Showing posts with label Cỏ Biển. Show all posts
Showing posts with label Cỏ Biển. Show all posts

Saturday, September 3, 2022

Gợi Những Mơ Xưa

Hồi còn ở dưới quê khi bà chị lớn hơn tôi hai tuổi theo ông anh họ đi học là tôi khóc đòi theo. Trường học nằm trong vòng rào của viện mồ côi chợ quận cách nhà khoảng chục căn, ở đây cô giáo là các bà phước theo cách gọi của dân địa phương. Con cháu người bên ngoài được vào học dễ dàng nhưng phải đóng tiền, lúc ấy tôi được ông anh họ cõng vắt vẻo trên lưng để đến trường. Khi gia đình tôi dọn lên Saigon tôi vẫn được đi học ở một trường tư thục nằm trên dãy phố gần nhà đợi năm sau đủ tuổi vào lớp Năm trường “nhà nước”. Mới vào lớp tôi đã đọc thông viết thạo ngay. Câu “Tiên học lễ, hậu học văn” treo trong lớp tôi đọc vanh vách. Nhớ nhất là ngày đầu cô giáo viết lên bảng hàng chữ “Sự tích con Rồng cháu Tiên” để cả lớp tập đọc và rất thích thú nghe cô kể chuyện này. Có lẽ vì vậy nên sau này lớn lên tôi đặc biệt yêu thích những câu ca dao tục ngữ xuất xứ từ các áng văn thơ hoặc phong tục tập quán trong dân gian, nổi bật có hai câu thơ khiến tôi nhớ nhất :

Trai khôn tìm vợ chợ đông
Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân.

Cứ thắc mắc nên lòng ngúc ngoắc vẫn không hiểu tại sao phải ra kẻ chợ với chốn ba quân tìm nhau ? Trong nhân gian có biết bao trai thanh gái lịch đâu cần phải trong vòng kềm tỏa mới tìm gặp được, mãi cho đến khi nhận ra giá trị ngang nhau ở chữ “khôn”, để bắt đầu từ đây suy nghĩ trong đầu thành hình quan niệm phải làm người khôn.

Năm học trôi qua chưa đầy ba tháng, nhìn quanh trong lớp toàn khuôn mặt mới khiến lòng không khỏi bâng khuâng tự hỏi “bạn cũ đâu rồi ?”. Hôm ghi tên chọn ban mấy đứa bạn thân lắc đầu quầy quậy khi tôi rủ chúng cùng đi chung ban với tôi :

– Bọn mình không có khả năng tưởng tượng đi mây về gió như bạn đừng có rủ rê vô ích, sợ nửa chừng té cái bịch bởi đứt dây rơi xuống làm người “trần gian”.

Vậy là từ đầu năm tôi một mình thui thủi trong lớp mới và bắt đầu làm quen người mới. Chuông reng báo hiệu giờ ra chơi chưa kịp đứng dậy đã thấy nhiều bạn từ mấy bàn phía trên kéo nhau xuống khoảng trống cuối lớp mang bột phấn rắc đầy trên sàn. Ngồi lại trong lớp tôi khoanh tay trố mắt nhìn mấy nhỏ nắm tay chỉ dạy nhau mấy điệu nhảy theo “mốt” mới. Chắc lúc ấy tôi rất giống con “cù lần” tình cờ thấy được mỗi khi đi chơi Thảo cầm viên, chỉ khác là tôi không cúi đầu hai tay che mắt. Đứa bạn ngồi cùng bàn học sau khi quay cuồng chán chê thấy tôi ngồi một mình bèn lại gần cười nói :

– Bà biết nhảy không, ra “dợt” vài điệu với tui ?

– Trời ! tôi “cù lần” lắm không biết chuyện này đâu,

– Không biết thì học, tui dạy cho.

– Bộ bà muốn tôi bị ba má đập cho què chân khi ông bà biết tôi học nhảy nhót hả.

Con nhỏ cười hăng hắc nói :
– Bà làm tui “country” à nha. Tui có ông anh hay nói như vậy khi ổng được về phép thăm nhà bị tôi chọc ghẹo.

Tôi vẫn chưa hiểu lắm cách dùng từ ngữ này mặc dù biết nghĩa tiếng Anh. Tiếng Việt bây giờ nhiều từ “lóng” quá, không lẽ nghĩa nó là “quê một cục” là tiếng đám trẻ theo thời thượng hay dùng.

Bỗng nhiên con nhỏ rủ rê :
– Bà làm bạn gái anh tôi đi.

Lắc đầu tôi xua tay :
– Thôi thôi tôi đâu có quen biết gì với ông anh của bà đâu. Bộ muốn ăn đầu heo hả ?

Vậy mà hôm sau nó mang tấm ảnh anh nó vô giới thiệu với tôi.

Liếc mắt thoáng nhìn chỉ thấy một ông lính không rõ mặt vì tấm ảnh hơi nhỏ, anh này đang đứng cạnh một đống tuyết trắng xóa đắp hình một Snowman cổ quấn cái khăn, miệng ngậm củ cà rốt to, thao thao giới thiệu :

– Ông anh tui là lính Hải Quân học bên Mỹ đó.

Tuy chưa nhìn kỹ nhưng hình ảnh đầu tiên in vào mắt trông rất ấn tượng tôi lại không dám phê bình với nó : “Anh mi đầu đít chỉ có thước mốt”.

Có phải là vì “ghét của nào trời trao của đó”, mấy hôm sau gọi điện thoại đến nhà nó vào buổi tối, vừa nghe tiếng nó bắt máy bên kia tôi hỏi ngay :

– A lô, bà đó hả nhà bà có muốn nuôi chó không ?

Không chờ nhỏ này trả lời tôi huyên thuyên nói tiếp :
– Con chó mẹ nhà tôi đẻ nhiều quá trời, bà giúp việc nói bận nấu cơm, không rảnh chăm sóc biểu tôi kiếm ai đó trong đám bạn cho bớt đi. Tui đâu có bạn bè nhiều chợt nhớ đến bà nè.

Bỗng nhiên có giọng đàn ông bên kia trả lời :
– Nhà này cũng có nuôi nhiều chó rồi, cô là ai ?

Giật mình tôi lúng túng trả lời :
– Thưa bác, con là bạn học chung lớp với con bác, con tưởng bạn đang nghe con nói, xin lỗi bác.

Giọng bên kia lại thốt lên :
– Nói tiếp đi.

– Dạ hết chuyện rồi, con cúp máy đây, kính chào bác.

Đặt ống nghe xuống tôi hú hồn cho cái tật nhanh nhẩu liếng thoắng của mình.

Sáng hôm sau vào lớp nó ôm bụng cười ngặt nghẽo nói :
– Anh tui nói “Ê, bạn của nhóc xưng con và gọi anh bằng bác kìa.” Buồn quá !

Tôi nguýt dài khi nhìn nó và chữa thẹn cho mình :
– Bà chơi ác làm tui tưởng là ba của bà. Tại tui nghe giọng ồ ồ như giọng ông cụ già. Cho tôi gởi lời xin lỗi đã làm buồn lòng ông anh của bà.

– Anh tui hết phép về đơn vị sáng nay rồi, bà muốn xin lỗi thì viết thư tạ lỗi đi.

Nói xong nó trao cho tôi mảnh giấy tập, tôi đọc được trên đó có ghi một cái tên và địa chỉ bắt đầu là con chữ số KBC 33…..

Gần Tết sau khi thi xong Đệ nhứt lục cá nguyệt, những buổi tối rảnh rỗi sau khi học bài, trong không gian im ắng chưa muốn đi ngủ sớm tôi hay ngồi gạch vu vơ những hàng kẻ ngắn rồi lôi tấm bảng “Giải mã những lằn gạch vô hình cho biết câu trả lời sẽ đến với bạn” hoặc là lãng mạn hơn “Bạn gọt vỏ một trái cam đừng để cho bị đứt quãng, xong rồi bạn vứt ra sau lưng, nó sẽ cho bạn thấy mẫu tự đầu của tên người chồng bạn sau này”. Cũng có khi tôi nghe lời xúi dại trong “Tâm sự tuổi mười bảy” đăng trên báo “ Trước khi đi ngủ bạn cho một ít muối vào miệng ngậm, trong giấc mơ bạn sẽ thấy mặt ý trung nhân mình “. Báo hại đêm đó tôi khát nước cháy cổ lại không dám một mình xuống bếp vì sợ “ma”. Nhưng tôi dám chắc một trăm phần trăm những đứa con gái đầy mơ mộng tầm tuổi tôi đứa nào lại không biết sưu tầm mấy chuyện này và kết quả đúng hay không là chuyện khác.

Trên bàn học lúc nào cũng có mấy tờ giấy trắng kẻ những vạch ngắn tiếp nối thành đường dài thòng, đây là kết quả tôi cầm bút gạch những dòng từ vô thức mấy đêm trước. Vài lần sau khi gạch ngang loại trừ theo cách chỉ dẫn, lần nào dò kết quả bói toán trong bảng giải đáp cũng chỉ là câu trả lời “Người ấy đang nghĩ về bạn”. Ngạc nhiên chưa ! bởi tôi có quen ai đâu để cho người ta nghĩ về mình ! Ngẩn ngơ tôi xếp tập lại xem thời khóa biểu ngày mai có môn học gì để mang vở theo, tình cờ một tờ giấy rơi ra, cầm lên nhẩm đọc tôi mới nhớ đây là địa chỉ ông anh nhỏ bạn ngồi cạnh, hôm nọ trao cho mà vô tình tôi quên lãng. Chắc anh chàng đang chờ đợi thư của tôi lâu nay, không lẽ lại là “người ấy”?

oOo

Kết quả của ngày hôm nay là hành trình dài hơn một năm theo sau những lá thư hẹn hò, qua những lần ngắn ngủi “người ấy” được về phép. Thế gian hay ví von đàn bà con gái là chúa nhiều chuyện mỗi khi gặp đối tượng, cũng vậy nhưng khác người là tôi thích viết chứ không thích nói. Quen anh là nơi cho tôi phát huy sở trường, tôi viết thư “lu bù” cũng may thư gửi cho lính không tốn tiền dán tem và anh là người hạnh phúc nhất đơn vị khi được nhận rất nhiều thư cũng chỉ tên một người gửi (số lượng ở đây loại trừ những lá thư hàng chục người chơi trò tìm bạn bốn phương nhé).

Mỗi khi anh hết phép trở về đơn vị tôi lại hát bài ca “Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi…” Tình yêu đã vội vã chiếm tim tôi từ lúc nào không hay chỉ khiến nhớ nhung quay quắt. Mãi cho đến khi anh may mắn được đổi từ duyên hải miền Trung về một căn cứ gần Saigon, bây giờ lại thấy nhớ nhiều hơn bởi “Tình trong gang tấc vẫn không gần nhau”.

Căn cứ mới anh đóng trên địa bàn gần nhà bà ngoại tôi, nhiều lần vào ngày hè tôi hay về giồng thăm bà bằng xe Honda chủ yếu là để hái xoài vườn nhà, vừa xong chưa kịp mang về thì bà nói :

– Sẵn dịp có xe con chở mấy em đi chơi cho biết, tội nghiệp tụi nó nhà quê không có phương tiện đi đâu cả.

Mấy đứa hàng xóm nhà nghèo sang làm cỏ vườn thuê được bà trả công và xem như con cháu. Nể lời bà tôi chở hai đứa nhưng nào biết đi đâu chơi, con nít hơn mười tuổi thì có nơi nào quanh đây để chơi, tôi hỏi tụi nó nói :

– Đi đâu cũng được, ngồi trên xe Honda được chị chở đi vòng vòng lâu lâu là vui rồi.

Tội nghiệp cho những niềm vui rất đơn giản, nhẫm tính tôi chỉ cần chở tụi nó vài tiếng thôi. Có lần nghe một anh sinh viên trong đám bạn của chị tôi, họ về chơi cắm trại trong vườn của ngoại nói lần sau sẽ rủ nhau đi Cát Lái gần miệt giồng này. Vậy là chiếc xe Honda của tôi chở ba trực chỉ Cát Lái. Muốn qua phải đi bằng phà vì sông rộng mênh mông, sang bên đó đứng ngoái nhìn lại sang bên này tôi mới biết đó là căn cứ hải quân bởi thấy mấy ông lính lái chiếc tàu nhỏ ra vào kéo còi inh ỏi.
Về gần nhưng đâu thường xuyên gặp nhau, tháng trước anh nói sắp tới cắm trại và cấm phép rồi. Ba bốn cái chủ nhật trôi qua buồn hiu hắt. Ở xa còn viết thư cho nhau còn niềm vui gặp nhau bằng thư, về gần chẳng lẽ lại viết thư, có khi thư chưa đến người đã ở bên. Buổi sáng bát phố Lê Lợi mua vài quyển truyện, dẻo chân tôi đi xuống bến Bạch Đằng bằng vô thức. Đứng bên bờ sông lộng gió sóng nước mênh mang liên tưởng lúc tôi đứng bên bờ sông Cát Lái hôm ấy, dù rằng vào thời gian đó chưa gặp và yêu anh nhưng duyên nợ tình cờ đã đưa đường chỉ lối cho tôi đến trước nơi đây chờ anh rồi. Chiều nay chợt nhớ câu hát “Thà như giọt mưa… đến ôm tượng đá có còn hơn không!” Lẫn lộn giữa nhà thơ Thâm Tâm “Đưa người ta không đưa qua sông. Sao có tiếng sóng ở trong lòng”. Nguyễn Tất Nhiên cứ thúc giục “… có còn hơn không chỉ thấy sông lồng lộng chỉ thấy sông chập chùng.” Nhớ câu “Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”, khiến tôi quyết định bước xuống phà Thủ Thiêm một cách mạnh mẽ.

Đứng ở cổng căn cứ chờ vọng gác nơi đây gọi điện tìm anh, câu trả lời từ bên trong không thấy ông Trung Úy ở đó. Tôi thích mặc áo dài trắng nên đi đâu cũng chỉ một màu. Có lẽ vì trông dáng dấp tôi vẫn giống nữ sinh, nên khi có một ông lính khác từ bên ngoài vừa đi vào, thấy chiếc túi xách tôi đặt trên băng ghế hắn mon men đến gần định cầm chiếc quai thì một tiếng tằng hắng trong cổ họng quát nhỏ :

– Của ông Trung Úy N… đó.

Cắn môi nhìn quanh, biết chắc là hôm nay anh phải trực ở đây tôi mới đánh bạo đến tìm sao lại không thấy nhỉ ! Chợt nhìn sang bên đường, có một dãy hàng quán đối diện căn cứ, bỗng trông thấy có chiếc Honda nằm lẻ loi đang dựng ngoài cửa, tôi nhận ra ngay là xe của anh bởi có sợi dây xích khóa choàng quanh cổ xe quen thuộc. Tôi chỉ tay reo lên :

– Chiếc xe Honda của ổng kìa.

Anh lính gác thò đầu ra nhìn, gọi anh kia và nói với tôi :
– À, ổng đang đánh bida đó, để tụi tôi đến gọi ổng.

Tôi mừng thầm trong bụng, không tìm thấy anh chắc tôi bị “country” lắm. Anh ra lấy xe chạy ngang qua vọng gác rước tôi ngồi lên phía sau và nói với mấy người lính :

– Bà xã của tôi đó.

Vòng tay qua bụng tôi áp má vào lưng anh với niềm hạnh phúc vỡ òa bởi cả hai tuy chưa đám cưới nhưng anh đã đặt tôi vào một vị trí thiêng liêng trong trái tim anh rồi.

Vừa bước vào gian phòng của sĩ quan độc thân, anh ôm lấy tôi hôn và hỏi :
– Sao lại dám một mình đến thăm anh vậy.

Trả lời trong hơi thở tôi nũng nịu :
– Tại em nhớ anh quá ! Làm sao quên cho dẫu một chút thôi,

Ngồi sau lưng ôm chặc eo “người ấy” ngôn từ tôi đã gọi thầm trong trái tim hơn một năm rưỡi nay và đây là lần đầu tiên tôi theo “trai” đi xa như vậy. Hai tháng qua vừa hết cấm phép, anh xin nghỉ một ngày chở tôi về tận tỉnh lỵ quê của tôi cách xa Saigon gần bảy chục cây số theo đường chim bay, để xin tờ trích lục tư pháp lý lịch mẫu số 3. Theo thủ tục trước khi kết hôn anh phải nộp bản sao lý lịch của tôi bổ xung vào hồ sơ xin cưới vợ. Bởi vì anh là sĩ quan yếu điểm trưởng, bên cạnh trách nhiệm về an ninh căn cứ, còn việc hết sức quan trọng phải bảo vệ tàu chở đạn neo đậu và ra vào quân cảng an toàn. Khi ấy tôi không hề thắc mắc hay quan tâm chuyện tại sao anh phải cần lập thủ tục làm hôn thú trước ngày chúng tôi làm đám cưới.

Chỉ biết được phép gia đình đi chơi xa cả ngày cùng anh khiến tôi vui sướng biết bao với cảm giác đang chìm ngợp trong hạnh phúc. Không ngờ anh đã cẩn thận lo lắng cho tôi từ ngày đầu tiên gọi tôi bằng hai từ “bà xã”. Có lẽ do một lần tôi kể lại hình ảnh tình cờ trông thấy, một bức tranh vẽ người thiếu phụ ngồi gục đầu bên vệ đường dưới bụi tre trong bộ đồ tang trắng, ôm trong lòng là một đứa bé nằm thò ra hai bàn chân nhỏ xíu. Hình ảnh ấy gây trong lòng tôi một ấn tượng chông chênh thê thảm của những người có chồng là lính chiến.

Về sau tôi mới biết có nhiều người vợ sớm thành góa phụ, vẫn chưa kịp làm tờ giấy xác định danh phận trước chính quyền. Ai cũng chép miệng than thời buổi chiến tranh mà biết đâu được ! Làm sao có thể tránh khi hàng vạn, trăm ngàn thanh niên lớn lên đều trở thành người lính đi vào lửa đạn hiểm nguy và cũng có không ít những người con gái như tôi lại tự nguyện tìm chồng trong chốn ba quân. Không nói đâu xa xôi, ông anh họ tôi thành tử sĩ khi vợ mới mang thai và hai người chưa kịp lập giá thú. Chị và con không được một quyền lợi gì từ người chồng mặc dù tiền trợ cấp tử tuất được gửi về cho ba má anh. Nhưng bên cạnh đau đớn to lớn vì mất người chồng, mất cha, thiệt thòi còn lại vẫn là vợ con nhận lãnh.

oOo

Vòng vòng trong khu trưng bày sản phẩm giữa trưa nắng gắt tôi đi tìm anh, đi làm hai ngày một đêm anh chưa về nhà. Hôm kia anh nói phải làm ở công trường tận khu Hốc môn Quang Trung hồi xưa. Lại là công trình phải hoàn thành gấp cho công ty Xây lắp để kịp khai trương Hội chợ triển lãm các ngành Tiểu thủ công nghiệp, công việc phải làm luôn ban đêm nên không thể về nhà, tôi không biết chừng nào công trình mới xong, để hai mẹ con vò võ ở nhà chờ đợi.

Hơn mười năm, thế thời đảo lộn vợ chồng tôi cũng giống như mấy chục triệu người tay làm vẫn không đủ nhai. Đến nổi cái xe đạp cà tàng chưa thấy chiếc nào thảm thương như chiếc chồng tôi chạy, cái thắng tay không có bởi dây thắng “dổm” của quốc doanh sản xuất cứ vài ngày lại đứt, không tiền mua anh thay bằng cái thắng chân là một cái gờ sắt bắt vào cạnh niền chiếc xe, muốn ngừng xe chỉ cần thò chân ra phía sau đạp mạnh. Riêng tôi chiếc xe đạp cũng không kém cạnh, cứ vài ngày bánh xe lòi bụng như đàn bà có bầu bởi vỏ xe làm bằng sợi dây lấy ra từ bao cát không ôm nổi ruột xe, khi ấy ông chồng tôi phải vá víu bắng cách chập những mảnh cao su buộc vòng quanh như bó giò. Khổ nổi hàng họ chỉ độc một loại quốc doanh cung cấp, bắt thăm mua được cái vỏ xe mới thì phải xài ruột cũ, mua được ruột xe mới thì đến phiên cái vỏ cũ tét miệng bung vành. Sao đời sống con người trở nên thê thảm đến vậy từ khi được người Cộng sản giải phóng khỏi đời nô lệ tư bản.

Cũng có nhiều người chạy chợ, luồn lách, phe phẩy thì sống khá hơn. Chúng tôi hơi nhát bởi cái án quản chế người đã học tập cải tạo nên không dám bung ra, tôi thì từ khi lăn lóc dè xẻn từng đồng dành dụm trong thời thăm nuôi tù. Bỗng sợ ba chữ “Kinh tế mới” không kiếm được đồng nào nơi đồng khô cỏ cháy, cố bám cái chân công nhân viên, tháng tháng mua chục ký gạo, lương lãnh ra đủ mua vài chục bó rau với chai nước mắm mặn như muối. Thời gian cuối của mười năm bắt đầu thời mở cửa, chồng tôi được làm khoán tiền công lương có khá hơn nhưng bù lại phải cực nhọc làm nhiều hơn. Câu “Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, nếu chưa hết giờ làm thêm giờ nghỉ” vẫn áp dụng được cho đến giờ này.

Rốt cuộc tôi tìm thấy anh đang lúi húi cưa, bào, đục đẽo trong một gian hàng đang trang trí dở dang. Anh hết sức ngạc nhiên khi ngẩng đầu trông thấy tôi.

– Sao em đến đây được vậy, đi bằng gì ?

Tôi cười nói với anh,
– Hên thật, tự nhiên ông Giám đốc nổi cơn muốn đi “du dương” với con nhỏ y tá xí nghiệp. Ổng lấy lý do phải đi quan sát gian hàng triển lãm của xí nghiệp trên này, bắt em đi theo lên làm giá thành bán sản phẩm. Đi cùng em là con y tá kéo theo bà trưởng phòng hành chánh và bà đại diện công đoàn. Đến nơi cả đám tản ra mất tiêu, em nhanh chân đi tìm anh đang ở đâu thôi, ăn uống, ngủ nghỉ ra sao ! và hỏi khi nào anh xong công trình ?.

Nhìn quanh anh ước lượng :
– Chắc cũng sắp xong rồi.

Trao cho anh bịch nước chanh đang cầm trên tay, tôi nói :
– Anh uống đi, đây là phần của em được chia, họ mua ở hàng cafe trước cửa xí nghiệp trước khi lên xe.

Tôi quá biết việc lợi dung để chi tiền của nhà nước vô tội vạ với nhiều lý do : đi công tác, tiếp khách đến cơ quan làm việc, tổ chức sự kiện duyệt kế hoạch, đãi tiệc, gửi bao thư tiền mặt cho đại biểu tham dự… v..v.. Tiền chi một phần trên thực tế phần còn lại gấp chục lần thì vào túi riêng chia chác với nhau theo bè cánh, đây chỉ là phần nhỏ nhặt của cán bộ quèn, chức vụ lớn hơn thì ăn bằng cách khác, nhận phần trăm theo hợp đồng ký kết được đối tác “lại quả”. Số này to lớn kinh khủng hơn nhiều, bởi vậy công ty, xí nghiệp nào có chữ quốc doanh đều lụn bại, dẹp tiệm là cơ hội xóa dấu vết, chùi miệng sạch sẽ an toàn.

Ngồi thêm một lát nói chuyện lung tung mưa nắng, tôi nói với anh một câu trước khi ra về :

– Con nói nhớ ba, tối qua ngồi trước cửa gọi sao lâu ba chưa về vậy má ?

– Ừ anh biết là… cả mẹ lẫn con đều nhớ anh.

Vậy mà tối sẩm anh lục tục đạp xe về, dắt chiếc xe đạp vào nhà anh ngồi thở trong khi tôi lúi húi dọn cơm. Chỉ có chút cá lụn vụn kho tộ, đĩa rau muống và tô nước luộc rau tôi dành lại cho bữa cơm sáng mai.

– Không biết có phải do có linh tính biết anh sẽ về nên chiều nay em nấu cơm hơi nhiều, chắc anh đói bụng lắm.

Ngồi ăn cơm anh kể :
– Ban trưa em ghé thăm, lúc em về tên công nhân trẻ hơn anh cả chục tuổi làm chung công trình nói “Trời ơi ! tui nghe hai người nói chuyện với nhau tiếng nào tiếng nấy cũng anh với em nghe ngọt xớt, đã tai thiệt cứ muốn nghe hoài”. Anh mắc cười quá hỏi “Vợ chồng với nhau không kêu anh, em thì kêu bằng gì ?” anh này thật thà nói “Tụi tui kêu nhau bằng “ Mày, Tao không hà.”

Tôi ôm bụng cười theo :
– Hèn chi em để ý có một anh thợ đôi mắt cứ nhìn vào anh và em, cử chỉ trông không tự nhiên. Chỗ hai vợ chồng người ta nói chuyện mà cứ xáp lại gần kế bên rồi giả vờ làm cái gì đó ở sau lưng mình em không biết nữa, thì ra ông này muốn nghe lén.

Tiếp tục tôi hỏi thêm,
– Vậy anh đã làm xong chưa ? Mai có đi lên đó nữa không ?

– Có, anh phải lên để bàn giao công trình cho ông trưởng công trường, còn vài chỗ sắp hoàn tất anh để người khác làm. Đi làm xa nhà “oải” quá. Với lại “nhớ con” nữa, nhưng cái chính là nhớ “con vợ” nhiều hơn.

Lấy nhau hơn chục năm nhưng lại thấy tình vẫn nồng nàn như những ngày mới quen, có lẽ vì năm năm đằng đẵng xa nhau khiến chúng tôi khát khao phải đền bù những ngày tháng cách chia ấy.

oOo

Nửa đêm bỗng thức giấc vì cảm thấy lạnh “đầu” quá, nhìn đồng hồ mới ba giờ sáng, nằm cố gắng dỗ giấc nhưng mãi vẫn không ngủ lại được. Thao thức với những chuyện dài buồn vui trong đời giống như một cuốn phim, khiến người có tuổi hay quên hiện tại chỉ thấy nhớ được quá khứ.

Năm ấy vào ngày được thăm nuôi, đêm ở lại nằm bên nhau dưới mái chòi lợp bằng lá rừng, đầu lạnh buốt khiến tôi thức giấc. Dưới tấm đắp mỏng manh làm bằng bao đựng cát trong công sự phòng thủ trước 1975, nằm ôm nhau nhưng hơi ấm cả hai không đủ đưa tôi vào giấc ngủ, làm tôi nghĩ lan man với ao ước chỉ cần vợ chồng con cái đoàn tụ sống bên nhau cho dù thiếu thốn cũng được, chỉ là một giấc mơ đơn giản nhất không dám nghĩ gì thêm.

Đêm nay trên nệm êm chăn ấm ở một đất nước giàu có xinh đẹp, thụ hưởng mọi tiện nghi xứ văn minh tôi cứ tưởng mình đang ngủ mơ. Giấc mơ đẹp quá tôi sợ vỡ tan nhưng đầu lạnh quá giống hồi nọ ở trên rừng. Hơi lạnh từ trần nhà phả xuống khiến không thể nằm im. Tôi quay sang lay anh dậy :

– Giờ này mà máy lạnh vẫn chạy, em lạnh quá, chắc thằng Anthony (cháu ngoại tôi) nó quên tắt. Tại hồi chiều em bảo nó “con để máy chạy theo hệ thống On & Off tự động đi. Giống như mình đã làm cho cây giáng sinh mỗi năm vậy đó”. Không hiểu nó để mấy giờ mà bây giờ vẫn chưa Off.

Anh lồm cồm ngồi dậy :
– Để anh xuống dưới nhà bật chốt Off bằng tay.

– Được không ? Tôi hỏi với theo.

Di chứng từ ngày ấy khiến tôi rất dễ bị lạnh đầu, nhất là vào mùa thu có mưa lạnh và tuyết rơi mùa đông. Ra khỏi cửa nhà lúc nào trên đầu tôi luôn luôn vẫn phải có cái nón len, nó thành một thói quen bất di dịch.

Trùm chăn bên cạnh anh bắt đầu ngáy o..o mỗi khi đặt lưng nằm xuống, chẳng bù với tôi thao thức vì khó ngủ. Dạo sau này có phải tại nhiều tuổi nên hay thêm câu phàn nàn :

– Từ hồi xưa đến giờ đi đám cưới ai cũng chúc cho đôi tân lang, tân giai nhân. “Trăm năm hạnh phúc, Răng long đầu bạc”. Câu đầu thì được, câu sau phải sửa lại chữ khác mới yên ổn. Vì mọi người chúc như vậy nên bây giờ đầu tui láng bóng bởi tóc bạc rụng hết. Răng thì cái rụng cái lung lay gốc chân báo hại chẳng ăn uống món gì cho ngon được khi phải trệu trạo nhai.

Tôi góp ý với anh :
– Ai bảo anh cứ thích ăn những món bình thường dai cứng như ngày còn trẻ, làm sao răng không rụng. Em thấy nhiều ông “Lão ngoan đồng” cứ đi tìm cỏ non mềm ngọt mà nhơi lúc ấy răng lợi không cần xài, khỏi phải than van. Anh có muốn vậy không ?

Anh đốp chát lại liền :
– Cỏ non thì có gì ngon, không mùi không vị nhìn thấy đã ngán tận cổ, chỉ có trâu, bò mới thích thôi.

Bây giờ nhớ lại câu đối đáp ban chiều tôi thấy tức cười, đi dần vào giấc ngủ không hay.

Cỏ Biển

Wednesday, July 20, 2022

Giữa Biển Trầm Luân

Hình minh họa

Bánh mì nóng giòn đây, ai bánh mì nóng giòn !

Bầu trời còn mù sương, mới đầu mùa đông mà thời tiết đã lạnh quá, Miền Nam chưa từng bao giờ gặp cái lạnh như vầy, mọi người nói thời tiết bỗng trở nên khắc nghiệt vì thành trì vững chắc chống lại bọn cộng phỉ ở Miền Nam đã sụp đổ nên những cơn gió lạnh thấu xương tượng trưng cho những áp đặt độc tài của chế độ từ miền bắc đã tự do tung tẩy hoành hành trong oán than ngấm ngầm.

Trời lạnh như vầy chỉ có cách nằm trùm chăn trong nhà, ai cũng nghĩ thế nhưng ngoài kia tiếng rao bánh mì vẫn vang dội như thách thức cái lạnh:

- Bánh mì nóng giòn, ai ăn bánh mì nóng giòn.

Tiếng rao trong trẻo có âm hưởng quen thuộc quá, có nhà mở cửa gọi:

- Bánh mì, bán cho một ổ!

Khi thằng bé quay mặt lại, người mua ngạc nhiên kêu to:

- Ủa Phúc ! Sao con phải đi bán vậy?

Vài nhà khác có người ló đầu ra nhìn, họ thấy thằng bé mười hai tuổi, trắng trẻo khôi ngô tay đang cắp cái giỏ bội tre nhỏ trong có cái bao tải đậy bọc giấy dầu đựng đầy những ổ bánh mì đang đi dọc hành lang chung cư rao bán, có tiếng chép miệng tội nghiệp rồi gọi lại mua giúp nó ổ bánh. Thằng bé đi khuất mọi người đưa mắt nhìn nhau, có người than nhỏ:

- Đúng là “Quốc phá gia vong!”

Chỉ mới hơn nửa năm thôi chứ đâu có lâu lắc gì, trước kia hầu như tất cả những đứa trẻ con trong cư xá buổi sáng nào cũng đều được cha mẹ chở đến trường trong bộ đồng phục sạch sẽ, mặt mày tươi tắn bụng dạ no nê vì bữa ăn sáng đầy đủ mà mẹ chúng sửa soạn ở nhà. Bây giờ thời buổi đổi thay rồi không chỉ là người lớn ngay cả đứa con nít cũng vậy bởi đi đâu cũng đụng đầu với hàng chữ “Lao động là vinh quang” tởm lợm.

Ngay cả mấy người trước kia là ông bà chủ, bác sĩ, kỹ sư chẳng cần tìm vinh quang cũng phải cầm chổi quét đường, đi lao động bằng tay chân mới được những chủ mới của đất nước đánh giá là người giác ngộ. Chuyện Phúc không đi học lăn thân vào đời kiếm miếng cơm là chuyện tất nhiên ai cũng hiểu không sớm thì muộn và có không muốn cũng không được!

oOo

Bữa nay bán chậm phải gần trưa mới hết giỏ bánh mọi hôm giờ này đã được hai giỏ, ghé tạt về nhà uống miếng nước trước khi lấy thêm giỏ nữa Phúc thầm nghĩ “Điệu này phải bán thêm buổi chiều mới hết !”

Vừa bước vào nhà Phúc thấy út An đang ngồi góc nhà sụt sịt nên hỏi con bé:

- Sao em ngồi đây khóc, chị Hạnh với hai đứa kia đâu?

- Em hỏng biết, chị Hạnh còn ngủ.

Rồi nhão nhoẹt rên ư ử:

- Anh Phúc ơi, em đói bụng quá!

- Dưới bếp còn lưng tô cơm nguội anh lấy cho em ăn

- Hu hu ! Anh Tâm ví anh Bình ăn “hết chơn hết chọi dồi”. Má đâu rồi anh?

- Má đi ra bến xe hồi khuya, thôi còn ổ bánh mì bán chưa hết anh lấy cho em ăn đỡ, chiều má đem gạo về nấu cơm. Em ở nhà khi chị Hạnh thức dậy nói chị giặt thau đồ giùm má, anh đi lãnh bánh bán tiếp đây.

Phúc khép cửa đi dọc hành lang về phía cầu thang, gặp ông cụ Sáu đang chống gậy chầm chậm bách bộ tay vịn thanh sắt, ông cụ nhìn nó lắc đầu thương hại nói:

- Phúc đi bán hả con, bữa nay bán đắt không?

- Dạ cũng tạm thôi ông.

- Ừa, thôi đi bán đi con, thời buổi này tội nghiệp cho mấy đứa nhỏ tụi bây quá. Ông già rồi không làm gì giúp cho con cháu được hết.

Giọng ông run rẩy nghẹn ngào, đôi mắt già khô khốc không còn nỗi giọt nước mắt để rưng rưng!

Hôm đầu tiên đi bán Phúc thấy hơi mắc cỡ, rao hàng không dám rao lớn tiếng, bây giờ thì quen rồi bởi thấy nhiều người trong khu cư xá ai cũng như ai. Hồi trước khu chung cư này là của chính phủ VNCH xây cất bán trả góp cho dân chúng và quân nhân, công chức nên sau đổi đời nhà nào cũng ít nhất có một người bị bọn phỉ quyền Hà Nội bắt tập trung đi tù lao động khổ sai, có nhà chủ gia đình may mắn làm cho các ngành điện, nước, bưu điện, bệnh viện thì còn được tiếp tục đi làm. Có nhà cả hai vợ chồng đều là sĩ quan nên bị đi tù lao động khổ sai hết bỏ lại bầy con nheo nhóc.

Tội nghiệp ông cụ Sáu là thầy giáo già hưu trí bây giờ không còn đồng lương hưu sinh sống nên bà cụ phải nấu nồi cháo huyết sáng sáng mang xuống sân chơi của cư xá mà bán. Anh con trai may mắn còn được cho đi dạy lại sau mấy tháng học chính trị. Bữa trước Phúc nghe lóm anh nói với anh Đông con trai ông ký giả cạnh nhà:

- Anh được cho tiếp tục đi dạy nhưng chẳng biết đến khi nào thì “mất dạy” bởi hôm đi học chính trị, bà bộ trưởng giáo dục của phỉ quyền Hà Nội là Nguyễn thị Bình đã nói, mấy người giáo viên cũ như anh không thể thay đổi tư duy khi đứng trên bục giảng dạy học trò những điều khác với trước kia đã được chế độ cũ đào tạo mặc dù đã được nhà nước cho đi học mấy tháng chính trị tẩy não, ai cũng hiểu mình được đi dạy lại bởi chế độ mới họ chưa đủ người để thay thế mà thôi.

Đi đâu cũng nghe người ta nói “Thời buổi đổi thay sâu bọ lên làm người rồi” nên chuyện của Phúc nghỉ học đi bán cũng chỉ là chuyện nhỏ trong xã hội ! Đừng nói đâu xa chỉ cần nhìn dãy hành lang của tầng lầu nhà Phúc thôi đã thấy hết những thay đổi ấy. Anh Đông con trai ông ký giả ngụ đầu dãy là dân học trường Tây gia đình bị đuổi khỏi căn biệt thự về tá túc cùng bà chị lớn có chồng là sĩ quan bị đi tù lao động khổ sai, nghe nói ông bố anh Đông nửa đêm bỗng dưng bị bọn công an vào nhà còng tay khép tội dính líu đến “vụ án Hồ con rùa“ mà báo chí trong nước nói do bọn “biệt kích cầm bút” phá hoại.

Lý lịch anh Đông như vậy lại ốm yếu, không nghề nghiệp nên xuống phố ngồi sửa giày với người quen, còn bà chị thì nhấc cái máy may trong nhà ra góc chợ nhận vá sửa quần áo cũ. Lang thang đi bán dạo Phúc quen biết nhiều cảnh đời của các gia đình khác rất giống với nhà mình, khi người đàn ông trụ cột trong nhà đi tù lao động khổ sai, mẹ và con đều phải nai lưng ra chợ trời bán buôn đủ thứ ở lề đường; quần áo cũ, phim phổi, bơm mực bút bi, vá xe đạp, mua ve chai giấy vụn....

Nhiều vốn hơn thì bán cà phê “cái nồi ngồi trên cái cốc”, gánh bún riêu, nồi cháo huyết. Vốn nhiều nữa thì mua đi bán lại đồng hồ, ti vi, radio, bàn ghế, tủ giường, xe đạp, vải vóc, sợi len cho đám bộ đội mang về Bắc. Ai gan to thì lén lút sang bán các băng nhạc vàng là loại hàng được liệt vào thứ “đồi trụy phản động” nhưng lại được các tên bộ đội ưa thích nhất.

Trưa nào Phúc cũng mang giỏ bánh ghé quán trà đá của bà ba Huế cạnh bến xe liên tỉnh ngồi bán, luôn tiện vừa nghỉ chân vừa hóng chuyện người lớn. Mấy anh đạp xích lô quen mặt ngồi tụm một bàn chờ khách kể toàn những chuyện rất tức cười, Phúc thích nhất anh Phú trong nhóm, người to con vạm vỡ kể chuyện rất có duyên giống như hai lúm đồng tiền trên má của anh:

- Không biết mấy ông ra nghề làm sao chứ khi học cải tạo ba bữa về nằm nhà đi ra đi vô hai ba tháng buồn bực quá, vừa không tiền, không nghề nghiệp ăn bám của bà già “quài” chịu không thấu, bữa đầu tiên tui mướn được chiếc xích lô đẩy ra ngõ mắc cỡ thấy bà nên cứ cúi gầm mặt xuống sợ người quen nhìn thấy, trong bụng thầm nghĩ điệu này mình hỏng dám đạp xe luôn quá nếu không có khách, thời may có bà già tàu đi tới kêu “Ê, xích lô chở tao “li” chợ An “long” bi nhiêu dậy?”

Hồi trước tui đâu có đi xích lô đâu mà biết giá cả, nghe bả kêu tui mừng quá nên nói:

“Bà lên xe đi trả bao nhiêu cũng được!”

Ra tới chợ lại có khách kêu đi Chợ Lớn vậy là tui bắt trớn vô nghề luôn.

Một người khác gật đầu xác nhận:

- Ờ, ăn thua là bước đầu tiên, hồi đó tui cũng vậy. Từ cha sanh mẹ đẻ có biết đạp xích lô hồi nào, leo lên yên bụng đánh lô tô, cầm càng quẹo qua quẹo lại cứ sợ nó lật chỏng gọng thì bà “hú”.

Phúc nhỏ nhất trong đám cũng ráng góp chuyện:

- Em cũng vậy đó, hồi mới lãnh bánh đi bán em đâu có dám đi về khu nhà chung cư của mình, từ ngã tư Hàng Xanh em đi ngược về chợ Thị Nghè, ôm giỏ bánh em mắc cỡ không dám rao hàng cứ như vậy lầm lũi đi hoài, cũng may tới gần chợ có bà bạn hàng chắc đói bụng thấy em đi tới bả kêu: “Bánh mì bán cho tao một ổ”. Em mừng quá bạo dạn rao luôn “Bánh mì đây, bánh mì nóng giòn đây!”

Đang vui chuyện, bỗng có một bà khách nhìn cách ăn mặc là biết ngay cán bộ từ Bắc vào, bà thuê cuốc xe đi đến nhà trưng bày “Tội ác Mỹ Ngụy”. Mấy người lớn không ai đi nên đùn đẩy cho thằng Xuân Lâm, chiếc xích lô chở bà ta đi khuất, Phú cười ha hả nói:

- Trời ơi đi tới nhà trưng bày đó làm gì, ở đây cũng có nè đi tới đó làm gì.

Phúc ngây thơ đảo mắt nhìn quanh ngạc nhiên hỏi:

- Anh nói ở đây cũng có sao em không thấy?

Phú cười cười chỉ vào từng người:

- Ông này là Nhẩy Dù, cha này là Mũ Xanh, anh Ba là Mũ Đen Thiết Giáp, hai ông kia một ông Bộ Binh, một ông là Cọp Ba Đầu Rằn....

- Còn anh..?

- Tao hả, tao là “Người Nhái” thôi. Cho mày coi cái này nè.

Nói xong Phú xăn tay áo cho Phúc xem hai chữ “SC” xâm trên hai bắp tay, thấy Phúc vẫn không hiểu Phú giải thích đó là hai chữ “Sát Cộng” được viết tắt.

Anh Thanh đột nhiên hỏi:

- Ba của Phúc có gởi thơ về nhà chưa? Anh Hai của anh có gởi thơ về xin quà biểu ở nhà ra bưu điện gởi theo hòm thư.

- Dạ chưa, nhà em chưa được tin tức gì của ba em hết, mà sao gởi theo hòm thư nghe ghê thấy mồ.

- Ừ, họ gọi là hòm thư chứ không phải hộp thư. Miền Nam mình gọi cái quan tài là cái hòm, mà hòm hay hộp gì cũng vậy, hết thảy những người Sĩ Quan VNCH giống như ba em bị kêu đi tập trung lao động khổ sai thì coi như đi tù nói nôm na là vô hộp theo từ bình dân, “vô hộp” của phỉ quyền Hà Nội thì kể như vô “hòm” mấy hồi.

Nghe anh Thanh nói khiến Phúc nhớ tới ba, nhớ cảnh nhà, Phúc ứa nước mắt hồi nào không hay.

Gia đình nào cũng vậy, nếu mẹ là mái nhà che mưa nắng thì người cha là trụ cột đỡ cho mái nhà đứng vững. Nhà vắng đàn ông giống như nhà không có cây cột mái nhà xiêu vẹo đổ sập là lẽ tự nhiên. Đàn con giống như bầy gà con xao xác, một mình gà mẹ bới móc kiếm mồi làm sao đủ sống. Gánh nặng năm đứa con đổ ập lên vai mẹ Phúc, đồ đạc trong nhà ra đi dần dần, mẹ Phúc gắng chạy chợ cầm cự cho đủ ba năm chờ ba Phúc trở về theo như chính sách nhà nước đăng trên báo chí, nhưng chưa đến ba năm chừng như mẹ đã mỏi mòn.

Chỉ có mình Phúc còn biết đi bán phụ giúp cho mẹ nhưng tiền lời bán bánh hằng ngày như muối bỏ biển. Mẹ theo xe đò buôn chuyến về bỏ mối kiếm dăm đồng lời nhưng với các trạm kiểm soát ngăn sông cấm chợ, mỗi lần bị bắt là bị tịch thu hết vốn, đồ đạc trong nhà bị bán lần hồi khiến căn nhà trống trơn chẳng còn gì để bán nữa. Phúc bỏ học đã đành ba đứa em không người chăm sóc cũng thành lêu lổng, chị Hạnh là đứa con lớn tưởng được nhờ ai ngờ ngay từ năm tháng đầu tiên chị là người gây nhiều buồn khổ cho gia đình nhất.

Dạo này khu chung cư hay bị cúp điện thường xuyên, những đêm cúp điện nhưng có trăng sáng người ta hay ra ngồi trước nhà nhìn trời chuyện vãn, mẹ Phúc than với bà Sáng ở bên cạnh khi bà hỏi thăm chuyện nhà:

- Nhiều nhà nhận được giấy thăm nuôi rồi nhưng nhà tôi thì chưa có, bà thấy đó ! 5 miệng ăn thời buổi này khiến tôi mệt mỏi quá chỉ trông cho ba con Hạnh trở về tiếp tay dạy dỗ tụi nó. Hồi đó ảnh còn ở nhà tôi chỉ biết đi chợ nấu cơm phụ với con nhỏ giúp việc giữ em thuê, buổi tối cơm nước xong ảnh ngồi dịch sách kèm mấy đứa nhỏ học hành đâu phải như bây giờ ăn xong ba hột là mất dạng, hỏi thì nói đi sinh hoạt ca hát gì đó.

Bà Sáng chép miệng:

- Con gái xóm này riết hư hết trơn, con nhỏ út nhà tui cũng vậy, mười sáu tuổi cứ “nập nợn” ăn no xong là biến mất dạng, hỏi tới thì nói đi sinh hoạt, nghe nói làm “chị phụ trách” dạy mấy đứa con nít tập trung ca hát, nhảy “sol,đố” tới nửa đêm mới mò về! Sinh hoạt kiểu gì con trai, con gái lớn theo lớn, nhỏ theo nhỏ tập trung lại chỉ để trửng giỡn với nhau, cấm không cho đi thì vi phạm chính sách nhà nước bị kiểm điểm là cha mẹ lạc hậu, con út còn nói muốn sinh hoạt “thoát ly” gia đình giống như mấy anh chị lớn nữa kìa nên bị ông nhà tui chửi cho một trận.

- Con Hạnh nhà tui cũng vậy, hỏi nó sao đêm nào cũng đi hết nó nói mấy anh chị đoàn viên nói nó cố gắng sinh hoạt trở thành người đã giác ngộ cách mạng cho ba nó mau về. Ba nó được về sớm hay muộn là do thái độ của gia đình, mà nó mới mười ba, mười bốn tuổi đã biết gì đâu !

Bà Sáng ghé gần hỏi nhỏ mẹ Phúc:

- Trước kia chú Xuân là Đại Úy nhưng ở ngành gì trong quân đội vậy? Con út tui đi sinh hoạt chung với con Hạnh nghe nó hí hửng khoe với anh Tường cảnh sát khu vực cũng là bí thư chi đoàn thanh niên phụ trách sinh hoạt ở Phường, khi anh ta hỏi nó hồi trước ba làm gì phải là an ninh tình báo mới được đi Mỹ chứ. Con Hạnh còn nói ba nó giỏi lắm nói chuyện như người Mỹ hôm ba nó dẫn nó tới Hội Việt Mỹ chơi.

- Tui đâu có để ý mấy chuyện đó, ảnh chỉ phụ trách dịch tài liệu,báo chí thôi. Ba con Hạnh đi Mỹ là muốn học thêm tiếng Anh là môn ưa thích, ảnh muốn lấy thêm bằng cấp về báo chí của Mỹ nữa để về già dạy học môn này. Ảnh mà còn ở nhà thì con Hạnh đố có đi ra ngoài ban đêm được với ảnh.

Thời gian lần lữa cũng đã quá ba năm, Phúc không còn vác bao bánh mì đi bán rong nữa, nó đã về đầu quân hẳn cho hợp tác xã nhôm tái chế chuyên làm thau, nồi nhôm, ấm nước, loại hàng này ngoài bắc đang hút hàng. Không ai nhận ra Phúc vì mặt mũi nó giờ lem luốc bụi nhôm đen như thằng hề bởi ăn ở luôn tại nơi làm việc.

Mẹ của Phúc bán nhà dọn về khu kinh tế mới Đồng Xoài khi nhận được thư ba Phúc cho biết đang ở tại trại cải tạo Vĩnh Phúc tận phía Bắc. Chị Hạnh nó muốn “thoát ly” theo anh bồ đi thanh niên xung phong nhưng chưa đủ tuổi với lại nghe anh bồ than “ăn thịt cọp” tức là đâm muối hột ăn cơm nghe cộp, cộp hoài ớn quá nên không dám đi.

Phong trào sinh hoạt thanh niên địa phương giờ không còn rình rang như năm đầu tiên nữa, bầy con nít bị ăn độn, ăn đói do gia đình kiếm sống khó khăn nên hết hứng thú nghe lời kêu gọi của các anh chị phụ trách tụ họp ca hát nhẩy múa nữa. Miếng chanh vắt hết nước thì người ta quăng vỏ đi, theo sinh hoạt mãi chẳng thấy ba được thả về, cũng chẳng ai cần đến mình nữa chị Hạnh của Phúc đành chấp nhận đi theo mẹ buôn chuyến kiếm sống qua ngày.

oOo

Cổ nhân có câu “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” huống hồ ông Lâm đã phải ở trong tù mười bốn năm, ngày trở về đứng trước gian nhà cũ ông ngỡ ngàng bởi vợ chẳng hề cho ông biết đã bán nhà, bây giờ chẳng phải một mình ông mới thấm thía câu “Nước mất nhà tan”.

Giấy ra trại vẫn ghi địa chỉ căn nhà cũ, cũng may gia đình bà Sáng cám cảnh thương tình cho ông ngủ trên cái ghế bố đặt cạnh cửa sổ sát cửa ra vào, ông tạm ở đậu nhà ông bà Sáng để tiện việc trình diện công an địa phương. Tình láng giềng hàng xóm đối với ông bây giờ cũng như xưa, vẫn nhận được sự trân trọng như ngày nào, ngoại trừ người mới dọn tới sau này.

Những người lớn tuổi vẫn quen miệng gọi ông là “ông Đại Úy”, ông cảm nhận được sự ân cần tử tế thật lòng không phải là thương hại của họ. Qua họ ông mới biết thăng trầm xảy ra cho gia đình ông. Điều đau đớn nhất bây giờ ông mới biết tại sao ông bị giam giữ những mười bốn năm tù so với những người cấp bực như ông nhiều lắm chỉ là năm sáu năm mà thôi!

Ông hiểu ra tại sao chỉ mình ông bị tra vấn hỏi đi hỏi lại, bị cho là chưa thành khẩn khai báo về những ngày tháng ông đi tu nghiệp bên Mỹ, sự “ngoan cố” của ông đã phải trả giá đến mười bốn năm ! Nghiệt ngã xảy đến chẳng phải chỉ riêng ông, khắp bầu trời miền Nam ở đâu cũng nhan nhản có điều người ta chưa biết hết.

Ngay như ông cũng đâu có ngờ hai người thanh niên ngụ tầng lầu một phía dưới mà ông thỉnh thoảng vẫn trông thấy khi đi làm về, một người là thầy giáo dạy tiểu học, người kia là lính mang lon chuẩn úy vậy mà ngày ba mươi tháng tư chính họ là kẻ treo lá cờ của Mặt trận giải phóng trước hành lang chung cư đầu tiên và lộ mặt là hai tên nằm vùng.

Ông Long là Hạ Sĩ già ngành Cảnh Sát Đặc Biệt sau ba ngày học tập cải tạo tưởng đã yên thân nào ngờ chỉ vài tuần sau bị tố cáo là “thành phần ác ôn” bị tập trung đi tù lao động khổ sai tận miền Bắc những mười hai năm, được thả về chỉ tháng sau là qua đời. Thằng con trai lớn của ông nghi ngờ người hàng xóm nằm vùng đã tố cáo ba mình bởi phải là lời nói có “trọng lượng” mới khiến bọn phỉ quyền Hà Nội tin tưởng buộc tội.

Cũng phải mất cả tháng trời ông Lâm mới bớt suy sụp tinh thần, gặp một vài người bạn cũ ra tù trước ông giới thiệu vài chỗ dạy kèm Anh văn cho người có giấy xuất cảnh, nhờ vậy ông có tiền xuống dưới đất mướn căn chái nhỏ sát chung cư kê một cái giường, cái bàn làm chỗ ở.

Ngày ông về còn ở đậu nhà ông bà Sáng, nghe kể thời gian đầu bỏ khu kinh tế mới trở về vợ ông và ba đứa nhỏ nhất tối tối nằm ngủ ở cầu thang chung cư. Con Hạnh qua thời gian buôn chuyến giờ đang sống kiểu “già nhân ngãi, non vợ chồng” với một tay tài xế, nhờ vậy vợ ông theo ở chung với hai người. Thằng Phúc lấy đứa con gái làm chung tổ hợp ăn ở nhà chủ, ba đứa còn lại là Tâm, Bình, An gặp ông chẳng thấy chúng mừng rỡ hay tha thiết gì cả. Có lẽ vì ngày xưa lúc ông còn ở nhà chúng còn nhỏ quá, thời gian làm chúng phôi pha những ấn tượng về tình cha con với ông. Quen với cung cách sống lêu bêu không nhà cửa, không người dạy dỗ bấy lâu chẳng đứa nào chịu nghe lời ông khuyên bảo.

Điều làm ông buồn và thất vọng nhất là con bé Út An, đứa con gái ông cưng nhất khi ra đi chưa đầy bốn tuổi nay đã thành thiếu nữ, nghe nói có lần bị đưa lên Phường giáo dục về tội “làm gái”. Thằng Bình còn có biệt danh “Bình giang hồ” từ khi mới bảy tuổi !

Ông Lâm nghe hàng xóm kể chuyện những đứa con mình mà cảm thấy đầu nặng, mắt hoa, dưới chân không phải là đất nữa; ông đang chìm lỉm giữa biển đời trầm luân khi thấy gia đình giờ không phương cứu vãn, nếu ông trở về sớm hơn có lẽ còn có thể ! Ông không dám trách vợ ông tuy mỗi năm chỉ nhận được một hai gói quà gửi kèm qua người khác và trong suốt thời gian đi tù vợ ông chỉ có thể khăn gói gặp ông một lần duy nhất, ông rất hiểu những khó khăn vợ ông phải gánh vác thay mình và ông vẫn còn may mắn là bà đã không ôm cầm sang thuyền khác !

Ông lại nhớ đến lời gợi ý của gia đình ban sáng khi ông đến dạy học, họ đề nghị ông làm giấy kết hôn với bà chị vợ của chủ nhà để bà này được đi theo ông diện HO khi nộp hồ sơ, bù lại họ sẽ trả ông một số vàng.

Suy nghĩ cả đêm không chợp mắt, sáng ra trước khi đi dạy ông ghé nhà Hạnh con gái ông, ông dặn nó nói với mẹ chiều tối ghé qua ông có việc quan trọng bởi từ khi về đến giờ đã hơn nửa năm hai người vẫn ở riêng. Sự hư hỏng và thất học của các con, tuổi tác cùng thời gian xa cách là rào cản vô hình khiến tình cảm giữa ông và vợ bỗng dưng không còn mặn nồng như xưa, giữa hai người giờ chỉ còn cái nghĩa.

Bà Liên vào nhà ngồi cạnh mép giường hỏi:

- Ông nhắn con Hạnh muốn nói chuyện quan trong, là chuyện gì?

- Có người đề nghị kết hôn giả để đi theo tôi, bù lại họ đưa một số vàng. Tôi thấy qua bên Mỹ sống không dễ với một người không nghề nghiệp, không biết một tiếng Anh như bà, phần tôi hơn năm mươi tuổi chưa biết có thể tìm được việc dễ không. Nếu bà muốn ở lại lấy vàng làm vốn thì tôi với bà phải làm giấy ly dị. Việc này tùy bà quyết định.

Bà Liên nói rất nhanh không cần suy nghĩ:

- Tôi muốn đi theo ông sang Mỹ, bao nhiêu năm tôi chịu cực rồi, giờ phải được đền bù.

- Vậy thì tôi làm hồ sơ cho bà và các con đi theo tôi.

- Mấy đứa nhỏ chưa chắc chịu đi, tụi nó đâu biết tiếng Anh.

Ông Lâm thở dài:

- Cha làm thầy, con đốt sách ! Bà với tôi đi rồi chúng ở lại với ai? Đi hay không thì tùy chúng chọn lựa nhưng bổn phận của tôi là ghi tên tất cả cho chúng đi theo tôi. Riêng với con bé Út An tôi bắt buộc nó phải đi để làm lại cuộc đời, hy vọng sang môi trường mới nó sẽ không còn bị khinh rẻ như thời gian qua, dù rằng bên ấy kiếm tiền không phải dễ dàng ! Tiền không phải như lá vàng ngoài đường muốn lượm bao nhiêu cũng có nhưng ở đây chúng không còn chỗ đứng cho chúng đâu.

oOo

Ngày 30/ 04/ 1975 mở đầu một trang sử đổi đời thê thảm, không biết đã có bao nhiêu gia đình tan tác như gia đình ông Lâm. Bao nhiêu mái đầu xanh ngây thơ bị bọn phỉ quyền Hà Nội tiểu nhân đê tiện lợi dụng để khai thác tin tức trong việc xúi giục con tố cha, vợ tố cáo chồng.

Bao nhiêu cái chết oan uổng trong những trại tù lao động khổ sai khắc nghiệt, bao nhiêu thân xác vùi sâu trong lòng biển xanh, trong rừng sâu trên đường vượt thoát tìm tự do sau ngày im tiếng súng.

Chiến thắng và vui mừng của một số người lại là nỗi đau đớn chia lìa, buồn đau của rất nhiều người Miền Nam khác.

Xin đừng nói đến câu “hãy quên đi quá khứ” sau ngày này bởi là lời vô tình nhắc nhở khiến người ta lại nhớ đến chúng hơn bao giờ hết.

Cỏ Biển

Tuesday, April 10, 2018

Giữa dòng sóng đỏ

Cỏ Biển. 

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”

Có những buổi chiều trên đường về lái xe qua con dốc trập trùng nắng chiếu lóa khung kính từ phía Tây, ánh mặt trời chín đỏ chìm khuất ẩn sau hàng hàng, lớp lớp dãy mây tím vắt ngang trên nền trời tạo thành một bức tranh khổng lồ vẽ cảnh hoàng hôn.

Chiều xuống nơi này gợi trong tôi nỗi nhớ nhung, phía sau đường chân trời bên kia bờ đại dương là “cố quận” xa vời đang buổi bình minh. Nỗi nhớ cứ âm ỉ trong tâm thức khiến đêm đêm tôi lại mơ thấy mình trở về thời ngây thơ đạp xe rong chơi qua từng con phố, từng đoạn dường ngát mùi hương ngọc lan, từ căn biệt thự nào đó lan tỏa trong không gian sau cơn mưa đêm.

Đêm qua tôi lại mơ thấy mình một lần nữa trên yên chiếc xe phân khối cao, ngổ ngáo phóng như bay, mặc cho gió thổi ào ào bên tai. Có lúc lại thấy toàn thân bập bềnh như đang nằm trên ngọn sóng đung đưa, bất chợt xuất hiện một con sóng khác từ trên cao ụp xuống bất thần, lôi tôi rơi xuống đáy vực tối đen với tốc độ kinh hồn. Sau những giấc mơ tôi thường tỉnh giấc, trái tim nhói đau từng cơn. Cố nhắm mắt dỗ lại giấc ngủ, tôi lại thấy mình chìm trong một dòng sông đặc quánh một màu đỏ khé, đôi tay chới với ôm lấy thi thể ba tôi nằm gục trên vũng máu trước nhà khiến tôi phải hãi hùng thức dậy.

Bao lần cơn ác mộng đã làm tôi trằn trọc thâu đêm, những ám ảnh đau thương tôi cố gắng đừng nhớ đến nhưng không làm sao có thể quên đi!. Ngồi bó gối dựa lưng vào thành giường, nghĩ ngợi lan man rồi tự hỏi lòng: Vì sao mình lại hiện diện nơi đây, cách nửa vòng trái đất, trên một xứ sở xa lạ khác từ ngôn ngữ cho đến màu da? Giống như loài chim dắt díu nhau bỏ lại tổ ấm một thời, giờ trở nên xác xơ ở vùng đất chết xoải cánh bay về những khung trời xanh lộng gió hiền hòa. Vì sao mọi người kéo nhau ra đi, mang cả cuộc đời và mạng sống của mình ra để trả giá cho một sự đổi thay để rồi lại “thêm một lần thứ sáu trắng đêm, để hồn về một Saigon đang sống.” ( * * )?.

oOo

Có phải từ trong đau khổ tột cùng con người mới thể hiện được bản lĩnh và thực sự trưởng thành.? Đôi khi phẫn chí tôi tưởng như mình không thể chịu đựng thêm giây phút nào nữa. Khoảng thời gian ấy tôi như mất hết ý thức, không còn chú ý đến những gì xảy ra chung quanh. Bấy giờ tôi và mọi người mới hiểu và thấm thía câu “Nước mất nhà tan “ mới biết tai ương ập xuống không chỉ cho riêng ai. Ngay cả các loại bò sát trên ngàn cũng lũ lượt kéo nhau thiên di xuống đồng bằng, hướng về biển cả tránh đại họa. Loài vật nhờ co’ bản năng thiên phú nên đoán trước thiên tai sẽ xảy ra, kéo nhau đi tìm nơi ẩn nấp để có thể sinh tồn. Vậy mà con người không biết “có phải vì ấu trĩ, vì thờ ơ hay ngu tối (thơ Vô Danh)”, nên dễ dàng bị lừa gạt bởi viễn ảnh hòa bình rằng sẽ không có hận cũ, thù xưa xảy ra sau ngày cùng buông súng chấm dứt chiến tranh. Nhưng thực tế đã làm sáng mắt những ai trót tin vào huyền thoại và những lời tuyên truyền dối trá. 

Từ sáng tinh mơ đôi tai mọi người lúc nào cũng nghe tiếng loa phóng thanh đặt ở góc phố với giọng nữ the thé đọc tin tức và thông cáo mới của ủy ban quân quản. Ngay từ buổi đầu tôi đã có ác cảm với chất giọng loại này, nó chát chúa, chua ngoắt như giấm, cả đến những bản nhạc mới thoạt nghe tôi chẳng hiểu được đang diễn tả cái gì! Một chuỗi âm thanh tiếp nối e é trong cổ họng như giọng của những viên hoạn quan đang õng ẹo làm trò. Hôm thì yêu cầu tổ dân phố sáng mai tập trung quét đường, ban ngày làm sạch đẹp để đêm đêm lại len lén vứt rác ra đầu ngõ bởi công nhân đổ rác giờ được “đảng cho sáng mắt, sáng lòng” trở thành những người chủ dù chỉ bằng lời tâng bốc “hữu danh vô thực” và cũng để phát huy sáng kiến tiết kiệm xăng dầu nên các xe đổ rác bằng cơ giới trước kia đồng thanh ngưng hoạt động, chỉ sử dụng xe ba gác đạp mà thôi. Rác rến giờ là nguồn lợi chính của các chủ nhân được đảng vinh danh, họ nhặt nhạnh từ miếng mảnh chai bể, giấy vụn, ny lon rách tất cả được gom góp thật hết trước khi đổ ra bãi rác lớn. Cũng là nơi đám trẻ con tham gia phong trào kế hoạch nhỏ hay đến moi móc tìm sắt thép, giấy vụn để giao nộp đủ chỉ tiêu bắt buộc cho mỗi đứa do trường học phát động.

Việc lớn, việc nhỏ phải khắc phục làm bằng tay chân, thực thi bài học “Lao động là vinh quang”. Hôm khác thì tập trung mọi người không kể già trẻ để tham gia mít tinh, nhà nào trót lỡ vắng mặt thì bị nêu tên trong buổi họp phê bình kiểm thảo của tổ dân phố và phải thành khẩn nhận khuyết điểm trước chứng kiến của công an khu vực.

Cơn hồng thủy từ trên rừng tràn xuống đã tiêu diệt chủ nghĩa tư bản và kinh tế cá thể của tư nhân, tiếp theo là việc phát động phong trào đấu tranh quyết liệt xóa bỏ giai cấp bóc lột bằng cách tịch thu của cải, đất đai. Tất cả nhà máy, xí nghiệp phải do công nhân làm chủ, đi đâu cũng thấy các biểu ngữ giăng đầy, các buổi học tập chính trị được phát động rầm rộ để giáo dục công nhân giác ngộ, thực thi quyền làm chủ tập thể nhưng phải do Đảng toàn quyền lãnh đạo. Những người thợ ban đầu được thổi phồng niềm vui, sau rốt thì chán nản ù lì khi hiểu ra làm chủ chỉ là một người làm việc phải phấn đấu tăng năng suất gấp hai, gấp ba nhưng đồng lương thì phải hy sinh lãnh một, mọi thứ chỉ là lời nói suông hoa mỹ nghe xuôi tai mà thôi.

Gia đình tôi tưởng rằng khi đã giao lại việc quản lý, điều hành Công ty thì mọi việc sẽ yên, nhưng nào có ai ngờ!!! Hôm ấy, đến giờ cơm nhưng chẳng ai nuốt trôi. Trên bàn ăn nghe loáng thoáng về chuyện Đoàn kiểm kê cải tạo X2 đến đóng chốt ở kho hàng của gia đình, trước kia chứa vật liệu xuất nhập cảng. Tin tức còn phỏng đoán có lẽ đêm nay hoặc đêm mai họ sẽ kéo đến nhà. Ba tôi nghĩ rằng mình đã ngoan ngoãn thi hành đúng theo chủ trương chánh sách đòi hỏi, khai báo đầy đủ thì chắc chẳng xảy ra việc gì theo như lời hứa của những cán bộ đến “đả thông tư tưởng” của các nhà tư sản như ba tôi. Anh Hai với kiến thức của một Phó giám đốc kỹ thuật được học tập ở nước ngoài vẫn ở lại thi hành công việc điều hành và bảo trì các máy móc một cách tích cực dù chỉ để nhận đồng lương của một người thợ bậc trung, mục đích chỉ muốn đóng góp sở học của mình vào công việc chuyên môn ưa thích.

Đêm đi qua một cách chậm chạp, mọi người có cảm giác thời gian đôi lúc đứng lại và ngủ quên. Mặc dù chưa biết việc xảy ra sẽ thế nào nhưng tâm trạng hồi hộp của những con cá nằm trên thớt chờ đợi giây phút hóa kiếp chắc cũng chỉ đến thế là cùng. Xuống nhà dưới tôi giúp chị bếp đun nước pha cà phê cho Ba mặc dù còn lâu trời mới sáng rõ. Tiếng người nói chuyện lao xao, tiếng xe thắng gấp khiến tôi chạy vội lên nhà trên nhìn ra ngoài đường, cuối cùng thì họ đã tới!

Đoàn kiểm kê hơn chục người dẫn đầu là mấy cán bộ chân dép râu, hông đeo súng, trên vai mang “xà cột “. Sau khi đọc quyết định tiến hành kiểm kê và niêm phong họ chia ra làm nhiều tổ lục soát, ghi chép, đong đếm tất cả những đồ vật hiện có trong nhà. Từ cái bàn, cái ghế thậm chí những bóng đèn điện mắc trong nhà vệ sinh. Xếp loại thứ nào là tư sinh hoạt, vật nào thuộc nhóm máy móc thiết bị, loại nào có giá trị lâu dài, loại nào là vật rẻ tiền mau hỏng. Thành viên của đoàn kiểm kê còn cẩn thận dùng búa gõ nhẹ vào vách tường mọi nơi kể cả phòng tắm để tìm xem gia chủ có giấu diếm vàng bạc hoặc tư trang chăng? Trong khi kiểm kê thì mọi người trong gia đình phải tập trung ở phòng khách dưới sự giám sát của cán bộ cải tạo tư sản. Điều bất ngờ mà Ba tôi không lường trước là cán bộ kiểm kê đã lục lọi đến cả những bức thư, đọc từng trang hồ sơ, hóa đơn và tai họa đã giáng xuống khi họ bắt gặp tấm ảnh chụp Anh Hai tôi đứng bắt tay với vi. nguyên thủ quốc gia nhân dịp ông viếng thăm gian hàng của nhà máy trong Hội chợ triển lãm Kỷ Nông Công Thương. Ba và anh tôi cứ nghĩ rằng đây là hình ảnh sinh hoạt thông thường trong giới thương buôn chẳng dính dáng gì đến chính trị. Nào ngờ tất cả đều lầm to. Bắt được tấm hình, tên trưởng toán đanh giọng:

– “Đây là bằng chứng cho thấy tai mắt quần chúng khắp mọi nơi, lời tố cáo cực kỳ chính xác. Gia đình này lại phạm thêm tội đã cấu kết chặt chẽ với bọn phản động cầm quyền để bóc lột nhân dân.”

Tấm hình vô tình là bản án dành cho anh tôi, với tội trạng đành rành không thể nào chối cãi được. Anh tôi hai tay bi. còng thúc ké sau lưng, bên cạnh là tên cán bộ cầm súng vung vẩy. Bỏ mặc lời giải thích của ba tôi, chẳng động lòng với tiếng khóc lóc van xin của má tôi, Anh tôi bị áp giải lên xe chở đi mất hút. Việc bắt giam không cần tòa án để xét xử, cũng chẳng chấp nhận biện minh, với tháng năm du học ở nước ngoài anh tôi còn bị khép thêm tội là thành phần CIA của Mỹ ngụy cài lại để tìm cách phá hoại nhà máy sau này. Qua màn nước mắt, hai mẹ con tôi đang thổn thức ôm nhau khóc vì chẳng ngờ được chuyện xảy ra, tất cả như trong giấc mơ; bỗng có tiếng chi. bếp kêu rú lên làm chúng tôi hốt hoảng. Trong một lúc khốn cùng của tuyệt vọng và quẫn trí, ba tôi lẳng lặng lên sân thượng từ lúc nào không ai hay và đã gieo mình xuống đất. Trông thấy cảnh tượng má tôi mặt mũi tái xám, ngã sóng soài bên cạnh, còn tôi thì lúc ấy mắt mở to muốn rách cả con ngươi, miệng méo xệch run rẩy hồi lâu mới khóc òa lên được. Tôi nghẹn ngào thét lên:

– “Không, không…!!!!”

Tôi kinh hoàng trước thực tế khủng khiếp và tàn khốc, làm sao tôi có thể chịu đựng nỗi?. Trời ở đâu? Chúa, Phật ở đâu? Đạo giáo thường dạy lẽ công bằng của trời đất, luật bù trừ, ở hiền sẽ gặp lành. Từ khi sinh ra đời tôi chưa thấy ba má tôi làm điều trái nghịch đạo lý làm người. Chẳng lẽ do cần cù làm việc, dành dụm tích cóp từ đời ông bà, cha mẹ, tạo nên tài sản mong dành cho con cháu có chút vốn liếng sau này. Cộng thêm sự học hỏi, óc thông minh, sáng tạo mới có thể tạo nên của cải hơn người, phải chăng là một cái tội?. Tất cả những ai giàu có bất kể nguyên nhân, bây giờ bị xếp loại là kẻ co’ tội ác.

Tôi đau đớn gào lên lần nữa, nước mắt tuôn tràn ôm lấy xác ba tôi mếu máo khóc không thành tiếng. Trí óc của tôi tê dại, lòng tôi hình như hóa đá hay đã chết theo?!

Vào ngày tháng này tôi mới vừa bước sang tuổi mười bảy.!!!

oOo

Tai ương ập đến như ngọn sóng thần bất thình lình kéo đến phá hủy, san phẳng mọi thứ thành bình địa rồi nhanh chóng rút đi để tất cả đau thương ở lại.

Sau đám tang của ba tôi, gia đình bây giờ chỉ còn lại hai mẹ con với nỗi u sầu, tuyệt vọng vì mất mát tất cả. Khi nhìn thấy tôi vất vả ngược xuôi, má lại ôm tôi thở dài với đôi dòng lệ lã chã tuôn rơi. Lúc còn nhỏ, anh chị tôi hay ganh tị khi thấy tôi được ba má quá nuông chiều, má tôi thường hay viện lẽ “cha mẹ giàu thì con Út ăn, cha mẹ khó thì con Út chịu”. Giờ thì đúng là má chỉ còn có tôi là chỗ nương dựa duy nhất trong khi khốn khó.

Căn biệt thự bị tiếp quản, chúng tôi “được” dọn xuống căn phòng nhỏ phía sau cạnh gian bếp, không bị đuổi ra khỏi nhà là nhờ một may mắn ngẫu nhiên. Một ông tự xưng là bạn học cùng quê với ba tôi từ nhỏ. Khi lớn lên thì rủ rê nhau tham gia thanh niên tiền phong vác tầm vông vạt nhọn chống Pháp. Tình cờ ông này gặp chị tôi đang du học bên trời Tây biết được chị là con của ba tôi nên đã có mối liên lạc qua lại. Trước khi về nước để chuyển công tác mới, ông ta ghé thăm chị tôi và nhận trao giùm lá thư. Thấy tình cảnh gia đình ông đứng ra bảo lãnh và xác nhận ba tôi là người đã góp công của và có tham gia vào cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp một thời gian.

Cầm lá thư của chị tôi gởi về, mở ra thấy một loạt hình ảnh kèm theo bỗng dưng tôi không muốn đọc tiếp thư của chị.! Có lẽ chị không biết được sự thật đang xảy ra cho mọi người trong gia đình vì trong hình tôi thấy chị tươi cười đứng trên sân khấu, trên người mặc bộ bà ba đen, cổ quấn khăn rằn, loại khăn choàng tiêu biểu của những du kích Việt cộng, tay chị vung vẩy lá cờ nửa đỏ nửa xanh chào mừng ngày cách mạng thành công!!! Người bạn của ba tôi có nhắn nhủ, trước khi ông ta trở lại nhậm chức ở một nước bên Âu châu nếu tôi có gởi thư cho chị, ông sẽ chuyển giúp.

Có những nỗi buồn trở thành cú sốc khiến người ta mất hết cảm giác đau đớn và nước mắt chảy ngược vào lòng. Tôi chẳng màng đến chuyện viết thư cho chị tôi để kể lại câu chuyện bên nhà, cũng chẳng thèm xin chị gởi gì về để giúp đỡ cho đời sống mặc dù những nữ trang chúng tôi giữ được nhờ đeo trên người còn lại rất ít, chỉ đủ cầm cự một thời gian. Cũng may, khi kiểm kê thì họ đã không ghi những bộ quần áo đắt tiền trước kia của gia đình, nhờ vậy tôi mới có vốn liếng xách giỏ ra chợ trời chạy tới chạy lui bán dần mớ quần áo đó để sống qua ngày.

Mỗi ngày hai má con tôi chứng kiến sự thay đổi suy sụp của ngôi nhà vì tình trạng quản lý tập thể. Thang lầu trước kia sạch bóng giờ nhớp nhúa bởi bùn đất, cửa kiếng cái nứt, cái vỡ toác, bàn ghế xê dịch lung tung, cái gãy chân, cái tróc nệm ngồi. Góc sân hàng tạ củi được tha về vứt ngổn ngang, nhà bếp ám khói đen ngòm. Hồ nước đầy lá vàng cạn khô vì cái vòi nước bên dưới bị gãy chốt được cột bằng sợi dây thun cứ ri rỉ chảy cả ngày lẫn đêm. Đội kiểm kê hơn chục thanh niên, thiếu nữ đóng chốt nấu nướng ăn ngủ tại chỗ; Sau này tôi mới biết họ thuộc thành phần sinh viên các trường Đại học, gia đình không có thân nhân dính líu đến chính quyền VNCH, bị bắt buộc tham gia công tác vào các tổ kiểm kê cải tạo tư sản và sau đó mới được cấp giấy chứng nhận để trở lại tiếp tục học. Mỗi tổ kiểm kê đều có cán bộ Cộng sản chính quy hoặc nằm vùng trước kia chỉ huy, kiểm soát hành động tư tưởng và phổ biến chủ trương, đường lối của đảng.

oOo

Cuối năm trời trở lạnh, cái lạnh khắc nghiệt khiến má tôi lo lắng và nhớ đến anh hai tôi nhiều. Không biết bây giờ anh bị giam giữ nơi nào. Để vừa lòng má, tôi phải cố nén oán hờn liên lạc với người bạn của ba, nhờ giúp đỡ tìm anh tôi để xin thăm nuôi. Cầm lá thư viết tay của ông tôi tìm đến một địa chỉ quen thuộc nhưng giờ trở nên xa lạ bởi đã trở thành một nhà tập thể của cán bộ cao cấp từ “A vào ở đây tôi chua chát chứng kiến tấn tuồng thay đổi của trò đời. Tôi chạm trán với một người trước kia đã từng là bạn doanh nghiệp với ba tôi. Thời đó, ông ta nổi tiếng giao thiệp rộng, toàn là viên chức cao cấp, thậm chí ngay tại phủ Tổng Thống. Bây giờ ông giống như một con cắc kè đổi màu rất nhanh chóng. Có lẽ vì ông không để ý đến một con bé đang ngồi chầu chực cạnh phòng ăn đang lắng nghe ông nói nên ông huyên thuyên kể lể những gì đã tham gia, đóng góp, ca tụng chế độ Cộng sản để chứng tỏ ông là người trung thành với cách mạng. Vừa cầm ống “phô maigiống hình cây kem đánh răng, ra sức nắn bóp để quệt lên miếng bánh mì trên dĩa, vừa xuýt xoa tán dương:

– “Pho mát này ngon tuyệt, “Bác” khi còn ở Pháp hay ăn loại này đó, phải là người sành ăn mới biết chọn loại ngon như vầy à.”

Nghe ông ta kính cẩn, âu yếm nhắc đến chữ “Bác một cách thân quen tôi bỗng thấy buồn nôn. Và bỗng dưng tôi không dằn được sự khinh bỉ khi nghe ông ta loáng thoáng ca cẩm chuyện những tên “du kích 30/4” hạch sách, khó dễ ông về một vấn đề nào đó, ông gằn giọng:

– “…… tôi quát với tụi 30/4 ở xóm tôi… chỉ có bọn “Ngụy” mới làm như vậy mà thôi..!!

Tôi còn nhớ rất rõ, trước kia chính ông là người đã hết lòng tán dương, ca tụng và nhờ vả “bọn Ngụy mà bây giờ ông lại nhắc tới một cách hằn học. Cũng chính nhờ có “bọn Ngụy nên ông mới có chỗ dựa hơi để yên ổn làm ăn, khoe khoang, hù dọa rằng ta đây là người có “gốc gác, quyền lực “với những người chung quanh. Cũng chính vì có bọn “Ngụy “dại dột trải máu xương hy sinh, chiến đấu cho những người như ông và gia đình được sống ấm êm, an hưởng giàu sang trong giới thượng lưu trong hai mươi năm qua. Nếu không có bọn “Ngụy “biết đâu chừng ông đã bị lôi ra đấu tố trong công cuộc cải cách của giai cấp bần cố nông vô sản từ lâu, cho dù ông có giỏi luồn lách, nịnh bợ để lọt sổ cũng chỉ được quyền sở hữu chiếc xe đạp là cùng.

Nỗi buồn về những thay đổi của thế thái nhân tình khiến tôi đạp xe đi lang thang cả buổi. Đi dọc theo con đường nằm sau lưng tòa đại sứ Pháp tôi thấy một đám đông đang tụ tập, vừa đạp ngang vừa tò mò quan sát, tôi bỗng nghe tiếng kêu giật giọng:

– “Kim Ngân, Kim Ngân.”

Ngừng xe lại, còn đang ngơ ngác nhìn chung quanh, một thanh niên tách đám đông chạy ra. Tôi mừng rỡ nhận ra Phiên, anh là con của một gia đình có liên quan đến công việc làm ăn của Ba tôi. Nhà anh có đồn điền trồng dâu nuôi tằm ở Lâm đồng nên hay cung cấp các loại sợi tơ kéo từ tổ kén cho các nhà máy để dệt các mặt hàng làm bằng tơ sống. Thỉnh thoảng lên Dalat nghỉ mát, Ba má tôi hay ghé thăm gia đình anh. Có lẽ một số người quen biết ở xa không ai ngờ tai họa lại xảy ra cho gia đình tôi, mà gia đình Phiên là một. Đưa mắt nhìn Phiên tôi thắc mắc:

– “Anh làm gì ở đây vậy?

Anh trả lời với giọng ngạc nhiên:
– “Bộ Kim Ngân không biết sao? Gia đình anh đang đăng ký với Tòa đại sứ để xin xuất cảnh.

Tôi tròn mắt nhìn anh:
– “Có chuyện đó thật sao? Ai cho đi mà đi?

Anh kể rằng:
– “Do sự can thiệp của Pháp yêu cầu cho hồi hương những công dân mang quốc tịch nước họ, sau khi thảo luận chính quyền Cộng sản đã đồng ý, cho nên những ai có quốc tịch đều kéo nhau ra tòa đại sứ xin về nước.”

Tôi hân hoan cười:
– “Vậy là chúc mừng cho gia đình anh gặp may mắn, còn hơn là trúng số độc đắc nha.”

Trong cuộc sống, nếu có những con người thể hiện bản chất đáng khinh thì cũng vẫn có nhiều người có tư cách đáng quý. Buổi tối Phiên và gia đình đến thăm má con tôi. Họ đề nghị nếu tôi kết hôn với Phiên thì cũng sẽ được đi cùng. Chỉ là về mặt hình thức mà thôi. Má tôi hết sức cảm động về tấm chân tình này, nhưng tạo hóa cũng trớ trêu không kém, tôi chỉ mới mười bảy thôi nên chưa đủ tuổi để kết hôn theo luật định. Vả lại tôi cũng không đành lòng để má tôi ở lại một mình, còn thêm việc thăm nuôi anh tôi lấy ai vào cáng đáng đây? Nhìn thấy tôi ngồi nghĩ ngợi Anh Phiên tưởng tôi buồn nên hứa:

– Sang bên đó Anh sẽ đi tìm chị Kim Phúc để cho chị ấy biết tin nhà.

Tôi gượng cười thầm nghĩ: Nếu không có những người trí thức nhẹ dạ như chị, nếu không bị những người phản chiến, những nhà báo ngoại quốc bóp méo sự thật thì người dân miền Nam đâu đến nông nổi hôm nay. Không biết chị tôi sẽ nghĩ gì và cảm thấy ra sao khi chị được cha mẹ nuôi dưỡng cho ăn học tốn kém hơn người, lại đi tiếp tay với chế độ đã giết cha và gây cho gia đình mình điêu đứng.

oOo

Gần hai năm sau ngày mất nước, khi đã triệt hạ hết thành phần tư sản tư doanh có tiếng tăm và vốn liếng xong xuôi, chính quyền bắt đầu phát động thi hành chính sách cải tạo tư sản công thương nghiệp là những nhà buôn lẻ. Chủ trương ngăn sông cấm chợ đã được áp dụng từ ngày bắt đầu chiếm được miền Nam bây giờ trở nên khắc nghiệt hơn nữa. Qua một đêm, bạn hàng ở các chợ bỗng hãi hùng khi thấy trước gian hàng của mình có sẵn các nhân viên trong tổ cải tạo Công thương nghiệp chờ sẵn kê biên tất cả những gì đang có. Mọi thứ đều bị niêm phong, nếu không trở thành cửa hàng quốc doanh thì phải gia nhập vào tổ mua chung bán chung, thôi thì từ gian hàng tạp hóa, mắm muối cho chí đến miếng thịt con cá cũng phải vào tổ hợp, tất cả đều đặt dưới sự kiểm soát của nhân viên nhà nước, mọi thứ giờ là tài sản của tập thể. Các cửa tiệm nhỏ cũng phải chấp hành theo lệnh kiểm kê và đặt dưới sự quản lý theo ngành nghề. Đa số sau khi bị kiểm kê trưng thu mua cầm trong tay mảnh giấy xác nhận vô giá trị đều đóng cửa, dẹp tiệm. Hàng hóa, nông sản từ những nơi xa dùng trao đổi mua bán không thể nào mang qua lọt được các trạm kiểm soát đặt khắp ngả đường dẫn vào thành phố. Từ miếng thịt, cân đường, thậm chí hạt tiêu, hạt đậu. Chỉ có những cán bộ, viên chức các ngành Thương nghiệp là no đủ vì nắm trọn quyền ban phát trong tay bởi hàng hóa chỉ bán theo tiêu chuẩn cung cấp nên khan hiếm, thế nhưng biết cách “móc ngoặc “đi cửa sau và chịu mua giá cao với cán bộ thương nghiệp thì cái gì cũng có.

Đời sống đang trong cảnh khó khăn giờ trở nên bi đát hơn. Phường, Khóm nơi tôi đang ở cứ tới thúc giục vận động gia đình tôi nên đi kinh tế mới để tăng gia sản xuất. Tình cờ mẹ tôi gặp một người bạn cũ có chồng là người Pháp làm chủ một công ty. Khi bi. trưng thu mua cửa hàng, trước khi giao hết tài sản cho nhà nước để trở về Pháp, ông yêu cầu toàn bộ nhân viên đang làm việc cho ông được nhà nước thu dụng cho làm việc tiếp tục, nhờ vậy tôi được có tên trong danh sách nhân viên hiện hữu của công ty.

oOo

Có lẽ nhờ vào việc hồi hương của các Pháp kiều, Ấn kiều vào ngay năm đầu tiên khi miền Nam lọt vào tay Cộng sản cho nên thế giới mới biết được một ít những gì đã và đang xảy ra sau lưng bức màn tre ở Việt Nam. Tôi nhận được giấy báo đi nhận thùng quà đúng vào ngày giỗ của ba tôi. Anh Phiên đã làm đúng theo lời hứa tìm gặp chị tôi. Một hôm vừa đi làm về, má cầm lá thư của chị gởi về rưng rưng nước mắt nói với tôi:
– “Chị con gởi thơ nói sẽ làm giấy bảo lãnh mình đi qua bên đó”

Tôi hỏi má:
– “Má có đồng ý đi không?”

Vừa lau nước mắt má vừa nói với tôi:
– “Má không thể bỏ anh hai con ở lại được, mình đi rồi ai lo thăm nuôi anh con đây!”

Thời gian và đau khổ làm má tôi già sọm đi trông thấy rõ. Trước mắt tôi bây giờ là một mái tóc hoa râm xác xơ, ánh mắt nhìn vô định. Nét buồn bã, rầu rĩ góp phần làm tàn phai nhan sắc con người nhanh chóng. Tôi biết không nên để má tôi ở lại nơi có quá nhiều biến cố đau thương này. Mỗi ngày bà lặng lẽ, âm thầm đi vòng từ gian nhà phía sau ra đến sân trước, một mình đối diện với những gì còn lại, nhìn cây mận do chính tay ba tôi trồng đơm hoa trắng xóa ở góc sân, dưới tàn cây là cái ghế đá đầy kỷ niệm ghi dấu một thời an bình và hạnh phúc của gia đình.Đánh bức điện tín cho chị tôi, hối thúc chị gởi gấp giấy tờ làm thủ tục bảo lãnh cho một mình má tôi thôi, còn tôi sẽ ở lại đảm nhận công việc thăm nuôi và chờ anh tôi.

Cuối cùng nhờ chạy chọt lo lót anh tôi cũng được thả ra sau mấy năm tù. Đôi khi nhìn lại tôi rùng mình kinh sợ quãng thời gian mình đã trải qua. Điều gì khiến tôi có nhiều nghị lực để chịu đựng và cáng đáng mọi thứ quá sức một con bé mới hai mươi quen được nuông chiều với một đời sống sung túc, bất ngờ bị cơn lũ trên rừng tràn xuống nhấn chìm tất cả vào dòng sóng đỏ. Ngày hai anh em tôi xuống thuyền vượt biên cũng vậy; Sau một đêm lênh đênh trên biển, buổi sáng hôm ấy mặt trời hiện lên đỏ rực, thoạt đầu là một vầng ánh sáng le lói từ đường chân trời, rồi một chấm đỏ nhỏ hiện ra, từ từ lớn dần giống như vết dầu loang, nhuộm đỏ bầu trời và mặt biển. Chiếc thuyền chở anh em tôi vẫn lừ lừ chậm chạp, e dè tiến về phía vùng trời biển đỏ rực một màu máu, nhưng khác với cơn lũ rừng mang dòng sóng đỏ, lần này mũi thuyền rẽ nước đi đến đâu, làn sóng đỏ dạt ra đến đó, cuối cùng mọi người đã biết nên cỡi lên sóng mà đi thì may ra mới đến đích. Từ đó người ta chiêm nghiệm ra rằng nếu vẫn cứ loay hoay sợ gió to sóng lớn, ngụp lặn một chỗ thì chắc chắn sẽ bị nhận chìm vì đuối sức hụt hơi.

Đáng lẽ tôi đi định cư ở Pháp vì có thân nhân nơi này nhưng tôi từ chối, dù rằng tôi không bao giờ muốn xa họ. Qua lịch sử tôi đã được học về một trăm năm đô hộ nước Việt của chủ nghĩa thực dân Pháp. Thời cận đại, báo chí cũng không quên ghi lại về những ân sủng của nước Pháp dành cho các đảng viên Cộng sản Việt Nam, nơi tụ họp dung chứa thành phần thứ ba là những chính khách thuộc loại cơ hội chủ nghĩa cầm mũi giáo đâm sau lưng người lính VNCH.

“Quên là nhớ trong tiềm thức dẫu năm tháng trôi qua, cái chết của ba tôi đã hằn sâu trở thành vết sẹo trong ký ức khôn nguôi, hờn căm đã kết thành một lớp rêu phong phủ kín tâm hồn, vậy mà vào những buổi chiều nhìn hoàng hôn xuống tôi lại tái tê buồn khi thấy phía chân trời cũ bên kia, biển vẫn chưa hết những con sóng đỏ. 

Cỏ Biển

Blog Archive