Showing posts with label Kha Lăng Đa. Show all posts
Showing posts with label Kha Lăng Đa. Show all posts

Thursday, December 10, 2020

 Mùa Giáng Sinh của Thanh

 

Kha Lăng Đa

 


 

Thanh cùng mẹ trở về nhà, sau khi dự thánh lễ Giáng Sinh tại một giáo đường. Trước hang đá đêm đông do Thanh đã dựng nên và trang trí, tiệc mừng Chúa Ngôi Hai giáng thế được mẹ Thanh bày ra để tiếp đãi một số bạn bè thân mến của Thanh trong không khí sum vầy, đầm ấm.


Tiệc vui kéo dài đến hơn nửa đêm. Mọi người hân hoan mời nhau uống những ly rượu mừng Chúa giáng sinh, mừng bạn bè họp mặt đậm tình thân ái nơi xứ lạ quê người. Ngoài trời, tuyết rơi trắng xóa, phủ trùm cảnh vật trong đêm thánh vô cùng.


Mỗi mùa Giáng sinh về, lòng Thanh lại bâng khuâng trong nỗi nhớ thương, nuối tiếc một chuyện tình đã lấp vùi trong quá khứ mịt mùng. Đã hai mươi mấy năm trường cách biệt mà Thanh không quên được hình bóng Quỳnh – người con gái mà Thanh đã yêu tha thiết, tưởng như đã yêu từ kiếp nào và muôn thuở vẫn còn yêu, một tình yêu sâu đậm, khắc ghi vào tâm khảm của Thanh không phai mờ với thời gian. Trong tiệc liên hoan với thân hữu,Thanh gượng vui với bạn bè, nhưng trong lòng đang mang nặng một nỗi buồn kín đáo. Đến lúc bạn bè từ giã ra về, và mẹ Thanh đã vào phòng ngủ, chỉ còn một mình Thanh ngồi ngắm tấm ảnh kỷ niệm của Quỳnh được phóng đại và lộng vào khung kính. Thanh say đắm nhìn đôi mắt huyền và mái tóc dài phụ kín bờ vai của Quỳnh mà ước mơ một lần được gặp lại người xưa, nhưng niềm ước mơ ấy ảo huyền như sương khói vì hiện tại người nơi góc biển, kẻ ở chân trời. Thanh thở dài, áp mặt vào khung ảnh với nỗi nhớ ngập lòng. Thanh ngã mình xuống ghế “sofa” để cho hồn mình miên man trong suy tưởng.


*  *  *

 

Quỳnh đẹp lộng lẫy, tha thướt trong chiếc áo dài màu hoa cúc, sánh vai Thanh, đi đến giáo đường. Thanh nắm tay Quỳnh mà nghe yêu thương thấm vào thớ thịt, làn da. Đến hang đá trước nhà thờ, nhiều người đứng vây quanh, nhìn khung cảnh đêm đông trong hang đá Bê-lem, Đức mẹ Maria và Thánh Giu-Se quỳ bên cạnh Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ, Thanh và Quỳnh cũng đứng nhìn hình ảnh lịch sử tôn giáo của đạo Đức Chúa Trời để chiêm bái rồi vào nhà thờ, quỳ cạnh bên nhau trong thánh lễ của đêm Giáng Sinh mầu nhiệm.


Trong lúc mọi người đang dự lễ thì có một tiếng nổ như trời long, đất lở bên cạnh giáo đường. Người ta ùn ùn chạy ra cửa nhà thờ. Quỳnh hoảng hốt, định chạy theo đám người đang chen lấn nhau, Thanh nắm tay Quỳnh giữ lại. Bỗng một tiếng nổ thứ hai nổi lên làm sụp đổ một góc giáo đường, người ta lại tranh nhau chạy nhanh ra cửa khiến Thanh và Quỳnh bị xô lấn bởi lớp sóng người, phải rời tay nhau. Quỳnh bị mất hút giữa đám đông, Thanh cố chạy theo, nhưng không thấy nàng đâu nữa. Khi Thanh ra đến cửa thì nghe súng nổ vang rền, bao xác người nằm la liệt trước sân nhà thờ. Thanh kinh hoàng, thất thanh gọi tên Quỳnh trong lạnh giá của đêm đông.


Thanh giựt mình tỉnh giấc trong khi trống ngực còn đập liên hồi. Thì ra, Thanh vừa trải qua một cơn ác mộng, nghe nỗi nhớ thương Quỳnh như thác đổ, triều dâng. Thanh lại nhìn ảnh Quỳnh một hồi lâu rồi thẫn thờ. Chàng bước đến khung cửa sổ, vén màn, nhìn ra ngoài trời. Đồng hồ đã điểm 5 giờ sáng. Tuyết đã ngừng rơi. Những nóc nhà, mặt đường như được trải một lớp bông trắng tinh. Cảnh ảm đạm của buổi hừng đông khiến lòng Thanh càng nghĩ ngợi xa xăm. Không biết giờ này Quỳnh đang ở đâu và có còn nhớ những kỷ niệm của những mùa Giáng sinh năm cũ. Thanh thầm cầu nguyện cho người yêu được an lành, hạnh phúc bên chồng, con. Thanh nhìn làn sương khói còn vấn vương trên cảnh vật mà nhớ chuyện năm xưa.

Một ngày đi phép từ Không Đoàn 41- Đà Nẵng về Sài Gòn thăm mẹ, đón xe Taxi không được, Thanh vội vã đi xe xích lô máy về gần tới nhà thì trời đổ cơn mưa như trút nước. Thanh gặp Quỳnh, cô nữ sinh Gia Long đang cưỡi xe đạp lúc tan học, chẳng may bị bánh xe quấn vạt áo dài. Cô bé lúng túng, sợ sệt, không biết phải làm sao thì vừa lúc ây Thanh đến giúp cô tháo cả bánh xe để lấy vạt áo ra ngoài rồi mời Quỳnh lên xe để đưa nàng về nhà vì cơn mưa vẫn chưa tạnh. Chiêc xe đạp được đặt ngang trước ghế ngồi chiêc xích lô. Theo địa chỉ của Quỳnh vừa cho Biết, Thanh bảo người lái xe chạy đến đường Trương Minh Giảng. Mưa càng lúc càng to. Gió thổi tạt vào mui xe lạnh buốt. Thanh vội lấy chiếc áo mưa xanh đặc biệt của Quân Chủng Không Quân ra che cho Quỳnh. Quỳnh sượng sùng, e thẹn vì bỗng dưng lại ngồi chung xe với một người con trai xa lạ, mặc đồ phi công. Chưa đến nhà, Quỳnh đã hối người lái xe dừng lại, Thanh đem xe đạp xuống cho Quỳnh. Quỳnh tươi cười, cám ơn Thanh rồi dẫn xe đạp đi bên lề đường. Thanh ngồi trên xe xích lô, dõi mắt trông theo Quỳnh, Quỳnh đi được khoảng ba chục thước mới quẹo vào nhà. Thanh cười thầm cho cô bé này quá cẩn thận, vì sợ người nhà trông thấy cô đi chung xe xích lô với người con trai lạ nên xin xuống xe, cách nhà một khoảng cách khá xa.


Đêm ấy, về nhà, Thanh nghe lòng vấn vương, xao xuyến khi nghĩ đến Quỳnh, cô nữ sinh có nụ cười duyên dáng, má lúm đồng tiền, đôi mắt huyền với vẻ xa xăm, mơ mộng và như chứa đựng cả trời tình, bể ái khiến Thanh đắm đuối trong niềm thương nhớ mênh mông.


Thanh thức dậy thật sớm, cưỡi xe Honda, chạy đến trước nhà Quỳnh với hy vọng được nhìn lại cô bé xinh xắn mà chàng đã gặp. May mắn thay, trên lề đường đối diện với nhà Quỳnh, có một quán cà phê. Thanh dựng xe, vào quán, ngồi uống cà phê. Mắt luôn nhìn qua cửa nhà nàng còn khép kín. Gần cả tiếng đồng hồ sau, Quỳnh mới ra ngõ, ngồi lên xe đạp, thong thả chạy ra đường. Thanh nghe lòng rộn rã, vội đứng dậy, trả tiền rồi chạy xe chầm chậm phía sau Quỳnh. Cô bé không Biết có người đang chiêm ngưỡng vóc dáng của nàng thơ nên vẫn thong dong đạp xe đến trường. Khi gần đến cổng trường, Thanh chạy xe vượt lên phía trước, quay mặt lại, nói:

- Cô bé Quỳnh! Coi chừng bánh xe quấn vạt áo dài nữa nhé!


Quỳnh nhận ra Thanh vội ngừng xe lại, cười rạng rỡ:

- Chào anh Thanh!


Thanh tươi cười nói:

- Cô biết không, tôi đã đi theo cô từ nhà đến trường vì sợ trời lại đổ mưa nữa!


Quỳnh e thẹn:

- Dạ, em vô tình không biết. Nếu bạn bè biết được anh đi theo em, chắc tụi nó sẽ cười em chết!


Thanh nhìn dung nhan của Quỳnh đẹp hơn lần gặp gỡ dưới cơn mưa chiều ngày hôm qua. Nhiều nữ sinh đi xe đạp lướt qua nơi Quỳnh đang đứng. Họ ranh mãnh nhìn Thanh và Quỳnh, buông những lời nói bóng gió để trêu chọc. Thanh thấy không thể đứng lâu trước cổng trường được nên vội nói:

- Anh muốn nói chuyện riêng với Quỳnh, em có vui lòng không?


Lần này Thanh bỗng đổi cách xưng hô khiến cho Quỳnh e thẹn đỏ bừng đôi má. Quỳnh chưa kịp trả lời thì Thanh đã gấp rút nói tiếp:

- Anh hẹn gặp em lúc 10 giờ sáng Chúa nhựt tại thảo cầm viên nhé. Bây giờ em hãy vào trường đi! Anh về nhe em!


Sau lần gặp gỡ đầu tiên ấy, Thanh và Quỳnh đã yêu nhau. Chúa nhựt nào, Thanh cũng đi lễ, dù chàng là người ngoại đạo, để được gặp Quỳnh ở nhà thờ. Sau thánh lễ, Thanh thường chở Quỳnh ra Bến Bạch Đằng để ngồi bên nhau trao gởi chuyện tâm tình. Quỳnh đã kể cho Thanh nghe câu chuyện mối tình đầu của nàng. Ai ngờ cô nữ sinh bé bỏng kia đã trải qua một lần yêu. Người yêu của nàng là một Sĩ quan của Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Trong thời gian hai người đang yêu nhau tha thiết thì chẳng may chàng bị mất tích trong một cuộc giao tranh với địch quân. Một năm sau, có một người bạn của chàng vượt thoát từ ngục tù Cộng sản trở về báo tin: chàng bị trúng đạn khi cùng người ấy vượt ngục, không Biết sô phận của chàng ra sao. Quỳnh khóc sướt mướt vì nghĩ rằng người yêu của mình khó thoát khỏi lưỡi hái của tử thần. Dù Biết rằng Quỳnh đã có một mối tình đầu, nhưng Thanh vẫn yêu nàng tha thiết. Hết phép, Thanh trở về đơn vị, tiếp tục bay yểm trợ cho các cuộc hành quân khắp Quân Khu I. Thanh thường gửi thư cho Quỳnh và trong những ngày nghỉ phép hay khi có phi vụ liên lạc Đà Nẵng – Sài Gòn, Thanh thường về thủ đô để thăm mẹ chàng và Quỳnh. Năm nào, Thanh cũng xin phép thường niên vào dịp lễ Giáng Sinh để được cùng Quỳnh quỳ bên nhau, trong ngôi giáo đường đã gắn ghi bao kỷ niệm êm đẹp của buổi ban đầu, cùng dâng lên Chúa lời nguyện cầu cho sớm được đẹp mối tơ duyên. Thanh dẫn Quỳnh về nhà để giới thiệu với mẹ chàng. Mẹ Thanh rất yêu thương Quỳnh và mong sớm có được một nàng dâu thùy mị, dịu dàng cho lòng bà được ấm áp tình thương khi Thanh đi chinh chiến ở miền xa. Cha mẹ Quỳnh hầu như đã chấp nhận Thanh vì chàng là một người trai thế hệ, đi đáp lời sông núi, đang theo lý tưởng cao đẹp “Bảo Quốc Trấn Không” và là một thanh niên có đạo đức lại khôi ngô, tuấn tú.


Bỗng một thời gian sau hiệp định Paris được ký kết, Thanh không còn nhận được thư của Quỳnh nữa. Thanh rất hoang mang, trông đợi thư Quỳnh, nhưng đành thất vọng. Thanh lo sợ cho Quỳnh gặp phải chuyện không may. Trong thời chinh chiến, ở sa trường hay ở hậu phương khó mà lường được chuyện bất trắc xảy ra lúc nào. Ý thơ của bài “Màu Tím Hoa Sim” càng làm cho Thanh xót xa nghi ngại: “Nhưng không chết người trai khói lửa, mà chết người em nhỏ hậu phương...”


Vì quá nóng lòng muốn biết tin tức của người yêu nên Thanh xin phép đặc biệt của đơn vị về đến Sài Gòn thì mới hay Quỳnh đã tái hợp với người yêu cũ tên là Tân – Chàng sĩ quan bị địch bắt làm tù binh, vừa được trao trả theo một điều khoản của Hiệp định Paris. Tình yêu đầu tiên đã chớm nở trong lòng cô gái thanh xuân, tưởng đã héo tàn vì người yêu biệt tích, nay bừng sống lại mãnh liệt. Quỳnh không thể nào quên được Thanh, nhưng cũng không thể ngoảnh mặt, quay lưng với người yêu cũ đã trở về từ cõi chết.


Thanh tìm đến nhà để gặp Quỳnh. Quỳnh nhìn Thanh trong nỗi nghẹn ngào, tức tưởi không nói được nên lời. Thanh cố dằn nỗi đớn đau đang giày xéo tâm can để an ủi Quỳnh:


- Em đừng buồn nữa, Anh rất cảm thông cho em. Em hãy theo tiếng gọi của lòng mình. Anh sẵn sàng hy sinh cho em. Mong em được hạnh phúc bên người mà em yêu từ buổi ban đầu.


Thanh trở lại miền Trung với một mối tuyệt tình, lòng nhủ với lòng hãy cố quên chuyện tình từ một chiều mưa, nhưng hình bóng Quỳnh cứ vương vấn mãi bên mình. Giáng sinh năm ấy, Thanh trở lại giáo đường năm cũ để lén nhìn Quỳnh cùng người yêu đi lễ nửa đêm mà nghe lòng quặn thắt. Thanh cố trấn áp lòng mình, cố vượt qua sự mềm yếu thường tình để cầu nguyện cho họ mãi sống chung thủy bên nhau. Khi lễ vừa xong, Thanh vội vã ra về vì sợ gặp lại Quỳnh. Biết được nỗi khổ đau của con, mẹ Thanh dịu lời an ủi:


- Con đừng buồn nữa. Tất cả mọi chuyện đều do ý Chúa. Làm trai con phải cứng rắn, đừng bi lụy vì tình.


Mùa Giáng sinh năm sau, Thanh nhận được thiệp hồng của Quỳnh gửi đến, nhưng vì cuộc chiến đang sôi động, Thanh phải bay nhiều phi vụ khắp các chiến trường Vùng I Chiên Thuật nên không về Sài Gòn được, chỉ gởi quà và thiệp chúc mừng lễ vu quy của người yêu. Sau đó đơn vị của Thanh phải di tản vào phi trường Tân Sơn Nhứt vì Quân khu I đã thất thủ. Trong một thời gian ngắn ngủi thì xảy đến ngày Quốc Hận 30-4-1975. Thanh đưa mẹ vào phi trường rồi lái phi cơ trực thăng, bay ra đáp trên hàng không mẫu hạm của Mỹ đang đậu ngoài khơi Vũng Tàu.


Đã hơn hai mươi năm sống trên đất Mỹ, Thanh vẫn không quên được người con gái ngày xưa. Đã nhiều lần chàng gửi thư về cho Quỳnh, nhưng không nhận được thư hồi âm. Có lần Thanh nhờ một người bạn thân về thăm quê hương, ghé lại nhà Quỳnh để dò la tin tức thì được biết gia đình Quỳnh đã bán nhà và dời đi nơi khác. Thanh không còn chút hy vọng được gặp lại Quỳnh.


* *


- Con thức dậy sớm làm gì? Sao không ngủ thêm cho khỏe?

 

Thanh trở về thực tại sau câu nói của mẹ hiền.

- Thưa mẹ, con nằm mộng và giựt mình tỉnh dậy luôn, không ngủ lại được nữa.

- Con uống cà phê không, mẹ pha cho con?

- Cám ơn mẹ, mẹ pha cho con một ly.

 

Ngồi trầm ngâm bên ly cà phê đang bốc khói, Thanh nhớ lại buổi ban đầu, ngồi trong quán cà phê bên vệ đường chờ Quỳnh đi học để đuổi theo. Kỷ niệm đẹp như gấm hoa, an ủi lòng Thanh mỗi lần hồi tưởng để rồi cô đơn, chán chường giữa hiện tại bị mất tình yêu.


Có tiếng chuông reo, Thanh vội bước ra, mở cửa thì gặp Long – người bạn thân đã dự tiệc mừng lễ Giáng Sinh tại nhà chàng đêm qua. Long cầm trong tay tạp chí “Tiền Phong”, mỉm cười bí mật, nói với Thanh:

- Có tin này cho Thanh, hấp dẫn lắm.


Thanh mời Long vào nhà, pha cho bạn một ly cà phê, vồn vã hỏi:

- Tin gì vậy Long?


Long vừa trao cho Thanh tạp chí Tiền Phong vừa đáp:

- Có cô Quỳnh ở tiểu bang Oklahoma nhắn tin, tìm bạn đấy!


Thanh vui mừng cầm lấy tạp chí, mở ra đọc ở mục “nhắn tin” rồi hớn hở, tươi cười, cầm lấy tay Long, cám ơn rối rít. Thanh vội gọi điện thoại cho Quỳnh. Chàng xúc động muốn rơi nước mắt khi nghe lại giọng nói của người yêu cũ. Quỳnh kể lại: Sau ngày Quốc Hận, Tân - chồng nàng bị Việt cộng đày ra miền Bắc, giam cầm và cưỡng bách lao động. Vì không chịu nổi sự gian khổ, đói lạnh nên Tân ngã bệnh trầm trọng và chết trong ngục đỏ. Quỳnh và đứa con gái được cứu xét hồ sơ xuất cảnh sang Mỹ. Quỳnh đã tìm Thanh hơn bốn năm nay và đã đăng báo nhắn tin đến lần thứ tám mới tìm ra Thanh. Bên kia đầu dây điện thoại, giọng nói của Quỳnh như đẫm ướt lệ mừng vui và cảm xúc. Thanh gọi mẹ, để mẹ nói chuyện với Quỳnh. Mẹ Thanh không cầm được nước mắt khi biết Quỳnh đã đến được bến bờ tự do để cho bà có dịp gặp lại người con gái mà bà đã yêu thương và ao ước nàng trở thành dâu hiền của bà.


Thanh hứa hẹn sẽ lái xe qua Oklahoma để thăm và nếu Quỳnh bằng lòng thì chàng sẽ đưa hai mẹ con về sống gần chàng. Thanh thấy tâm hồn mình như trẻ lại trong lứa tuổi đôi mươi và mùa đông như đang đi qua mau để cho cây cỏ đâm chồi, nẩy lộc, muôn hoa nở rộ, đua chen muôn hồng ngàn tía, chào đón một mùa Xuân đến sớm.
 


Kha Lăng Đa

(Hoa Hướng Dương)

Friday, September 13, 2019

Anh tôi và trung đội Nghĩa Quân

Kha Lăng Đa 

(Kính dâng hương hồn anh tôi.)

Những năm tháng làm “quyền huynh thế phụ” khi cha tôi lâm trọng bệnh, qua đời, anh tôi đã lèo lái thuyền buồm ra khơi đánh cá để nuôi sống gia đình. Anh rất thông minh, cần mẫn, luôn học hỏi kinh nghiệm của những người “bạn biển” già đã từng đối địch với phong ba để đem về bến những khoang thuyền khẳm nặng cá, tôm. Những năm đầu hành nghề hạ bạc, anh tôi đã đem lại sự ấm no cho gia đình, nhưng dần dần, số lượng hải sản bị thất thu, đưa đến tình trạng bi đát hơn nữa, nhiều ngày “đi không, về không”, cuối cùng phải kéo thuyền đánh cá lên bờ và giải nghệ trong nỗi đau buồn đọng đầy nước mắt của mẹ tôi.

Mẹ phải thức khuya dậy sớm, làm bánh ngọt để tạm sống qua ngày, nuôi tôi và đứa em út đi học ở trường làng. Sau lễ khánh thành “Ấp Chiến Lược”, anh tôi được vào phục vụ trong Hội Đồng xã Cần Thạnh, Quận Cần Giờ, Tỉnh Phước Tuy (sau này thuộc tỉnh Biên Hòa, rồi thuộc tỉnh Gia Định) – trong Đặc Khu Rừng Sát. Sau đó anh làm Trung đội Trưởng Nghĩa quân mà trong thời Đệ Nhứt Cộng Hòa gọi là Nhân Dân Tự Vệ.

Ấp Chiến Lược ở quê tôi được xây dựng khá kiên cố, là phòng tuyến chống cộng đã tách rời địch quân bám víu nhân dân, nhằm ổn định, củng cố và bảo vệ cuộc sống tự do, dân chủ ở hậu phương, yểm trợ cho tiền tuyến đấu tranh với cộng sản xâm lược.

Ngoài đồn bót của một đại đội Bảo An (sau, gọi là Địa Phương Quân) đóng sát bờ biển của Ấp Hưng Thạnh, đồn Nghĩa Quân của anh tôi được dựng lên, gần hàng rào Ấp Chiến Lược, hướng mặt ra bìa rừng và xóm rẫy.

Đồn được rào chằng chịt bằng ba lớp kẽm gai, chung quanh là hào sâu, có cắm chông nhọn dày đặc. Tháp canh kiên cố, vượt lên khỏi nóc đồn cho tầm mắt quan sát của người lính gác dễ nhìn ra bốn phía. Bên trong vòng rào là giao thông hào để chiến đấu khi địch tấn công đồn. Anh tôi rất hân hoan khi được cầm súng bảo vệ quê hương. Anh luôn hăng hái và hoàn thành trách nhiệm được giao phó nên ông Quận Trưởng rất thương mến và tin tưởng anh. Trung đội của anh tôi gồm 30 người, đa số là ngư dân, đã từng dãi nắng dầm mưa nên người nào cũng khỏe mạnh, da ngăm đen, thân hình rắn chắc, hiên ngang. Những chiến sĩ bảo vệ xóm làng này đã tham gia phong trào thể thao nên nhiều người là tuyển thủ của hội túc cầu, bóng chuyền và bóng bàn địa phương. Đội bóng đá Cần Giờ đã một thời nổi tiếng ở miền Đông. Anh tôi là vô địch bóng bàn của quận và anh đã về tỉnh tranh giải điền kinh trong những ngày lễ Quốc khánh 26 tháng 10 của thời Đệ Nhứt Cộng Hòa. Ngoài nhiệm vụ canh phòng, tuần tiểu, phục kích, trung đội của anh tôi còn phối hợp hành quân với lực lượng Địa Phương Quân. Anh tôi cùng đồng đội làm công tác “Dân sự vụ” khi nhân dân cần đến, chẳng hạn như cất lại nhà cho những nạn nhân bị hỏa hoạn... Anh tạo được đường dây liên lạc tình báo nhân dân trong xóm rẫy để thu thập tin tức về địch quân. Đường dây này rất cẩn mật vì nếu bị tiết lộ thì những “cảm tình viên” của anh sẽ bị Việt Cộng hạ sát. Giai đoạn Ấp Chiến Lược hình thành, địch đã khủng bố dã man, giết hại nhân viên xã, ấp và nhân dân cộng tác với chính quyền ta. Trên xác chhết của nạn nhân nào cũng có bản án tử hình của bọn chúng mà tội danh thường là ác ôn, phản động.

Trong những bó rau, cải đặc biệt của những cảm tình viên từ những thôn ấp nằm ngoài vòng đai ấp chiến lược “bán” cho anh tôi giữa phiên chợ buổi ban mai, có tờ báo cáo ngắn gọn về tin tức địch quân. Anh tôi biết được ngày, giờ và địa điểm Việt Cộng lén về hoạt động nên nhiều lần phục kích, gây thiệt hại nặng nề cho bọn chúng.

Anh tôi cũng đã thi hành chính sách “chiêu hồi” của chính phủ đề ra dù trách nhiệm ấy của ngành Tâm Lý Chiến. Anh đã cho người thân tín ở xóm rẫy bắt liên lạc với những cán binh Việt Cộng trong rừng muốn trở về với chính nghĩa Quốc Gia và đích thân anh sẽ đi đón những người quy chánh ở những điểm hẹn. Vì anh tôi có lòng nhiệt huyết, dũng cảm trong chiến đấu, tinh thần chống Cộng triệt để và mưu lược của anh đã làm cho địch điên đảo nhiều phen nên bọn chúng treo giải thưởng bằng một số tiền lớn cho những ai giết được anh tôi.

Mẹ tôi rất lo lắng cho anh tôi đã tích cực phục vụ và có lập trường quốc gia vững chắc, trước sự khủng bố của Việt Cộng. Mỗi lần anh tôi đi tuần tiểu, nghe súng nổ xa xa, mẹ tôi thoáng vẻ sợ sệt trên gương mặt đã in hằn nhiều nếp nhăn của ưu tư chất chồng theo năm tháng, mẹ tôi đốt nhang, cắm lên bàn thờ cha tôi rồi đứng lâm râm khấn vái. Sau những lần chạm súng với địch, trở về an toàn, anh tôi tươi cười trấn an mẹ tôi. Mẹ gượng cười, nhìn anh bằng ánh mắt mênh mông. Bao nỗi lo âu của Mẹ đã tiêu tan trước cảnh sum họp của gia đình, khi vầng kim ô chìm khuất sau khu rừng sát đang nhuộm ánh tà dương. Rồi anh tôi lại bất chấp hiểm nguy, cùng đồng đội triệt hạ mật khu Giồng Ao, đánh bật lực lượng địch toan tấn công tiền đồn Ba Động, bắn chìm ghe Việt Cộng trên vàm sông Tắc Xuất...

Sau những đêm đi tuần tiểu hay phục kích địch quân, những chiến sĩ của trung đội Nghĩa Quân trở về mái nhà lợp bằng lá dừa nước, cùng vợ, con đi bắt nghêu, bắt ốc, hoặc đi kéo lưới, giăng câu để mưu cầu thêm sự sống cho gia đình. Anh tôi thì trở về nhà, đi lặn xuống biển, bắt sò, bắt con dòm hay đi dọc theo bờ biển đất sình, bắt tôm tích dưới những hang sâu để bán, kiếm thêm tiền thu nhập cho gia đình. Lương của Nghĩa Quân hàng tháng chỉ 800 đồng, phải chắt chiu, dành dụm, ăn uống đạm bạc mới đủ nuôi vợ, nuôi con. Vậy mà anh tôi và đồng đội vẫn một lòng trung thành với chính nghĩa quốc gia, vẫn dãi gió, dầm sương thức đêm để bố phòng, canh gác cho đồng bào được an cư, lạc nghiệp. Đồng tiền làm ra bằng công sức của mình, anh tôi dành dụm, mua xi-măng , đúc từng viên gạch ống để xây dựng lại căn nhà cũ. Vì không có được nhiều tiền nên anh chỉ đúc mỗi lần được mười viên gạch. Tôi cảm động, nhìn anh tôi cặm cụi làm kế hoạch “kiến tha lâu đầy tổ” ròng rã mấy năm trường.

Trong trung đội của anh tôi có anh Nguyễn Văn Thành, thuộc một gia đình ở miền Bắc, di cư vào Nam năm 1954. Có lẽ anh thích xứ biển nên về nhập tịch ở làng tôi. Chiều nào, tôi đi đá banh cũng gặp anh ta. Anh Thành tính tình vui vẻ, nhanh nhẹn, thích đi dạo trong xóm rẫy để “o mèo”! Anh có ngờ đâu những cuộc la cà, vui chơi với phái nữ ở xóm rẫy đã đưa anh vào cạm bẫy “địch vận” của Việt cộng. Người yêu của anh đã móc nối anh làm nội tuyến trong trung đội Nghĩa Quân. Chúng hẹn đến một đêm mà Thành có nhiệm vụ canh gác đồn Nghĩa Quân sẽ ra tay hành động. Chúng tặng anh Thành một cái đồng hồ đeo tay để canh đúng giờ với đồng hồ của bọn chúng trong mưu đồ triệt hạ đồn Nghĩa Quân. Anh Thành nhận lệnh đến giờ G trong phiên gác đêm của anh, anh sẽ ra mật hiệu bằng đèn”pin” chớp, tắt ba lần. Bên ngoài đồn, lực lượng của địch bố trí ở một vườn mãng cầu gần đó, sẽ đáp lại mật hiệu. Sau đó Việt cộng sẽ cắt hàng rào kẽm gai của ấp chiến lược để đột nhập và đích thân anh Thành sẽ mở cửa đồn cho địch vào, hạ sát hết anh em Nghĩa Quân, lấy vũ khí, quân dụng, rồi đặt chất nổ giựt sập đồn trước khi rút lui. Anh Thành sẽ theo bọn chúng vào rừng.

Nhưng anh Thành đã báo cho anh tôi biết sự việc và anh tôi đã dẫn anh ta đến trình diện Quận Trưởng để đặt kế hoạch “phản nội tuyến”. Điểm mai phục, chờ giờ hành động của hơn một trung đội Việt cộng, tại vườn mãng cầu, cách đồn Nghĩa Quân hơn hai trăm thước về phía Đông Nam, được làm mục tiêu cho hai khẩu đại liên từ trên môt tháp canh của Địa Phương Quân,cách đó không xa, về phía Bắc. Ngoài mười nghĩa quân trong đồn, số còn lại do anh tôi chỉ huy, phối hợp với một trung đội Địa Phương Quân phục kích đường rút lui của bọn chúng cách đó khoảng một trăm thước về phía Nam Tây Nam.

Đêm ấy trời tối đen như mực, thôn xóm nằm im lìm trong giấc ngủ say sưa. Mưa thu bay lất phất theo gió. Giọng côn trùng rả rích, cầm canh. Kế hoạch phản nội tuyến đã được khai triển, chực chờ diệt địch. Đến hơn nửa đêm là phiên gác của anh Thành, đúng giờ G, anh ta bật đèn hiệu. Bên ngoài, Việt công đáp lại mật hiệu và cho năm tên đi trước để dọn hàng rào Ấp Chiến lược. Lực lượng địch vẫn còn nằm bố trí tại vườn mãng cầu. Anh Thành xuống tháp canh, đi ra cửa đồn để rước địch quân vào. Dưới địa đạo bên trong rào kẽm gai, các chiến sĩ Nghĩa Quân đã ẩn núp sẵn sàng trước khi anh Thành lên phiên gác.

Khi năm tên cảm tử của địch quân vừa đến cửa đồn với súng cầm tay, anh Thành vẫy tay ra hiệu cho chúng cứ vào. Chúng cũng vẫy tay với anh Thành. Tên đi đầu cầm khẩu súng Thompson với cái áo giáp mang đầy băng đạn. Có lẽ địch giao nhiệm vụ cho tên này lọt vào đồn trước tiên, dùng súng tiểu liên giết sạch hết Nghĩa Quân đang ngủ say. Khi chúng còn cách cửa đồn 5 thước, anh em Nghĩa Quân mai phục dưới giao thông hào đã khai hỏa, bắn chết bọn chúng. Hai khẩu đại liên trên tháp canh của đồn Địa Phương Quân bắn xối xả vào vị trí địch. Ánh hỏa châu soi sáng liên tục trên vùng chiến trận. Việt cộng không còn vị trí ẩn núp vì chúng chọn vườn mãng cầu làm điểm tập trung tạm thời để chờ giờ vào đồn hốt vũ khí sau khi toán cảm tử của chúng đã giết hết Nghĩa Quân nên chúng bị thương vong dưới mưa đạn của lực lượng ta rất nhiều. Chúng rút lui, lôi theo xác đồng đội, tháo chạy để thoát thân khỏi vùng hội tụ hỏa lực của hai khẩu đại liên với sự tăng cường của khẩu súng cối. Vì hai đơn vị phối hợp phục kích trên đường rút lui của địch quá gần mục tiêu nên tầm đạn bắn trên đầu quân bạn quá rát khiến họ phải nằm tại chỗ chớ không nhóng lên được để truy kích địch quân. Họ nghe tiếng rên la, kêu gào của Việt Cộng trên đường rút lui, nhưng đành phải bó tay. Nếu kế hoạch phản nội tuyến hoàn chỉnh hơn thì lực lượng truy kích đã diệt trọn đơn vị địch quân.

Sáng hôm sau, quân ta lục soát, ngoài năm lính Việt cộng bỏ xác trước cửa đồn với bốn khẩu AK47 và một khẩu Thompson, trong vườn mãng cầu còn đọng nhiều vũng máu của địch quân. Anh Nguyễn Văn Thành được tuyên dương công trạng và được thưởng một chiếc xe đạp mới tinh. Anh tôi và cả trung đội Nghĩa quân cũng được tuyên dương công trạng. Với số tiền thưởng của quận Cần giờ, anh tôi và anh em đồng đội mở tiệc ăn mừng chiến thắng. Sau đó anh Thành từ giã xứ biển để thuyên chuyển về Biên Hòa. Hình như cấp trên muốn tìm sự an toàn cho anh. Nhưng mấy tháng sau tôi nghe anh tôi nói anh Thành bị mất tích khi cỡi xe đạp đi “du hí” ở vùng thôn quê.

Một đêm nọ, anh tôi cùng bốn anh em nghĩa quân đi tuần tiểu về ngang trường tiểu học thì bị ám sát bằng lưu đạn, nhưng anh đã nhanh nhẹn, nằm mọp xuống và hô to: “lưu đạn!” Bốn nghĩa quân kia cũng nhào lăn xuống đất vừa lúc trái lựu đạn nổ ầm vang giữa canh khuya, mảnh văng tứ tung, nhưng không có ai bị thương. Thật là may mắn cho anh tôi và toán tuần tiểu thoát nạn trong đường tơ, kẽ tóc. Thỉnh thoảng trung đội của anh tôi có một, hai chiến sĩ nghĩa quân hy sinh trong những cuộc chạm súng với Việt cộng, để lại vợ hiền, con thơ, đầu chít khăn tang, mắt chan hòa dòng lệ tiếc thương trước cảnh tình tử biệt, sanh ly. Ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, quân ta đã quyết tâm gìn giữ dãy đất lành từ Bến Hải đến mũi Cà Mau, người đi trước vừa ngã gục, kẻ ở phía sau tiến lên thay thế, luôn củng cố phòng tuyến chống Cộng hầu đánh tan âm mưu thôn tính miền Nam của bè lũ vô thần. Nhưng, thực trạng của miền Nam lúc đón không ổn định được ý thức hệ Tự do, Dân chủ vì tư tưởng Cộng Sản vẫn còn lẫn lộn trong quần chúng. Trung đội của anh tôi, có một chuyện đau lòng xảy ra khi một người em là chiến sĩ nghĩa quân đã bắn chết người anh ruột theo “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” trong một trận đánh cận chiến vào một buổi chiều, nơi một thôn ấp nằm ngoài vòng đai ấp Chiến lược.

Cuối mùa Hè năm ấy, khi anh tôi xây dựng lại gian nhà thờ cúng tổ tiên, ông bà thì tôi phải xa lìa nơi chôn nhau, cắt rốn, và những người thân để theo học trường Trung Học Vũng Tàu, cách quê tôi mười ba cây số đường biển. Mẹ và anh tôi tiễn tôi ra bến đò vào một buổi hừng đông, khi vầng trăng chếch bóng bên khu rừng sát mênh mông. Anh khuyên bảo tôi đừng lêu lỏng, chơi bời, hãy cố công học hành đỗ đạt hiển vinh trong tương lai, làm đẹp lòng mẹ và anh, làm rạng rỡ tông đường. Tôi cảm động rưng rưng nước mắt và hứa vâng lời mẹ và anh dạy bảo. Đò từ từ xa bến, tôi gạt lệ nhìn mẹ và anh tôi còn đứng trông theo. Gió lạnh thổi tạt vào mui đò khiến lòng tôi tê tái trong nỗi buồn ly biệt và khung trời bỗng mờ nhạt như mưa.

Ở nhà trọ của người chị bà con để theo việc bút nghiên ở xứ người, nhưng lòng tôi luôn hướng về mái ấm ngày xưa. Tôi nhớ mẹ và các anh, chị, em tôi và lo lắng cho người anh đang chỉ huy trung đội Nghĩa Quân, đang kề cận với tử thần vì kẻ thù luôn rình rập anh. Nhớ chuyện Việt Cộng treo giải thưởng để mua đứt mạng của anh, tôi càng mang nặng nỗi ưu tư. Chiều nào tôi cũng ra Bãi Trước, nhìn quê cũ in bóng xa mờ trên sóng nước mênh mông mà nghe lòng quặn thắt. Xứ biển nghèo nàn, nhưng tình quê nồng mặn và những kỷ niệm êm đẹp như ràng buộc người cất bước ly hương. Than củi đước của khu rừng sát mênh mông đã sưởi ấm tôi từ lúc sơ sinh và lời ru ca dao của mẹ hiền hòa trong âm vang sóng vỗ, khi vầng trăng buông tơ vàng trên mặt biển bao la. Cá, tôm của biển mặn thân yêu đã nuôi tôi nên hình nên vóc. Nghĩa nặng, tình sâu của quê cha, đất tổ, tôi ghi nhớ trọn đời. Tôi muốn bỏ học, trở về xóm cũ, làng xưa để sống êm đềm bên những người thân, nhưng nhớ lời khuyên bảo của mẹ và anh tôi, tôi cố đè nén nỗi nhớ thương, bi lụy của mình và cần mẫn, siêng năng học tập. Lâu lâu, anh tôi dẫn mẹ tôi qua Vũng Tàu thăm tôi, lần nào anh cũng đem nhiều tôm tích và con dòm do chính tay anh lặn lội, đi bắt để làm quà cho tôi vì anh biết tôi thích ăn những món đặc sản của quê nhà. Những món ấy như được ướp đầy tình thương của anh tôi, tôi ăn mà nghe lòng dạt dào cảm xúc vì tôi hình dung anh phải nằm nghiêng mình trên bãi đất bùn, thọc tay vào hang sâu, có khi bị con tôm tích dùng đôi càng bén như răng cưa, chém tay anh chảy máu, hoặc bị con thôn cắt rách da khi anh lặn xuống đáy biển để bắt con dòm.

Một hôm, anh qua thăm tôi với khuôn mặt bơ phờ, hốc hác, xanh xao. Tôi ngạc nhiên, hỏi anh thì anh mới trả lời là trung đội của anh vừa bị nội tuyến, mà kẻ phản bội là anh Ch. – người anh bà con của tôi. Anh u buồn, kể lại cho tôi nghe chuyện đoạn trường của đơn vị anh. Đêm ấy, trong đồn Nghĩa Quân chỉ còn lại bảy người thay phiên nhau canh gác, trong đó có anh Ch. Số người còn lại theo anh tôi đi phục kích địch quân ở Ba Động. Anh Ch. đã mua hai con gà và mấy lít rượu đế đem vào đồn, làm món nhậu “gà xé phay” để thết đãi anh em. Anh ta nói với mọi người là anh ăn bài cào ở xóm Cồn Cát nên mời anh em nhậu cho vui. Đến khuya, người nào cũng say ngất ngưởng, nằm ngủ như chết, chỉ có anh Ch. còn tỉnh táo. Người canh gác là anh Dưỡng, uống rượu ít hơn anh em, nhưng vì tửu lượng yếu nên anh ta say và ngồi ngủ trên tháp canh. Anh Ch. mở cửa cho một tiểu đội Việt Cộng vào đồn, dùng lưỡi lê trên đầu súng AK đâm chết bốn nghĩa quân đang ngủ say. Nghĩa Quân tên Ngói nghe tiếng động, giật mình, ngồi dậy, bị một tên Việt cộng đâm lưỡi lê xuyên qua cổ của anh. Nhờ có sức mạnh, anh Ngói nắm chặt đầu súng, đẩy kẻ địch té ngửa để rút lưỡi lê ra khỏi cổ rồi anh ta chạy vọt ra khỏi đồn. Anh Dưỡng trên vọng gác tỉnh giấc, biết có chuyện biến động nên hoảng hốt nhảy xuống đất, chạy thoát thân. Dù vết thương máu ra rất nhiều, anh Ngói gắng sức chạy về nhà anh Quân – Trung Đội Phó cách đồn gần 2 cây số để báo nguy, nhưng khi tới nơi, vừa gõ cửa xong thì anh té nhào và tắt thở. Lực lượng địa phương được điều động đến truy kích thì địch đã rút khỏi đồn. Chúng lấy của Nghĩa Quân sáu khẩu súng và mấy thùng lựu đạn... Anh Ch. theo Việt Cộng vào rừng. Anh Dưỡng thoát chết, nhưng bị liệt một cánh tay, anh chạy về nhà ngồi ngơ ngẩn như người mất trí.

Cách mấy ngày sau, anh Ch. lén về thôn ấp, bị Địa Phương Quân bắt sống, dẫn về quận. Anh Ch. bị bắt rất dễ dàng vì lúc ra khỏi đồn vào đêm ấy, anh đạp phải chông nhọn, bị thương ở chân nên không chạy được. Nửa tháng sau anh Ch. bị xử án tử hình. Trước khi dẫn anh ra pháp trường, người ta đã cho anh ăn no. Anh Ch. vừa ăn vừa khóc, có lẽ anh đang hối hận vì sự phản bội của anh đã giết chết bạn đồng đội là những người hết lòng yêu thương và tin tưởng anh. Anh tôi vô cùng đau đớn, bỏ ăn, mất ngủ vì tiếc thương năm anh em Nghĩa Quân đã đâu lưng, đâu cật với anh, cùng chiến đấu bên nhau ròng rã bốn năm trường. Anh phải quay mặt đi nơi khác để giấu đôi dòng nước mắt khi người ta bắn chết anh Ch. – một nguời anh trước kia đã ăn cùng mâm, ngủ cùng chiếu với anh trong thời gian hai người còn là ngư dân, đi đánh cá trên chiếc thuyền buồm của gia đình tôi.

Vào cuối mùa Hè năm ấy, tôi xếp bút nghiên để lên đường theo tiếng gọi của non sông. Tôi muốn cầm súng như anh tôi để gìn giữ quê hương, chống ngăn Cộng Sản xâm lược miền Nam. Trong bữa tiệc tiễn đưa, có nhiều anh em Nghĩa Quân thuộc Trung đội của anh tôi đến tham dự. Họ cụng ly với tôi và chúc tôi đạt được sự thành công vẻ vang trên đường binh nghiệp. Anh tôi cười tươi hơn bao giờ hết, có lẽ vì anh hãnh diện có được một đứa em có lập trường Quốc Gia vững chắc và cùng chí hướng với anh.

Từ Trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi được tuyển chọn sang Không Quân. Đơn vị đầu tiên của tôi sau ngày mãn khóa là Phi Đoàn 114, Không Đoàn 62 Nha Trang. Lúc tôi vào quân trường thì anh tôi lập gia đình. Anh không báo tin cho tôi biết vì đám cưới anh là ngày giỗ cha tôi. Anh và chị dâu tôi lạy bàn thờ gia tiên, bàn thờ cha tôi, rồi kết hợp lương duyên. Ngày tôi về phép từ Nha Trang, anh chị tôi đã có một đứa cháu gái rất dễ thương. Anh chị đãi tôi ăn canh chua cá chìa vôi, gỏi cá đối, tôm tích, cua gạch son, ghẹ rằn. Trong bữa tiệc mừng tôi về mái nhà xưa, có mấy anh Nghĩa Quân đến chung vui, đờn ca vọng cổ đến nửa đêm, trong bầu không khí đầm ấm, sum vầy. Anh ao ước tôi được về phục vụ tại Biên Hòa để có dịp bay xuống quan sát và yểm trợ cho quận nhà Cần Giờ. Tôi nói với anh sau một thời gian làm việc ở Nha Trang, tôi sẽ xin thuyên chuyển về xứ Bưởi của miền Nam. Anh chị tôi muốn ra Nha Trang một lần cho biết danh lam, thắng cảnh của miền nắng vàng, cát trắng, biển xanh. Tôi dặn anh chị hãy cho tôi biết trước ngày đến Nha Trang để tôi xin phép đơn vị ở nhà vài hôm, đưa anh chị và cháu nhỏ đi chơi.

Anh hẹn tôi hai tháng nữa, sau Tết Trung Thu, anh chị sẽ ra Nha Trang thăm tôi. Sở dĩ anh không đi trước Trung Thu được vì làng tôi có tục lễ cúng “Ông Thủy Tướng” (cá Ông) vào ngày 15, 16, và 17 tháng Tám Âm lịch hàng năm, trung đội của anh tôi có trách nhiệm bảo vệ an ninh, trật tự cho những ngày đại hội. Anh còn cộng tác với ban tổ chức những cuộc thi chèo thuyền, bơi lội, leo cột mỡ, đấu bóng chuyền, túc cầu, múa lân... cho ngày “nghênh ông”. Lúc trở về đơn vị, tôi mong sao chóng đến ngày hẹn để tôi được tiếp đón anh, chị và cháu tôi. Tôi sẽ đưa anh tôi đi dạo bãi biển Nha Trang, đi thăm Hòn Chồng, Cầu Đá, Hải Học Viện, tháp Chàm và xóm Xóm Bống. Tôi sẽ bồng đứa cháu gái của tôi đi mua sắm quần áo mới, và búp bê. Tôi sẽ đãi anh chị tôi ăn nem nướng Ninh Hòa và những món ăn đặc sản của miền biển Nha Trang. Tôi phải dành dụm để có nhiều tiền mới thực hiện được dự tính. Còn mười hôm nữa thì đến ngày hẹn, tôi bỗng được lệnh của Phi Đoàn đi biệt phái, bay yểm trợ hành quân cho Sư Đoàn 23 Bộ Binh ở Ban Mê Thuột. Tôi phải gửi thư cấp tốc cho anh tôi biết: khi nào tôi hết hạn biệt phái, trở về đơn vị, tôi sẽ đánh điện tín gọi anh, chị ra Nha Trang.

Đêm 17 tháng 8 Âm lịch của tiết Trung Thu ở miền cao giá lạnh, không ngủ được, tôi ngồi ngoài hành lang phòng trọ của Hội Quán Sĩ Quan Ban Mê Thuột mà lòng bồi hồi, thương nhớ quê xưa. Ánh trăng xuyên qua cành cây kẽ lá chiếu xuống mặt đường im vắng giữa canh khuya. Tôi nhớ kỷ niệm của tiết Trung Thu thuở trước nơi làng cũ, vào dịp vía ông thủy tướng, anh chị em tôi dắt nhau đi xem hát bội trong Lăng Ông, đến hơn nửa đêm mới về nhà, dưới ánh trăng sáng vằng vặc, mênh mông. Những đêm vui của lứa tuổi ngọc ngà đã chìm trong vùng ký ức mịt mờ, như bị che khuất bởi khói lửa chiến chinh. Tôi sống kiếp phiêu bồng mà lòng vẫn mơ về nơi quê mẹ, như hoa hướng dương dõi bóng kim ô, cho đến khi hương sắc phai tàn. Tim tôi bỗng hồi hộp, lo sợ cho anh tôi hơn bao giờ hết.

Đành rằng trong thời chiến chinh, sự sống chết là lẽ thường, sao tôi cứ bị ám ảnh một ngày nào đó tôi sẽ mất anh. Sương khuya xuống lạnh. Vầng trăng đã xế bóng phía trời Tây. Tiếng chim cú từ trên cây cổ thụ bên vệ đường vọng vào khiến tôi nghe rùng mình, ớn lạnh. Tôi vào phòng, nằm trăn trở một hồi lâu rồi đắm hồn trong giấc ngủ chập chờn.

Ngày hôm sau, tôi và bạn bè của Biệt đội L19 thay phiên nhau thi hành phi vụ quan sát hành quân cho Sư Đoàn 23 ở phía Tây Nam Ban Mê Thuột. Lúc xế chiều, vừa về đến phi trường, tôi nhận được hung tin: anh tôi tử trận ở quê nhà. Phi Đoàn trưởng cho người lên thay thế tôi để tôi về đơn vị và đi phép đặc biệt vào sáng hôm sau. Cái ngày đau thương, tang tóc, đẫm dầy nước mắt mà từ lâu tôi lo sợ, nay nó đã đến với tôi. Trời đất như quay cuồng trước mắt tôi, chân tôi đứng không vững, phải vịn vào thân phi cơ trên bến đậu để lấy lại thăng bằng. Niềm uất hận hòa trong xúc cảm, sôi trào lên cổ họng khiến tôi nghẹn ngào, đôi dòng lệ nóng trào tuôn ra khóe mắt.

Tôi về đến nhà vào buổi trưa, cái quan tài liệm xác anh tôi, có phủ lá quốc kỳ đã được vùi chôn dưới lòng đất lạnh quê hương, từ buổi ban mai, bên cạnh phần mộ của cha tôi. Tôi hối tiếc cho mình chậm trễ, không được đưa linh cữu của anh đến nơi an nghỉ sau cùng. Tôi sụp quỳ xuống đất, hai tay ôm nấm mộ anh tôi, nước mắt thâm tình lai láng trên gò má. Nhớ năm xưa khi cha tôi mới qua đời, những buổi hoàng hôn sau cơn mưa lạnh, anh tôi dẫn tôi ra đốt lửa bên mộ cha tôi rồi hai anh em ngồi khóc. Bây giờ, anh vĩnh viễn nằm cạnh bên cha, chắc cha cũng đỡ phần lạnh lẽo. Tuổi đời còn thanh xuân, anh lại vội vã ra đi, để lại mẹ già, vợ hiền, con thơ và đệ huynh tiếc thương anh mà nghe như đứt từng đoạn ruột.

Tôi gặp lại những anh em Nghĩa quân thân cận anh tôi. Họ kể rằng: anh tôi bị Việt cộng ám sát bằng lựu đạn trong một quán giải khát, trước cửa lăng Ông, vào đêm 17 tháng 8, tức là đêm hát cuối cùng của lễ nghênh ông. Có 5 người chết trong vụ ám sát này: một Thượng sĩ Địa Phương Quân, một Trưởng Ấp, anh tôi và hai thường dân. Một mảnh lựu đạn độc nhứt đã găm thấu tim anh tôi khiến anh trút hơi thở sau cùng khi vào bệnh viện được nửa giờ đồng hồ. Định mệnh ác nghiệt đã cướp của tôi một người anh yêu kính, có trái tim trung dũng, nghĩa nhân, đầy nhiệt huyết, luôn tôn thờ chính nghĩa quốc gia. Trong bữa tiệc vui của Trung đội Nghĩa quân nhân ngày đại hội của quê hương trong tiết Trung Thu, anh tôi khoe với anh em đồng đội là anh sẽ ra Nha Trang thăm tôi sau lễ nghênh ông. Bây giờ trọn kiếp này tôi vẫn không tìm lại được anh tôi.

Tôi trở về Phi Đoàn rồi lại xin đi biệt phái trên xứ “buồn muôn thuở” của miền cao nguyên đất đỏ, bụi mù. Tháng sau nghe tin mẹ tôi lâm bệnh vì quá buồn thảm, thương tiếc anh tôi nên sau kỳ biệt phái cao nguyên, tôi xin phép đặc biệt, về quê cũ. Lần nầy, tôi được anh em Nghĩa quân kể chuyện về sự linh thiêng của hương hồn người anh quá cố. Họ nói anh em nào gác ban đêm mà ngủ quên cũng được anh tôi đánh thức họ dậy. Họ mơ thấy anh tôi về, vỗ vai, gọi tên họ và bảo: “Em ơi...! Hãy thức dậy canh gác, coi chừng Việt cộng nó vào”. Họ giựt mình tỉnh dậy mà nghe tiếng nói của anh tôi như còn văng vẳng bên tai. Họ đã lập bàn thờ anh tôi trong đồn Nghĩa Quân và hằng đêm dốt nhang, khấn vái.

Anh tôi đã đền xong nợ nước, nhưng hồn thiêng còn lưu luyến quê cha đất tổ, lưu luyến Trung đội Nghĩa Quân thân mến của anh nên vương vấn theo anh em đồng đội để phù hộ, nhắc nhở họ chu toàn nhiệm vụ bảo vệ quê hương.

Kha Lăng Đa

Monday, January 29, 2018

Nỗi nhớ khôn nguôi

Kha Lăng Đa

 
Đã hơn 37 năm rồi mà tôi vẫn không quên được những kỷ niệm êm đẹp của tôi và đứa em “cột chèo” ở miền Trung, nơi quê hương có núi Ấn, sông Trà.

Tôi là người Nam, ở miền biển mặn gần Vũng Tàu, đến tuổi lớn khôn, đi lính, phiêu bạt ra miền Trung và cưới vợ ở “ xứ kẹo mạch nha”- Quảng Ngãi. Vợ tôi vào Nha Trang để đi học. Lúc tôi còn là Sinh Viên Sĩ Quan ở Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân đã vướng phải lưới tình của cô gái Quảng “pha” Nha Trang và đã yêu nàng tha thiết! Lúc ra trường, tôi được ưu tiên chọn nơi phục vụ tại xứ biển nầy.

Sau 2 năm ở Nha Trang, trời xui khiến tôi đổi ra trấn”Ải Địa Đầu” của lính tàu bay là Không Đoàn 41 – Đà nẳng. Nàng theo tôi trở về quê cũ, thật đúng là duyên nợ!

Đứa em “cột chèo” của tôi tên là Châu Đình Phúc, sĩ quan phòng 3 của Sư Đoàn II Bộ Binh ở trại Hoa Lư – Quảng Ngãi. Phúc cưới cô em vợ của tôi tên Ái Phương lúc cô nầy mới đúng độ “ trăng tròn lẻ”, xinh đẹp, dễ thương và còn đang đi học. Sau Ái Phương, còn 2 nàng nữa tên Thủy và Liễu. Lúc tôi cưới vợ tôi thì Phúc và Phương đã có 2 đứa con gái tên Lệ và Tuyền. ( Hai tên nầy ghép lại thành Lệ Tuyền có nghĩa là suối lệ!! ). Hỏi nhau mới biết, tôi và Phúc cùng thụ huấn tại “Quân Trường Mẹ”- Trường Bộ Binh Thủ Đức. Phúc học khóa 18. Tôi học khóa 19, được tuyển chọn qua Không Quân.

Phúc có tầm vóc trung bình, cao khoảng 1m65, tóc hót cao, khuôn mặt rắn rỏi, kiên nghị, nhưng Phúc rất vui tính. Điểm đặc biệt là Phúc có một cái răng vàng. Tôi nhớ lại trong Nam ở thập niên 60, trai gái miền quê hay bịt một cái răng vàng để làm tăng thêm sự duyên dáng cho nụ cười. Bởi vậy nhạc bản “Khúc ca ngày mùa” của nhạc sĩ Lam Phương bị các cô, các cậu sửa lại câu đầu để ca, chọc quê nhau: “ Cười lên đi cho răng vàng sáng chói!”. Điểm đặc biệt thứ hai là tôi chưa bao giờ thấy Phúc mặc đồ “civil”, hầu như nó mặc quân phục suốt ngày.

Phúc cùng tuổi với tôi, nhưng luôn xưng hô bằng em với tôi rất ngọt. Vì gốc người Quảng Trị và hay nói nhanh, nhiều khi tôi ngơ ngẩn sau câu nói của Phúc và bảo nó lập lại. Nhớ lúc từ Phi Đoàn 114 ở Nha Trang đổi ra Phi Đoàn 110 – Đà Nẳng, hôm nọ bay yểm trợ cho cuộc Hành Quân Lam Sơn 54 ở vùng hỏa tuyến, khi liên lạc máy vô tuyến với cánh quân thuộc đơn vị Nhảy Dù, anh hiệu thính viên người Quảng Trị “gởi công điện” mà tôi nghe không được, yêu cầu anh ta lập lại nhiều lần. Cuối cùng đơn vị bạn phải tìm một anh hiệu thính viên khác thuộc dân “nam cờ” chánh tông liên lạc với tôi. Trước khi bàn giao nhiệm vụ, anh hiệu thính viên Quảng Trị nói với tôi:

- Bạn ơi! Tôi đã tìm ra người xứ bạn để nói chuyện với bạn cho dễ hiểu!

Phi Đoàn 110 có một biệt đội ở Quảng Ngãi gồm 3 phi cơ L19 để bay yểm trợ hành quân cho Sư Đoàn II Bộ Binh và Tiểu Khu Quảng ngãi. Nhân Viên Phi Hành của Phi Đoàn luân phiên nhau đi biệt phái, mỗi kỳ là 15 ngày. Lần nào tới phiên tôi đi Quảng Ngãi, tôi cũng xin phép ở lại cả tháng, có khi 2, 3 tháng. Sau một ngày làm việc, chiều nào tôi cũng cùng Phúc và người anh bà con chú bác của vợ tôi, tên Bích đi uống bia ở những quán nem nướng trên đường Võ Tánh hay những quán nhậu gần đầu cầu sông Trà Khúc. Thỉnh thoảng, ba anh em lái xe “ jeep” xuống tận sông Vệ ăn mì Quảng. Có khi tôi đi nhậu với anh em đồng đội của Phúc ở Trại Hoa Lư. Khi “ tửu nhập tâm như hổ nhập lâm”, họ thường thách nhau cụng đầu để tranh chức..vô địch ( Chơi trò gì kỳ cục quá!). Phúc luôn giữ chức vô địch vì đầu nó quá cứng. Tôi ngồi nhìn họ cụng đầu nhau mà cười chớ không nhập cuộc.

Có khi tôi và Phúc đối ẩm với nhau, không có bạn bè nào khác ngồi chung, Phúc thường tâm sự với tôi là nó muốn xin ra tác chiến. Tôi hỏi nó có chuyện gì buồn không? Nó trả lời:

- Em không có chuyện gì buồn cả, nhưng em thấy bạn bè em gian khổ ngoài chiến trường mà mình ngồi văn phòng hoài em cảm thấy mình hèn quá!

Tôi khuyên Phúc:

- Chiến đấu thì ở vị trí nào cũng là chiến đấu, miễn sao tinh thần của mình luôn tích cực với nhiệm vụ. Cấp chỉ huy đã cắt đặt Phúc ngồi ở phòng 3 chớ đâu phải mình cầu xin hay mua chỗ ấy đâu mà hèn. Em hãy bỏ ý định mạo hiểm ấy đi, vợ trẻ, con thơ đang cần Phúc ở gần chúng nó.

Phúc không nói thêm nữa, mắt nhìn xa xăm nghĩ ngợi. Trong ánh mắt ấy, tôi đọc được niềm ước mơ tung hoành nơi chiến địa cho thỏa chí tang bồng. Tôi thương Phúc như tình đệ huynh ruột thịt vì tánh tình của nó cương trực, biết lo cho gia đình, đối xử với bạn bè chân thật, đậm đà tình nghĩa. Tôi thương Ái Phương như đứa em gái của tôi vì nó rất đoan trang, phúc hậu.

Trong thời chinh chiến, có biết bao thiếu phụ chít khăn tang, khóc chồng trước cảnh tử biệt sinh ly, duyên tình gãy đổ nửa chừng xuân. Tôi không muốn nhìn đứa em vợ của tôi và đàn cháu thơ dại, tóc xanh chưa vướng bụi đời phải sớm chuốc lấy nỗi khổ hận, đau thương khi Phúc xông pha ra chiến trận và không bao giờ trở lại. Nhưng, Phúc xem thường chuyện tử sanh. Nhiều lần nó nói với tôi:

- Nếu một mai em bị lọt vào tay Cộng Sản, em sẽ tự sát hoặc là kháng cự cho chúng nó bắn em chết chớ không để chúng nó dẫn em đi.!

Tôi trấn “Ải Địa Đầu” của Không Quân được 2 năm thì về miền Nam đầu quân vào Phi Đoàn tân lập 122 theo đà phát triển của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa từ cấp lớn nhất là Không Đoàn tăng lên cấp Sư Đoàn.

Kễ từ đó, tôi xa đứa em cột chèo và miệt mài với nhiệm vụ bay yểm trợ hành quân khắp miền đồng bằng sông Cửu Long và chiến trường ngoại biên Campuchia. Ba năm sau, tôi xin phép đặc biệt, đưa vợ con về thăm cha mẹ vợ tôi ở Quảng 
Ngãi. Tôi vui mừng gặp lại Phúc. Nó đã được thăng cấp Đại úy như tôi và đã ra đơn vị tác chiến là Tiểu Đoán 1/5 thuộc Sư Doàn II Bộ Binh, với chức vụ Tiểu Đoàn Phó.

Mừng ngày tái ngộ, Phúc lái xe chở tôi cùng 5 anh em đồng đội của nó đi ăn nhậu, hết quán nọ, sang quán kia. Sau đó, Phúc chở tôi ra thăm hậu cứ Trung Đoàn của nó ở Tuần Dưỡng. Phúc lấy cái nanh heo rừng bọc trong túi vãi đỏ, có dây để đeo vào cổ cũng màu đỏ, đặt trên cái trang thờ trong phòng của nó, trao cho tôi và nói:

- Em “chuộc” cái nanh heo rừng nầy với giá 2 chỉ vàng để dành tặng anh vì em đi hành quân, thấy phi cơ L19 mỗi lần bay thấp,xuống, bị Việt Cộng bắn dữ lắm, không biết phi công có nghe súng nổ hay không chớ tụi em dưới đất thường nghe loại súng phòng không 12 ly 7 nó bắn rát lắm! Anh đeo cái nanh nầy để làm bùa hộ mạng vì đạn và lửa sẽ tránh anh!

Tôi cầm cái nanh heo rừng ngắm nghía và nhớ lại huyền thoại của nó do môt bậc chú, bác của tôi kễ: “Cái nanh heo rừng chỉ linh nghiệm khi nào con heo già nua sắp chết, nó đánh vào gốc cây khô cho đôi nanh ghim sâu và gãy trong đó để giấu báu vật của nó. Sau đám cháy rừng, người nào ( biết rõ chuyện linh nghiệm của nanh heo rừng ) thấy một gốc cây và cỏ chung quanh không bị cháy thì sẽ lấy được cái nanh quý. Những cái nanh khác thì không có sự linh nghiệm”. Tôi nghĩ đến Phúc phải xông pha ngoài mặt trận, trước lằn đạn của quân thù, cần có một chiếc nanh quý để hộ thân nên trao chiếc nanh lại cho Phúc

- Phúc cần cái nanh heo rừng nầy hơn anh vì em cận kề với sự hiểm nguy ngoài chiến tuyến, còn anh thì bay ở trên trời dù sao cũng an toàn hơn, VC bắn khó trúng phi cơ lắm! Cám ơn em đã yêu thương và lo cho anh. Có điều anh khuyên em là đừng quá tin tưởng vào cái nanh nầy mà không ẩn núp trước hỏa lực của đối phương!

Phúc năn nỉ mãi, nhưng tôi vẫn không chịu nhận cái nanh.

Sau đó, Phúc chở tôi ra Tam Kỳ, ngồi quán cà-phê, nghe nhạc lính tới chiếu mới trở vô Quảng Ngãi.

Hết phép, tôi phải trở về đơn vị, nhưng vợ con tôi còn ở lại Quảng Ngãi. Tôi hẹn tháng sau sẽ trở ra Trung, đón vợ con tôi về Cần Thơ. Tôi đi biệt phái ra Đăc Khu Phú Quốc, mua đăc sản cá khô thiều, tôm khô với dự định làm quà tặng Phúc và anh em đồng đội của nó khi tái ngộ với họ. Tôi có ngờ đâu, ngày tôi trở lại quê hương núi Ấn, sông Trà thì được tin Phúc bị mất tích khi căn cứ “West Quế Sơn” của nó bị thất thủ. Ái Phương, vợ Phúc vẫn tin tưởng rằng Phúc còn sống và bị bắt làm tù binh. Riêng tôi cảm thấy buồn muốn khóc như đã mất một người thân và theo linh cảm của tôi thì Phúc khó mà sống sót được. Tôi chỉ biết an ủi em vợ tôi hãy nén đau thương và can đảm vượt qua sóng gió cuộc đời để lo nuôi dưỡng 3 đứa cháu thơ cho khôn lớn, nên người.

Năm 1973, tôi được về Sài Gòn dự đại lễ mừng Ngày Quân Lực 19-6. Trong bữa tiệc do Tổng Thống khoản đãi 211 chiến sĩ xuất sắc tại Dinh Độc Lập, tôi nhìn sang bàn bên cạnh, thấy một quân nhân mang phù hiệu “Con cá hóa long” của Trung Đoàn 5 ( tức là Trung Đoàn của Phúc ). Tôi vội đến hỏi thăm tin tức của Phúc thì được anh lính ấy cho biết:

- Căn cứ West Quế Sơn bị Cộng quân tràn ngập, nó bắt Đại úy Phúc dẫn đi. Đại úy Phúc kháng cự lại nên bị chúng nó bắn ổng chết tại chỗ.

Tôi không có thì giờ hỏi người lính nầy thêm nữa. Giữa tiệc vui đầy cao lương mỹ vị mà tôi bỗng nghe tê đắng cả vị giác và cõi lòng mang nặng nỗi đớn đau, thương tiếc một đứa em “cột chèo” dũng cảm, bất khuất trước kẻ thù. Những lời nó nói với tôi trước kia như một lời nguyền. Nó đã giữ đúng lời nguyền ấy như đinh đóng vào cột!

Trong lần về phép ở Quảng Ngãi, tôi đã thuật lại tin tức tôi biết được về Phúc cho em vợ tôi nghe. Ái Phương trả lời:

- Không phải vậy đâu anh.! Anh Phúc vẫn còn sống mà!

Tôi nhìn vào đôi mắt của Ái Phương, tuy em không khóc, nhưng tôi cảm nhận được ánh mắt ấy sấu thăm thẳm và chắc là em đang khóc trong lòng. Tôi hối hận vì mình đã gieo thêm nỗi buồn đau cho Ái Phương. Đáng lẻ tôi không nên khuấy động tâm tư của Ái Phương bằng những tin buồn mà tôi đã nhận được để cho đứa em đáng thương kia nuôi niềm hy vọng mà sống với đàn con thơ dại cho đoạn tháng, qua ngày.

Trong ngày trao trả tù binh sau Hiệp định Paris, tôi đã dò danh sách tù binh VNCH trên những tờ nhựt báo, được Cộng sản trao trả, nhưng không thấy tên Châu Đình Phúc đâu cả. Tôi nghĩ Ái Phương chắc cũng đã chăm chú, hồi hộp dò từng tên tù binh được thả về từ ngục tù Cộng sản và thất vọng não nề khi chẳng thấy tên chồng.

Hơn 16 năm sống trên đất Mỹ, vợ tôi vẫn còn liên lạc với Ái Phương và được biết em vẫn ở vậy thờ chồng, nuôi đàn con 2 gái, 1 trai, bây giờ đứa nào cũng lớn khôn, lập gia đình, làm ăn phát đạt. Đứa con gái tên Tuyền đã cùng chồng vượt biển tìm tự do, hiện đang định cư ở Canada.

Vì muốn biết rõ rang sự hy sinh dũng cảm của đứa em “cột chèo” Châu Đình Phúc, tôi đã nhờ Đài Truyền Hình VHN nhắn tin cùng chiến hữu đồng đội của Phúc, yêu cầu họ cho tôi biết tin tức về Phúc. Tôi dược Cựu Trung Tá C. của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Tín trước kia, hiện định cư ở Texas, thuật lại rành mạch biến cố của “Mùa Hè Đỏ Lửa” mà căn cứ West Quế Sơn, còn gọi là Đồn Liệt Kiểm là mục tiêu của địch quân:

Trung Tá C. ra căn cứ West Quế Sơn nằm giữa Việt An và Hiệp Đức để bàn định kế hoạch phòng thủ vì có tin địch sẽ tấn công căn cứ nầy.

Bỗng 5 giờ sáng ngày 12 tháng 3 năm 1972, Đặc công Việt cộng tấn công căn cứ. Chúng đột nhập và làm chủ tình hình, kêu gọi lực lượng ta đang ẩn núp trong công sự phòng thủ, hầm truyền tin hãy ra đầu hàng. Trung tá C. bị thương, trốn trong một lô-cốt cùng với một người lính truyền tin. Ông hoàn toàn bị mất liên lạc với Thiếu tá Nguyễn văn Bê – Tiểu đoàn trưởng và Đại úy Châu Đình Phúc- Tiểu đoàn phó. Những ngày ấy, mây mù bao phủ vùng trời, phi cơ không bay đến oanh kích, yểm trợ được. Pháo Binh ta bắn liên tục chung quanh căn cứ nên Trung tá C. không thể nào ra khỏi nơi ẩn trốn được.

Đến ngày hôm sau, Việt Cộng đem công binh đến kêu gọi sĩ quan và lính còn ẩn trốn hãy ra hàng, nếu không, chúng sẽ đặt chất nổ phá hủy căn cứ. Trung tá C. cùng 5 sĩ quan ra đầu hàng, bị chúng bắt, dẫn đi. Trên đường đi, ông gặp Thiếu tá Bê – Tiểu đoàn trưởng cũng bị bắt làm tù binh. Thiếu tá Bê cho Trung tá C. biết, Đại úy Châu Đình Phúc và một sĩ quan Đại đội trưởng bị chết trong tiếng nổ đầu tiên khi đặc công VC đột nhập và khai hỏa. Tất cả tù binh bị đưa về trại tù ở ranh tỉnh Kontum và Quảng Ngãi.

Bị giam cầm một thời gian, Thiếu tá Bê kết hợp vượt thoát cùng 5 sĩ quan của Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Thừa lúc đi làm lao động khổ sai, 2 tên cán bộ võ trang sơ ý, Thiếu tá Bê chém chết chúng nó, đoạt vũ khí rồi chạy vô rừng. Chẳng may trên đường tẩu thoát, Thiếu tá Bê cùng anh em gặp một đơn vị của Việt cộng. Hai bên bắn nhau, Thiếu tá Bê cùng 2 sĩ quan bị tử thương còn 3 người kia bị bắt sống. Sau đó, chúng hành hạ tù binh trong trại đủ mọi cách để trả thù.

Năm 1973, Trung tá C.được trao trả tù binh khi ông đã kiệt lực, đi không nổi phải nhờ Đại úy N.D.A – Pháo đội trưởng của căn cứ West Quế Sơn và 1 người nữa võng ông ta đi đến 7 ngày đường mới tới địa điểm trao trả tù binh.

Qua lời tường thuật của Trung tá C., tôi nghĩ nếu Phúc bị bắt làm tù binh thì chắc thế nào nó cũng kết hợp với Thiếu tá Bê – tiểu đoàn trưởng để vượt ngục và chắc Phúc sẽ cùng chung số phận với Thiếu tá Bê khi chạm súng với Cộng quân trong rừng.

Vùng ranh giới 2 tỉnh Kontum và Quảng Ngãi núi non trùng điệp, chớn chở, rừng già rậm rạp, thâm u với ngọn Ngọc Lĩnh cao trên 9.000 feet. Ngày trước biệt phái cho Trại Biệt Kích B.15 ở bên kia đầu cầu DakPla của tỉnh Kontum, tôi thường bay qua vùng nầy và nghĩ rằng nếu bị hạ cánh ép buộc xuống nơi đây, may mắn được sống còn thì cũng khó mà mưu sinh thoát hiểm. Thiếu tá Bê thật là một sĩ quan của QLVNCH dũng cảm, can trường đã quyết không đội trời chung với quân thù. Việt cộng nắm vững địa thế vùng nầy vì là địa bàn hoạt động của chúng (“Rừng nào, cọp nấy”!). Thiếu tá Bê và 5 sĩ quan kia với hỏa lực ít ỏi làm sao chống nổi với đơn vị đầy đủ đạn dược của Cộng quân, như “mãnh hổ nan địch quần hồ”! Anh đã chết đi nhưng đã nêu cao tấm gương anh hùng bất khuất muôn đời, theo truyền thống của nòi giống Rồng Tiên.

Tôi nhận được tin tức chính xác về Phúc trong vòng một tháng thì Ái Phương được đứa con gái bảo lãnh sang Canada. Tôi gọi điện thoại thăm em ấy và kễ lại chuyện đồn Liệt Kiểm bị thất thủ theo lời Trung tá C. tường thuật. Lần nầy, Ái Phương không chống chế lời tôi nói nữa, nhưng chắc em cũng buồn nhớ, tiếc thương người bạn tình chung đã ra đi không bao giờ trở lại.

Vợ chồng tôi hứa sẽ qua Canada thăm em, nhưng chưa đi được. Mùa Xuân năm nay, ở miền lạnh giá, chắc em sẽ nhớ quê nhà và nhớ thương chồng em đã hy sinh vì chính nghĩa quốc gia, noi gương vị anh hùng dân tộc Hoàng Diệu, thành mất thì chết theo thành. Thân xác của Phúc không biết bị vùi dập nơi đâu!? Nó không được nằm trong cổ quan tài phủ cờ Tổ Quốc và không được an táng dưới “nấm mồ danh dự”. 

Theo quan niệm sống của tôi, người nào an ủi tôi lúc hoạn nạn, đau buồn, cũng đủ cho tôi mang ơn người ấy. Do đó, tôi không thế nào quên được ân tình của Phúc đối với tôi khi Phúc mua cái nanh heo rừng mà nó cho là bùa hộ mạng, nhưng không dùng báu vật ấy để che thân mà tặng cho tôi để tôi được an toàn trong những phi vụ bay yểm trợ hành quân. Nó chỉ nghĩ tới sinh mạng của tôi mà quên cả bản thân của nó! 

Riêng Ái Phương thật xứng đáng nêu gương một người vợ thủy chung, thủ tiết thờ chồng, nuôi con đến tuổi khôn lớn, thành nhân, vượt qua bao sóng gió của cuộc đời. Có lẽ dưới suối vàng, Phúc cũng đẹp lòng vì có được một người vợ hiền giữ tròn thệ ước và vẹn vẽ câu “tứ đức, tam tùng”. 

January 29.2018
Kha Lăng Đa

Thursday, December 7, 2017

Hoa hẹn ước

Kha Lăng Đa 

Xuân ngồi trên bãi cát trắng, mắt đăm chiêu nhìn ra biển đang dấy động những đợt sóng bạc đầu, nối tiếp nhau xô tấp vô bờ. Bây giờ là mùa gió chướng, mùa biển động. Lòng Xuân đang dào dạt nổi ưu tư, niềm hoài cảm như sóng biển xôn xao vỗ vào bờ dĩ vãng. Đã lâu rồi Xuân mới trở về thăm chốn cũ để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa. Rặng thùy dương cao vút , lả ngọn theo gió xa khơi thổi lộng về, hòa tiếng reo rắt vào điệu nhạc trầm của sóng biển. Bên rặng thùy dương, hàng dừa xanh đứng nghiêng mình che nắng cho những cái quán dọc theo bờ cát trắng. Núi vẫn đứ ng sừng sững với vẻ trầm mặc, lạnh lùng trông ra đại dương xa thẳm. Đàn hải điểu chao liệng giữa lưng trời, la đà trên sóng nước. Thuyền ngư phủ thấp thoáng ở phía xa.

Hơn mười lăm năm trước, nơi đây vào những buổi chiều nhạt nắng, Xuân thường cùng Lan nắm tay nhau đi dạo mát dưới rặng thùy dương rậm lá và ngồi trên cát trắng, nhìn vầng dương từ từ chìm xuống biển cả, để lại ráng hồng pha sắc tím ở chân trời tây, in bóng hoàng hôn xuống mặt biển xanh phẳng lặng. Nhiều lần hò hẹn nhau giữa đêm trăng sáng, Xuân và Lan thường ngồi trên ghế bố của quán giải khát bên rặng thùy dương, nhìn mặt biển phản chiếu ánh trăng, lấp lánh một vùng sáng mênh mông, thơ mộng. Những ngày tháng êm đềm với tình yêu chân thật và nồng thắm của tuổi hoa niên đã khuất trong quá khứ xa mờ.

Xuân sống bên bờ di ảnh để tự an ủi mình qua thời gian dài đăng đẳng xa cách người yêu. Sau ngày 30 thang 4 năm 1975, gia đình Lan đã đến được bến bờ tự do ở Phi-Luật-Tân. Xuân rất vui mừng khi được tin tức ấy và tiếc cho mình không được đi chung chuyến vượt biển với Lan. Mẹ của Xuân đã bằng lòng đi tìm tự do với Xuân và gia đình của Lan đã đồng ý cho hai mẹ con cùng đi với họ. Nhưng rủi thay, ngay giữa đêm thuyền tách bến bà bỗng đau nặng phải vào bệnh viện giải phẫu, cắt ruột thừa. Xuân đành ở lại lo săn sóc mẹ. Được tin tức Lan lần đầu tiên rồi bỗng bặt vô âm tín. Vì sinh kế, Xuân phải đưa mẹ rời bỏ Vũng Tàu, về nương náu với người cô ruột ở quận Bình Thạnh, Sài Gòn. Nhiều lần Xuân trở về căn nhà cũ đã bán cho người khác để hỏi chủ nhà có thơ của Lan gởi về không, nhưng Xuân thất vọng não nề. Vì hỏi nhiều lần quá nên ông chủ nhà nổi cáu, buông lời khiếm nhã:

- Tôi bảo không có thư từ gì cả mà cậu cứ hỏi hoài như đòi nợ vậy!

Xuân lại hỏi thăm người chủ mới ở nhà Lan, sát cạnh nhà Xuân, người ta cũng không biết một tin tức nào của gia đình Lan. Xuân trở gót, đi thất thểu lang thang trên đường phố. Sự tuyệt vọng khiến Xuân đau nhói trong tim, lệ trào ra khóe mắt. Chợt Xuân nhớ tới giáo xứ cũ, một tia sáng hy vọng lóe lên giữa hồn Xuân như ánh chớp trong đêm mưa tầm tã, soi sáng cho kẻ tìm đường. Xuân phấn khởi bước nhanh đến giáo đường năm xưa, gặp Cha Xứ để hỏi thăm, may ra Lan có gởi thư về nhờ Cha thăm dò tin tức của mẹ con Xuân. Nhưng Cha Xứ trả lời không có. Xuân lại trở về Sài Gòn tiếp tục vật lộn với manh áo, chén cơm giữa cái xã hội bon chen, đầy giả dối điêu ngoa.

Đã hơn mười năm rồi, Xuân mang nặng nỗi nhớ thương Lan. Không biết nơi hải ngoại, Lan có còn ấp ủ những kỷ niệm êm đẹp hay đã có người yêu mới, xóa bỏ chuyện tình hoa mộng ngày xưa. Xuân nhớ đến đêm Giáng Sinh năm ấy, sau lễ nửa đêm, Xuân dìu Lan đi dạo một khoảng đường trên bãi biển trước khi về nhà, ngồi trên chiếc băng đá dưới gốc cây bàng cổ thụ, nhìn trời sao lấp lánh, Xuân và Lan cùng đắp xây mộng ước tương lai. Lan đã lấy chiếc khăn trắng có thêu hình mấy cánh lan màu tím để trói tay trái của Xuân vào cánh tay phải của Lan rồi âu yếm nói:

- Em trói anh mãi mãi ở bên em, không bao giờ chúng mình xa cách, nha anh! Xuân vuốt mái tóc thề phủ bờ vai Lan:

- Anh sẽ giữ vẹn tình yêu chung thủy với em.

Bây giờ đã muôn trùng cách biệt, làm sao trói buộc được nhau. Thời gian là liều thuốc nhiệm mầu cho những người muốn tìm sự quên lãng nhưng nó ác nghiệt cho hai kẻ nhớ thương nhau mà không được gần nhau. Xuân thở dài, đứng dậy đi thơ thẩn dưới ngọn thùy dương. Gió thổi lộng. Lá dương khô rơi lả tả trên áo Xuân. Xuân đến bên một gốc thùy dương quen thuộc mà ngày trước Xuân đã dùng cái đục sắc bén khắc tên Xuân và Lan vào phần gỗ của cây ấy. Nay, nét chữ vẫn còn in hằn dù da cây đã phục hồi chung quanh vết đục. Xuân trân trọng dùng ngón tay trỏ đồ lại hai chữ Xuân Lan với nỗi thương nhớ ngập lòng. Xuân đứng tựa gốc thùy dương, nhìn sóng bủa vào bờ, nổi bọt biển trắng xóa chạy dài theo ven cát mịn. Xuân lại nhớ bóng dáng Lan đẹp thướt tha trong chiếc áo dài trắng mỗi sáng đến trường.

Những ngày Chúa Nhật, Lan thường mặc chiếc áo dài màu thiên thanh đi lễ. Mái trường cũ nằm bên hông giáo đường với nhiều cây cao, bóng mát, sân cỏ xanh rộng thênh thang. Giờ ra chơi, Xuân và Lan thường cùng bạn bè đến ngồi bên thềm đá của nhà thờ, chuyện trò vui vẻ. Có khi Xuân và Lan trốn bạn bè, vào quì bên nhau ở một gốc nhà thờ, đọc vài kinh cầu nguyện. Từ trường học ra biển chỉ qua một quãng đường không đầy nửa cây số dưới những hàng cây cổ thụ cành lá giao nhau. Những ngày đẹp trời, sau giờ tan học, Xuân và Lan hay rủ nhau đạp xe ra biển giải khát rồi cùng về nhà. Nhà Xuân và nhà Lan ở Xóm Vườn, nằm cạnh nhau chỉ ngăn cách bởi hàng rào cây chùm nụm. Cha Xuân và cha Lan là đôi bạn tri kỷ, thân nhau hồi còn đi học cho đến lúc ra đời, lập gia đình vẫn sống gần nhau. Cha của Xuân là một sĩ quan của một đơn vị Thủy Quân Lục Chiến, còn cha Lan là một công chức. Nhà Lan trồng rất nhiều hoa lan. Có lẻ, cha Lan thích loài hoa ấy nên đặt tên cho đứa con gái đầu lòng là Lan.

Lan có hai đứa em trai hiền hậu dễ thương. Xuân là đứa con trai độc nhứt trong gia đình. Xuân và Lan mến thương nhau từ thuở mới lên bốn, lên năm. Vào những ngày gần Tết, hoa lan đua nở xinh tươi dưới nắng ban mai hiền dịu. Lan thường rủ Xuân dạo chơi trong vườn, nhìn đàn bướm màu sặc sỡ vờn quanh những chùm hoa lan mới nở. Có lần, Lan đòi Xuân hái hoa lan tím cài lên mái tóc vừa chấm ngang vai của Lan để Lan làm cô dâu đi bên cạnh Xuân, chú rể tí hon. Lan đã tưởng tượng ra một chuyện thần tiên và kể cho Xuân nghe:

- Ngày xưa, Xuân với Lan là Tiên Đồng và Ngọc Nữ ở trên trời. Một hôm đi chơi trong vườn thượng uyển, Xuân hái hoa để cài lên mái tóc của Lan bị Ngọc Hoàng bắt được nên đày Xuân và Lan xuống trần gian.

Tuổi thơ nhiều mơ mộng, Xuân say mê nghe Lan kể tưởng như chuyện có thật và về khoe với mẹ:

- Mẹ ơi! Em Lan nói hồi xưa con là Tiên Đồng ở trên trời đó mẹ.

Đến khi Xuân và Lan vừa biết yêu nhau thì cha Xuân bị tử thương trong một trận giao tranh ác liệt với Cộng quân, bỏ lại Xuân và mẹ hiền chít vành khăn tang, sống trong cảnh mẹ góa, con côi. Xuân gắng gượng đi học năm cuối cùng của cấp Trung học thì đất nước Việt Nam lọt vào tay Cộng Sản.

Xuân đau đớn cắt đứt dòng tư tưởng, đi bách bộ lên phía giáo đường năm cũ với ý định cầu may, hỏi thăm Cha có thơ gì của gia đình Lan gởi về giáo xứ không. Khi gặp Cha Xứ, Xuân lại thất vọng vì sự bặt tin của gia đình Lan. Xuân dâng lên Cha Xứ một cánh thiệp chúc mừng Giáng Sinh vì chỉ còn năm hôm nữa là đến ngày lễ trọng đại, và một số tiền cầu nguyện cho gia đình Lan được bình an. Trở về với cảnh phồn hoa náo nhiệt của Sài Gòn, Xuân thấy chán nản trong cái nghề bất đắc dĩ của mình để nuôi mẹ sống qua ngày.

Xuân có người bạn cũ, xuất thân từ trường Mỹ Nghệ, chuyên nghề tạc tượng. Nay, nghề ấy khó sống, anh ta chuyển qua nghề trùng tu đền miếu. Biết Xuân có năng khiếu thẩm mỹ, anh ta mời Xuân cộng tác để làm ăn. Không ngờ cái nghề mà Xuân không thích mấy lại moi ra nhiều tiền. Nhờ vậy, sự sống của mẹ con Xuân khá đầy đủ. Xuân còn có thêm nghề dạy kèm học trò mỗi tối. Thì giờ rỗi, Xuân lo chăm sóc những chậu hoa lan trước sân nhà. Xuân tâng tiu nhất là cây ngọc lan trổ hoa vàng vào mùa xuân. Hoa nở ban đêm, hương thơm theo gió lan đến những nhà lân cận. Thú vui và nguồn an ủi của Xuân là sự chăm bón loài hoa biểu tượng của Lan.

Có một lần Xuân bị sốt mấy ngày liền. Đêm ấy, trong cơn sốt mê man, Xuân nằm mộng thấy hoa lan của mình trồng bị nắng gay gắt làm héo rụi cả. Xuân giật mình tỉnh giấc, vội vã chạy ra sân nhưng vì sức yếu qua mấy ngày bệnh hoạn, Xuân bị té xỉu trước thềm nhà. Mẹ Xuân thức giấc, đỡ Xuân dậy, lo sợ, hỏi Xuân:

Có sao không con? Con bịnh chưa hết mà mở cửa, đi ra ngoài làm chi vậy? Xuân mệt nhọc nói:

- Thưa mẹ, hoa lan của con trồng bị nắng héo hết rồi, mẹ xem thử đi mẹ.

Mẹ Xuân nhìn những chậu hoa lan, cành lá ướt sương loang loáng ánh trăng khuya, dịu dàng nói:

- Con bị mê sảng rồi. Hồi chiều mẹ đã tưới nước cho những chậu hoa và cây ngọc lan. Hoa vẫn tươi thắm, con nhìn đi.

Xuân vui mừng khi thấy những chậu hoa lan không héo rũ như trong giấc mộng. Hương hoa ngọc lan thoang thoảng trong gió lạnh canh khuya. Những ngày Chúa Nhật, cùng mẹ và cô đến nhà thờ Fatima trong bầu không khí đón chờ lễ Giáng Sinh, Xuân lại càng nhớ Lan trong những mùa Giáng Sinh năm cũ. Xuân luôn ấp ủ những kỷ niệm ngọc ngà hơn người ta cất giữ bạc vàng, châu báu. Nhớ lại chuyện Tiên Đồng, Ngọc Nữ mà Lan đã kể cho Xuân nghe, chàng ngậm ngùi, đau xót. Phải chăng câu chuyện tưởng tượng của Lan lúc còn thơ ngây nay đã trở thành sự thật. Xuân và Lan có khác chi Tiên Đồng và Ngọc Nữ bị trời đày xuống trần gian, sống cách biệt nhớ thương nhau ở hai phương trời xa thẳm. Ngưu Lang, Chức Nữ ngày xưa cũng bị trời đày, ở hai bờ ngân hà nhưng mỗi năm còn được ân huệ gặp nhau vào đêm thất tịch, nhờ đàn ô thước bắt cầu, còn Xuân và Lan đã hơn mười lăm năm nhung nhớ mỏi mòn mà chưa một lần gặp mặt nhau. Xuân chỉ còn biết cầu nguyện ngày đêm cho mình được gặp lại Lan.

Trong một buổi chiều đi làm về, vừa đến sân nhà, Xuân đứng ngắm những chậu hoa lan. Chợt thấy trong nhà có một thiếu nữ với mái tóc thề óng ả, mặc áo dài thiên thanh đang ngồi nói chuyện với cô và mẹ Xuân. Xuân nhìn vóc dáng cô gái kia sao giống Lan quá. Tim Xuân bắt đầu đập nhanh, đập mạnh. Xuân vội bước vô nhà thì người con gái kia đứng dậy hớn hở gọi:

- Anh Xuân!

Xuân nhận ra Lan trong nỗi mừng, xúc cảm. Hai người bước tới, ôm chầm lấy nhau mà khóc. Mẹ và cô của Xuân cũng rươm rướm nước mắt. Mẹ Xuân nói:

- Hai con ở đây tâm sự với nhau, mẹ và cô đi nấu cơm chiều.

Còn lại hai người, Xuân và Lan trao nhau nụ hôn ướt lệ đọng của hơn mười lăm năm xa cách, nhớ thương. Xuân lấy khăn tay kỷ niệm có thêu hình hoa lan, lau lệ cho người yêu. Lan hỏi:

- Anh vẫn còn giữ chiếc khăn của em?

Xuân vuốt tóc Lan:
- Anh luôn giữ nó bên mình như một vật hộ thân. Chiếc khăn này em đã trói tay anh đó, em có nhớ không em?

- Không bao giờ em quên được. Có lẽ nhờ vậy mà em không bị mất anh.

- Rõ ràng em đã trói được anh. Còn em, anh tưởng mất em rồi, nào ngờ hôm nay mình còn gặp lại.

Như nhớ ra điều gì, Xuân nhìn Lan dò xét:
- Anh vội mừng mà quên hỏi, em đã lập gia đình hay chưa?

Hiểu được nỗi lòng của Xuân, Lan cười nói:
- Gặp lại em trong thời gian khá dài, chắc anh cũng băn khoăn nghĩ ngợi. Em chỉ yêu anh mà thôi như ngày xưa chúng mình đã thề nguyện với nhau. Em đã gởi thơ cho anh ở địa chỉ cũ ở Vũng Tàu, trông chờ mãi mà không thấy anh hồi âm. Em lại gởi thơ về giáo xứ để hỏi thăm tin tức của anh và bác gái nhưng cũng không được thư trả lời của Cha Xứ. Em buồn, nhớ anh mà khóc chớ không biết làm sao.

Xuân cảm động cầm tay Lan:
- Sao em biết anh ở đây mà tìm đến.

Em về nhà cũ hỏi thăm, người ta nói anh và bác đã về Sài Gòn ở lâu lắm rồi. Em đến giáo xứ gặp Cha thì may mắn thay, Cha cho biết anh vừa ghé thăm và hỏi tin tức gia đình em. Cha cho em biết địa chỉ mà anh đã viết trên cái thiệp gởi cho Cha.

Lan cho biết gia đình Lan đang sống ở tiểu bang Missouri, thuộc miền Trung Tây nước Mỹ. Lan đã đỗ đạt, thành danh, lo làm việc nuôi hai đứa em trai ăn học. Nay chúng đã tốt nghiệp Đại học. Lan xin phép cha về lại Việt Nam thăm người yêu. Nếu Xuân còn giữ tình yêu như lời hẹn ước thì Lan sẽ đi đến hôn nhân với Xuân. Lan cũng hỏi Xuân, nữa đùa nữa thật:

Còn anh có ý định cưới cô nào chưa? Xuân tươi cười, trả lời:
- Có chứ, anh định cưới cô. . . Lan!

- Thật không?

- Thật một trăm phần trăm!

- Em rất vui mừng có được người yêu chung thủy như anh.

- Anh cũng vậy. Thật không ngờ Ngọc Nữ vẫn còn yêu Tiên Đồng.

Xuân sắp đặt chương trình mừng lễ Giáng Sinh. Xuân sẽ dâng lễ tạ ơn Đức Mẹ đã nhận lời cầu nguyện của Xuân. Gia đình sẽ mở tiệc mừng lễ Giáng Sinh sau khi đi lễ về, và Xuân sẽ mời những người bạn thân đến chung vui. Lan muốn cùng Xuân trở về thăm xứ biển năm xưa sau lễ Giáng Sinh để sống lại những kỷ niệm êm đẹp bên cạnh người hẹn ước trăm năm.

Tình yêu chân thật, thủy chung của Xuân, Lan đã vượt không gian và thời gian. Cách biệt nhau hơn nữa vòng trái đất, hơn mười lăm năm qua mà đôi lòng vẫn không quên lời ước hẹn. Lời ước hẹn đẹp như mùa xuân bất tận cho hoa lan nở mãi không tàn. 

Kha Lăng Đa
(Hoa Huệ Trắng)

Blog Archive