Showing posts with label Thần Long. Show all posts
Showing posts with label Thần Long. Show all posts

Saturday, April 25, 2020

Cô Giáo Nguỵ



'Cô giáo Ngụy, cô giáo Ngụy sắp vô lớp đó nghe tụi bay ...'

Một đứa học trò la lớn. Bọn con trai mấy đứa con trai đang quây quần cuối lớp khác chơi trò 'dích' hình, đứa nào đứa nấy tóm vội vã thâu tóm lại mấy tấm hình màu bằng bìa cứng có in hình sặc sỡ. Bọn con gái đang tụm ba tụm bảy nói chuyện nô đùa cũng vội vàng quay về chỗ cũ. Cô giáo Mai lễ mễ ôm phần chia nhu yếu phẩm của cô tháng này, gồm mấy trăm gam thịt, mấy trăm gam đường bước vào lớp. Cô bước vào lớp, tất cả học sinh đứng lên chào. Sau khi để gói thịt, gói đường cẩn thận vào trong giỏ. Cô mĩm cười:

- Cô cho các trò ngồi xuống. Các trò làm chi ồn rứa bộ định làm loạn giống...

Mai định nói làm loạn giống 'Việt Cộng' như thói quen cô vẫn nói khi la rầy học trò trước kia, nhưng cô ngưng lại kịp. Sau khi nghe em lớp trưởng điểm danh, cô bắt đầu khảo bài. Học trò của cô phần nhiều thuộc những gia đình mà chính quyền mới gọi là thành phần có nợ máu với nhân dân hoặc có vấn đề với 'cách mạng'. Hầu hết cha của các em đang bị cầm tù trong các trại tập trung cải tạo. Thêm vào đó có khoảng một vài em thuộc gia đình cán bộ Cộng Sản cao cấp mới vào Nam. Phần đông các học trò miền Nam những năm đầu sau khi bị 'giải phóng' các em học trò miền Nam còn rất ngoan và kính trọng thầy cô, và ngược lại thầy cô miền Nam cũng còn coi công việc gõ đầu trẻ là một thiên chức chứ không phải thuần túy là một để sinh nhai. Mai ra trường Sư Phạm Đà Nẵng đi dạy được hai năm thì miền Nam mất. Cô được chính quyền mới cho đi dạy lại vì theo họ lý lịch của cô tương đối khá sạch, từ ông bà xuống tới cha mẹ không có ai làm lớn trong chính quyền cũ.

Sáng nay như thường lệ sau khi khảo bài cũ cô bắt đầu dạy bài mới. Trước bảng đen Mai nắn nót viết bài học Pháp văn cho tiết học hôm nay trên bảng đen.

Mardi 26 Septembre 1977
Conjuguez le verbe "Etre" Je suis Tu es Il est ...

Bỗng một tiếng thét lớn:
- Thưa cô trò Hùng cú đầu con!

Mai nhịp nhịp cái thước gỗ vào bảng không trả lời, cả lớp lại im lặng như tờ chỉ có tiếng bút mực sột soạt trên giấy. Cô tiếp tục viết bài học lên bảng đen.Elle est ...

... Thưa cô trò Hùng bóp… cu con...!

Cũng là cái giọng học trò hồi nãy, và lần này cả lớp phá lên cười như ong vỡ tổ. Cô Mai nghiêm mặt quay lại bảo:

- Hùng, Quang hai em lên đây!

Hai đứa học trò lớp Sáu, ngồi cạnh nhau một đứa đen đủi nhỏ thó tướng tá loắt choắt nghịch ngợm, áo bỏ ngoài quần và một đứa mặt mũi trắng trẻo dáng điệu mảnh khảnh. Cả hai lấm lét bước lên phía trên. Tuy có hơi giận vì học trò tinh nghịch, nhưng cô Mai vẫn chậm rãi hiền từ:

- Có phải Hùng phá Quang không?' Hùng cúi đầu không đáp, cô Mai lại hỏi lần này giọng nghiêm khắc hơn:

- Có phải em phá bạn làm mất trật tự trong lớp không?' Hùng nhìn lên trả lời lí nhí:

- Không ạ!' Lần này thì thằng Quang la lớn:

- Nó xạo, nó cú đầu con rồi bóp ... ' Mai đưa một ngón tay lên môi ra hiệu cho Quang đừng nói nữa không thì cả lớp lại cười như vỡ chợ. Có nhiều tiếng nhao nhao:

- Trò Quang nói đúng đó cô, thằng Hùng nó có làm đó, ... nó còn viết bậy lên lưng áo em nè... Thằng Hùng chợt đưa tay làm thành nắm đấm đôi mắt căm hờn:

- Chúng ông sẽ cho tụi mày biết tay nhé ... chúng ông cho bố bọn mày đi cải tạo cứ là đờ người nhé...

Lần này thì cô Mai thật sự giận dữ:
- Trong lớp của cô hay bất cứ đâu em cũng không được phép hỗn láo vô phép với người lớn nghe chưa? Nghe rõ chưa? Em Hùng đến góc kia quay mặt vào tường cho đến hết buổi.

Buổi dạy học tưởng như bình thường sáng hôm đó đem đến cho Mai nhiều chuyện bất ngờ sau này.

Vài ngày trong khi lớp Pháp văn của cô đang làm bài kiểm tra, người tùy phái đến lớp của cô mời cô xuống văn phòng hiệu trưởng có chuyện cần. Mai hỏi:

- Có chi quan trọng rứa bác Tam? Lớp tôi đang làm bài thi làm răng mà bỏ đi? Bác nói đợi tới hết giờ rồi tôi sẽ xuống bác hỉ! Người tùy phái già trả lời:

- Dạ tui cũng nói như rứa với bà hiệu trưởng và ông khách, nhưng họ có chịu nghe mô. O xuống nhanh đi, nghe nói ông khách nớ làm lớn lắm. Mai đáp:

- Bác Tam à, tôi không thể xuống được ngay bây chừ, bác xuống văn phòng giải thích dùm tôi...

Ông Tam quày quả đi ra. Khoảng vài phút sau một người đàn ông đội nón cối đeo mắt kính đen, tay đeo cái đồng hồ Seiko5 vàng sáng chói, nước da men mét, hàm răng hơi vỗ, mặc quân phục rộng thùng thình, vai đeo xà cạp, ngang nhiên bước thẳng vào lớp, theo sau là ông Tam. Con Trang lớp trưởng sau một vài giây ngỡ ngàng vì người khách vào lớp bất ngờ, nhanh nhẹn hô lớn 'Nghiêm!' Cả lớp buông bút viết, đứng thẳng chào khách. Lần này thì đến lượt người đàn ông đội nón cối đeo mắt kính đen ngỡ ngàng và ngạc nhiên đến độ lúng túng, cô giáo Mai đứng trên bục giảng lễ độ hỏi:

- Thưa ông có việc gì cấp thiết không ạ? Người đàn ông nhìn lên lúng búng trả lời:

- À không, tôi chỉ muốn nói chuyện với cô một vài vấn đề, nhưng bây giờ tôi sẽ đợi cô dưới văn phòng.

Cô Mai từ trên bục gỗ bước xuống từ tốn:
- Dạ cám ơn ông, xin ông thông cảm, lớp đang làm bài kiểm tra tôi không thể tiếp chuyện ngay với ông.

Hết giờ Pháp văn cô Mai vội vã xuống văn phòng hiệu trưởng. Bước vào cô hơi ngạc nhiên khi chỉ thấy có ông khách đang chễm chệ ngồi sau bàn giấy của bà hiệu trưởng. Ông khách đưa tay mời cô ngồi. Ông ta vẫn còn đeo đôi kính Rayban đen trong căn phòng không có cửa sổ. Cô Mai bất giác muốn phì cười, nhưng ngăn lại kịp. Ông khách tự giới thiệu:

- Chắc cô không biết tôi là ai, nên không xuống gặp tôi ngay. Cô Mai trả lời ngay:

- Dạ thưa tôi biết ông là người rất quan trọng nhưng vì bài kiểm tra này quan trọng đến kỳ thi học kỳ của các em...

Ông khách ngắt lời:
- Ô! Không không tôi có ý phiền trách gì cô đâu, thực ra thì lúc cô không xuống ngay tôi giận lắm, vì ngoài Bắc mỗi khi tôi vào trường con tôi học là giáo viên phải đến gặp tôi chứ tôi không bao giờ phải lên kiếm giáo viên cả. Cô Mai trả lời:

- Dạ trong ni chắc còn lạc hậu, không biết bao chừ mới theo được bằng ngoài nớ...

Cô Mai không biết ông khách đang nghĩ gì và ánh mắt phản ứng ra sao sau cặp kiếng đen. Ông trầm ngâm một chút rồi nói:

- Bây giờ thì tôi hết giận rồi cô ạ. Tôi xin tự giới thiệu, tôi là Thượng Tá Trần Kình, Chính ủy của Trung đoàn Không quân Tiềm kích 935 đóng tại căn cứ Không quân Đà Nẵng. Con tôi là Trần Hùng học trong lớp của cô, vài hôm trước đây nó có phản ánh phê bình cô có khuynh hướng bảo vệ bọn con cái thành phần chống cách mạng. Cô Mai nghĩ sao?

Mai thật sự ngạc nhiên, dầu miền Nam đã bị chiếm đóng hơn hai năm, bởi một đạo quân nói cùng một ngôn ngữ và cùng chung màu da với cô nhưng cô vẫn chưa thật sự chưa hiểu hết về cách suy nghĩ, giao tế của người cộng sản.

Cô trả lời chậm rãi:
- Thưa ông Kình, tôi không biết phải trả lời ông ra sao. Tôi là một người thầy giáo chuyên nghiệp, tôi dạy bất cứ học sinh nào được giao phó cho tôi, tôi không phân biệt đối xử các em theo thành phần gia đình... hơn nữa các em khi sinh ra cũng không có sự lựa chọn về lý lịch của cha mẹ. Lý lịch cha mẹ các em theo ý tôi không thuộc phạm vi học đường. Còn việc tôi phạt em Hùng là vì em đã phá rối trật tự trong giờ dạy học của tôi. Tôi bảo đảm không có vấn đề bênh vực thành phần giai cấp gì đó....

Người đàn ông tên Kình, ngồi thẳng lên đan hai bàn tay vào nhau:
- Đó là tư duy của tôi cách đây nữa giờ cô Mai ạ. Sau khi tôi lên lớp của cô thấy việc các em lễ phép chào khách, bàn cô giáo có lọ hoa, các em quần áo chỉnh tề tôi rất lấy làm ấn tượng. Tôi thành khẩn với cô nhá, tôi chưa thấy trường nào ngoài Bắc học trò có văn hóa như lớp của cô. Tôi rất mừng thằng Hùng được cô dạy. Thôi thì thế này nhé, cô cứ công tác tốt, tôi sẽ bảo với đồng chí hiệu trưởng bỏ lời phê bình tiêu cực của tôi về cô đi. Coi như không có sự cố gì cô Mai nhé.

Mai mĩm cười:
- Dạ nếu ông đã dạy thế thì tôi rất vui. Nhưng tôi không dám nhận hết lời khen của ông, vì trong Nam này trường nào lớp nào cũng đứng nghiêm, chào khách chào thầy cô. Còn chuyện trang hoàng lọ hoa cho bàn thầy cô thì quả thật là công khó của các em học sinh nữ của lớp tôi đã tự ý hái hoa đồng cỏ dại trang điểm cho lớp học, không phải do tôi dạy bảo.

Ông Kình cười:
- Cô không tuyên truyền cho miền Nam đấy chứ ? Ồ! Tôi chỉ đùa thôi cô ạ, vâng tôi tin cô nói sự thật. Còn vấn đề này nữa, sao tôi không thấy lớp cô Mai treo ảnh Bác nhỉ?

Mai thán phục sự quan sát của người đàn ông này, chỉ có ít phút trong lớp mà ông Kình đã nhận xét được biết bao nhiêu là chuyện. Cô có biết đâu ngoài Bắc người ta treo hình bác Hồ cũng như trong Nam người ta treo cái gương chiếu yêu trước cửa nhà, để xua đuổi ma quỉ. Việc treo hình của ông Hồ là một điều bắt buộc, nhà nào cơ quan nào mà không có gương mặt lom lom, cười cười của ông Hồ là có vấn đề lớn. Thành thói quen, nhiều người treo hình bác Hồ như một sự thông báo cùng hồn ma bóng quế nhà tôi có chúa quỉ ở đây nhá! Các ngài ma quỉ hồn ma bóng quế tép riu liệu mà xéo đi... Mai ngẫm nghỉ một lúc rồi bảo:

- Hình như một năm trước đây tôi nhớ có treo, nhưng vì lớp học xây dựng bằng phương pháp tiền chế, vật liệu là sắt và tôn ximăng cho nên đinh đóng vào tường không chắc, bức hình lộng kiếng của Bác bị rơi xuống vỡ nát ông ạ.

Ông Kình hỏi:
- Thế thì sao không báo cáo và thay ngay đi, hồi trước giải phóng các thầy, các cô trong Nam treo ảnh Thiệu ra sao mà bây giờ lại nói đóng đinh không được? Cô Mai cười xoà:

- Trước giờ trong này không có lệ treo hình lãnh tụ trong nhà riêng hay trong lớp học.

Điều này thì ông Kình có thể tin, vì khi Trung đoàn 935 tiếp thu căn cứ KQ Đà Nẵng ông cũng hơi ngạc nhiên khi thấy không có văn phòng, cơ sở nào có treo hình tổng thống Thiệu cả. Nhưng ông đã tự giải thích rằng chắc cũng như ảnh Bác là biểu tượng thiêng liêng bọn ngụy khi di tản đã đem ảnh của Thiệu theo để tỏ lòng yêu kính lãnh tụ, như cái đồng chí gì đấy ở ngoài Bắc, nhà cháy nhưng đồng chí ấy cố xông vào để cứu ảnh Bác, trước khi cứu con trai ruột của mình... Ông chợt thốt lên:

- À, công tác chính trị đảng cầm quyền của Thiệu yếu nhỉ!... À này tôi có xem lý lịch của cô, khá trong sạch và cũng thuộc thành phần cơ bản đấy, cha cô là công nhân sở điện, mẹ làm cho hãng dệt, không hiểu sao trường chưa cho cô vào đối tượng Đoàn? Để tôi giúp cho nhé? Mai im lặng một chút rồi nói:

- Chuyện hơi dài ông ạ, sợ kể ra đây làm mất thì giờ của ông, nhưng đây không phải chi bộ Đoàn sơ xuất đâu mà là hoàn toàn do tôi cả. Ông Kình hơi nhổm người về phía trước:

- Tôi không dám tò mò, nhưng nếu cô muốn kể thì tôi không sợ mất thì giờ cô ạ, tôi muốn tìm cách giúp cô. Cô Mai yên lặng một lúc, ánh mắt cô trở nên xa xăm, rồi cô chậm rãi kể.

Chuyện xảy ra cũng gần một năm về trước. Mai gặp lại người bạn học cũ, Đoàn Đình Bình, Bình đã theo cha vô bưng sau cuộc 'tổng khởi nghĩa' thất bại của cộng sản tại Huế năm 1968. Cả lớp của Mai khi ấy không biết Bình đi đâu hay đã bị chết thảm dưới bàn tay của Việt Cộng khi Bình về ăn tết ở Huế.

Đầu năm 1976 Bình được bổ về làm bí thư chi bộ Đoàn Thanh Niên Cộng Sản tại trường của Mai đang dạy. Lúc đầu hai người không nhận ra nhau, nhưng Mai nhớ ngờ ngợ cái tên người bạn cũ Đoàn Đình Bình, nên sau một lần họp giáo viên Mai hỏi phải Bình hồi nhỏ có học trường tư thục Bình Minh tại Đà Nẵng không? Hai người nhận ra nhau, rồi trở nên đôi bạn thân. Mai rất trân quí những kỷ niệm và bạn học của ngày xưa thời học trò. Còn Bình thì cũng vui mừng được gặp lại người bạn xưa của ngôi trường đầy tuổi thơ êm đềm trước khi phải ra Hà Nội để bị hấp thụ một nền giáo dục rất ư 'vô giáo dục'.

Qua một thời gian, Bình âm thầm yêu Mai và muốn tiến xa hơn với Mai, nhưng trước hết phải giới thiệu được cho Mai vào đối tượng Đoàn, thì việc xin lãnh đạo chấp thuận cho cưới Mai sẽ dễ dàng và vinh dự hơn nhiều. Không hỏi ý kiến Mai, vì muốn dành cho bạn một sự ngạc nhiên mà theo ý Bình đây cũng là một vinh dự cho Mai. Bình mời Mai tham dự một buổi họp Đoàn và tuyên bố đề nghị cho Mai được làm đối tượng Đoàn Thanh Niên CS, sau khi đã đọc lý lịch trích ngang trích dọc của Mai trước mặt mọi người để minh chứng Mai thuộc thành phần tốt. Về phần Mai khi nhận lời dự buồi họp chỉ vì nể Bình và cũng có đôi chút tò mò muốn biết khi họp Đoàn ngưòi ta rù rì rủ rỉ cái chi. Mai không ngờ việc xảy ra như thế. Khuôn mặt của Mai từ trắng chuyển sang hồng, Mai im lặng. Cả phòng họp nghĩ là Mai quá xúc động trước cái đặc ân to lớn kia. Một lúc sau Mai mới run run nói:

- Cảm ơn anh Bình đã giới thiệu Mai, nhưng Mai không hoàn toàn thuộc thành phần tốt như cách mạng định nghĩa đâu, và cũng không đủ tiêu chuẩn vào Đoàn. Mai đã có chồng, mặc dầu chưa chính thức trên giấy tờ. Chồng của Mai là phi công của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa. Câu sau cùng Mai nói chậm, dõng dạc từng chữ như lời tuyên bố.

- Lỗi tại Mai, Mai đã không kể cho anh Bình nghe, vì Mai nghĩ đó chuyện riêng tư, nhưng bây giờ thì bắt buộc Mai phải nói. Cả phòng họp lặng thinh, không ai biết phải phản ứng như thế nào, còn Bình đứng sững như trời trồng bên cạnh Mai. Một hai phút sau đó anh lắc đầu và bỏ ra ngoài. Mai chạy theo Bình ra đến khoảng sân vắng nói khẻ với Bình.

- Mai xin lỗi nhé, nhưng nếu Mai không nói thì suốt đời Mai sẽ áy náy lắm... Bình quay lại hằn học:

- Tại sao Mai không cho tôi biết, Mai làm tôi ngượng trước mặt bao nhiêu người, mà những điều Mai nói là thật hay bịa đặt vậy? Bình đã hỏi thăm người ta ở chỗ Mai thưòng trú họ nói là Mai chắc chắn còn độc thân mà... Bình thật không ngờ, không ngờ. Mà nếu điều Mai nói là sự thật Mai có yêu thằng đó - xin lỗi anh đó không?

Mai ngạc nhiên về thái độ gần như ghen tương của Bình, Mai không nói gì từ từ kéo sợi dây chuyền từ trong cổ và tháo ra một chiếc nhẫn, loại nhẫn mà phi công sau khi ra trường bên Mỹ thưòng đeo. Mai nói thong thả:

- Mai có chồng thật chứ, nhẫn cưới của anh ấy trao cho Mai đây này...

Bình bưng hai tai không muốn nghe thêm chạy thất thểu ra khỏi cổng.

Ông Kình, chép miệng:
- À ra thế, thế thì gay đấy, Đoàn hay Đảng có quyền từ chối đối tượng chứ có ai có gan dám từ chối vào Đoàn vào Đảng... À anh chồng của cô bây giờ ở đâu? Còn ở đây hay di tản rồi?

Mai nhớ lại câu chuyện các thực tại chưa xa lắm, vào một ngày cuối tháng Ba năm 1975. Anh Nguyễn Bé Tư, phi công F-5E biệt phái từ Biên Hoà ra. Hai người quen nhau từ mùa xuân 1974 trong một buổi văn nghệ ủy lạo, trường của Mai tổ chức để ủy lạo chiến sĩ. Năm 1975, một ngày trước khi Đà Nẵng bị thất thủ, anh đã gặp Mai. Anh không nói gì nhưng qua nét mặt âu lo của anh, Mai biết là tình hình chiến sự ngày càng xấu đi. Anh dẫn Mai đi ăn tối ở nhà hàng Bạch Đằng trên bờ sông Hàn, hai người cố tránh không nói gì về chiến tranh để được một lần hẹn hò trọn vẹn. Gần lúc chia tay, anh rút cái nhẫn ra trường bên Mỹ đeo vào ngón tay Mai và nói:

- Anh muốn cùng em sống đến cuối cuộc đời, em có thuận làm vợ của anh không?

Mai không nói được gì, chỉ khe khẽ gật đầu nước mắt bắt đầu tuôn vì xúc động và vui sướng. Mai đã là phu nhân của Nguyễn Bé Tư từ ngày ấy. Trong buổi tối ngắn ngủi đó hai người đã vẽ ra biết bao nhiêu là mộng đẹp, về ngày cưới về gia đình tương lai...

Đêm đó anh Tư phải vào trực tác chiến trong phi đoàn. Ngày hôm sau thì Đà Nẵng mất, Mai tìm cách về Sài Gòn vào hỏi bộ Tư Lệnh Không Quân về tin tức của anh Tư. Mai còn nhớ mấy người lính Không Quân ai cũng lắc đầu nhìn chị thương cảm ái ngại . Kể từ đó cái tên Nguyễn Bé Tư mộc mạc đối với Mai như thuộc về một kiếp nào rất gần mà rất xa xăm. Nhưng cô lúc nào cũng tự nhận là người vợ âm thầm của người phi công Nguyễn Bé Tư.

Câu chuyện cô Mai từ chối vào Đoàn Thanh Niên Cộng Sản được đồn ra, được thêm thắt, và từ đó học trò gọi đùa cô Mai là 'Cô giáo Ngụy'. Cô nghe nhưng không bao giờ la rầy các em vì biết các em không có ý xấu, ngược lại các em từ đó rất kính nể cô, mấy đứa con trai có cha anh là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, nói cô Mai chịu chơi và 'chì' lắm . Mỗi khi nghe ai kêu 'Cô giáo Ngụy' Mai mĩm cười hạnh phúc tự nhủ: 'Ừ, Ngụy thì Ngụy mình thua thì người ta gọi mình là giặc. Ngày xưa Gia Long cũng gọi Bắc Bình Vương Quang Trung, Tây Sơn là 'Ngụy' đó thôi!'

Giáng sinh 1980.

Sau nhiều lần vượt biên hụt, Mai bị đuổi không cho dạy nữa. Cô sinh sống bằng việc lấy mối rau quả và bán lại ở chợ. Một buổi chiều ông Kình ghé ngang hàng của cô lựa lựa mấy bó rau hồi lâu. Cô không nhận ra ông vì bây giờ ông coi có da thịt hơn trước nhưng lại già hẳn đi, và không còn đeo kính cặp kính Rayban nữa. Đến khi hết khách ông mới khẻ bảo:

- Gớm! Cô không nhận ra tôi à? Kình đây, tôi kiếm mãi mới biết cô bán hàng ở đây, tôi có thể gặp riêng cô để nói một chuyện quan trọng không? Tôi sẽ dàn xếp chỗ gặp, cô nhớ đến nhé.

Buổi chiều hôm đó tại một căn biệt thự, ông Kình đề nghị cô Mai dẫn Hùng con ông đi vượt biên ông sẽ lo mọi chuyện.

Mai dường như không tin vào tai của mình:

- Ông không nói đùa chứ? Ông Kình nhìn cô cười:

- Tôi nghĩ là cô sẽ nói thế. Lời đề nghị của tôi rất nghiêm túc nói như người Sài Gòn là 'một trăm phần dầu' cô ạ. Sau năm năm ở miền Nam tôi thấy chế độ CS đã làm băng hoại mọi sự cô ạ. Những năm chiến tranh thì người ta còn có thể biện minh nhưng khi vào miền Nam thì tôi nhận xét thấy giá trị đạo đức nói chung là trong Nam ưu việt hơn ngoài Bắc. Sau năm năm thì tôi thấy con người CS đã làm cho miền Nam ngày càng tồi tệ càng ngày càng giống như miền Bắc. Tôi đã thấy điều đẹp đẽ trong một xã hội văn minh, tôi không thể nào quay về những cái thấp hèn mà tôi đã mù quáng tôn sùng. Tôi muốn con trai tôi ra đi, tôi không muốn thấy nó trở nên một bánh xe trong cái cỗ máy thống trị này. Nếu cô hứa dẫn nó đi, chăm sóc nó đến năm 18 tuổi tôi sẽ lo tất cả mọi chi phí phương tiện ra đi cho cô.

Lý do tôi nhờ đến cô vì thứ nhất tôi biết cô muốn ra đi và thứ hai cô là nguời rất thật thà, chung thủy. Ngay cả trong người thân tôi cũng không thể thố lộ kế hoạch này hay nhờ ai vì lý do an ninh và tính mạng của tôi, chỉ có cô mới giúp được tôi.

Chuyến vuợt biên của cô do công an Đà Nẵng tổ chức bến bãi, nên việc ra đi phải nói là rất chu đáo. Chuyến đi thật suông sẽ. Tàu vượt biên của Mai sau 5 ngày lênh đên đã cập bến Hương Cảng bình yên vô sự. Tại đây Hùng gặp lại gia đình một người bà con xa ở Hải Phòng đã đến Hương Cảng trước đó một tháng. Hùng muốn nhập chung form định cư với họ. Mai không đồng ý, qua một người trung gian cô gửi thư về Việt Nam hỏi ý kiến ông Kình. Vài tuần sau, Mai được ông cho biết là ông bằng lòng cho Hùng 'tách form' với cô, và coi như lời hứa của cô đối với ông đã hoàn thành. 

Khi được cao ủy phỏng vấn Cô giáo Mai chọn thành phố Sydney xinh đẹp của quốc gia Úc Đại Lợi làm nơi định cư. Còn Hùng thì theo bà con định cư tại Canada. Cô Mai đi học lại lấy bằng kỹ sư điện toán, cô rất nhân hậu nhã nhặn nên được rất nhiều người khác phái theo đuổi, nhưng không có ai có thể thay được hình ảnh của người phi công ngày nào.

Trong những năm gần đây khi các hội thân hữu Không Quân QLVNCH được thành lập tại Úc, người ta thường thấy cô trong những buổi họp mặt. Mai tham gia mọi sinh hoạt, báo chí văn nghệ. Câu hỏi đầu tiên cô hỏi những người lính Không Quân mà cô gặp lần đầu lúc nào cũng là: Có ai biết tin tức gì về anh Nguyễn Bé Tư phi công F-5E biệt phái ở Đà Nẵng hay không? Cô Mai không biết là lần thứ mấy đã hỏi câu hỏi đó, cô hỏi nhưng chính cô rất sợ câu trả lời về số phận của một người mất tích đã hơn hai mươi lăm năm.

Tháng Tư 1998.

Hùng đứa học trò ngày xưa của cô từ Canada qua thăm cô giáo Mai. Hai thầy trò gặp nhau mừng mừng tủi tủi sau mười bảy năm. Hùng bây giờ là một thanh niên tuấn tú lễ phép, rất chững chạc và là một bác sĩ y khoa. Hùng báo cho cô Mai biết là ông Kình đã giải ngũ về hưu, và ông đã tỉnh ngộ hẳn giấc mơ cộng sản và sống rất an phận tại Hà Nội. Trước lúc chia tay, Hùng đưa cho cô Mai một phong thư niêm kín, 'Em cũng chẳng rõ có cái gì trong ấy mà bố em rất cảnh giác không dám gửi qua bưu điện, hay gửi qua người quen đi nước ngoài, chỉ khi em về Việt Nam bố mới trao cho em và dặn là phải đưa tận tay cho cô, và cho cô rõ là phải khó khăn lắm mới lấy được tư liệu này... Bố em dặn cô đọc xong đừng phổ biến, không thì rách việc lắm cô nhé!'

Trong phong thư là bản sao của tờ phúc trình tổn thất của sở tác chiến không quân Quân Đội Nhân Dân. Tờ phúc trình như sau:

Đại tướng Văn Tiến Dũng thăm đoàn không quân Sao Đỏ

'Thể theo chỉ thị số... Đại Tướng Văn Tiến Dũng đuợc lệnh từ Trung ương Binh chủng Không quân Nhân dân phải hạ quyết tâm khẩn trương làm chủ và tạo điều kiện hồi phục sử dụng sân bay Đà Nẵng để thành lập bộ phận trinh sát và phòng thủ mặt Nam đề phòng bọn Mỹ có thể quay trở lại can thiệp. Theo tinh thần trên. vào sáng ngày 30 tháng 3 lúc 5 giờ 15 sáng giờ Hà Nội một phi đội tiêm kích cơ hỗn hợp gồm 2 máy bay chủng loại Mig21 và một Mig 17. Phi đội mang bí số KK10 được lệnh cất cánh từ Đồng Hới để trinh sát sân bay Đà Nẵng xem xét khả năng bố trí phòng không và máy bay tiềm kích của quân đội ta sau này. Tiểu đoàn trinh sát TS5 báo cáo là căn cứ Đà Nẵng của quân đội Ngụy đã bị bỏ ngỏ hoàn toàn vào lúc 2 giờ sáng 30 tháng 3. Khi phi đội KK10 đã băng qua Xepon Lào và bắt đầu tiến vào Đà Nẵng từ hướng Tây Bắc, thì bất ngờ một tiềm kích cơ của Không Quân Ngụy chủng loại F-5E xuất phát từ Đà Nẵng bất thình lình tiến công.

Giặc lái Ngụy sau khi dùng hai tên lửa loại AIM-9B bắn hạ hai chiếc Mig-21 của ta, hắn còn ngoan cố đuổi theo dùng súng bắn hạ thêm một máy bay Mig-17 của ta. Các đồng chí lái của quân đội nhân dân đã kiên cường bất khuất chống trả suốt gần 7 phút. Các đồng chí lái, Lai Như Hạch, Hồ Mạc Dịch, Đỗ Mai Quốc đã hy sinh oanh liệt. Còn chiếc tiềm kích cơ địch đã bị tên lửa của ta bắn hạ. Tên giặc lái ngụy nhảy dù đã bị quân dân ta bắt được. Tên giặc lái ác ôn này tên là Nguyễn Bé Tư, cấp bậc Trung Úy số quân... Trung Ương đã ra lệnh giải quyết thích đáng tên giặc lái này cương quyết không để những thông tin xấu lọt ra ngoài về sự kiện ba máy bay của không quân nhân dân anh hùng bị một tiềm kích cơ địch bắn hạ trong vòng 7 phút. Bọn địch có thể lợi dụng để nói xấu KQND.

Đồng chí Thượng Tá Nguyễn Công Tâm chánh án, kiêm công tố viên tòa án nhân dân đã tuyên án tử hình tên giặc lái Nguyễn Bé Tư. Tên Trung Úy Ngụy Nguyễn Bé Tư đã đền tội vào ngày 5 tháng 4 1975.'

Trên góc trái của tờ phúc trình có hàng chữ TUYỆT MẬT - không bao giờ được công bố.

Mai bâng khuâng, nhưng cô không thấy buồn, cô cảm thấy rất hãnh diện và thanh thản như người lữ hành đã về lại nhà mình. Từ lâu cô đã chấp nhận là con người mang cái tên Nguyễn Bé Tư đã không còn có mặt trên cõi đời này nữa cô linh cảm là anh đã đền nợ nước một cách anh dũng, điều cô linh cảm bây giờ đã thành sự thật trên giấy trắng mực đen. Cô kiêu hãnh về anh Nguyễn Bé Tư, anh đã chết hào hùng như anh đã sống. Cô thương mến người phi công ấy chẳng phải vì anh hào hoa phong nhã như người ta thường nói về những người lính Không Quân VNCH. Cô thương anh vì anh mộc mạc, thứ mộc mạc của loại đá bọc kim cương.

Anh Nguyễn Bé Tư 'Ace' đầu tiên của KQ-QLVNCH một mình hạ 3 phi cơ địch trong vòng 7 phút, thế mà cuộc đời lại không có quyền biết đến anh. Bọn cộng sản run sợ và kính nể khi nhắc đến cái tên hiền hoà của anh, chúng sợ đến nỗi phải giết anh.

Đêm nay Mai thấy lòng mình thật ấm áp dường như có sự hiện diện của anh Nguyễn Bé Tư đâu đây, dường như anh đang nói với cô đừng buồn đừng giận anh. Xoay xoay chiếc nhẫn Không Quân quanh ngón tay, Mai khe khẻ gật đầu không nói nên lời như đêm cuối cùng năm xưa còn ngồi bên anh. Bên ngọn đèn Mai vuốt lại mái tóc đã điểm sương, thấy mình lại là cô giáo trẻ năm nào đang choàng hoa cho người phi công khu trục anh hùng của QLVNCH.

Thần Long

Tuesday, April 26, 2016

Vầng trăng bốn mươi năm cũ

Thần Long

Chỉ còn mấy ngày nữa là đến Tết Trung Thu, trời Sydney vẫn còn se se lạnh, cái lạnh cuối mùa Đông. Ánh trăng non vằng vặc giữa bầu trời đêm, ánh trăng bàng bạc trải trên thảm cỏ, trên cây lá sau nhà tôi. Tít trên bầu trời lẫn trong ngàn vì sao lấp lánh là ánh đèn của một chiếc phi cơ bay trong đêm. Ánh trăng, và sự trầm lặng của đêm làm cho tâm tư dịu xuống và gợi lại biết bao kỷ niệm. Nhớ những đêm trăng sáng tại trại ty nạn năm nào. Đời sống ở cái trại tỵ nạn giữa biển khơi đó, tuy là rất đơn sơ về vật chất nhưng lại là những chuỗi ngày đầy tiêu dao tự tại. Ngày ba tôi, em tôi và tôi đặt chân đến Úc mỗi người một cái túi xách tay, bộ quần áo trên người, cũng là những ngày vui sướng, không lo lắng. Rồi tháng năm qua, như bao người ty nạn, dần dà nợ cơm áo, công danh cứ nặng dần. Trăng trung thu đêm nay đưa ký ức tôi đi về một nơi chốn cũ thật xa trong dĩ vãng...

Năm 1971, ba tôi, vị Chỉ huy Trưởng mới toanh, ra căn cứ KQ Phù Cát thành lập một phi đoàn mới toanh, Phi Đoàn 427. Những ngày được ba tôi dẫn theo ra Phù Cát tôi còn bé xíu, chỉ khoảng bằng tuổi Cu Bi con trai đầu của tôi đang học lớp một bây giờ. Thật là thích thú, được ba tôi cho đi loại máy bay “mới”, có tên là Caribou. Ô! sao nó chẳng giống mấy chiếc C-47 “cũ” của ba đã bay hồi trước tí nào. Máy bay gì mà cái đuôi nhỏng cao tít lên trời, lại có cái bánh ở mũi phi cơ, còn C-47 cái đuôi thì thấp thấp quen mắt, có cái bánh nằm sau đuôi. Cái gì cũng ngược lại với hình dáng chiếc C-47 quen thuộc dễ mến. Rồi phi đoàn tân lập của ba tôi từ Phù Cát chuyển ra đồn trú tại Đà Nẵng.












C-7A Caribou là loại phi cơ vận tải mới nhất trong các loại máy bay vận tải của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, là loại vận tải cơ có khả năng đáp và cất cánh trên những phi đạo xấu và cực ngắn. Với trọng tải tương đương như C-47, nhưng nhờ hai cửa đuôi rất lớn, một cửa mở lên trần, một cửa mở xuống dưới rất thuận lợi cho công tác vận chuyển tiếp tế đạn dược cho các tiền đồn rải rác khắp miền Trung.

Ở Đà Nẵng vào những tháng nghỉ Hè, mỗi sáng tôi không muốn đi đâu chơi hết, chỉ xin ba tôi cho đi theo đi lên trên phi đoàn. Còn nhớ, chiếc xe Dodge pickup màu xanh của ba tôi chở chiếc xe đạp nhỏ và tôi đằng sau thùng xe. Đi xe pickup tôi chỉ muốn ngồi sau thùng xe để gió mát lùa vào cổ vào mặt, chẳng có ghế chẳng có seatbelts gì hết. Thật khác xa với bây giờ ở Úc mỗi khi vào xe là nhắc nhở hai đứa con phải seatbelt kỹ càng. 

Khi đã vào phi đoàn, tôi đạp xe loanh quanh trong hangar. Có khi chạy qua hangar bên cạnh coi những chú kỹ thuật đang sửa một chiếc C-7A to lớn. Những khi có bác Cự là bác ruột của tôi qua coi mấy chú thợ dưới quyền của bác sửa máy bay thì thế nào bác cũng cho tôi leo lên những cái dàn sắt cao dọc theo cánh phi cơ để nhìn cho rõ. Tôi mê máy bay và KQ lắm, có thể nói 99.9% những câu chuyện trao đổi với ba tôi thế nào cũng dính dáng đến KQ và máy bay.

Vào những buổi sáng có phi vụ huấn luyện, là ba tôi đánh thức tôi dậy thật sớm, ăn sáng thường là cơm rang, hoặc cháo trắng với nước mắm dầm hột vịt luộc là món ba tôi ưa thích do má tôi chuẩn bị sẵn. Ăn xong là hai cha con lên xe đi “làm diệc” theo giọng Nam đặc của ba tôi. Lên đến phi đoàn, ai cũng tề chỉnh hết. Ba tôi bước vào phòng họp, các chú đồng loạt đứng lên đưa tay ngang trán chào, ba tôi cũng đứng nghiêm chào đáp trả. Cửa phòng họp đóng lại, một lúc lâu sau tôi hé hé cửa nhìn vào thấy ba đang đứng trên bục nói và viết viết vạch vạch những đường thẳng những con số bằng viết chì mỡ trên bảng nhựa trắng. Không hiểu mô tê chi cả, thôi lén vô phòng làm việc của ba leo lên ghế ngồi quay quay thấy mình oai hẳn lên. 

Trong phòng có chưng quốc kỳ huy hiệu KQ, và phù hiệu của phi đoàn. Trên tường có nhiều bức hình C-7A (dĩ nhiên là của Phi đoàn 427) đang bay information. Đang hí hoáy vẽ hình máy bay trên tờ giấy trắng, chợt có tiếng mở cửa, tôi giật mình bỏ nhanh mấy cây viết chì màu xuống. Ba tôi bước vô: - Phá gì đó nhóc con? Ra leo lên xe đi. A ha! Đi đi máy bay! Tôi chỉ đợi có thế thôi. Leo lên chiếc pickup, với các chú trong phi đoàn tôi thắc mắc - Hôm nay mình đi chiếc nào? YA hay là YR, chắc chắn không phải là YA vì hôm trước thấy nó bị gỡ hết máy rồi. Chẳng mấy chốc, xe dừng lại trước chiếc YN chiếc này hôm trước còn thấy bên hangar của bác Cự mà! Thì ra, hôm nay tôi sẽ được bay trên chiếc này.

Không biết có đúng hay không, nhưng chắc chắn tôi là một trong rất ít đứa trẻ được đi máy bay của KQVN thường xuyên, và cũng chắc là không mấy phi công dẫn con theo đi bay trong các phi vụ huấn luyện hoặc thử máy. Khi viết những dòng này xin cảm ơn ba tôi thật nhiều đã cho tôi những cơ hội đặc biệt đó, đó là di sản tinh thần quí giá nhất mà ba tôi đã cho tôi. Leo lên máy bay rồi các chú trong phi hành đoàn ai làm việc đó rất thành thạo. Ba tôi leo lên ngồi ghế phía bên trái, nai nịt xong quay lại nhìn tôi cười, và giơ ngón tay cái hướng hướng lên trên trời. Máy khởi động, cánh quạt chậm chậm quay, rồi lụp bụp gầm lên. Máy trái, rồi máy phải quay khói xăng bốc mù mịt. Tôi thích nhất là lúc máy máy bay bắt đầu nổ. Chiếc phi cơ bổng trở thành một sinh vật có tri giác và người phi công không phải là người điều khiển nó mà ngược lại là người phải tuân theo những luật lệ của nó đã ban sẵn, tôi có cảm tưởng rằng nó đòi hỏi mọi người phải nuông chiều nó, nếu làm ngược lại ý nó thì tất sẽ có hậu quả không hay. Tôi thích nhìn cái trục màu bạc (hub/spinner) trước cánh quạt, nó phản chiếu ánh sáng lập lòe có sức thôi miên người nào nhìn nó lâu. Nhìn động cơ quay, đều rồi nhìn ba tôi, bàn tay phải đeo găng thoăn thoát bật tắt điều chỉnh các công tắc trên trần phòng lái. Vị trí của cần đẩy ga của C-7A khác với những phi cơ vận tải khác, thay vì nằm trước bảng phi cụ nó lại nằm ở trên trần của phòng lái. Lúc đẩy thêm ga cho phi cơ di chuyển, cánh tay phải của người phi công treo lủng lẳng theo nhịp rung của thân tàu, còn tay kia trên cái bánh xe điều khiển bánh múi, giống như cao bồi trong phim một tay đang cầm cương ngựa tay kia đang giơ tay bắn súng. Một người lính ở dưới đất đưa tay ngang trán chào, rồi nhanh nhẹn đẩy chiếc xe có gắn bình cứu hỏa ra xa. Thắng nhả, chiếc C-7A bắt đầu di chuyển, người cơ phi leo lên chiếc thang sau ghế pilot chú nhoài hẳn cả nửa thân người qua cửa sổ để quan sát bên phải, bên trái cánh. Với sải cánh dài 96 feet và chiều cao gần hơn 30ft của cái đuôi quá khổ C-7A khi taxi dưới đất nếu không cẩn thận rất dễ bị quẹt hay đụng hai wing tips vào ụ máy bay. Nhiều lần ở dưới đất nhìn lên thấy chú cơ phi đó giống như lính thiết giáp đang ngồi trong pháo tháp. Tôi có nói ý nghĩ trẻ thơ đó cho ba tôi nghe và đề nghị ba nên cho gắn một khẩu súng trên nóc C-7A như là xe tăng vậy đó, khi nào ba đang đáp có VC bắn mình thì mình bắn nó lại. Ba tôi cười cười: “Ờ ờ, nhưng rủi VC nó chạy ra phía sau đuôi, chú bắn súng bắn theo nó, rồi trúng cái đuôi thì làm sao?” “Thôi, vậy gắn súng bên cửa sổ đi giống như AC-47 đó ba!” Tôi nhớ ba tôi cười lớn: “A a, thành ra AC-7A hay hay...” 

Tôi nhớ lại mỗi khi nói về nghiệp bay bổng hay bất cứ chuyện gì, ba tôi không bao giờ coi tôi như đứa con nít, dầu cho tôi có hỏi hay nói những điều mà bây giờ nghĩ lại thấy rất là ngớ ngẩn. Những khi rãnh rỗi ở nhà ba tôi giảng cho tôi nghe về máy bay, giở sách chỉ cho tôi coi hình từng phi cụ trên máy bay và giảng nghĩa cho tôi nghe, cái này là chân trời giả, cái này là để chỉ cao độ, radio console thì kéo cái này ra... tôi nào có hiểu gì nhiều, nhưng vẫn rất thích nghe, vẽ mặt của ba tôi lúc ấy say sưa yêu nghề lắm. Ba tôi đã làm cho tôi say mê KQ say mê máy bay lúc nào không hay.

Chiếc C-7A đi chậm chậm lướt qua các ụ máy bay, tiếng máy nổ dòn háo hức. Cửa bửng đuôi vẫn mở, trạm tiếp-liên các ụ máy bay quay ngang dọc qua khung cửa đuôi đó là một trong những điều tôi thích thú khi được đi theo bay trên Caribou, ngay cả khi lên trời cửa bửng đuôi nhiều khi cũng mở - “Mở cho mát! Các chú trong phi hành đoàn thường nói vậy”. Bỗng nhiên động cơ, dường như êm hẳn lại, đi hết taxi way, trước khi ra phi đạo chính, phi cơ đứng lại động cơ idle một vài giây rồi gầm lên.

Last checkup! Go! Chiếc máy bay nhẹ nhàng phom phom ra phi đạo chính, bánh lăn nhanh dần. Chiếc C-7A hôm nay không có chở hàng nên nhẹ nhàng khoan thai lắm, chỉ mới chạy một chút là máy bay đã cất cánh. Mặt phi đạo xa dần, chiếc Caribou vừa lấy cao độ vừa quẹo clear phi đạo. Bánh máy bay cũng vừa xếp vào hẳn. Không gì thú vị bằng hình ảnh, chiếc gear cồng kềnh lăn bánh nhanh trên phi đạo, càng gear mỗi lúc thêm dài ra như lưu luyến không muốn rời mặt đất. Khi đôi cánh bắt đầu dần dần nâng đở toàn sức nặng của phi cơ từ các bánh xe là khi máy bay lìa hẳn khỏi mặt đất. Làm xong vòng quẹo là chiếc C-7A đã ở trên mặt vịnh Sơn Chà, mặt biển xanh thẩm, phẳng lặng lóng lánh như mặt một tấm gương khổng lồ trong nắng sớm. Các nhánh núi đâm ngang ra biển đẹp và hùng vĩ tuyệt vời, đâu đó trên mặt biển là vài chiếc thuyền chài nhỏ bé. Bầu trời buổi sáng, trong xanh không gợn một bóng mây, trừ ra một vài sợi mây mỏng manh như làn khói bao quanh triền núi. Bay một lúc chợt tiếng động cơ giảm dần, tôi cảm thấy tốc độ phi cơ chậm hẳn lại. Tôi từ bên phải chạy qua cửa sổ bên trái. Caribou có tám cửa sổ hình bầu dục rất lớn mỗi bên thân tàu, nhìn ra ngoài rất rõ. Ô! Máy trái tắt hẳn rồi! Các cánh quạt quay chậm dần rồi được “feather” để giảm bớt lực gió cản. Một phía máy bay êm hẳn đi, tôi trố mắt nhìn, rồi chạy lên cockpit. Cockpit của C-7A chỗ pilot ngồi là một cái platform cao, tôi đứng lấp ló ở dưới, đập đập vào đùi ba tôi. Ba tôi đang ngoái đầu ra sau nhìn ra cửa sổ về hướng động cơ đã tắt hẳn. Nghe tôi kêu ba tôi quay lại, kéo cái head phone/microphone qua khỏi một bên tai và cúi xuống nói lớn át tiếng máy - “Ba đang thử máy! Con chạy qua bên phải coi đi, ba sẽ tắt máy bên phải!”

Chiếc Caribou, dầu chỉ còn bay bằng một máy nhưng bay rất thăng bằng, khoan thai êm ả bay trên mặt vịnh Sơn Trà. Hai chú cơ phi, và áp-tải chắc đã quá quen thuộc trong những chuyến bay thử máy này nên một chú ngồi đọc báo, một chú thì đang “secure” mấy hàng roller bằng sắt để lăn cargo.

Vài phút sau máy bên trái lịch xịch nổ trở lại. Khi máy trái đã nổ đều, máy bên phải lại tắt. Sau khi đã thử hai động cơ vừa mới được bảo trì xong, là lúc phi cơ chuẩn bị về quay về đáp. Chiếc Caribou nghiêng cánh quẹo vòng trên mặt biển. Một đầu cánh như đâm xuống biển làm trụ cho toàn chiếc tàu quay vòng trong không gian, đầu cánh kia chỉa lên trời cao. Bình phi, máy bay giảm cao độ dần. Lúc nào phi cơ sắp đáp tôi cũng cảm thấy rất bồi hồi, luyến tiếc, hình như chiếc C-7A này cũng cùng một tâm trạng như vậy vì nó sắp phải từ trên trời cao tự do trở về lại mặt đất nằm im lìm trong các ụ máy bay nhàm chán. Bánh đáp được thả xuống, phi cơ lướt qua những rặng núi vào đất liền, nhà cửa ruộng vườn hiện rõ dần. Bóng phi cơ lướt nhanh trên mặt đất. Phi cơ làm approach. Phi trường Đà Nẵng hiện rõ dần, xa xa đủ các loại phi cơ lên xuống, bận rộn như một bầy ong. Phi đạo Đà Nẵng quá dài, quá dư cho loại máy bay STOL (Short Take Off and Landing) như C-7A. Khỏi flaps, cũng đáp xuống ngon lành. Có chú phi công còn nói, nhiều khi bỏ flaps đã giảm ga rồi mà nhấn đầu nó xuống nó cũng hổng thèm xuống. Xẹt xẹt, êm ái bánh xe chạm mặt phi đạo. Cánh quạt đổi chiều, 2 máy 1450 mã lực Pratt & Whitney R-2000 7MD gầm lên để giảm bớt tốc độ. Chiếc C-7A nhanh chóng rời phi đạo chính, quẹo vào một taxi way gần nhất, di chuyển về bến đậu. Mấy chú trong phi hành đoàn trong khi chuẩn bị xuống máy bay nói chuyện với nhau: - “Hai cái máy mới được làm lại này đã thiệt! Nghe nó lên ga, hay xuống ga gì cũng ngọt xớt”. Chú kia đáp: “Ờ, có tay ông Đại Úy Cự nhúng vô là hết xẩy!”

Tôi thầm hãnh diện về người bác của tôi, việc gì đụng tới máy móc là bác tôi khỏi chê. Tôi có một chiếc máy bay đồ chơi “Flying Tiger” chạy bằng pin có 4 chong chóng, chạy vòng vòng dưới đất chớp chớp đèn, rồi cửa đuôi sẽ mở ra để lộ khoang máy bay đầy cargo. Bữa kia chiếc máy bay đồ chơi “Flying Tiger” của tôi tự nhiên bị hư. Ba tôi đem tới nhà bác Cự nhờ bác sửa giùm. Mấy hôm sau vào một buổi tối, có tiếng điện thoại reo, ba tôi bắt lên vâng vâng, dạ dạ một lúc, rồi kêu tôi tới nói: - “Bác Cự muốn nói gì với con kìa”. Bắt ống nghe lên: - “Alô thưa bác Cự...” không có tiếng đáp lại, nghe kỹ thì có những tiếng tạch tạch u u quen thuộc. “A! Bác Cự đã sửa xong máy bay cho con rồi...” Và bác đã dạy cho tôi bài học mechanic đầu tiên - “Cái này con chơi thì đừng có lấy tay đẩy, vì bánh xe răng cưa này khi quay ngược chiều sẽ bị tức giống như mình đi xe đạp, mà đạp bằng tay chứ không phải bằng chân mô-tơ sẽ mau bị hư...” Bác tôi, con người khéo léo, tài giỏi, tận tụy vối công việc làm và rất đỗi bình dị, Bác tính tình thẳng thắng, nói năng thẳng ruột ngựa, kể cả trước mặt thượng cấp. Vì đức tính cương trực không thích bợ đỡ ai, nên rất nhiều người kính trọng bác.

Tôi có một kỷ niệm khó quên với bác như sau.

Một buổi trưa mùa hè nắng gay gắt, tôi ngồi thừ ngoài cổng trường Nguyễn Hiền - Đà Nẵng, đợi ba tôi đến đón. Mấy đứa bạn tôi, kể cả thằng Lộc bạn thân con của ông Trung Tá Nguyện cũng đã được ba nó rước về rồi. Tôi rầu rĩ càu nhàu, ba tôi làm cái chi mà lâu đến đón quá. Sáng nay ba tôi đi bay sớm, trưa là về rồi. Một lúc lâu sau, có chú Lúi đi xe Suzuki, chạy đến đón tôi - 

“Ba mi đi bay chưa về, leo lên xe chú chở về”. 

Tôi càu nhàu “Sao mà chưa về? , sáng nay ba nói là sẽ đón cháu mà?” 

Chú Lúi, vẽ mặt đăm chiêu không trả lời. Chú phóng xe nhanh nhưng thay vì vô phi trường bằng cổng bên Phước Tường quen thuộc để về nhà tôi, chú lại chở tôi thẳng về sở làm của bác Cự. Bình thường tôi thích lên sở làm của bác lắm, trong văn phòng của bác có cái bảng kim loại lớn vẽ sơ đồ phi đạo và cac ụ máy bay. Những chiếc máy bay nhỏ xíu có nam châm, được gắn lên trên chiếc bảng này để đánh dấu vị trí của từng máy bay của các phi đoàn. Nhìn quanh không có ai để ý là thế nào tôi cũng “cho” một vài chiếc “cất cánh” chơi. Nhưng trưa hôm ấy, bụng thì đói, cổ họng thì khô vì khát nước, tôi hỏi chú Lúi: 

- “Ơ, sao chú không chở cháu về nhà?”. 

Chú trả lời ngắt quảng, - “Ba mi, đi bay... bị mất liên lạc, mất tích từ sáng đến chừ...” - 

Tôi điếng hồn, nghe như là sét đánh giữa trời trưa. Dầu là còn nhỏ nhưng tôi hiểu rất rõ ràng ý chú, vì những cái tin như thế không phải là hiếm trong căn cứ KQ Đà Nẵng. Dầu nhỏ tuổi tôi cũng biết là nhiều dữ ít lành trong cái tin đó. Tôi chợt hiểu má tôi đã điện thoại nhờ bác Cự sắp xếp đón tôi đi học về, và bác Cự đã nhờ chú Lúi đón tôi về. Nhưng thay vì về nhà tôi, chú Lúi một người lính của bác cũng lo lắng nóng lòng cho ba tôi nên chạy thẳng về sở của bác để nghe thêm tin tức. 

Khi đến sở của bác, xe chưa dừng hẳn tôi đã nhảy nhanh xuống xe. Ui da!! Chợt nghe nóng rát bên bắp chuối bên chân phải, cái bô xe Suzuki nóng bỏng đã in một dấu tròn đỏ ửng trên bắp chuối của tôi. Như thường ngày chắc là tôi đã mếu máo và nước mắt rơi rồi. Nhưng hôm ấy thì không. Tôi chạy nhanh vào sở bác của tôi, lần đầu tiên tôi thấy ánh mắt bác gần như thất thần vì lo âu, khác với sự tự tin hàng ngày. Bác xoa đầu cái đầu đầy mồ hôi của tôi, rồi vào lục trong tủ lạnh đưa cho tôi một chai nước. Bác đi ra đi vào không nói gì giữa tiếng máy vô tuyến motorola nheo nhéo. Khoảng bằng lúc tôi uống xong chai nước thì có chuông điện thoại trên bàn làm việc của bác reo liên hồi. Bác nhấc ống nghe, sau vài giây, nhìn sắc mặt của bác tôi có cảm tưởng như có một khối đá nặng vô hình được nâng khỏi hai vai bác. Bác gác ống nghe quay qua nói với tôi - 

“Máy bay của thằng bố mày bị bắn hư máy, phải nhào xuống đáp ở Gia Vực”. 

Phi đạo đất nhỏ ở Gia Vực nằm trong một thung lũng bốn bề vách núi, vô tuyến không liên lạc về Đà Nẵng báo tin sớm được.

Cái sẹo của vết phỏng năm xưa trên bắp chân tôi vẫn còn đây, mà bác Cự đã ra người thiên cổ mất rồi. Tội nghiệp bác quá, vừa mới được Việt cộng thả ra từ cái gọi là “trại cải tạo”, khi mà thủ tục HO xong xuôi cả, chỉ đợi ngày đi Mỹ thì bác qua đời. 

Ba tôi là em rể của bác, dầu rằng ba tôi mang cấp bậc cao hơn bác nhưng không vì thế mà kém lòng kính trọng bác. Những khi bác nổi giận thì ba tôi cũng phải kiêng nể ông anh vợ. Có một lần một chú pilot cấp bậc Thiếu Tá trong phi đoàn ba tôi đi bay về. Phi cơ bị trục trặc kỹ thuật chi đó, nên khi chú phi công này tắt máy rồi, thấy bác Cự đi qua, đưa ngón tay ngoắc bác than phiền - 

“Ê! Đại Úy, máy bên phải sao mất “tua” dữ quá!” 

Không may là lúc đó chắc bác đang có chuyện bực mình, cho nên cách nói hoặc thái độ của người pilot đã làm cho bác nổi giận. Mang cấp bậc Đại Úy nhưng bác là Trưởng phòng Bảo Trì phi cơ tại Đà Nẵng, nên quyền hạn và trách nhiệm của bác rất lớn. Bác đứng ngay trước phi cơ và quạt chú pilot đó một mách - 

“Anh là ai nào mà dám Ề Đại Úy? Kêu "thằng sếp" của anh ra đây”. 

Báo hại "thằng sếp" của Phi đoàn 427 là ba tôi phải chạy ra kéo bác vô, chứ không thì mất mặt quá. Tính của bác quá bộc trực thẳng thắng, ngay đến thượng cấp mà có điều gì không rõ ràng bác cũng nói thẳng. Ba tôi kể, nhiều khi đi họp chung với các chỉ huy trưởng trong căn cứ mỗi khi thấy bác mặt mũi đỏ lên, dợm đứng dậy là biết bác sắp sửa “dũa” ai đó, nhiều lúc ba tôi phải kéo bác ngồi xuống.

Ở Đà Nẵng, thường sau khi tan học buổi chiều sau khi học lớp Pháp Văn ba tôi đón tôi về. ăn cơm xong rảnh rỗi là ba tôi bày ra nhiều trò chơi như làm diều thả và làm đồ chơi cho tôi và các em. Đồ chơi của tôi chỉ là máy bay và... máy bay. Thời đó ngoài những chiếc máy bay ráp nhỏ xíu mua ngoài phố, ba tôi còn đẻo gọt mấy miếng móp trắng làm máy bay cho tôi. Có lần ba tôi làm cho tôi model một chiếc C-130, có 4 máy, hai fuel tanks coi giống lắm. Tôi cho máy bay "cất cánh" từ sân nhà tôi bay qua sân cỏ rộng, đến dãy nhà các chú độc thân trong phi đoàn ở. Buổi chiều mát các chú tụ họp chơi volley ball và nói chuyện ồn ào náo nhiệt. Có một chú tên là Thúy ưa chọc quê tôi, khi nào thấy tôi len men tới là thế nào cũng nói - 

“Có “cô” nào cầm máy bay tới kìa! 

Và câu trả lời của tôi sẽ là: - “Ơ, con trai gì mà tên là Thúy kỳ quá, chỉ có con gái mới tên là Thúy thôi... he he”. 

Một chú khác chêm vô: - “Biết tại sao mà các chú kêu con là “cô” không? Tại vì con ưa mặc quần dài đó! Coi mấy chú nè ai cũng xà lỏn hết trọi”. 

Đúng thiệt, mấy chú khi cởi bộ đồ bay nhiều huy hiệu hoa lá cành ra, chú nào cũng lên bộ xà lỏn ráo. Có chú đứng hút thuốc trên mấy bực cầu thang, gió thổi phồng phồng cái quần, giống hệt như là cái wind sock cuối phi đạo, tức cười ghê. Khác với hình ảnh oai hùng, phong trần trong bộ đồ phi hành khi ra chiến trận, các chú khi ấy thật là hồn nhiên dễ thương. Cũng từ thuở đó đến bây giờ, dầu cho mùa Đông lạnh giá hay mùa Hè nóng bức chỉ trừ khi đi làm, còn ở nhà lúc nào tôi cũng mặc quần cụt. Sau chuyện quần xà lỏn, có một chú hỏi: - 

“Ai làm máy bay cho con mà đẹp vậy”. 

Tôi hãnh diện khoe: - “C-130 ba con làm đó”. 

Một chú nói nhỏ nhỏ: - “Ê tụi bay, sao ổng lái C-7A mà lại làm C-130 cho con chơi kỳ dậy mậy?” 

- “Ờ, kỳ quá há, tao thấy ổng mết C-7A lắm mà, hổng khoái sao bay nhuyễn được mậy!!” 

Tôi thấy cần phải thanh minh cho ba: - “Cái này là tại con kêu ba con làm thôi, chứ ba con đã làm cho con một chiếc Caribou bằng mi-ca trước chiếc này rồi.” 

Mấy chú xúm lại trêu: “Ơ, đứa nào mà chơi C-130 bày đặt hổng thích C-7A, mai mốt hổng cho nó lên máy bay C-7A đâu...”

Khoảng một tháng sau, khi ba tôi đang đi công tác tại Bangkok, một đêm Việt pháo kích dữ dội vào phi trường. Một trái hỏa tiễn trúng một trong ba dãy nhà độc thân nơi các chú trong phi đoàn ở, cướp đi sinh mạng nhiều người. Đó là lần đầu tiên tôi biết đến chết chóc là gì. Sau đó mỗi khi đi ngang qua cái dãy nhà bị pháo kích cháy xém đó, tôi thấy thương các chú thật nhiều. Hình ảnh anh hùng của những người Việt Nam trẻ xương xẩu, gầy gò, đem một chiếc vận tải cơ dềnh dàng đâm đầu từ trời cao đáp vội xuống những phi đạo đất cực ngắn rải rác khắp núi rừng miền Trung để tiếp tế, tải thương cho những tiền đồn. Phi cơ chưa dừng những con người đó đã xô nhiều tấn đạn dược, gạo muối xuống mặt đất. Máy bay vẫn lăn bánh đều tới cuối phi đạo, phi cơ quay đầu đẩy ga bốc lên như một con chim ưng khổng lồ trong bụi mù, và một chiếc khác từ một hướng khác đâm đầu xuống khẩn tốc đáp để đổ quân... Máy bay vận tải là mục tiêu to lớn dễ bị VC bắn rớt. Nhưng những con người tài hoa của Phi Đoàn 427, chưa bao giờ làm mất một phi cơ vì đạn quân thù hay do lỗi của pilots. Họ đã tranh dành sự sống cho quân bạn trong các tiền đồn bằng những tiếp tế đúng lúc. Hỏa tiển Nga, viên đạn Tàu nào được bắn đi do bọn mặt người hung ác tay sai ngoại bang đã cướp đi sự sống của các chú giữa giấc ngủ trong đêm hiền lành.

Năm mất nước - 1975, như bao đứa trẻ khác tuổi thơ của tôi bị cắt ngắn từ đây. Người ta dạy tôi rằng những lính trong QLVNCH, những người như bác tôi, các chú trong Phi đoàn 427 và ba tôi là “quân ngụy, là kẻ có tội với nhân dân.” Tôi buộc phải lớn nhanh hiểu nhanh rằng kẻ có tội với đồng bào tôi chính là những tên mặt mẹt chằng, răng vẩu, nón cối, dép râu, ngơ ngác giữa Sài Gòn, là những tên ma mãnh tại Bắc Bộ Phủ là con cháu củ một con quỉ có túm râu dê lưa thưa mấy cọng ngạo mạn tự xưng là “cha già dân tộc”.

Năm 1975, rời Đà Nẵng trên một C-130, nhìn thành phố mảnh đất đã cho tôi bao năm tháng đẹp đẽ, nhiều kỹ niệm ấu thơ. Có ngờ đâu rằng lần đó là vĩnh viễn xa Đà Nẵng. Không như lời hứa của ba tôi, - “Chỉ về Sài Gòn tạm thôi, rồi ba sẽ về đón ra lại Đà Nẳng”. Ba tôi cũng đã lầm, lầm như bao người lính khác đã cố góp phần giữ vững miền Nam, và đã bàng hoàng sửng sốt khi thành phố Đà Nẵng mất. Có thể nào như vậy được?

Lần đầu ở Úc nhìn những bức hình của những chiếc C-7A trên một cuốn sách, những chiếc C-7A mà “tail letters” bắt đầu bằng chữ “Y”. Thương nhớ quá những chiếc này mình đã leo lên đùa nghịch mà, còn chiếc kia bị gỡ hết hai máy nằm trơ trụi buồn bã.

Ba mươi mốt năm sau viết những hàng này thì đứa bé ngày xưa ưa quậy phá các chú trong Phi đoàn 427, đứa bé đó ngày hôm nay tóc đã có sợi bạc và tuổi đời đã xấp xỉ tuổi các chú thuở ấy, nhưng chưa làm gì để nên danh cùng sông núi như các chú. Chuyện đã bốn mươi mốt năm vẫn tưởng như ngày hôm qua...

Vầng trăng đêm nay có gì khác vầng trăng của ba mươi năm xưa cũ? Thế nhưng người xưa, cảnh xưa nay ở đâu...!?


Thần Long

Blog Archive