Showing posts with label Sáu Steve Brown. Show all posts
Showing posts with label Sáu Steve Brown. Show all posts

Saturday, July 21, 2018

Cuộc Đời Của Tuyết





Tuyet 08
Ông Brown, các con, và các cháu tại đám tang

Năm 2018 đánh dấu 45 năm kết hôn của Tuyết và tôi,

Tuyết còn được gọi là Sáu vì là con thứ sáu trong gia đình, tôi cũng thích gọi nàng bằng cái tên thân mật đó.

Sáu sanh đẻ tại một làng nhỏ vùng quê, khoảng mấy chục cây số về phía bắc Quy Nhơn. Ba Sáu là người Việt Nam nhưng đã phục vụ trên 20 năm trong quân đội Pháp ở Âu Châu và Phi Châu. Mẹ Sáu là con gái Bình Định, nhưng chẳng may qua đời lúc Sáu còn nhỏ.

Lúc nhỏ, làng Sáu ở là đất Việt Minh chiếm đóng. Thỉnh thoảng nàng vẫn nhắc đến những đợt tấn công của máy bay Pháp, hay là lúc nàng gần bước chân vô cái bẫy của bọn du kích. Khoảng năm 1952, Việt Minh bắt ba Sáu đem đến khu rừng núi hướng tây tỉnh Bình Định. Sáu và người anh cũng đi với ba và ở tại chỗ đó hai năm. Sáu kể khu đó có nhiều cây xoài nhưng bộ đội nói đó là trái cây của dân nên họ không được phép hái mà ăn. Sáu còn kể nhiều điều khác tương tự như thế. Khi chiến tranh kết thúc năm 1954, họ được trở về làng.

Vào năm 1963, một ngày kia có người quen cho ba Sáu biết rằng Việt Cộng sẽ đến đêm đó để giết một số người, trong danh sách có ông ấy. Ông ấy trốn ở trong một cái giếng suốt đêm rồi hôm sau trốn luôn đi xuống miền Nam.

Trong đêm đó, vài người khác trong bà con bị Việt Cộng bắt.  Ngày hôm sau, họ bị giết trong ruộng lúa, trước mặt dân làng. Trước hết là hai vợ chồng bị chôn chỉ còn cái đầu họ ở trên mặt đất rồi Việt Cộng cho con trâu kéo cái cày đi ngang qua. Họ bị giết từng người một cách cực kỳ độc ác.

Sáu và hai anh chị em trốn luôn. Ba chị em tìm việc làm tại một đồn điền cao su ở Suối Tre gần Xuân Lộc. Sáu làm việc trong đồn điền ít lâu rồi được gia đình người Pháp mời giúp việc trong nhà họ. Vì lý do đó, Sáu dần dần biết nói tiếng Pháp.

Mùa Thu năm 1972, theo duyên trời Sáu và tôi gặp nhau. Tháng Tư năm 1973 chúng tôi lập gia đình ở Biên Hòa. Câu truyện này tôi kể trong bài viết Định Mệnh.  Trong mùa xuân năm 1973, Sáu đến nước Mỹ. Những chuyện về lúc nàng mới đến đất nước này tôi đã kể trong bài viết Dâu Xứ Mỹ, Rể Việt Nam.

Vài năm đầu tiên chúng tôi ở tại quê tôi, tiểu bang Vermont. Tháng Ba năm 1975, do một người kể cho tôi biết về Đức Chúa Giê-xu, tôi tin nhận Ngài. Khoảng sáu tháng sau bà vợ Mục Sư đến nhà chúng tôi mỗi tuần một lần để kể cho Sáu hiểu ý nghĩa tin mừng của Chúa Giê-xu. Bà đó là người Anh và có giọng nói khác với người Mỹ nên có khó khăn cho Sáu hiểu. Sau khoảng một tháng Sáu cũng tin nhận Đức Chúa Giê-xu. Ít lâu sau một người khác đưa cho Sáu cuốn Kinh Thánh tiếng Việt. Từ đó, mỗi ngày, sau khi tôi đi học tại đại học về, Sáu kể cho tôi nghe những gì nàng mới đọc trong Kinh Thánh hôm đó. Từ lúc đó Chúa từ từ biên đổi cuộc sống của cả hai chúng tôi.

Mùa xuân năm 1975 chúng tôi thấy tình hình bên Việt Nam càng lúc càng khó khăn. Sáu viết thư cho ba nàng khuyên bảo gia đình ra khỏi Việt Nam nhưng ông ấy không tin. Chúng tôi quyết định rằng tôi đi Việt Nam, như tôi đã làm hai năm về trước, để đem một số người trong gia đình Sáu sang Mỹ, nhưng lúc đó chúng tôi không có tiền mua vé máy bay. Chúng tôi cũng không thể mượn tiền của ai cả. Dĩ nhiên. khi mẹ tôi nghe về kế hoạch đó thì bà sợ lắm và không đồng ý. Thế là chúng tôi bị kẹt trong tình huống không làm gì được.

Từng ngày, chúng tôi theo dõi tin tức Việt Nam. Mỗi ngày tình hình bên Việt Nam càng xấu hơn. Lúc đó đại đa số nhà báo Mỹ theo lập trường cánh tả nên hay phê bình gay gắt về chính phủ và quân đội Việt Nam Công Hòa trong khi họ khen Việt Cộng và lực lượng Cộng Sản Miền Bắc.

Sau ngày miền Nam xụp đổ 30 tháng Tư, 1975, Sáu mất liên lạc với gia đình bên Việt Nam cho đến năm 1978. Vì không có tin gia đình nên Sáu hay có vẻ tuyệt vọng. Đó là thời gian rất buồn và khó khăn cho Sáu. Sáu thường nhắc tới những lời ba Sáu nói trước kia.

Rồi một ngày kia Sáu nhận được thư của gia đình nói sau ngày mất miền Nam, cả nhà phải bỏ nhà ở Biên Hòa  đi về khu kinh tế mới ở Trảng Dài. Vì thiếu thốn mọi bề, sức khỏe ba Sáu suy xụp dần. Ông qua đời năm 1977.  Sau mấy năm chờ đợi tin tức gia đình, cuối cùng khi có tin thì đó là sự mất mát to lớn làm Sáu buồn nhiều hơn.

Sau đó, vì việc học hoặc việc làm, chúng tôi dọn nhà khá nhiều lần. Chúng tôi đi qua các tiểu bang Michigan, Pennsylvania, Missouri, California, Georgia, Illinois, và Ohio. Dọn nhà là việc rất khó khăn cho gia đình chúng tôi với bảy người con, nhưng Sáu chấp nhận điều đó với thái độ bình an.

Đầu năm 1990 chúng tôi mua nhà ở vùng quê gần một làng nhỏ ở tại tiểu bang Ohio và ở đó đến giờ này. Chung quanh nhà, Sáu trồng đủ loài hoa nở từ mùa Xuân tới mùa Hè. Còn trong vườn rau thì có đủ loại rau Việt Nam. Từ năm đầu tiên chúng tôi ở nhà này thì chúng tôi nuôi bầy gà và thỉnh thoảng cũng nuôi con heo.

Trong suốt thời gian dài khi các con vẫn còn ở nhà, sau khi ăn cơm tối xong, chúng tôi hay chơi bóng chuyền hay là các trò chơi khác ở ngoài sân.

Năm 1993, Sáu có cơ hội về Việt Nam đoàn tụ với gia đình sau 20 năm ở Mỹ. Nàng mừng lắm. Đầu năm 1994 cả hai chúng tôi trở về Việt Nam chung. Sau đó chúng tôi đi Việt Nam rất nhiều lần. Đến năm 2014, tôi đi Việt Nam tất cả 20 lần, Sáu thì đi còn nhiều hơn. Sáu cũng đi các nước Thái Lan, Campuchia, Nam Dương, Trung Hoa, Phi-luât-tân và vài nước ở Âu Châu nữa.

Suốt một thời gian dài, Sáu thích tình nguyện làm việc tại nơi in tài liệu về Kinh Thánh và những sách nhỏ về tin mừng của Đức Chúa Giê-xu. Sáu hay thích kể cho người khác nghe về Đức Chúa Giê-xu hay là khuyến khích các tin đồ của Ngài khác để tiếp tục bước đi theo Chúa.

Từ lúc chúng tôi lập gia đình, Sáu đã biết làm những món ăn Việt Nam ngon. Ở Mỹ, Sáu rất khéo tay nên cũng học cách làm những món ăn chính của người Mỹ. Tại nhà, chúng tôi hay ăn đồ ăn Việt Nam nhiều hơn là đồ ăn Mỹ. Trong gia đình ai cũng thích ăn phở, hủ tiếu, bánh xèo, thịt kho, cơm bình dân và nhiều món ăn Việt Nam khác nữa. Bây giờ đa số các con ở xa nhưng họ vẫn thèm những món ăn Việt Nam.

Mới đây giữa tháng Tư, vì tôi không khỏe, các con Rebekah, Paul, và Tim từ LA và Las Vegas về thăm. Trong mấy ngày chúng nó ở đây, Sáu nấu những món ăn ngon liên tục nên ai cũng lên một vài ki-lô. Đó là sự vui mừng của Sáu.

Từ đầu năm 2015, tôi bắt đầu có một số vấn đề sức khỏe. Tôi bị áp huyết cao, rồi tim bị rung tâm nhĩ, rồi mạch máu trong tim bị nghẹt, và tôi cũng bị ngưng thở khi ngủ. Nói chung là tôi bị bịnh và mệt hoài. Nhưng Sáu thì vẫn còn khỏe mạnh. Vì các vấn đề sức khỏe của tôi,  trong ba năm qua chúng tôi không đi Việt Nam hay là các nước ngoài gì nữa. Mới đây, sau cuộc giải phẫu tim thành công và các vấn đề khác được điều trị, tôi lấy lại được sức khỏe.

Sáng sớm ngày 28 tây tháng Tư năm nay, chúng tôi ra bắt hai con gà làm thịt. Trong khi Sáu tiếp tục làm gà, tôi qua bên kia nhà chẻ củi một hồi.

Khi mệt, tôi vô nhà. Trên đường vô nhà, tôi nhìn qua cửa số thấy Sáu vẫn ngồi làm việc tại chỗ cũ. Rồi tôi ngồi nghỉ và ngủ một lúc khoảng 30 phút đến một tiếng đồng hồ. Khi thức dậy, tôi nhìn ra cửa sổ thấy Sáu vẫn ngồi tại chỗ đó, nhưng người cúi xuống một cách không bình thường. Tôi chạy ra kêu tên Sáu nhưng không có tiếng trả lời. Tôi kéo Sáu lên, thấy hai mắt  nàng vẫn mở, nhưng có vẻ không được bình thường nữa. Tôi để Sáu nằm xuống rồi gọi 911. Tôi nói vợ tôi không còn thở nữa. Họ chỉ tôi cách làm CPR, tôi làm điều đó cho đến khi xe cấp cứu tới. Họ tiếp tục làm CPR bằng tay, nhưng trên máy đo của họ tôi thấy tim Sáu không đập gì cả. Sáu đó xe cấp cứu khác tới mang theo cái máy làm CPR. Sau 15-20 phút, họ nói tim Sáu đập lại và họ sẽ chở Sáu đi bịnh viện gần nhất ngay. Sau khi xe cấp cứu chở Sáu đi tôi gọi con gái Rebekah ở LA kể chỉ tiết tình trạng má như thế nào. Rebekah bay tới trong đêm hôm đó. Rồi tôi cũng liên lạc với các con khác nữa.

Sau đó các con khác từ từ đến nữạ. Gia đình con trai Rich từ Nam Dương về và vợ chồng con Vân từ Thái Lan. Cũng có con trai Paul, Tim và Robert từ các nơi xa về.  Còn con Hiếu thì ở gần nhà.

Tại nhà thương bác sĩ nói tình trạng Sáu rất nguy kịch. Họ nói Sáu bị chứng phình mạch óc, tức là một mạch máu trong đầu óc sưng lên rồi nổ luôn.

Họ nói trong xe cấp cứu tim Sáu ngưng đập ba lần. Sau khi tới nhà thương thì thêm hai lần nữa. Họ biết tim Sáu không đập được lâu lắm nên không có hy vọng nhiều. Mấy tiếng đồng hồ sau bác sĩ nói Sáu phải chuyển đi nhà thương khác chuyên môn về vấn đề như Sáu.

Vài tiếng đồng hồ sau khi tới bịnh viện mới, một ông bác sĩ nói là chắc chắn Sáu sẽ không bình phục lại, Sáu sẽ chết tại nhà thương đó. Trong năm ngày, có nhiều người đến thăm Sáu. Có anh chị em và các cháu của Sáu từ tiểu bang Florida và những bà con từ nơi khác đến. Cũng có bạn bè gần xa đến nữa.

Sáu ở trong bịnh viện năm ngày nhưng không tỉnh lại. Cuối cùng Sáu qua đời ngày 2 tháng 5 năm 2018 với nhiều người trong gia đình ở chung quanh.

Qua lời Kinh Thánh, Sáu đã tin nhận Đức Chúa Giê-xu nên nàng sẽ có sự sống đời đời, tức là Sáu sẽ ở cùng với Chúa mãi mãi ở Thiên Đàng. Niềm tin đó làm tôi và các con được an ủi.

Sáu là người vợ, người mẹ đầy tình thương.  Tôi nhớ Sáu nhiều. Các con và các cháu cũng vậy.
 
Nàng từ nơi thật xa xôi
Giống như định mệnh, đến rồi qua đi
Bấy lâu nàng đã làm gì?
Phước tràn gia quyến những khi có nàng.
 
Sáu Steve Brown

Saturday, April 1, 2017

Trận Đánh Saratoga Và Lịch Sử Mỹ




blank
Công viên lịch sử quốc gia.

Trong thập niên 1960s gia đình tôi ở một nơi thôn quê hướng Tây tiểu bang Vermont, nơi có lịch sử khoảng 200 năm. Khoảng 100 thước từ phía Nam nhà tôi có một đài kỷ niệm làm bằng đá granite, nằm kế bên đường đất. Chữ chạm trên đài nói rằng: trong mùa hè năm 1777, một đại binh Mỹ rút lui trốn thoát lực lượng nước Anh đã đi ngang qua chỗ này. Nó làm tôi suy nghĩ là có biến cố nào đưa đến tình hình như thế?

Đến năm 1777 thì chiến tranh Độc Lập Mỹ đã kéo dài hơn hai năm rồi. Dầu cho đã có khá nhiều trận đánh, vẫn không bên nào giành được thắng lợi. Lực lượng Anh biết nếu họ tấn công chia đôi 13 thuộc đia Mỹ, họ có thể giành toàn thắng trong cuộc chiến.

Theo kế hoạch, họ tấn công từ thành phố Montreal (nước Canada) xuống thung lũng Champlain và kết hợp với lực lượng Anh khác tại sông Hudson (hướng Bắc thành phố New York). Cùng lúc đó họ cũng có một đại binh khác tấn công qua thung lũng Mohawk nữa.

Từ Montreal xuống Mỹ phải đi qua hồ Champlain dài hơn 100 dặm, hồ này nằm giữa hai tiểu bang Vermont và New York. Tháng 5 năm 1775 hai ông Ethan Allen và Benedict Arnold (hai người này là tổ tiên của tác giả) đem nhóm du kích gọi là Các Chàng Trai Núi Xanh (Green Mountain Boys) từ Vermont qua hồ Champlain, bất ngờ chiếm lấy pháo đài Ticonderoga. Sau đó, lực lượng Mỹ xây một pháo đài khác bên kia hồ, trên núi Độc Lập. Như thế hai pháo đài này có thể bảo vệ nước Mỹ, chặn đứng những cuộc xâm lăng đi qua hồ Champlain từ phía Bắc.

Mùa xuân năm 1777 một đại binh Anh bắt đầu xuống thung lũng Champlain để thực hiện mục đích chiến lược của họ. Đại binh đó có 7,863 người: 3,724 lính Anh, 3,016 lính Đức, 473 lính pháo binh, 250 người Canada và Mỹ trung tín với nước Anh, và 400 (người) dân tộc da đỏ. (*)

Tại hai pháo đài Ticonde-roga và Độc Lập tổng số lính Mỹ là 2,500 người. Ở gần hai pháo đài đó có một đồi cao 244 thước, rất khó lên được. Một Trung úy Mỹ góp ý là nên bảo vệ đồi đó, nhưng ông tướng chỉ huy lực lượng Mỹ nghĩ rằng không ai kéo súng đại bác lên đó được.

Khi lực lượng Anh xuống hồ Champlain đến gần hai pháo đài Mỹ, ông tướng pháo binh Anh tên Phillips nói rằng “Nơi mà con dê đi được, con người cũng đi được. Nơi con người đi được họ có thể kéo súng đại bác đi nữa.” Ngày hôm sau lực lượng Anh kéo hai đại bác đến đỉnh đồi. Hai pháo đài Mỹ chống lại không được. Khi biết vậy ông tướng chỉ huy Mỹ St. Clair quyết định lực lượng Mỹ phải bỏ hai pháo đài mà rút lui, đêm đó chính là ngày 4 tháng 7 năm 1777.

blank
Tháp Kỷ Niệm tại Saratoga.

Sáng hôm sau lực lượng Anh khám phá hai pháo đài bỏ trống, họ đuổi theo ngay. Lúc đó đại binh Mỹ đã đi theo đường mòn đến tới khu đất của tổ phụ gia đình tôi. Lực lượng Anh đuổi theo gồm có một trung đòan Anh và một trung đòan Đức. Hôm đó nóng nực lắm nên đến 4 giờ chiều họ quyết định ngừng lại nghỉ, dự tính sẽ tấn công vào sáng sớm ngày hôm sau.

Tướng St. Clair để đa số đại binh tiếp tục rút lui, chỉ giữ lại 1,000 lính ở tại làng Hubbardton để chống cự lực lượng Anh đi theo. Chuẩn bị như thế mà họ vẫn bị tấn công bất ngờ vào bình minh sáng ngày 7 tháng 7. Rốt cuộc lực lượng Mỹ bị thất bại trong trận đánh này nhưng họ đã giúp những người đã trốn thoát có cơ hội đánh nhau với lực lượng Anh tại những nơi khác.

Trong khi trận đánh ở Hubbardton đang diễn ra, tướng Burgoyne của Anh đem lực lượng còn lại tiếp tục xuống hướng Nam. Những người lính du kích Mỹ dùng đủ cách để ngăn cản đại binh Anh nên họ tiến rất chậm. Theo kế hoạch của ông Burgoyne, một đại binh Anh khác tại pháo đài Stanwix trong thung lũng Mohaw (New York) sẽ đến ủng hộ, nhưng lực lượng này đã bị thua trong trận đánh ở đó. Vì vậy ông tướng Burgoyne quyết định tiếp tục xuống hướng Nam vì ông ta nghĩ một đại binh Anh khác từ thành phố New York vẫn sẽ lên ủng hộ họ.

Khi tới một nơi hướng đông thị xã Bennington (tiểu bang Vermont) ông tướng Burgoyne quyết định gởi 800 người lính đi lấy ngựa và lương thực ở Bennington. Khi họ gần tới nơi, họ bị phục kích, rất nhiều người lính bị chết, bị thương, hay bị bắt. Như thế đại binh Anh không có lương thực mà lại bị yếu đi một ít nữa.

Sau thảm bại đó ông tướng Burgoyne đem đại binh Anh tiếp tục xuống hướng Nam. Càng đi xa thì càng khó khăn về lương thực. Ông ấy cũng được tin là đại binh Anh ở thành phố New York sẽ không đến giúp đỡ. Như thế họ bị kẹt tại một nơi xa xôi, không có hy vọng được ủng hộ gì cả. Nếu họ quay lại trở lại Montreal thì lại nghĩa là không thực hiện được mục đích

Khi họ tới gần thị xã Saratoga, gặp đại binh Mỹ quá mạnh, họ không tìm cách nào đi qua được. Họ tấn công vài lần nhưng thất bại. Rồi họ rút lui ra xa nhưng không được đi nữa nên từ từ bị bao vây. Không đi đâu được mà càng lâu hoàn cảnh càng khó khăn, lương thực không có nên dần dần họ bị yếu đi. Sau mấy ngày bị bao vây trong khi lực lượng Mỹ pháo kích vô liên tục, ông tướng Burgoyne bắt đầu thương lượng các điều kiện đầu hàng. Đến ngày 17 tháng 10 năm 1777, họ đầu hàng. Đây là cuộc đại thắng của lực lượng Mỹ.

blank
Con tem Hoa Kỳ 1927, kỷ niệm 150 năm trận chiến Saratoga.( Hình ảnh trích từ Wikipedia)

Trong chiến dịch năm 1777 có rất nhiều chi tiết mà tôi không kể đến. Không phải vì những chi tiết đó không hay nhưng vì tôi có mục đích khác khi nhắc đến câu chuyện lịch sử này. Đó là kết qủa chính của thắng lợi của lực lượng Mỹ năm 1777.

Dù nước Mỹ đã tự xưng là độc lập từ ngày 4 tháng 7 năm 1776, cho tới năm 1777, chưa có một nước quan trọng nào xác nhận sự độc lập của Mỹ. Trước trận đánh Saratoga nước Pháp chỉ giúp nước Mỹ một phần nhỏ. Nhưng chỉ ít lâu sau chiến thắng tại Saratoga, nước Pháp bắt đầu thương lượng với nước Mỹ. Kết qủa là Đồng Minh Pháp Mỹ ra đời. Nước Pháp gởi lục quân, hải quân, vũ khí, và lương thực đến vì họ thấy có hy vọng là Mỹ sẽ chiến thắng Anh.

Tại trận đánh quan trọng Yorktown năm 1781 một đại binh Anh bị thất bại khi bị lực lượng đồng minh Pháp Mỹ bao vây và tấn công. Nếu không có sự ủng hộ của nước Pháp trong Chiến Tranh Cách Mạng Mỹ thì nước Mỹ không thể thắng được. Vì chính phủ nước Anh thấy là không thắng được cuối cùng họ ký tên Hoà Ước Ba-Lê ngày 3 tháng 9 năm 1783, và chiến tranh Mỹ - Anh hoàn toàn kết thúc.

Trận đánh Saratoga năm 1777 quả thật rất quan trọng trong lịch sử nước Mỹ.

Tôi ở trên khu đất của tổ phụ, nơi đại binh Mỹ đã đi qua, cho đến gần 15 tuổi. Thủơ nhỏ, thỉnh thoảng tôi lại đi tìm kiếm, mong tìm được vật gì mà các lính Mỹ, Anh, hay Đức đã làm rơi lại trên đường đi. Nhưng tôi không bao giờ tìm được một cái gì hết, có lẽ vì khoảng cách thời gian quá xa. Nhưng hình ảnh của đoàn binh Mỹ vẫn luôn luôn gắn liền với mảnh đất đó và luôn ở trong lòng tôi.

Sáu Steve Brown

(*) Furneaux, Robert (1971), The Battle of Saratoga, Stein and Day/ Publishers/ New York

Blog Archive