Showing posts with label Tử vi. Show all posts
Showing posts with label Tử vi. Show all posts

Thursday, December 14, 2017

3 hồn 7 vía" nghĩa là gì?

Hẳn người Việt Nam ai cũng từng nghe thấy câu "3 hồn 7 vía". Bạn đã biết gì về câu dân gian này? Người xưa thường quan niệm con người có 3 hồn 7 phách (bảy vía). Vậy 3 hồn 7 vía rốt cuộc là gì?

Nhiều người cho rằng chết là hết, thế nhưng hoàn toàn không phải. Khi bạn mất đi, linh hồn của bạn vẫn tồn tại ở một tầng không gian khác.

Theo các chuyên gia về tâm linh, cơ thể con người được chia ra làm thể hồn, thể vía và thể xác. Còn trong dân gian, ta thường hay nói “ba hồn bảy vía”.

1 - Hồn vía là gì?
Hồn và Phách (Vía) là hai dạng thần thể cư ngụ trong thân xác con người ta. Khi còn sống Hồn Phách còn, khi chết đi Hồn bay lên( thăng) phiêu du đâu đó. Còn Xác thân và Phách thì tiêu tan.

Vì vậy trong dân gian mới có hiện tượng lên đồng gọi hồn, cầu hồn người chết chứ không có gọi phách, cầu phách người chết bao giờ.

Từ khái niệm Hồn có ba (Sảng Linh, Thai Quang, và U Tinh) và Phách có bảy (Thi Cẩu, Phục Thỉ, Tước Âm, Thôn Tặc, Phi Độc, Trừ Uế, và Xú Phế) mới nói người ta có ba hồn bảy vía là như vậy.

2 - Vậy "Ba hồn bảy vía" nghĩa là gì?
Theo quan niệm dân gian, khi sự sống không còn nữa, hồn vía của con người sẽ thoát ra ngoài cơ thể tạo thành thể hồn và thể vía. Hai thể này tiếp tục tập hợp lại thành một khối hình tròn có năng lượng và phát sáng.

Khối tròn này đi theo suy nghĩ, đi theo ánh sáng, tốc độ chỉ trong chớp mắt. Khối tròn đó tồn tại trong thế giới siêu hình và người ta gọi là vong linh.

Khi thể hồn và thể vía đã xuất hết ra khỏi cơ thể (con người thực sự chết) thì không bao giờ nhập lại cơ thể đó nữa.

Thực ra, quan niệm “3 hồn 7 vía” có nguồn gốc từ Đạo giáo. Họ cho rằng con người sống được là nhờ “tam hồn thất phách” này điều chỉnh mọi hoạt động và tư duy.

3 - Có câu chuyện kể rằng
"Một thầy thuốc Trung y khám bệnh cho vị giám đốc nọ. Sau khi bắt mạch và thăm khám liền nói: “Ông hãy về nhà chuẩn bị hậu sự đi thôi“. Vị giám đốc nọ nghe thấy hầm hầm tức giận nói: “Ông bị điên à. Nếu y thuật của ông cao siêu đến vậy hãy nói thử xem tôi chết vào ngày nào?“.

Sau khi thầy thuốc phán ngày tháng cụ thể, vị giám đốc liền nói: “Tới ngày đó tôi sẽ làm mấy bàn tiệc tại tiệm cơm Vương Phủ Tỉnh mời ông ăn“.

Hai cô con dâu của vị thầy thuốc cũng tốt nghiệp trường Trung y thấy cha nói vậy thì ngại ngần vội vàng giải thích: “Cha tôi già rồi nên phán đoán lẩm cẩm, ông đừng để ý lời ông ấy làm gì”.

Cho tới khi vị giám đốc nọ đứng dậy trả tiền đi về, thầy thuốc Trung y vẫn khẳng định: “Tôi không lấy tiền của người sắp chết”. Và quả nhiên, vị giám đốc thực sự đã không sống qua khỏi ngày mà thầy thuốc đoán trước.

Các thầy thuốc Trung y cổ đại thường có kiến thức uyên thâm về cả nhân tướng học. Họ chỉ cần xem phần “Thần”, chính là Thai Quang, của người ta có còn hay không là biết được sinh tử.

Thực sự, thai quang là một trong ba hồn quan trọng nhất của con người. Nếu một sinh mệnh không còn thai quang thì người đó quả thật đã chết.

Saturday, November 12, 2016

Cái chết bất ngờ của chiêm tinh gia Huỳnh Liên

Trúc Giang MN



 1* Mở bài
Gọi là bất ngờ vì ông ra đi trong tình trạng sức khỏe còn sung mãn, không có một đe dọa nào về tánh mạng cả. Mọi việc đều bình thường. Câu hỏi được nhiều người đặt ra là vì sao ông không xủ quẻ để biết vận hạn của mình để giải hạn. Ông đã giúp giải hạn cho rất nhiều người, vì sao lại quên tự cứu mình. Cái chết bất ngờ của chiêm tinh gia Huỳnh Liên dẫn đến nghi vấn về sự chính xác của việc bói toán, tử vi, kinh dịch… đã diễn ra trong một thời gian lâu dài trên đất nước Việt Nam.

Cũng cần xét lại toàn bộ hệ thống mà các thầy bói đã từng lấy nó làm nghề sinh sống một cách phong lưu sang trọng. 

2* Cái chết bất ngờ của chiêm tinh gia Huỳnh Liên
Báo Công An Sài Gòn có bài viết về chiêm tinh gia Huỳnh Liên nội dung như sau.
Chiêm tinh gia Huỳnh Liên quên bấm số tử vi cho mình.

Chiêm tinh gia Huỳnh Liên là một trong những thầy bói nổi tiếng nhất Sài Gòn năm xưa. Lúc nào nhà cũng nườm nượp khách. Tiền vô như nước. Ngoài căn nhà ở đường Phan Thanh Giản, ông thầy bói nầy còn có một tòa nhà trong khu vườn ở Lái Thiêu, Bình Dương. Đó là Biệt Thự Huỳnh Trần.

Từ tháng 10 năm 1982, Huỳnh Liên về sống với bà vợ bé ở nhà trong khu vườn nầy. Bên mình ông luôn luôn có xâu chìa khóa tủ giữ tiền bạc và tài sản đã tích tụ từ nhiều năm xem bói. Sau năm 1975, thầy bói bị cấm hành nghề nhưng đời sống của ông cũng khá giả. Sau những đợt đổi tiền, thầy còn vàng bạc và nữ trang đắt giá. Chuyện kể lại rằng Huỳnh Liên không tin cậy ai cả, xâu chìa khóa tủ giữ tài sản luôn luôn ở bên mình ông.

Một hôm, điện thoại nhà bị hư, ông bảo vợ về Sài Gòn gọi người cháu của bà lên sửa. Buổi chiều, người cháu và một thợ phụ đến, và bảo với ông là bà vợ còn ở Sài Gòn có việc đến mai mới về. Chị bếp ra sau nhà làm gà đãi khách. Nhà im lặng. Khi chị bếp đến xem thì thấy ông đã chết tự bao giờ. Người cháu bà chủ cũng biến mất. Công an điều tra thấy ông bị siết cổ bằng dây điện thoại. Mọi việc trong nhà vẫn y như cũ, không mất món nào. Tủ vẫn khóa. Có nghĩa là tài sản vẫn còn nguyên vẹn. Thủ phạm bị bắt sau đó.

Tài sản vẫn còn nguyên. Vậy người chủ mưu là ai?

Nhiều người cho rằng ông thầy bói trứ danh nầy đã quên xủ quẻ cho chính bản thân ông để giải trừ khổ nạn, nên bị chết bất ngờ như thế. 

3* Những thầy bói của Sài Gòn năm xưa

3.1. Thầy bói Khánh Sơn


Năm xưa, tại Sài Gòn có nhiều thầy bói, tướng số, chiêm tinh gia cả nam lẫn nữ. Những thầy bói nổi danh nhất phải kể là Khánh Sơn và Huỳnh Liên.

Thầy tướng số nổi danh nhất và lâu đời nhất là Khánh Sơn. Tự xưng là Maitre Khánh Sơn. Báo chí đăng hình của ông, đeo kiếng trắng trông ra vẻ trí thức. Hình một ngón tay chỉ vào chiếc chìa khóa tượng trưng cho sự khám phá những điều huyền bí tác động vào đời người.

Nhà tướng số nầy hành nghề từ năm 1940 sau khi tốt nghiệp trường sư phạm Hà Nội. Người đời kể lại Khánh Sơn là người hào hoa phong nhã. Làm ra nhiều tiền. Mặc dù đã có vợ con đàng hoàng nhưng vẫn còn bay bướm, nhiều cô mê mệt.

Việc nổi bật được lan truyền là, ông bốc quẻ đoán về số phận của viên toàn quyền Đông Dương người Pháp tên là Pierre Pasquier, cai trị Đông Dương từ năm 1928 đến 1934, qua hai câu sấm như sau:

Giữa năm hai bảy mười ba
Lửa thiêng đốt cháy tám gà trên mây.

“Giữa năm hai bảy mười ba” là năm nhuần có hai tháng bảy nên năm nhuần âm lịch đó có 13 tháng.

“Tám gà” chữ Hán là bát kê, phiên âm của Pierre Pasquier. “Trên mây” là máy bay. Sự kiện đó là máy bay chở viên toàn quyền Pasquier trên đường về Pháp thì bị bốc cháy rớt xuống ở Corbigny, Nièvre, Pháp, khiến 10 người trên đó tử nạn. Người ta kể lại như thế nhưng không xác nhận là câu sấm viết ra trước hay sau vụ tai nạn máy bay. Đó có thể là một màn quảng cáo. Nếu cho rằng đó số mạng của ông Tây thực dân nầy phải chết cháy, tan xương nát thịt, thế nhưng vì sao phải kéo theo sinh mạng của 10 người khác trên chuyến bay? Họ không sanh cùng năm, cùng tháng nhưng lại chết cùng ngày cùng giờ là sao? Tử vi của họ thế nào?

3.2. Thầy bói Minh Nguyệt
 Thầy Minh Nguyệt, là một người miền Nam, tự quảng cáo trên báo là giáo sư Minh Nguyệt, mở văn phòng ở đường Đề Thám (Sài Gòn). Cùng với các thầy Huỳnh Liên, Khánh Sơn, thầy Minh Nguyệt là một nhà bói toán có đến hàng chục ngàn thân chủ.

Văn phòng của thầy lúc nào cũng đầy nữ thân chủ, phần đông là các cô có chồng quân nhân Mỹ đã rời Việt Nam. Các cô tới nhờ thầy đoán xem bao giờ gặp lại cố nhân để cho đời sống được lên hương như trong quá khứ. Hàng chục cô trong đó mong được nâng khăn sửa túi cho giáo sư Minh Nguyệt, nhưng thầy nghiêm lắm, chẳng bao giờ “trăng hoa”.

3.3. Thầy bói mù Nguyễn Văn Canh

Thầy bói mù xem chỉ tay

Thầy bói Nguyễn Văn Canh sinh quán tại Nam Định. Bị mù từ lúc sơ sanh. Gia đình cho ông học bói toán để làm kế sinh nhai. Trước khi di cư vào nam, ông hành nghề tại Hà Nội. Nhà thầy ở đường Nguyễn Thiện Thuật, gia đình sung túc. Con cái học hành nên người.

Thầy bói nầy sở trường về bói theo kinh dịch, nổi tiếng như một nhà tiên tri. Chỉ cần nghe ngày sanh tháng đẻ, thầy lẫm nhẫm trên 5 đầu ngón tay và nói ra phong phóc. (Không biết đúng sai)

3.4. Những bà thầy bói


Những bóng hồng trong bói toán có tiếng tăm phải kể đến những cái tên như: bà Anna Phán. Có chồng người Pháp, di cư vào nam hành nghề, vài năm thì giải nghệ do tuổi già sức yếu. Cô Bích, bà Nguyệt Hồ, Madame Claire…nói chung là bói bài, xem chỉ tay, chấm tử vi… xoay quanh những vấn đề cố hữu về tài lộc, an nguy, tình duyên, gia đạo…

3.5. Các thầy bói người Tàu

Thầy bói người Tàu sờ ngực để đoán vận mạng

Trong Chợ Lớn có những bốc sư người Tàu, thường tự xưng là người Hồng Kông. Họ có những cái tên rất đặc biệt như: Sơn Đầu Bạch Vân Đại Sư, Đại Lục Tiên, Hà Thiết Ngôn Đại Sư, Sơn Đầu Mã Ngọc Long, Mã Cơ Sanh… 

4* Tử vi

4.1. Tổng quát về Tử vi
 Tử vi hay Tử vi đẩu số là một môn bói toán của đông phương được xây dựng trên triết lý của Kinh Dịch với các thuyết Âm Dương, Ngũ Hành, Can Chi.

Tử vi cho biết vận mệnh của một người căn cứ vào giờ, ngày, tháng, năm sinh và giới tính (nam, nữ) để lý giải những diễn biến xảy ra trong suốt đời người.

Tử vi đắc dụng vào thời Nhà Tống (Trung Hoa) năm 863. Tử vi du nhập vào Việt Nam và được Nguyễn Bỉnh Khiêm và Lê Quý Đôn phát triển.

4.2. 12 cung của Tử vi
 Tử vi cho biết, vận mệnh của con người được thể hiện qua 12 cung, được xếp thành từng nhóm có liên hệ đến người mang tử vi, đó là:

1). Cung Mệnh và Thân
Cho biết tổng quát về tướng mạo, tánh tình, khả năng chuyên môn, thăng trầm, thọ yểu, tai họa…

2). Cung Phụ Mẫu
Cho biết về cha mẹ của người có số tử vi.

3). Cung Phúc Đức
Là cung quan trọng nhất chi phối tới 11 cung khác. Phúc đức tốt làm gia tăng ảnh hưởng tốt, giảm sự xấu, thịnh hay suy, sống lâu hay chết yểu.

4). Cung Điền Trạch
Cho biết tài sản, sự nghiệp.

5). Cung Quan Lộc
Cho biết về công danh, sự nghiệp

6). Cung Nô Bộc
Cho biết người cộng sự, cấp trên hay cấp dưới, bạn bè.

7). Cung Thiên Di
Cho biết tình trạng ngoại cảnh ảnh hưởng tới người coi lá số.

8). Cung Tật Ách
Cho biết tình trạng sức khỏe, bịnh tật, tai họa.

9). Cung Tài Bạch
Cho biết về tiền tài.

10). Cung Tử Tức
Cho biết về đường con cái, số lượng trai gái, con nuôi.

11). Cung Phu Thê
Cho biết về hôn nhân, hạnh phúc, vợ chồng hòa thuận hay xung khắc, thời gian lập gia đình.

12). Cung Huynh Đệ
Cho biết số lượng và tình trạng của anh chị em trong gia đình. Hòa thuận hay xung khắc.

4.3. Giải lá số tử vi
Việc giải đoán lá số tử vi tùy thuộc vào trình độ và kinh nghiệm của người giải, vì thế cùng một lá số mà được giải khác nhau.

4.4. Nhận xét về tử vi 
Khoa tử vi cho rằng số mệnh của con người tùy thuộc ngày, giờ, tháng, năm sinh và giới tính nam nữ. Căn cứ vào 5 yếu tố nầy để biết số mệnh của một người và những người có liên quan với người đó như cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, bạn bè, tôi tớ…
Như vậy trên thực tế không đúng. Xin chứng minh như sau. Hai anh chị em ruột, đương nhiên là ngày giờ, tháng năm sinh khác nhau và giới tính cũng khác nhau, như vậy thì cha mẹ của hai anh chị em nầy cũng phải khác nhau hay sao?

Trái lại, hai đứa trẻ, hai con người, sanh cùng giờ, cùng ngày, cùng tháng cùng năm và cùng giới tính thì phải có số mệnh giống nhau và cha mẹ cũng giống như nhau. Thế nhưng một đứa là cháu ngoại của nữ hoàng Elizabeth nước Anh và một đứa là cháu ngoại của ông nông dân Nguyễn Văn Cột hay Nguyễn Văn Kèo nào đó ở Chắc Cà Đao, Cổ Cò, thì số mạng của hai con người đó và của cha mẹ họ làm sao mà giống như nhau cho được? 

5* Kinh dịch

5.1. Kinh Dịch giải thích sự hình thành và phát triển của vạn vật
 Kinh Dịch là bộ sách của người Trung Hoa cổ xưa chứa đựng một hệ thống triết học dựa trên sự cân bằng và đối kháng để tạo ra thay đổi (Chuyển dịch) để tồn tại và phát triển.

Kinh Dịch giải thích sự hình thành và phát triển của vũ trụ như sau:
Vô Cực sinh ra Thái Cực
Thái Cực sinh ra Lưỡng Nghi
Lưỡng Nghi sinh ra Tứ Tượng
Tứ Tượng sinh ra Bát Quái
Bát Quái sinh ra Vô Lượng.

Vô Cực: là cõi hư vô, giống như Vô Vi của đạo Lão. Thế giới chưa giải thích được Vô cực sanh ra Thái cực bằng cách nào? Tây phương gọi đó là tình trạng của sự kiện “Big Bang”

Thái Cực: Xem như trạng thái cân bằng khi vũ trụ vừa mới hình thành.

Lưỡng Nghi: là Âm, Dương.

Tứ Tượng: bao gồm Thái Dương và Thiếu Dương. Thái Âm và Thiếu Âm.

Thái Dương là mặt trời, Thiếu Dương là những ngôi sao chuyển động (Hành tinh)

Thái Âm là mặt trăng. Thiếu Âm là các ngôi sao đứng yên (Định tinh)

5.2. Bát Quái


Bát Quái bao gồm: Càn (trời), Khảm (nước), Cấn (núi), Chấn (sấm sét), Tốn (gió), Ly (lửa), Khôn (đất), Đoài (đầm, ao hồ)

5.3. Ngũ Hành


Theo triết học cổ Trung Hoa thì vạn vật được phát sinh từ 5 nguyên tố: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, theo hai nguyên lý căn bản là Tương Sinh và Tương Khắc.

Tương Sinh là: Mộc sinh Hỏa. (Cây cỏ làm mồi nhen lửa đỏ). Hỏa sinh Thổ. (Tro tàn tích lại đất vàng thêm). Thổ sinh Kim. (Lòng đất tạo nên kim loại trắng). Kim sinh Thủy. (Kim loại vào lò chảy nước đen). Thủy sinh Mộc. (Nhờ nước cây xanh mới mọc lên).

Tương khắc là: Mộc khắc thổ. (Rễ cây đâm xuyên lớp đất dày). Thổ khắc thủy. (Đất đắp đê cao ngăn lũ nước). Thủy khắc hỏa. (Nước dội nhanh nhiều tắt lửa ngay). Hỏa khắc kim. (Lửa lò nung chảy đồng, chì, thép). Kim khắc mộc. (Thép cứng rèn dao chặt cỏ cây)

Hai quy luật.
  • Quy luật Tương Sinh: là sống chung với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, nương tựa nhau để phát triển dựa trên tương quan, “cái sinh ra nó và cái mà nó sinh ra”.
  • Quy luật Tương Khắc. Là áp chế lẫn nhau để duy trì sự cân bằng dựa trên quan hệ “cái khắc nó và cái mà nó khắc” 

6* Long mạch
Phong thủy là học thuyết chuyên nghiên cứu sự ảnh hưởng của hướng gió, hướng khí, mạch nước của một vị trí đất liên quan đến đời sống họa phúc của con người.
Phong thủy dựa vào dịch lí, thuyết âm dương, ngũ hành.

Trấn yểm long mạch Sài Gòn xưa. Sài Gòn có hai công trình hình bát giác được cho là biểu tượng của phong thủy để trấn yểm long mạch. Đó là hồ Con Rùa và Khám Chí Hòa.

6.1. Hồ Con Rùa

Hình bát giác của Hồ Con Rùa trên cao nhìn xuống

Dinh Độc Lập nằm ở đầu rồng, Hồ Con Rùa ở đuôi rồng

Giai thoại được loan truyền trong dân gian kể rằng, Dinh Độc Lập nằm ngay trên vị trí địa thế được xem như đầu con rồng. Đuôi con rồng nằm ngay trên công trường Chiến Sĩ Trận Vong, bên nhà thờ Đức Bà thuộc quận 1 Sài Gòn.

Quan điểm cho rằng đuôi con rồng có thể vùng vẫy gây xáo trộn mất an ninh của Phủ Đầu Rồng, tức là chính quyền của VNCH. Để con rồng nằm yên, một công trình hình bát giác được xây dựng mang tên hồ Con Rùa.

Hình con rùa bằng kim loại đội bia đá nằm dưới một cây trụ được xem như cây đinh đóng chặt cái đuôi rồng xuống đất. Rùa hết khả năng cựa quậy nên không còn tạo mất an ninh, của chính quyền ở Phủ Đầu Rồng.

Đầu năm 1976, hình con rùa đội tấm bia đá bị phá hủy trong một vụ nổ do những người chống chế độ mới. Mục đích phá con rùa là để nó cựa quậy, vẫy vùng, làm tan tành chế độ Cộng Sản.

Mặc dù không còn con rùa nhưng người Sài Gòn vẫn gọi đó là hồ Con Rùa.

6.2. Lò bát quái: khám Chí Hòa



Khám Chí Hòa do người Pháp xây dựng năm 1943. Kiến trúc sư người Nhật thiết kế và xây dựng theo hình bát giác, 8 cạnh đều nhau, ở giữa cũng có một trụ cột cao, vừa làm hồ nước vừa làm trạm gác. Trụ cột được cho là Tru Tiên Kiếm.

Nhiều giai thoại cho rằng khám Chi Hòa được xây theo Bát Quái Trận Đồ của Khổng Minh. Chỉ có một cửa ra vào được gọi là cửa tử.

Bát Quái trận đồ của Khổng Minh vô cùng lợi hại.

Bát Quái trận gồm 4 loại binh chủng: Quân kỵ, quân bộ, quân cung nỏ và quân chiến xa, phối hợp tác chiến, phân chia thành dọc ngang 64 đơn vị chiến đấu, hợp thành một.

Điểm đặc biệt của trận đồ là sự di chuyển, thay đổi phương vị của các binh chủng lúc nào cũng chừa cho đối phương một ngõ ra. Ngõ ra tức là ngõ đi vào ổ phục kích. Cuối cùng cũng thoát ra khỏi trận đồ với tàn binh bại tướng.

Trong lịch sử khám Chí Hòa chỉ có hai tù nhân vượt ngục, đó là tử tù Phước 8 ngón và Điền Khắc Kim.

7* Cúng sao giải hạn

7.1. Nam La Hầu, nữ Kế Đô
 Quan niệm xưa cho rằng mỗi người đều có một ngôi sao chiếu mạng. Có tất cả 9 ngôi sao cứ 9 năm thì luân phiên trở lại thành một chu kỳ.

Ngôi sao xấu nhất cho người nam là sao La Hầu (Sao xấu), sao xấu cho người nữ là Kế Đô (Sao xấu).

Theo tuổi âm lịch (Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi)
thì những năm tuổi sau đây gọi là sao La Hầu đối với người nam là: 10 tuổi, 19, 28, 37, 46, 55, 64, 73, 82. Người nữ cũng ở vào những tuổi nầy nhưng được gọi là sao Kế Đô.

7.2. Cúng sao giải hạn
 Các thầy bói, thầy tướng số coi quẻ, cho biết ở tuổi thuộc hai sao xấu nầy phải cúng sao để giải hạn. Có thể cúng hàng tháng, hoặc năm. La Hầu hay Kế Đô có thể tạo ra những vận hạn xấu như hao tài tốn của, tam tai hoạn nạn…

Cúng sao để xin thần sao phù hộ: làm ăn phát đạt, tai qua nạn khỏi, công danh phú quý…

Sao Kế Đô của người nữ kỵ tháng ba và tháng 9 âm lịch, có thể gây ra vạ miệng, ăn nói thị phi “thần khẩu hại xác phàm”, họa vô đơn chí, gia đạo bất an… 

8* Chọn ngày giờ âm lịch
 Theo phong tục cổ truyền, người Việt Nam tin tưởng rằng mọi hoạt động của con người đều thuộc về những niềm tin mà chỉ có các thầy như thầy bói, thầy tướng số, thầy pháp, thầy bùa, hướng dẫn và quyết định.

Phải xem giờ tốt, ngày tốt, tháng tốt để khai trương, cưới hỏi, mua nhà, mua đất, hùn hạp làm ăn, đưa ma, hạ huyệt, xuất hành, nhập học, giao dịch…

Ngày giờ âm lịch

Một ngày đêm âm lịch có 12 giờ. Mỗi giờ 2 tiếng đồng hồ. Bắt đầu từ giờ Tý, từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng. Tiếp theo, theo thứ tự: Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Đêm 5 canh ngày 6 khắc

Tên Canh
Thời Gian
Canh 1
Từ 19 giờ đến 21 giờ tức giờ Tuất
Canh 2
Từ 21 giờ đến 23 giờ khuya tức giờ Hợi
Canh 3
Từ 23 giờ đến 1 giờ sáng tức giờ Tý
Canh 4
Từ 1 giờ đến 3 giờ sáng tức giờ Sửu
Canh 5
Từ 3 giờ đến 5 giờ sáng tức giờ Dần

“Canh Một dọn cửa, dọn nhà
Canh Hai dệt cửi, canh Ba đi nằm...”
(Nửa đêm giờ Tý canh ba. Vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi)

Ngày 6 khắc

Tên Khắc
Thời Gian
Tên  Khắc
Thời Gian
 Khắc 1
Từ 5 giờ đến 7 giờ 20 sáng
Khắc 4
Từ 12 giờ đến 14 giờ 20 xế trưa
 Khắc 2
Từ 7 giờ 20 đến 9 giờ 40  sáng
Khắc 5
Từ 14 giờ 20 đến16 giờ 40 chiều
 Khắc 3
Từ 9 giờ 40 đến12 giờ trưa
Khắc 6
Từ 16 giờ 40 đến 19 giờ tối
  
9* Sấm Trạng Trình

9.1. Sấm Trạng Trình
 Nguyễn Bỉnh Khiêm được sư phụ Lương Đắc Bằng trao cho quyển kinh Thái Ất ghi lại những nghiên cứu về bói toán.

Trịnh Kiểm dẹp tan nhà Mạc, đưa vua Lê lên làm bù nhìn. Công thần Trịnh Kiểm nắm quyền, con cháu Nguyễn Kim không tuân phục. Nguyễn Hoàng sợ anh rể là Trịnh Kiểm giết nên đến hỏi, thì Trạng Trình cho biết: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Một dải Hoành Sơn có thể dung thân lâu dài). Nguyễn Hoàng nghe theo, vào Thanh Hóa.

Lúc nhà Mạc sắp mất, cho người đến hỏi, ông khuyên vua Mạc: “Cao Bằng tuy thiển, khả diên số thể” (Cao Bằng tuy nhỏ nhưng có thể giữ được). Vua Mạc làm theo lời ông, giữ Cao Bằng được 80 năm.

Trạng Trình có người bạn trẻ nổi tiếng là thần đồng Bùi Ngu Dân, thường gọi là Bùi Công. Hai người tâm đắc, thường bàn định về vận nước. Khi hay tin Mạc Đăng Dung muốn cướp ngôi nhà Lê, (Lập Lê Cung Hoàng còn trẻ lên ngôi, sau đó sai giết Lê Chiêu Tông), cặp tri kỷ nầy cùng nhau diễn tả việc nước. Trạng Trình viết bài thơ 7 chữ 4 câu như sau:

Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh. (Cuối năm rồng đầu năm rắn xảy ra chiến tranh)
Can qua tứ xứ loạn đao binh (Nạn binh đao khắp mọi nơi)
 Mã đề dương cước anh hùng tận. (Cuối năm ngựa đầu năm dê anh hùng mất hết)
 Thân dậu niên lai kiến thái bình. (Qua năm khỉ, năm gà sẽ thái bình).

Trong lịch sử, quả thật Mạc Đăng Dung đã thực hiện, lập Lê Cung Hoàng lên ngôi, sau đó sai giết Lê Chiêu Tông vào năm Ất Dậu (1525) và đoạt ngôi vào năm Đinh Hợi (1527) lập ra triều Mạc.

Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại trên 100 câu thơ thể hiện tình trạng đất nước rối loạn thời gian đó, được xem là Sấm Trạng Trình.

9.2. Đất nước đại loạn
 Nguyễn Bỉnh Khiêm sống gần một thế kỷ (95 tuổi) trong cảnh đất nước đại loạn. Giặc giả nổi lên khắp nơi. Bắt đầu là viên võ tướng Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Hậu Lê. (Hậu Lê do Lê Lợi lập ra. Tiền Lê do Lê Đại Hành lập ra).  Mạc Đăng Dung lên ngôi làm vua lập ra nhà Mạc. Sĩ phu chống đối.

Tướng Nguyễn Kim đưa tôn thất nhà Hậu Lê là Lê Duy Ninh lên làm vua hiệu là Lê Trang Tông, chiếm Thanh Hóa chống lại nhà Mạc ở Thăng Long. Đó là thời kỳ Nam-Bắc triều. Nhà Mạc là Bắc Triều ở Thăng Long. Nhà Lê (Lê Trang Tông) là Nam triều ở Thanh Hóa.

Quyền hành Nam triều nằm trong tay Nguyễn Kim. Nhà vua là bù nhìn. Nguyễn Kim bị một hàng tướng đầu độc chết. Con rể là Trịnh Kiểm lên thay, nắm quyền chỉ huy quân binh.

Trịnh Kiểm dẹp tan nhà Mạc, đưa vua Lê lên làm bù nhìn. Công thần Trịnh Kiểm nắm quyền, con cháu Nguyễn Kim không tuân phục. Nguyễn Hoàng sợ anh rể là Trịnh Kiểm giết nên đến hỏi, thì Trạng Trình cho biết: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Một dải Hoành Sơn có thể dung thân lâu dài). Nguyễn Hoàng nghe theo, vào Thanh Hóa.

Đó là thời Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài trên 100 năm, lấy sông Gianh làm ranh giới. Loạn lạc khắp nơi. Ba anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa. Vua Quang Trung dẹp tan Chúa Nguyễn và Chúa Trịnh. Vua Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu cầu viện. Quang Trung đại phá quân Thanh. Nguyễn Phúc Ánh chống lại nhà Tây Sơn và lập ra Nhà Nguyễn. Vua Gia Long. Thời đại loạn.

9.3. Tiểu sử Nguyễn Bỉnh Khiêm


Nguyễn Bỉnh Khiêm (1492 – 1587) người làng Trung Am, huyện huyện Vĩ Lại, tỉnh Hải Dương. Tên khai sanh là Nguyễn Văn Đạt. Cha tên Nguyễn Văn Định, mẹ Nhữ Thị Thục. Ông là người thông minh, hiếu học, là học trò xuất sắc của nhà Nho Lương Đắc Bằng.

Đỗ Trạng Nguyên và được phong tước Trình Quốc Công nên được gọi là Trạng Trình.

Triều đình nhà Mạc thối nát, quan lai chia bè kết phái, lộng quyền. Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ xin trị tội 18 lộng thần, trong đó có con rể của ông tên Phạm Dao.

Vua không chấp thuận nên ông cáo quan về quê dạy học lúc 52 tuổi, sau 8 năm làm quan triều Mạc. Ông dựng một cái am gọi là Bạch Vân xưng là Bạch Vân cư sĩ, xây cầu, làm quán tạm trú, để cho dân chúng đi lại thuận tiện.

Về gia đình và hậu duệ. Nguyễn Bỉnh Khiêm có 3 vợ, 12 người con trong đó có 7 trai.

Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 1587, để lại hai tập thơ: Bạch Vân Am Thi Tập (Chữ Hán) và Bạch Vân Quốc Ngữ Thi Tập (Chữ Nôm).

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm làm thơ để nói về tình trạng hỗn loạn của thời đại ông sống. Tin chắc rằng ông không có một tí khái niệm nào về thế giới năm châu bốn bể như ngày nay. Làm sao biết được Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc? . Cho nên không có ám chỉ gì về đảng Cộng Hòa, Dân Chủ, về Tổng thống Obama hay bà Clinton của Mỹ, hay đảng CSVN, Trung Cộng…. Người ta đem tình trạng đặc biệt nào của hiện tại đối chiếu vào những câu thơ của Trạng Trình, nếu thấy phù hợp thì nói Trạng Trình đã biết trước sự việc nầy từ 500 năm về trước. Nhiều khi thơ của Trạng Trình cũng bị lạm dụng làm công cụ tuyên truyền nữa. 

10* Mê tín dị đoan
Mê tín dị đoan là tin vào những điều mơ hồ, nhảm nhí không phù hợp với lẽ tự nhiên, dẫn đến những kết quả xấu cho bản thân, gia đình. Mê tín dị đoan gồm tin vào những hành vi của ông đồng, bà cốt. Tin vào xin xâm, bói quẻ có liên quan dến ngày lành, tháng dữ, số mạng sang hèn… Tin vào việc coi chỉ tay, xem tướng, tin vào cúng sao giải hạn. Tin vào thầy bùa, thầy ngải, cúng cho tai qua nạn khỏi. 

11* Kết Luận
Nghề bói toán thịnh hành ở Việt Nam trong thời gian của 50 năm về trước. Hiện nay, nhận thức con người đã thay đổi. Có tiến bộ hơn.

Chiêm tinh gia Huỳnh Liên chết bất ngờ cho thấy nghề bói toán không có phần nào đáng tin cậy cả.

Có câu “bói ra ma, quét nhà ra rác”.


Trúc Giang
Minnesota ngày 11-11-2016

Tuesday, April 12, 2016

Vì sao Gia Cát Lượng không thọ được tới 60?


Dưới góc độ Tử vi học, sở dĩ Gia Cát Lượng có tài hô phong hoán vũ nhưng lại phải chết ở tuổi 54 là vì cung mệnh vô chính diệu.
alt
Gia Cát Lượng trong phim Tam Quốc diễn nghĩa. Ảnh: Internet
Sự nghiệp dang dở
Nhân vật Gia Cát Lượng sống thời Tam Quốc bên Trung Quốc là hình ảnh một quân sư đa mưu túc chí có tài ngồi trong màn trướng mà đẩy lui được cả chục vạn quân địch. Từ khi Lưu Bị có Gia Cát thì đánh đâu thắng đó, thế lực lớn mạnh ngang với Tào Tháo, Tôn Quyền để chia ba đất nước Trung Quốc. Gia Cát cũng qua đó mà trở thành nhân vật vĩ đại. Nhưng từ khi Lưu Bị mất rồi, vẫn Gia Cát Lượng với mưu hay kế hiểm mà 6 lần xuất quân ra Kỳ Sơn lại phải rút về chẳng đạt được gì.
Trong một cuốn sách nghiên cứu về tử vi mang tên Cuộc đời và số mệnh, tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tùng phân tích: 
“Khổng Minh Gia Cát Lượng sinh vào giờ Tuất ngày 10/4 năm Tân Dậu. Mệnh Vô chính diệu an tại Mùi có Thái Dương ở Mão (mặt trời lúc bình minh) và Thái Âm ở Hợi (mặt trăng vằng vặc lúc nửa đêm) cả hai cùng hợp chiếu về mệnh. Đây là cách “Nhật Nguyệt tịnh minh tá cửu trùng ư kim diện”. Người đắc cách này luôn luôn kề cận bên cửu trùng, quyền uy chỉ thua một đấng quân vương mà thôi. Dưới con mắt khoa Tử vi, điều này được lý giải vì Gia Cát Lượng mệnh vô chính diệu – tức là cung mệnh không có chính tinh tọa thủ, cho nên không thể làm người đứng đầu điều hành công việc được mà chỉ ở vị trí phò tá mới phát huy được tài năng.
Vì mệnh Vô chính diệu cho nên tuổi thiếu thời Gia Cát Lượng ẩn cư trong lều cỏ. Qua trung vận mới xuất thế theo phò tá Lưu Bị lập nghiệp đế. Ông là vị quân sư tài ba lỗi lạc, trên thông thiên văn, dưới thông địa lý. Chỉ ngồi trong trướng mà điều binh trăm trận trăm thắng. Ông đã hiểu rõ cái số của mình nên giữ đúng vị trí của một người có mệnh Vô chính diệu, chịu dưới 1 người mà trên muôn vạn người.
Nhưng đến khi Lưu Bị qua đời, ấu chúa lên ngôi, lúc ấy ông phải giữ vai trò của người đứng đầu, quyết định tất cả mọi việc như một vị vua thật sự. Cho nên đó là một điều không thích hợp với mệnh vô chính diệu. Phải chăng vì vậy mà 6 lần đưa quân ra khỏi Kỳ Sơn thì cũng 6 lần phải rút quân về không kết quả…. Đó là đặc tính đáng chú ý của người có mệnh Vô chính diệu: Mưu sự cho người thì dễ mà cho chính bản thân mình thì khó”.
Theo quan điểm của cụ Thiên Lương – một danh sư trong làng Tử vi Việt Nam, người có nhiều kiến giải sáng tạo đã lập ra một trường phái Tử vi riêng biệt gọi là trường phái Thiên Lương, thì sở dĩ sự nghiệp của Khổng Minh không đi tới đâu vì trong so sánh với đối thủ bị thua kém.
Cụ Thiên Lương viết: “Quân sư Khổng Minh sanh năm Tân Dậu ngày 10/4 giờ Tuất, Tả Hữu Điếu khách nhập mệnh được Thái Âm chiếu lên. Đây là tư cách một thầy đời hữu công vô lao, phù hợp với Thiếu Dương ở Mão thủ Thân bị lôi cuốn vào một thế hệ không sao giữ nổi chánh nghĩa mặc dầu cố hết công trình xây dựng. Mộc mệnh sinh xuất cho Thái Dương, nghịch lý âm dương (nghĩa là thân ở cung Mão mang hành mộc sinh xuất cho sao Thiếu Dương ở trong cung đó - Tg). Mệnh thân Quyền, Phá, Hư đối diện Thiên di có Thái tuế, Thiên khốc, rõ ràng mình ở thế xuống dốc mà kẻ đối nghịch được chính nghĩa dội vang hòa hợp ở thế Kim khắc Mộc, rốt cuộc họ thắng."
Mệnh yểu nên cầm sao thất bại
Theo truyện, năm 54 tuổi, Gia Cát Lượng biết mình sắp chết trong khi sự nghiệp vẫn dở dang, ấu chúa vẫn còn nhỏ tuổi chưa cáng đáng được sự nghiệp. Ông quyết định làm phép cầm sao giữ mạng để chống lại mệnh trời hòng sống thêm 1 giáp nữa. Trong khi ông lập đàn thất tinh cần phải 7 ngày yên tĩnh không ai quấy rầy. Nhưng đến ngày thứ 6, vì việc quân khẩn cấp, một tướng đã xộc vào nơi ông đang làm phép. Bởi thế việc cầm sao thất bại.
Tuy nhiên dưới góc nhìn của Tử vi học, cái căn bản nhất đối với người mệnh vô chính diệu là không thể thọ được. Các sách Tử vi lưu truyền từ xưa đều có câu “mệnh vô chính diệu phi yểu tắc bần”. Gia Cát Lượng dù có Nhật Nguyệt cùng hợp chiếu mệnh nên cuộc đời từ trung vận thì tỏa sáng rực rỡ, tung hoành ngang dọc, tên tuổi lẫy lừng. Tuy nhiên vẫn không tránh khỏi định mệnh cho người mệnh vô chính diệu là: Giàu thì chết sớm mà nghèo thì thọ hơn.
Tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tùng viết: “Người ta cũng cho rằng, Gia Cát Lượng chết sớm là vì sát nghiệp của ông quá nặng. Ông đã dùng hỏa công đốt chết 10 vạn quân đằng giáp của Mạnh Hoạch trong cốc Hồ Lô. Rồi lại dùng hỏa công đốt chết 18 vạn quân của Tào Tháo trên sông Xích Bích. Nhưng nếu chúng ta xét điều này dưới cái nhìn của khoa Tử Vi thì dù sát nghiệp của ông nặng hay nhẹ thì tuổi thọ của ông ta cũng sẽ được bao nhiêu với cái số mệnh Vô chính diệu?”.
Ở một sách về Tử vi khác là cuốn Tử vi thực hành thì chỉ ra rằng năm 54 tuổi, Gia Cát Lượng gặp đại hạn ngộ Thái Tuế và một loạt sao xấu cho nên không thể qua được mà phải chết. Cuốn sách viết: “Số Gia Cát có Tả hữu đồng cung Thái dương ở mão, Thái âm ở Hợi gọi là Nhật Nguyệt tinh minh cách, nên số cực phú quý, tài năng lỗi lạc. Năm 54 tuổi, đại hạn ngộ Thái Tuế, Thiên Thương, Hóa kỵ, Đại, tiểu hao, Kình Đà nên chết”.
Theo Vũ Tiến Đức
Kiến thức
 

Sunday, December 6, 2015

Tướng số

Từ xưa nhiều người coi: xem tướng, coi số, khảo sát địa lý phong thủy là một nghề trong xã hội. Những người này được gọi là thày sau thày giáo, thày thuốc, thày tu, thày chùa... Trong số ấy có những vị học rộng tài cao, rất uyên bác, "trên thông thiên văn, dưới tường địa lý". Các vị sống đạm bạc, ẩn sâu trong xóm làng, cuốc đất trồng rau, tỉa đậu, dạy học... Nếu có ai cần họ tư vấn trên các mặt về Đông phương học, họ sẵn sàng hướng dẫn tìm cát tránh hung. Hoàn toàn miễn phí. Không sống bằng nghề thầy bói.

Tuy nhiên đã là nghề ắt có cạnh tranh. Những thầy bà này nói xấu nhau, cãi vã nhau, chẳng khác hàng tôm hàng cá ngoài chợ!. Để không kém người khác, họ đã tự phong “Phong Thủy đại sư” . Đi bói dạo kiếm tiền khắp hang cùng ngõ hẻm. Thực tài thì ít, giả tài lại nhiều. Làm mất đi tính khoa học tinh hoa của Đông Phương học.

Trong bối cảnh đó, có ba ông thày, mỗi ông chuyên về một môn: thầy xem Tướng, thày tính Số, thày xem về Địa lý phong thủy. Ba thày hợp lại đi chu du khắp nơi. Với họ không phải chỉ là kiếm tiền mà chủ tâm vào nghiên cứu học hỏi. Ba thày cũng được thiên hạ tạ khá nhiều tiền.

Buổi chiều nọ các thày đến một trang trại, cả ba muốn tá túc nơi đây qua đêm. Thày Tướng đi tiên phong, ánh hoàng hôn làm thày Tướng phấn kích. Thày bước tới cổng thấy người đàn ông oai vệ, thày cất tiếng: 

"Xin chào ông chủ, ba chúng tôi lỡ đường xin được nghỉ tại điền trang đêm nay" 

Người đàn ông chắp tay nói:  "Dạ thưa, ông chủ ở trong kia, tôi chỉ là người gác cổng. Mời ba ngài vào tệ xá."

Trên đường đi thày Tướng phân vân. Khi vào phòng khách, chủ nhà chào đón rất chân tình. Chủ nhà sai người dâng trà, sau đó là bữa cơm thịnh soạn. Trong khi ăn, thày Số hỏi chủ nhà về gia cảnh và xin cho biết Bát Tự (can và chi của giờ, ngày, tháng, năm sinh, là 8 chữ) của ông. Chủ nhà hoan hỷ phúc đáp từng ý của thày. Ba thày được nghỉ đêm trong một phòng khách bài trí hài hòa, đồ đạc giản dị, gọn và tiện lợi. 

Trước khi ngủ thày Tướng cho biết: Thiên hiệp hề tiện yểu túc ác. Nghĩa là trán hẹp, lệch, tướng yểu, nghèo khổ. Ngũ quan phá tướng chẳng tốt.

Thày Số cho hay: Ông này Mệnh Triệt, thân Tuần. Ba cung tam hợp Mệnh, Tài, Quan không tốt, có song Hao cư tại Phúc Tài là không giữ được tiền của. Chỉ được cung Phúc tại Tuất có sao Thái âm, cung xung chiếu tại Thìn có sao Thái dương là hai sao cư Đắc cách. Như thế Tướng không tốt, số chẳng lành. Tại sao giàu có làm ông chủ? Người có tướng làm ông chủ lại là gia đinh canh cổng??? Phải chăng nhờ mồ mả ông bà được táng nơi âm trạch tốt Đại phát? Sáng mai xin chủ nhà dẫn đi xem Âm trạch (ra sao).

Ba thày nằm thao thức mong trời mau sáng.
Sáng hôm sau, ba thày dùng trà, ăn sáng. Sau đó đích thân chủ nhà dẫn ba thày đi đến nơi an táng ông bà, cha mẹ. Đường đi vòng vèo khá xa tới khu mộ được táng nơi lòng chảo có suối chảy qua.

Thày Địa lắc đầu: Đây là nơi thủy xuất, chẳng tụ, có thể nói là không đẹp. Long Hổ dữ thủy thuận, gia trung tài dụng tận.

(Sau đó mọi người ra về), khi về thì đường rất gần, chẳng vòng vèo (như lúc đi).
Ba thày hỏi: Sao khi đi ông không đi đường này mà đi vòng chi cho xa?.

Ông chủ nhà từ tốn đáp: Khi dẫn ba thày ra ngoài cổng tôi thấy mẹ con người nông phu đang cắt trộm lúa của tôi. Nếu tôi đi qua đó họ sẽ bỏ lúa mà chạy. Tôi cũng chẳng xuống ruộng lấy lại lúa, chuột sẽ ăn. Họ bị đói nên mới làm vậy!!!

Cả ba thày đều đồng thanh: Ồ, vậy Ngài được chữ ĐỨC, chính ĐỨC đã thay đổi vận mệnh của ngài. Đức minh minh chi chung.

(Trích lược blog Lưu Xuân Thanh)

Blog Archive