Showing posts with label Thúy Messegee. Show all posts
Showing posts with label Thúy Messegee. Show all posts

Sunday, July 30, 2023

Một Làng Già ở Mỹ


Hình tác giả cung cấp.

Cuối năm 2021 tôi về hưu sau khi đã làm việc 31 năm ở công ty, nhận được một cái Rolex sau 25 năm, một đồng hồ Apple sau 30 năm, một đồng hồ grandfather clock treo tường, một đồng hồ để bàn bằng gỗ đỏ sang cả quí phái, một đĩa bạc “ghi công” để chưng bày khoe khoang tại phòng khách. Mọi thứ đồ đoàng có trong kho mình đều thu tóm cả. Bây giờ thì về đi thôi!

Lúc này tôi mới nghĩ đến nơi ăn chốn ở trong giai đoạn mới của cuộc đời. Ngày xưa còn miệt mài cày bừa trả nợ nhà, nợ xe, nợ “con”, mình gồng mình vớt lấy một căn nhà trong khu trường tốt, vượt cả khả năng tài chính, để rồi phải nhịn ăn nhịn mặc, còng lưng trả tiền nhà mút chỉ hụt hơi. Nay con đã lớn, thôi thì nhường khu này lại cho những cặp vợ chồng trẻ đang nhắm nhía trường xịn cho con họ.

Làng Già
Người Việt khi nghe đến hai chữ “nhà già” thường giật mình kinh hãi và ác cảm với từ này. Họ nghĩ đến những nhà “assisted living” với những căn phòng nhỏ hẹp, chung đụng với một ông hay bà cụ khác màu da khác ngôn ngữ, đôi khi mất trí cứ gào lên: “Help! Help!” giữa đêm khuya. Hay những bữa ăn nhạt nhẽo không hợp khẩu vị, người phục vụ không nói tiếng Việt, tắc trách lơ là, những ngày cuối tuần ra ngồi phòng khách mòn mỏi ngóng trông những đứa con quá bận bịu chẳng thể ghé thăm, v.v.

Thật ra thì có nhiều lứa tuổi già và nhiều cách sinh sống tuổi già. “Già mà còn trẻ” là già đủ để về hưu, hưởng bảo hiểm sức khỏe của chính phủ và lãnh tiền an sinh xã hội, nhưng vẫn sống vui sống khỏe. Già lão, già khụ là là lứa tuổi không tự sinh sống được nữa, phải vào khu nhà già có người trợ giúp “assisted living” hay “nursing home”. Người tuy già nhưng vẫn trẻ trong tâm vẫn có thể tìm được môi trường thích hợp cho mình.

Tại nhiều tiểu bang từ lâu người ta đã quy hoạch những làng cho người tuy “già nhưng vẫn trẻ” này. Tại Arizona hay Florida nắng ấm quanh năm, có những làng Sun City, The Villages, v.v. Ở Houston, Texas, thì có Làng Tre (Golden Bamboo I, II, III) nhằm phục vụ người Việt cao tuổi.

Thế Giới Nhàn Hạ (Leisure World of Maryland Corporation)
Riêng tại tiểu bang Maryland của tôi thì có Leisure World hay tạm dịch là Thế Giới Nhàn Hạ. Nơi này đã được bắt đầu xây dựng từ thập niên 1960, thoạt đầu nhắm vào giới công chức liên bang làm việc tại thủ đô W.D.C. Vì ra đời sớm nên nó giành được khu đất rộng 1,000 acres ngay trung tâm phố phường đông đúc ngày nay. Có đủ kiểu nhà cho từng hoàn cảnh: nhà trệt có vườn sau và garage, nhà townhome 2 tầng, nhà condo nằm trong cao ốc 10 tầng, v.v. Ngày nay Leisure World có khoảng 6,000 căn hộ cho dân số hơn 9,000 người, từ lứa tuổi 50 đến… tuổi thọ Trời cho không giới hạn! Điều kiện để vào ở là ít nhất 55 tuổi, tuy nhiên nếu ông 55 mà bà 50 thì vẫn được phép vào ở cùng nhau. Còn nếu ông 55 mà bà mới 25 chẳng hạn thì chịu khó tìm chỗ khác Con cái còn trẻ có thể bỏ tiền mua cho bố mẹ ở, nhưng mình không được nhập cư.

Tiện Nghi
Leisure World có đủ các cơ sở sinh hoạt thường có ở những làng già khác như câu lạc bộ, nhà hàng (tôi đánh giá 4 sao), hồ bơi, rạp chiếu phim, thư viện, sân tennis, sân golf (được giải nhất của Audubon), v.v. Tuy nhiên khung cảnh tôi thích nhất là khuôn viên đầy cây cao bóng cả trồng từ nhiều chục năm nay, đủ loại hoa đua sắc thắm mùa xuân, những tàn lá xanh ngắt mùa hè, muôn mầu cam đỏ vàng nâu mùa thu, và tuyết trắng xóa mùa đông rơi từng mảnh xuống cành cây trơ trụi như cảnh tiên.

Tình Chòm Xóm
Ngoài ra, điều làm tôi thích thú hơn cả khung cảnh thiên nhiên là tình chòm xóm. Từ ngày vào Leisure World tôi làm quen được với nhiều người bạn hơn cả 15 năm ở bên ngoài. Đôi khi mình không nhớ được tên hết tất cả mọi người, nhưng ai cũng nhớ tên con cún, con miu của nhau. Thúy là mommy của Babette, Susie là mommy của Dewey, Sarah là mommy của Cricket, Kim có Toby, Joan có Micky, v.v. Khi nói chuyện về ai mà người khác không nhận ra, chỉ cần nói thêm “mommy của Daisy đó!” là người kia nhớ ngay “À à, biết rồi!”

Hàng xóm ngày xưa ai cũng bận rộn cơm áo gạo tiền, gặp nhau chỉ quơ tay chào vội vã rồi mỗi người phóng xe đến sở cho kịp giờ. Xóm xưa của tôi là xóm người Do Thái. Phần đông họ đều giàu có khá giả nên tụ tập đông đúc ở vùng Potomac sang cả, chỉ có gia đình tôi “đèo bồng” đến ở để con được học trường top trong khu vực. Ngày chủ nhật, ngày lễ họ sinh hoạt trong cộng đồng giáo hội khắng khít với nhau nên chẳng quan tâm mở rộng vòng tay đón chào “kẻ lạ” như gia đình tôi đột nhập vào làng của họ. Mùa lễ Giáng sinh họ không treo đèn như những gia đình Mỹ, nhà nào nhà nấy im lìm tối tăm vì họ theo đạo Do thái ăn lễ Haukkah chứ không mừng lễ Noel. Năm con gái tôi 13 tuổi nó được mời đi dự vô số các lễ bar mitzvah & bat mitzvah của bạn bè, đánh dấu ngày đưa trẻ đủ trưởng thành để chính thức được phép dự lễ tôn giáo của mình. Tôi học được rằng phong tục tặng quà bar mitzvah/bat mitzvah là cho ngân phiếu với số tiền chia đúng cho 9: $18, $27, $45, $90, v.v. Khi bà hàng xóm đối diện qua đời, tôi đi dự đám tang tại synagogue mới biết người Do thái để người chết nằm trong áo quan gỗ mộc không sơn phết gì cả. Ở đấy suốt 15 năm mà tôi chẳng có ai là bạn thân.

Tại làng già Leisure World, phần đông cư dân đều đã về hưu nên có thì giờ chào hỏi nhau thân tình. Mỗi chiều thứ tư độ chục người xách ghế đến sân đậu xe của một bà trong xóm ngồi tán dóc với nhau. Sáng thứ 6 hẹn nhau ra Panera uống trà hay cà phê. Mỗi đầu tháng họp Wednesday Wine, BYOD (Bring Your Own Drink / tự đem theo thức uống của mình). Ông hàng xóm ở đối diện là dân làm đồ mộc tài tử, mỗi tuần ông trông coi xưởng mộc một ngày. Tôi lợi dụng khi nào có món đồ gì sút tay gãy gọng thì cứ vác sang để ngoài cổng nhà ông, dán một sticky note “Please!”. Vài hôm sau ông mang sang để tại garage nhà tôi, viết bên dưới note: “It’s ok now!”.

Hàng năm xóm tôi tổ chức BBQ tại vườn hoa trong xóm, bỏ flyer từng nhà mời đóng $5 tham dự, xúm xít mua beef burger, turkey burgers, Impossible Burgers cho hợp khẩu vị và chế độ ăn uống của từng người. Các ông khiêng bàn ghế, nướng burgers. Các bà bày thức ăn, rau quả, các món tráng miệng. Mùa đông lễ Valentine thì làm potluck trong một phòng họp tại Câu lạc bộ, mỗi nhà mang một món ăn đến chung. Mùa thu làm tiệc tại lanai, ngồi trên cao nhìn xuống hồ bơi, có mái che nhưng vẫn không tường, trống trải mát mẻ.

Ngoài sinh hoạt xóm (Leisure World có 21 “xóm”, mỗi xóm khoảng một đến vài trăm hộ), người ta còn dự sinh hoạt chung của toàn khu: đi xem ciné miễn phí hằng tuần, chơi Scrabble, Poker, mạt chược, sáng tác, đọc sách & điểm sách, khiêu vũ, đan thêu, hội họa, nhiếp ảnh, vũ cầu, bơi lội, tập đàm thoại các thứ tiếng, đi bộ chung từ 1 mile đến 3 miles, đi du lịch bằng xe bus sang tiểu bang khác, v.v. Nếu vẫn ở tại chỗ khi về hưu thì vẫn có thể tham dự những sinh hoạt như trên, nhưng mỗi sinh hoạt ở một trung tâm khác nhau và mỗi bận phải đánh xe chạy ba quãng đồng, còn ở đây thì đi bộ thong thả 10-15 phút là đến.

Kết Bạn, Chia Sẻ
Gữa những nhóm nhỏ cũng có sinh hoạt riêng giữa các cá nhân. Tuần rồi một bà hàng xóm gửi text bảo “chiều thứ ba 3g sang nhà tôi, tôi sẽ dạy mấy bà chơi mạt chược. Từ ngày tôi tập chơi môn này thấy khả năng tập trung của mình tăng vọt đấy!” Sáng nay bà đối diện trước nhà text: “Hôm nay tôi nhồi bột làm bánh mì cho cháu ngoại. Qua đây học làm với tôi!” Hôm đi chợ với bà ở xéo xéo nhà mình, bà thủ thỉ: “Bao giờ bà hay mẹ bà cẩn người đưa đi bác sĩ cứ bảo tôi nhé. Chúng mình tương trợ lẫn nhau.” Bà ở đối diện sau nhà text: “Đang làm cơm tối đãi con trai mà nhà hết trứng. Bà còn quả nào cho mượn vài quả?” Cái tình hàng xóm tự nhiên đến độ có thể hỏi nhau muỗng đường, muỗng nước mắm thật tình hơn 40 năm sống ở Mỹ bây giờ tôi mới tìm lại được!

Đồng Bệnh Tương Lân
Trong những buổi trà dư tửu hậu mọi người hay chia sẻ hỏi han nhau về các chứng bệnh già: đau lưng, đau chân thì thoa bóp bằng gì, ban đêm làm sao ngủ được, giới thiệu cho nhau những bác sĩ giỏi về tim, thận, bệnh ngoài da, v.v. những vấn đề không thi vị hào hứng gì cho lắm nhưng rất hữu ích ở “tuổi vàng” này. Có một buổi trời ấm áp, ngồi nhìn các bà mặc quần shorts ngồi chung quanh, tôi chợt nhận thấyra rằng trong 8 bà thì đến 7 bà có một vết thẹo dài từ trên đầu gối xuống đến giữa ống chân. Chính hắn: knee cap replacement! mổ đầu gối! Tự nhủ thầm: “Tương lai của mình đây! Chị trước em sau!”

Cũng có thành phần già lão không còn tham dự sinh hoạt bên ngoài được nữa mà chỉ sống khép kín trong nhà, có người đến chăm sóc mỗi ngày. Những ngày nắng ấm mới thấy các cụ già đẩy xe chầm chậm đi ra đường, có một người trẻ đỡ, vịn một bên. Đến một lúc nào đó sức khỏe suy sụp hẳn thì con cháu lại chuyển ông hay bà vào assisted living, nhà bán sang người khác. Cũng có người đau bệnh rồi mất ngay tại trong làng. Chứng kiến trước mắt những biến chuyển không tránh được của cuộc đời cũng là một cách để mình tập hướng về “tương lai” một cách tỉnh táo.

Trồng Trọt Sàn Xuất Tại Làng Già – “nghề” của dân Á châu
Ngày mới dọn vào Leisure World, mỗi lần đi bộ ngang các cao ốc tôi đều ngó vào sảnh dưới nhà đọc danh sách các cư dân trong đó. Mình để ý tìm họ Nguyễn, Trần, Lê, Lý… nhưng chỉ thấy những tên na ná như Nugent, Chan, Lee, Li, v.v. Một ngày nọ đang đi bộ ngoài đường tôi bỗng chợt nghe tiếng ca thánh thót, đại khái “…bởi đâu mà đôi ta lỡ thể…” Ồ, “phe ta” đây rồi! Thế là lập tức băng qua đường đến sân sau một nhà townhouse nhìn ra đường cái, nơi có cái cassette đang rền rĩ khóc than, để làm quen. Lần khác ra “ruộng” tôi nói với bác nông dân vườn bên cạnh: “Bao giờ chị tưới nước xong để vòi đó cho tôi dùng nhé, đừng mang trả vội” Nghe chị trả lời tiếng Anh với giọng Việt tôi nhận ra đồng hương ngay. Từng chút một tôi, “lượm” được độ chục người Việt ở đây, so với dân số 9 nghìn người thì chẳng thấm vào đâu.

Dân Á đông sống khép kín, ít chường mặt vào các hoạt động giao tế, và nhiều người cũng không nói tiếng Anh lưu loát. Tuy nhiên, khi ra “ruộng” thì họ tung hoành ngang dọc ai cũng nể. Tại đây luôn nghe líu lo tiếng Hàn, Bắc kinh, Quảng đông, và cả tiếng Việt. Leisure World có một khu trống chia ra làm 200 mảnh vườn cho mọi người thuê $35 một mùa từ tháng 4 đến tháng 11 hàng năm. Mọi người tự căng rào, dựng giàn, cuốc đất, bón phân, v.v. rồi gieo hạt trồng tỉa, có vòi nước tưới thoải mái. Từ nhà tôi ra ruộng đi bộ 15 phút là tới, nên buổi sáng “má em hừng động đi cày bừa” không phải lái xe. Các khu vườn Á đông nhìn qua là thấy sum suê bầu, bí, mướp, khổ qua, v.v. đầy giàn. Họ làm những luống cải, ớt, cà chua, cà tím rất bắt mắt. Đầu cổng có một “bàn chia sẻ” (sharing table), ai có dư dả thức gì thì bày ra đó cho ai cần thì lấy. Đầu mùa là những gói hạt giống thặng dư. Ngày nào ra đó tôi cũng lục lọi xem có gì dùng được để khỏi tốn tiền mua. Đến mùa gặt hái xem có hoa quả nào chủ vườn để lại hiến tặng tại bàn thì bỏ bị về nhà nấu ăn. Đôi khi đi vòng vòng thấy rau củ của ai tươi tốt buột miệng khen vài tiếng là chủ vườn nhanh tay cắt ngay cho một bó hay một rổ bê về. Cuối mùa người ta tổ chức một bữa potluck ăn chung, phần đông từ sản phẩm cây nhà lá vườn. Những ông bà nông dân Á đông cũng là đầu bếp xuất sắc nên họ nổi trội với những món ăn xào nấu ngon lành, ít khi thấy ai mua một hộp bánh hay phong kẹo sẵn ngoài tiệm mang vào góp phần.

Thể Dục Thể Thao
Hằng ngày tôi đi bộ theo con đường chính trong làng. Đường đi vòng chung quanh khuôn viên, hơn 3 miles lại về chốn cũ. Con đường chính này có vận tốc giới hạn 30 miles một giờ. Từ ngày vào đây tôi tôn trọng luật lái xe theo kiểu mới. Ngày xưa ở “thế giới bên ngoài”, nếu giới hạn 30 miles thì mình chạy 39 miles, tránh đừng vượt lên đến 40 miles kẻo bị phạt. Bây giờ lái xe trong khuôn viên Leisure World với giới hạn 30 miles thì tôi chạy 31-32 miles. Đời sống chậm lại rồi, không phải hốt ha hốt hoảng, chạy bay chạy biến để đến sở đúng giờ như ngày xưa. Tôi cũng tham dự Friday hiking của nhóm Baby Boomers. Họ tổ chức những cuộc đi dã ngoại chung quanh vùng mỗi sáng thứ sáu. Thật là phục họ biết được nhiều nơi gần nhà trong vòng 30 phút lái xe rất thích hợp cho người lớn tuổi: cảnh đẹp, đường bằng thẳng không dốc, đi khoảng 3 miles, mỗi tuần một thắng cảnh khác nhau tại ngay địa phương mình ở mà mình chẳng biết đến. Cuối tháng 5 hồ bơi ngoài trời hoạt động trở lại, còn gym đầy đủ dụng cụ treadmill, elliptical machine, máy tập tạ, v.v. thì mở quanh năm từ sáng sớm đến tối.

Vào làng già như Leisure World thì được gì và mất gì?
Nhiều người cho rằng đến tuổi hưu cứ ở lại nơi cũ cũng được, chẳng cần gì phải dọn vào làng già. Đó là lựa chọn của mỗi người. Tuy nhiên, ở mãi một chỗ rồi đến một lúc nào đó người lớn tuổi cũng nhận thấy cái làng xóm cũ của mình ngày càng “trẻ hóa” ra. Những cặp vợ chồng trẻ đến mua nhà chung quanh cho con cái đi học, còn bạn hàng xóm cùng lứa tuổi ngày xưa biến dần đi đâu không biết. Cha mẹ trẻ tuổi trong xóm tổ chức tiệc sinh nhật cho con không mời mình, ngày cuối tuần họ rủ nhau cùng con đạp xe đạp quanh khu vực, mình chỉ ngồi trong nhà nhìn ra. Lễ Halloween mình tắt đèn đi ngủ sớm không mua kẹo phát cho trẻ con. Tuổi cao mà chỉ ngồi nhà xem TV, đọc sách, đi chợ hay đi bác sĩ thì cũng không đầy đủ. Người già cũng cần gặp người cùng lứa tuổi để cùng nhau sinh hoạt chuyện vãn. Vào làng già mình sẽ gặp được người đồng trang lứa. Nhiều ông bà già vào Leisure World bỗng như “hồi xuân” trở lại. Họ không còn vướng bận con cái nữa, hồn nhiên ăn chơi, đánh cờ, khiêu vũ, ăn potluck, đi dã ngoại, chơi tennis, volleyball dưới nước, v.v. với bạn lão niên cứ như là trở lại thời sinh viên trẻ trung ngày xưa ở chung nội trú với nhau. Họ đùa phá, chọc ghẹo nhau ra trò, và người nào đơn lẻ thì có thể tìm bạn tri âm mới. (Hơi khó cho phái nữ vì các ông thường rơi rụng trước các bà. Trong Leisure World cảnh “cụ ông thiếu, cụ bà thừa” theo tỷ lệ 80%-20% là một thực tế “không thuốc chữa”!)

“Cái mất” khi dọn vào làng già là không còn thấy xe buýt vàng đến đầu ngõ đón học sinh buổi sáng, giờ tan trường không nghe tiếng chúng ríu rít bước xuống xe buýt ơi ới gọi nhau. Một cách nào đó mình đã tách khỏi “thế giới thật” bên ngoài. Tại làng già ta cũng thường xuyên nghe tiếng xe cứu thương. Hơn 9 nghìn dân cư tuổi từ U60 đến U120 tập trung một chỗ thì tiếng còi í e của xe cứu thương là chuyện thuờng ngày ở huyện. Ai yếu bóng vía sẽ bị ám ảnh, còn phần đông thì quen dần không nghĩ đến nữa.

Đời sống sinh hoạt làng già ở đây cũng không phải lúc nào cũng hòa thuận êm ấm. Cư dân đều là người trần mắt thịt đầy đủ hỉ nộ ái ố. Không phải ai cũng hiền lành dễ chịu, cũng có những ông bà khó tính ương ngạnh không ai bằng. Lỡ làm điều gì “xúc phạm” đến họ là lãnh đủ. Khi xuất tiền quỹ HOA (Home Owners’ Association) làm bữa tiệc hàng năm đãi mọi người thì có người bảo tôi không tham dự được nhưng yêu cầu bới phần của tôi mang đến giao tại nhà vì quỹ HOA có tiền của tôi trong đó. Nghe kể có một ông “hội đồng” (board member) nghịch những ông bà hội đồng khác đến độ vào buổi họp thì xoay ghế ra ngồi nhìn vào bức tường chứ nhất định không đối diện với những “bẻng mẹc” đáng ghét kia. Và khi bất đồng cao độ thì bốc phone gọi pú lít trong Leisure World thưa gửi nhau là chuyện thường! Người già đôi khi còn con nít hơn cả trẻ con!

Người Việt ở Mỹ đến tuổi già thì nên tính sao?
Có những người Việt cao tuổi chọn cách ở cùng với con cái, tam đại đồng đường, giúp chúng trông cháu như truyền thống tại quê nhà ngày xưa. Có người ở riêng nhưng gần nhà con cái, hằng ngày chúng mang trẻ đến gửi, tối đón về. Đến phiên mình cần đi bác sĩ, bệnh viện thì các con lại nghỉ việc giúp cho mình. Có người làm “dân du mục”, vài tháng lại đến ở với một đứa con tại một nơi khác nhau. Tuy nhiên không phải mọi việc lúc nào cũng êm xuôi. Con rể con dâu luôn có mặt trên từng cây số. Cách nuôi dạy con của chúng không làm đẹp lòng mình, và cách chăm sóc nuông chiều cháu của mình cũng không làm hài lòng chúng. Thế hệ người Việt mà tôi quen biết bây giờ phần đông cũng không muốn sống dựa vào con, nhất là những ai đã ở bên này một thời gian dài, đã từng hội nhập lăn lộn kiếm sống trong xã hội Mỹ. Họ ngại làm phiền đến con và đánh mất đi độc lập tự do của riêng mình.

Người mình lại hay có thói “tôn trọng” số mệnh và hay phó mặc cho một đấng thiêng liêng nào đó ở “cõi trên” định đoạt hộ ta. Có lẽ lòng tin “Trời sinh voi sinh cỏ”, “chạy Trời không khỏi nắng”, “bôn ba chẳng qua thời vận”, v.v. khiến người ta cứ an nhiên sống với hiện tại, chỉ cần biết hôm nay, mọi việc tương lai có số mệnh cả. Chuyện tính toán cho tuổi già ít người lên kế hoạch chu đáo: bao giờ thì bán nhà to, thu vén lại, mua nhà nhỏ hơn, về ở với con, vào nhà già, thuê người trông nom, v.v. Có người đến tuổi ông U100 bà U90 mà vẫn lúng túng chưa biết quyết định cho tương lai thế nào. Ông không chịu vào ở condo sợ lỡ cháy nhà không chạy kịp, bà than thở ở nhà riêng bà dọn dẹp không xuể căn nhà ngày nay đã quá rộng lớn và trống vắngi. Đồ đoàng tích tụ bao năm không biết tính sao dẹp bớt để downsize được. Con cái thời nay không thích và không chịu nhận bàn ghế, tranh ảnh, đồ mỹ nghệ cổ lổ sĩ của thế hệ trước, nhưng bỏ thì thương, vương thì tội. Một ngàn lý do để… án binh bất động!

Lại có những chuyện thương tâm lan truyền trên mạng hay trên báo chí Việt, không biết có thật không, về những bậc cha mẹ năn nỉ khóc lóc van nài con đừng bỏ mình vào nhà già nhưng vẫn bị con trẻ nhẫn tâm đẩy vào rồi biến mất chẳng hề thăm viếng. Nghe thật nao lòng! Cha mẹ đến tuổi già muốn được ở với con mà không được, đó là vì cha mẹ “không biết điều” hay là vì con bất hiếu? Vấn đề không đơn giản và không dễ giải quyết, vì nếu giải quyết được dễ dàng thì người ta đã làm rồi.

Ngày nghỉ hưu đánh dấu một cuộc đời mới khác hẳn mấy chục năm qua. Ta nên sắp xếp sao để trong giai đọan LÃO mình có thể sống vui sống khỏe khi còn có thể, và chuẩn bị sẵn vài phương án tổng quát cho giai đoạn BỆNH và TỬ. Người Mỹ có câu: “If you fail to plan, then you plan to fail!” - Nếu bạn không biết lên chương trình sẵn (cho tương lai) thì chính bạn đã đặt chương trình cho mình nhận lãnh thất bại rồi đấy! Vẫn biết người tính không bằng Trời tính, nhưng không tính gì cả thì… quá can đảm!

Thúy Messegee

Saturday, May 22, 2021

Chuyện Hội Nhập & Tâm Tình Người “Một Cảnh Hai Quê”

21/05/2021
Thúy Messegee

Little Saigon. (hình minh họa)

***
Giờ ngồi đây nhớ lại, mới đấy mà đã gần 40 năm…

Ngày bé tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ sang một quốc gia khác mưu cầu cuộc sống. Tôi đến trường mặc đồng phục áo dài trắng và tưởng tượng trong tương lai mình sẽ khoác áo dài hồng có gắn hoa kim tuyến bên cạnh chàng trong ngày tân hôn. Những lần quét nhà, nấu cơm, tôi nghĩ sẵn trong đầu sẽ làm món ăn gì dọn lên cho gia đình chồng ngày về làm cô dâu mới (món mướp xào miến, tôi đã chọn sẵn như thế).

Ngày nay con số trên dưới triệu người Việt tha hương khắp toàn cầu không khiến ta bâng khuâng tự hỏi: những con chim nhỏ bé phải xa rời tổ ấm này đã đương đầu với phong ba bão tố ra sao trong những năm tháng đầu trên miền đất lạ? Chắc chắn là thấm đẫm mồ hôi nước mắt. Mỗi người sẽ có một câu chuyện đặc biệt không trùng lặp với ai để góp phần vào trang sử ly hương của người Việt trên toàn cầu.

Cuộc đổi đời long trời lở đất năm 75 khiến tôi hụt hẫng, rơi vào tâm trạng “lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ”. Sau 7 năm học làm “công dân mới,” tập ăn gạo mốc, khoai sùng, bo bo, đường chảy, v.v. và sau khi đã cạn kiệt niềm tin thì tôi liều mình “bước chân xuống thuyền”. Một thân một mình, không người trong gia đình đồng hành, không ruột thịt đón chờ ở bến bờ bên kia.

Sau khi may mắn thoát khỏi những hiểm nguy, một phần sống chín phần chết cận kề trên đường vượt biển, tôi đã đến được Hong Kong. Từ trại tỵ nạn Hong Kong tôi được nhận vào nước Mỹ theo diện tỵ nạn. Sau khi đặt chân đến Mỹ, tôi đến văn phòng USCC (US Catholic Charities – một cơ quan thiện nguyện Công giáo chuyên giúp người tỵ nạn) “trình diện đăng ký” và xem có được giúp đỡ gì về trường học hay việc làm không. Tôi được một bác Social Worker người Việt, ngày xưa là đại tá trong quân đội VNCH, tiếp chuyện và vẽ ra cho tôi một viễn cảnh tối tăm ảm đạm. 

Giờ này cháu còn sang đây làm gì nữa? Đã lỡ làng hết rồi, cơ hội còn gì đâu. Ráng mà tìm được việc gì thì làm đi, đừng chê khen kén chọn, cuộc sống bây giờ khó khăn lắm”. 

Ông còn nói nhiều lắm, rồi sau cùng bắt tay từ biệt, chúc tôi may mắn. Nghe ông nói chuyện xong, nếu yếm thế thì chắc tự tử cho rồi, còn nếu thực tế thì nên tìm cách quay trở về Việt nam, còn người không biết xử thế như tôi thì… khóc cho thân phận mình!

Sau vài tháng tạm trú nơi gia đình bảo trợ với nhiều động chạm vì khác biệt văn hóa và sự tủi thân của kẻ đang bơ vơ không nơi nương tựa, lại không tìm được việc gì làm để sống tự lập, tôi dứt áo ra đi đến làm công cho một nhà hàng người Việt.

Tôi được cho ăn ở ngay trong nhà ông bà chủ, hằng ngày ra nhà hàng làm bus girl. Phận sự của tôi là chuyên đi nhặt bát chén thực khách đã dùng rồi mang đi, lãnh $2.65/giờ, độ $500 một tháng. Nhà hàng bán kiểu buffet nên bát chén dùng nhiều lắm, dọn không bao giờ hết. Gia đình chủ ăn uống trong nhà hàng, không nấu nướng ở nhà, nên họ đặt một giường cót trong nhà bếp cho tôi nằm, treo một bức màn che chỗ cửa đi vào, mỗi tháng trừ lương 100 đồng.

Mỗi sáng ông bà chủ lên xe ra nhà hàng thì tôi nhảy lên ngồi băng sau, đến nơi cắm cúi làm việc, đến giờ đóng cửa thì lại quá giang xe chủ về. Lúc nhà hàng chưa mở cửa thì tôi đẩy xe đi từng bàn châm muối, tiêu, tương ớt, xì dầu, lau dọn bàn ghế, v.v. Thỉnh thoảng ông chủ ngồi ngó qua ngó lại tư lự rồi vẫy tay kêu tôi đến dạy dỗ: “Cô Thúy này, tôi nói cho cô biết nhé. Cô làm nhanh lên nhé. Cô làm ăn chậm lụt thế này thì có mà ra đường cạp đất mà ăn!” Đêm về tôi khóc thầm cả đêm, sáng ra mắt sưng vù không giấu được, nhưng vẫn phải lên xe ra nhà hàng làm việc chẳng trốn đi đâu được.

Đến giờ mở cửa đón khách vào thì nhà hàng ồn ào náo nhiệt như vỡ chợ. Nhà hàng đăng báo cho coupon giá rẻ, $4.99 ăn bao bụng. Thực khách xếp hàng dài đợi trước cửa, vừa mở ra là tíu tít xông vào. Thế là chén bay đĩa bay, nửa ăn nửa bỏ, chen lấn trước quầy buffet, đơm đơm bới bới. Từng tảng thịt bò nướng bỗng chốc hết vèo, từng nồi súp nóng bỗng chốc cạn queo vì những vị khách ăn như rồng cuốn này. Nhân viên tất tả châm thức ăn, bus boy bus girls tất bật thu bê đĩa bát, quần quật từ trưa đến tối mịt. Hằng đêm đôi khi đang ngủ tôi chợt thức giấc, thấy tay mình đang thoa bóp bàn chân đau nhức vì chạy suốt ngày. Tuy nhiên những đau nhức thể xác cũng không sánh bằng những nỗi nhói buốc trong tim, những lời “răn đe” dọa đuổi, những la mắng trên đầu trên cổ.

Gia đình chủ cũng khá phức tạp. Ông chủ làm thầu cung cấp cho quân đội Mỹ ở Sài gòn, thu được sản nghiệp kha khá thì đưa gia đình sang Mỹ mở nhà hàng lập nghiệp từ trước 1975. Đến tháng tư 75 ông bà đón các em vợ di tản sang và giúp đỡ bước đầu. Thế rồi ông lấy cô em vợ. Cô chị uất ức bỏ nhà đi, bỏ lại các con cho chồng và cô em nuôi dưỡng. Cô có kinh nghiệm làm nhà hàng lâu năm nên đến các nhà hàng khác làm hầu bàn tự mưu sinh. Được cái cô em cũng rất thương yêu các cháu, và chúng cũng rất quí mến dì. Khi tôi vào làm việc trong nhà hàng thì cô chị đã trở về, nhưng cô ở riêng một bên của nhà đôi (duplex) nơi tôi đang ngụ trong nhà bếp, và mỗi tối sau khi nhà hàng đóng cửa, dọn cơm cho tất cả mọi người ăn tối thì cô không chịu ngồi chung với gia đình. Cô ngồi ăn ở bàn nhỏ riêng một góc với tôi. Tôi cũng thích như thế, vì tôi cũng chẳng muốn ngồi cùng với ông chủ.

Ông chủ cưng chiều và sợ cô em một nước, thường bị cô quở trước mặt mọi người. Mỗi lần như thế thì ông quay lại trút xuống đầu nhân viên. Tôi lãnh chịu nhiều hơn mọi người vì tôi cô thân yếu đuối, và chỉ hay khóc chứ không biết đanh đá quật lại. Những nhân viên kia kỳ cựu hơn, có gia đình 3, 4 cha con đều làm trong nhà hàng, nên họ có “thần thế” và thâm niên hơn. Tôi nhập vào mới biết thì đã muộn rồi mà không biết tìm lối ra. 

Sau này tôi cứ khuyên những người mới đến Mỹ: Nếu đói thì vào McDonald hay những nhà hàng fast food của Mỹ mà làm. Họ trả lương tối thiểu nhưng đối xử với mình không tối thiểu, họ vẫn tôn trọng mình như một con người. Thấy sợ cho cái tình đồng hương! Những nhân viên người Việt cùng làm trong nhà hàng với tôi cũng chẳng ưa gì gia đình chủ, lúc nào bất mãn thì chúng trả thù bằng cách đập vỡ bát đĩa hay vứt bỏ thức ăn vào thùng rác. Thế mà sau ngày làm việc chúng lại xâu vào canh bạc đỏ đen, khuya vật ra ngủ, sáng dậy muộn là vừa đến giờ vào lại nhà hàng làm việc. Tôi nhìn chúng mà ái ngại không biết bao giờ những thanh niên ấy mới thoát ra được cảnh sống cùng đường này.

Mà phần tôi cũng có lối thoát nào đâu. Sau lần ông chủ dọa cho tôi “ra đường cạp đất mà ăn”, tôi nhìn quanh quất tìm kế thoát thân. Ngay đầu ngõ nhà chủ nơi tôi ở có một tiệm 7-Eleven đang đăng bảng tuyển người. Ngày nghỉ trong tuần tôi bước vào xin một lá đơn. Về nhà hý hoáy điền tên họ, đến đoạn bằng lái xe số… cấp ngày… thì tôi khựng lại. Tôi đã có dịp nào học lái xe đâu. Người ta thuê mình thì phải tin tưởng là mình có phương tiện đi lại đàng hoàng để bảo đảm đến tiệm đúng giờ chứ nhỉ. Rồi tôi nghĩ tiếp, nếu mình xin việc được thì tiền đâu ra thuê apartment ở. Ở trong nhà bếp của chủ như hiện tại nhất định là không được rồi, tiền đâu đi học lái xe, mua xe đi làm, v.v. Thế là tôi chán nản xé bỏ tờ đơn.

Ngày vượt biên ra đi tôi chẳng mang được bằng cấp giấy tờ gì theo. Thế nên tôi đến nước Mỹ không một mảnh bằng cấp trong tay. Thời ấy người ở Việt Nam ra đi chính thức rất hiếm hoi, phần đông là người có quốc tịch Pháp hay ngoại quốc mới được cấp giấy, và người nào người ấy giấu kỹ tin mật không dám khoe ai, sợ giờ chót có gì cản trở chăng. Họ lại càng không dám nhận giấy tờ của người khác gửi cầm theo, sợ ra đến phi trường bị xét là rắc rối. Vì thế mẹ tôi chẳng nhờ ai cầm bằng cấp của tôi sang cho tôi được. Tôi cảm thấy tuyệt vọng không lối thoát khỏi hoàn cảnh hiện tại. Không biết bao giờ có phép lạ mang tôi ra khỏi nơi này?

Dù vậy, ngày ngày tôi vẫn dậy sớm tập đánh máy tiếng Pháp trên chiếc máy đánh chữ tiếng Pháp hiệu IBM do cô tôi là em họ của bố gửi xuống từ Washington D.C. cho mượn. Cô tôi làm việc tại World Bank. Ngày tôi mới sang cô khuyến khích cố gắng tập đánh tiếng Pháp cho giỏi rồi cô sẽ giúp tìm việc nơi cô đang làm, vì World Bank cần người biết tiếng Pháp và đánh máy tiếng Pháp. Khổ nỗi ngày tôi rời nhà bảo trợ ra đi thì cô lại đến kỳ về Pháp nghỉ hè thường niên. Cô hứa tháng sau trở lại Mỹ sẽ đón tôi lên W.D.C. ở với cô tìm việc. Ngày đêm tôi cắn răng ở lại nhà hàng, đếm từng ngày từng giờ cho đến ngày cô về lại Mỹ. Một tháng trôi qua, rồi hai tháng trôi qua. Tôi chẳng nhận được tin tức gì của cô. Số điện thoại của cô tôi có trong sổ tay, nhưng tôi nhất quyết không gọi. Nếu cô không giữ lời hứa đón cháu thì cháu sẽ không nhắc nhở xin xỏ gì nữa đâu. Sau này tôi đã sang ngã rẽ khác, gọi báo tin cho cô thì mới biết trong lúc đang ở bên Pháp thì cô phải vào nhà thương mổ ruột dư nên hoãn ngày về cả tháng. Cuộc đời thật trớ trêu!

Thỉnh thoảng tôi có nghĩ đến người ấy ngày xưa, chỉ thoáng qua rồi nhất quyết gạt ra khỏi tâm tưởng. Ngày tôi đến Mỹ anh còn đang lái tàu lênh đênh trên đại dương. Sau này anh về phép và muốn gặp tôi. Mối tình lãng mạn oan trái ngày xưa tại Việt Nam tôi không bao giờ quên, nhưng từ ngày sang Mỹ cuộc đời đã dạy tôi nhiều bài học cay đắng. Thân mình sống không ra hồn, còn tơ tưởng gì đến chuyện tình ái lãng mạn bí lối, dù mình biết rằng người ta yêu thương thật lòng? Lúc mình cùng đường tuyệt ngõ anh có giúp được gì không? Where were you when I needed you? Tôi viết một bức thư dài cho anh trước ngày tàu anh cập bến lại trên đất Mỹ. Tôi cho biết cuộc sống của tôi hiện giờ rất khó khăn, tôi chỉ mong được yên thân để mưu sinh. Xin cho tôi được sống yên trong thế giới hiện tại của tôi, và xin cho tôi được dứt bỏ quá khứ ngày xưa. Ngày về phép anh gọi vào nhà hàng nơi tôi đang làm việc xin nói chuyện. Khi nhận ra ai đang ở đầu dây bên kia, tôi một mực lặng thinh trong khi bên ấy tiếp tục: “Hello! Hello! Are you there?” Rồi tôi cúp máy.

Có những lần thực khách trong nhà hàng ái ngại cầm tay tôi ân cần hỏi: “Are you ok? You look so sad!” Tôi mới giật mình chỉnh lại khuôn mặt mình, không ngờ đã để lộ ra cả như vậy. Tôi chợt nhớ ngày xưa đã có những lần mình ngửa cổ tít mắt cười khanh khách với chúng bạn trong trường. Tôi đấy sao? Tiếng cười hồn nhiên thời con gái biến đâu mất rồi?

Ngày ngày tôi vẫn thức dậy sớm tập đánh máy. Ngày nghỉ trong tuần (tôi được một ngày nghỉ nhưng không được nghỉ thứ bảy hay chủ nhật là ngày đông khách) tôi xin theo cô con gái của chủ nhà đến đại học cộng đồng nơi cô bé học để vào thư viện đọc sách. Mỗi người có một cuộc đời mà mình phải tự sống lấy, tôi viết thư về triết lý vụn với bạn bè ở Việt Nam. Trong những lúc cùng cực nản lòng nhất, tôi vẫn can trường biết rằng mình đã làm đúng khi dứt áo ra đi khỏi Việt Nam, và nếu phải làm lại từ đầu thì tôi cũng sẽ làm y như vậy. Đó là niềm an ủi lớn để tôi cố chịu đựng thời gian thử thách.

Thời gian trôi qua…

Từ từ rồi bằng cấp giấy tờ của tôi cũng được gửi sang. Tôi được dì ở Cali là em họ của mẹ tôi giúp xin việc làm tại học khu nơi dì đang dạy học. Ở Cali có nhiều dân Việt Nam nên họ cần giáo viên nói tiếng Việt. Ngày tôi từ giã gia đình chủ ra đi, tôi nghe ông bà bàn nhau hôm sau sẽ xuống thành phố lớn đến văn phòng USCC xem có người Việt nào mới sang cần tìm việc làm không. Tôi thầm chúc phúc cho kẻ kế tiếp. Khi cơ hội thuận tiện, tôi đã trở lại trường học, lấy bằng B.S. về business và rồi kiếm được cái job tốt mà tôi theo đuổi đến tận giờ này.

Chuyện không định trước, mười bảy năm sau kể từ ngày đầu tiên gặp người ấy tại Sài gòn, bảy năm sau ngày tôi cầm điện thoại mà không nói một lời khi người ấy gọi cho tôi trên đất Mỹ, chúng tôi kết hôn. Mối tình vô vọng tưởng đã chôn vùi lại được kết nối. Cuộc đời có những ngã rẽ không ngờ!

Bây giờ nhìn lại những ngày cơ cực khi xưa, tôi thấy mình có nhiều cái dở, nhưng bù lại cũng được cuộc đời ưu đãi nhiều mặt. Cái dở thứ nhất của ngày ấy là tôi còn giữ quá nhiều “hành trang sĩ diện”, cứ bị cái quá khứ trí thức làm cô làm thầy ở Việt Nam đeo đẳng nên không sẵn lòng quẳng đi hết để chấp nhận bước khởi nghiệp thấp kém ban đầu trên xứ lạ. Tôi ôm quá nhiều tự ái, hay tủi thân tủi phận, hay dằng dặc tổn thương mà không biết tập muối mặt tỉnh bơ để sống. Tôi bị thiệt thòi hơn người là tứ cố vô thân, không có gia đình ruột thịt, không có bè bạn nâng đỡ tinh thần. Và tôi có cái dở nữa là cứ đành chịu cô đơn, không biết kết bạn, không biết tìm hỗ trợ nơi tha nhân. Trong những ngày tháng tôi sống đau khổ tại nhà hàng nọ, tôi đã rơi vào một cơn trầm cảm nặng nề mà không biết định bệnh hay tìm cách chữa trị. Cuối cùng thì những cái dở hơi, những thiệt thòi vì bị chèn ép của tôi đã bị đánh bại bởi sự quyết tâm và nhẫn nhục mà nhiều lúc tôi nghĩ là không thể chịu đựng nổi. Nhờ đó, tôi đã được đền bù bằng rất nhiều may mắn và nhiều cơ hội tốt để vươn lên. Những gì tôi đạt được hôm nay giúp tôi nghĩ rằng tôi đã không phụ lòng những người từng hết lòng giúp đỡ tôi.

Người ta bảo nước Mỹ là xứ cơ hội. Tôi thấy điều đó hoàn toàn đúng. Gia đình, bạn bè, đồng hương quen biết của tôi đều đến vùng đất hứa này với hai bàn tay trắng, nhưng nhờ vào sự cố gắng tuyệt vời và sự nhẫn nại vô song, ngày nay tất cả chúng tôi và con cái đều có được một cuộc sống ổn định trên quê hương thứ hai này. Vì thế, tôi luôn cố gắng đóng góp, chia sẻ lại phần mình để giúp đỡ những kẻ khác đang bị khó khăn và giữ cho cái vòng ân nghĩa của nhân loại trên đời luôn nối tiếp.

Nhớ lại thời gian đầu, sau khi làm quen và chấp nhận được sự đày đọa đến tận cùng địa ngục của cuộc sống, (tất nhiên là không thể so sánh với cái địa ngục trần gian nơi chôn nhau cắt rốn của tôi,) dần dà tôi trở thành dân Cali.

Tôi thật yêu nơi này, xứ sở của mùa xuân vĩnh cửu. Trời xanh trong, nắng sáng ấm áp luôn đón chào mọi người. Chim chóc ríu rít trên cành đánh thức ta dậy mỗi buổi sáng không bao giờ vắng mặt. Bạn cắt cỏ và chăm sóc vườn hồng quanh năm. Những trái chanh chín mọng trên cành cung cấp nước chanh giải khát vào mùa hè, thêm hương vị cho món gà hầm adobo vào lễ Tạ Ơn, và làm cho những miếng bánh tẩm chanh vuông vắn trở nên tuyệt vời trong những bữa tiệc Giáng sinh hay Tân Niên.

Nhiệt độ Cali ít khi xuống thấp hơn 30 độ F trong mùa đông và ít khi lên cao hơn 80 độ vào mùa hè. Người ta không cần gắn máy lạnh trong nhà, vì khung cảnh địa lý tự nhiên của vùng vịnh San Francisco biến nó thành một hệ thống điều hòa thiên nhiên: sau vài ngày nóng khó chịu là những cuộn sương mù lại tiến vào bao phủ mọi nơi, và nhiệt độ lập tức hạ xuống khoảng 10 độ ngay. Khi bạn dự định một chương trình gì đó, bạn không cần phải chêm vào câu lưu ý quen thuộc ở vùng lạnh: “Nếu thời tiết cho phép”, vì thời tiết lúc nào cũng “cho phép” cả. Học khu trong vùng cho học sinh nghỉ mùa đông hai tuần rộng rãi thoải mái, họ không phải giữ lại một tuần dự trù cho những ngày phải đóng cửa trường vì tuyết giá.

Cali cũng là một nồi thập cẩm (melting pot) có rất nhiều sắc dân từ mọi nơi trên thế giới đến nhận nơi này làm quê hương. Cách đây ít lâu dân da trắng vùng Vịnh (Bay Area) đã trở thành nhóm thiểu số mới, trong khi những sắc dân Á Châu thiểu số từ Trung Quốc, Việt Nam, Nhật, Đại Hàn, Pakistan, Afghanistan, Samoa, Phi Luật Tân, v.v. cộng chung lại chiếm đa số, khoảng 70% dân số.

Khi tôi đến Cali với tư cách tỵ nạn, tôi ngại rằng tôi sẽ rất cô đơn lạc lõng trên đất mới này. Tôi sợ rằng tôi sẽ nổi bật trong đám đông, giữa một xã hội đã ổn định lâu dài. Trái với nỗi lo sợ của tôi, tôi thấy chung quanh mình hằng trăm, hằng nghìn người khác cũng như mình, bị bật ra khỏi quê nhà cách đây hằng nghìn dặm vì đủ mọi lý do, rồi nhập chung vào nhau trong xứ sở mới mẻ này, nơi mọi người ai cũng “mới” như ai. Ngay cả những người Mỹ truyền thống được gọi là WASP (1) đã rời bỏ lịch sử giòng họ hằng trăm năm từ đâu đó ở miền Đông hay Trung tây cũng vây. Họ đến Cali tìm kiếm phiêu lưu mạo hiểm, tìm một điều gì mới mẻ, hay để lập lại cuộc đời.

Và rồi tất cả chúng tôi sống cùng nhau tại Cali. Chúng tôi là những cư dân mới bay bổng với những giấc mơ mới lên đến tận trời xanh. Sau khi hội nhập, tự nhiên nỗi nhớ nhà và sợ cô đơn của tôi vụt tan biến. Nhiều ngôn ngữ mới lạ vang lên chung quanh và hòa lẫn với tiếng Việt của tôi khiến cho nó không còn lạ lẫm và kỳ cục giữa xứ người nữa. Ở đây mọi thứ đều được chấp nhận. Không có truyền thống lâu đời nào bó buộc bạn. Chẳng gì cản trở bạn. Thật là một cản giác thần tiên, mạnh mẽ, và phóng khóang, phải không bạn?

Thế rồi, một cách bất thần, cuộc đời tôi lại rẽ sang đường khác. Công ty tôi dời cơ sở và nhân viên sang Maryland. Maryland, nơi có bốn mùa xuân hạ thu đông, có những ngôi nhà kiểu thuộc địa (colonial) xây bằng gạch đỏ, những con đường nhỏ quanh co vòng quanh các con suối nhỏ, nối liền những chiếc cầu cổ có mái phủ che, những nhà thờ và những nghĩa địa nhỏ lâu đời, những địa danh ghi dấu chiến tranh giành độc lập bởi tổ tiên lập quốc và sự ra đời của một quốc gia mới. Lúc tôi mới sang, thành phố Frederick nơi tôi dọn đến có thành phần dân chúng 97% da trắng, 1% da đen, 1% Á châu, và 1% những chủng tộc khác. Thật là một tương phản trái ngược với California!

Một lần nữa, tôi lại ngập ngừng rón rén hòa nhập vào cuộc sống mới. Thế rồi tôi bị “hớp hồn”. Những hoa tuyết trắng như bột mịn biến cả thiên nhiên thành một xứ thần tiên mùa đông. Những cây hoa anh đào châu đầu vào nhau làm thành một vồng rực hồng hết dãy này đến dãy khác biến xóm tôi thành một tiên cảnh dưới thế vào mùa xuân. Những cây cao khoác lên trăm màu sắc lộng lẫy mùa thu khiến lòng tôi chùng lại bởi vẻ đẹp huy hoàng của chúng.

Sự kém đa dạng của vùng này tạo cho tôi nhiều cơ hội giới thiệu quê hương và văn hóa xưa của mình vì mọi người ưa thích được biết đến. Mặc dù tôi quý những chương trình xã hội hào phóng giúp đỡ người tỵ nạn ở Cali, tôi cũng ngưỡng mộ sự quan tâm và nền giáo dục hoàn hảo cho con tôi ở Maryland. Đúng là chỉ ở Cali người ta mới có được những ưu đãi tuyệt vời ở vùng Little Saigon. Tại đó nếu bạn muốn, bạn có thể quay lưng với cuộc sống Mỹ bên ngoài để chỉ ăn thức ăn Việt, chỉ nói tiếng Việt, đi chợ Việt, đi bác sĩ, nha sĩ, tiệm giặt ủi, làm tóc tại các dịch vụ của người Việt.

Ngược lại, tôi sẽ mất cơ hội làm được những điều sau đây từ khi dọn sang Maryland: Tiếp xúc với một người vận động chính trị (lobbyist) bằng xương bằng thịt, mua vé dài hạn xem kịch Shakespeare, ở học khu có riêng văn phòng lo giấy tờ cho học sinh ngọai quốc để đón cháu gái tôi sang học chương trình trung học ở đây (2), tìm được cô giáo tiếng Slovak để kèm cho con tôi ít tháng trước khi cháu đi chương trình trao đổi học sinh quốc tế tại Slovakia.

Tôi đã sốt sắng hứng khởi nắm bắt những cơ hội hãn hữu này tại miền Đông để cho đời sống ngày một phong phú đáng yêu hơn.

Từ ngày sang Mỹ, tôi được “hưởng đúp” nhiều khía cạnh quan trọng trong đời sống. Tôi nhận Mỹ làm quê hương thứ hai nhưng vẫn giữ Việt Nam, đất mẹ thân yêu trong tim. Tôi nói hai thứ tiếng, sống trong hai nền văn hóa, nấu ăn nhiều món quốc tế, ăn hai cái Tết hằng năm, và sinh hoạt hai bộ lễ lạc: Lễ Tạ Ơn Mỹ, lễ Trung Thu Việt Nam, v.v…

Và bây giờ tôi lại trở thành “một cảnh hai quê” giữa miền Tây và miền Đông nước Mỹ.

Tôi yêu quí miền Tây phóng khóang nhưng cũng ấp yêu miền Đông cổ kính.

Hầu như mỗi năm chúng tôi đều “về quê” tại Cali để thăm viếng bạn bè và láng giềng cũ, những người thân thiết chưa bao giờ chịu “từ” chúng tôi. Mỗi lần từ biệt để quay lại Maryland, con gái tôi thường hơi “mít ướt”. Nó bảo:

“Mẹ ơi! Sao con vẫn thấy Cali như là nhà của mình. Con thấy vui trở về miền Đông, nhưng con thấy buồn buồn phải rời xa miền Tây.”

Tôi nhìn con trìu mến:

“Đúng vậy con ạ, ta có được hai quê nhà là một điều thật tuyệt vời!”

Ngày nay, trên chính quê hương thứ hai mà tôi yêu quí và gắn bó, tôi hơi buồn cười khi thấy mình lại núng níu dằng co với cả hai quê, miền Đông và miền Tây Hoa Kỳ.

Thêm vào đó, giờ đây tôi có cơ duyên may mắn được tham gia vào chương trình Viết Về Nước Mỹ của Việt Báo cũng ở Cali, nơi có phố Sài Gòn Nhỏ thân thương, tôi lại càng thấy vui, thấy rất gần gũi, rất thân thiết với “quê cũ” của tôi vô cùng. Tôi biết bây giờ thời tiết đã bắt đầu sang Xuân bên đó, và đang rất đẹp.

Xin chào quê hương California mến yêu của tôi, và hẹn ngày gặp lại

Blog Archive