Showing posts with label Trần Trung Chính. Show all posts
Showing posts with label Trần Trung Chính. Show all posts

Friday, October 23, 2020

Điểu Táng và Đểu Táng

Trần Trung Chính

October 21, 2020 

Tôi thi đậu vào lớp đệ thất niên khóa 1961 -1962, vào thời điểm ấy, các giáo sư phụ trách bộ môn Sử Địa thường sử dụng sách của Ông Bà Giáo Sư Tăng Xuân An. Ngoài các tài liệu giảng dạy có tính cách giáo khoa, Ông Bà Giáo Sư Tăng Xuân An luôn luôn soạn thêm các Bài Đọc Thêm để giúp các học sinh mở rộng kiến thức phổ thông.

Khi học về xứ Tây Tạng, danh xưng Nóc Nhà Của Thế Giới được Ông Bà Giáo Sư Tăng Xuân An cho biết vì 2 lý do:

1.- Cao Nguyên Pamir của xứ Tây Tạng cao trên 5,000 mét cho nên nhiệt độ luôn luôn lạnh và có tuyết quanh năm

2.- Cao Nguyên Pamir là nguồn gốc của đa số các con sông lớn của Á Châu, vì có lớp tuyết tích lũy lâu năm nên khi mùa hạ, lớp tuyết trên cùng tan chảy và cung cấp nguồn nước tự nhiên cho các con sông. Thí dụ sông Cửu Long (Mekong River ) dài trên 5,000km là một con sông quan trọng ảnh hưởng đến sinh hoạt đời sống của dân chúng các nước Trung Hoa, Lào, Thái Lan Cambodia và Việt Nam.

Trong Bài Đọc Thêm của xứ Tây Tạng, tôi đặc biệt chú ý đến bài viết có tựa đề ĐIỂU TÁNG. Gần 60 năm đã trôi qua, tôi chỉ nhớ những nét chính (dĩ nhiên chi tiết và thứ tự bị đảo lộn nếu so với bài viết chính gốc). Ông Bà Giáo Sư Tăng Xuân An mô tả một đám táng của người Tây Tạng:

Điểu táng tại xứ Tây Tạng

Người chết được khiêng trên một chiếc cáng không có hòm quách chi cả, thân nhân và bạn bè đi theo sau thành một đoàn người hướng tới “nghĩa địa”. Đặc biệt là “nghĩa địa” không có đào hố chôn và không có bia mộ. Từ xa người ta thấy có rất nhiều con chim kên kên đứng chờ sẵn, cũng như có một số con từ trên núi cao bay xuống “nghĩa địa”.

Tới trước con chim kên kên đầu đàn, những người khiêng cáng dừng lại và đặt cáng xuống đất, người trưởng tộc của dòng họ rút dao găm rạch ngực của xác chết, moi ra quả tim của người chết đưa cho con chim kên kên đầu đàn.

Đợi cho con chim kên kên đầu đàn ăn trái tim xong, tất cả họ hàng bạn bè thân tộc với người chết mới quay về làng. Có lẽ quen với thói tục như vậy nên đám chim kên kên không có chen lấn đánh nhau rỉa thịt xác chết như các phim quay các thú rừng hoang dã bên Phi Châu khi đám kên kên ăn thịt những con nai hay ngựa vằn mà chúng ta thấy trong các films của National Geographic.

Ông Bà Giáo Sư Tăng Xuân An giải thích người dân Tây Tạng chọn giải pháp ĐIỂU TÁNG (để cho chim kên kên ăn thân xác của người chết) vì:

1.- Nếu đem xác chết bỏ vào hang động thì trời quá lạnh nên thân xác vẫn còn nguyên không bị hủy diệt.

2.- Đất đai cần cho người sống nên không có chuyện lấy đất làm nghĩa địa như các dân tộc khác (Người Tây Tạng cần đất đai để cỏ mọc nhằm nuôi trâu YAK lấy sữa và làm cream cũng như đất đai để trồng cây lương thực).

3.- Người sống rất cần than củi để sưởi ấm và nấu ăn nên không bao giờ sử dụng than củi để hỏa thiêu xác chết (hỏa thiêu là một sự phí phạm nghiêm trọng nếu không muốn nói là bị cấm).
image
Điểu táng Tây Tạng

Theo các nhà động vật vật học, loài kên kên có 2 loại chính:

• Loại thứ nhất danh xưng tiếng Anh là VULTURE = a large bird related to eagles and hawks, that eats the remain of dead animal . Loại thứ nhất này có kích thước rộng 80cm, dài cỡ 75 cm.

• Loại thứ hai danh xưng tiếng Anh là CONDOR = a large vulture with a bar head and neck, found in the Andes Mountains (ở Nam Mỹ châu) and in California.

Cuối năm 2019, Tổ Chức Bảo Vệ Các Động Vật Hoang Dã báo động Loài Kên Kên có nguy cơ bị diệt chủng vì người ta đã tìm ra có từ hàng trăm đến hàng nghìn con chim Kên Kên bị sát hại hàng loạt. (bị sát hại bằng thuốc độc)

Lý do: ở châu Phi, bọn săn bắn lậu tê giác và săn voi buôc phải đầu độc các con chim Kên Kên vì chúng chỉ lấy sừng tê giác và ngà voi, bọn săn lậu này sẽ bị bắt nếu cảnh sát thấy hàng đàn kên kên bay rợp trời ở một cánh rừng nào đó.

Ôi vận mệnh các con chim kên kên đi đôi với vận mệnh của loài tê giác và vận mệnh của loài voi. Oan nghiệt thay!

Tuy nhiên giống như câu chuyện TÁI ÔNG THẤT MÃ, loài kên kên có danh xưng tiếng Anh là CONDOR đã tái sinh tại đát nước Hoa Kỳ sau tháng 3/2020 vì qua đám tang của George Floyd chúng ta thấy tất cả các đảng viên Đảng Dân Chủ biến thành các con kên kên CONDOR đúng như từ điển WEBSTER đã định nghĩa = eats the remains of dead people. Có điều hơi khác với những con chim Kên Kên chính gốc, tôi gọi những đảng viên Đảng Dân Chủ như Pelosi, như Joe Biden, như Adam Shiff là bọn ĐỂU vì:

1/ Những con chim Kên Kên chính thống không biết QUỲ trong khi bọn ĐỂU phải quỳ tại mọi nơi và mọi lúc để kiếm phiếu.

2/ Những con chim Kên Kên chính thống không quàng khăn mừng đám cưới đi dự đám tang.

3/ Những con chim Kên Kên chính thống ăn xác chết của mọi sinh vật không phân biệt giai cấp hay chủng loại địa vị lúc sinh thời, trong khi bọn ĐÊU trước khi “ăn xác chết” đã làm lễ phong thánh cho một tên tôi phạm có tiền án xấu.

4/ Những con chim Kên Kên chính thống ăn xác chết không tẩm liệm, trong khi bọn ĐỂU trước khi “ăn xác chết’ phải đi mua cái hòm giá 12,000 dollars và kéo cái hòm với xe ngựa tứ mã (chứ không thèm đi trên xe limousine đen như dân thường). Tôi chọn một phần tiêu đề của bài viết này là ĐỂU TÁNG với ngụ ý đám tang George Floyd do bọn ĐỂU cầm đầu Đảng Dân Chủ cử hành.

Đó là nói bọn ĐỂU về mặt hình thức, còn về mặt nội dung thì sao?

Trái khoáy số một: giương cao khẩu hiệu BLACK LIVES MATTER (Sinh mạng người da đen mới quan trọng), thế còn sinh mạng của các chủng tộc khác thì ra sao?

Trái khoáy số 2: tự tâng bốc là biểu tình ôn hòa là quyền được hiến pháp bảo vệ, nhưng những nhà lập quốc (founders) không ghi trong hiến pháp là người biểu tình được quyền đập phá cửa tiệm xông vào bên trong lấy hàng hóa rồi đốt tiệm…

Trái khoáy số 3: tự cho mình có quyền phá bỏ các tượng đài mang tính chất lịch sử, ngăn trở nhân viên công lực thi hành nhiệm vụ, đòi hỏi giải thể lực lượng Cảnh Sát.

Trái khoáy số 4: phá hoại tài sản của Liên Bang, thí dụ đốt phá ở Tòa Án tại tiểu bang Washington và tiểu bang Oregon, chính phủ Liên Bang vãn hồi trật tự thì bọn ĐỂU kiện chính phủ Liên Bang về chuyện chính phủ Liên Bang vi hiến.

Trái khoáy sô 5: đòi hỏi quyền phá thai trên chiêu bài quyền tự do chọn lựa của người phụ nữ, thế còn quyền được sống của các thai nhi để ở đâu? Anh (chị) có quyền tự do nhưng không được xâm phạm vào quyền tự do của người khác. Điển hình là trên Freeway anh được tự do chạy trên lane của anh thôi, anh xẹt qua xẹt lại trên các lanes khác thì sẽ bỏ mạng ngay.

Trái khoáy số 6: năm 1920, phong trào tự do tình dục được lan tràn, trường hợp phá thai gia tăng nhiều vì khoa học chưa tiến bộ trong chương trình kiểm soát sinh đẻ cho nên hệ quả của phong trào tự do tình dục là trẻ con được sinh ra không có ai nuôi nấng giáo dục và dân chúng bị bệnh giang mai, bệnh lậu hoành hành… Xã hội Liên Sô tổn thất nghiêm trọng khiến Lenin buộc phải chấm dứt phong trào tự do tình dục vào năm 1923. Bây giờ, 100 năm sau người ta có phương tiện và sự hiểu biết để tránh được mang thai, vậy tại sao cứ phải đòi hỏi phụ nữ được quyền phá thai bất cứ lúc nào họ muốn?

Trái khoáy số 7: bọn ĐỂU mưu toan sửa đổi Hiến Pháp để phá bỏ hệ thống cử tri đoàn mà kết quả phải dựa trên phổ thông đầu phiếu.

Trái khoáy số 8: bọn ĐỂU đòi hỏi lập thêm tiểu bang thứ 51 (là vùng WASHINGTON D.C.) để chúng chiếm đa số trong Thương Nghị Viện. (51 tiểu bang thì sẽ phải có 102 nghị sĩ)

Trái khoáy số 9: bọn ĐẺU mưu toan đưa con số 9 vị thẩm phán Tối Cao Pháp Viện lên 15 vị vì tỷ lệ hiện nay là 6-3 với một số vị còn trẻ nên tỷ lệ nghiêng về phía Bảo Thủ. (nếu đưa lên 15 vi thẩm phán thì phe Cấp Tiến mới có cơ hội cân bằng)

Trái khoáy số 10: Căn bản của nền tư pháp là tính chất “bất hồi tố” , vậy mà bọn ĐỂU mưu toan làm luật để chính phủ liên bang phải bồi thường cho người da đen bị làm “nô lệ” trong quá khứ. Luật này nếu có, là một “sự hồi tố” vô lý vì từ 1865, không còn người da đen bị làm “nô lệ” và cũng không có người da trắng nào “sở hữu nô lệ”.

Người viết chỉ đề cập đến 10 trái khuáy của bọn ĐỂU mà không hề đề cập đến những vấn đề khác như chiến tranh thương mại, như biến đổi khí hậu, hay hoặc tiền tệ và thị trường chứng khoán v.v… vì đó là những vấn đề lớn ảnh hưởng đến nhiều quốc gia: những vấn đề lớn đó đã có những chuyên gia và nhiều nhà bình luận lão thành đề cập đến rồi.

10 trái khoáy mà người viết nêu ra chỉ là những vấn đề của nước Mỹ, giải quyết những vấn nạn của nội tình nước Mỹ trước thì mới có thể thực hiện mục tiêu MAKE AMERICAN GREAT AGAIN như Tổng Thống Donald Trump đã nêu ra. Vì vậy cuộc bầu cử vào ngày 3 tháng 11 năm 2020 là tối ư quan trọng. Câu chuyện không còn đặt vào cá nhân Tổng Thống Trump mà phải hiểu là câu chuyện giữa ÁNH SÁNG và BÓNG TỐI : dù chúng ta có yêu mến Tổng Thống Trump nhiều thế nào đi nữa, ông cũng không thể làm Tổng Thống Hoa Kỳ tới 3-4 nhiệm kỳ được, nhưng chúng ta phải sử dụng lá phiếu để quét sạch bọn ĐỂU ra khỏi chính trường giúp cho những người tài giỏi và đức độ có cơ hội phục vụ đất nước một cách chính trực và công bằng để chính thể và cơ cấu chính trị của Hoa Kỳ luôn luôn là ngọn đuốc cho các quốc gia khác noi theo.

Thái độ thù hằn, bất hợp tác và phá thối của Đảng Dân Chủ đã xảy ra trước khi ông Donald Trump nhậm chức Tổng Thống vào ngày 20 tháng giêng năm 2017 khiến cá nhân người viết thay đổi suy nghĩ: trước kia theo thói quen và tài liệu giáo khoa cho rằng Hành Pháp là một Đảng chính trị thì Lập Pháp là một Đảng khác để coi như “cân bằng quyền lực”, nhưng đó là khi người ta còn giữ nguyên tắc hòa hợp để đem phúc lợi cho người dân và đem sự hưng thịnh và hùng cường cho đất nước. Chớ còn từ năm 2017 đến giờ, bọn ĐỂU mới chỉ nắm đa số ở Hạ Nghị Viện mà đã làm Hành Pháp của Tổng Thống Trump gặp biết bao trở ngại.

Do đó 4 năm sắp tới cử tri của Hoa Kỳ cần giúp Hành Pháp Donald Trump “clear” đống rác rưởi tại chính trường Hoa Kỳ bằng cách không những bầu cho Tổng Thống Trump đắc cử thêm một nhiệm kỳ nữa, mà phải bầu cho tất cả đảng viên Cộng Hòa vào các chức vụ dân cử như Thương Nghị Sĩ, Dân Biểu, Hội Đồng thành phố, quận hạt, Thống Đốc…

Người Mỹ nổi tiếng với “ tính thực tế”, nhưng người Việt chúng ta lại hiểu lờ mờ về “tính thực tế” của người Mỹ, đó là “ ta hãy làm được những gì mà ta có thể làm, đừng cố gắng làm những gì mà ta thích”.

Người viết xin nêu ra những SUY NGẪM VỀ CUỘC ĐỜI (không biết tên của tác giả) làm nổi bật “tính thực tế” như sau:

◘ Không YÊU vẫn sống – Không ĂN mới chết

◘ Thất TÌNH vẫn sống – Thất NGHIỆP mới chết

◘ Thiếu TÌNH vẫn sống – Thiếu TIỀN mới chết

◘ Cô ĐƠN vẫn sống – COVID mới chết

Trong khi đó vào năm 1960, nữ văn sĩ hiện sinh của Pháp là FRANCOISE SAGAN còn “sống sượng” hơn khi cho rằng: Dẫu biết rằng sự giàu có không ngăn cản được đau khổ, nhưng tôi thích khóc trong chiếc JAGUAR hơn là cười trong chiếc xe buýt.

San José ngày 20 tháng 10 năm 2020

Trần Trung Chính

Tuesday, May 5, 2020

Nhân Quả Của Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang
Trần Trung Chính

Đạo Phật có nói đến NGHIỆP, đến NHÂN QUẢ NGHIỆP BÁO chứ không hề nói đến ĐỊNH MỆNH.

Do đó : gây nhân xấu ác thì gặt quả đau khổ, gây nhân lành thì gặt quả  an vui .chứ không phải “cái tơ cái tóc cũng do trời định” như “định mệnh thuyết của Khổng Nho hoặc định mệnh thuyết 4 giai cấp của Bà–la-môn (Ấn Độ giáo)

Năm 1925, tiếng bom Sa Điện nổ ở Quảng Châu do Phạm Hồng Thái phụ trách, tuy không giết được Toàn Quyền Merlin, nhưng Bộ Thuộc Địa của chính quyền Pháp đang tìm cách “vô hiệu hóa” tinh thần chống Pháp của người Việt. Năm 1930,Toàn Quyền Pasquier đệ trình kế hoạch để thực thi giải quyết vấn nạn này. Ông Pasquier nhận xét rằng những nhà ái quốc của Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của Nho Giáo với quan niệm QUÂN –SƯ – PHỤ làm kim chỉ nam cho cuộc sống chính trị của người Việt. Ông Toàn Quyền Pasqiuer đề nghị dùng Phật Giáo để làm “chệch hướng” của cao trào “trung quân ái quốc” vì Phật Giáo chú trọng đến CỨU KHỔ và GIẢI THOÁT cho từng cá nhân chứ không bao giờ đề cập đến QUỐC GIA và TỔ QUỐC. Châm ngôn BI – TRÍ – DŨNG cũng chỉ đề cập đến thái độ ứng xử (behavior) của cá nhân chứ không đề cập đến QUỐC GIA và TỔ QUỐC.

Bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội Phật Giáo (tại Huế) từ năm 1932 với sự ngầm giúp đỡ của Toàn Quyền Pasquier và chính quyền thuộc địa của các ông Khâm Sứ và Công Sứ địa phương. Lợi dụng vỏ bọc “khuếch trương Phật Giáo”, bác sĩ Lê Đình Thám bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản song hành với nghiên cứu về Phật Giáo. 

Khi đó những người như Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu, Thích Nhất Hạnh…vì nhà nghèo nên được “gửi vào chùa”. Các vị sư trụ trì các chùa lớn ở Huế nhận các “chú tiểu” này với 2 điều kiện tối thiểu :

1/ Điều kiện thứ nhất : phải thông minh

2/Điều kiện thứ hai : phải trường thọ

Chú thích 1 : cả 2 điều kiện này đều dựa vào môn Tướng Mệnh Học.

Chú thích 2 : thân phụ của ông bạn tù CVB của tôi suýt bị bắt vì mưu toan gia nhập Quốc Dân Đảng, sau khi Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học thất bại và bị xử tử, thân phụ ông bạn CVB sinh hoạt bình thường nhưng ẩn mình trong các chùa nên biết rõ xuất xứ của các vị sư sau này làm lãnh tụ của Khối Ấn Quang.

Vào thời điểm từ khi thành lập Hội Phật Giáo Trung Việt vào năm 1932 cho đến 1945, các chú tiểu và tăng sinh trong chùa được dạy dỗ của các
nhà sư lớn tuổi, cho nên rành chữ Hán, chữ Phạn. Và riêng chữ quốc ngữ Latinh hóa thì các vị sư rất là yếu kém (ở ngoài đời dân chúng trưởng thành giỏi chữ quốc ngữ là nhờ các ông Trần Trọng Kim, Trần Văn Thông, Đỗ Thận, Bùi Kỷ… soạn bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư dành cho bậc tiểu học. Rồi lên trung học đa phần là nhờ đọc báo chí của các ông Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, nhóm Tự Lực Văn Đoàn…). 

Giới thiệu sơ qua như vậy, chúng ta suy đoán chắc chắn rằng trình độ Việt ngữ của các nhà sư ngang tuổi với Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh, Thích Nhất Hạnh, Thích Đôn Hậu…rất là kém cỏi. Về mặt Công Dân Giáo Dục thì các nhà sư này hoàn toàn không biết gì hết về ý thức “trách nhiệm và bổn phận công dân của một quốc gia độc lập”.

Thẳng thắn mà nói, chương trình Cải Tổ Giáo Dục ra đời năm 1957 dưới thời Bộ Trưởng Giáo Dục là ông Trần Hữu Thế của chính phủ Ngô Đình Diệm. Khi ấy , chính phủ VNCH cũng bắt đầu cho các vị tăng sĩ đạt được trình độ Tú Tài đi du học các nước Anh, Mỹ, Pháp…Nhưng có học vị đại học về văn chương, về Phật Học, về Xã Hội Học, về Triết Học…nhưng trong quá khứ họ không được rèn luyện ý thức CÔNG DÂN nên sau này khi nhóm ưu tú này nắm quyền lãnh đạo Giáo Hội Ấn Quang , chúng ta biết và thấy rõ là không hề có ông sư, bà sư nào đề cập đến Ý NIỆM ÁI QUỐC và đặt QUYỀN LỢI TỔ QUỐC LÊN TRÊN HẾT.

Một biến cố lớn đã xảy ra trên thành phố HUẾ và tỉnh Thừa Thiên vào năm Mậu Thân 1968 là những người dân thường, viên chức chính phủ, quân nhân, các đảng viên của Quốc Dân Đảng và Đảng Đại Việt cũng như đồng bào theo Thiên Chúa Giáo ở Phú Cam bị chôn sống gần 7,000 người. Người ta lên án những đồ tể như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm, Tôn Thất Dương Kỵ, Thích Đôn Hậu… nhưng không ai thắc mắc và tìm hiểu sâu thêm là tại sao những đồ tể này đều là những phật tử thuần thành của tập đoàn tăng lữ Bình Trị Thiên ?

Xin nhắc lại hệ luận của Học Thuyết Nhân Quả là trên cõi đời này không có chuyện gì tự nhiên xảy ra, con người vì thiếu suy nghĩ hay bị màng vô minh che lấp giữa NHÂN và QUẢ nên cho rằng tự nhiên xảy ra.

Thí dụ : cựu Đại Úy Nguyễn Như Quỳnh (khóa 1 Đại Học Chiến Tranh Chính Trị) trong niên khóa 1961-1962 học lớp đệ nhị (sau năm 1970, Bộ Giáo Dục đổi lại là lớp 11), phụ trách môn Việt Văn là giáo sư Hoàng Phủ
Ngọc Tường. Ông này đã có tư tưởng ghét chế độ VNCH, ghét Thiên Chúa Giáo, ghét những kẻ theo Mỹ Pháp. Nên nhớ rằng Viện Đại Học Huế khai giảng vào năm 1958, Hoàng Phủ Ngọc Tường dạy trung học đệ nhi cấp năm 1961, tức là Hoàng Phủ Ngọc Tường học trung học và đại học tại Huế.

Giáo dục của VNCH không có ai cho phép dạy học trò lòng căm thù như vậy, chắc chắn là Hoàng Phủ Ngọc Tường đã hấp thụ “văn hóa căm thù” từ các vị tăng gốc là đảng viên Cộng Sản của Hội Phật Giáo Trung Việt mà thôi.

Để chứng minh cho sự thật hiển nhiên là sau Hiệp Định Genève 1954, tất
cả những nhà sư Cộng Sản như Thích Tố Liên, Thích Trí Độ, ngay cả bác sĩ Lê Đình Thám cũng rút ra Bắc hoạt đông (Lê Đình Thám để lại gia đình con cái tại Quảng Nam, sau này một người con trai là ông Lê Đình Duyên trở thành dân biểu của Quảng Nam, coi như cầm đầu những dân biếu thân Ấn Quang). Một lý do rất đơn giản là những hoạt động cho Việt
Cộng của những tên Việt Cộng đội lốt tu sĩ này đã bị Sở Liêm Phóng lưu hồ sơ. Khi bàn giao cho chính phủ VNCH, các hồ sơ an ninh này đã được giới chức an ninh – phản gián của VNCH tiếp nhận. Những người Cộng Sản này nếu ở lại Huế thì chắc chắn sẽ bị bắt, cho nên lệnh của chính quyền VC chỉ để lại những “trẻ con” như Võ Đình Cường, Thích Trí
Quang, Thích Nhất Hạnh, Thích Thiện Minh, Thích Đôn Hậu, Tôn Thất Dương Kỵ, Tôn Thất Dương Tiềm…mà thôi ( bị xem là “trẻ con” vì chưa bị Sở Liêm Phóng ghi tên vào “sổ đen”)

Những nhà sư Cộng Sản thứ thiệt đã từng bị Sở Liêm Phóng bắt giữ, chính bà Hoàng Thị Cúc (hiệu là Từ Cung – mẹ vua Bảo Đại, đích thân viết thư tay xin Toàn Quyền Pasquier thả ra và Sở Liêm Phóng vẫn còn giữ lá thư của bà Từ Cung. Điều bí mật này, tất cả những phật tử Huế không hề biết, ngay cả Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh, Thích Nhất Hạnh… cũng không thể biết.

Những năm đầu của thập niên 1980, ông Vũ Ngự Chiêu là Ph.D. Candidate của Đại Học Mỹ (lâu quá người viết không nhớ rõ), đề tài của luận án là những hoạt động của Hồ chí Minh tại Pháp vào những năm 1920 – 1930.

Ông Vũ Ngự Chiêu đã cậy nhờ Giáo Sư Nguyễn Thế Anh trợ giúp vì ông Vũ Ngự Chiêu rành tiếng Anh và tiếng Việt chứ ông không rành tiếng Pháp và càng không thể rành những nơi cất giữ tài liệu mang tính cách trung thực của lịch sử. Giáo Sư Nguyễn Thế Anh có văn bằng Tiến Sĩ Sử Học của Đại Học Sorbonne, đã nắm giữ chức Viện Trưởng Viện Đại Học Huế kiêm nhiệm luôn chức vụ Trưởng Khoa Sử của Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trong khoảng 1965 – 1975.

Cả 2 ông đã vào tận văn khố của Bộ Thuộc Địa Pháp tìm được những tài
liệu mà chưa ai biết (kể cả Ban Tuyên Huấn của Đảng CSVN). Dĩ nhiên nhờ những tài liệu độc đáo này, ông Vũ Ngự Chiêu đã được chấm đậu văn bằng Tiến Sĩ Sử Học của ông. Điều quan trọng là những tài liệu được trình bày trong Luận Án đã lột mặt nạ giả dối của Hồ chí Minh mà lâu nay Đảng Cộng Sản Việt Minh vẽ vời thần thánh hóa những chuyện không có thực.

Đưa thí dụ của Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu và Giáo Sư Nguyễn Thế Anh tìm tài liệu trong văn khố của Bộ Thuộc Địa để bác bỏ những cáo buộc mà những phật tử cuồng Ấn Quang sẽ phản đối người viết là “bôi bác uy tín và bêu xấu những vị lãnh đạo của Phật Giáo”. Người viết đoan chắc là trong văn khố của Bộ Thuộc Địa vẫn còn lưu giữ những tài liệu liên quan đến vấn đề thành lập Hội Phật Giáo Trung Việt vào năm 1932, lý do cũng rất tầm thường và giản dị : “ ông Pasquier chỉ thi hành những mệnh lệnh của Bộ Thuộc Địa và ngân sách chi dùng là của Bộ Thuộc Địa chứ không phải tiền túi riêng của Toàn Quyền Pasquier.”

Dự án nâng đỡ Phật Giáo của ông Pasquier đã có kết quả tốt, đó là suốt từ năm 1932 cho đến năm 1945, không có cuộc kháng chiến vũ trang bạo động nào của người Việt thách thức đến sự thống trị của người Pháp tại Đông Dương. Như đã đề cập trong phần đầu : “học thuyết của Phật Giáo chỉ làm chệch hướng những cuộc đấu tranh chống Pháp”. Trong khi những lãnh tụ Phật Giáo Ấn Quang ngông cuồng, kiêu ngạo và ngu dốt mưu định dùng triết thuyết Phật Giáo thay thế cho ý niệm Ái Quốc của người Việt.

Người viết dám dùng 2 chữ “ngu dốt” vì những nhà sư Ấn Quang không có học Lịch Sử Việt Nam (chưa chắc các ông này đã đọc VIỆT NAM SỬ LƯỢC của học giả Trần Trọng Kim viết từ năm 1930, sách do nhà xuất bản Tân Việt in ấn). Người viết đưa ra 3 thí dụ điển hình trong Lịch Sử Việt Nam để chứng minh Ý NIỆM ÁI QUỐC và ĐẶT QUYỀN LỢI ĐẤT NƯỚC LÊN TRÊN CÁC QUYỀN LỢI KHÁC (cả 3 trường hợp này đều xảy ra trong 2 triều đại Lý – Trần, là thời đại hưng thịnh của Phật Giáo của nước ta)

Thí dụ thứ nhất : trường hợp danh tướng Lý Thường Kiệt, theo như học giả Hoàng Xuân Hãn, 2 anh em của ông Lý Thường Kiệt và Lý Thường Hiển đều làm quan trong triều nhà Lý, ông Lý Thường Kiệt có gia đình, nhưng ông được làm phụ chính cho vị vua lên ngôi còn quá nhỏ, để tránh tiếng dị nghị với Hoàng Thái Hậu và các cung nữ trong triều, ông tình nguyện tự thiến để ra vào trong cung cấm như các thái giám (mặc dù ông không phải tiến thân từ hàng ngũ thái giám). 

Tất cả mọi quyết định trọng đại đều do ông lên kế hoạch và thực thi, kể cả việc “tấn công để phòng thủ” của ông sang Quảng Tây .Ông nổi danh với thành tích khi hạ thủ được thành Nam Ninh (thủ phủ của tỉnh Quảng Tây) ông đã giết 36,000 người : khi quân cứu viện của nhà Tống tới Nam Ninh thì ông Lý Thường Kiệt đã rút quân về nước. 

Trong bản báo cáo cho triều đình, sử quan của đạo quân cứu viện này ghi nhận ông ta đếm được 360 đống đầu lâu, mỗi đống có 100 đầu lâu. Sự kiện này làm rúng động triều đình nhà Tống và làm quân dân của 2 tỉnh Quảng Đông – Quảng Tây khiếp sợ ông Lý Thường Kiệt.

Thí dụ thứ hai : Khi quân Mông Cổ xâm lăng nước ta lần thứ nhất, vua Trần Thái Tông (tên là Trần Cảnh) có ý định đầu hàng vì thực lực quân sự của nhà Trần còn yếu kém, Thái Sư Trần Thủ Độ (là chú ruột của vua Trần Thái Tông, tuy không làm vua nhưng thực sự là người thành lập – founder – nhà Trần), có tâu vua là : “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. Ý kiến của người viết : “câu nói của Trần Thủ Độ được sử sách ghi lại chỉ có tính cách ước lệ và hàn lâm, chứ ông Trần Cảnh lên làm vua do vợ là Lý Chiêu Hoàng truyền lại lúc mới 8 tuổi, nên câu nói của Trần Thủ Độ phải hiểu là : Tao còn ngồi đây, đứa nào nói chuyện đầu hàng là tao chặt đầu trước”.

Thí dụ thứ ba : khi quân Mông Cổ xâm lăng nước ta lần thứ hai do Thái Tử Thoát Hoan thống lĩnh 50 vạn quân, vua Trần Nhân Tông cũng có ý định đầu hàng, danh tướng Trần Quốc Tuấn (danh hiệu Hưng Đạo Vương) chất vấn : “thế còn xã tắc và nhân dân thì sao ? Có cái gì bảo đảm rằng nhà vua đầu hàng cho yên thân thì quân Mông Cổ sẽ để yên cho nhân dân và không tàn phá đất nước ?. Danh tướng Trần Quốc Tuấn được toàn dân nhiều thế hệ sau truy tặng là THÁNH TRẦN vì ông luôn luôn đặt QUYỀN LỢI CỦA ĐẤT NƯỚC LÊN TRÊN HẾT(trên cả những quyền lợi của chi phái dòng họ của ông cũng như quyền lợi của cá nhân ông)

Chính vì không đặt quyền lợi QUỐC GIA và TỔ QUỐC là cứu cánh cho công cuộc tranh đấu, nên Giáo Hội Ấn Quang cũng như Tập Đoàn Tăng Lữ Bình Trị Thiên không có hậu thuẫn chính trị, ngoại trừ một số tướng tá dốt nát như Nguyễn Chánh Thi, Phan Xuân Nhuận, Tôn Thất Đính, Đàm Quang Yêu…và một số tín đồ cuồng tín chỉ nằm trong địa phương Huế - Thừa Thiên – Quảng Nam… Nhận định của người viết không phải từ sự võ đoán xuất xứ từ sự ghét bỏ những ông bà sư thân Cộng, mà là chính sách chủ yếu của Giáo Hội Ấn Quang, đó là tới năm 2020 mà vẫn cứ rêu rao là PHẬT GIÁO ĐỒ VN TRANH ĐẤU CHO ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC ( trong đám tín đồ ủng hộ không có ai đặt câu hỏi là thế QUỐC GIA – TỔ QUỐC ở đâu?).

Thực sự, hiện trạng của Giáo Hội Ấn Quang sau khi nhà sư Thích Quảng Độ qua đời, là hiện tượng SỨ QUÂN, y hệt như sau khi Ngô Quyền chết rồi, con trai kế vị là Ngô Xương Ngập không đủ tài cai trị, loạn lạc nổi lên tứ tung phải nhờ em trai là Ngô Xương Văn trợ giúp cầm quân đi dẹp loạn. Không may, Ngô Xương Văn trúng tên tử trận rồi Ngô Xương Ngập cũng qua đời. Rốt cuộc con Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí chỉ giữ được đất Đường Lâm và trở thành 01 trong số Thập Nhị Sứ Quân.

Cái tư tưởng ghét VNCH, ghét Mỹ, ghét Pháp…mà chỉ hô hào thương yêu dân tộc Việt Nam vẫn còn tồn đọng trong đám gọi là “trí thức Phật Giáo như Lý Khôi Việt, Trần Chung Ngọc, Trần Quang Thuận, Tạ Văn Tài, Đào Văn Bình, Trần Kiêm Đoàn, Định Nguyên Nguyễn Hữu Đính,Cao Văn Hở, Lê Công Cầu, Huỳnh Tấn Lê, Cao Huy Thuần, Thái Kim Lan…Dẫn chứng qua bài viết mới đây của Định Nguyên với tựa đề 30 tháng tư /năm 1975 là ngày gì ? Dưới vỏ bọc là cựu Đại Úy Cảnh Sát, cả nguyên bài văn chớ hề thấy Định Nguyên vạch trần tội ác của Cộng Sản mà lại lý luận quanh co là sau ngày 20 tháng 7 năm 1954 và sau 30 tháng tư năm 1975, người Việt xuất ngoại khởi đầu cho “hành trình đi tìm tự do”. Rõ ràng là nếu VC không chiếm VN thì nhân dân Việt Nam đâu có phải “Đi Tìm Tự Do” làm quái gì.

Khẩu hiệu GIẢI TRỪ PHÁP NẠN mà Giáo Hội Ấn Quang và tập đoàn tăng lữ Bình Trị Thiên thường hay rêu rao, nhưng không chỉ rõ PHÁP NẠN do ai gây ra ? Chính quyền VNCH trước 1975 ?, giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã?, Tin Lành ?, Cao Đài?, Hòa Hảo? hay nhóm Việt Nam Quốc Tự của HT Thích Tâm Châu, TT Thích Tâm Giác? Thực tế chính trị cho thấy là khi chưa minh định rõ ràng ai hay tổ chức nào là kẻ thù (gây ra PHÁP NẠN) thì những công việc gây xáo trộn của Khối Ấn Quang chỉ là cách kiếm tiền, kiếm chức bằng nước bọt và bằng sự ngây thơ của các tín đồ khờ khạo.

Sự “đồng hành” với Cách Mạng (thực tế là đồng lõa với Cộng Sản) để “MỸ CÚT, NGỤY NHÀO” là một sự ngu xuẩn cùng cực của nhóm lãnh đạo Ấn Quang và tăng lữ Bình Trị Thiên. Sự đồng lõa với Việt Cộng chỉ tin vào cái bánh vẽ do Cộng Sản đưa ra chứ không hề căn cứ vào tình hình thực tế của lịch sử nhân loại (trách hơi oan vì những ông bà sư Khối Ấn Quang đâu có học Lịch Sử mà biết những cases điển hình)

Trường hợp điển hình thứ nhất : vào thế kỷ thứ ba trước Thiên Chú Giáng Sinh, sau khi nhà Tần bị tiêu diệt, Lưu Bang và Hạng Võ tranh dành nhau để lên ngôi vua, Hạng Võ có sức mạnh và quân sĩ đông hơn, nhưng Lưu Bang có các tướng giỏi như Hàn Tín, Trương Lương, Tiêu Hà trợ giúp. Chính Khoái Kiệt, quân sư của Hàn Tín bàn với Hàn Tín là không nên đánh bại Hạng Võ, vì khi đánh bại Hạng Võ thì Lưu Bang sẽ giết Hàn Tín. Hàn Tín không nghe lời Khoái Kiệt, nên trước khi Hàn Tín bị giết, Khoái Kiệt giả điên lang thang ngoài chợ ăn uống và sinh hoạt như những kẻ bị bệnh tâm thần. Sau khi Hàn Tín bị giết rồi, Lưu Bang tha cho Khoái Kiệt vì cho rằng Khoái Kiệt bị điên, mà giết Khoái Kiệt thì bị mang tiếng.

Trường hợp điển hình thứ nhì : vào thế kỷ thứ ba sau Thiên Chúa Giáng Sinh, nhà Hán suy yếu, nước Tàu bị chia thành 3 QUỐC GIA : Bắc Ngụy do Tào Tháo lãnh đạo, Tây Thục do Lưu Bị lãnh đạo, Đông Ngô do Tôn Quyền lãnh đạo. Vùng Kinh Châu (địa lý chiến lược quan trong vì nằmgiữa 3 nước Bắc Ngụy, Tây Thục, Đông Ngô) , Lưu Bị giao cho Quan Công trấn giữ. Trước khi lên đường nhận nhiệm sở, quân sư Khổng Minh hỏi Quan Công : “nếu Tào Tháo và Tôn Quyền đồng loạt tấn công Kinh Châu cùng một lúc, thì ông phải làm gì ?”. Quan Công trả lời : “Thì ta chia ra làm 2 để chống đỡ”. Khổng Minh nói : “Thế thì không ổn. 2 thằng cha đó mà cùng tấn công Kinh Châu thì 8 ông Quan Công cũng chống không nổi, huống hồ chỉ có một mình ông. Ông phải giữ nguyên tắc sau đây BẮC CỰ TÀO THÁO- ĐÔNG HÒA TÔN QUYỀN thì mới giữ được Kinh Châu”. Về sau, Quan Công không giữ nguyên tắc này nên mất Kinh Châu mà còn bị Tào Tháo chém đầu.

Trường hợp điển hình thứ ba : cận đại nhất, Hoa Kỳ bắt buộc rút lui khỏi Việt Nam vì nhiệm kỳ của Tổng Thống Mỹ không thể vượt quá 8 năm, lãnh đạo của Hoa Kỳ không thể đế nước Mỹ sa lầy vào một cuộc chiến không có hồi kết thúc, Tổng Thống Nixon đã mua sự an toàn của miền Nam Việt Nam bằng Hiệp Định Paris 1973 (khoản 21B quy định, Hoa Kỳ sẽ viện trợ tái thiết Đông Dương 3 tỷ dollars với điều kiện các bên phải thành lập chính phủ 3 thành phần với sự bầu cử tự do có quốc tế quan sát để nhân dân Việt Nam tự quyết định vận mệnh chính trị của mình). 

Nghe lời xúi dại của Liên Sô và Trung Cộng, Lê Duẩn xua 14 sư đoàn quân BV trong chiến dịch HCM diễn ra trong 55 ngày tiến vào Sài Gòn để nhận được lời khen là “thành đồng của chủ nghĩa Cộng Sản” nhưng Hoa Kỳ không đưa ra một cắc nào với lý do CSBV vi phạm Hiệp Định Paris. Cái đau của CSBV là không thể kiện cáo tại bất cứ tòa án náo.!!!

Kết luận : PHÁP NẠN là do cấp lãnh đạo cũa Giáo Hội Ấn Quang gây ra, bây giờ kêu gọi phật tử góp tay GIẢI TRỪ PHÁP NẠN là sao ? Văn phòng Quốc Tế Vận của Võ Văn Ái phát động chiến dịch vận động các đại cường giúp đỡ Giáo Hội Ấn Quang. Bên Âu Châu thì người viết không rõ chứ ở Hoa Kỳ, nơi mà người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản đông hơn tất cả những người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại các quốc gia khác thì lời kêu gọi của Võ Văn Ái thuộc loại “nghe qua rồi bỏ”. Ngay chính giới thiên tả như John Kerry, Edward Kennedy, Jane Fonda, Tom Hayden, Joe Biden…cũng giả lơ.

Một câu hỏi khác có liên quan mật thiết với học thuyết NHÂN QUẢ, đó là tại sao Giáo Hội Ấn Quang đã gieo NHÂN tốt, có LÃNH ĐẠO NỔI DANH (làm rung chuyển Tòa Bạch Ốc) có đội ngữ cán bộ xách động quần chúng tài tình (có những người học vị rất cao), có sự ủng hộ cuồng nhiệt của khối tín đồ (xem phật tử Huế đi dự đám tang của nhà sư Thích Trí Quang hồi tháng 11/2019)…vậy tại sao kết QUẢ của Giáo Hội Ấn Quang ( sau khi nhà sư Thích Quảng Độ qua đời) lại quá bi thảm !

Có một cái gì “không ổn” trong diễn trình NHÂN – DUYÊN –QUẢ này chăng? Theo ý kiến riêng của người viết, chính Thích Trí Quang và tập đoàn lãnh đạo của tăng lữ Bình Trị Thiên đã “luộc chín” NHÂN TỐT của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ngay từ những ngày đầu tiên thành lập GHPGVNTH vào năm 1964 tại Sài Gòn.

A.- Điều không ổn thứ nhất : nhóm tăng lữ của Bình Tri Thiên vơ vào danh xưng Giáo Hội Phật Giáo VN truyền thừa trên 2,000 năm nay. Cách
sinh hoạt các ngôi chùa lớn tại miền Bắc và miền Trung là hoàn toàn độc lập, làng cấp cho chùa một số ít đất đai để tự lực mưu sinh. Sau này ngoài Huế người ta gọi các chùa lớn là Tổ Đình, thí dụ như Tổ Đình Từ Hiếu, Tổ Đình Từ Đàm…Chỉ sau khi Tướng Nguyễn Khánh lên cầm quyền người ta mới rục rịch tổ chức thành Giáo Hội Phật Giáo Và Hiến Chương dự thảo cho Giao Hội Phật Giáo ra đời vào năm 1964 dưới thời của Thủ Tướng Chính Phủ là Trung Tướng Nguyễn Khánh.

B- Điều không ổn thứ hai : Hiến Chương của Giáo Hội Phật Giáo quy định Viện Tăng Thống do các Hòa Thượng cao niên trong Giáo Hội bầu ra Vị Tăng Thống : do đó Tăng Thống đầu tiên là Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, nhưng Tổng Thư Ký Viện Tăng Thống do chỉ định chứ không cần ứng cử và bầu cử.

Hiến Chương cũng quy định Viện Trưởng Viện Hóa Đạo là do các Chánh Đại Diện các miền Phật Giáo bầu ra và điều kiện ứng cử chức vụ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo phải là Chánh Đại Diện miền Phật Giáo, khởi thủy chỉ có một ứng cử viên là nhà sư Thích Trí Quang đủ điều kiện ứng cử,, nhà sư Thích Tâm Châu tuy nằm trong Tăng Già Phật Giáo nhưng không là Chánh Đại Diện của miền Phật Giáo nào cả. 48 giờ trước khi đầu phiếu, Thượng Tọa Thích Thanh Cát viết đơn từ chức Chánh Đại Diện miền Vĩnh Nghiêm và suy cử Thượng Tọa Thích Tâm Châu thay thế. Điều này hoàn toàn bất ngờ đối với Thich Trí Quang, nên khi công bố kết quả Thượng Tọa Thích Tâm Châu đắc cử với 9 phiếu thuận, nhà sư Thích Trí Quang chỉ được 3 phiếu (trong tổng số 13 đại biểu, có 01 vị bỏ phiếu trắng).

Chú thich : hiện nay Hòa Thượng Thích Thanh Cát đã cao tuổi (có lẽ suýt soát 100 tuổi) và vẫn cư ngụ tại chùa Giác Minh – thành phố East Palo Alto, cách thành phố San José khoảng 30 phút lái xe.

C- Điều không ổn thứ ba: cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền nguyên Hội Trưởng Hội Phật Học Nam Việt viện cớ chùa Xá Lợi quá nhỏ bé nên vận động vị sư trụ trì chùa Xá Lợi mời tất cả các vị sư trong Ủy Ban Tranh Đấu của Phật Giáo đi tìm chỗ cư trú khác.

D- Điều không ổn thứ tư : khi Thượng Tọa Tâm Châu đảm nhiệm chức vụ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, nhà sư Thích Trí Quang qua giữ chức Tổng Thư Ký Viện Tăng Thống, trên danh nghĩa là phụ giúp Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, nhưng thực tế cho thấy là nhà sư Trí Quang đoạt quyền lãnh đạo Viện Tăng Thống và dùng Viện Tăng Thống để khuynh đảo Thượng Tọa Thích Tâm Châu. Từ khi Thượng Tọa Thích Tâm Châu nắm giữ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Thượng Tọa Thích Tâm Giác giữ chức Chánh Đại Diện miền Vĩnh Nghiêm.

E-Điều không ổn thứ năm : Thủ Tướng Nguyễn Khánh lấy đặc quyền hành pháp ký văn thư cắt một phần đất của Cục Quân Cụ tọa lạc tại ngã ba Trần Quốc Toản – Petrus Ký thuộc quận 3 Sài Gòn để xây Viện Nam Quốc Tự cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Thống Nhất có nơi sinh hoạt. 

Thủ Tướng Nguyễn Khánh cũng hứa Chính Phủ VNCH sẽ cấp một khoản nợ lên tới 100 triệu đồng để xây cất và đặc biệt là Giáo Hội PGVNTN trả dần số nợ này trong nhiều năm không có tiền lời (no interest). Về mặt pháp lý, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo thay mặt Giáo Hội ký khế ước nhận tiền của Chính Phủ.

Vì biết chắc Thích Trí Quang và phe nhóm tăng lữ Bình Trị Thiên sẽ “đảo chánh” và trách nhiệm trả nợ sẽ rơi vào cá nhân mình, nên Thượng Tọa Thích Tâm Châu nhất định không ký giấy tờ vay nợ. Lời qua tiếng lại rất gay gắt đến nỗi Thượng Tọa Thích Tâm Giác nổi giận, ông hăm dọa : “tôi mà xây xong chùa Vĩnh Nghiêm thì các ông liệu với tôi”.

F.- Điều không ổn thứ sáu : hai năm sau, trong dịp Lễ Phật Đản năm 1966, thấy không làm gì được Thượng Tọa Tâm Châu nên Thích Trí Quang tự thành lập Giáo Hội Ấn Quang và dẫn dắt tín đồ Phật Giáo vào những cuộc đối đầu với chính phủ VNCH đồng thời công khai đồng lõa với Việt Cộng để ĐÁNH CHO MỸ CÚT- NGỤY NHÀO. 

Sự thành lập Giáo Hội Ấn Quang không dựa trên căn bản pháp lý nào và cũng không được chính phủ VNCH công nhận. Điều vô lý là Giáo Hội Ấn Quang chống chính phủ VNCH và chống cá nhân Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, chống cá nhân Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ… nhưng lại đòi hỏi chính phủ VNCH công nhận Giáo Hội Ấn Quang là một “thực thể chính trị” dưới danh xưng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất !!!

E.- Điều không ổn thứ bảy : Chỉ có Tăng Thống Thích Tịnh Khiết và đệ nhị Tăng Thống Thích Giác Nhiên là được bầu cử đúng theo Hiến Chương 1964. Năm 1973 khi Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết viên tịch, Hội Đồng Trưởng Lão Các Tăng Già đã bầu Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên lên thay thế, lúc đó Ngài đã 101 tuổi. 

Năm 1977, Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên viên tịch, tự nhiên người ta thấy nhà sư Việt Cộng Thích Đôn Hậu tự xưng là Đệ Tam Tăng Thống. Rồi Thích Đôn Hậu “truyền” lại cho Thích Huyền Quang lên làm Đệ Tứ Tăng Thống không qua cuộc bầu cử nào. Thích Huyền Quang cũng “truyền “ lại cho Thích Quảng Độ lên làm Đệ Ngũ Tăng Thống.

Có lẽ nhà sư Thích Quảng Độ có LIÊM SỈ hơn bọn thầy chùa “ĐỒNG HÀNH “ với Cách Mạng nên trước khi lìa đời, ông không TRUYỀN THỪA cho bất cứ người nào.

Đó là tình trạng các sứ quân của PG đang làm “bẩn mắt + điếc tai” trên các diễn đàn điện tử hiện nay. Bọn lãnh đạo các SỨ QUÂN CỦA PHẬT GIÁO quên rằng người Phật Tử chân chính tại hải ngoại không thể và không bao giờ trở thành NHỮNG CON CHIÊN LÔNG VÀNG như đám đông tiễn đưa Thích Trí Quang hồi tháng 11 năm 2019 ở Huế.

Viết xong ngày 29 tháng 4 năm 2020 tại San José

Kỷ niệm năm thứ 46 NGÀY QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Trần Trung Chính

Tuesday, November 19, 2019

BIẾT SỢ

Trần Trung Chính

Tuần vừa qua vào ngày 8 tháng 11 năm 2019, nhà sư Thích Trí Quang qua đời tại Huế hưởng thọ 96 tuổi.
Diễn đàn điện tử cũng như báo giấy lại có dịp nở rộ lên với 2 phe chính yếu :
1/ Phe phật tử cuồng tín thuộc Giáo Hội PG khối Ấn Quang với những bài viết bênh vực , tán dương Thích Trí Quang kể cả những bài viết tâng bốc và tấn phong cho Thích Trí Quang những danh xưng cũng như những chức vụ mà "cõi đời bình thường" không hề có. Thí dụ chứng minh : Bản Thông Cáo của nhóm này loan báo Thích Trí Quang viên tịch, Thích Trí Quang lên Niết Bàn, Thích Trí Quang là Thánh Tăng…v…v…(Phật Giáo Việt Nam không có ngôi vị Thánh, ngôi vị Thánh thường do phía Thiên Chúa Giáo sử dụng, thí dụ Đức Thánh Cha, Thánh Michae, Thánh Phêro…)
2/ Phe chống đối Thích Trí Quang và chống đối GHPG Ấn Quang do nhà sư này "lãnh đạo" từ 1966. Phe thứ hai bị phe thứ nhất gán cho là phe "Công Giáo (Thiên Chúa Giáo)" chống phá Giáo Hội PG Ấn Quang, thực tế là phe thứ hai chỉ có một số ít là theo Thiên Chúa Giáo còn lại là những người theo Phật Giáo, những người tôn giáo khác và những quân nhân viên chức của VNCH.
Bài viết này không phải là nơi chốn liệt kê các bài viết của cả 2 phe bênh và chống nhà sư Thích Trí Quang, nhưng người viết là chứng nhân của lịch sử Việt Nam cận đại (trong khoảng từ 1960 đến nay 2019) cho nên những điều được nêu ra trong bài viết này là những yếu tố lịch sử (facts), người viết xin dành những ý kiến, những cảm nghĩ (opinions) cho người đọc. Cũng xin nhắc lại vì là những yếu tố lịch sử cho nên nếu độc giả đòi hỏi những references qua sách báo, thư từ, hình ảnh hay video clip… như các tài liệu thông thường là điều người viết không thể có.
Dĩ nhiên có người cho rằng không có sách báo hình ảnh làm references thì không đáng tin cậy (thậm chí với những kẻ cuồng tín thì còn cho rằng người viết tạo dựng những dữ kiện giả tạo để bôi bác nhà sư Thích Trí Quang nữa là khác), do đó những dữ kiện được nêu ra trong bài viết đều có nhân chứng liên quan rõ ràng chứ không phải nói bâng quơ, những nhân chứng liên quan đến nhà sư Thích Quang một số đã qua đời, một số vẫn còn sống và minh mẫn dù tuổi tác đã cao cho nên người viết tin vào sự thẩm định có lý trí của độc giả.
Cuộc đời chính trị của nhà sư Thích Trí Quang được soi rọi nhiều nhất từ Lễ Phật Đản năm 1963 cho đến 1975, cho nên người viết thấy rõ phe thứ nhất đã cố tình bưng bít sự thật về "con người chính trị " của Thích Trí Quang qua một số bài viết như sau :
1. Viên Giác Phan Tấn Hải đã dịch những tài liệu giải mật của CIA viết từ tháng 11/1963 để chứng minh rằng CIA đã giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu chứ không phải là Thích Trí Quang. Nhưng lịch sử chiến tranh Việt Nam đâu có dừng lại ở thời điểm tháng 11/1963, thế những việc làm lợi cho Việt Cộng của Thích Trí Quang từ 1963 đến 1975 sao Viên Giác Phan Tấn Hải không truy tìm những tài liệu giải mật của CIA để mà dịch luôn cho xứng đáng là người soi sáng lịch sử ? (Viên Giác Phan Tấn Hải là đương kim Chủ Bút của công ty VIỆT BÁO ở Nam Cali nên trả lời câu hỏi này)
2 Bài phỏng vấn Thích Trí Quang 96 phút do 2 sinh viên Y Khoa (SV Ngô Thế Vinh sau này trở thành Bác Si Y Khoa…) đề ngày 5 tháng 5 năm 1966 không chứng tỏ được lập trường và thái độ chính trị của Thích Trí Quang sau khi ông bị Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan bắt giữ tại Tòa Đại Biểu Chính Phủ trên đường Lê Lợi (hữu ngạn sông Hương) rồi đưa vào Đà Nẵng chuyển vào Sài Gòn , Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan nhốt Đại Tá Đàm Quang Yêu và nhà sư Thích Trí Quang tại Nha An Ninh Quân Đội (góc đường Hồng Thập Tự và Nguyễn Bỉnh Khiêm) chứ không phải nhốt 2 chính trị phạm này tại Tổng Nha Cảnh Sát đường Võ Tánh như nhiều người lầm tưởng. (Theo ông Liên Thành, thì Thích Trí Quang bị Cảnh Sát Huế bắt giữ ngay trong chùa Từ Đàm theo lệnh của Đại Tá Loan).
Người viết cho rằng phe thứ nhất đưa bài phỏng vấn của Bác Sĩ Ngô Thế Vinh vào thời điểm 2019 này là nhằm che đậy những việc làm tay sai cho VC của Thích Trí Quang vì những lời nói "trí thức" và "hay ho" trong bài phỏng vấn vào thời điểm 5 tháng 5 năm 1966 là thời điểm cao trào tranh đấu của PG tại Huế mà Thích Trí Quang vẫn tưởng là CIA ủng hộ ông ta như hồi 1963. Than ôi, như nhiều người đã biết, Thích Trí Quang chỉ là "diễn viên" của vở kịch chính trị của CIA mà thôi, đóng xong màn kịch hạ bệ Tổng Thống Diệm, CIA đưa những diễn viên khác lên đóng kịch tiếp theo tại chính trường Nam Việt Nam nhằm "dụ khị" Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đem đại quân BV vào Nam rồi sau đó dùng B-52 và hỏa lực của 550,000 binh sĩ HK và QL/VNCH tiêu diệt từ 2-3 triệu cán binh Bắc Việt chỉ trong 8 năm (từ 1965 đến 1973).
3. Tiến Si thứ thiệt của Pháp là ông Cao Huy Thuần viết 2 bài để bênh vực Thích Trí Quang, đó là bài : "THÍCH TRÍ QUANG – MỘT TRANG LỊCH SỬ " và bài "ĐI TÌM CHÌA KHÓA GIẢI MÃ SỰ IM LẶNG của HÒA THƯỢNG TRÍ QUANG"
Người viết không có gì nghi ngờ về tài học cao, khoa bảng to lớn của ông Cao Huy Thuần nhưng cách lý giải về sự im lặng của Thích Trí Quang mà ông Cao Huy Thuần viết ra không đúng với thực tế, xa vời với suy nghĩ bình dân học vụ của người dân Việt Nam và với bọn lãnh đạo của VC thì lại càng không thực tế chút nào.
Ông Cao Huy Thuần và bà Thái Kim Lan đậu Tiến Sĩ tại Pháp và Đức nhưng chắc chắn chưa đọc TAM THẬP LỤC KẾ của Trung Hoa (dịch giả và diễn nghĩa quyển sách này là ông VŨ TÀI LỤC, sách in tại Sài Gòn năm 1969) nên "chìa khóa giải mã sự im lặng của nhà sư Trí Quang " của ông trật lất 100%.
Bọn lãnh đạo VC đã dùng kế "Rung Cây Nhát Khỉ" để khống chế nhà sư Thích Trí Quang sau năm 1975. Tàn bạo hơn cái tên của kế sách này, bọn Cộng Sản không có rung cây mà chúng chặt đầu vài con khỉ để làm cả bầy khỉ khiếp sợ.
Mùa hè năm 1977, nhà sư Thích Thiện Minh bị giết tại D6 của Tổng Nha Cảnh Sát cũ, bọn VC đem xác của ông ra Hàm Tân (Bình Tuy) đặt trong một chòi lá bìa rừng rồi chở Thượng Tọa Thích Trí Thủ - đương kim Viện Trưởng Viện Hóa Đạo và một vài tăng sĩ nữa từ chùa Ấn Quang ra Hàm Tân xem mặt. Người viết dùng động từ "xem mặt" vì chính Thượng Tọa Thích Trí Thủ cho hay là đích thân ông yêu cầu dở tấm chăn che xác nhà sư Thích Thiện Minh thì bọn Công An không cho, chúng chỉ dở khăn che mặt và phái đoàn Phật Giáo Ấn Quang phải đứng cách xa 5 mét quan sát diện mạo của tử thi nhà sư Thích Thiện Minh mà thôi.
Nhà sư Thích Trí Quang rất thông minh, ông không sợ Ngô Đình Diệm, không sợ Ngô Đình Nhu, không sợ Ngô Đình Cẩn, không sợ Trần Kim Tuyến, không sợ Nguyễn Văn Thiệu, không sợ Nguyễn Cao Kỳ, không sợ Nguyễn Khắc Bình, không sợ Cabot Lodge, không sợ Maxwell Taylor, không sợ Williams Colby… vì ông biết chắc chắn là những người vừa kể "bực mình" vì chuyện ông làm, nhưng họ không có ý định giết ông. Nhưng ông phải im lặng tuyệt đối vì ông biết sợ Lê Duẩn. biết sợ Lê Đức Thọ, biết sợ Mai Chí Thọ, biết sợ Trần Quốc Hoàn, biết sợ Phạm Hùng, biết sợ Đỗ Mười... nhà sư Trí Quang quá hiểu bọn lãnh đạo của Việt Cộng sẵn sàng giết ông nếu…
Chú thích : nhà sư Thích Trí Quang chỉ sợ một mình Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan, mùa hè 1966, nếu Thích Trí Quang dù ở trong chùa Từ Đàm mà Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan vẫn ra lệnh cho Cảnh Sát xông vào chùa, đến tận phòng riêng của ông khiêng ông ra khỏi chùa Từ Đàm. Đại Tá Loan bắt giữ nhà sư Trí Quang đưa lên phi cơ trực thăng chuyển vào Đà Nẵng ngay. Khi bay qua Đèo Hải Vân, Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan chỉ vào mặt Thích Trí Quang :" ĐM. thằng Trí Quang, mày là thằng VC, tao đạp mày xuống biển bây giờ". Đại Tá Loan đứng dậy xấn tới, một số sĩ quan tùy tùng đứng ra ngăn cản và Thích Trí Quang quỳ xuống lạy xin tha. Đại Tá Loan trở về chỗ ngồi và khi phi cơ trực thăng tới Đà Nẵng, Thích Trí Quang được chuyển qua C47 bay vào Sài Gòn rồi bị nhốt tại Nha An Ninh Quân Đội. Nhà sư Thích Trí Quang thừa biết là không nên chọc giận ông Sáu Lèo (hỗn danh của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan mà báo chí Sài Gòn thường gọi ông), một quân nhân thuần túy không làm chính trị và nổi tiếng với những hành động táo bạo.
Thân phụ Đại Tá Loan làm việc tại Tổng Liên Đoàn Lao Công của ông Trần Quốc Bửu, thân phụ Đại Tá Loan kể chuyện này cho ông Trần Quốc Bửu và Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu – thời điểm đó Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu làm cố vấn pháp luật cho Tổng Liên Đoàn Lao Công. Sau này khi Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu đắc cử dân biểu Quốc Hội Lập Hiến 1966 và làm Chủ Tịch Ủy Ban Tư Pháp Định Chế của Hạ Nghị Viện, Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu có hỏi Đại Tá Loan về việc này, Đại Tá Loan cho biết ông không đạp Thích Trí Quang xuống biển không phải vì Thích Trí Quang đã quỳ lạy xin tha mà vì ông lượng giá Thích Trí Quang là người gây rối nhưng chưa đến mức nguy hiểm. Nguy hiểm như Phạm Ngọc Thảo là ông tiêu diệt ngay. Hiện nay, những người biết chuyện này chỉ còn cựu Trung Tá Nguyễn Mâu, nguyên Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Giám Đốc Nguyễn Ngọc Loan hồi 1966 – 1968 , là còn sống tại thành phố San José. Năm nay cự Trung Tá Nguyễn Mâu đã được 87 tuổi, tuy đã già yếu nhưng vẫn còn minh mẫn và vẫn thường xuyên trao đổi email với người viết.
Không biết Tiến Sĩ Cao Huy Thuần và Tiến Sỹ Thái Kim Lan có đọc tác phẩm ĐÈN CÙ của nhà văn Trần Đĩnh hay không ? Chắc là không, trong tác phẩm này bạn của ông Trần Đĩnh (là bí thư của ông Trường Chinh) kể rằng ông ta lấy làm lạ là làm lớn như ông Trường Chinh mà khi đi làm ông Trường Chinh mang theo chai nước uống và thức ăn do bà Trường Chinh tự tay làm. Những lúc Quốc Hội quá bận không có thì giờ để ăn trưa, ông Trường Chinh nhịn ăn luôn, rồi mang thức ăn mà ông đem theo (để ăn trưa) về nhà. Người bạn của ông Trần Đĩnh hỏi ông Trường Chinh lý do tại sao lại chịu khổ như vậy, ông Trường Chinh trả lời : "phòng thủ kỹ lưỡng như vậy thì mới sống còn đến bây giờ". (Ghi chú : ông Trường Chinh tuyệt đối không ăn không uống bất cứ thứ gì của căng tin tại Quốc Hội ở Hà Nội, chắc chắn ông còn nhớ Phó Chủ Tịch Quốc Hội là Dương Bạch Mai bị đầu độc tại buổi ăn trưa trong phòng ăn tại Quốc Hội hồi 1967 !)
Người viết tin rằng nhà sư Trí Quang có cuộc sống đơn giản như ông Cao Huy Thuần mô tả, nhưng biết đâu nhà sư Trí Quang cẩn thận "phòng thủ thụ động" như ông Trường Chinh vậy thôi. Nhờ BIẾT SỢ để giữ "im lặng khó hiểu" của nhà sư Trí Quang sau 1975 và tự mình phòng thủ kỹ lưỡng nên mãi tới 96 tuổi, nhà sư Thích Trí Quang mới qua đời một cách tự nhiên (chứ không như qua đời mà để lại nhiều nghi vấn như Thượng Tọa Thích Trí Thủ hồi 1982). Nhóm từ "im lặng khó hiểu" là của Tiến Sỹ Cao Huy Thuần sử dụng, chứ không phải của người viết đặt để cho nhà sư Thích Trí Quang.
Nhà sư Thích Thiện Minh bị bắt và bị giết sau đó không lâu vì ông chửi Việt Cộng quá xá. Ít ai biết rằng Đỗ Trung Hiếu là em con ông chú của nhà sư Thích Thiện Minh (tên tục của nhà sư Thích Thiện Minh là Đỗ Như Hàng –con ông bác, Dỗ Trung Hiếu là con ông chú). Trước 1975, Đỗ Trung Hiếu núp trong Cư Xá Quảng Đức và Đại Học Vạn Hạnh, mớm mồi và bày kế cho Thích Thiện Minh chống phá chính quyền VNCH. Sau 30 tháng 4 năm 1975, Đỗ Trung Hiếu ra mặt lộ diện là "cán bộ Tôn Giáo Vận" của Việt Cộng, ra lệnh cho ông anh Thích Thiện Minh phải làm một số việc.
Nhà sư Thích Thiện Minh lâu nay cứ nghĩ là những việc làm chống phá chính quyền VNCH là của ông nghĩ ra, nay ông thấy là ông đã bị Đỗ Trung Hiếu xỏ mũi, giật dây nên ông rất tức giận và mắng chửi VC thậm tệ. Những người bạn đồng tù với nhà sư Thích Thiện Minh không thấy ông bị đâm, nhưng ông la to trước khi chết nên người ta biết ông bị giết bằng dao chứ không phải ông bị tra tấn đánh đập rồi bị dập lá lách hay bể thận (nội tạng) như VC tung tin.
Người viết được Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu – nguyên chủ tịch Ủy Ban Tư Pháp Định Chế Hạ Nghị Viện VNCH nhiệm kỳ 1971 – 1975 kể cho nghe thông tin này từ hồi 1988 khi cả 2 chúng tôi cùng bước vào Trại Tỵ Nạn Phanat Nikhom – Thái Lan. Luật Sư Nguyễn Hữu Hiệu đã qua đời hồi 2008 tại bệnh viện Irvine vì bị ung thư bao tử, thọ 70 tuổi. Người tù chính trị ở tù chung tại D6 với nhà sư Thích Thiện Minh thì vẫn còn sống tại VN, nên người viết thấy không cần phải nêu tên người tù chính trị đặc biệt này.
Cái chết của nhà Thích Thiện Minh rõ ràng là lời đe dọa thực tế nhất đối với nhà sư Trí Quang cho nên các nhà sư lãnh đạo khác của GH Ấn Quang như nhà sư Thích Mãn Giác, nhà sư Thích Hộ Giác, nhà sư Thích Thiền Định và một số các nhà sư khác mà người viết không biết tên đã tìm đường "vượt biên" như các boat people khác. Nhà sư Thích Trí Quang trong bài phỏng vấn do bác sĩ Thân Trọng Minh thực hiện có trả lời là Cách Mạng chiếm được miền Nam thì "Chạy đi mô" ?
Ông trả lời đúng sự thật, nhưng có vẻ "thiếu thông minh" vì những nhà sư lãnh đạo PG Ấn Quang như Thích Trí Quang, Thích Nhất Hạnh, Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ.. là những người mời VC, đưa đường dẫn lối cho VC và biểu tình đón rước VC tiến chiếm VNCH… thì chạy đi trốn VC là một việc thiếu liêm sỉ. Ở lại Việt Nam sẽ bị Việt Cộng đày đọa, bị trù dập, bị đồng bào phật tử trách móc, bị ta thán… nhưng ít ra còn giữ được LIÊM SỈ. Các nhà sư lãnh đạo GH Phật Giáo Ấn Quang giữ được LIÊM SỈ tương tự như Thúy Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh mà thi hào Nguyễn Du mô tả qua câu thơ :
CHỮ TRINH CÒN LẠI CHÚT NÀY.
Khoảng những năm 2008 – 2009, khi ông Liên Thành tung ra 2 quyển sách có tựa đề BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG 1966 và THÍCH TRÍ QUANG – TỘI ĐỒ DÂN TỘC với chứng từ và hình ảnh minh họa rõ ràng thì dư luận quần chúng Việt Nam lại chứng kiến phe cuồng tín của Phật Giáo Ấn Quang đưa ra những câu hỏi rất là ngô nghê và ngu dốt (lịch sự hơn, người viết tạm dùng nhóm từ VÔ MINH để diễn tả). Bọn cuồng tín này đã cho rằng :
A. Ông Liên Thành đã rửa tội theo Thiên Chúa Giáo vì chỉ có kẻ "tân tòng" mới dám chống phá Phật Giáo Ấn Quang và bôi bác Thánh Tăng Thích Trí Quang, tuy nhiên họ không đưa ra được những chứng cớ và hình ảnh nào chứng minh được ông Liên Thành đã "rửa tội" để trở thành tín đồ tân tòng của Giáo Hội Công Giáo.
B. Nhóm tín đồ cuồng tín của PG Ấn Quang không tin vào những hình ảnh và chứng từ mà ông Liên Thành trưng ra trong 2 quyển sách nói trên là của CIA. Tháng 11/ 1974 ông Liên Thành bàn giao chức vụ Chỉ Huy Trưởng CSQG tình Thừa Thiên cho Trung Tá Hoàng Thế Khanh rồi vào Sài Gòn trình diện ở Bộ Tư Lệnh CSQG, nhưng ông không làm việc tại đây mà ông chuyển qua làm việc tại Nha Cứu Trợ Nạn Nhân Chiến Cuộc Cộng Sản do Đại Tá Tôn Thất Khiên làm Giám Đốc (vì sau khi Phước Long thất thủ, Cộng Sản Bắc Việt tấn công toàn diện VNCH, số người bỏ chạy Cộng Sản về các thành phố tỵ nạn dâng cao).
Khi rời Thừa Thiên ông Liên Thành không có quyền đem theo các tài liệu của Bộ Chỉ Huy CSQG Thừa Thiên, và khi ông trình diện tại Bộ Tư Lệnh CSQG tại Sài Gòn, ông Liên Thành cũng không có quyền vào Nha Văn Khố sao lục các giấy tờ lưu trữ của Nha Văn Khố của Cảnh Sát Đặc Biệt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, giới chức cao cấp nhất của Cảnh Sát Đặc Biệt có mặt tại Bộ Tư Lệnh CSQG là Trung Tá Nguyễn Hữu Hải, chính Trung Tá Nguyễn Hữu Hải là người ra lệnh thiêu hủy các tài liệu của Nha Văn Khố trước khi Việt Cộng vào đến Bộ Tư Lệnh CSQG. Trung Tá Nguyễn Hữu Hải bị VC giam cầm hơn 17 năm, ông ra khỏi nhà tù sau cả Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, và từ nhà tù Z 30 ở Hàm Tân ông được đưa thẳng ra phi cơ bay sang Hoa Kỳ vào năm 1993. Người viết đã gặp Trung Tá Nguyễn Hữu Hải nhiều lần từ khi ông sang Hoa Kỳ đến khi ông qua đời vào khoảng 2010 vì tuổi già và bệnh tật, hưởng thọ 78 tuổi.
Ông Liên Thành khi rời VN năm 1975 không mang giấy tờ gì cả, nhưng nhờ đao luật các hồ sơ CONFIDENTIAL được phép giải mật sau 30 năm nên ông đã nhờ vị cố vấn của CSQG tỉnh Thừa Thiên sao chép. Đó cũng là những messages mà Tình Báo Hoa Kỳ muốn bạch hóa cho người Việt biết những hoạt động của Khối Ấn Quang và Thích Trí Quang tại Huế và Thừa Thiên.trước 1975.
Đầu thập niên 1980, nhà văn Nguyễn Tuân (tác giả tập truyện VANG BÓNG MỘT THỜI) vào Sài Gòn đi thăm một số bạn bè quen biết trước đã di cư vào Nam, có tâm sự là : "sở dĩ ông sống yên ổn được tới bây giờ là vì ông BIẾT SỢ".
Người viết chọn động từ BIẾT SỢ làm tiêu đề bài viết về Thích Trí Quang vì cho rằng đây là CHÌA KHÓA GIẢI MÃ SỰ IM LẶNG KHÓ HIỂU của THÍCH TRÍ QUANG sau 1975 mà nhiều người Việt Nam vẫn còn thắc mắc vì nhà sư Thích Trí Quang hoàn toàn im lặng không thổ lộ, không để lại bút tích chứng từ nào giải thích về sự im lặng của ông. Tất cả những lời lý giải của các Tiến Sĩ Cao Huy Thuần, Tiến Sỹ Thái Kim Lan, Tiến Sĩ Trần Kiêm Đoàn, Cao Học Hành Chánh Đào Văn Bình, Tiến Sỹ Huỳnh Tấn Lê…đều chỉ là những "phỏng đoán" và mang tính cách tuyên truyền đánh bóng cho cá nhân nhà sư Thích Trí Quang cũng như bao biện cho lập trường tự làm tay sai cho Việt Cộng của tập đoàn Ban Lãnh Đạo Giáo Hội Phật Giáo Khối Ấn Quang.
Theo suy nghĩ riêng của người viết, những lý giải mang tính cách tuyên truyền của các khoa bảng phật tử vừa nêu, chỉ nói lên được hiện tượng MẸ HÁT, CÁC CON VỖ TAY KHEN HAY, chứ không thể là những bản văn ghi lại những sự kiện lịch sử để các nhà nghiên cứu lịch sử mổ xẻ những vấn đề phức tạp về lịch sử và chính trị của Việt Nam cận đại.
Tiên Tri là biết trước một số sự việc qua trực giác.
Viễn kiến là thấy xa một số sự kiện qua suy diễn, lý luận dựa theo sự hiểu biết và thông tin của người nói.
Thí dụ minh họa : Ông Nostradamus là nhà tiên tri, trong khi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có viễn kiến. Cả 3 nhân vật Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng và vua của nhà Mạc hỏi Trạng Trình đều là những người có quyền có quân trong tay, họ chỉ bí lối trước những vấn đề khó xử, nhưng khi Nguyễn Bỉnh Khiêm mách nước cho họ, họ tự quyết định và tự làm theo quyền năng của họ mà không có bất cứ sự kìm cặp nào của Trạng Trình.
Cái hay của Trạng Trình là ông trả lời khơi khơi, ai khôn mà hiểu ý của ông thì tự thi hành, ai ngu không hiểu thì chết ráng chịu. Thích Trí Quang thì không phải là nhà tiên tri, ông này cũng chẳng có tài cán như Trạng Trình nên đã bị "hố" nặng trong chính trường miền Nam từ 1966 đến tận 1975. Vậy mà các khoa bảng tay sai của PG Ấn Quang vẫn tôn thờ Thánh Tăng Thích Trí Quang và số phật tử cuồng tín của Huế - Thừa Thiên vẫn không nhận ra sự yếu kém của Trí Quang, thì rõ ràng bị "chết ráng chịu " (nhớ là đừng có kêu gọi chính phủ Mỹ và chính giới Mỹ giúp đỡ đấy nhé : chính phủ Mỹ chưa ngu để sử dụng tiền thuế của nhân dân Mỹ đi yểm trợ cho những kẻ luôn miệng kêu gào CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC hay hoặc DÁNH CHO MỸ CÚT, ĐÁNH CHO NGỤY NHÀO !!!)..
Viết xong tại San José ngày 18 tháng 11 năm 2019.
Trần Trung Chính

Monday, August 12, 2019

BẢN XUỐNG TIẾNG
Ngày 4 tháng 8 năm 2019 vừa qua, buổi tổ chức gây quỹ để hỗ trợ nạn nhân FORMOSA tại nhà hàng Dynasty trên đường Story đã có xảy ra vụ rắc rối, số là một số thực khách tham dự đã phản đối BTC là đã để ca sỹ Nguyễn Hồng Nhung hát nhạc của Việt Cộng. MC Đỗ Quang Hưng đã tới bàn tiệc “ban lời giáo dục” cho những vị khách đã phản đối ca sỹ Nguyễn Hồng Nhung như sau : “quý vị phải tranh đấu smart chứ không phản đối như vậy”. Lời nói của Đỗ Quang Hưng có hơi hướm của một quản giáo trong Trại Cải Tạo của VC hồi thập niên 70 – 80 của thế kỷ 20 !!! Cá nhân người viết đã rời trại tù 35 năm rồi, vậy mà nghe Đỗ Quang Hưng nói mà trong lòng nổi lên sự “bất nhẫn” và cảm giác “ớn ăn” vẫn tái hiện trở lại.
Cũng có người cho rằng nghe Đỗ Quang Hưng nói cứ tưởng như "Vạn Thế Sư Biểu" Khổng Tử đang giảng dạy “phép xử thế”cho các đệ tử như Nhan Hồi, Tử Lộ, Mạnh Tử…Với tính chất “nghiêm trọng” như vậy (xin hiểu “nghiêm trọng” có nghĩa là “nghiêm trang và trân trọng”, người viết gửi đến các vị có liên quan như bà Nancy Bùi, ông Nguyễn Nam Lộc, bà Lệ Điệp, ông Đỗ Quang Hưng…(và vài người nữa trong BTC mà tôi chưa biết danh tính) phải gấp rút mở ra HỌC VIỆN ĐÀO TẠO NHỮNG NGƯỜI CHỐNG CỘNG THÔNG MINH.
Theo tôi, chương trình huấn luyện của HỌC VIỆN nên dàn trải các môn học như là :
1/ Kỹ thuật BƯNG BÔ + ĐỘI ĐĨA KHÉO LÉO
2/Môn học TỰ TẨY NÃO, môn này có công dụng là tự mình xóa bỏ dước QUÁ KHỨ để HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI.
3/Môn chối bỏ LIÊM SỈ, nhờ bộ môn này mà các học viên đang có LIÊM SỈ sẽ trở thành những kẻ PHJ LIÊM SỈ.
Thế kỷ 13, tướng Trần Bình Trọng bị giặc Nguyên bắt tại chiến trường, ông đã bị xử trảm vì : “Thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc” . Thế kỷ 19, Tổng Đốc Nguyễn Tri Phương bị giặc Pháp bắt tại Hà Nội, ông xé các băng chữa thương mà các bác sỹ người Pháp cấp cứu khi ông bị thương và cương quyết không ăn không uống cho đến chết. 
Nhạc sĩ Phạm Tuyên
Thế kỷ 20, nhạc sỹ Phạm Tuyên đã sáng tác bản nhạc NHƯ CÓ BÁC HỒ TRONG NGÀY VUI ĐẠI THẮNG, trong khi Việt Cộng đã giết cha của ông là thượng thư Phạm Quỳnh vào năm 1945 tại Huế. Ngày 30 tháng 4 năm 1945, trong lúc đầu hàng Việt Cộng tại Dinh Độc Lập_ Sài Gòn, thủ tướng Vũ Văn Mẫu đã nói với tên sĩ quan Việt Cộng : “Như vậy là tôi không cần cạo đầu nữa phải không ?”
Đất nước Việt Nam còn trường tồn mãi mãi vì có những người dư thừa LIÊM SỈ nhưng ít thông minh như tướng Trần Bình Trọng, như Tổng Đốc Nguyễn Tri Phương, và nhiều nhiều các bậc anh hùng liệt sĩ khác mà tôi không thể liệt kê trong BẢN XUỐNG TIẾNG này. Trong khi đó, chế độ tàn bạo của Việt Cộng đã trở nên hùng mạnh vì có những kẻ quá thông minh nhưng chối bỏ LIÊM SỈ như Phạm Tuyên, như Vũ Văn Mẫu…
4/ Môn học hóa trang + make up và tự tạo mặt nạ , những người chống Cộng thông minh có khuôn mặt giống như CON BỌ NGỰA CÁI nên cần trau dồi kỹ lưỡng kỹ lưỡng môn học này để người đời vẫn tưởng họ là CON NGƯỜI.
5/ Môn ĂN NÓI TRÁO TRỞ LƯƠN LẸO để dẫn dụ những kẻ không thông minh thực hiện những mục tiêu mà những kẻ thông minh mong muốn.
Thói thường, BẢN LÊN TIẾNG có tính cách thách thức hay người viết muốn được can dự vào một biến cố nào đó, nhưng BẢN XUỐNG TIẾNG này không có tính cách thách thức mà chỉ mang tính cách thỉnh cầu năn nỉ.
Nhưng để chứng tỏ ưu thế của con người thông minh, tôi tin chắc là quý ông bà được nêu tên : bà Nancy Bùi (bút hiệu Triều Giang), ông Nam Lộc, ông Đỗ Quang Hưng, Bà Lệ Điệp… sẽ hồi đáp trong vòng thời gian sớm nhất.
Vấn đề mà tôi nêu ra trong BẢN XUỐNG TIẾNG này mang tính LOGIC cho nên tôi muốn các ông bà chỉ nêu YES hay NO, không nên trả lời bằng cách đánh trống lảng hay biện luận quanh co làm mất thì giờ đối đáp qua lại :
1) Nếu YES, nghĩa là thuận theo lời đề nghị mở trường thì khi nào khai giảng lớp đầu tiên và địa điểm của trường.
2) Nếu NO, nghĩa là không đồng ý mở trường thì 4 vị cũng phải nêu lý do.tại sao không nên.
Quý vị sẽ tạo một công đức rất lớn cho người Việt tỵ nạn trên toàn thế giới khi chuyển biến họ từ những kẻ CHỐNG CỘNG KHÔNG THÔNG MINH trở thành NHỮNG NGƯỜI CHỐNG CỘNG THÔNG MINH. Ân đức như trời biển này sẽ được CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI đền đáp bằng cách đúc tượng tri ân cả 4 vị như CỘNG ĐỒNG đã đúc tượng tri ân ĐỨC THÁNH TRẦN vậy.
Nay thông tri cùng toàn thể người Việt hải ngoại trên toàn thế giới.
San José ngày 11 tháng 8 năm 2019
Trần Trung Chính

Monday, March 19, 2018

2 CON NHÃI RANH
Trần Trung Chính
Từ điển tiếng Việt định nghĩa :
NHÃI : bé con hay động vật còn nhỏ, chẳng đáng phải chú ý. Thí dụ : sợ gì thằng nhãi ấy.
NHÃI CON : trẻ nhò,con vật còn ít tuổi (hàm ý khinh thường)
NHÃI RANH : người còn nhỏ tuổi, trẻ tuổi, chưa hiểu biết gì.
Người viết chọn NHÃI RANH để chỉ đến 2 người trẻ đang là đề tài bàn luận trong cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại đó là Luật Sư Trần Kiều Ngọc và Nancy Nguyễn (không rõ học vị và tình trang gia đình của Nancy Nguyễn). Mặc dù có học vị và ăn nói lưu loát cả 2 ngôn ngữ Anh – Việt, người viết xếp loại 2 người này là NHÃI RANH vì cả 2 chưa hiểu biết gì Cộng Sản nhất là Cộng Sản Việt Nam.
Cuối thập niên 1950, một y sĩ quân y của Australia (có tham dự trận chiến Triều Tiên 1950 – 1953) viết một quyển sách về Cộng Sản mà dịch giả Việt Nam dịch ra tựa đề BẠN ĐÃ HIỂU GÌ CỘNG SẢN ĐỂ CÓ THỂ TRỞ THÀNH ĐẢNG VIÊN CỘNG SẢN ? (người viết đọc quyển sách dịch này vào năm 1968). Tựa đề là như vậy, nhưng khi đọc xong, độc giả không trở thành Đảng Viên Cộng Sản mà lại “Chống Cộng Sản” tích cực và hữu hiệu hơn.
Bác sĩ Trần Văn Tích đã góp ý và nêu nhận định của ông trên bài viết, vì ông có quá nhiều kinh nghiệm và từng trải trong công việc chống Cộng, chính thái độ tự cao tự đại xem thường phản ứng của người Việt Hải Ngoại của 2 nhãi ranh này đã khiến người viết lên tiếng trong bài viết này.
Một số ủng hộ viên của 2 con nhãi ranh này biện luận trên các diễn đàn internet cho rằng những “cô chú bác…lớn tuổi không nên đánh phá những công việc làm của những người trẻ “ mà phải nên nhẹ nhàng chỉ bảo những thiếu sót, những thiếu kinh nghiệm (đó là chưa kể có những trẻ con sống lâu năm kêu gọi hãy cùng ĐỒNG HÀNH  với giới trẻ! sic!)…Bản thân người viết bài này bác bỏ những luận điệu ru ngủ và bao che kẻ gian “không chống Cộng mà chỉ chống cái Ác” như vậy.
Nhà cách mạng Lý Đông A tên thật là Nguyễn Hữu Thanh, năm sinh 1920, trước 1945 đã viết sách chính trị và học thuyết chính trị rất được các bậc thức giả kính nể. Ông cũng là sáng lập viên của DUY DÂN QUỐC DÂN ĐẢNG. Năm 1946, ông bị Hồ chí Minh và Đảng Cộng Sản sát hại, hưởng dương 26 tuổi. Cùng thời gian đó lãnh tụ của Đại Việt Quốc Dân Đảng là ông Trương Tử Anh cũng bị sát hại cùng với các chiến sĩ các đảng phái Quốc Gia khác. Tôi gọi những chiến sĩ Quốc Gia bị VC giết hại là những người ĐỒNG HÀNH với nhau đi trên con đường mưu tìm Độc Lập cho nước Việt. Trong khi đó, Giáo Hội PG Ấn Quang lại cộng tác với VC mà chính nhà sư Thích Huyền Quang tuyên bố Phật Giáo Việt Nam “đồng hành” với Cách Mạng !!! (thời điểm vào khoảng những năm đầu của thập niên 1980).
Cá nhân người viết bài có bày tỏ suy nghĩ của mình với anh Nguyễn Như Quỳnh – Đại Úy khối Chiến Tranh Chính Trị của Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa rằng nhiều người cùng hướng tới mục tiêu và mục đích cao đẹp như các chiến sĩ các đảng phái Quốc Gia thời 1945 – 1946 thì mới xứng đáng mang danh xưng ĐỒNG HÀNH, chớ còn mấy ông sư của Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang đi theo bọn VC cướp của giết người khủng bố sát hại dân lành với những thủ đoạn ghê rợn thì là ĐỒNG LÕA với kẻ ác mới đúng.
Thế hệ của mẹ tôi (bà sinh năm 1920), không được đi học cao như thế hệ phụ nữ cùng thời với tôi (năm sinh của tôi là 1950), mẹ tôi cũng chưa bao giờ đọc Tư Bản Luận của Marx – Engels, chưa bao giờ đọc Lenin Toàn Tập, Stalin Toàn Tập hay Mao Trạch Đông Tuyển Tập…nhưng nhận định của bà đúng 100%, bà mẹ tôi nói: “ những tên Cộng Sản đem đấng sinh thành ra vu cáo và đấu tố đều là những quỷ sứ đáng bị giết bỏ để khỏi làm hại thêm nhiều người khác, còn những tên khoa bảng đậu 2-3 bằng tiến sĩ nhưng tán dương cái gọi là Cuộc Cách Mạng Long Trời Lở Đất thì đều là LŨ NGU ĐẦN hết cả.
Năm 1978, khi bị bắt cầm tù tại trại Bình Điền – tỉnh Bình Trị Thiên (về tôi vượt biên trái phép qua ngả Khe Sanh – Lao Bảo), tôi được Thiếu Tá Trần Công Nhượng – Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến của Sư Đoàn 1 Bộ Binh giới thiệu và quen biết một nhân vật đặc biệt. Thiếu Tá Nhượng nói : “đây là một trung đội trưởng Nghĩa Quân của quận Phú Thứ - tỉnh Thừa Thiên. Anh này có tên ngắn nhất Việt Nam, cả họ và tên chỉ có 5 mẫu tự, nhưng ý nghĩa thì dài nhất Việt Nam vì không biết khi nào chấm dứt, tên anh là LÊ THÊ ”. Anh là con người  đặc biệt vì trong nhiều năm liên tiếp được đề cử là CHIẾN SĨ XUẤT SẮC của Quân Đoàn 1 vào Sài Gòn được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ban thưởng huy chương và bằng khen, chiêu đãi tại DINH ĐỘC LẬP rồi sau đó được sang Đài Bắc du lịch và thăm viếng đảo quốc ĐÀI LOAN.
Người viết xin tóm lược một phần cuộc điều tra của ”chấp pháp” (danh xưng của viên chức Cộng Sản phụ trách việc điều tra thẩm vấn) với anh Lê Thê :
-CP(viết tắt của Chấp Pháp): anh là tên lính ngụy ác ôn, đã giết hàng nghìn chiến sĩ Cách Mang…
-LT : mấy ông bây giờ thắng tụi tui rồi, muốn nói sao thì nói chớ làm gì có chuyện tui giết được mấy ngàn chiến sĩ Cách Mạng…
-CP : anh lại ngoan cố chạy tội chớ gì, nếu anh không giết, chảng lẽ tất cả các chiến sĩ Cách Mạng chết vì rắn cắn hay sao ?
-LT : chuyện rắn cắn thì tui không biết, chớ ông nói chuyện vô lý tui không chịu. Mấy ông có súng ở trong bưng ra kiếm tui, gặp nhau ai bắn nhanh thì sống, ai bắn chậm thì chết, chớ tui đâu có bắn người tay không. Chuyện vô lý thứ hai là nếu tôi giết được cả ngàn chiến sĩ Cách Mạng, thì người ta ban thưởng lên chức tới Thiếu Tá, Trung Tá rồi …chứ có đâu chỉ là anh lính làng cả chục năm nay như vậy.
-CP : cứ cho là một mình anh không giết được cả ngàn chiến sĩ Cách Mạng, nhưng anh gọi pháo binh, máy bay trợ giúp anh thì sao?
-LT : tụi tui lính làng chỉ có khoảng 25 – 30 người, mà mấy ông đi đông quá thì tôi phải gọi pháo binh với máy bay yểm trợ chớ. Phải chi mấy ông cho tui biết trước thì tui lánh mặt đi chỗ khác thì đâu có sao…
CP: thôi im đi, không cho anh biết trước mà đại đội quân Cách Mạng chỉ còn 2 người sống sót. Cho anh biết trước thì chắc là đại đội chết hết không còn ai…
Cuộc thẩm vấn thị uy chả đi đến đâu vì tù nhân Lê Thê cứ trả lời tửng tửng nhất quyết  không nhận tội gì cả. Anh cho tôi biết anh không sợ gì hết vì nếu VC muốn giết anh thì chúng đã giết từ khi mất HUẾ  (HUẾ mất ngày 24 tháng 3 năm 1975) rồi. Trả lời kiểu tửng tửng như vậy thì chúng sẽ chỉ thẩm vấn một lần rồi thôi, còn nếu run sợ nhận tội rồi xin khoan hồng thì sẽ bị hạch hỏi hoài.
Nhận xét của người viết :
Những người tù nếu bị mất sức đề kháng của ý chí thì sẽ bị ăn hiếp đe dọa hoài hoài, Thí dụ minh họa : một anh tù hình sự vì ăn trôm quà tặng  của Trung Tá Trại Trưởng Trại Cải Tạo (ông này đem 2kg tiêu mà trại trồng để lên Huế tặng cho Đại Tá  Trưởng Ty Công An). Vì không bắt được quả tang nên bọn vệ binh xúm nhau đập anh tù hình sự này, mới bị đấm đá  vài cái, anh tù hình sự nói : “các anh đánh tôi kiểu này thể nào tôi cũng chết, vậy xin cho tôi ngó mặt các anh thật kỹ và muốn biết tên của từng anh…” . Bọn công an nhao nhao hỏi lại : “ngó mặt rồi hỏi tên tụi tao để làm chi vậy?”. “Tôi xuống địa ngục trước, mấy anh sẽ xuống sau, chừng đó tôi sẽ đi kiếm mấy anh để trả đũa chuyện bữa nay mấy anh đánh tôi tới chết” . Tuy là đảng viên Cộng Sản Sản không tin vào chuyện tâm linh, nhưng nghe nói xuống địa ngục anh tù này sẽ đi kiếm để trả thù thì mấy tên công an VC cũng ớn ớn. Que sera sera  ! thế là anh tù hình sự khỏi phải bi tra tấn mà chỉ bị nhốt trong nhà tù nghiêm giam có 2 tuần thôi.
Bọn VC địa phương thù oán anh Lê Thê nhưng không biết anh ở đâu nên có đi tìm nhưng không kiếm ra, số là ngày 18 tháng 3 năm 1975, liên trung đội Nghĩa Quân của chi khu Phú Thứ được lệnh tăng phái cho chi khu Nam Hòa. Hết đạn nên anh Lê Thê và các bạn bị bắt làm tù binh. Vì sợ bị phản công, nên VC đưa tù binh qua Lào giam giữ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng VC anh cũng không hay biết gì hết (sau đó bọn VC mở loa bắt tất cả tù binh nghe, anh Lê Thê mới biết tin). Mãi tới gần 01 năm sau, số tù binh bị chuyển qua Công An coi giữ nên khó có thể trả thù cá nhân như lúc buổi giao thời.
Anh Lê Thê tâm sự với tôi anh chỉ học tới lớp ba trường làng và tình nguyện đi lính Nhảy Dù từ 1957. Sau 1960, MTGPMN ra đời, bọn VC địa phương giết người khủng bố với bản án gắn trên ngực nạn nhân là tay sai Mỹ Diệm. Anh Lê Thê biết những người bị giết không phải là tay saI MỸ - DiỆM gì hết (vì họ mù chữ) chẳng qua họ chịu khó làm ăn nên có của. Bọn VC địa phương bắt ép họ phải “đóng thuế”, họ không chịu nên chúng giết người ta. Cái gì ban phép cho chúng làm chuyện bậy bạ đó ? Cây Súng và Mã Tấu. Vì vậy anh Lê Thê trình với cấp chỉ huy của Nhảy Dù là đơn vị Nhảy Dù không có anh, không sao, nhưng làng xã và thân nhân bạn bè trong làng cần người như anh bảo vệ họ. Thế là anh về làng gia nhập lính Dân Vệ (tên cũ của Nghĩa Quân).
Anh Lê Thê cho biết từ 1960 đến 1975 anh vẫn sống vững vì phân biệt rõ ràng BẠN – THÙ, gặp VC là anh bắn trước không lôi thôi quyến dụ gì hết. Ưu điểm của anh là chưa bao giờ bắn nhầm vào thường dân vô tội, anh nói là người địa phương nên Ông nội của thằng VC anh còn biết, huống hồ là nó.
Tôi hỏi anh tại sao hồi Tết Mậu Thân 1968, người Huế bị VC giết và chôn sống tới 7,000 người như vậy. Anh nói những người bị giết vì chưa hiểu VC, như anh nếu VC kêu trình diện anh không bao giờ trình diện mà anh sẽ ngồi nhà mang vũ khí chờ VC tới kiếm. Khi bọn VC tới kiếm, anh sẽ nổ súng giết ít nhất 3-5 thằng, rồi anh sẽ bị chúng giết nhưng lợi điểm là vợ con còn chôn được thân xác của mình. 7 ngàn người đi trình diện ở Huế hồi Mậu Thân vì nghĩ rằng bọn VC sẽ để cho mình sống nhưng kết quả là bi giết hết cả. Đã không giết được thằng VC nào cả mà thân xác cũng chẳng biết bị giết ở đâu khiến thân nhân vợ con không biết đằng nào mà tìm.
Nêu 2 trường hợp điển hình kể trên tôi muốn độc giả hiểu cho rằng những người chống Cộng quyết liệt và hữu hiệu đều không phải xuất phát từ khoa bảng chữ nghĩa, họ chống Cộng vì bản thân họ đã từng trải nghiệm hay họ có kinh nghiệm về Cộng Sản từ những điều họ quan sát qua những nạn nhân của Cộng Sản. Họ không có khả năng viết sách, không có khả năng diễn thuyết, không có khả năng tuyên truyền khuyến dụ người khác nhưng họ không NGU. Trái lại những kẻ tự hào là có khoa bảng, bằng cấp đại học của Anh, Pháp, Mỹ…nhưng theo đuôi VC lại là những tên NGU XUẨN + ĐẦN ĐỘN nhất thế giới. Danh sách tôi liệt kê sau đây tuy nhiều nhưng chắc chắn chưa đủ (quý độc giả có thể thêm vào danh sách này những tên khoa bảng ngu xuẩn + đần độn mà tôi còn thiếu sót. Xin cảm ơn trước) :
1) Võ Nguyên Giáp 2) Hồ chí Minh 3)Nguyễn Mạnh Tường 4) Trần Đức Thảo 5)Huỳnh Tấn Phát 6) Dương Quỳnh Hoa 7) Trương Như Tảng 8) Nguyễn Hữu Thọ 9) Phùng Văn Cung 10) Phạm Thị Thanh Vân (tức là Bà Ngô Bá Thành) 11) Lý Chánh Trung 12) Nguyễn Văn Trung  13) Châu Tâm Luân 14) Tố Hữu 15) Xuân Diệu 16) Lưu Trọng Lư 17) Phạm Huy Thông  18) Nhất Hạnh 19) Thích Trí Quang 20) Đặng Xuân Khu (bí danh Trường Chinh) 21)Nguyễn Hữu Hạnh 22)Ngô Vĩnh Long  23) Vũ Đức Vượng 24) Nguyễn Hữu Liêm 24)Lý Khôi Việt 25)Lê Trọng Văn 26) Vũ Hạnh 27)Sơn Nam  28)Thích Đôn Hậu 29) Thích Huyền Quang  30)Chân Tín 31) Nguyễn Ngọc Lan 32)Phan Khắc Từ 33)Vương Đình Bích 34)Trần Chung Ngọc 35) Hoàng Phủ Ngọc Tường 36) Hoàng Phủ Ngọc Phan 37) Nguyễn Khoa Điềm 38) Võ Đình Cường (lưu ý : số thứ tự là do người viết nhớ tới ai thì thêm vào trước sau , chứ không phải những người mang số lớn thì NGU ít hơn những người mang số nhỏ)………
Bà bác của tôi có thằng con trai lớn đi du học Âu Châu từ 1971 (người miền Bắc gọi anh của bố và anh chị của mẹ là bác), sang đó nghe theo lời dụ dỗ của “sinh viên yêu nước” nên sau 30 tháng 4 năm 1975, tên VC này viết thư “đấu tố”  2 ông bà bác của tôi như là : “tại sao bố mẹ nghe theo lời quyến dụ của Mỹ - Diệm mà di cư vào Nam để cho con không có cơ hội cống hiến phần đóng góp của mình vào công cuộc chống quân Mỹ xâm lược”. Bà bác của tôi tức giận quá, bà nói với đám con cháu như chúng tôi : “tao mà biết nó thành VC thì tao đã bóp mũi giết nó từ lúc mới đẻ ra, để bây giờ khỏi phải tức giận và nhất là nó sống rồi sẽ làm hại nhiều người khác”.
Bà bác của tôi là chị lớn của mẹ tôi, sau 20 tháng 7 năm 1954, bà ở lại để đưa vàng vòng của bà ngoại tôi ủy nhiệm để trao lại cho cậu út tôi theo kháng chiến chống Pháp từ 1946 lúc mới 15 tuổi.
Tưởng sao, cậu út của tôi từ chối nhận số vàng vòng này vì đã có Đảng và Nhà Nước lo rồi, không cần đến chị. Lúc đó, bà hết hồn vì thằng em của mình mà còn đối xử với mình như vậy thì ở lại chắc chắn là chết. Sau đó, cả gia đình bà bỏ lại ruộng vườn nhà cửa, trốn thoát khỏi Bắc Giang về Hà Nội rồi mua giấy tờ của những con buôn, tìm đường xuống Hải Phòng và theo giòng người di cư mãi tới 1956 mới vào đến Vũng Tàu. Năm 1977, cậu út của tôi vào Nam thăm gia đình 2 bà chị, bà bác tôi “khen đểu” ông cậu tôi qua câu nói : “nhờ cách đối xử của cậu hồi 1954 mà gia đình của chị được vào Nam sống tự do thoải mái không bị đấu tố, con cái được đi du học và được lên đại học”. Ông cậu tôi ngồi im thin thít không dám hó hé một tiếng phân trần nào cả. Ở chơi chừng một tháng, trước khi về Bắc, cậu tôi xin bác tôi cái xe Honda của thằng VC đang du học bên Âu Châu, bác tôi nói móc : “chị tưởng là Bác và Đảng lo cho cậu hết rồi mà, cậu đâu có cần chị nữa…”
2 con nhãi ranh cho rằng “ thế hệ trước làm sai đến độ mất nước để thế hệ trẻ phải lưu vong” thì đúng là vừa hỗn láo vừa ôm cái NGU ĐỘC QUYỀN. Hỗn láo giống hệt thằng VC con bà bác tôi chất vấn “tại sao bố mẹ nghe lời quyến dụ của Mỹ Diệm di cư vào Nam…_ vừa NGU ở chỗ là nếu bố mẹ của 2 con nhãi ranh không lưu vong thì thân phận của chúng chỉ là osin lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hay ở tại VN thì đi lươm ve chai với móc bọc nylon ở các bãi rác chứ làm gì được ăn học để trở thành Luật Sư, Bác Sĩ…
Chủ trương KHÔNG CHỐNG CỘNG – CHỈ CHỐNG CÁI ÁC để phù hợp với chiêu bài Phong trào Nhân Bản mà giới trẻ phát động, lại càng bày ra cái NGU BÌNH PHƯƠNG vì bọn VC là QUỶ SỨ từ hơn 60 năm nay rồi, bọn VC không phải là Người thì 2 chữ Nhân Bản chẳng có ý nghĩa gì cả. Khi đi học, mặc dù chưa được học tới bậc Kỹ Sư hay Bác Sĩ thì học sinh lớp 11 và 12 đều biết rằng có những thứ không được phép sờ mó vào để lấy kinh nghiệm. Thí dụ như chất phóng xạ hay dòng điện cao thế, những thứ này chạm vào là chết ngay lập tức không có cơ hội sống còn để rút kinh nghiệm.
2 con nhãi ranh tuổi đời suýt soát trên 30 không thể kêu gọi các bác các chú giúp đỡ chỉ bảo gì hết: chạm vào những thứ nguy hiểm thì vong mạng là điều chắc chắn (tuy sinh mệnh thân xác vẫn còn đó nhưng sinh mệnh lịch sử thì đã chết cứng ngắc).
Năm 1998, khi Nguyễn Cao Kỳ bày tỏ thái độ “bưng bô nịnh bợ” mấy thằng VC, luật sư Nguyễn Hữu Hiệu có làm một bài thơ ngắn có tựa đề TỪ ÔNG XUỐNG THẰNG (luật sư Nguyễn Hữu Hiệu cho biết là ông “nhại” theo bài thơ TỪ NGƯỜI XUỐNG VƯỢN của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện). Luật sư Hiệu còn giải thích thêm là phải gọi Nguyễn Cao Kỳ là THẰNG vì y ta không xứng đáng để gọi là ông.
Tương tự như vậy tôi gọi là 2 CON NHÃI RANH vì “lập trường và quan điểm chính trị “ của họ không đáng để tôi  gọi là CÔ  hay là BÀ. Và tôi cũng không đưa ra những chi tiết về đời tư cá nhân vì không phải là điều tôi cần diễn đạt trên bài viết này.
25 thế kỷ trước, triết gia Lão Tử có mở lớp dạy học để truyền bá học thuyết VÔ VI của Đạo Lão, có một anh thư sinh đến xin ghi danh học (không phải là Đăng Ký như bọn VC hay sử dụng). Anh này ngông nghênh tự mãn vì quả thật cái gì anh ta cũng biết. Lão Tử mời ngồi và tự tay rót nước đãi khách. Anh thư sinh ngạc nhiên vì ly thì nhỏ bé mà Lão Tử cứ rót hoài, nước chảy cả ra ngoài, anh thư sinh nói : thưa thầy, ly đã đầy nước, xin đừng rót thêm” . Lúc đó Lão Tử mới nói : “cái đầu nhà người đã đầy giống như ly nước kia vậy, không còn chỗ để mà chứa những cái khác đâu. Đi về nhà đi, khỏi cần học thêm nữa làm chi cho mất thì giờ và tốn tiền vô ích”
Khẩu khí và hành động  ứng xử đáp trả của 2 CON NHÃI RANH  cũng tự mãn giống như anh chàng thư sinh trong điển tích mà tôi vừa nêu, tôi biết chắc là họ sẽ không có thái độ cầu thị từ những thế hệ mà họ đã chê bai nhất là họ lại được những CON NÍT SỐNG LÂU NĂM hỗ trợ bằng những bài văn đao to búa lớn mang hơi hướm của những du đãng đứng bến tại xa cảng miền Tây. Cho nên tôi cũng như bác sĩ Trần Văn Tích và những độc giả đứng đắn khác không mong chờ nhận được NHỮNG BẢN XUỐNG TIẾNG  của phe nhóm này. 

Trái  lại tôi phỏng đoán sẽ nhận được nhiều BẢN LÊN TIẾNG BÊNH VỰC 2 CON NHÃI RANH, có điều nếu đủ bản lãnh viết được NHIỀU BẢN LÊN TIẾNG thì đừng mang họ TRẦN và họ NGUYỄN, nên đổi qua họ ĐẶNG (con cháu của ĐẶNG XUÂN KHU) hay họ CÀ(con cháu của CÀ CHỚN) thì tốt hơn. Giữ họ Trần và họ Nguyễn thì chỉ làm cho các vị anh hùng dân tộc như Hưng Đạo Vương TRẦN QUỐC TUẤN và Quang Trung Hoàng Đẽ NGUYỄN HUỆ nổi giận mà thôi.
Viết xong tại San José ngày29 tháng 10 năm 2017
Trần Trung Chính

Blog Archive