa chở hàng từ ga chợ Hàn trở về gióng âm thanh xa vắng, thả lên trời vệt khói đen mỏng manh chỉ làm tăng thêm độ u tịch của cảnh sắc. Ðoàn xe đôi khi bị mất hút đâu đó sau ngàn lau… Ở đây yên tĩnh quá anh há.. Người con trai cười nhẹ. Anh chỉ có nụ cười trẻ trung chân thật này, biết nói thế nào bằng tiếng Việt?! Quả thật âm thanh, ngôn ngữ có một khoảng trống không vận dụng được. Chưa vận dụng được. Anh bất lực để nói lên lời cụ thể. Anh cần một cách thức, điều kiện diễn đạt khác, đầy đủ, chính xác, và thắm thiết hơn.

Một mùa Hè, một năm đi qua, nay lại đến mùa Hè thứ hai từ lúc thương mến. Ngày Hè năm 1959, cô gái đột nhiên vắng mặt. Gọi là “đột nhiên” vì do phản ứng của mối liên hệ đang bình thường, đang thắm thiết, bỗng nhiên bị cắt đứt. Người thiếu nữ phải theo đoàn học sinh cùng trường đi cắm trại vào dịp cuối năm. Cô vắng mặt từ sáng sớm, đến chiều người thanh niên động tâm. Chiều, khoảng thời gian sau khi tan buổi học, từ lúc nắng sáng chuyển bóng đêm… Không hẳn thế, thật sự chỉ là ngày hôm qua, chiều trước của buổi chiều ghê gớm này. Anh đạp xe ra vịnh biển, đến nơi vùng lau lách quen thuộc, để chân trần di động trên bãi cỏ, gò cát… Anh đi đến chỗ mép hồ, ngồi xuống, nhặt quả thông, khối cỏ tròn, tua tủa những cọng sắc như lông nhím, thả khối cỏ quay lông lốc theo triền dốc cát… Ðầu ngọn cỏ nhọn sắc đâm vào tay, hơi mát đầm đầm dưới chân, tiếng rì rào của gió khua lá, mặt nước hồ hắt khối nắng vàng khô úa. Hình như tất cả cảnh sắc đang sụp xuống tàn tạ, hấp hối.. Khối đất trời đang đổi thay. Ðang chết. Chịu không nổi, anh trở lại thành phố. Phải đi tìm… Phải đi tìm…

– Ông biết học trò trường Phan Châu Trinh đi cắm trại ở đâu không ?

Người bạn anh, vốn huynh trưởng một đoàn Hướng Ðạo tuy biết rõ tất cả địa điểm cắm trại của vùng núi đồi, thôn dã quanh thị xã, không trả lời liền. Anh ta nhìn vào nét mặt thê lương ủ dột của bạn… Ông làm sao thế? Không có gì, tôi muốn biết họ đi cắm trại ở đâu. Cần lắm. Cuối cùng, cả hai đến chân đồi Mỹ Thị lúc ngày hết và trăng đã lên.

Giải đồi dương liễu loang loáng, hiện ra mới mẻ theo từng khoảng khắc dưới trăng với sợi thân lá óng màu sáng bạc xôn xao chuyển động, xô đẩy đùa trăng đi như liếp sóng.. Ta có cảm giác như những lượn sóng bạc đẩu đâu từ ngoài trùng dương xa xôi sau khi chạm đến bờ đã tràn qua giải cát, theo trăng lên đồi, tiếp ngọn cây, xô liếp sóng lá cồn lên không gian xanh sáng… Nhưng sóng lá thông còn phải đi hết lộ trình bất tận, chuyển xuống chân đồi, phía làng nhỏ và giòng sông, khua mặt nước làm trôi những giải đường trăng thiêm thiếp tan vào bờ lau, in hình khối núi Non Nước chìm chìm im lặng… Trên sóng nước, giữa giòng trăng, từ con đò len lỏi trong lau sậy bạn tôi đưa ống sáo lên môi. Anh dùng nguồn thanh âm của tre trúc thay tiếng lời, những nội dung mà ngôn ngữ bình thường hạn hẹp không nói được. Từ trên đồi cao, mấy trăm học sinh ngồi dậy. Họ đồng im lặng nghe giữa hơi gió cuốn lá, sóng trăng miên man thanh âm chuyển động kỳ ảo – Giọng tiêu trúc ca ngợi, tỏ tình. Người thiếu nữ bật khóc. Bóng lá thông khi gió thổi lệch làm lộ rõ ngấn nước mắt trên má long lanh.

Và, Nguyễn Ðình Nghĩa cùng Trịnh Diệu Tân đã nuôi dưỡng, vượt sống, hiện thực tình yêu hằng suốt hơn ba mươi năm, từ đêm Hè không hề mất độ sáng, và âm thanh tiếng sáo vĩnh cửu màu trăng.

Cần gì phải cậy đến điển tích, sự việc người xưa, chuyện thần thoại… Những Trương Lương, Trương Chi, Orphée để diễn đạt, biểu hiện sức mạnh kỳ diệu của tình yêu, âm nhạc. Ðêm trăng mùa Hè 1959 nơi đồi Mỹ Thị đã không chỉ của riêng Nguyễn Ðình Nghĩa và Trịnh Diệu Tân, mà đã là cảnh sắc, thanh âm, giòng rung động, sức sống của tất cả lớp tuổi trẻ ngày ấy. Tuổi trẻ chỉ có một lần trong đời, mà ba mươi, bốn mươi năm sau ở chốn cuối trời, nơi xứ lạ hoặc còn trong vùng đất nước tang thương… Những người thầy tóc bạc Nguyễn Ðăng Ngọc, Bùi Tấn, Trần Tấn, những người anh, người chị, Trần Ðại Tăng, Trần Ðình Hoàn, Ðặng Thị Liệu, Trần Thị Kim Ðính… Những học trò, Vũ Ngự Chiêu, Nguyễn Bá Trạc, Hà Nguyên Thạch, Bùi Ngọc Tô, Lê Chí Thảo, Tôn Thất Tuấn & Hải, Võ Thị Thương, Lê Thạch Trúc, Lê Như Hảo, Nguyễn Liên Hương, Huỳnh Thị Phú, Võ Hồng Diệp.. Và rất nhiều người. Tất cả đồng một lần xanh ngắt sống lại, một lần linh động phơi phới, khi nhắc lại trường xưa, bạn cũ… Vô vàn tiếng sáo đêm Hè Mỹ Thị sáng giòng trăng.

Và quả thật, một mình tôi sẽ không đủ sức đi hết đoạn đường khó nhọc từ mấy mươi năm qua nếu không được sức nâng thường trực bền bỉ, cụ thể từ bằng hữu. Tôi không thể nào sống qua những ngày trẻ tuổi trầm luân thiếu đói nơi căn gác gỗ đường Tô Hiến Thành, Huế nếu không có Trạc, có Nghĩa, có Dinh…Tôi cũng không thể nào qua khỏi mười bốn năm lính điêu linh nếu không có những Mễ, Lạc, Lô, Tâm… Ðám bạn lính chia với tôi từng ngày, từng giờ bão lửa.

Và cuối cùng, từng phút giây đương cự nơi ngục tối. Tôi biết sống cùng Ai, nếu không với những Người Bạn. Mỗi người bạn hiện hữu rõ từng chi tiết, nét mặt, tiếng lời. Sự thiết thân mầu nhiệm này có thật. Nên từ bóng tối, cảnh chết, tôi đã phục sinh…

Trăng giãi vàng rơi liếp sóng loang
Lau lách im lặng dưới đêm ngàn
Ngũ Hành năm cụm nằm thiêm thiếp
Thuyền chở tiêu sầu qua quá canh
……
Con đâu? Bạn đâu? Trời xưa đâu?
Ðêm đã qua lâu, bóng tối sâu …
Còn chút hơi tàn hong nhịp thở
Nhớ Người ghìm tiếng thét chìm đau…

Nguyễn Ðình Nghĩa không chỉ vận động giòng âm hưởng từ ống trúc để bày tỏ tình yêu. Anh hiện thực, hữu hiệu hóa khối năng lực thanh âm kia thành phẩm lượng vật chất để nuôi dưỡng, duy trì, khai triển tình yêu kia trong đời sống. Anh cùng Người Yêu kết hợp từ tiếng sáo đêm trăng, bỏ Ðà Nẵng vào Sài Gòn những ngày đầu thập niên 60. Cả hai vào Sài Gòn với tay trắng. Tay trắng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng- Chỉ với cây sáo trúc và tình yêu. 

Nhưng chuyện thần tiên và chuyện cổ tích của Nghĩa -Tân được hiện thực hóa ở Sài Gòn với đại nạn chiến tranh, trong căn nhà bốn thước bề ngang, hai mươi thước dọc nơi hẻm nhỏ đường Phan Văn Trị, Nancy. Nguyễn Ðình Nghĩa dựng nên thế giới thanh âm tre, trúc ầm vang giòng xe luôn náo động của hai con đường lớn nhất Sài Gòn-Chợ Lớn, Trần Hưng Ðạo và Cộng Hòa, hòa nhịp với tiếng gõ xe mì, xe hủ tiếu âm động của dãy thùng hứng nước từ đầu hẻm và lẽ tất nhiên, chuỗi rầm rì liên tục mệt nhọc của nhà máy đèn Chợ Quán. Trong hẻm lao động tồi tàn náo loạn đó, Nguyễn Ðình Nghĩa đã hoàn thành “tác phẩm” lớn của đời mình – Nuôi dưỡng vợ, và ba con từng ngày bằng tiếng sáo. Diệu Tân thành người khoa bảng và các con khôn lớn trưởng thành. 

Chuyện thần thoại có kết thúc rất cổ điển và trung hậu: Nguyễn Ðình Nghĩa là cây sáo số một của Việt Nam, của miền Nam …”Có một thằng cha bên Tàu, và một cha nữa bên Tây, hai cha này thổi hay hơn moi !!” Nghĩa đã nói với tôi như thế hơn hai mươi năm trước. Tôi nhìn quanh căn nhà lổng chỗng đồ đạc tồi tàn, chiếc xe đạp treo trên tường, tấm bảng đen đầy bụi phấn, đống áo quần dơ, sô nước, và Diệu Tân lấm lem khói bếp…”Ông nên “nhường” cho hai cha ấy đi, sống thế này mà “thổi” được như ông là Thánh”. Ít khi nào lời nói đùa mang độ thật đến như thế. Nguyễn Ðình Nghĩa lúc ấy, “cây sáo số một” của Việt Nam, gã Orphée tân thời chỉ một chiếc quần xà lỏn trên mình. Nóng từ mái tôn hắt xuống như đang trong lò bánh mì… Hỏi ai có thể “thổi” hay hơn bạn được?! Chỉ cho tên một người khác đi, trước đây hoặc bây giờ.

30 tháng 4, 1975 sập xuống, cùng một lần với Miền Nam, Nghĩa và gia đình bị đuổi ra khỏi căn nhà hẻm Phan Văn Trị… “Sáo với tiêu, rõ nỡm, cái đống tre này chỉ đun được nồi cơm là phèo!” Gã cán bộ chỉ vào đống ống trúc đang chờ đục lỗ nói với giọng khinh miệt rẻ rúng. Nghĩa và Diệu Tân trở lại miền Trung sau hai mươi lăm năm. Khác với lần di chuyển vào Nam ngày trước, chuyến đi với can đảm tuổi trẻ, và lãng mạn tình yêu. Hôm nay, hai người có khối nặng của ba con, và nỗi thấm nhục bị miệt thị. Hành vi cao thượng của người Nghệ Sĩ bị đánh giá thành hoạt động hèn mọn phục vụ chính trị suy đồi: “Chỉ có bọn Ngụy mới trả tiền để anh thổi sáo cho chúng. Cách mạng chúng tôi không cần. Nhân dân ta chỉ cần đánh Mỹ, thắng Mỹ, và thi đua lao động.” Nghĩa và gia đình không về lại Ðà Nẵng, anh đưa vợ và ba con đi xa hơn… Nơi hẻo lánh, vùng núi miền Trung.

Và chuyện thần thoại được thực hiện lần thứ hai. Cái khó không bó được cái khôn, với điều kiện chúng ta phải khôn. Sự cùng khổ đôi khi không là tai họa nếu chúng ta có sức vượt qua cùng khổ. Ở miền núi, tiếp xúc với những người sắc tộc Bahnar, H’mong, Rhadé… Nghĩa dần khám phá ra khối lượng nhạc khí độc đáo, kỳ ảo của họ, với cây đàn T’rưng, nhạc khí gõ sơ khởi vỏn vẹn năm ống tre, đầu mắc vào cột, một người ngồi giữ dây, một người gõ. Người Bahnar (vùng núi Quảng Nam, Quảng Ngãi chạy qua Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuộc xuống Bình Long, Nam bộ) chỉ vận dụng được một cung năm ngũ âm đơn giản để dùng trong việc liên lạc, mời gọi họp bạn hoặc các buổi tế lễ như hạ trâu, cưới xin, mở cửa mả. 

Năm 1978, có mặt trong buổi liên hoan âm nhạc đồng bào sắc tộc Việt Nam tại Nha Trang, Nghĩa nẩy ra ý nghĩ khi nghe đàn T’rưng cải tiến (từ một nhạc công người Nam đem ra Bắc năm 1954). Ðàn T’rưng cải tiến thành cung Mi trưởng, có đầy đủ một hợp âm bát độ giúp Nghĩa có so sánh: “Nếu chỉ với một ống sáo nhỏ bé anh đã tạo nên hằng hà âm giai, âm sắc biến hóa kỳ ảo, thì huống gì đây những năm ống tre, cũng từ tre, trúc mà ra thôi”. Anh gọt không phải hằng chục, hằng trăm, hàng ngàn, mà hằng chục ngàn ống tre… Chọn lọc, nấu luộc, phơi nắng, cất giữ để có những ống tre tối ưu – Ðể buồng hơi (chambre à air) tạo nên âm thanh tuyệt đối thuần túy – Một cung cộng hưởng tối đa. Căn nhà của anh trở nên một rừng tre nhân tạo tua tủa những ống tre. Từng ngày với từng ống tre được gọt theo từng 1/5, 1/10 milimetre một… 

Năm 1981, Nghĩa hoàn tất chiếc đàn T’rưng đồ sộ gồm 27 ống có khả năng tiết tấu bốn bát độ. Ngoài ra, anh phải cậy đến một sáng kiến khác của người Nhật Watanabé, nhạc sĩ này đã tìm ra một “gam vô tình” cũng có thể gọi là “gam mềm” sau khi gắn vào thêm hai ống. Chiếc đàn 29 ống hoàn chỉnh. Bộ trưởng Văn Hóa (Cộng Sản) Lưu Hữu Phước không thể nào vùi lấp sáng kiến và tài năng của Nghĩa, cũng một phần, đây là điều đáng hãnh diện của người Miền Nam sau khi Hà Nội sáng chế nên cây gõ hai đầu; cây gõ nguyên thủy chỉ một đầu.

Nguyễn Ðình Nghĩa được chính phủ Cộng Sản – Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chấp nhận – Phải chấp nhận – Người nghệ sĩ Miền Nam này là một tài năng đích thực. Tài sản lớn của tất cả Việt Nam. Thái độ này là một biểu hiện điển hình của thú nhận: Sau mấy mươi năm chỉ huy miền Bắc, những người lãnh đạo cộng sản đã thành hình được một khối lượng lớn (rất lớn) văn hóa phẩm gồm những bài hát chỉ được hát một lần ở đài phát thanh; những ấn bản toàn tập chỉ được mua bởi cơ quan chính phủ; những tranh, tượng dùng để trang trí ở các phòng họp, hội trường nhà nước. Họ cũng dần hiểu rõ, “mặc cảm” cần được tiêu trừ (Như một cấp lãnh đạo miền Bắc đã nói cùng cố học giả Nguyễn Hiến Lê: “Miền Nam nên từ bỏ “mặc cảm tự ti” vì lạc hậu, phản động (do thua trận), và miền Bắc cần từ bỏ “mặc cảm tự tôn (do đã thắng trận”)- thật sự là “mặc cảm” của đám tổng, lý sau khi ăn bạc, và cơn say bữa rượu thịt chó của chính họ. Quả tình tôi rất thấm hiểu “cơn trả thù của người nghệ sĩ” khi nhìn thấy hàng hàng cán bộ lãnh đạo, viên chức nhà nước, những văn nghệ sĩ “cấp cao” cộng sản nối đuôi nhau vào xem và tranh mua những họa phẩm của “bọn họa sĩ Ngụy”: Nguyễn Trung, Ðỗ Quang Em, Ðằng Giao, Phạm Cung, Nguyễn Hải Chí (Chóe). Tranh của cụ Nguyễn Gia Trí đã là một “Tài sản Quốc gia”. Tranh và những họa sĩ đã bị khinh miệt vất bỏ từ buổi sáng ngày 30 tháng 4, 1975.

Nguyễn Ðình Nghĩa đã là một “”trả thù” xứng đáng nhất. Nhân tiện đây, tôi có ý nghĩ, đồng bào hải ngoại chớ nên gay gắt cùng với những văn, nghệ sĩ hiện còn ở Việt Nam nếu như họ có phần “cộng tác” cùng chế độ, chính quyền cộng sản ở đấy. Tại sao ta không chia phần “hãnh diện” vì người Việt Nam (Người ở miền Bắc, Hà Nội lại là đa số) chỉ tìm đọc Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần, Hoàng Hải Thủy, Nguyễn Thụy Long, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Hoàng… và đến cả Bà Tùng Long, cụ Hồ Biểu Chánh. Họ hát “Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc” của Phạm Duy, bài “Hát Cho Một Người Vừa Nằm Xuống” của Trịnh Công Sơn, và “Người Ở Lại Charlie” của Nhật Trường từ phòng giam Trại 5 Lam Sơn, Trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa, Trại Hà Nam Ninh. Người miền Nam có hề “thua” đâu. Thấy như thế. Nghĩ như thế.

Nhưng chuyện thần kỳ của Nguyễn Ðình Nghĩa không dừng lại ở đấy, ở Việt Nam. Anh đến Canada năm 1984; tháng Giêng 1987 nhân dịp Tết Việt Nam, anh xuất hiện ở phòng hòa tấu Ðại học Toronto và liên tục trình diễn qua các cơ sở văn hóa, giáo dục vùng Ðông-Bắc nước Mỹ. Anh không đứng trên sân khấu một mình. Sau lưng, và hai bên anh bây giờ đã có toàn thể khối lực hỗ trợ… Những Ðoan Trang, Nam Phương, Nguyễn Ðình Nghị, và tiếp theo, Nguyễn Ðình Hòa và Chiến. Ðây không còn là những đứa bé trèo lên vai, bám lên cổ anh ở hai mươi năm trước, mà đã là người thiếu nữ Việt Nam làm sống động âm thanh khắc khoải gờn gợn của Ðộc Huyền (Nam Phương); người dựng lại khối âm thanh rực rỡ của Thập Lục (Ðoan Trang), và những cây guitar điện kỳ ảo, sống động, giàn trống hào hùng với Nghị, Hòa, Chiến… Tất cả đã hòa nhịp cùng chiếc đàn T’rưng đồ sộ 29 ống của Nghĩa hiện thực nên điều – Âm nhạc với nhạc khí cổ truyền Dân Tộc Việt Nam là một thế giới kỳ diệu do từ nội dung sâu lắng, phong cách, kỹ thuật trình diễn điêu luyện tế vi.

Buổi trình diễn ngày 2/6/1994, tại Thính Ðường Carnegie Hall, Ðại học Kỹ Thuật New York là một xác chứng về câu chuyện có vẻ không thực của một gia đình tên gọi Nguyễn Ðình Nghĩa. Vì sau gần trăm năm thành lập, phòng hòa âm ấy chỉ dành riêng để các bậc thầy trình diễn về các bậc thầy, những Beethoven, Mozart, Wagner… Nhưng nguồn sống động làm phấn khởi, thúc dục tôi viết nên bài này không phải là giải thưởng của Thống Ðốc Tiểu bang Maryland về “Nghệ Sĩ Ðộc Tấu Xuất Sắc” năm 1994 mà Nghĩa vừa nhận được hôm 12 tháng Sáu tại Baltimore. Có một điều gì cao quý và sâu xa hơn. Ðấy là dự định mà tôi tin chắc Nghĩa sẽ thực hiện được – Làm sống lại Beethoven, Tchaikovsky, Debussy… Bằng lửa. Với lửa. Nghĩa là Nghĩa sẽ tái cấu trúc, hoàn chỉnh lại cây “Ðàn Lửa” của người Vân Kiều (vùng núi Bạch Mã, Cầu Hai, Thừa Thiên), một loại đàn đã bị thất truyền và không người có khả năng khôi phục. Lửa sẽ được đốt lên (tất nhiên từ một hệ thống lò ga thay vì lửa trại, lửa rừng), chuyền hơi nóng qua những ống tre lớn, do Nghĩa đã nắm được cấu trúc từng tế bào tre, trúc. Và những hợp tấu khúc lớn của các bậc thầy sẽ được dựng nên, bừng dậy như ánh lửa chập chùng hằng cháy sáng từ ngày khai sinh sự sống trần gian.

Nhưng cuối cùng, cũng không hẳn như thế. Chẳng phải vì tài hoa đặc dị của bạn mà tôi viết nên lời. Tôi cảm động vì một điều đơn giản. Về một điều rất đơn giản, tầm thường, nhưng thấm thía, cảm động, xót xa.

…Ngày xưa, buổi rất lâu của hơn bốn mươi năm trước, những ngày của thời gian trước 1954. Tôi lúc ấy là đứa trẻ nhà nghèo thường hay nhặt những hạt, hột không tên, vô vị nào đó để lót lòng vào buổi, giờ xa bữa ăn vốn quá thiếu thốn. Hạt cây quăn vị ngọt nhầy nhầy mủ trắng, hạt trái mâm xôi xám trắng trong trong. Và trong những lúc lẫn quẩn nơi bụi hoang, bãi cỏ để tìm kiếm loại “lương thực” tội nghiệp kia, giữa tiếng lá kiền kiền khô cuốn trong cỏ tranh, trên mặt đường đất đá lồi lõm vùng ngoại ô Ðà Nẵng… Giữa tịch mịch của thanh âm nắng, gió, lá, cỏ kia tôi nghe vọng tiếng chim… Tít … tít ..tít … tịt …t..tịt ..tịt… Chim kêu tắt tắt, chậm chậm và lịm dần. Tôi không biết tên chim nhưng cò ý nghĩ… Chim chắc cũng đang chịu phần tội nghiệp hẩm hiu. Cũng chưa thấy dáng chim lần nào. Năm 1993, nơi vườn Lái Thiêu, giữa khoảng xanh dầy của tàng măng cụt, tôi trải chiếc chiếu ngủ dật dờ trên đám lá, nắng cuối năm vàng khô lạnh lạnh. Chẳng khá hơn tình cảnh của đứa bé bốn mươi năm trước, và nghe lại tiếng chim…Tít …tít ..tịt ..tịt ..tịt… Chim gì kêu buồn quá ông ơi!! Chịu không nổi. Tôi phải nói lên cùng Út Năng, ông bạn già chủ vườn tôi ở.

– Thì chim “mồ côi” mà cha…

– Mồ côi? Ai mồ côi ?!!

– Ông không nghe ra à… père…mère…frère… tout est perdue … Mất hết trơn như vậy làm sao mà không kêu..

– Ờ… há, vậy là con chim giống tôi. Hèn gì hồi nhỏ tôi đã nằm lặng ra mà nghe.

Và tôi đã nghĩ có mấy ai trong đời phải mất hết trơn đến tội như thế. Và có ai trong đời hằng phải nhớ đến một tiếng chim. Nhưng không, trong những bài nhạc do Nghĩa soạn cho sáo, đàn có nhiều bài về chim, bài Phụng Vũ, bài Chim Loan, và bài Chim Boong Klé…

– Boong Klé là chim gì? Tôi hỏi bạn.

… Chim “mồ côi” đó mà… Ở Ðà Nẵng, thuở nhỏ toa có nghe lần nào không?

Vâng, Nghĩa và Tân ạ, tôi đã nghe tiếng chim ấy, và tôi cũng đã đôi lần kêu với nó. Thật ra rất nhiều lần. Vẫn đang kêu cùng chim.

Quê hương tôi có loài chim mồ côi
Mẹ chết, mất cha, anh em phiêu tán
Lắng âm tiếng hiểu dần nên nguồn cội
Chim và Người cùng thấm khổ ÐAU thôi.
Tháng lúa chín, mùa “Chim Mồ Côi”.
Cũng tháng đầy tuổi, 9-9-55.

Xóm Tân Tuyền,
Thành Hựu Tống,
Bang Tiến Xa

Phan Nhật Nam

Thursday, July 22, 2021

Người lính, sống chiến đấu, chết linh thiêng

Để nhớ ngày 14, 15, 16 Tháng Chín, 1972 nơi Quảng Trị…
Cờ Bay! Cờ Bay. Vừa chiếm lại hôm qua bằng máu!”

Dẫn nhập

Sau ngày mãn khóa Trường Đà Lạt, 23 Tháng Mười Một, 1963, tôi qua tuổi hai mươi về trình diện Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù ở Biên Hòa, giữ chức Trung Đội Trưởng Đại Đội 72, chức vụ thấp nhất của hệ thống chỉ huy lục quân. Từ giờ phút mang chiếc sac marin đi giữa hai hàng lính nhảy dù vào văn phòng tiểu đoàn trưởng cuộc đời tôi hoàn toàn đổi khác…

Nay 56 năm sau, một ngày Tháng Chín, nhân qua kỳ sinh nhật 77 tuổi (9 Tháng Chín, 1943-2019, ngồi vô tình (nhưng không phải là “vô cớ” – Sẽ trình bày rõ “không phải là vô cớ” ở phần cuối bài viết) nhớ lại khoảng thời gian, quãng đời thăm thẳm trải qua với những biến cố chung của thảm kịch Việt Nam, của Miền Nam với cảm giác bàng hoàng, kinh ngạc, hãi sợ… đến mức nói ra lời: “Sống như vậy chết còn hơn nhẹ hơn…” Không dám nói lời ngoa ngôn, tự xưng tụng, vì đây chỉ là những vụ việc đã xảy ra, thường hằng qua thân phận Người Lính/ Người Lính Bình Thường đã Sống/ Chiến Đấu/ Chết Với Miền Nam/ Tổ Quốc Việt Nam/ VNCH – Ngay tại hôm nay. Xin chứng minh.
Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù - Từ trái sang : Thiếu tá Phạm Kim Bằng, Trung úy Nguyễn Phước Trọng, Đại úy Nguyễn Viết Thanh, Đại úy Đoàn Phương Hải, ?

Một
Ngày 11 Tháng Sáu, 1965, đụng trận Đồng Xoài (Quận Đôn Luân, Bình Dương), Đại Đội 72 chịu chung nghiệt cảnh của Tiểu Đoàn 7. Đơn vị rơi vào phục kích của Q762 (Trung Đoàn 2 của Sư Đoàn 7 Bộ Binh thuộc Trung Ương Cục Miền Nam, dưới quyền của Trần Văn Trà). Sau khi rút kinh nghiệm từ Trận Bình Giã, Phước Tuy, giao chiến với TĐ4/TQLC và Biệt Đông Quân (Tháng Mười Hai, 1964), phía cộng sản vùng Bình Dương, miền Đông Nam Bộ chuẩn bị trận địa Đồng Xoài từ đầu năm 1965.

Đơn vị cộng sản đánh Đồng Xoài đã thực tập trên sa bàn, xong tập điều động trên thực địa… Đến ngày 10, lực lượng Trung Đoàn 2 được tăng cường thêm một tiểu đoàn địa phương, tấn công chiếm đóng một phần Chi Khu Đôn Luân, tiếp tổ chức phục kích quân nhảy dù tăng viện. Thế nên, chỉ trong một giờ, Tiểu Đoàn 7 bị thiệt hại nặng với 14 sĩ quan, chết, bị thương, bị bắt. Từ tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, sĩ quan hành quân trở xuống đến cấp trung đội trưởng, trừ Đại Đội Trưởng ĐĐ74, (Đại Úy L.V. Phát). Đại Đội 72 chỉ còn khoảng 10 người! Bản thân là viên thiếu úy mang cấp bậc cao nhất còn lại với Chuẩn Úy Dương Văn Chánh.
Tướng Tư Lệnh Trương quang Ân

Chánh là em của phu nhân Dương Thị Thanh, Người Bạn Đời Chiến Đấu với Tướng Quân Trương Quang Ân, Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Chuẩn Tướng Tư Lệnh Trương quang Ân nguyên là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 8 từ 1960; tiếp Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 2 ND, Đại Tá Tỉnh Trưởng Gia Định, 1966 trước khi nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Nhị vị đồng hóa thân trong lửa vào Ngày 8 Tháng Chín, 1968 trên chiến địa Đức Lập; phu nhân Dương Thị Thanh cũng là một Nữ Quân Nhân Nhảy Dù.

Như một cách an ủi, nâng đỡ, được chỉ định giữ chức Quyền Đại Đội Trưởng Đại Đội 72. Đại đội trưởng thì cũng chỉ biết ngồi ôm mấy nhỏ con lính khóc tấm tức nơi văn phòng đại đội trống vơ trống vốc. Bà vợ viên Trung Sĩ Trung Đội Phó Tăng Màn Tài phải khuyên can. Thôi thiếu úy đừng khóc nữa bình tâm để mà lo cho mấy ông! Để tránh cái huông của TĐ7, Bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn (chưa thành đơn vị Sư Đoàn) đặc cách cho Thiếu Úy Nam Xương (danh hiệu truyền tin chết tên cho đến hôm nay dẫu quá lâu không mặc áo lính) lên Trung Úy, chuyển về Tiểu Đoàn 9 tân lập ở Sài Gòn giữ chức Đại Đội Trưởng ĐĐ93/TĐ9.

Chuẩn Úy Chánh ở lại Đại Đội 72 với quân số mới bổ sung, đặt dưới quyền của Trung Úy Phạm Ngọc Bích từ Tiểu Đoàn 3 (Sài Gòn) chuyển về. Nguyên ĐĐ72 do Trung Úy Trần Quốc Lịch đưa về Biên Hòa khi Tiểu Đoàn 7 thành lập, 1960. Cũng do người ở Bộ Tư lệnh có quan niệm: Đại Đội 72 nguyên của tiểu Đoàn 3 (thì) đưa người chỉ huy của Tiểu Đoàn 3 về chỉ huy sẽ được phần tâm lý tin cậy.

Ngày 11 Tháng Mười Hai, 1965 (lại một ngày 11), toàn thể đại đội 81 người đồng tử nạn phi cơ trong chuyến bay từ Phú Bổn về Tuy Hòa. Năm 1974, 14 bao đựng xác được thu hồi, nhưng mãi đến năm 2012, tất cả mới được nhận dạng, xác định tính danh. Năm nay (2019) được phía Bộ Quốc Phòng Mỹ thông báo chính báo chính thức. Tôi đọc danh sách tử sĩ rơi máy bay năm 1965, nhớ lại cách ân cần của Trung Đội Phó Tăng Màn Tài (gốc người Nùng). “Mầy thiếu úy có ăn cơm không tao nấu cho.” hoặc lời thở than của hai Binh Nhất Phan Niên, Phan Thỏn (mang đạn đại liên). “Ôn ơi (Thiếu Úy Nam), ở ngoài mền (ở Quảng Trị), nghèo quá, tên không có chữ lót!!”

Tháng Chín, 2019, Nhân Đại Hội Nhảy Dù nơi vùng Nam Cali, tôi viết lại tình thế của người, việc thuộc Đại Đội 72/TĐ7ND của 54 năm trước; Viết xong đề ngày, tháng trước khi gởi đi: 4/9/19 – Đúng KHÔNG SAI MỘT SỐ – Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù – KBC 4919.

Linh Thiêng Người Lính không ngừng lại nơi yếu tố số hiệu 4919. Đại Đội 72/ Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù được tái hiện thực ở phần viết sau.

Hai
Những ngày Tháng Tư, Năm năm 1976, đám tù cấp đại úy ở Trại Long Giao, Long Khánh rơi vào tình trạng “chết trong cảnh sống” có thật trong sau đợt biên chế chuyển số lượng người thuộc thành phần “tiến bộ” đi những nơi nào không rõ. Thành phần đông đúc còn lại nhìn quanh quất đồng thấy ra… “Chết rồi, chỉ còn tụi mình, dân “ác ôn, mang nợ máu với nhân dân. Theo định giá tội danh nặng nhẹ của cộng sản: “Nhất rằn ri, nhì phi pháo!” Cả bọn ngưng đi lao động bên ngoài, ngày ngày ngồi thấp thỏm nhìn ra hàng rào chập chùng thêm nhiều lớp kẽm gai… Công việc duy nhất là đào giao thông hào ở những nơi khuất vắng. Giao thông hào sâu 3 thước, bề ngang chỉ vừa một thân người! Đám tù xì xào. Bọn nó bắt mình đào hầm chôn tập thể đây. Từ hầm hào, Nam Xương nhìn lên chỉ thấy một khoảng trời xanh với cảm giác rã rời. Không lẽ đời mình xong ở đây?! Với loại hầm nầy không cần phải bắn bỏ gây tiếng động, chỉ cần chốn sống, lấp đất là xong như ở Trường Gia Hội, Huế, Tết Mậu Thân 1968 chính bản thân đã chứng kiến.

Ngày 19 Tháng Sáu năm 1976, từ đầu đêm lệnh khẩn cấp di chuyển với đoàn xe trùm bạt phủ kín đợi sẵn. Đám tù trại Long Giao thì thầm an ủi. Như vậy nó không bắn, chắc di chuyển mình đi chỗ khác?! Đi đâu với hai bánh lương khô như thế nầy. Không biết? Xe di chuyển về hướng Sài Gòn thấp thoáng ánh đèn nơi xa, người ngồi sau thùng xe, hé tấm bạt nhìn ra ngoài xì xào thông báo.. Xe tới bến Tân Cảng. Chắc nó đưa mình đi Côn Đảo… Cũng được an ủi, còn ở Miền Nam!!

Nam Xương bước xuống xe nhìn về hướng Sài Gòn. Đâu là Tân Định? Đâu là Phú Nhuận? Nhà mình nơi đâu, vợ con như thế nào từ Tháng Sáu năm ngoái, 1975?! Mới một năm mà sao đã ngàn dặm thăm thẳm xa cách. Sài Gòn, Bến Tân Cảng như một chốn không còn. Một nơi không phải của Miền Nam?! Đám tù chập choạng bước lên cầu thang xuống hầm tàu Sông Hương. Ngàn con người bước đi không tiếng động. Xác ma cũng chỉ có khối im lặng thắm đậm nầy… Ùm! Ùm!! Âm động của khối nặng rơi xuống nước.. Súng nổ giòn, đường đạn bay xuống mặt sông… Đám lính áp tải cao giọng… Khẩn trương! Khẩn trương… Thúc hối đám tù đang đợi trên sàn bến cảng chờ lên tàu.

Nam Xương tựa vào sàn cầu thang, nhìn xuống mặt đen chập choạng ánh sáng bên mạn tàu. Cũng không khó bước chân qua, và lao mình xuống! Anh vụt thấy ánh sáng của Sài Gòn rực rỡ, hùng tráng. Ngày bao hùng binh tiến lên… Đoàn quân uy nghi qua khán đài… Chào tay… Chào! Trung Úy Phan Nhật Nam đưa tay chào lẫm liệt qua vành nón Mũ Đỏ Nhảy Dù theo lệnh Đại Úy Liêu Quang Nghĩa! Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu, 1965 – 11 năm trước. Hôm nay, Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu, 1976. Ngày bao hùng binh tiến lên! Người Tù Phan Nhật Nam vững vàng, thản nhiên bước lên cầu thang, vào hầm chở súc vật tàu Sông Hương với nhắc nhở tự thân: Mình lên Trung Úy Ngày Quân Lực -19 Tháng Sáu năm 1965 sau Trận Đồng Xoài.

Ba
Những ngày Tháng Chín, 2019 nơi vùng Nam Cali dày đặt những sự kiện… Danh Dự Người Lính VNCH bị những thành phần vô lại hạ nhục với tất cả hạ tiện, thô tục. Cay đắng hơn, không thiếu sự tiếp tay (vô tình và hữu ý) của những người từng mặc áo lính, được gọi là “chiến hữu” nay chỉ mặt, cáo buộc lẫn nhau chung một tội danh “cộng sản.” Thủ Đô Người Việt Tỵ Nạn vắng mặt toàn thể hệ thống Nhà Xuất Bản in sách, phổ biến văn hóa phẩm của các tác giả Miền Nam trước 1975. Các trung tâm sản xuất băng, dĩa CD, DVD chủ đề Nhạc Vàng đồng loạt đóng cửa; Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Người Thương Binh Việt Nam Cộng Hòa hằng năm mất hẳn một nửa khí thế vì thành phần ca nhạc sĩ (chuyên hát miễn phí) của Trung Tâm ASIA, SBTN đã bị phân tán, không thể tập trung, tổ chức lại. Dọc Dường Bolsa, Thành Phố Garden Grove, Westminster, những quán ăn đi từ Sài Gòn sau 30 Tháng Tư, 1975 nay phần lớn đã đổi chủ. Chủ nhân và thành phần người làm mới có cung cách, ngôn ngữ “chiêu đãi, phục vụ “vô tư” của Hà Nội, Nha Trang, Đà Nẵng… nay đang dần “Trung Quốc lai”. Lòng nặng trĩu tâm lý, phản ứng của những ngày Tháng 3, 1975 khi đứng trên đèo Hải Vân, sáng 30 Tháng 4, 1975 đứng trước Hạ Viện Sài Gòn thấy ra lần… Thật Chết Với Quê Hương!


Bản tin căn cứ từ bài viết trung hậu cao thượng của Jim Webb – Ông vốn là Sĩ Quan Thủy Quân Lục Chiến từng chiến đấu tại Nam Việt Nam; trở về Mỹ, được nghỉ hưu vì thương trận, ông trở thành Thượng Nghị Sĩ Đảng Dân Chủ, đại diện Tiểu Bang Virginia; từng giữ chức Bộ Trưởng Bộ Hải Quân; Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng Phụ Trách Văn Phòng Trừ Bị… 

Nhưng dẫu phụ trách những chức vụ cao trong chính quyền cũng như quốc hội, Jim Webb do dấu tích không phải nhạt của chiến tranh Việt Nam, cũng do Phu Nhân Hồng Lê với tấm lòng thắm thiết đối với Việt Nam, với Miền Nam, Jim Webb đã viết nên lời cảm kích: “Tưởng Nhớ Những Người Lính Bị Bỏ Quên Của Miền Nam Việt Nam” (Remember South Vietnams Forgotten Soldiers).

Ông nhắc lại sự việc thương tâm bi tráng… “Chiếc vận tải cơ C-123 của quân đội Hoa Kỳ bị bắn rơi trong Chiến Tranh Việt Nam, mang theo những quân nhân đồng minh của chúng ta bị mất tích từ đó đến nay. Những hài cốt của họ không có quê hương. Biết vậy nên tôi phải hành động. 

Jim Webb nêu lên nguyên lý trung hậu từ William Gladstone, một thủ tướng Anh trong thế kỷ thứ 19: “Chỉ cho tôi xem cách thức một quốc gia hay một cộng đồng chăm sóc những người chết của họ. Tôi sẽ đo lường với sự chính xác mức độ cảm thông tế nhị của những con người sống trong cộng đồng đó, sự tôn trọng luật pháp của họ đối với đất nước, và sự trung thành của họ đối với những lý tưởng cao cả.” 

Jim Webb không nói lý thuyết xuông, ông thực hiện nên thành hành vi cao thượng: Qua nhiều năm vận động giới lập pháp, hành pháp Mỹ.., vào ngày Thứ Sáu, 13 Tháng Chín, 2019, một chiếc phi cơ của Không Quân Hoa Kỳ sẽ chuyên chở hài cốt trộn lẫn của 81 quân nhân nhảy dù thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ Hawaii, nơi mà họ đã được cất giữ trong cơ sở của quân đội trong hơn 33 năm qua đến California. Và vào Ngày 26 Tháng Mười, một buổi lễ tưởng niệm và vinh danh trang trọng theo nghi thức quân đội sẽ được tổ chức dành cho những Người Lính đã hy sinh tại Westminster, tại Little Saigon.

Kết từ
Hóa ra anh linh người lính đã vô cùng linh hiển…

Ngày 13 Tháng Chín năm 1972 tại mặt trận Quảng Trị qua rạng sáng sáng 14 Tháng Chín, từ những căn hầm chiến đấu người lính thấy rừng rực lá cờ Vàng Ba Sọc bay uy nghi trong gió sớm lẫn màn khói đạn, bom chưa tan hẳn. Họ thấy cay cay trong mắt với cảm giác nôn nao thầm lắng. Cảm giác muốn khóc về một điều bi phẫn. Những khuôn mặt chai cứng, hư hao, loang lổ khói đạn, bụi đất đồng duỗi ra theo độ sáng của ngày với vẻ kiên cường kiêu hãnh xen lẫn đau đớn kìm giữ. Người Lính nhìn xuống những xác binh sĩ đồng bạn mới đem về, nằm bó gọn trong những poncho phủ bụi đất, bê bết máu.

Nay, Ngày 13 Tháng Chín, 2019 Đồng Bào Tỵ Nạn Cộng Sản vùng Little Saigon tiếp nhận hài cốt của 81 Người Lính Nhảy Dù đã hy sinh để hôm nay có được Tự Do trên đất Mỹ.

Công việc mà Người Chiến Hữu Jim Webb đã thực hiện với một tấm lòng do suy nghĩ viết ra lời cao quý… Nếu Người Mỹ không chỉ chăm sóc cho những người chết của mình mà còn chăm sóc những người từng chiến đấu cùng với chúng ta. Những người lính vô danh VNCH xứng đáng được tưởng nhớ với danh dự và nhân phẩm. Buổi lễ sắp tới sẽ đi xa hơn việc tưởng nhớ sự hy sinh và hành trình dài năm thập niên của Người Lính VNCH đã hy sinh mạng sống khi còn trẻ tuổi cho lý tưởng tự do cho một quốc gia mà nay đã không còn. Cuộc hành trình buồn nhưng vĩ đại của những người lính bị lãng quên từ trận địa Việt Nam sẽ mang đến một kết cục cho nhiều người khác đã tự trả giá và tìm đường đến nước Mỹ để được sống Tự Do.

Thưa cùng Chiến Hữu Jim Webb về một điều rất Linh Thiêng mà ông không nói ra: 26 Tháng MƯỜI là QUỐC KHÁNH ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA, 26 THÁNG MƯỜI, 1955.

Phan Nhật Nam

Wednesday, July 26, 2017

Nước Mỹ Khốn Cùng... Thiệt!



Dẫn Nhập

Năm 2016 hai ứng cử viên tổng thống Donal Trump và Hillary Clinton ra tranh cử với những khẩu hiệu chiến lược có nội dung mạnh mẽ, kích động.. Ông Trump hứa hẹn: Make America Great Again/ Tái Lập Nước Mỹ Vĩ Đại. Bà Clinton thúc dục: Stronger Together/Hãy cùng Nhau Trở Nên Mạnh Mẽ Hơn. Hai người không nói suông và tự thân tuyên ngôn riêng mà cả nước Mỹ đồng lòng cùng họ qua lá phiếu ở mỗi tiểu bang có nhưng tỷ lệ khác nhau.. Cuối cùng ông Trump thắng với số phiếu 279 Cử Tri Đoàn, và Bà Clinton được 218 phiếu. Kết quả số phiếu Cử Tri Đoàn như thế, tuy nhiên, cụ thể hơn là Bà Clinton được 60. 274.974 phiếu phổ thông, và ông Trump được 59.937.338. Riêng ở Tiểu Bang California, Bà Clinton có số phiếu áp đảo, 5.589.936 so với 3.021.095 của ông Trump. 

Từ số liệu kết quả bầu cử của Tiểu Bang Cali, người viết trình bày bài ghi nhận qua những hoạt cảnh xẩy ra ở California, cụ thể hơn ở Santa Ana. Cũng cần nói rõ, người viết quá tuổi 70 không thuộc đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ; không liên hệ với bất kỳ một hội đoàn, tổ chức xã hội, chính trị nào của tất cả các sắc dân sinh sống trên đất Mỹ, ở Cali, tại thành phố Santa Ana. 

Bài viết chỉ có mục đích, xuyên qua khẫu hiệu và kết quả bầu cử của năm 2016 thấy ra điều chung quyết là: Hơn 100 triệu người Mỹ đồng có yêu cầu PHẢI THAY ĐỔI -PHỤC HỒI NƯỚC MỸ VĨ ĐẠI- LÀM CHO NƯỚC MỸ MẠNH TRỞ LẠI!

Vâng, phải thay đổi, phải phục hồi sự vĩ đại, làm cho nước nước Mỹ mạnh trở lại chứ không thể nào khác vì nước Mỹ quả tình đang yếu dần, đang xuống cấp! Xin chứng kiến những hoạt cảnh sau đây trong 24 giờ đồng hồ nơi Thành Phố Santa Ana

Hoạt Cảnh Một: Sau lưng Civic Center của Thành Phố Santa Ana có thiết lập một sân vận động nhỏ gồm một sân cỏ cho môn đá banh, football, bóng chày, và hệ hống sân bóng rỗ nhiều trụ cột, lưới rỗ. Trong thời gian có lớp học, sân được dùng làm nơi huấn luyện thể chất cho trường trung học của địa phương. Sáng 25 tháng 7, vào ngày hè, lớp học thể chất của trường trung học không có, thay vào đó trên sân (được nhân viên vệ sinh thành phố chăm son khá sạch từ ngày hôm trước).. được chiếm dụng bởi những đám người từng cặp nam nữ trẻ tuổi (trang bị xe đạp, tấm skateboard, tóc highlight nhiều màu sắc, y phục thời trang phổ thông..) Những cặp nam nữ nầy bày thức ăn sáng sau một đêm ngủ rãi rác chung quanh, trên sân.. Sau bữa ăn sân trở nên một bải rác ngỗn ngang bao, thùng giấy, rác!

Khi mặt trời lên khá cao, những nam nữ trẻ tuổi nầy tản mát dưới những tàng cây chung quanh; những nhân viên vệ sinh( ?) đi thu nhặt rác lăn lóc trên bãi cỏ. Một dấu hiệu khả quan về kỹ luật, vệ sinh tại một địa điểm sinh hoạt cộng đồng được giữ gìn, tôn trọng? Không hẳn thế! Khi sân được dọn tương đối sạch, một đám người đàn ông lớn tuổi hơn (Thân thể mập phì, đầu hói, bụng bự - Không phải lứa tuổi thanh niên thể thao chuyên nghiệp) với y phục hỗn tạp tập trung chia phe đá banh.. Trận bóng tròn diễn ra giữa những cá nhân không chuyên nghiệp, chỉ cốt để qua một buổi sáng - Buổi sáng Thứ Ba - Thời đoạn làm việc của xã hội Mỹ - Nếu muốn phục hồi nước Mỹ vĩ đại và làm nước Mỹ mạnh hơn.

Hoạt Cảnh Hai. Tình trạng nơi sân cỏ sau Civic Center kia có thể chỉ xẩy ra do một vài cá nhân riêng rẻ, rảnh rỗi không có việc làm chăng? Xin kể tiếp hoạt cảnh thứ hai, xẩy ra nơi Bệnh Viện Garden Grove, Thành Phố Garden Grove.. Người viết phải nhập viện khẩn cấp lúc 1 giờ sáng ngày 25 tháng 7 do di chứng Tuyến Tiền Liệt bị sưng.. Khi vào đến nơi sau khi lập xong thủ tục nhập viện ngồi ở phòng đợi, nhìn quanh.. Phòng có khoảng 6, 7 người đang ngồi đợi - KHÔNG AI CÓ DẤU HIỆU ĐAU ĐỚN BỆNH HOẠN GÌ CẢ - Tất cả bình thường tiếp tục những công việc riêng.. Gọi cell phone, text mesage, trò chuyện sống động với nhau (Điễn hình với cặp nam nữ người Việt trẻ).. Họ đến đây làm gì nhỉ? Cá nhân bản thân phải ngồi đợi hơn một giờ nên thấy thêm những vụ việc: Có những người từ phòng bệnh được cho ra về nhưng thay vì ra về họ lại trở vào phòng đợi tìm chỗ ngủ, KHÔNG AI CÓ THÂN NHÂN ĐẾN ĐÓN. Tổng hợp số người ngồi đợi (sẵn) từ trước cộng với số người được cho ra về có thể cho kết luận: Đây là những người cần một chỗ qua đêm, đi vệ sinh nên đã chọn bệnh viện là nơi hành xử, thực hiện nhu cầu của họ. Nhưng bệnh viện Garden Grove không chỉ có vậy...

.. Một chiếc xe van chạy tới đậu ngay trước Phòng Cấp Cứu (Emergency). Cách lái xe mau chóng, thành thạo chứng tỏ nhân sự quen việc, quen chỗ, Hai thanh niên người Hoa (chắc chắn là người Hoa Lục với y phục có những hoa văn, màu sắc không có ở cửa hàng Mỹ) dìu một thiếu nữ mang thai sắp đến giờ lâm bồn.. Bằng hành vi mau chóng, quen việc của loại người chuyên dịch vụ (chứ không phải là thân nhân) với một loại tiếng Mỹ nhát gừng, thô thiển. Hai thanh niên giúp thiếu nữ nhập viện với Passport của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, màu gạch non. Nhóm ngồi đợi tỏ vẻ như quen với hoạt cảnh nầy nên không ai chú ý. Bản thân cá nhân phải ngồi đợi thêm một giờ nữa nhường ưu tiên nhập viện (chỉ do MỘT nhân viên bệnh viện phụ trách) cho thiếu nữ người Hoa mang thai.

4 giờ sáng tôi được xuất viện, trở lại phòng đợi thì nhóm người đợi trước đã hoàn toàn vắng mặt, chỉ có vài người (vừa) xuất viện nay ngồi ngủ lại. Và chiếc xe van lúc trước nay trở lại với hai thanh niên người Hoa khác với một thiếu nữ sắp sinh với passport nước CHNDTQ! Nhân viên bàn giấy tiếp tân không lộ vẽ ngạc nhiên, hoàn tất thủ tục nhập viện nhanh chóng bình thường. Không loại trừ trong thời gian cá nhân tôi vào phòng điểu trị, chiếc xe van nầy đã hai, ba lần ra vào với những thanh niên người Hoa chuyên nghiệp dịch vụ đưa sản phụ vào nhà thương!

Kết luận

Đám người chơi đá banh, ngủ, ăn sáng nơi sân cỏ sau Civic Center ở Santa Ana; những đứa trẻ thai sinh hằng đêm nơi Bệnh Viện Garden Grove ( chắc chắc cùng lúc với nhiều, rất nhiều bệnh viện khác nữa (?!)) SẼ TĂNG RẤT NHANH DÂN SỐ SO VỚI NGƯỜI MỸ GỐC ANGLO SAXON, CAUCASIAN. CŨNG VƯỢT QUA DÂN SỐ HẬU DUỆ NHỮNG CHIẾN BINH MỸ GỐC DA DEN THUỘC TRUNG ĐOÀN MASSACHUSETTS 54 BỘ BINH TÌNH NGUYỆN TRONG TRẬN NỘI CHIẾN NĂM 1863. Đấy là những người Mỹ yêu cầu "Make America Great Again" hoặc "Stronger Together"! 

Và không những thế, thế hệ người Mỹ hùng tráng vượt sa mạc tiến về miền Viễn Tây trên lưng ngựa, với Thánh Kinh đọc hằng đêm; người Mỹ dựng cờ Sao và Sọc trên Đỉnh Suribachi trong mặt trận Iwo Jima ngày 23 tháng Hai, 1945.. Hầu như tất cả đã vắng bóng! Còn lại chăng những người Mỹ trốn lính, đốt thẻ trưng binh.. được đánh giá là "Những Người Yêu Nước" như cách nói của John Kerry! Hoặc như Jane Fonda kẻ tố cáo người tù binh sĩ quan Hoa Kỳ với cộng sản Hà NỘi. Jane Fonda đã được Tổng Thống Obama xếp hạng người đàn bà lừng danh của Thế Kỷ 20! 

Nước Mỹ sẽ vĩ đại lại như thế nào, mạnh mẽ hơn làm sao với những người của hai hoạt cảnh kể trên với những tài danh, chính khách như John Kerry, như Jane Fonda? 

Nước Mỹ sẽ làm gì với một hệ thống truyền thông không dám gọi đích danh kẻ khủng bố - Thủ phạm đã giết 14 đồng bào của mình trong cuộc tàn sát ngày 3 tháng 12, 2015 ở San Bernadino, California. Phòng Báo Chí Tòa Bạch Ốc cũng chỉ gọi đấy là " những kẻ nghi ngờ" huống gì ai?!

Nước Mỹ không lẻ khốn cùng thiệt vậy sao?!

Phan Nhật Nam
Viết sau Ngày 4 Tháng 7 của Mỹ

Thursday, November 5, 2015


Nhật Trường Trần Thiện Thanh
Thanh Âm bất diệt, vượt quá Sự Chết..

Phan Nhật Nam
Nhật Trường Trần Thiện Thanh là người nghệ sĩ sống nổi trôi theo cùng với vận nước và cuộc chiến đấu bi tráng của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa trong suốt cuộc chiến 1960-1975 nơi Miền Nam.

Thế nên, dẫu thuộc về thế hệ trẻ tuổi lớn lên sau 1975, không kinh nghiệm, liên hệ với cuộc chiến vừa qua. Theo diễn tiến thứ tự thời gian, qua các nhạc phẩm thì chúng ta gần như có đủ một bức tranh tổng thể cho cả miền Nam, lịch sử chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ 1954 đến ngày tàn cuộc 30 tháng 4 năm 1975.

Nhật Trường –Trần Thiện Thanh đã viết về người lính với những dòng nhạc ngợi ca, lời thơ trữ tình, biểu hiện những ước mơ nhân bản. Những nhóm từ ngữ: “Anh không chết đâu anh.. Nhớ anh trời làm giông bão.. Người yêu của lính.. Từ khi anh thôi học, từ khi anh khoác áo trellis..” đã trở thành ngôn ngữ quen thuộc của người Miền Nam trong đối thoại, tiếp xúc khi nói về những sinh hoạt, cảnh sống thực tế. 

Phá Tam Giang vùng Quảng Trị-Thừa Thiên được biết ra, nói tới nhiều hơn không phải chỉ qua những lời thơ (đã trở thành quen thuộc như ca dao)… “Yêu em anh cũng muốn vô. Sợ truông nhà Hồ. Sợ Phá Tam Giang..” nhưng đã được hiện đại hóa, thông tục hóa bởi Chiều Trên Phá Tam Giang – Nhạc phẩm Trần Thiện Thanh phổ thơ Tô Thùy Yên trải dài khắp Miền Nam qua tiếng hát Nhật Trường. Và lẽ tất nhiên, những giòng nhạc này đã bị cắt đứt bởi những người đã đoạt chiếm miền Nam. 

Nhưng nay, ba-mươi-bẩy năm hơn sau ngày 30 tháng Tư, 1975 cuộc tập họp đông đảo của hàng ngàn khán thính giả là một thực chứng: Người Nghệ Sĩ luôn sống mải trong chúng ta. Nhật Trường Trần Thiện Thanh quả thật đã… “Không Chết Đâu Anh” như dòng nhạc bất tận về “Người Anh Hùng Mũ Đỏ tên Đương” mà anh đã một lần tha thiết dựng nên.

Nhật Trường-Trần Thiện Thanh đã xây dựng những ca khúc, hát nên tiếng lời ca ngợi Người Lính với một tấm lòng – Tấm Lòng của Bằng Hữu. Bởi Tình Chiến Hữu. Điều đáng nói trước tiên là anh đã thực hiện công việc cao quý kia không phải do yêu cầu từ những cơ quan tâm lý chiến trong hay ngoài quân đội, do một nghiệp vụ thông tin, tuyên truyền, nhưng bởi thôi thúc của Bổn Phận – Bổn Phận được xác định như một Nhiệm Vụ Tự Nguyện – Nhiệm vụ của một Người Lính đối với Chiến Hữu còn sống hay đã chết. Và qua nhiệm vụ tự nguyện nầy, bằng tài năng kỹ thuật điêu luyện, cao độ (thật ra chỉ là mặt hiện thực từ, của “ý thức tình nguyện tận hiến” làm nền tảng), Trần Thiện Thanh đã viết nên, kể lại câu chuyện vô vàn về đời sống, lần yêu mến thiết tha, khi chia ly cuộc tình, buổi gục chết bi thảm.. của những đơn vị con người trong muôn một nơi Miền Nam – Những nhân vật ở đời sống bình thường (của mỗi chúng ta) nhưng đã phải kinh qua những tình huống, điều kiện sống vô vàn nguy biến suốt một cuộc chiến cực độ khắc nghiệt – Người Lính Miền Nam – Nhân vật hằng bị xuyên tạc, mạ lỵ bởi một kẻ thù thâm độc, cũng như từ tập đoàn “người bạn đồng minh” quá đỗi thực tế đến độ nhẫn tâm.

Chúng ta có thể kết luận mà không sợ sai lầm, nếu không có con đê vững chắc bảo vệ dậy nên từ giòng nhạc, tiếng hát của những Chiến Sĩ Văn Hóa-Văn Nghệ nhiệt tâm như Nhật Trường-Trần Thiện Thanh thì ắt hẳn ngày nay chúng ta (cùng những thế hệ Người Việt trẻ tuổi ở hải ngoại cũng như trong nước) đã là những đối tượng bị tác động một cách dễ dàng thuần thục do chính sách vận động, tuyên truyền phát xuất từ nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội.

Nhật Trường Trần Thiện Thanh đã sống đủ cơn cào xé đau thương chung của Miền Nam ngay từ ngày 30 tháng 4, 1975, và cùng cả nước sau ngày uất hận kia với tâm chất trung hậu mẫn cảm của người Người Nghệ Sĩ – Lần lăng nhục dài lâu chỉ chấm dứt vào năm 1993 – Khi anh ra khỏi nước trở lại cùng chúng ta và thế giới âm nhạc đã bị người Cộng Sản thô bạo đóng chặt từ 1975 ở Việt Nam.
Đồi 31 ở mặt trận Hạ Lào, tháng Hai, 1975.. Đại quân Miền Nam gồm: Sư Đoàn Nhẩy Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Sư Đoàn I Bộ Binh, Lữ Đoàn I Thiết Kỵ, và Liên Đoàn I Biệt Động Quân cùng vượt biên giới Lào-Việt tiến đánh vùng hậu cần Tchépone của cộng sản Bắc Việt trên đất Lào. Lữ Đoàn 3 Dù gồm các Tiểu Đoàn 2, 3, và 8 giữ mặt Bắc của trục tiến quân. Vị trí Đồi 31 của Tiểu Đoàn 3 Dù được Pháo Đội B3 Pháo Binh Dù do Đại Úy Nguyễn Văn Đương chỉ huy yểm trợ. Vòng đai cực Bắc của Biệt Động Quân bị tấn công trước; tiếp vị trí Đồi 30 của Tiểu Đoàn 2 Dù bị công phá.. Cuối cùng, chỉ còn lại Căn Cứ Đồi 31 giữa vòng vây của một sư đoàn Bắc Việt (tỷ lệ 1 chống 15). 

Ngày 25/2, Đồi 31 bị tràn ngập, Đại Tá Nguyễn Văn Thọ và toàn ban tham mưu lữ đoàn đồng bị bắt, căn cứ chỉ còn khẩu pháo cuối cùng, Đại Úy Đương hạ ngang nòng bắn thẳng vào toán quân cộng sản theo xe tăng T54 ào lên đồi chiếm mục tiêu, và ông gục ngã với khẩu pháo cuối cùng bị phá hủy. Trần Thiện Thanh dựng nên chân dung bi tráng hùng vĩ của Người Lính… 

Anh không chết đâu anh.. Tôi vẫn thấy đêm đêm một bóng dù sáng trên đồi máu. Nghe trong đêm kêu gào từng tiếng súng pháo đến mau. Và tiếng súng.. Tiếng súng hay nhạc chiêu hồn đưa anh đi mau.. Đi mau!! Anh không chết đâu em.. Anh chỉ vừa bỏ cuộc đêm qua.. Trong những tiếng reo hò kia kia.. Lẻ loi tiếng súng anh nhiệm mầu.. Ôi tiếng súng sau cùng đó.. Anh còn nghe tầm đạn đi không anh…” .

Ngôn ngữ, cấu nhạc bi hùng của khúc hát đã thăng hoa về lần quyết tử lẫm liệt của Đại Úy Nguyễn Văn Đương, và những chiến binh, pháo thủ của Lữ Đoàn 3, Tiểu Đoàn 3 Dù, pháo đội B3 nơi Đồi 31; cũng như toàn thể những người lính của các đơn vị, Bộ Binh, Biệt Động Quân, TQLC, Thiết Giáp, Pháo Binh đã gục ngã nơi chiến điạ Hạ Lào… Không có tinh thần hiệp sĩ hiến thân của Người Lính không thể viết nên tiếng lời cực độ cảm khích nầy. Không có tấm lòng từ nhân xót đau của Người Nghệ Sĩ không thể cấu tạo nên giòng nhạc bi tráng thắm thiết như trên…

Quê hương nồng nàn âm sóng biển, mùi muối mặn ấy đã nuôi lớn, phát triển nên tâm chất sung mãn, nhân ái của người nghệ sĩ, nên sau nầy dẫu khi xa khuất, trên đường hành quân, nơi những vùng đất khổ quê hương.. Giọt mồ hôi khô trên môi vẫn âm vang mùi muối thơ ấu ngày xưa, và trước mắt thoáng hiện vô hồi.. 

Vùng hoang vu bóng dừa bờ cát dài. Gió lên từng chiều vàng.. “ Người nghệ sĩ đã mang quê hương theo cuộc lữ của mình…

Khoảng giữa thập niên 1960, Nhật Trường-Trần Thiện Thanh từ giã học đường để trở thành người lính, rồi cũng từ đó Nhạc Lính của ông ra đời. Với những bài ca gần gũi, phản ảnh tâm trạng của người trẻ tuổi vừa xa cuộc sống bình yên, nhưng vẫn còn nguyên tính thơ mộng nhân bản của tuổi mới lớn.. Nhưng những người lính trẻ đầy tính thơ mộng trong Tình Thư Của Lính dần tiếp cận chiến tranh… và họ chạm dần đến biên giới cuối cùng của Sự Chết vào một thời điểm không thể nào quên. 

Chiến trận Mậu Thân, Tết 1968 đỗ xuống toàn Miền Nam với những cái chết được xem như tai ương không bề tránh thoát.. Từ lần chết bi thảm oan khốc của ngàn người dân vô tội bị chôn sống nơi Trường Gia Hội, Bãi Dâu, Khe Đá Mài, Núi Ngũ Tây ở Huế.. đến cái chết bất ngờ giữa đêm Giao Thừa khi đang thắp hương, cúi lạy trước bàn thờ nơi Hàng Xanh, trong Chợ Lớn, ở Xóm Mới, Gò Vấp.. Thế nên, đến khi bài hát Rừng Lá Thấp của Trần Thiện Thanh vang lên, người dân thấm hiểu nên điều cao quý: Hóa ra họ đã sống sót được từ máu xương Người Lính. Miền Nam đã tồn tại, vượt qua trận lửa là do lần hy sinh không hề được xưng tụng từ ngàn vạn người lính vô danh – Những Người Lính chết khắp nơi suốt Miền Nam, mà nay, vừa nằm xuống không đâu xa, nơi chân Cầu Bình Lợi, trong đám lá lục bình sùi sụt bùn hôi, ở cửa ngỏ Sài Gòn đường đi Thủ Đức, Lái Thiêu… 

Sao không hát cho người đánh giặc trên cầu.. Khi bùn lầy còn pha sác áo xanh. Trong khói súng xây thành, mắt quầng thâm mất ngủ.. Sao không hát cho những bà mẹ từng đêm ngóng con xa.. Hay hát cho những người vừa gục xuống chiều qua”?

Trần Thiện Thanh không chỉ viết lời ai điếu bi tráng riêng cho Đại Úy Vũ Mạnh Hùng của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến – Đơn vị đã chận địch tại Hàng Xanh, Cây Thị, Cầu Sơn, Cầu Bình Lợi qua Rừng Lá Thấp, mà sau đó đã dựng lại phút giây khốc liệt của Phước Thịnh, Đại Úy Trần Duy Phước, Tiểu Đoàn 9 Nhẩy Dù nơi chiến địa Tây Ninh trong Giấc Ngủ Trên Đồi Xanh

Anh cũng đã cùng Đại Úy Phi Công Trần Thế Vinh bay lên cao vào nơi bất tận trong Bay Lên Cao Đi Anh.. qua cái chết bão lửa khi con tàu lao xuống bắn cháy chiếc xe tăng cộng sản thứ 21 nơi chiến trường Trị-Thiên tháng Tư, 1972. 

Trần Thiện Thanh cũng sống đủ với người chết xác liệm ba lần, Đại Úy Thiết Giáp Nguyễn Ngọc Bích nơi chiến trường La Vang, Quảng Trị trong nhưng ngày Hè đỏ lửa quê hương.. Những người tuổi trẻ không trở lại với cuộc đời sau lần đi khuất lẫm liệt.

Trên Đỉnh Mùa Đông là một ca khúc hợp soạn giữa Trần Thiện Thanh cùng người em ruột của ông, Thiếu Úy Trần Thiện Thanh Toàn, một sĩ quan trong QLVNCH, mà tựa đề đã được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh xử dụng trong vở nhạc kịch cùng tên. Tác phẩm nầy đã làm tuôn chảy bao nước mắt cảm xúc từ khối đông khán giả mà vai nữ chính trong vở nhạc truyện Trên Đỉnh Mùa Đông luôn được giao cho nữ ca sĩ kiêm tài tử điện ảnh Thanh Lan được đánh giá là nghệ sĩ diễn xuất sống động thích đáng nhất bên cạnh Nhật Trường – Do từ mối đồng cảm thâm sâu giữa nghệ sĩ trình diễn và nghệ sĩ sáng tác – Giải thích hiện tượng nầy không khó đối với trường hợp của Nhật Trường-Trần Thiện Thanh, bởi như chúng ta hằng nhận ra: Chỉ do từ Phẩm Chất Nghệ Sĩ – Những Nghệ Sĩ Thật Sự tài năng luôn tạo nên mối đồng cảm chân tình giữa họ và khối đông gồm: Những người trình diễn – Những khán thính giả.

Nam Lộc kể tiếp câu chuyện bi thảm có thật (như muôn vàn câu chuyện tan vỡ, chia ly, tử biệt trong chiến tranh, nơi Miền Nam): 

Thiếu Úy Phạm Thái gặp gỡ Mộng Thường trên chuyến bay Air VN sau khi mãn khóa sĩ quan Đà Lạt về Sàigòn trình diện Bộ Chỉ Huy BĐQ, trước khi lên đường tác chiến. Tình yêu nảy nở dần theo thời gian giữa hai người tuổi trẻ.. Liên Đoàn BĐQ của Phạm Thái trách nhiệm gánh nặng chiến đấu tại mặt trận An Lộc ngay từ giờ mở đầu chiến trận, những ngày tháng 4 năm 1972. Phạm Thái bị thương và ghi nhận là mất tích. Tin người yêu tử trận về đến Sài Gòn khiến Mộng Thường bàng hoàng đau đớn tột độ. Nhưng bỗng có một ngày Phạm Thái lại rạng rỡ trở về tìm đến với người yêu trong hình hài toàn vẹn. Anh đã được một Bà Xơ cứu thoát và dấu trong nhà thờ cho đến khi bình phục. Phạm Thái trở lại An Lộc, được vinh thăng Trung Úy, anh viết thư báo tin người yêu, 

Mộng Thường đi xe đò lên dự buổi lễ gắn lon, nhưng định mệnh nghiệt ngã, chiếc xe đò trúng mìn cộng sản tan nát thành mảnh vụn. Mộng Thường vĩnh viễn ra đi về thế giới bên kia, bỏ lại nỗi đau đớn tận cùng của người yêu, chàng sĩ quan trẻ mang tên Phạm Thái. Nhạc phẩm Tình Thiên Thu, Nguyễn Thị Mộng Thường được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết nên để tiếc thương hình bóng Mộng Thường cùng mối tình đã chết theo cuộc ly biệt đau thương trong thời chiến.

So sánh với những người viết nhạc cùng thời về Chủ Đề Lính, thì có lẽ ít ai để ý đến nhiều khía cạnh trong cuộc đời và thân phận người lính bằng Trần Thiện Thanh, và đó cũng là lý do để những bài nhạc của anh đã làm cho cả một hậu phương đang thờ ơ bỗng trở nên biết yêu thương, kính phục người lính; thúc dục người lính hãnh diện hơn đối với cuộc sống quân ngũ của bản thân và đồng đội. 

Anh được mệnh danh là “Nhạc Sĩ của Lính” bởi ảnh hình người mặc quân phục, nét sắc, sinh hoạt của người lính tràn ngập hầu như toàn diện trên các nhạc phẩm.. Trần Thiện Thanh viết về đủ các quân binh chủng.. Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Bộ Binh, Không Quân, Hải Quân.. Mỗi bài đều mang những nét đặc sắc của những người lính trong đơn vị binh chủng ấy, như bài Hoa Biển, đã trở thành bài hát thuộc lòng của những người thủy thủ.. 

Hai bài hát viết vào thời Tết Mậu Thân 1968 là bài Bà Tư Bán Hàng chuyện của một bà mẹ tự hào có những người con đi lính trận, và một bài khác là bài Chị Ba Hàng Xanh, chuyện một người đàn bà bình thường nhưng đã dũng cảm cầm dao chống lại những kẻ có vũ khí khi toán bộ đội cộng sản tràn vào khu xóm trong giờ phút Giao Thừa thiêng liêng cổ tuyền dân tộc. 

Hình như ít ai biết được Trần Thiện Thanh là tác giả bản Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hành Khúc – Khúc quân hành nung lòng chiến đấu của đội ngũ chiến binh kiệt liệt của Quân Lực Miền Nam – Đơn vị bộ binh chận giặc nơi vùng địa đầu đất nước qua lằn ranh Khu Phi Quân Sự nam Sông Bến Hải.

Mùa hè 1966, rừng núi Tây Nguyên, thủ phủ Pleiku bày tràn cảnh tượng chiến tranh.. Đại pháo ngày đêm ầm vang xé núi, dội rung thành phố, và khoảng không gian luôn bị chia cắt bởi những đoàn phi cơ với đôi cánh sắt màu xám bạc vùn vụt xé ngang bầu trời, để lại những âm động rì rầm đe dọa… Thị xã Pleiku trở nên là một ”Thành Phố Lính” điển hình với những người lính đội nón sắt, lưng đeo giây đạn mệt nhọc di chuyển khắp nơi; xe nhà binh, chiến xa chạy ngang dọc bốc bụi mù đỏ chạch, hay kéo lầy bùn ố bẩn vào con đường phố chính.. Trong khung cảnh chiến tranh đè nặng xuống vùng thủ phủ Tây Nguyên, Trần Thiện Thanh đã mô tả, sống cùng chiến tranh – người lính qua nhãn giới rộn rã của tình yêu bất diệt luôn hiện diện với con người.. Điển hình thời điểm sáng tác nầy, 1965-1966 chúng ta có thể kể ra ca khúc Tuyết Trắng để làm dấu mốc khởi sự.
Nếu ngày trước, qua Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn được diễn ngâm bởi Đoàn Thị Điểm, chúng ta có hình tượng người đi chinh chiến: Áo chàng đỏ tựa ráng pha. Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in. Chàng từ đi vào nơi gió cát. Đêm trăng nầy nghỉ mắt phương nao.. Thì nay, qua Tuyết Trắng, Trần Thiện Thanh đã mô tả nên một hoạt cảnh hào hùng nhưng không kém phần lãng mạng, thơ mộng của Việt Nam thời binh loạn.

 “Phi đạo chạy dài anh cất cánh bay lên.. Ngã nghiêng cánh bay, con tàu khép lại một vùng tuyết trắng ngần…”. 

Từ trên cao, giữa tầng mây lớp lớp, Người Nghệ Sĩ hiện sống giữa bầu trời, trên mặt đất quê hương, để từ đấy viết nên lời ngợi ca hồn hậu rất hiện thực mà cũng tràn đầy nhân tính.. (qua lần thay lời cho người phi công đang lái con tàu trong một một phi vụ tác chiến..) để nói về nỗi thương nhớ đối với một người yêu khi con tàu lao vào giữa vùng mây bảo. 

“Khi nắng chiều buông, không gian chợt tối.. Xóa nhòa vùng tuyết trắng mênh mông…”

 – Mà thật sự cũng là một bẫy chết có thể xẩy ra bất cứ lúc nào – Bởi đạn phòng không của bộ đội cộng sản (những đơn vị nặng chính quy Miền Bắc) rất dễ dàng bắn hạ chiếc phi cơ quan sát mỏng manh mà người bạn phi công đã bất chấp luật lệ an phi chấp thuận cho Nhật Trường tháp tùng

Chúng ta cũng cảm nhận được “sức mạnh nhân bản” của ca khúc (dẫu chẵng phải là một tuyệt tác hàng đầu nghệ thuật), nhưng đã tồn tại trên bốn-mươi năm, và chắc chắn ngôn ngữ, thanh âm, thuần hậu của Trần Thiện Thanh… 

“Mây dâng thật thấp, mây vương lụa trắng… mây pha mầu nắng…” sẽ tiếp tục tồn tại như khối tuyết vân tinh khiết, vĩnh cữu có khả năng xóa mờ những “chân mây đỏ máu in hình nòng súng cao xạ vươn lên trên trời cao!!”.. Loại hình tượng tràn đầy “ác tính” trong những bài hát của những người cầm quyền cộng sản ở Hà Nội luôn “giáo dục và huấn luyện” những người gọi là “nghệ sĩ nhân dân” phải cố công viết nên thành.

Theo nhận định của Việt Dzũng, trong những ca khúc phổ thơ của những tác giả Nhất Tuấn, Kim Tuấn, Du Tử Lê.. nơi Miền Nam, thì nhạc phẩm của Trần Thiện Thanh phổ thơ của thi sĩ Tô Thùy Yên từ bài thơ bi thiết sâu lắng Chiều Trên Phá Tam Giang là một trong những ca khúc phổ thơ có giá trị nhất. Đặc biệt với kỹ thuật song tấu ở phần nhạc mở đầu bài hát. “Nhớ ôi là nhớ… ôi là nhớ đến bất tận…”. Nhưng bài hát không chỉ có giá trị là thế, nó còn mở ra cho người nghe những ấn tượng, biểu hiện mà Phá Tam Giang đã tạo dựng nên trong lịch sử, văn học.. Và hơn thế nữa, bài hát nhắc nhở cho chúng ta, khán giả hôm nay nơi hải ngoại về một ngày trọng đại của quê hương.. 

Mùa Hè 1972 thế trận giữ nước Miền Nam bước vào một giai đoạn quyết định với những chiến thắng lẫm liệt khắp ba vùng: Kontum được giữ vững; An Lộc được giải tỏa, và nơi vùng Hỏa Tuyến, Chiến Dịch Lôi Phong đang khai diễn với hai mũi tiến công thần tốc cùng tiến về thị Xã Quảng Trị do hai đại đơn vị kiệt liệt nhất của quân lực cộng hòa đảm nhiệm: Sư Đoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. 

Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị tổ chức những cuộc “Đi và Sống với Chiến Trường”có sự tham dự của những văn nghệ sĩ tên tuổi của Sài Gòn.. Một buổi chiều Tháng 6, 1972 một chiếc trực thăng xuất phát từ Đà Nẵng bay lên căn cứ Hương Điền của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến sau đó theo Phá Tam Giang bay dọc ra hướng Bắc hướng Cổ Thành Quảng Trị. 

Một trong ba hành khách trên trực thăng – Tô Thùy Yên sau khi về lại Sài Gòn đã viết nên những lời thơ tinh tế cô sắc.. Chiếc trực thăng bay là trên mặt nước. Như cơn mộng nhanh. Phá Tam Giang, phá Tam Giang, Bờ bãi hỗn mang, dòng bát ngát.. Ngó xuống cảm thương người lỡ bước, Trời nước mông mênh, thân nhỏ nhoi.. Nhìn xuống cảnh vật tàn tạ. Nhìn thấy con người tan tác.. Người thi sĩ thấm hiểu ra cốt lõi bi thảm phi lý của chiến tranh: Ví dầu người bắn rụng ta.. Như tiếng thét. Xé hư không bặt im.. Chuyện cũng thành vô ích. Ví dầu ngươi gục. Vì bom đạn bất dung.. Nào có chi đáng kể! 

Chuyển qua Phần thứ Hai, bài thơ mô tả nỗi buồn thảm của phận người, và sự bất lực của tình yêu dẫu là mối tình thắm thiết chân thật.. Và Trần Thiện Thanh đã gắn thêm âm sắc kỳ ảo của cấu nhạc vào nỗi buồn bã của Chiều Trên Phá Tam Giang… 

Anh chợt nhớ em.. Nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ… Giờ nầy thành phố chợt bùng lên. Em giòng lệ vẫn rát chảy tuôn. Nghĩ đến một điều anh không rõ.. Nghĩ đến một điều em sợ không dám nghĩ.. Hãy nghĩ tới anh.. Hãy nghĩ tới anh. Đến một người đi giữa chiến tranh…”. 

Quả thật, từ tình yêu “mộng mơ” trong Tình Thư Của Lính đầu thập niên 60 đến tình yêu của người lính đang đối mặt với cái chết giữa chiều nắng vàng hoang sơ trên Phá Tam Giang ngày Hè 1972 đã có một bước rất lớn – Bước của tận Khổ Đau. Cũng là bước của thật Yêu Thương. Nhật Trường hiện thực bước nhảy vọt kỳ diệu nầy trong âm nhạc thắm thiết Trần Thiện Thanh.

Cũng vào thời điểm Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù đã đánh một trận khốc liệt, cũng lẫy lừng nhất trong quân sử VNCH, tuy nhiên đơn vị thiện chiến mệnh danh là Song Kiếm Trấn Ải này đã bị thương vong hơn bốn trăm chiến binh, cùng để lại nơi đồi Charlie xác thân người anh cả của tiểu đoàn: Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo.

Nhân lần gặp gở với cá nhân tôi, Phan Nhật Nam (người viết bút ký Mùa Hè Đỏ Lửa) vào một buổi cuối năm 1972 tại Sài Gòn. Trần Thiện Thanh có nhận xét: 

“Ông (PNN) viết đọc nghe ghê quá – Đoạn viết trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” ở Quảng Trị.. Viết về tiếng lửa lép bép thịt da người nung chín!!”. 

Tôi thành thật trả lời: “Sợ viết như thế cũng chưa đủ. Còn nhiều điều ghê gớm, đau thương hơn nữa..” 

Khi trở lại quán nhạc Tiếng Hát Đôi Mươi (góc đường Lê Lợi-Công Lý), Trần Thiện Thanh ngõ ý muốn viết một ca khúc căn cứ trên những nội dung Mùa Hè Đỏ Lửa. Tôi ngần ngại.. 

“Sách tôi viết theo lối phóng sự chứ đâu phải thơ để phổ nhạc.. Lại toàn chuyện súng đạn, chết chóc.. Tuy nhiên nếu muốn thì ông lấy thử đoạn nói về Anh Bảo, chương “Người Ở Lại Charlie”. "

Và ca khúc đã thành hình với tiếng lời vang dội núi sông, thăm thẳm trong lòng người hơn ba-mươi năm qua, hiện vẫn còn tác động mạnh mẽ người nghe (trong cũng như ngoài nước).

Bi kịch không riêng đối với những người lính Tiểu Đoàn 11 Dù, qua lần đi khuất của Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo – Nhưng cũng là bi kịch của mỗi thân phận Người Miền Nam hiện thực qua hy sinh xả kỷ của Người Lính, sự chịu đựng âm thầm của Người Vợ-Đứa Con Người Lính. Và hôm nay ba-mươi-bẩy năm sau ngày mất quê hương, Nỗi Đau kia hằng mới vì Nỗi Đau Luôn Là Nỗi Đau Chung, cùng với những dấu tích kỳ diệu miên viễn của Tình Yêu trong đời sống trần thế giới hạn của nhân sinh.

Chúng tôi xin dùng lời nhận xét của chính mình, cá nhân Phan Nhật Nam, người khách đã đến theo lời mời của ban tổ chức chương trình để kết luận mà không sợ mang tiếng đã nhận định quá độ về Người và Việc đối với một buổi sinh hoạt ca nhạc:

“..Nếu không có Nhật Trường-Trần Thiện Thanh thì ai trong chúng ta biết đến một người gục chết nơi Rừng Lá Thấp ở chân Cầu Bình Lợi vào ngày đầu xuân năm 1968 tên gọi Đại Úy Vũ Mạnh Hùng thuộc Tiểu Đoàn 3 Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến?! "

Nhưng dẫu sao người chết trẻ ấy còn cho rõ một tính danh, một cấp bậc, về một đơn vị, nơi một địa điểm không xa đường phố trung tâm Sài Gòn.. Vào cùng lúc suốt cuộc chiến dằng dặt mười–lăm năm, hằng này, hằng giờ tại mỗi hẻm núi, sâu rừng thẳm, trên mỗi thước bùn lầy, kinh rạch nơi Miền Nam, hằng trăm, hằng ngàn con người – Những người còn rất trẻ ngã xuống không tiếng lời trăn trối, không hồi kèn truy điệu, tiễn biệt với lượng máu tự thân thấm xuống mạch đất quê hương nhỏ giọt, im lìm.. 

Không có Nhật Trường. Không có Trần Thiện Thanh nào ai biết Charlie, Delta.. là ở những nơi nào.. Vì thật sự đấy chỉ là những cứ điểm quân sự nhỏ nhoi, vô danh tính bên sông Pô Kơ, cạnh Đường 14, lối lên Dakto, Daksut xa xôi. 

Nhật Trường – Trần Thiện Thanh đã đưa những nơi chốn heo hút, nguy biến kia vào trí nhớ người Miền Nam luôn nhớ nước, cũng đồng thời nhắc nhở cho mỗi chúng ta biết rằng, khi đang sống yên lành ở Sài Gòn, Nha Trang, Đà Lạt, Cần Thơ là lúc được bảo vệ bởi muôn vạn người lính vô danh – Những Người Quyết Tử cho Tổ Quốc Quyết Sinh – Hành vi hiến tế cao cả không hề tuyên công mãi sau 30 tháng Tư, 1975, người Miền Nam (của tất cả Việt Nam) khi bước chân xuống thuyền vượt biên mới nhận ra: Họ đã không còn Người Lính Bảo Vệ – Bởi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị bức tử cùng lần sụp vỡ Miền Nam.

Và cuối cùng, khi lao mình vào sóng lớn biển khơi với con tàu mỏng manh nhỏ bé, tất cả những người vượt biển, hoặc xuyên rừng rậm vượt biên trong suốt một thập niên 70-80 chắc hẳn không vì những nguồn lợi vật chất nơi nước Mỹ, Canada, Australia thúc dục.. Khối người cao thượng đó – Chính là mỗi chúng ta đã hiện thực một chọn lựa linh thiêng không hề nói ra lời – Hoặc Chết hoặc được sống Tự Do. Tương tự như thế, sự có mặt của mỗi khán giả hôm nay trong buổi sinh hoạt mang chủ đề Anh Không Chết Đâu Anh bao gồm một giá trị thầm kín vĩnh cửu – Mỗi Người Việt thật mang sẵn một sứ mạng cao quý: Họ chính là nhân tố, là nguồn sức mạnh thực hiện cuộc chiến đấu cho Tự Do – Một cuộc chiến chưa hề kết thúc. Không bao giờ chấm dứt. Cao hơn cái chết. Vượt quá cái chết.

Phan Nhật Nam

Blog Archive