Showing posts with label Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC. Show all posts
Showing posts with label Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC. Show all posts

Friday, February 13, 2015

ĂN TẾT QUÊ NGOẠI

* Bút Xuân Trần Đình Ngọc

Mỗi năm vào cuối tháng Chạp, khi tôi thấy chiếc thuyền đinh lớn, phía mũi có vẽ hai con mắt khổng lồ giống như mắt người, ở giữa là cây cột buồm cao bằng tre luồng lớn và ở phía lái có chú Vững, đầu đội cái khăn rằn đen để hai đầu khăn rủ xuống một bên tai, bộ quần áo nâu nhuộm kỹ dày mo, đang đứng chỉ huy cho các tay chân sào neo thuyền, sửa soạn buồm dây v.v... ngay tại Bến đá trước nhà bố mẹ tôi, là tôi biết đã gần Tết Nguyên Đán rồi.

Năm nào cũng vậy, cứ khoảng sau ngày ông Táo chầu Trời, người trong thôn tôi - trong đó có bố mẹ và anh chị em chúng tôi - bao một chiếc thuyền đinh làm đò dọc để sang xã Đông Thành, tỉnh Thái Bình ăn Tết với ông bà ngoại. Đối với gia đình tôi, Đông Thành là quê ngoại vì mẹ tôi sinh trưởng nơi đó cho đến khi lấy bố tôi và theo về Nam Định, ở vùng Trà Lũ này. Với nhiều gia đình khác, Đông Thành lại là quê nội hoặc có thể là nơi sinh sống của bà con thân thuộc, Tết nhất cần phải đến họp mặt, mừng tuổi.

Năm nay, chú Vững khởi hành vào ngày 24, và chú nói vì nước lũ năm nay còn mạnh và lớn nên ít nhất cũng phải 27 tháng chạp mới tới Đông Thành.

Các chị và các anh lớn tôi khuân hòm, rương đựng quần áo ra thuyền (lúc đó thời Pháp thuộc nên vali còn rất hiếm). Quần áo này là những bộ đồ đẹp, chỉ được mặc trong mấy ngày Tết dành cho bố mẹ tôi, chị Thảo và tôi vì các anh chị lớn phải ở nhà trông nhà.

Trong rương cũng còn chất quà cáp để biếu ông bà ngoại và mọi người trong gia đình như: trà, mứt, thuốc bổ, sâm, nhung, quế, đồ trang sức, quần áo v...v... bố mẹ tôi đã mua sẵn và gói riêng từng gói, đề tên mỗi người.

Ông ngoại chỉ thích trà tàu Chính Thái thứ thượng hạng, bà ngoại cái cối nhỏ xíu bằng đồng để giã trầu hay cái hộp nhỏ bằng bạc hình trái cau để đựng vôi, cô Đoàn, chị mẹ tôi cái quần lãnh đen v...v... tất cả đều được cân nhắc, suy tính trước khi mua, tùy theo sở thích và nhu cầu của người được tặng và xếp gọn gàng trong hòm, trong rương.

Về phần tôi, lúc đó mới chín, mười tuổi, cái tuổi thích mặc quần áo mới. Tôi nhớ dù còn bé tí nhưng bố mẹ tôi cũng bắt tôi mặc áo dài. Tết nhất là cái áo gấm vàng hoặc xanh có chữ thọ to như cái bát úp rải rác khắp áo, một chiếc quần trắng dài bằng vải trúc bâu, chân đi vớ trắng và dận đôi xăng đan màu da bò. Khi trời nắng, tôi thường đội một cái mũ khung bằng liège để làm nút chai, tuy nhẹ nhưng cứng, không vo lại bỏ túi được, vành rộng hơn tấc tây, ngoài lợp vải trắng, khi mũ dơ, có thể dùng phấn trắng quết, sơn lên cho mới lại. Ngoài ra còn có thêm những bộ quần áo mặc thường để thay đổi nữa.

Lúc chín, mười tuổi, được mặc quần áo mới ai không thích, nhưng với tôi, điều thích thú hơn là được tung tăng ở quê ngoại, nơi đó có vườn tược, ao cá, đồng ruộng... một năm mới nhìn một lần nên lạ mắt, thấy cái gì cũng hấp dẫn, kỳ bí, làm tôi say mê chơi hoài không chán.

Một điều thích thú nữa, mà có lẽ là điều thích thú nhất, là được nghỉ học để đi ăn Tết hai tuần. Buổi học cuối cùng khi nghe thầy Nhường nói bằng Pháp ngữ: "Các anh được nghỉ ăn Tết hai tuần. Ngày... phải trở lại lớp." Sau khi thầy đã dặn đi đặn lại một tràng dài, nào Tết ở nhà đọc từ bài nào đến bài nào, làm bao nhiêu con toán, học thuộc bao nhiêu bài học thuộc lòng để thầy khảo v...v..., tôi - mà chẳng phải mình tôi, còn nhiều đứa khác nữa - đã nhảy cẫng lên, ôm cặp chạy bay ra khỏi lớp, phóng một mạch về nhà đứng thở, để rồi đi tha thẩn ngoài vườn, ngoài ngõ chẳng làm gì.

Hai tuần không phải cặm cụi viết chính tả, không phải học văn phạm, không phải chia động từ, không đặt câu, không làm tính, không bất cứ cái gì. Ôi sao lúc đó tôi yêu Tet làm vậy!

Khi mọi người đã xuống thuyền đầy đủ, các lồng gà vịt đưa đi biếu treo lủng lẳng ngoài hai bên mạn và sau bánh lái. Mới nhìn, người ta cứ nghĩ chiếc thuyền này buôn gà vịt vì lồng lớn lồng nhỏ treo đầy hai bên, trong lồng có để sẵn cám và nước.

Khoảng năm chục người xếp cá hộp trong ba khoang thuyền cộng thêm với rương, hòm, đồ biếu xén của mỗi gia đình, chiếc thuyền vừa khẳm vừa chật không hở một phân vuông.

Chú Vững ra lệnh nhổ neo khởi hành. Chú cầm bánh lái để đưa thuyền đi đúng hướng, còn thuyền đi được hay không là trông vào sáu anh chân sào, cạn thì đẩy bằng sào, nước ngược thì lên bãi dùng dây song, dây thừng để kéo mà sâu quá thì chèo. Sáu anh này cũng như chú Vững đều khỏe mạnh, cường tráng và đã quen sông nước.

Con sông Bến đá ngay trước mặt nhà bố mẹ tôi đi lòng vòng cả mấy chục cây số mới ra đến sông cái, tức là một nhánh của sông Hồng hà, đi tuốt về phía Ngô Đồng rồi mới sang tới Đông Thành.

Chú Vững đứng thẳng cầm bánh lái, công việc chú làm coi nhàn tản nhưng thực ra phải chú ý trong mọi lúc. Nếu chú lo ra để thuyền đâm vào bờ hoặc húc vào các cây cầu khỉ, cầu gạch bắc qua sông thì chẳng những hư thuyền mà còn phải dừng lại bồi thường cho dân làng có cây cầu nữa. Khúc sông trong này cạn nên mỗi bên mạn ba anh chân sào dùng cây sào bằng tre đặc, thẳng, thật dài để đẩy thuyền đi. Tôi vì được chú Vững cưng, nên trời còn sáng, tôi đứng cạnh chú để xem chú bẻ bánh lái đồng thời ngắm phong cảnh hoàng hôn hai bên bờ sông.
Làng mạc san sát, làng nọ tiếp giáp làng kia. Đại để trông từa tựa như nhau: những mái tranh, mái rạ màu nâu, xám, thỉnh thoảng xen vào một vài mái ngói đỏ, hoàng hôn cố sức lấy hết tàn lực rọi lên những tia nắng cuối cùng đẹp rực rỡ như bức tranh của Vincent Van Gogh.

Đâu cũng là những lũy tre xanh, tượng trưng một cuộc sống êm đềm, thôn dã. Những hàng cau cao chọc trời, cây thẳng, cây nghiêng, lấp ló một đôi chim cu bay ra bay vào cái tổ ngay trên ngọn. Thỉnh thoảng thuyền chui qua một cây cầu lợp ngói, chắc chắn, kiên cố, dân quê thường gọi là cầu thượng gia hoặc qua một bến đá tương tự như bến đá trước cửa nhà tôi. Vài người lớn, vài đứa trẻ con còn rửa ráy, giặt giũ, nước bắn lên tung tóe nghe lạch bạch cùng với những tiếng cười ròn tan. Thật xa, tiếng tù và bắt đầu vọng lại, tháng này, dân quê phải cắt phiên canh gác coi chừng trộm cướp vì cướp túng quá hay đi ăn hàng vào những đêm giáp Tết.

Tiếng chuông thu không với nhịp thật chậm của một ngôi chùa kế sông vẳng lên làm tâm hồn ta muốn tìm cõi siêu thoát. Tiếng guốc gõ trên đường xi măng và tiếng lào xào nói chuyện của một đoàn người lớn và con nít, áo quần thùng thình, đang rảo bước đến nhà thờ đọc kinh tối, dáng điệu vui vẻ và thanh bình như tiếng chuông rộn rã của giáo đường.

Quê tôi chỉ có vậy. Mộc mạc. Êm đềm. Trầm lặng. Và nghèo. Cuộc sống không thích hợp cho người thích bon chen, tranh đua nhưng rất thoải mái cho những tâm hồn yêu thiên nhiên, sống giản dị và bình lặng.

Người trong khoang thuyền giở cơm nắm, muối mè, xôi, cơm nếp mật, bánh trái... ra ăn cho bữa tối. Còn một chút ánh sáng mặt trời, họ phải lợi dụng kẻo nửa giờ nữa là tối sập. Tiếng mời chào, trao đổi món ăn nghe cũng ấm lòng. Người dân quê hiền lành chất phác, nghĩ sao nói vậy. Họ không khách sáo hoặc hoa hòe hoa sói, kiểu cách như người thành thị. Họ chia sẻ những vắt cơm, những nắm xôi, những củ khoai, chén đậu, cái bắp với nhau, những thức ăn thật tầm thường đạm bạc nhưng lòng họ đầy thành thật và thương quí lối xóm, bà con.

Mẹ tôi gọi tôi vào ăn cho xong bữa, nhưng tôi mải mê với hoàng hôn đang từ từ xuống, với cảnh vật thiên nhiên lồng vào sông nước, con thuyền tôi đang đi. Tôi muốn thu vào trí nhớ tất cả những hình ảnh thân thương đó để mãi mãi, dù sau này không còn được nhìn lại, trí óc tôi vẫn còn ghi đậm những gì tôi đã được hưởng lúc thiếu thời.

Chú Vững giục tôi vào khoang vì trời đã tối và lạnh. Bên trong chỉ có một ngọn đèn chai đốt bằng dầu lạc. Dầu hỏa hay dầu hôi lúc đó đã có nhưng dân chúng chỉ dùng để đốt những ngọn đèn Hoa Kỳ nhỏ, hoặc nhà khá giả, đèn măng-sông, mỗi khi có đình đám tiệc tùng.

Đèn chai là thứ đèn hết sức thô sơ. Người ta cắt hai đầu một chai thủy tinh để làm cái chụp đèn. Bên trong chụp là một cái lọ giống lọ mực, học sinh khi xưa vẫn phải cầm đi mỗi khi đến trường để chấm ngòi bút lấy mực đặng viết. Trong lọ là dầu lạc (đậu phụng) với một ngọn bấc nhỏ xíu khi cháy cho ta ánh sáng của một ngọn nến (đèn cầy). Nến không thắp lâu được vì tốn tiền, phải canh chừng khi nến sắp hết và sáp nóng chảy lung tung. Đèn dầu lạc ít tốn, có thể đốt suốt đêm, lại nữa, nếu đèn bị ngã đổ, ngọn lửa tắt liền không gây hỏa hoạn như đèn dầu hôi hoặc nến.

Trong khoang khá ấm dù chăn, mền hơi ít và chỉ có chiếu nhưng đông người vẫn ấm. Chỉ còn vừa một chỗ nằm nhỏ xíu cho tôi lách mình vào, nằm nghiêng mới đủ chứ không thể nằm ngửa. Cá mòi xếp trong hộp Sumaco - Made in Morocco có lẽ cũng chỉ khít khao đến thế.

Tuy ăn uống, chia sẻ cho nhau thân thiết đậm đà như đã nói nhưng lúc nằm ngủ, giới phụ nữ không nhân nhượng phe đàn ông một chút nào khi bị lấn lướt. Thỉnh thoảng lại nghe một tiếng la, giọng chua như dấm của một bà sồn sồn hoặc cô con gái:

"Cái nhà ông này hay chửa, sao ông cứ gác chân lên đùi tôi vậy? Tê hết cả cái đùi người ta rồi này."

Mặc dù "xướng" to thế, cả làng cả nước những người còn thức đều nghe, nhưng không có "họa". Người đàn ông nào đó làm như ngủ say - say thật hay say vờ - nhưng không bao giờ có tiếng trả lời.

Được một lúc im lặng, chỉ nghe tiếng ngáy phì phò, tiếng thở nhịp nhàng của những người dễ ngủ. Làm việc đồng áng ban ngày, đêm đến là họ ngủ như chết. Rồi lại tiếng la:

"Cái anh chết tiệt này, mê sảng gì cứ sờ đầu, sờ cổ người ta lung tung. Thức dậy đi. Đồ phải gió!"

Lời trách móc, chửi bới rốt cuộc cũng loãng vào khoang thuyền. Chẳng ai để ý, mà để ý cái vụ đụng chạm làm chi khi khoang thuyền chật như nêm cối. Thánh sống nằm đó cũng còn bị trách cứ, mè nheo, huống hồ con người. Không lẽ nằm như bó giò từ chập tối đến sáng không cựa quậy, không nhúc nhích, không gãi ngứa, co tay đạp chân? Vậy đụng chạm là phải rồi. Chỉ có cái lạ, dù mãi sau này mười tám, hai mươi tôi mới hiểu ra, lâu lâu lại một cô con gái nhà lành đi buôn đò dọc hàng chuyến như thế, bỗng nhiên cái bụng cứ to mãi lên, khiến cô phải bỏ quê đi mất xứ. Vác cái bầu, kết quả của những đêm đi đò dọc nghe mấy anh chân sào gẩy đàn bầu hoặc hát trống quân, quan họ trong lúc thuyền đi thong dong nhờ gió và buồm, nhục nhã với bố mẹ, gia đình, làng xóm không chịu nổi. Các cô ra tỉnh ở đợ, ở vú kiếm ăn nuôi con, sống nhục nhã ê chề thế nào cũng giữ con, ôm con chứ không phá thai dễ dàng như thời nay.

Sau ba đêm và hai ngày đằng đẵng dưới đò như thế, mọi người đã cảm thấy cuồng cẳng. Sáng ngày kế tiếp, thuyền chúng tôi vào địa phận Đông Thành. Thuyền lại đi trong con sông nhỏ vài cây số nữa mới tới chợ, nơi thị tứ đông người ở và là nơi trú ngụ của ông bà ngoại tôi. Hai anh chân sào ngồi trên thuyền nghỉ, một anh đứng chống mũi thuyền để thuyền khỏi gạc vào bờ, ba anh kia đeo thừng vào vai, lội ruộng để kéo thuyền. Khi nào kéo mệt, toán kia xuống đổi.
Tin thuyền ăn Tết của chú Vững tới được loan thật nhanh. Lúc thuyền vừa cặp bến, tôi đã thấy ông ngoại tôi - dù trên bảy mươi tuổi nhưng vẫn còn khang kiện - cùng với cậu Bảo, cậu Tường và dì Cúc, dì Hiên, dì Mười có mặt để đón chúng tôi. Đúng như chú Vững nói, sáng hôm 27 Tết chúng tôi có mặt ở chợ Đông Thành.

Con cái đã tụ họp đông đủ. Gia đình tôi từ Trà Lũ sang, cậu mợ Lã từ tỉnh Thái Bình về, ông bà Phán Quế, bạn của ông ngoại tôi lúc cùng đi học, từ Hà Nội xuống. Bạn bè, con cháu, xóm giềng đầy một nhà tính ra có tới ba, bốn chục người.

Đầu tiên ông tôi phân công mỗi người hoặc mỗi nhóm một việc. Bố tôi viết đại tự đẹp thì lo liễn, hoành phi, câu đối, thiếu mua vải về viết thêm, đủ thì chỉ bảo cho mấy đứa cháu lau chùi bụi bặm, treo lại cho ngay ngắn. Bố tôi cũng có nhiệm vụ lo bàn thờ gia tiên, đỉnh hương, đèn nến và chỉ bảo người nhà lau chùi bày biện hương hoa, quả trái cho ra vẻ ngày Tết. Tôi nhớ ông bà ngoại tôi lúc đó chưa theo đạo Thiên Chúa nhưng cũng không theo đạo Phật. Ông bà chỉ cúng giỗ gia tiên và làm bổn phận của người con, người cháu những ngày kỵ, ngày Tết. Tuy vậy ông không cấm con cháu theo tín ngưỡng riêng. Khi mẹ tôi lấy bố tôi, mẹ tôi theo đạo Thiên Chúa vì gia đình ông nội tôi có đạo Thiên Chúa từ nhiều đời.

Cậu Bảo và thằng con lớn của cậu có nhiệm vụ trồng nêu và trang hoàng, làm sạch lối đi vào nhà. Thường gần Tết, dân quê có thói quen sửa sang đường xá, làm cỏ, cắt cỏ những nơi công cộng cho sạch sẽ, vét bùn ao, sông hoặc tát ao, tát sông bắt tôm cá chia cho mỗi gia đình ăn Tết.

Một đám thanh niên năm, sáu người theo lệnh ông tôi xuống ao bắt cá. Tôi còn nhớ cái ao lớn và thật sâu, ông tôi làm ống cho thủy triều ở con sông lớn vào ra hàng ngày nên ao sạch và cá rất mau lớn. Với đám khách khứa đó, khoảng mười con cá vừa mè, vừa chép trung bình mỗi con sáu, bảy ký là đủ. Bà ngoại chỉ huy cho nhóm đàn bà đem nướng, hấp hoặc nấu với chuối xanh tùy theo loại cá để đãi khách.

Dù mới hăm bảy tháng Chạp, nhà ông bà ngoại tôi đã vui như Tết. Cá đánh dưới ao lên tươi rói, đàn ông uống rượu đậu, ăn gỏi cá mè. Rượu đậu là một thứ rượu trắng như rượu đế trong Nam, do nhà cất lấy. Nó thơm, ngọt, uống êm ả và say êm không sóc, không nhức đầu như rượu Văn Điển. Rượu Văn Điển hay rượu Ty là rượu độc quyền của Pháp chế tạo và bán cho dân chúng. Rượu này không nguyên chất như rượu đậu mà có pha cồn (alcohol) nên uống sóc và nhức đầu. Cất lén rượu đậu bị bắt sẽ bị phạt tiền, phạt tù hoặc cả hai. Nhưng dân quê ta ghiền rượu, không sợ, vẫn cất lén uống.

Còn gỏi cá mè là những miếng phi - lê cá, thấm giấy bản cho thật khô nước, thái mỏng, trộn với riềng đâm nhỏ và thính. Một thứ sốt sền sệt làm bằng nước nấu từ đầu cá có thêm thịt heo ba chỉ, dấm, đường, nước mắm, bột gạo, tiêu ớt và có khi cả bã rượu, chua chua, ngọt ngọt, đậm đậm, cay cay để ăn với cá và các thứ rau thơm với bánh đa nướng. Dân quê miền Bắc lúc đó khoái gỏi cá cũng như dân Nhật mê Sushi bây giờ. Cũng là cá sống thôi. Cá sống bổ, không có cholesterol như thịt, các cụ ta ít bệnh ung thư, cao máu, tiểu đường, bao tử là vì vậy.

Còn các bà thì ăn cá nướng, ăn bún bung. Cá tươi như thế đem kẹp vào một cây tre chẻ đôi đem hơ trên than cho đến khi chín vàng. Mùi cá nướng thơm ngát mũi. Gỡ cá ra, bóc da vứt đi, đem cá nạc chấm với nước mắm chắt (một thứ nước mắm nhĩ nguyên chất), chao ôi là ngon! Nếu không thích cá nướng thì ăn bún bung. Cá chép nấu với chuối xanh, thịt ba chỉ, đậu hũ chiên, bột nghệ. Khi ăn chỉ việc bỏ bún (lúc đó chỉ có bún tươi) vào tô, chan cái chan nước đều lên để mỗi tô có cá, có thịt, có đậu hũ, chuối xanh, hành hoa... Thế nào cũng phải có tía tô và rau diếp. Thiếu tía tô không ra bún bung. Tôi vì còn nhỏ quá chưa biết uống rượu nên không ăn được gỏi cá (các cụ quan niệm gỏi cá hàn (lạnh), vậy phải uống rượu cho ấm lên, nên cứ thưởng thức bún bung. Cũng ngon chán. Giờ nhớ lại tôi vẫn còn thèm.

Người nông dân nước ta, dù ở Trung, Nam hay Bắc Việt thường tự cung cấp cho gia đình mình những nông phẩm cần thiết như lúa gạo, thịt cá, rau trái... Ông ngoại tôi, cũng giống như phần đông các gia đình nông dân khác, nuôi không thiếu thứ súc vật gì và trồng cấy không thiếu cây cỏ gì. Trước kia, ông làm việc ở Hà Nội, công chức nhà Giây Thép (Sở Bưu Điện bây giờ), sau đó ông về hưu và về hẳn Đông Thành, nơi quê hương bản quán để sống một cuộc đời nông dân mà ông ao ước.

Ông có một chuồng gà lớn cả hai, ba mươi con. Gà có đực, đẻ trứng là ông cho ấp liên miên hết lứa này đến lứa khác. Ông cũng dùng gà để ấp trứng vịt nữa, vì vậy đàn vịt của ông tăng gia phi mã, thỉnh thoảng phải bán bớt lấy tiền mua thóc, bắp, cám... cho những con còn lại. Ông còn một chuồng bồ câu cả chục đôi. Chúng bận rộn kiếm ăn, nuôi con và đứng gật gù với nhau ở ngoài sân, trên mái nhà cả ngày. Chưa hết, chuồng lợn kế bếp của ông cũng có mấy con. Lợn ông chỉ cho ăn cám nấu với bèo hoặc rau muống, thịt chắc mà thơm, khác hẳn với loại thịt lợn ăn những thứ tạp nhạp khác.

Năm nào có đông khách và con cháu, ông bảo cậu Tường và cậu Bảo mổ con lợn hoặc chung một đùi bò với người lối xóm để đãi khách. Thực ra, gà vịt và bồ câu trong chuồng cũng đủ cho một cái Tết thịnh soạn rồi.

Dân quê ngoài Bắc có thói quen hạ cờ tây, tuy nhiên ông tôi không bao giờ giết những con chó nhà. Ông nói nuôi nó, nó như tay chân thân tín, mình không nỡ lòng nào hạ nó ăn thịt. Đôi khi ông và gia đình có thưởng thức món cờ tây này, nhưng là "đánh đụng" với nhưng nhà khác mà thôi. Đàn chó của ông vì vậy "khuyển số" tăng lên khá mạnh mẽ.

Tôi còn nhớ một năm, khi gia đình tôi tới, tôi thấy con Vện, con chó đực lông vàng điểm hung đen, khá to và mạnh, không hiểu sao bị què một chân đi khập khiễng. Dì Hiên nói nó bị sa xuống cái hố sâu ngoài ruộng cách nhà khoảng nửa cây số, khi nó đi theo anh Viễn ra ruộng, anh canh điền vẫn đến cày bừa cho nhà ông tôi, nhưng anh Viễn không biết. Nó nằm cả đêm dưới hố không rút chân lên được cho đến sáng hôm sau khi ông và cậu Bảo đi kiếm, mới kéo được nó lên và khiêng về nhà săn sóc. Vì không có thuốc men, chỉ dùng gừng hoặc nghệ giã ra, đổ rượu vào chưng lên cho nóng rồi bóp vào cẳng nên nó vẫn không khỏi được. Con Vện mang cái chân què trông thật tội nghiệp và vì kém ăn, nó sút đi trông thấy.

Mấy người hàng xóm xúi ông ngoại tôi giết thịt, ông không chịu, nói nó què quặt lại càng phải thương nó hơn. Họ dụ ông giết nó không được, bèn trả giá mấy hào, nói mua về nuôi săn sóc cho nó nhưng ông ngoại tôi biết, họ chỉ định mua về giết thịt vì con Vện lông ngắn, thuộc giống chó ta, thịt rất ngon. Ông lại càng cố giữ con Vện lại.

Tết năm nay có khách trên Hà Nội xuống - ông bà phán Quế. Ông phán Quế là bạn đồng sự với ông tôi mấy chục năm ở nhà Giây Thép, nên ông tôi ra lệnh giết một con lợn, chia cho lối xóm một ít, còn giữ lại để giã giò, làm nem và gói bánh chưng.

Ở thôn quê lúc đó, giết lợn là chuyện đại sự. Bởi lẽ phải khá giả mới dám ngả lợn, giầu có dư ăn, dư để và nhân dịp hội hè đình đám lớn mới dám vật bò, mổ trâu. Nhiều địa phương, phải là việc làng, việc tổng mới dám nghĩ đến chuyện giết bò, giết lợn hoặc giết trâu làm cỗ đãi hàng xã, hàng tổng. Một chi tộc, một khu xóm, thường người ta chỉ giết gà vịt, bắt cá dưới ao lên hoặc cùng lắm là hạ một con cầy tơ.

Trời lạnh căm căm, cái lạnh thật dễ chịu cho những chú bé như tôi. Tôi chưa phải làm việc gì, vì con nhỏ cũng có, vì đóng vai khách cũng có. Áo len dài tay màu đỏ tươi, cổ chữ V, bên trong là hai ba cái áo cánh cho ấm, quần cũng mặc hai cái, cái vải trúc bâu, cái vải kaki dầy. Tôi cùng với mấy đứa trẻ hàng xóm nhà ông ngoại và mấy anh, chị, em, con của bác Đoàn, cậu Bảo, cậu Tường, dì Cúc, dì Hiên v...v... đứng vừa bàn tán vừa coi giết lợn.

Con lợn vừa, không lớn lắm, chỉ khoảng năm sáu chục kí lô, bị trói cẳng và treo ngược lên tại gốc cây ổi ở góc sân. Nó kêu eng éc dữ dội làm lũ trẻ hàng xóm kéo đến mỗi lúc một đông. Cứ thử tưởng tượng ở Mỹ này có một chút gì xảy ra là người ta bu lại đông đảo để coi vì hiếu kỳ trách chi ở Việt Nam lúc đó, con nít người lớn không có gì để giải trí, tiêu khiển ngoài những sinh hoạt thường nhật như ăn, ngủ, làm việc. Một năm mới được một, hai lần hội hè đình đám. Và Tết thì chỉ có một lần.

Các cụ ta quan niệm máu huyết trong con người và súc vật là tốt và quan trọng nhất cho mỗi sinh vật. Vì vậy, hạ súc vật, các cụ không bao giờ chịu bỏ phí huyết. Lợn, chó, gà, vịt, trâu, bò, chim chóc... thảy đều phải qua giai đoạn cắt tiết và hãm huyết. Con lợn càng kêu lớn, huyết ở cổ nó càng ồng ộc đổ xuống thau đã có sẵn ít muối. Người cắt tiết con lợn hôm ấy chẳng ai xa lạ, lại chính là chú Vững, lái đò dọc từ Trà Lũ qua đây.

Dưới mắt tôi lúc đó, chú Vững là người có quá nhiều tài. Chú lái thuyền giỏi, đưa bà con đi đến nơi về đến chốn. Chú hò hát và đàn bầu cũng giỏi. Chẳng vậy mà thím Vững bây giờ chính là cô Mùi buôn bán hàng chuyến hồi xưa. Cô Mùi xuống đò chú Vững, những tưởng buôn bán làm nên sự nghiệp, nào ngờ chỉ sau năm, mười chuyến cô khám phá ra cái ruột tượng (dây lưng của đàn bà) mẹ cô cho cô, hình như ai lén cắt bớt một khúc. Nó không còn dài thả xuống mắt cá mà ngắn ngủn lơ lửng trên đầu gối. Thế là cô Mùi bắt đền chú Vững và lập tức mẹ chú Vững phải đưa trầu cau sang nhà ông bà Thủ Mầu để hỏi cô Mùi cho chú Vững. Đứa con gái đầu lòng của chú Vững ra đời chỉ sau đám cưới của bố mẹ nó chừng bốn tháng làm cả làng nước xôn xao dữ dội hơn bây giờ người ta được tin thủ tướng Do Thái ký thỏa hiệp hòa bình với lãnh tụ PLO hay Mỹ phóng phi thuyền lên mặt trăng.

Và lúc này đây, với tôi, chú Vững lại có thêm tài nữa: cắt tiết heo. Tay phải chú thọc sâu con dao bầu sắc như nước vào họng heo làm đứt thêm những động mạch mới dạm đứt để lấy hết máu xuống thau, tay kia chú cầm đôi đũa dài và lớn khuấy trong trong thau tiết để huyết khỏi đông.

Bọn con nít la hò ầm ĩ. Đứa năn nỉ chú dành cho cái đuôi, đứa cái bong bóng... Vòng tròn chung quanh con heo nhỏ lại dần khiến chú Vững không làm việc được. Chú dọa chơi đám trẻ bằng một tiếng hét to như sấm khiến bọn trẻ sợ quá dạt cả về phía sau.

Nồi ba mươi nước sôi đã sẵn sàng. Chú Vững và cậu Tường đặt con heo lên một tấm phản, dội nước sôi từng phần và cạo lông. Con heo trắng nhởn, sạch sẽ. Chú xả ra làm bốn phần đều nhau để lối xóm "đánh đụng" lấy phần thịt của mình đem về. Phần của nhà chú pha ra, nào thịt để giã giò, làm nem, nấu đông, làm mọc, nào thịt làm bánh chưng v...v... Chỉ loáng cái, tôi đã thấy chú băm nhân tiết canh và đánh ra hàng chục đĩa tiết canh rồi.

Sang ăn Tết bên nhà ông bà ngoại mà tôi đã có nhiều kinh nghiệm, là phải chuẩn bị cái bụng cho tốt để thưởng thức món ăn. Cả hai ông bà ngoại tôi đều hiếu khách và đều muốn con cháu tụ họp đông đủ. Năm nay chỉ có tôi và chị Thảo làm ông bà cứ thắc mắc tại sao bố mẹ tôi không nhờ người coi nhà và cho hết các anh chị tôi đi.

Đánh cá dưới ao, bắt gà vịt, mổ heo, "đánh đụng" đùi bò và sửa soạn cỗ bàn đều vui. Nhưng cái tôi thích nhất vẫn là nấu bánh chưng.

Gạo nếp và đậu xanh đã được ngâm sẵn cho mềm. Thịt heo làm nhân chú Vững đã xắt, ướp muối tiêu hành, thảo quả sẵn sàng, lá giong cắt từ ngoài vườn rửa ráy sạch sẽ, lau cho khô, lạt buộc bằng tre cũng đã chẻ xong. Từ trưa ba mươi, bà ngoại, các dì tôi và những người khéo tay bắt đầu ngồi gói bánh chưng. Mỗi cái bánh vuông vức mỗi bề hơn một gang tay người lớn, dầy khoảng hai phần ba ngón tay trong để hai lớp gạo nếp và hai lớp đậu xanh bao lấy một lớp thịt heo đã ướp. Chú Vững chẻ những cái lạt bằng tre, dài vừa đúng một tầm, mỏng và dẻo, buộc xoắn lại và giấu mối bên trong. Khoảng chập choạng tối thì bánh gói xong.
Trước kia ông tôi thường gầy nồi bánh chưng ở ngoài sân vì cần chỗ rộng cho cái thùng lớn gần bằng thùng phuy. Năm nay ông sắp xếp trong bếp để nấu ngay tại bếp vì ông bảo ngoài sân quá lạnh cho đám con nít như tụi tôi.

Mọi người thay phiên nhau tắm và thay quần áo. Nước lạnh quá thì đặt những nồi nước lớn đun sôi để pha cho ấm. Khoảng chín giờ tối mọi việc dọn dẹp, tắm rửa đã xong. Ông ngồi kể chuyện cổ tích cho con cháu nghe với sự phụ họa và thay phiên của ông phán Quế, một người có tiếng kể chuyện có duyên.
Những thanh củi tạ trong bếp cháy tí tách cho lửa sáng và hơi ấm. Nồi bánh chưng liên tục sôi sùng sục. Những câu chuyện "Chống trả cướp đêm 30", "Giết trăn cứu người", "Con cọp thọt" v...v... chuyện nghe rồi, chuyện chưa nghe nhưng được kể vào đêm 30, ngoài trời tối như hũ nút (ta thường nói: tối như đêm 30), gió bấc lạnh căm căm, trong không khí gia đình xum họp mà cái đinh là nồi bánh chưng thì dù chuyện nhạt như nước ốc, như nước lã ao bèo chăng nữa, cũng vẫn được tán thưởng nhiệt liệt như một câu chuyện hay nhất, ý vị nhất, người kể có duyên nhất.

Nhưng dù có say mê kể chuyện đến đâu, ông ngoại, ông phán Quế và bố tôi cũng không quên lễ Giao thừa.

Đèn nến trên bàn thờ tổ tiên đã thắp sáng trưng. Một ngọn đèn măng - sông tỏa sáng cả căn nhà. Bài vị tổ tiên trông đơn giản nhưng uy nghi, trang trọng. Hoa trái trưng bày thật đẹp mắt và nhả mùi hương thơm ngát. Ông tôi, bố tôi và cậu Bảo ăn mặc chỉnh tề, áo dài khăn đống để chờ giờ hành lễ.

Đột nhiên chuông chùa, chuông nhà thờ, cồng, mõ đầu xóm nhất loạt khua vang. Giao thừa. Giờ linh thiêng. Giờ quan trọng. Ai nấy cảm thấy một cái gì thật trang trọng, tôn nghiêm. Ông bà ngoại tôi đã cắt cử vài người ở bếp canh nồi bánh chưng, còn bao nhiêu quây quần ở phòng khách, gian chính giữa căn nhà gỗ năm gian cũng là chỗ đặt bàn thờ Gia Tiên. Ông tôi đứng trước bàn thờ, bà tôi đứng kế. Ông bà phán Quế đứng cùng hàng nhưng phía bên cạnh chứ không ở giữa chiếu. Sau ông bà là bố mẹ tôi và các cậu các dì. Rồi đến các cháu các chắt. Tôi đứng với bé Vân, con cô Mười, mới sáu tuổi. Từ hôm tôi tới nhà ngoại, Vân cứ đeo dính lấy tôi.

Ông bà tôi trang trọng dâng hương lên trước trán bằng cả hai tay, đầu cúi xuống rất là thành kính. Mọi người giữ im lặng hoàn toàn. Không một tiếng hắng giọng, một tiếng ho. Tôi nghe ông dõng dạc từng tiếng một nói lớn:
"Giờ phút này là giờ phút thiêng liêng của Năm Mới. Tụ họp đông đủ tại đây là các con, các cháu, các chắt, chút, chít v...v... của các cụ, các cố, tam, tứ, ngũ đại và lên trên nữa để nhớ công ơn sinh thành, dưỡng dục và gây dựng cho chúng con có ngày nay. Xin hương hồn các cụ, các cố về chứng giám lòng thành kính của con cháu và hưởng lộc con cháu dâng lên".

Nói xong, ông vái ba vái và cắm ba nén hương vào bát nhang rồi tiến lại đứng ở bàn phía phải kế bàn thờ nhìn xuống đám con cháu. Bà tôi cũng lên cắm hương và đến đứng cạnh ông. Vì là chỗ thân tình và còn họ xa, ông bà phán Quế cũng dâng hương. Sau đó cậu mợ Bảo, con trai trưởng ông tôi, rồi đến bố mẹ tôi và các cậu, các dì đều làm lễ như vậy. Các cháu, các chắt nhỏ quá không phải dâng hương mà chỉ đôi một tiến lên đứng vái và quay ra. Bé Vân súng sính trong chiếc áo gấm mầu vàng, còn tôi gấm xanh, bé bắt chước tôi chắp hai tay lại cúi đầu xuống vái. Tôi nghĩ nếu các cụ, các cố... có sống lại được, dù già lão đầu bạc răng long nhưng nhìn được đàn con, đàn cháu của mình như thế cũng mát dạ.

Ở thôn quê người ta ít đốt pháo. Bánh pháo trị giá mấy thúng lúa chỉ nghe đẹt đùng vài chục giây. Vì vậy tư gia ít đốt mà chỉ có làng, tổng với quỹ chung mới có pháo đốt lúc Giao Thừa. Ông ngoại tôi không mua pháo, cũng không thích đốt nhưng ông bà phán Quế thường mua từ Hà Nội xuống vài bánh pháo "Đại Quang" làm quà cho ông bà tôi, nói đốt cho vui nhà vui cửa và được may cả năm. Vì vậy lúc bọn trẻ con chúng tôi vái lạy tổ tiên, chúng tôi chỉ làm qua loa chiếu lệ. Đầu óc chúng tôi còn để ở cái bánh pháo cột ngang đầu người ở thân cây cau ngay trước gian giữa. Khi người cuối cùng lễ xong là đúng lúc cậu Bảo khai hỏa bánh pháo. Cậu lấy thanh nứa mỏng lấy lửa từ cây nến trên bàn thờ châm vào ngòi pháo. Pháo nổ điếc tai làm có đứa sợ phải bịt tai lại. Sợ đó nhưng bánh pháo nổ chưa hết đã có vài đứa xông vào nhặt những cái pháo tịt ngòi để đốt lại mong nó nổ cho vui. Mùi thuốc pháo tản mạn trong không khí mà đám trẻ chúng tôi cho là cái mùi dễ thương, nó có khả năng đánh thức những đứa đang buồn ngủ díu cả mắt phải tỉnh như sáo sậu. 

Ánh đèn măng - sông mà lúc đó tôi cho là sáng nhất, sang trọng nhất vì thôn quê chưa có điện, rọi những tia sáng khoảng 500watts lên hai cành đào cắm vào đôi song bình lớn, đặt hai bên bàn thờ, làm tôi ngó những cánh hoa và nụ đào mơn mởn không chán mắt. Hai cành đào này được chặt từ cây đào ngoài vườn, hoa to và nở đúng dịp Tết nên ông tôi cưng lắm. Cây khá già, cũng phải vài chục tuổi nhưng vì ông tưới nước và bón phân đều nên cành lá và hoa nụ của nó trông như đào đương tơ.

Hồi xưa ở Bắc Việt không có mai vàng, chỉ có đào và mai trắng. Mai trắng không đẹp vì hoa quá nhỏ và xúm xít từng chùm nhưng mai trắng cho những trái mơ về mùa hè chua chua, giốt giốt, ngọt, ngọt, nhìn chảy nước miếng. Một nhạc sĩ tiền chiến đã đặt nhạc vào thơ trong bài "Cô hái mơ" trong có câu "Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ" chính là loại mơ này.

Ông tôi không cho để cúc nhiều trên bàn thờ vì chậu trồng cúc thường hơi lớn, để ở dưới sàn nhà coi đẹp nhưng thượng lên bàn thờ coi hơi thô. Ông lựa hai chậu nhỏ, trồng loại cúc hoa nhỏ màu vàng tươi, đặt hai bên bàn thờ, phía trong bình cắm đào. Miền quê lúc đó không có glaieul (lay - ơn) nhưng khi từ Hà Nội xuống, ông bà phán Quế đã chu đáo mua biếu ông bà tôi hai chục bông lay - ơn màu nhung thẫm, vừa dịp nở loáng thoáng trong lúc Giao Thừa làm bàn thờ càng thêm trang trọng. Mấy năm trước ông phán Quế có mang cả Thủy Tiên xuống nhưng vì gọt trễ, không bao giờ nở đúng Giao Thừa nên ông tôi dặn ông phán Quế không mua nữa.

Mùi trầm từ cái đỉnh hương bằng đồng đã được đánh sáng trưng đến soi gương được, tỏa mùi hương dễ chịu và ấm cúng. Những trái phật thủ, cam sành, quýt đường, bưởi... được đặt trong các đĩa lớn cùng với những thức ngọt như bánh trôi, chè lam, thức mặn như con gà trống lớn mới biết gáy luộc nguyên con, xôi gấc v...v... và cả chén đũa như thật sự đãi khách. Với trí óc non nớt của tôi lúc đó, tổ tiên không thể ăn uống hưởng lộc được nữa, nhưng tấm lòng thành đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ... của ông bà ngoại tôi thật đáng quý, đáng làm gương cho các con cháu để giữ lấy tập tục cao đẹp là phải đặt chữ Hiếu Kính lên trên tất cả trong đạo làm người. Con người chỉ hơn con vật ở chỗ biết người trên kẻ dưới, biết giữ tam cương ngũ thường, biết nguồn biết cội.

Để không quá trễ sau lễ Giao Thừa, ông tôi, ông phán Quế và bố tôi ra sân nhìn trời và ngắm cảnh vật, nghe ngóng những âm thanh lúc đó để đoán ra điềm tốt xấu trong năm mới. Bố tôi giải thích nhiều nhưng lúc đó tôi chỉ hiểu đại khái nếu trời quang, mây tạnh, đêm tuy tối mịt tối mùng, nhưng là cái tối êm đềm thì có thể đoán được năm đó được mùa, thời tiết tốt, đất nước yên vui. Trái lại trời đất u ám, quạ kêu cú hú, lại pha lẫn tiếng khóc nỉ non từ đâu đưa tới, như những oan hồn uổng tử quanh quất hiện về thì tiên đoán có thể hạn hán hoặc lụt lội hoặc bệnh dịch tràn lan trong dân gian, mất mùa đói kém làm dân chúng khổ sở, lo âu phiền não. Năm nào lúc Giao Thừa có tiếng bò kêu, ngựa hí hoặc heo ủn ỉn trửng giỡn trong chuồng là y như ông tôi nói năm mới sẽ khỏe mạnh, bình an, công việc làm ăn phát đạt.

Khi ông tôi trở lại phòng khách, đó là lúc hai ông bà ngồi ở trường kỷ để con cháu lần lượt chúc tuổi. Bố tôi thay mặt toàn thể gia đình mừng tuổi ông bà ngoại và ông bà phán Quế. Ly rượu đầu năm do bố tôi rót được tôi, bé Vân và hai đứa bé khác dâng lên ông bà ngoại và ông bà phán Quế. Sau đó người lớn mừng tuổi lẫn nhau, và lì xì cho đám con nít. Tôi được cả chục cái phong bao đỏ, trong đựng những đồng xu, đồng trinh, lúc đó có thể đi mua pháo đốt chơi rôm rả ba ngày Tết. Lúc mọi người lên giường thì cũng đã hơn hai giờ sáng. Ba ngày Tết được nghỉ ngơi, nên dậy trễ được, mặc dù dân quê có thói quen thức dậy từ bốn giờ sáng.

Tôi ngủ thẳng cẳng tới mười giờ ngày mồng một Tết mới mở mắt ra được trong khi vẫn còn thèm ngủ. Bánh pháo tép của một người khách đến mừng ông làm tôi thức dậy. Tôi chạy xuống nhà bếp. Bánh chưng được xếp thành hàng ngay ngắn trên mấy cái cánh cửa lớn để nén cho chắc bằng cối đá. Bữa trưa của cả nhà ngày hôm đó không gì khác hơn là bánh chưng xanh mướt, hành nén trắng phau và giò thủ, giò bì vui mắt. Tết nhất chỉ thấy ăn là ăn. Nguyên cái vụ nấu nướng để phục vụ thần khẩu đã tốn gần hết ngày giờ. Vì vậy dân quê hay nói:

"Làm như ngày dưng ăn sao cho hết,
Ăn như ngày Tết lấy gì mà ăn."

Trưa và cả chiều mồng một, thỉnh thoảng vẫn một bánh pháo đẹt đùng làm tôi có cảm tưởng, rõ ràng ngày Tết có cái gì vui quá, háo hức quá. Cảnh vật từ trong nhà đến ngoài vườn, ngoài ruộng, con người, từ người trong gia đình đến những người chỉ gặp ngoài đường trông cũng trịnh trọng khăn đống áo dài cho đàn ông con trai, áo mớ ba mớ bảy quần lụa váy là cho đàn bà, ai trông cũng mới mẻ, tươi vui hẳn lên.

Trời thường không mưa nhưng cũng không có ánh nắng, mây xám thấp thấp của mùa Xuân mới đang gọi những ngọn gió đông phe phẩy luồn cái lạnh vào tận da thịt. Ngoài đình làng, nhiều chiếu bạc được trải ra: tổ tôm, xóc đĩa, bất cho đàn ông và tam cúc, đố mười cho đàn bà. Làng không cho đánh lớn vì sợ sát phạt mất nhà mất cửa, mất cả lúa giống làm mùa nhưng nếu đánh nhỏ, gọi là mua vui thì chẳng sao. Có một số người chuyên chứa bài, họ tổ chức cờ bạc ngay tại nhà và lấy xâu lấy hồ, có khi kéo dài hết tháng hai:

"Tháng Giêng là tháng ăn chơi.
Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè..."

Mười ngày tết nơi quê ngoại qua mau vùn vụt. Tôi buồn khi thấy chú Vững đã bỏ chiếc áo the thâm và cái khăn lượt chú mặc ba ngày Tết ra để đóng trở lại bộ quần áo nâu nhuộm kỹ dầy mo và quấn cái khăn rằn đen để hai đầu khăn rủ xuống một bên tai, lại đứng chỉ huy cho sáu anh chân sào sửa soạn chèo, buồm, dây... kéo thuyền trở về Trà Lũ.

Lúc bố mẹ tôi, chị Thảo và tôi xuống thuyền, ông bà ngoại và các cậu, các dì, các cháu lại ra bến sông đưa tiễn. Sáng 27 Tết, lúc chúng tôi đến vui bao nhiêu thì giờ này tạm biệt, buồn bấy nhiêu, dù chỉ là sẽ xa nhau ít lâu rồi lại gặp lại. Bé Vân khóc, nó cứ đòi bố mẹ nó cho đi theo "anh Vũ" sang nhà bác Trà Lũ, tức bố mẹ tôi. Tôi thấy nó khóc cũng xao xuyến cả lòng. Thuyền căng buồm chạy chầm chậm trong sông. Từ những ruộng lúa hai bên bờ, tôi thấy lác đác đã có người đang đổ ải, vài cô gái quê tươi vui vừa tát nước ruộng vừa hát hò đối đáp với mấy anh chân sào buông lời chọc ghẹo. Thuyền lúc về khá rộng, chứ không xếp cá hộp như lúc đi, vì có một số người ở lại chơi với gia đình thêm ít ngày nữa. Chuyến sau khoảng đầu tháng Hai, chú Vững lại sang đưa họ về.

Việc đầu tiên khi về tới nhà là tôi phải đi tìm ngay cái cặp, sách vở và lọ mực. Ngay ngày mai thứ hai, cả hai buổi sáng chiều, tôi phải đi học rồi. Nhìn mấy cuốn sách cuốn vở, tôi ngán ngẩm nghĩ đến thầy Nhường, ông thầy đang dạy lớp tôi, một ông thầy có tiếng giỏi nhưng nghiêm nghị và khó tính. Tôi lại nghĩ đến cái tết vừa được hưởng ở quê ngoại. Ôi sao nó vui và ấm cúng đến thế, tôi được cưng chiều thỏa mãn đến thế! Tôi ngẩn người nhớ lại những giờ tôi đứng trên thuyền ngắm cảnh hai bên dòng sông, những đêm rúc rích trong cái khoang chật chội tối om toàn người là người nhưng ấm áp, những phong bao vàng đỏ mừng tuổi, những cái pháo đại đẹt đùng, những buổi tung tăng chạy nhảy leo cây thả giàn ở vườn, ở ruộng nhà ngoại, những buổi đàn đúm chuyện trò đánh khăng, đá bóng, thảy đáo lỗ v...v... với đám em họ và bạn bè chúng ở Đông Thành.

Cuộc vui nào cũng có lúc tàn, tôi đã nghiệm ra cái chân lý ngàn đời này ở vào tuổi đó, nhưng tôi chưa đủ sức tự trấn an tìm quên trong nhiệm vụ thường nhật sau những cuộc vui. Tôi cứ ngồi mà nhớ tiếc, ngẩn ngơ. Thảo nào bé Vân con dì Mười khóc thét lên hơn cha chết, khi tôi nhìn nó lần cuối rồi lẳng lặng xuống thuyền.

Chị Thảo thấy tôi ngồi tần ngần trước một đống sách vở, chị biết tôi đang ngại ngùng nghĩ đến ngày mai phải đi học:

"Vũ à, ăn tết xong hoặc bất cứ lễ lạc, cuộc vui nào xong, ai ai cũng ngại bắt tay trở lại học hành, làm việc. Nhưng nếu em cố gắng cho qua được ngày mai hay chỉ buổi sáng mai thôi, em sẽ hăng hái trở lại như lúc trước Tết. Bỏ sách vở ra dò lại đi, có gì không hiểu hỏi chị."

Tôi nghĩ chị Thảo nói đúng. Tôi chỉ cần làm quen lại được cái không khí học tập ở trường được vài giờ đầu. Trưa mười hai giờ về nhà ăn cơm và nghỉ một lát, buổi học ban chiều từ hai tới năm giờ chắc là tôi lấy lại đà. Giỏi lên? Tôi không dám chắc một tí nào, nhưng đỡ ngán ngẩm bài vở thầy cho thì may ra. Tôi giở thời khóa biểu để coi phải chuẩn bị gì trước. Hai tuần lễ ăn Tết, chữ nghĩa tôi rụng đi quá nửa, đừng nói là học thêm được điều gì. Tôi trực diện những bài toán hóc búa, chính tả, văn phạm, bài học thuộc lòng mà thầy Nhường dặn dò kỹ càng bữa 23 tết, tự nhiên thấy người như lên cơn nóng lạnh.

Nhưng giữa lúc đó, một động lực mạnh mẽ vô song thôi thúc tôi đến trường. Cả hai tuần ăn Tết, tôi có gặp Thoa đâu? Phải rồi, mải vui ở quê ngoại tôi quên bẵng Thoa đi, quên bẵng cô bé dễ thương cùng lớp với tôi và là con gái cưng đầu lòng của thầy Nhường. Vì vậy tôi hăng hái bỏ toán ra làm, đọc vang nhà những bài học thuộc lòng, vì cứ nghĩ được gặp lại Thoa, tôi cảm thấy chan chứa trong lòng một niềm vui vô tả.

Tôi thề độc với quý bạn rằng, lúc đó tôi chỉ coi Thoa như cô em gái xinh xinh dễ mến, nhẹ nhàng, nhỏ nhẻ như con chim vành khuyên tôi vẫn tưng tiu trong lồng để ngắm, để cho chuối, cho hoa, cho nước chứ tuyệt nhiên không có một tình ý gì vẩn đục trong đầu. Tôi không đủ trí khôn để phân tích, nhưng rõ ràng là muốn có bạn đá banh, đánh khăng, bơi lội, đánh vật... nói tóm lại những môn thể thao nặng, tôi cần mấy thằng con trai như thằng Phùng, thằng Cửu, thằng Lạ, thằng Truyện... nhưng để ngắm và để nhỏ nhẻ nói truyện - thật sự chỉ có thế thôi - thì tôi cần đến một đứa con gái cùng trang lứa, mười hoặc mười một, mười hai gì đó, học cùng lớp là tốt nhất và hơi đẹp một tí. Cô bé Thoa con thầy Nhường, ngồi ngay trước mặt tôi, hội đủ tất cả những điều kiện trên. Tôi không bao giờ có ý nghĩ cầm tay Thoa để làm gì và cũng chưa bị mấy đứa tinh ma trong lớp gán cho tôi làm chồng và Thoa làm vợ như nhiều đứa đã bị, nhưng không hiểu sao, tôi thích ngắm Thoa và nói chuyện với Thoa, dù vài câu ngắn ngủi, dù chỉ ngồi nhìn Thoa không thôi, tôi cũng thấy đầy đủ lắm rồi. Tôi chưa hề biết danh từ yêu mà cũng chẳng bao giờ tìm hiểu tại sao hai vợ chồng người ta ăn ở với nhau lại có con. Tôi nhớ một lần hỏi mẹ, tôi chui ra lối nào từ trong bụng mẹ. Mẹ bảo khi tôi lớn lên khắc biết, nhưng tôi cứ nằng nặc đòi biết ngay làm bà phải vạch bụng ra chỉ ngay vào phần rốn: "Ở chỗ này này."

Mới tuần lễ trước khi nghỉ Tết, tôi bị thầy Nhường khẻ tay một cách rất oan ức. Chung qui cũng tại thằng Vụ, nó làm tôi bị đòn. Ngày mai đến lớp, tôi lại gặp nó. Có thể tôi không thù nó vì trận khẻ tay oan, nhưng vì lý do khác sâu xa hơn có liên quan đến Thoa.

Đi học từ lớp Đồng Ấu (lớp 1 bây giờ) tôi chưa từng bị thầy giáo đánh vào mông hoặc khẻ tay như những đứa học sinh khác vì tuy học không siêng năng lắm nhưng tôi đủ sức đoán được thầy hay hỏi những gì mà đối phó. Tôi học theo lối "ăn xổi" rất nhanh. Mảng chơi ngày thứ bảy, chủ nhật và có khi cả ngày thứ năm (dạo đó học trò học hai buổi mỗi ngày sáng và chiều, mỗi buổi ba tiếng hay ba tiếng rưỡi nhưng được nghỉ thứ năm, thứ bảy và chủ nhật), tôi với mấy đứa bạn đi câu, đi bơi, thả diều, bắt chim, hái cam, hái ổi... có hôm chập choạng tối mới về đến nhà. Tắm rửa ăn cơm xong mắt díu lại, làm sao ngồi bàn học bài được nữa. Ngày hôm sau giờ ra chơi, bạn bè ra sân thì tôi kiếm một góc kín ngồi gạo thật nhanh bài vở để kịp lát nữa trả bài hoặc nộp bài. Có cái lạ, mấy thầy giáo chẳng bao giờ cho tôi tệ, cứ trung bình trở lên và vì vậy cuối năm, tôi vẫn đủ điểm, dư điểm lên lớp.

Thoa ngồi ngay trước mặt tôi, ở bàn đầu, cùng với Nhàn, Dung và Trúc. Thoa đẹp nhất trong bốn đứa con gái. Thoa có khuôn mặt thật xinh. Đôi mắt to đen rất dễ thương lại có một nốt ruồi duyên bên khóe miệng, ngay bên trên môi một chút, nốt ruồi mà nhiều nữ tài tử và ca sĩ phải lấy bút chì đen tự chấm thêm, nốt ruồi tương tự nốt ruồi của Liz Taylor bây giờ. Tôi mê cái nốt ruồi của Thoa, tôi thích đôi mắt trong sáng thơ ngây mà đến bây giờ mấy chục năm, hai bảo vật ấy của Thoa vẫn còn hiện rõ ràng trong cái trí nhớ kém cỏi của tôi mỗi khi tôi nhớ về Thoa.

Nhưng Thoa không phải của riêng tôi. Có một thằng tàn độc khác xen vào giữa chúng tôi. Nó cao to hơn tôi nhiều và có lẽ hơn tôi đến bốn, năm tuổi. Nó chính là thằng Vụ đã nói ở trên. Vụ học trễ đến bốn, năm năm vì khi xưa, lúc nhà nó chưa khá giả, bố nó chưa ra Lý trưởng như bây giờ, nó phải đi chăn trâu, chăn bò. Học hành kém, nhưng nó rất quỷ quái tinh ma và hay bắt nạt những đứa nhỏ con, yếu sức hơn nó. Tôi là một trong những nạn nhân của nó nhưng dù ghét nó hết sức, tôi vẫn phải ngọt nhạt "nhịn mày, tốt tao." Không có đứa nào dại dột đến độ chọc nó để nó giáng những cú đấm thôi sơn vào mạng mỡ đau đến cả tuần không đi học được. Đừng có nói đến chuyện thưa gửi với nó, "con kiến mà kiện củ khoai," bố nó đương kim Lý trưởng, thưa đến bố nó cũng là hết. Có lẽ thầy Nhường cũng ở trong trường hợp tương tự. Dù nó học dốt nhưng thầy vẫn cho nó làm trưởng lớp. Mỗi khi đến lớp và nhất là giờ ra chơi, tôi thấy nó chỉ tìm cách gặp Thoa. Mặc nhiên, tôi có một địch thủ lợi hại.

Thằng Vụ ngồi ngay đằng sau tôi, còn tôi đằng sau Thoa, đều là đầu bàn kế lối đi giữa lớp.

Hôm đó đang giờ Récitation - Bài học thuộc lòng. Tôi giở cuốn sách ra nhẩm lại mấy bài để lỡ thầy Nhường gọi lên đọc bài thì đọc cho trơn tru.

Thầy Nhường có thói quen bắt học trò khi đọc bài học thuộc lòng phải lên đứng cạnh cái bảng đen, nhìn xuống bên dưới mà đọc. Thầy xướng tên bài nào phải đọc bài đó. Đọc suông sẻ và trả lời được vài câu thầy hỏi về ý nghĩa trong câu thì thầy ghi điểm rồi cho về. Thoát nạn. Nếu ú ớ hoặc tắc tị, phải đọc bài khác, đọc mệt nghỉ, thành ra đứa nào cũng sợ cái kiểu trả bài của thầy Nhường. Đã vậy, học thầy phải nói tiếng Pháp, không phải giờ Lecture récréative - bài đọc chơi bằng tiếng Việt - mà nói tiếng Việt là tới số. Thế nào cũng ăn thước kẻ hoặc roi mây. Không vào mông cũng vào tay, đến nỗi tôi còn nhớ hai, ba thằng trong lớp, thằng Vẹn, thằng Củng bị đánh quá phải mặc hai, ba cái quần thật dầy bên trong. Chúng còn lấy thêm vải, đụp lên cái mông quần cho dầy hơn nữa. Thầy Nhường không biết, cứ lấy roi mây đánh thẳng cánh nhưng chúng tôi biết chúng không đau một ly ông cụ nào vì tiếng roi nghe bộp bộp chứ không chắc tiếng như đánh vào thịt. Mấy thằng này làm bộ nhăn mặt, nẩy người lên khi roi chạm mông làm như đau đớn lắm cho thầy khoái. Nhưng lúc thầy cho về chỗ, đứa nào cũng tỉnh bơ nham nhở một nụ cười thật đểu với cả lớp. Lẽ dĩ nhiên thầy Nhường không nhìn thấy những nụ cười "tiểu nhân đắc chí" đó nhưng không đứa nào dại dột đi tố giác âm mưu đen tối ấy với thầy. Lỡ mai mốt chính mình phải xài đến quần mông đụp cho bớt đau thì sao?

Đọc bài học thuộc lòng quay xuống, nếu khốn khổ cho mấy đứa chết nhát và mấy đứa con gái cả thẹn thì lại rất được việc cho đám nghịch ngợm tụi tôi. Bí chữ đầu ư? Cứ nhìn cái miệng mấy thằng bạn thân là ra ngay. Đôi khi thầy Nhường vừa phải cộng sổ hoặc làm việc gì riêng tư của thầy tôi không rõ, thầy đâu để ý thằng đang đọc thuộc hay không. Có thằng bị bí bèn nhìn cái miệng nhấp nháy của bạn không đoán ra được chữ mù gì vì học ở nhà ít quá, có thuộc đâu, bèn liếc lên thầy, thấy thầy đang mải mê viết lách gì đó, nó bèn bảo thằng bạn bên dưới: "Nói to tí nữa mày. Tao nghe không được."

Trở lại cái vụ trả bài bữa đó. Tôi đang lui cui dò bài thì thằng Vụ lấy thước kẻ chọc vào lưng tôi một cái. Thằng con nhà mất dạy này rắc rối cái gì đây, tôi nghĩ thầm và quay lại: "Gì mày?" Thằng Vụ trao mảnh giấy học trò gấp tư cho tôi: "Ê, đưa cho Thoa giùm tao". Tôi tính giơ tay cầm tờ giấy giùm cho nó nhưng nghĩ bụng làm cái gì cho mày thì được chứ lại làm con chim xanh giùm mày để mày có Thoa thì không. Nghĩ vậy, nhưng tôi ngại xẵng với nó vì không muốn rắc rối với cái thứ đầu bò đầu bướu. "Thôi đi mày, tao sợ thầy trong thấy". Thằng Vụ lì lợm, nó cứ chìa tay ra với tờ giấy. Tôi đành phải cầm lấy, trong bụng nghĩ giận cái thằng ôn dịch quái gở này. Tôi có thói quen hễ nhận lời làm cho ai cái gì thì sống chết cũng phải làm, dù rằng trong bụng không muốn một tí nào.

Thằng Vụ thấy tôi chưa gọi Thoa và trao lá thư, nó lại nheo nhéo ở đàng sau, dù nó hạ giọng xuống rất thầm thì. Nó còn lấy chân thúc lên mông tôi để giục giã nữa.

Tôi trầm giọng xuống, gọi đàng sau lưng Thoa để chỉ Thoa nghe được tôi thôi: "Thoa, Thoa, quay lại tôi trao cái này." Không đụng đậy gì ráo, làm như Thoa không nghe thấy. Tôi gọi lần thứ hai: "Thoa, Thoa quay xuống đây tôi hỏi một tí." Thoa cũng không quay lại, nhưng cái mặt cô bé hơi hơi nhìn ngang sang con Nhàn để tôi thấy đôi mày của Thoa cau lại có vẻ phản đối vì bị quấy rầy đang lúc tập trung trả bài. Đàng sau tôi, thằng Vụ lại thúc bàn chân lên mông tôi một cái ịch thứ hai, tôi tức quá buột miệng như một phản xạ tự nhiên, giọng nói to hơn hai lần đầu: "Thoa, đã bảo quay lại đây mà!"

Lần này, Thoa quay lại thiệt nhưng vừa lúc đó, thầy Nhường cũng nghe tiếng của tôi và thầy quay xuống. Thầy nghĩ chắc tôi trêu ghẹo cô gái cưng của thầy hoặc nếu không phải vậy thì tôi không thuộc bài, gọi Thoa đễ hỏi nghĩa vài chữ khó chăng. Đôi lông mày rậm của thầy giao nhau, mắt thầy quắc lên, hình như thầy đang có sự buồn phiền gì đó ở nhà với vợ thầy thì phải như thái độ cáu kỉnh, khó chịu của thầy mấy hôm nay mà bọn học trò chúng tôi đoán già, đoán non. Thầy hét như sấm bằng tiếng Pháp, vừa cầm thước kẻ trong tay, chỉ vào mặt tôi, y như tôi là một kẻ tội đồ ăn cướp, giết người:

"Lên đây! Mau!"

Tôi vứt vội lá thư của thằng Vụ vào hộc bàn, run rẩy lên bục đứng cạnh thầy, tim tôi đập thùi thụi như muốn rớt ra ngoài. Tôi có bị cái nhục nhã như thế này bao giờ đâu. Chỉ tại thằng Vụ. Chỉ tại cái thằng mặt dày khốn kiếp ăn mày ăn xin đó. Nhưng tôi nghĩ bụng, nếu nói ra lý do thì cả lớp còn cười tôi hơn, nhất là Thoa. Cái mặt tôi thế này mà đi hầu hạ đưa thư cho gái giùm cho thằng Vụ, một thằng ít được bạn bè nể nang vì chuyên môn lấy thịt đè người và học dở. Thôi đành câm miệng hến chịu đòn cho xong, may ra Thoa lại nghĩ tôi có nhiều cảm tình với Thoa mà để ý đến tôi chăng. Nhất là để trắc nghiệm xem Thoa có đau xót khi tôi bị thầy Nhường đánh không. Nếu có, tôi chẳng cần phải hỏi cũng biết Thoa để ý đến tôi và tôi sẽ sung sướng như một kẻ sung sướng nhất trên đời. Nếu không, tôi phải tìm cách khác hoặc quên Thoa đi. Vì vậy, đã không muốn tránh đòn, tôi lại muốn thầy Nhường đánh tôi thật đau, thật bò lê bò càng như mấy thằng Vẹn, thằng Củng để Thoa thương hại.

Cứ nghĩ Thoa về thương tôi đến ăn không ngon, ngủ không yên mà tôi càng muốn chịu đòn y như các vị tử đạo bên Công giáo khi xưa.

"Giơ tay trái ra đây."
Cũng cần phải nói tay phải, tay trái bị khẻ là tùy thầy, khẻ nặng khẻ nhẹ cũng tùy thầy. Có đứa bị tay phải và thầy xuống tay nặng quá, tay nó sưng lên cả mấy ngày không cầm viết được. Mẹ nó phải lấy rượu chưng với nghệ bóp cho cả tuần mới khỏi. Tay trái là có vẻ nhân nhượng hơn, bớt ghét hơn, vì còn nương cho tay phải để viết. Vì đã có định kiến "tử vì đạo" để cho Thoa thương xót, tôi giơ thẳng bàn tay trái ra một cách hiên ngang, một cách anh hùng như chưa từng thấy tên học trò nào của lớp thầy Nhường làm vậy. Đa số chỉ chìa một cách rụt rè, miễn cưỡng và để sát trước bụng để thầy không có thế mà đánh đau vì vướng ngực, vướng bụng. Đằng này tôi giơ thẳng tay, vừa tầm thước kẻ cho thầy đánh. Tôi khẽ liếc nhìn Thoa một cái xem mặt Thoa có phản ứng gì không. Nếu lúc đó giả sử Thoa bưng lấy mặt và khóc thì tôi chắc chắn một trăm phần trăm rằng, tôi có chết đứng như Từ Hải ngay sau khi bị thầy đánh cũng vẫn mãn nguyện. Linh hồn tôi sẽ biến thành con chim vành khuyên bay theo Thoa mãi mãi. Nhưng Thoa chỉ mở lớn đôi mắt đẹp nhìn tôi, tôi không đoán được trong cái đầu có mái tóc dài xõa xuống vai mà tôi rất thương đó, đang nghĩ gì về trận đánh đòn này.

Ở đời thật có nhiều điều ngoài sự ước đoán của ta. Thầy Nhường với thái độ giận dữ, cáu kỉnh trời long đất lở vậy nhưng lại chỉ khẻ rất nhẹ trên tay tôi. Tôi chỉ cảm thấy hơi tê tê ở bàn tay. Sau ba thước kẻ thường lệ, có nhiều đứa không xòe tay ra nữa mà lùi lũi về chỗ khi thầy chưa nói hết câu cho lệnh về. Còn tôi, sau ba thước kẻ, tôi vẫn xòe tiếp tục, đến nỗi thầy lấy làm lạ, giọng hơi gắt: "Về chỗ."
Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng bị khẻ tay trong đời học sinh tiểu học trường làng của tôi.

"Ăn Tết Quê Ngoại" xin hẹn quí bạn đọc lại nối tiếp vào dịp đón Xuân năm tới.

Trước thềm Năm Mới, tôi chân thành cầu chúc quí bạn đọc một năm mạnh khoẻ vui tươi, đạt nhiều thắng lợi.

Bút Xuân TRẦN ÐÌNH NGỌC
Trích từ Tuyển Tập Truyện Ngắn “Những Con Dốc Đứng” cùng tác giả xb 1999.


(Phụ chú: Cô Ngô thị Kim Th., sau này ở Hà Nội, là phu nhân của Thi sĩ (đối kháng) Phùng Cung.)

Tuesday, February 10, 2009

LẠM BÀN VỀ CHUYỆN “BÀ CỐ”

*Bút Xuân TRẦN ĐÌNH NGỌC

Bút Xuân đã đọc truyện ngắn “Bà Cố” của Văn hữu Duyên Lãng Hà tiến Nhất, đăng trên tiengnoigiaodan.net Một câu chuyện thực, khá hay được lột tả bằng ngòi bút rất linh động của tác giả Duyên Lãng, một câu chuyện mà nếu không đọc, Bút Xuân nghĩ rằng nó không có thực.

Trong câu chuyện, tác giả muốn nhấn mạnh vài điểm chính yếu ấy là cái danh xưng trong xã hội Việt Nam ta và thứ hai, cái lòng tôn thờ chủ nghĩa “cứu cánh biện minh phương tiện” (La fin justifie les moyens) nhưng vì dưới dạng một truyện ngắn, tác giả chỉ có thể nói phớt qua. Bút Xuân sẽ đào sâu thêm những khía cạnh đó dưới dạng một bài tham luận như bạn đang đọc.

Trước khi đi vào từng đề mục, Bút Xuân, xin minh định một điều. Những danh từ “cha” do tác giả Hà tiến Nhất dùng trong truyện là chính xác với câu chuyện, nó được nói ra từ miệng những nhân vật trong truyện, sống, có thực. Tuy nhiên khi cá nhân Bút Xuân đề cập tới những giáo sĩ đã lãnh bảy chức thánh, Bút Xuân chỉ dùng danh xưng “linh mục” cao quí và đúng nhất. Trước đây, Bút Xuân đã nhiều lần minh định rằng chỉ có Thượng Đế sinh ra muôn vật, đấng vô hình vô ảnh, tòan năng hằng hữu, là Cha chung mọi lòai thụ tạo, Bút Xuân mới gọi là “Cha”. Một người nữa hữu hình, sinh ra thể xác, tinh thần Bút Xuân là chính “Cha” đẻ ra Bút Xuân, góp phần cùng với mẹ Bút Xuân. Ngòai ra không còn ai là cha của Bút Xuân nữa dù cho linh mục Ngô...gây Hấn có đe nọc ra giữa nhà thờ đánh đòn và rao tên trên tòa giảng thì Bút Xuân vẫn giữ y nguyên lập trường, không thay đổi.

DANH XƯNG QUAN TRỌNG NHẤT
Một câu chuyện bình thường nhưng tác giả Duyên Lãng đã làm cho nó có sức thu hút mạnh mẽ. Một thiếu niên được gửi vào chủng viện tu tập, học văn hóa, rồi thần học, xong chịu chức Linh mục, làm lễ mở tay ...là chuyện rất bình thường, người Công giáo có lẽ ai cũng biết điều đó. Nhưng chuyện tu tập rồi thành Linh mục như chuyện thầy Sáu Hóa, nhân vật chính của chuyện “Bà Cố” lại không giản dị như thế. Nó có nhiều khúc mắc, rối rắm, nhất là ở đọan kết khi bà cố Chiến - mẹ thầy Sáu - ngồi bàn với thầy làm sao để có 12,000 đôla nộp cho thành ủy (Cộng Sản) để cơ quan quyền lực này đồng ý cho thầy Sáu thụ phong linh mục! Khi đã tìm bới tất cả những nguồn có thể có tiền để vay nhưng không được, kể cả bà cố mẹ nuôi là cụ Nghị đang ở bên Mỹ vì cụ Nghị vẫn gửi hàng tháng lại vừa mới gửi một ít cho thầy Sáu Hóa xong. Chúng ta hãy nghe lại mẩu đối thọai:

Bà cố Chiến hỏi con là thầy Sáu Hóa:
-Việc này rồi thầy tính sao đây?
Thầy Sáu Hóa trả lời:
-Tùy má thôi chứ con biết tính sao bây giờ.
- Việc của thầy mà thầy bảo tùy má là tùy thế nào?
-Hay là con xin đức cha cho phép chờ cho đến khi nào có tiền thì hãy truyền chức?

Bà cố Chiến nghe giận quá ngồi im một đống.
- Hay là mẹ cầm tạm căn nhà này đi có được không?
-Những ý kiến của thầy má đều đã nghĩ tới nhưng không được đâu... Hay là thầy lại thử viết thư sang Mỹ xem. Nói là lần cuối cùng và chỉ mượn đỡ thôi.

Ở đây chúng ta cần ghi chú một điều, rất nhiều ông cố bà cố đã thúc bách con phải trở thành linh mục bằng được vì muốn hãnh diện với xóm làng, họ mạc, giáo xứ bất biết con mình có sẵn sàng tận hiến không. Như bà cố Chiến, từ lâu bà chỉ mong mỏi có một điều là thầy Sáu Hóa trở thành linh mục, để bà được mọi người gọi là “bà cố” một danh xưng cao quí khó có bút mực nào tả cho hết. “Đỗ cụ” từ rất lâu trong những giáo xứ ở Bùi Chu, Phát Diệm là một giấc mơ, một thiên ân, có thể hãnh diện hơn làm quan triều đình rất nhiều vì quan còn lo phải về vườn chứ linh mục thì làm “cha” cho đến khi chết, tác giả Duyên Lãng cũng viết như thế. Thân sinh vị Linh mục được lên chức “ông cố, bà cố” ngay và được kính nể đặc biệt, không những với giáo dân khắp nơi mà cả các linh mục chánh, phó xứ và cả Giám mục nữa. Người ta trọng chức linh mục vậy có trọng những người đã sinh ra linh mục cũng là chuyện đúng thôi.

Bút Xuân nhớ có nhiều giáo xứ ở Bắc Việt khi xưa có lệ, đàn ông trong giáo xứ nếu không mua nhiêu, mua trùm tức là đóng một số tiền đã được ấn định cho hàng xứ, sau đó có bữa cơm “dưa ghém, chén rượu nhạt” với dăm chục chai rượu và con lợn to đãi hàng xứ thì dù lớn tuổi bao nhiêu đi nữa khi có cuộc rước của giáo xứ cũng phải cầm cờ, khiêng trống. Khi gọi tên, người hàng xứ chỉ nói:”Anh A, anh B hay ông C, ông D” nếu đã có vẻ lớn tuổi chứ không có tước vị đi trước. Nhưng khi đã ăn khao, những người đó được gọi theo tước vị đã mua, thí dụ: “anh nhiêu A, ông trùm B, ông trưởng C” và khi đã có chút tước vị đi trước tên như đã nói, những người này trở thành chức sắc trong giáo xứ, không còn phải đi cầm cờ khiêng trống mỗi khi có cuộc rước nữa. Bạn có thể nói, đến bữa đó bạn bỏ đi chơi xa thế là hết cầm cờ khiêng trống chứ gì? Không đâu bạn ơi, các ông trùm sẽ cho người đến báo trước cả tuần, nếu bạn vắng mặt, bạn phải nộp phạt mấy đấu gạo hay mấy xu. Đau ruột lắm. Bạn ì ra không chịu đóng ư? Linh mục chánh xứ (xứ tôi chẳng hạn) sẽ cho rao tên bạn trong lễ Chủ nhật. Mặt mũi nào mà nhìn ai! Thôi thì cái việc rất dễ, cầm cờ đuôi nheo đi trước hoặc khiêng trống theo sau cho xong. Cầm cờ thì những hôm nào gió to, người yếu, gió muốn cuốn cả cờ cả người lên nóc nhà thờ. Đánh vật với cờ cũng mệt. Còn khiêng trống có lẽ zui hơn. Hai người khiêng một cái trống cái, trống to nhất, to bằng hai cái thùng phuy. Tay đánh trống có thể là một ông trương, ở xứ tôi là trương Bãi, thường mặt đỏ gay như con gà chọi, có lẽ trước khi đi đánh trống, để thêm hăng hái, ông trương đã tợp vài ngụm rượu trắng cho lên tinh thần. Cứ đi một quãng ngắn, theo đúng bài bản, ông trương Bãi lại múa dùi trống như người hươi côn rồi lừa lừa đánh “tùng” một cái vào mặt trống. Coi cũng zui. Sau ông trương là phường trắc: sol sol lá sol fà sol đồ...và các cháu bé vừa gõ hai thanh tre vào nhau vừa nhảy như nhảy cò cò. Coi cũng đã. Nếu là tháng hoa, các cháu gái đồng phục trắng, tay cầm giỏ hoa, theo lệnh, cứ thỉnh thỏang lại vãi hoa, sau các cháu gái này thường là kiệu Đức Mẹ. Kiệu Đức Mẹ hay kiệu Chúa Giêsu ban Phép Thánh Thể (Santi) thì bạch đinh không được khiêng mà đã có các cô trung binh và các trùm trưởng chức sắc.

Như chuyện khao vọng, Bút Xuân, ngày xưa lúc còn thiếu niên chưa đến 18 tuổi để “được” cầm cờ khiêng trống rồi sau đó ra Hànội sống, nên chẳng biết cái thú khiêng trống ra sao. Chứ mấy người anh họ, vì nhà nghèo chẳng có tiền mua nhiêu, mua trùm, mua trưởng, đám rước nào của giáo xứ cũng phải đi cầm cờ khiêng trống đỏ cả vai, làm bạch đinh cho đến già, cứ phải cầm cờ khiêng trống với lũ nhãi ranh mới lớn, thật dễ giận, kì cho bỏ tiền ra mua ngôi thứ và ăn khao mới thôi. Cho nên có tiền mua cái danh hờ trong giáo xứ xưa kia cũng là điều nên làm khi có thể.

Riêng với các ông cố (bố cha) thì khác hẳn. Dù chưa mua tước vị gì, chưa khao vọng, chưa mất một miếng trầu bát nước cho hàng xứ, vẫn là dân bạch đinh vô danh tiểu tốt thôi nhưng từ khi ông con lên chức phó tế rồi đỗ cụ một cái thì đố thằng nào dám léo hánh đến nhà ông “tân cố” bảo ông đi cầm cờ, khiêng trống như trước nữa mà khốn khổ khốn nạn. Khi ông bà ra đường có khối kẻ cúi đầu rất sâu:”Con xin phép lậy ông cố ạ.” “Xin phép lậy bà cố ạ”, danh xưng “ông cố bà cố” được tự động gọi không ai bảo ai. Còn khi có cỗ bàn hàng xứ, ông cố được mời ngồi chiếu nhất với linh mục chánh xứ, trùm chánh, trùm phó, vị chi 4 người một mâm. Khi không có linh mục. ông cố lại được cái hân hạnh mời xướng kinh “Lạy Cha” trước khi cầm đũa, một tôn trọng đặc biệt của người Công giáo ta.

Còn bà cố thì khỏi nói. Bà cũng ngồi với các bà trùm chánh, trùm phó, cũng ở chiếu nhất phía nữ vì lúc đó có lệ đặt phản ngồi riêng cho nam giới cũng như nữ giới, theo đúng sách vở “nam nữ thụ thụ bất thân” của cụ Khổng Khưu. Các chị Nhiêu, chị Quản, chị Giáp chớ có mà xớ rớ lên các mâm đó kẻo bị mời xuống bẽ mặt.

Vì vậy, chẳng phải linh mục chánh xứ, hàng xứ mà đến vị Giám mục sở tại cũng phải nể vì ông cố bà cố: Khi có báo cáo có khách chờ, vị Giám mục nói:
“Chắc lại bà cố Chiến.”

Và danh xưng bà cố phát ra từ miệng Giám mục nó mới cao quí, đáng kính làm sao:
“Chào bà cố. Công việc đến đâu rồi?”

“Thân lạy Đức cha, thầy Sáu chưa thành linh mục mà Đức Cha đã phong cho con rồi.”

Bà cố Chiến có vẻ e thẹn nói câu đó với một niềm vừa tự hào vưà sung sướng vô biên.
Ấy cái danh xưng trong xã hội ta quan trọng như thế đó.

Chúng ta lại ghi nhận thêm một sự việc nữa. Các ông cố bà cố luôn luôn thích gọi người con đang chờ ngày thụ phong linh mục là “thầy Sáu, là cụ Bốn, cụ Sáu” như ở quê tôi khi xưa và khi đã “đỗ cụ” rồi là cha. Có nhiều vị còn xưng con với con mình nữa để cho người ngòai thấy chức thầy cả cao trọng là nhường nào. Như bà cố Chiến nói với linh mục Hóa buổi tối ăn mừng:
- Cha mệt lắm hả? Con dọn giường cho cha đi nghỉ sớm nhá!

Chỗ hay nhất của câu chuyện là những lời đối thọai giữa chị Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Cộng sản (Saigòn) và bà cố Chiến khi bà cố đến nộp tiền. Bà cố bảo chị ta kiểm lại, chị ta vênh mặt, nói:
“Chị dám thiếu sao? Tôi dư biết là đủ rồi” cho thấy quyền uy của những kẻ cai trị dù là cai trị bằng bá đạo.

CỨU CÁNH BIỆN MINH PHƯƠNG TIỆN
Mấy người bạn của Bút Xuân sau khi đọc xong chuyện “Bà Cố”, trong lúc trà dư tửu hậu có nói với Bút Xuân rằng:

“Thầy Sáu Hóa đã vào Chủng viện, đã tu tập nhiều năm sao thầy lại có thể nói dối cụ Nghị rằng thầy mồ côi mồ cút, bố mẹ chết hết, không ai thân thuộc để đánh động lòng thương của cụ Nghị đang ở Mỹ, gửi tiền về cho thầy ăn học. Có khi thầy còn nói phịa ra nay tổ chức ca đòan cho giáo xứ này, mai lập hội CG tiền hành cho giáo xứ kia rất tốn kém khiến cụ Nghị cảm động và càng gửi thêm tiền giúp đỡ thầy Sáu Hóa trong việc tông đồ cao quí. Ngay bước đầu tu tập, thầy Sáu Hóa đã nói dối bà mẹ nuôi để đạt mục tiêu, như vậy khi đã thành LM rồi, thày còn tiếp tục nói dối nhiều nữa vì những mục tiêu bất chính của thày thì sao?”

Bút Xuân nghe qua, ngẫm nghĩ rồi trả lời mấy ông bạn thân mến như thế này:
“Nói dối là xấu nhưng cũng có trường hợp nói dối OK. Đành rằng thầy Sáu Hóa có nói dối cụ Nghị, ngay cả nói dối lần cuối cùng để được gửi 12,000 đôla đem hối lộ thành ủy Cộng sản nhưng xét cho cùng thì thầy chỉ theo cái châm ngôn:”Cứu cánh biện minh phương tiện” mà thôi.

Cứ theo cái khuôn vàng thước ngọc này thì “tất tần tật” mọi phương tiện đều tốt miễn là đạt được mục tiêu sau cùng, miễn là “chất lượng” sản xuất cao.

Xin nêu vài sử liệu để quí bạn dễ hiểu.
Nhiều Sử gia có viết về “bác” Hồ vô vàn kính yêu, chí công vô tư của nước Việt Nam chúng ta sở dĩ phải báo cho Mật thám Pháp bắt cụ Phan bội Châu để lấy 100,000 tiền thưởng là vì bác muốn dùng tiền ấy để tổ chức, phát triển đảng CS Đông dương. Nhất cử lưỡng tiện, một mặt trừ được một kẻ thù lợi hại, quốc dân đang tín nhiệm, mặt khác có tiền nhiều thực hành phương án. Đó chính là dùng cứu cánh để biện minh cho phương tiện dù phương tiện “chất lượng” quá bèo.

“Bác” cũng phải nói dối người Việt chúng ta và quốc tế hồi năm 1945 rằng đảng Việt Minh là đảng của người Quốc gia thuần túy chứ không có Cộng sản Cộng xiếc gì để mọi người dân Việt yên tâm đứng sau “bác” - kể cả cố Giám mục Lê hữu Từ - đánh Pháp xiểng liểng và để Hoa Kỳ-Anh quốc và các nước trong thế giới tự do ủng hộ “bác” và Chính phủ Liên Hiệp do bác thành lập. “Bác” và cán bộ của bác luôn mồm nói “độc lập, tự do, hạnh phúc, đường ta ta cứ đi, nhà ta ta cứ xây, ruộng ta ta cứ cày đợi ngày. Ngày mai bao ấm no diệt xong quân Pháp kia cười vang ta hát câu tự do” nhưng đã 64 năm từ ngày toàn dân hát bài ấy ra rả cả ngày mà chẳng thấy độc lập đâu, trái lại “bác” dâng biển dâng đất đứt cho quan thầy để xin chức Thái Thú. Tự do thì chỉ có tự do vào tù và đeo còng số 8, còn hạnh phúc thì vợ chồng con cái lê la ở ngoài đường sống trên những bãi rác, trẻ con khỏi đi học nhưng bắt ruồi nhặng đem bán cho những kẻ đi bẫy chim làm kế độ nhật. Đường ta còn đấy nhưng đi đâu dù chỉ cách vài km cũng phải báo cáo tạm trú tạm vắng, nhà ta không có thì ta đi xây mướn cho các huyện, tỉnh uỷ, thành uỷ, hiện nay là những tư bản đỏ giầu nứt đố đổ vách, ruộng của ta, ta không được phép cày nữa mà đảng và các cán bộ, đảng viên ưu ái chiếm hết cả, ta có đi khiếu kiện như cả triệu dân oan vài, ba chục năm cũng không đi tới đâu chưa kể công an dùng vòi rồng xịt nước, roi điện, hơi cay, vứt lên xe đánh đập tàn nhẫn và bỏ tù mút chỉ. Coi LM Nguyễn văn Lý, LS Lê thị Công Nhân, LS Nguyễn văn Đài và hàng trăm chiến sĩ Dân chủ khác là thấy.

Đấy, nghe phỉnh nịnh lắm vào giờ hối không kịp cũng chỉ bởi người nước ta ưa phỉnh nịnh, hễ có đứa khen là ôm bom ba càng nhảy vào xe tăng liền. Tóm lại, những điều “bác” Hồ chí Mén (chí là loại rận sống trên đầu, mén là con chí nhỏ) và đảng của bác làm đều là theo sát câu châm ngôn trí tuệ tiên tiến “cứu cánh biện minh phương tiện” nói trên. Sư ông Thích Nhất Cộng và vợ là Không Chân (nhưng biết sanh con trai nối nghiệp thiền) ở làng May (mấy lúc sau này quá xui vì mắc lỡm Vẹm) cũng cùng bài bản.

Một việc khác, Hoàng đế Bảo Đại, vị minh quân cuối cùng nhà Nguyễn của nước Việt Nam ta, khi Ngài ngự muốn bứng ông Ngô đình Diệm đi trong chức Thủ tướng Chính phủ Miền Nam do Ngài mời ông Diệm về làm, nên đã dối trá triệu hồi ông Diệm sang Pháp để cầm chân ông ở đó và cử Bảy Viễn lên làm Thủ tướng thay thế ông Diệm vì Bảy Viễn mở sòng bạc Kim Chung Đại thế giới tiền vô như nước, mỗi tháng có thể cung cấp cho Hòang đế cả trăm ngàn tiền Đông dương để ăn chơi du hí, nuôi đầm non bên Paris, còn ông Diệm thì nghèo xác nghèo xơ, trên răng dưới dép, tiền đâu mà cung phụng Ngài ngự? Cho về vườn là rất đúng sách vở Quốc văn giáo khoa thư lớp Đồng Ấu: ”Không tiền đố mầy làm nên.” mà Bút Xuân đã học từ hồi 6-7 tuổi. Ấy xin lỗi, không thầy chứ! May là ông Diệm đi guốc vào cái tim đen Quốc trưởng Bảo Đại không thì bị giam lỏng húp cháo rùa ở Paris.

Đây là một đọan nguyên văn trong bài “Truất phế Bảo Đại và khai sinh Đệ nhất cộng hòa của ông Lâm Lễ Trinh, cựu Bộ trưởng thời CP Diệm:

“Hiệp ước đình chiến Genève ký kết ngày 21-7-1954 chia đôi VN nơi vĩ tuyến 17.Bảo Đại gây khó khăn cho ông Diệm bằng cách từ Cannes gửi ngày 28-4 và 30-4-55 hai công điện liên tiếp triệu hồi TT Diệm qua Pháp để “tham khảo ý kiến” vì ông Diệm khai trừ tướng Nguyễn văn Hinh, không chấp nhận tướng Nguyễn văn Vĩ như tân Tổng tư lệnh Quân đội, cương quyết kết thúc kế họach dẹp giáo phái, quét sạch Bình Xuyên và giải tán tổ chức võ trang UMDC của Leroy. Ý đồ của Bảo Đại là thay thế Thủ Tướng Diệm, có thể bằng Lê văn Viễn tự Bảy Viễn, xếp sòng Bình Xuyên, lúc đó đang nắm giữ guồng máy Cảnh sát, công an và kiểm sóat sòng bài Đại thế giới để cung cấp tiền nong cho Quốc trưởng.” (Hết trích)

Theo ý Bút Xuân, Hoàng đế Bảo Đại làm rất đúng theo câu châm ngôn trên. Ngài ngự sáng suốt vô cùng! Lưu vong qua Pháp chỉ có trên răng dưới giầy tây, Ngài không thể mang theo cả lầu vàng điện ngọc của Hòang gia từ thời ông cố tổ Nguyễn Kim - Nguyễn Hòang, rồi Nguyễn Ánh, Ngài cần tiền là đúng “Không tiền đố mày làm nên” xin nhắc lại một lần nữa. Vả lại Ngài ngự còn một đám đầm non mà cô đầm Monique Baudot, xinh như mộng là một - vây quanh, tối xâm banh nhẩy đầm, sáng Croissant, sữa Guigot vàng, thì tiền núi cũng hết. Chỉ có Bảy Viễn, xếp sòng Kim Chung - Đại thế giới hốt từ tiền cắc do lấy xâu mọi thành phần ham mê đỏ đen, tứ đổ tường lúc đó ở miền Nam, kể cả những anh xích lô đạp - để phân biệt với xích lô máy khá giả hơn một tí - và những bà bán rau cải ở chợ, thì mới đủ cung cấp cho Ngài ngự mà thôi.

Vậy thì, cứu cánh biện minh phương tiện, để ông thày tu Diệm ngồi kì đà cản mũi làm chi. Bứng ông đi, Vĩ có job, Bảy Viễn có good job, Hinh có job, Ngài ngự thỏa mãn đến tận cùng chân răng, kẽ tóc. Hăm lăm triệu dân Việt lúc đó, chỉ có mình Ngài là Hòang đế anh minh, dại gì mà không hưởng cho đã mà Ngài ngự vốn xưa nay đã rất nổi tiếng về cái sự đờn bà con gái vì mỗi đêm không có cái “sinh vật” khác giống này là hổng ngủ nổi. Thực là nhất cử lưỡng tiện, vừa cho con dân của Ngài biết Ngài rất thương dân, xăng xái đến cả mọi họat động của Chính phủ do Ngài lập ra, để dân quên đi cái tháng Ba khốn khổ năm Đói mới vừa qua chết hai triệu người mà Ngài ngự chẳng hề lên tiếng lấy một câu yêu cầu quân phiệt Nhật và thực dân Pháp mở hàng trăm kho gạo đầy ắp do chúng tích trữ thu mua lâu ngày, đặng phát cho dân chúng cầm hơi đỡ chết đói chờ đến mùa lúa mới. Sau vụ đói, Bút Xuân có hân hạnh nhìn tận mắt các kho gạo này cao to như những cái núi ở bến Sáu kho Hảiphòng và ở nhiều nơi khác.. Bứng ông Diệm đi, để Bảy Viễn thế, vừa củng cố đám thuộc hạ, chân tay như Hinh, như Vĩ, như Xuân và nhiều tên khố xanh khố đỏ khác như Đỗ Mậu, Trần thiện Khiêm, André Đôn, Đính, Lễ, Linh quang Viên v.v...do Pháp đào tạo rất ăn ý với Ngài ngự, vừa hưởng lợi lớn mỗi tháng tiền vô khẳm.

Một người bạn Bút Xuân, lão Cả Đẫn, khi nghe tới đây liền giơ tay có ý kiến. Cả Đẫn phát ngôn rằng thì là...(ông ta có tật nói lắp, già bảy mấy vẫn không sửa được) là là ...nước Việt Nam 4 ngàn, hai trăm, 31 năm văn...văn hiến, văn học ta thật có phước phước lớn lắm mới sản sanh được mấy nhân nhân nhân...vật kì tài tài. Địa địa linh linh...linh sinh nhân kiệt. Đó là bác “bác” Hồ vô vàn vàn vàn kính yêu của các cháu qùang khăn đỏ như cháu Huỳnh thị Thanh Xuân ở Đà nẵng (mới viết thư tố cáo bác: “Tôi gặp bác Hồ năm 1964 bị bác phá trinh lúc tôi mới 15 tuổi”), Vẹm Duẩn, Mười, Anh, Triết, Mạnh, Dũng, Giáp v.v...Hòang Hòang đế Bảo Bảo Đại, Đại tướng tướng Dương văn Minh, tướng Đỗ Đỗ Đỗ...Mậu, sư ông hổ hổ hổ mang mang Trí Quang, tướng Nguyễn chánh Thi, tá Vương văn Đông v.v......”

Bút Xuân phải ngắt lão:

“Thôi, còn rất nhiều như sau này, kể đến tối cũng không hết những thứ trời ơi đất hỡi đó ở nước ta, tất cả là nhờ địa linh nhân kiệt đấy, sung sướng nhá. Nhưng thôi, hãy tạm ngưng đã bác Cả. Em nghe bác nói em mệt tim lắm...”

Cả phòng cười ran. Thực vậy, nói thì không mệt mà nghe Cả Đẫn nói thì mệt đứt hơi vì cứ như nghe dân tị nạn vừa từ đảo sang nói tiếng Anh. Cả Đẫn vẫn chưa chịu, giơ tay phản đối cái một:
“Tôi tôi tôi ...mới nói nói nói có một câu.”
“Vâng, bác Cả. Bác mới nói có một câu mà bọn tôi muốn mệt, bác nói nữa thì chắc có thằng phải gọi I-mớ-rân-xi đấy.”

Cả phòng lại cười. Cả Đẫn cũng nhe răng ra cười xòa. Cả được cái nết không biết giận.

Cứu cánh biện minh phương tiện khi tên Trần huy Liệu cán bộ cao cấp Vẹm chỉ đứng sau Hồ dâm tặc, (tên này cướp vợ của Phạm Giao, con học giả Phạm Quỳnh, y giết Phạm Giao cùng với cụ Quỳnh). Lúc y làm Bộ trưởng Tuyên truyền của Vẹm, y tạo ra một đứa trẻ tưởng tượng tên Lê văn Tám, mới hơn 10 tuổi, biết quấn giẻ vào người, tẩm xăng đốt rồi chạy vào kho xăng của Pháp làm nổ kho xăng cháy mấy ngày đêm. Y không hiểu là khi lửa bắt lên thì nóng rát quá, bố thằng bé cũng không chạy được nữa nhưng y cứ nói láo vì cứu cánh biện minh phương tiện. Ấy vậy mà không thiếu cháu ngoan “bác” Hồ quàng khăn đỏ muốn thực hành như thế để được nổi tiếng. Đã bảo người Việt, ngay từ đứa con nít cũng muốn “nổ” mà! (dunglac.org)

Cứu cánh cũng biện minh phương tiện khi Đại tá Dương văn Minh, Tư lệnh chiến dịch Rừng Sát - do TT Ngô đình Diệm chỉ định - đã thuổng được một túi (túi hình trụ, khá lớn, binh sĩ thường dùng để đựng, mùng, mền, poncho, quân trang cá nhân). Túi đầy tiền giấy và kim cương, ngọc thạch, vàng y...đáng giá nhiều triệu đồng từ tên Paul, con trai Bảy Viễn. Thay vì đem trình TT Diệm - rồi cũng được thưởng - nhưng cũng vì cứu cánh chứng minh phương tiện, Đại tá Dương văn Minh ém nhẹm luôn nguyên túi cho chắc ăn. Việc đổ bể đến tai TT Diệm, ông bèn cho Đại tá ngồi chơi xơi nước.(Xin đọc: Những ngày bên cạnh TT Ngô đình Diệm, tác giả Đ/T Nguyễn hữu Duệ) Chính vì thế mà Dương văn Minh để tâm thù, ra lệnh cho tên Đại Úy Nhung và tên Đại tá Mai hữu Xuân hạ sát tức tốc hai anh em ông Diệm-Nhu ngày 2-11-1963. Y làm Tổng thống hai ngày rồi quì dâng miền Nam cho Cộng sản để Cộng Sản tha mạng cho y. Khi y chết ở Hoa kỳ, mấy tên sĩ quan khốn kiếp, vô liêm sỉ lấy cờ vàng phủ quan tài y, lá cờ mà y đã phản bội ít nhất hai lần và chính y đã xử tử miền Nam 2 lần.

Cứu cánh cũng chứng minh phương tiện. Nguyễn văn Thiệu vừa tuyên bố trao quyền lại cho cụ giáo già Trần văn Hương, suốt đời chỉ có thể làm hành chánh và dạy học, để ông Thiệu trở về với Quân đội đặng có thêm một tay súng như ông ta tuyên bố để chống với Cộng sản thì vừa tuyên bố buổi sáng, chiều tối Thiệu cùng gia đình lên máy bay Mỹ sang Đài loan có Đại sứ Kiểu là anh ruột đón ở đó.

Cũng theo châm ngôn này, Nguyễn cao Kỷ hôm trước tuyên bố ở trước nhà thờ Tân Sa Châu tuyển mộ 500,000 tay súng quyết giữ vững Sài gòn thì ngày hôm sau người ta thấy y và vợ con y có mặt ở Đệ thất Hạm đội Hoa kỳ ở ngòai khơi. Cũng cứu cánh, y xin về làm bồi cho bọn Vẹm tội đồ dân tộc hòng kiếm chân tuỳ phái nhưng bọn Triết Dũng Mạnh không thí cho thằng khốn nạn một cục xương!

Nếu kể cho hết thì không biết là bao nhiêu trường hợp cứu cánh biện minh phương tiện ở nước ta, như Nguyễn đan Quế, Hoàng minh Chính, Dương thu Hương, Đỗ nam Hải... dân chủ giả hiệu.

Giặc cái xoen xoét cái lỗ mồm Dương thu Hương (ngày nào còn nói về ỉa phẹt lên đầu từ thằng Hồ, thằng Duẩn thằng Giáp, thằng Thọ...trở xuống) nay lại bày đặt viết “đỉnh cao cứt chồn” thối hoăng cả Paris, nhằm đánh bóng tên dâm tặc Hồ chí Mén mặt sắt đen sì chuyên khẩu dâm, khiến bà con hải ngoại muốn ói mửa, buồn nôn. Bãi đờm y thị nhổ ra ngày nọ, nay y thị cúi xuống húp vào. Thực là vô liêm sỉ. Nhưng cho dù y thị viết ca thằng giặc Hồ, dịch ra Pháp văn, nhưng cả quốc tế và trong nước không ai là không biết thằng giặc già dâm đãng hại biết bao đời con gái những thiếu nữ mới hơn chục tuổi đầu, kể cả Nông thị Xuân (đẻ ra Nguyễn tất Trung) và Nông thị Ngát (đẻ ra Nông đứt Mạch) chỉ đáng cháu nội, cháu ngoại y như cô Huỳnh thị Thanh Xuân (nay đã 60). Y giết vợ, bỏ con, một con yêu tinh, quỷ sống, y chính là con của Nguyễn sinh Sắc và Nguyễn thị Kim Loan ở thôn Kim Liên, Hà tĩnh. Y giam lỏng anh y là Nguyễn sinh Khiêm cho đến chết vì sợ Khiêm tiết lộ nhiều điều bất lợi cho y. Chị y là Nguyễn thị Thanh đến Bắc bộ phủ mấy lần chờ chực nhưng y cho lính gác nói chủ tịch không có nhà và đuổi đi. Bà này uất hận quá mà chết. Lăng mộ cha mẹ y, bọn gian thần xây cất nhưng đã nhiều lần dân chúng trét cứt lên, cũng y như lăng mộ của Chinh, Đồng, Duẩn, Thắng v.v...Nhưng tội lớn nhất của giặc Hồ là dâng biển đất nước ta cho Tàu phù. Tàu hiện đã xuống ở đầy các thành phố lớn của ta. Thằng giặc già tính sao đây?

Nhiều anh to mồm như Nguyễn chí Thiện cũng chửi Vẹm, ra cái điều ta cũng chống Cộng đây nhưng đố dám động đến thằng Hồ dâm tặc chẳng biết vì sao? Thực ra mấy anh này còn khá hơn tên “rắn ráo” sư Trần chung Ngọc, y kề miệng lỗ nhưng mù đặc chẳng biết đúng sai, chẳng biết công tội, lúc nào cũng khoe học vị đầy mình, liếm trôn Vẹm miệng thối hoăng phẩn Hồ nhưng cứ ở lì Hoa Kỳ đớp kỹ bánh, thịt tư bản, chẳng biết nhục. Khoái Vẹm thế sao y không về Việt Nam mà sống với chúng? Y luôn luôn chửi Công giáo, phạm thượng đối với Thượng Đế, chửi ông Diệm vô căn cứ, y là một thằng vô lại, bất cố liêm sỉ!

Chuyện những tên này như bọn hủi Vaala, Việt Tân, Madison Nguyễn, bọn hủi Đỗ ngọc Yến...có nói đến tết Iran cũng chưa hết chuyện. Vả lại càng nói thì bạn đọc càng tởm, ăn cơm hết ngon! Xin trở lại với thày Sáu Hóa và bà cố Nghị kẻo hết đêm!

Thực ra, cụ Nghị đang ở Hoa Kỳ cũng chẳng mất gì. Tiền già cụ lãnh ở Mỹ không phải là tiền mồ hôi nước mắt do cụ làm ra hoặc con cháu cụ làm ra, hoặc cha mẹ cụ để lại. Cụ sang đây đòan tụ với con là đã quá sung sướng. Sau mấy năm, đủ ngày đủ tháng đủ tuổi, Chính phủ Mỹ cho cụ hưởng tiền già, có Medical khám bệnh, mua thuốc miễn phí, có các chương trình săn sóc người cao niên, có dịch vụ xe đưa đón, có chương trình phát bơ, sữa, cheese, đường ăn mệt nghỉ. Nếu cụ ở một mình thì cụ phải chi phí hơn phân nửa tiền già; đàng này cụ ở với con trai và con gái, cụ không mất tiền ăn, tiền ở, tiền già cụ để dành hầu hết vì vậy mà cụ có nhiều tiền để gửi cho thầy Sáu Hóa. (tinvui.org Văn học)

Số tiền 12,000 đôla để thầy Sáu Hóa đút lót đặng bước lên bàn thánh ”Con là linh mục đời đời” và những món tiền khác cụ gửi mỗi tháng trong nhiều năm cho thầy Sáu Hóa tu tập, bảo rằng không phải của cụ Nghị thì của ai? Đó là tiền của Chính phủ Mỹ thu thuế từ nhân dân Mỹ. Nhân dân Mỹ đóng thuế khá nặng cho Chính phủ để chính phủ điều hành việc nước và phát triển những chương trình xã hội mà chương trình trợ cấp cho người cao niên là một.

Thầy Sáu Hóa, rốt cuộc, được thành ủy Cộng sản cho phép chịu chức Linh mục vì đã nộp đủ tiền, công lao cũng là từ nhân dân Mỹ mà ra. Nếu cụ Nghị không được cấp phát số tiền này hàng tháng thì dù cụ có muốn giúp thầy Sáu Hóa đến đâu cũng chịu thua. Cũng như hiện tại, Việt kiều hải ngọai năm nay chuyển về quê hương trên 5 tỉ đôla do chánh sách bật đèn xanh của Hoa kỳ. Nếu Hoa kỳ không cho, làm sao CS Việt có số tiền lớn lao bằng ngọai tệ như thế để mướn thêm công an rình rập theo dõi dân chúng và nhất là để trù dập các nhà tranh đấu bất khuất cho Dân chủ Tự do như LM Nguyễn văn Lý, LS Công Nhân v.v...(vietnamexodus.org Văn học)

Trong lễ mở tay, người sung sướng nhất chắc phải là bà cố Chiến, rồi đến Linh mục Hóa khi ngài nằm sấp mình giang tay, giang chân giữa cung thánh ăn năn với Đấng Tòan Năng thanh tẩy ngài cho xứng đáng. Nhưng có lẽ trong lúc đó biết đâu bà cố Chiến lại không nghĩ đến câu nói của mụ Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc:

“Ông Hóa lên làm ông cha rồi đi Mỹ một chuyến thu lời gấp trăm gấp ngàn lần ngay thôi. Chị không thấy đấy ông đức cha và các ông cha nào đi Mỹ về mà không ôm cả đống đôla.”

Bà cố Chiến quả đã đầu tư một cách rất khôn ngoan như bà thường bảo thầy Sáu Hóa:” Con là cái gậy chống của mẹ lúc tuổi già.”

Anh em bạn hữu Bút Xuân tụi tôi chỉ mong cho linh mục Hóa và 57 tân linh mục thụ phong cuối tháng 11-05 và các Linh mục cố cựu khác sẽ không bao giờ như ông “cha TKP” trong truyện ngắn “Bà cố” bê bối đủ thứ mà “cũng không thấy bề trên nói gì.” Và hi vọng sẽ chẳng gặp một tân linh mục nào trong số 57 linh mục mới chịu chức ngày 29-11-05, kể cà linh mục Hóa, ở bất kì một giáo xứ nào trên đất Mỹ, sang xin tiền, như lời Mụ Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc của Vẹm... Kiếm đôla ở đây cũng khó lắm chứ không phải như người Việt ở VN, nhất là “đồng chí gái” Chủ tịch Mặt trận, nghĩ chắc bên Mỹ, ra đường cũng nhặt được hàng đống đôla.(hon-viet.co.uk trang VHNT)

Tóm tắt, thầy Sáu Hóa và bà cố Chiến đúng là đệ tử ruột của câu châm ngôn cao quí, nhất là khi bà tuyên bố một câu xanh rờn, đầy tình nghĩa:
“Người đàn bà đó - cụ Nghị - từ nay không còn cần thiết nữa.” Cứu cánh đã đạt rồi thì phương tiện “chất lượng” mấy cũng vứt y như cô Nông thị Xuân và những đứa bạn của cô Huỳnh thị Thanh Xuân năm xưa vậy.

Các Hội Bảo trợ ơn Thiên triệu tại Hoa kỳ có đọc được câu chuyện thật này của tác giả Duyên Lãng không?

Thursday, August 14, 2008

TRỐN CHẠY
Xuân Vũ TRẦN ÐÌNH NGỌC

Cụ ở cùng lều với tôi, tại Subic Bay – Phi luật Tân - từ những ngày đầu tháng 5 năm 1975, sau khi tôi rời khỏi Sàigòn bằng đường biển vào trưa ngày 30-4-1975 ngay sau khi Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng Cộng Sản.

Không biết cụ tới đây lúc nào, chỉ biết khi tôi đặt chân lên hòn đảo tuyệt đẹp này thì đã thấy cụ ở đây rồi. Tên cụ là Tường - Lê văn Tường - người huyện Phú Thọ, tỉnh Thanh Hoá, Bắc Việt. Dáng người gầy nhưng trông còn khang kiện, năm đó cụ vào khoảng 65, 66 tuổi với những nét nhăn trên trán, trên má và chòm râu bạc trắng như cước.

Ngày ba bữa cụ rủ tôi đi lấy cơm từ một nhà ăn rộng lớn do Chính Phủ Hoa Kỳ đài thọ, với số người làm bếp đủ để phục vụ mười lăm ngàn đến hai mươi ngàn người trên đảo mà tất cả toàn là người Việt tị nạn, sau khi đã đào thoát khỏi Việt Nam trước hoặc sau ngày 30-4-75. Mỗi buổi chiều, khi lấy đĩa cơm xong, tôi với cụ Tường thường mang ra bờ đá trước nhà ăn, sát chân sóng, vừa ăn vừa nói chuyện, có khi tới tối mịt mới trở về lều. Trong câu chuyện cụ kể cho tôi nghe, có câu chuyện vô cùng thương tâm của chính gia đình cụ mà hôm nay tôi viết lên đây để cống hiến bạn đọc. Và sau đây là lời cụ Tường.

“Thanh Hóa được kể là một trong những tỉnh Chính phủ Cộng Sản Hà nội dùng làm thí điểm trong những đợt người Cộng Sản gọi là “Ðấu tranh chính trị, đấu tố địa chủ, cường hào ác bá” hay “Cải cách ruộng đất” tại Bắc Việt. Trước Hiệp Ðịnh Genève năm 1954, nghĩa là trước khi Cộng Sản hoàn toàn làm chủ đất Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra, trong khi những vùng khác không có thì tại Thanh Hoá cũng đã có những cuộc đấu tố, hiến điền rầm rộ rồi. Trong những cuộc đấu tố đó, biết bao nhiêu lương dân đã gục ngã, biết bao gia đình đã tan nát chỉ vì chính sách quá thâm độc, dã man của Cộng Sản. Cộng Sản không muốn bị mang tiếng là cướp ruộng đất của dân nên chúng đánh thuế thật nặng qua những cuộc “lương giá” ruộng tốt, ruộng xấu để đóng nhiều hoặc ít lúa cho Chính phủ mà những nông dân ngồi bình nghị là chính những người được chúng huấn luyện để làm công việc đó. Vì vậy, nhiều gia đình, nhất là những gia đình địa chủ trước kia, đã phải “lậy” mà dâng ruộng đất cho chính phủ, Cộng sản gọi là “hiến điền”.

Số lương dân bị đấu tố và bị chết trong vùng rất nhiều, tôi không thể nhớ hết. Chỉ xin kể ra vài trường hợp điển hình trong đó có một linh mục Công giáo, cha Phạm Tần - sau này lên Giám mục - và thân phụ tôi, một người tôi kính yêu suốt đời.

Cha Tần ở xứ Phúc Lãng, huyện Quảng Xương, bị Cộng Sản đưa ra đấu tố vì Cộng sản muốn diệt ngài, diệt một người có uy tín với giáo dân, có thể kích động giáo dân nổi lên chống Cộng Sản, chống những sự tham tàn, độc ác của Cộng Sản. Dù là một người không Công giáo, tôi cũng biết rõ điều đó.

Bọn Cộng Sản đánh cha hai trận bằng tầu lá cọ có gai nhọn và cứng dài đến hai đốt ngón tay, đánh từ chập tối đến nửa đêm, cho đến khi cha ngất đi không còn biết gì nữa mới thôi.

Trong trận đấu tố này, chúng dùng một đứa con gái tên Chữ, khoảng 21, 22 tuổi. Bố mẹ con Chữ đang là câu, sãi cho nhà xứ Phúc Lãng, từ lâu vẫn sống nhờ sự giúp đỡ của các cha. Bọn cán bộ Cộng sản dạy con Chữ cách căm thù cha Tần. Ðầu tiên chúng nhồi vào đầu óc đứa con gái ngu dại này rằng chính cha Tần và các linh mục trong nhà xứ đã bóc lột sức lao đông của cha con nó từ bao lâu nay. Lẽ ra gia đình nó phải được ăn sung mặc sướng, có nhiều tiền, nhiều thóc như nhà xứ Phúc Lãng. Nhưng vì cha Tần tham lam, không trả công tương xứng nên cha Tần chỉ làm giầu cho chính mình trong khi gia đình nó nghèo túng, thiếu ăn, thiếu mặc. Bọn cán bộ còn bắt con Chữ phải dựng đứng câu chuyện bỉ ổi là trước mặt dân chúng, con Chữ phải nói ràng chính cha Tần đã bắt nó phải ngủ với ông bao nhiêu lần, đã trêu ghẹo nó, làm tầm bậy tầm bạ làm sao vv... Cán bộ Cộng Sản cũng bắt con Chữ và mọi người phải gọi là “thằng Tần” chứ không được gọi là cha Tần như trước. Ðến ngày đấu tố, bọn cán bộ vào nhà xứ lôi cha Tần ra trước sân cuối nhà thờ, ở đó dân chúng đã bị thúc đẩy đi dự đấu tố đông nghẹt một sân rộng. Con Chữ đã làm tất cả những gì bọn Cộng sản muốn, kể cả việc nó trùm váy của nó lên đầu cha. Và sau đó là những trận đòn cho đến khi ngất đi.

Cần phải để ý là bọn cán bộ không dùng những người ngoài Công giáo để đấu tố các cha. Chúng dùng ngay những người Công giáo và dùng ngay chính những kẻ xưa nay được tiếng là thân tín với các cha để đấu tố các cha. Như cha Tần, sau khi bị đánh lần thứ hai, chúng tưởng ngài chết rồi nên gọi giáo dân đến khiêng về nhà xứ mà chôn. Lúc ngài được khiêng vào phòng khách nhà xứ, một người đàn ông tên Mạnh và con Chữ quì xuống nắm lấy tay ngài khóc, nói:

“Chúng con bị bọn cán bộ bắt buộc phải đấu tố cha, phải nói dựng đứng những chuyện cha không có. Chúng con đã đấu tố bậy. Xin cha tha lỗi cho chúng con.”

Nhưng cha Tần đã hôn mê, ngài còn biết gì nữa đâu. Tất nhiên sau đó bao nhiêu ruộng của nhà xứ Phúc Lãng mà chúng buộc là của cha Tần, bị xung công gần hết, chỉ còn để lại mấy sào không đủ nuôi vài miệng ăn trong nhà xứ.
S
Sau đó đến cha Thước, xứ Thổ Ngõa. Cung cách chúng dùng để đấu tố cha Thước cũng y như những bài bảng đã áp dụng cho cha Tàn. Chúng muốn hạ uy tín các linh mục là những cán bộ nòng cốt của Giáo hội để không một giáo dân nào tin tưởng và tuân phục mệnh lệnh các cha và chúng tiến đến dần đến chỗ tiêu diệt tôn giáo.”

Cụ Tường nói một thôi không nghỉ. Giọng cụ lẫn vào tiếng gió và sóng biẻn vỗ vào bờ đá làm tôi có cảm tưởng những linh hồn oan khuất của những lương dân vô tội bị Cộng sản giết oan trong các đợt đấu tố dã man như đang hiển hiện về đây nói cho chúng tôi nghe những căm hờn uất hận khôn nguôi. Cụ Tường ngưng một lúc, lấy trong túi áo ra một cái ví nhỏ xíu như của đàn bà vẫn dùng. Cụ mở ví lấy ra một tờ giấy mỏng, lấy thuốc lá sắp đều lên tờ giấy. Cụ vấn thuốc hút. Tôi phải giúp cụ bằng cách ngồi che gió và bật quẹt cho cụ. Khi điếu thuốc đã cháy, cụ rít một hơi, thở khói, nói:

“Tôi đã bỏ hết quần áo sau khi chuyển qua mấy chiếc tầu nhưng cố giữ ít thuốc vấn vì tôi hút thuốc lá của Mỹ nóng lắm, chịu không được. Ông tính cuộc đời của tôi còn gì. Bố chết phải bỏ nằm đấy mà chạy. Hai lần bỏ vợ, bỏ con. Bây giờ trôi dạt ở đây một thân một mình...”

Tôi an ủi cụ:
“Thôi cụ ạ, vận nước. Vả lại chẳng qua cũng cái số. Cụ có buồn cũng không ích gì.”
“Vẫn biết thế, ông Vũ ! Nhưng sao tôi vẫn cảm thấy buồn. Buồn cho nước, cho đồng bào bị cái khổ nạn không biết bao giờ mói qua. Buồn cho gia đình, cho thân thế mình, những người liên hệ với mình, cả một cuộc đời long đong lận đận đầy khổ nhục và nước mắt. Rồi mai sau, với cái hiện tại như thế thì con cháu mình sẽ ra sao, sẽ là cả một cuộc đời tăm tối ở trước mặt, hết thế hệ này sang thế hệ khác. Thôi được, tôi nói tới đâu rồi, hả ông Vũ ?”
“Dạ, thưa cụ đang nói đến chỗ bọn cán bộ đấu tố cha Thước cùng một kiểu như cha Tần ...”

Cụ Tường nâng ly nước vừa lấy từ nhà ăn lên nhấp một ngụm:
“Ờ, ờ, tôi cũng cần phải thêm với ông rằng bọn cán bộ ghép cho các linh mục cái tội “phong kiến” để đem ra đấu tố. Ông có biết sau khi cha Tần bị đánh bằng cái tầu lá cọ , gai đâm vào người cha lấy kìm nhổ ra được gần một chén ăn cơm. Gai đâm khắp mình mẩy, chỉ trừ đầu là chúng chừa ra mà thôi vì sợ đánh vào đầu sẽ chết mau. Ông thấy chúng dã man chưa ? Các linh mục, như tôi nói, chúng dùng toàn người Công giáo để đấu tố; một số địa chủ thì chúng dùng toàn người làm, tá điền và chúng bắt cả con cái phải đấu tố cha mẹ như trường hợp cụ Cai Bái ở làng Gia Ðại. Cụ Bái có hai người con trai, một người làm tới chức Chủ tịch Tiểu khu, người kia là Cán bộ Liên khu 3, thế mà hai người này phải về đích thân đấu tố, chửi bố mẹ là địa chủ phú nông bóc lột vô sản, thậm chí nhổ nước miếng vào mặt bố mẹ, đứng nhìn cho những con vợ tá điền trùm váy vào mặt bố mẹ. Tôi hỏi ông, chủ nghĩa vô luân như thế thì còn trời đất nào không ?”
“ Thưa cụ đúng. Chủ nghĩa nghịch lòng dân, trái đạo trời làm sao đứng vững được.”

Tôi thấy gió bắt đầu lạnh, trời cũng đã muộn muộn mà ông cụ có vẻ không được khoẻ, bèn đề nghị:
“ Nghe chuyên cụ thâu đêm còn muốn nghe, nhưng có lẽ đã hơi lành lạnh. Mời cụ về nghỉ, mai lại xin cụ cho nghe tiếp.”

Thu nhặt chén đĩa giấy, tôi đem bỏ vào một cái thùng phuy lớn gần đó rồi cùng cụ trở về lều. Mặt biển đen thẫm mênh mông trước mặt với vài ngọn núi nhỏ trơ vơ. Tiếng sóng đập vào ghềnh đá bộp bộp thành một âm thanh đều dều nghe thật buồn nản. Nỗi kinh hoàng mới vài tuần trước đây tại Sàgòn khi Sàigòn rơi vào tay Cộng Sản cùng với nỗi đau đớn của cái cảnh quốc phá gia vong làm cho thần trí tôi nhiều lúc mê muội đi không còn nghĩ mình đang sống hay đã chết, hoặc sống nhưng là sống với cái xác không hồn. Một phút bỗng tiêu tan hết, một phút sụp đổ hết. Số phân mình cùng với số phận của đồng bào và cả quốc gia dân tộc. Ðau đớn biết chừng nào ! Những lời an ủi cụ Tường lúc nãy cũng chính là những lời tôi tự an ủi.

Tôi và cụ Tường chui vào lều. Ðám trẻ đã rủ nhau đi coi xi-nê . Mỗi tối, quân đội Mỹ có ba, bốn chỗ chiếu phim để giải trí cho đồng bào tị nạn. Có những gia đình đi được cả vợ chồng con cái, ông bà, cha mẹ, anh em, họ hàng. Họ vui như Tết và có thể họ mang được vàng bạc, đô-la theo. Họ thấy cuộc di tản này quả có lý. Ngày ba bữa, cả gia đình mấy chục người sắp hàng đi lấy cơm ăn xong ra bờ biển chơi, tối xem xi-nê. Họ vừa lòng với cảnh di tản và không có một điều gì phải lo nghĩ. Trái lại, có nhiều gia đình vợ mất chồng, con mất cha, anh em tứ tán. Họ buồn rầu, khổ sở, lo lắng. Có những người ngồi khóc cả ngày. Thậm chí có người sang tới Guam rồi ghi tên xin trở về Việt Nam. Có lần tôi hỏi cụ Tường:
“Người ta kẹt gia đình ở Việt Nam nên có nhiều người xin trở về. Cụ nghĩ sao ?”

Nét mặt rầu rầu, cụ đáp:
“ Tôi bỏ lại nhà tôi và 5 đứa con tại Sàigòn. Tôi cũng đau khổ lắm chứ. Nhưng bảo trở về sống với Cộng sản thì nhất định không. Thà tôi chết dập chết vùi nơi đây còn hơn. Ông Vũ tính coi, tôi đã sống với chúng và chúng đã bắt chúng tôi phải làm tập thể, ăn tập thể. Ðàn ông ở riêng, đàn bà ở riêng. Mỗi buổi sáng đánh một tiếng cồng thì ra đồng làm. Trưa đánh một tiếng cồng thì về ăn cơm. Có ban hoả thực riêng lo việc nấu nướng. Chiều lại ra đồng làm rồi tối lại về. Ăn cơm tối xong, họp hành kiểm thảo đến nửa đêm mới được đi ngủ để sáng sớm lại ra đồng. Con người như cái máy chả còn gì là sinh thú của cuộc đời nữa. Vợ chồng thì ba, bốn tháng chúng cho gặp nhau một lần. Chết đem ra đồng chôn. Sống như thế thì ông bảo tôi trở về để làm cái gì ? Tôi quá sợ cái chế độ đó rồi.”

Ngày hôm sau, cụ Tường và tôi đi lấy cơm sớm hơn. Lại ra chỗ cũ ngồi va cụ lại kể tiếp:
“Hôm nay tôi kể cho ông Vũ nghe về cái thảm cảnh của gia đình tôi, cái thảm cảnh mà mỗi lần kể là tôi lại khóc.

Hồi đó, ông bố tôi làm Chánh tổng, tổng Thủy Cơ. Phải biết tỉnh Thanh Hoá có bẩy phủ, bẩy huyện và tổng Thủy cơ. Tổng Thủy Cơ bao gồm tất cả các thuyền bè đậu ở khắp nơi thuộc về tỉnh Thanh Hoá. Nói thế chắc ông Vũ cũng mường tượng ra Tổng Thủy Cơ lớn như thế nào. Dân số trong tổng Thủy cơ rất đông và chức Chánh tổng tổng Thủy Cơ cũng được coi ngang hàng với các chức tri huyện, tri phủ trong tỉnh. Trong đợt đấu tố đầu vào những năm 1950-51, bố tôi thoát được vì ông tìm cách khéo léo với cán bộ xã, huyện để chúng khỏi báo cáo lên cấp trên. Nhưng đến đợt cải cách ruộng đất năm 1956-57 thì chúng đem bố tôi ra đấu tố. Cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây là sau Hiệp định Genève tháng 8 năm 1954, dân Thanh Hoá, cả Công giáo và không Công giáo đều muốn di cư vào Nam. Số người muốn ở lại với bọn Cộng Sản đa số là cán bộ hoặc liên hệ gia đình với cán bộ, không có bao nhiêu. Nhưng bọn cán bộ rất tinh quái. Chúng tìm đủ mọi cách để ngăn chặn làn sóng di cư vào Nam, y như nhiều nơi khác. Có những gia đình rục rịch trốn đi, chúng biết được liền cản trở và để tâm trả thù, làm hại. Gia đình tôi muốn đi lắm lắm, nhất là bố mẹ tôi, thế mà không sao đi được. Chúng tôi biết chỉ có vào Miền Nam sống dưới chế độ Quốc gia thì mới có tự do sinh sống, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo. Còn ở với bọn chúng thì mất hết tự do, chẳng những vậy, gia đình tôi bị chúng để ý theo dõi, ngộp thở lắm ông à !

Tháng 9 năm 1956, nhân cái đợt gọi là “Cải cách ruộng đất” do tên đồ tể Trường Chinh phát động, bọn cán bộ đem bố tôi ra đấu tố. Chúng ghép cho bố tôi cái tội là địa chủ bóc lột tá điền, trước kia là Chánh tổng tổng Thủy Cơ ăn hối lộ và bóc lột dân thuyền bè sinh sống trên sông nước. Chúng kể ra cho bố tôi một trăm thứ tội. Nào là ngủ với vợ thằng tá điền này, đánh thằng tá điền kia, không cho vay lúa thóc, bỏ đói những tên tá điền khác. Còn mẹ tôi thì chúng ghép vào tội cho tá điền vay lúa thóc lấy lời nặng, trả công người làm với giá lương quá thấp, chết đói vv... Chúng đem trói bố mẹ tôi vào một cái cọc trước sân đình rồi cho các tá điền trước đây làm cho bố mẹ tôi cứ thế mà chửi rủa, quát tháo, lăng nhục. Con vợ một thằng tá điền tên Cam đã đứng vén váy đái vào đầu bố tôi, còn mẹ tôi thì nó tát cho sưng cả mặt. Chúng định đưa cả tôi ra đấu tố vì chúng đã ghép tôi vào hàng địa chủ. Vả lại, trước kia tôi có giúp đỡ bố tôi trong công việc hàng tổng, lo về giấy tờ hộ tịch mà người ta gọi tôi là hộ lại của Tổng Thủy Cơ. Nhưng hình như có một vài đứa đề nghị sao đó, nói rằng nên để tôi vào đợt sau thì hơn vì đem tôi ra đấu cả đợt này cùng với bố mẹ tôi thì e rằng nhân dân sẽ cho là nhà nước tư thù gia đình tôi, đem tất cả ra mà đấu tố. Nhờ thế mà tôi thoát chết.

Sau khi chúng đấu tố bố mẹ tôi và đánh đập mắng nhiếc suốt một ngày trời thì chúng cho về, bảo rằng sẽ còn đưa ra đấu tố một lần nữa vào một tuần sau. Chúng ra hạn cho bố tôi phải làm bản tự thú hết mọi tội lỗi, những tội tưởng tượng mà chúng đưa ra đều phải nhận hết, đồng thời xin Chính phủ, Ðảng và nhân dân tha tội. Mục đích của chúng là khi đã nắm được bản thú tôi của bố tôi thì mọi chứng cớ đã hiển nhiên, tờ thú tội phù hợp với những lời khai gian, vu cáo của bọn tá điền. Rồi, từ đó, chúng sẽ tịch thu hết ruộng đất, tài sản của gia đình tôi bằng một toà án nhân dân do chúng lập ra.

Sau trận đấu tố đó, bố tôi về mang bệnh nằm liệt giường. Mẹ tôi thì đỡ hơn nhưng ông nghĩ coi, tuổi già sức yếu, các ngài làm sao chịu được những điều khổ nhục đau đớn như thê ? Ngày xưa, mọi người đều gọi bố tôi là cụ Chánh (Chánh tổng), bây giờ chúng bắt mọi người phải gọi bằng thằng. Chúng cô lập gia đình nhà tôi. Ðem đồ đi chợ bán, chúng không cho người ta mua, nếu chúng tôi muốn mua những đồ cần thiết,chúng cũng không bán. Chúng cấm mọi người liên lạc, lui tới. Chúng rình rập đêm ngày và làm mọi cách để khủng bố tinh thần người trong nhà. Chúng cho người ta có cảm tưởng rằng giầu là một trọng tội, dù giầu bằng sự cần cù, chân chỉ, làm ăn lương thiện. Còn ra làm việc dưới thời Pháp thuộc, dù làm để giúp dân giúp nước, làm một cách ngay thẳng thanh liêm cũng là có tôi, có trọng tội đối với chúng. Tôi chỉ lấy làm lạ rằng sao hồi đó Việt cộng ghét thực dân Pháp đến thế mà bây giờ, sau 30 năm kể từ ngày 19-8-45, Việt cộng lại o bế Pháp hơn ai hết, thân thiện với Pháp hơn bất cứ nước nào. Vậy mà trước Hiệp định Genève 1954,người dân nào bị chúng gán vào tội Việt gian tay sai cho Pháp thì chỉ có chết, không cách gì sống nổi. Thật kỳ lạ cho cái miệng lưỡi của Cộng Sản.”

Cụ Tường lại lấy thuốc ra vấn, thông lệ của cụ sau mỗi bữa ăn. Hôm nay gió nhẹ chứ không thổi mạnh như hôm qua. Mặt trời đỏ ối đang từ từ chìm dần xuống mặt biển. Vài chiếc tầu đậu tít ngoài khơi hiện hình trên đám mây trắng trôi nổi trên nền trời xanh. Một đám trẻ hò hét ầm ĩ thả những chiếc tầu nhỏ xíu chúng gấp bằng giấy xuống biển và ngồi trên bờ nhìn cho chúng trôi. Thỉnh thoảng một cái kỳ đen của một con cá lớn chạy dài trên mặt nước làm đám người đứng trên bờ hô hoán lên là kỳ của cá mập.

Tôi móc thuốc lá ra - bao Winston - hút với cụ Tường một điếu cho vui. Ðám người ngồi hóng gió thưa dần. Họ trở về lều hay chuẩn bị đi xi-nê. Chiều xuống lặng lẽ với vài tia nắng mờ nhạt còn thoi thóp trên lùm cây cao phía chân núi. Tôi chìm đắm trong nỗi buòn thấm thía, không biết rồi tương lai của mình sẽ đi về đâu.

Kéo xong vài hơi thuốc, cụ Tường lại tiếp tục:
“ Lẽ ra một tuần sau đó chúng lại đưa bố tôi ra đấu tố một lần nữa như chúng đã nói. Nhưng vì ông bố tôi đau nặng quá không lết nổi, nên chúng tuyên bố hoãn lại cho đến khi nào ông cụ khỏi. Tuy vậy, chúng vẫn cô lập và rình rập gia đình tôi đêm ngày. Mẹ tôi muốn mua bán thứ gì phải nhờ người em họ, chồng cô ấy vốn làm việc cho chúng từ hồi còn bí mật, để cô ấy mua bán giùm những thứ cần thiết và đến tối mới chui bụi tre phía sau đem vào cho chúng tôi. Dạo đó tôi đã có vợ và 4 đứa con. Gia đình tôi ở cách nhà bố mẹ tôi khá xa. Vả lại, như tôi đã nói, tôi chưa phải là mục tiêu của bọn chúng lúc đó vì vậy còn được thong thả đi lại, nhưng cứ nghĩ đến cái tai nạn bố mẹ đang phải chịu, tôi không cầm được nước mắt. Sau ba tháng, bố tôi hồi phục nhờ vì bà cô lén mua thuốc bắc giùm tại một ông lang mãi tận Ba Làng. Sắc thuốc thì phải sắc lén kẻo mùi thuốc bắc đánh sang hàng xóm, bọn công an vào khám được thì tội càng nặng thêm. Ðồ ăn đồ uống có cái gì ngon cũng phải xào nấu lén. Mua đượcmột con gà để nấu cháo cho bố tôi ăn cho chóng khỏi, phải cắt tiết ở ngoài cánh đồng, còn lông thì đem chôn ở góc vườn. Ăn giấu, ăn đút còn hơn là kẻ có tội nữa. Tôi chưa thấy cái chánh sách nào kỳ cục như thế.

Chỉ còn mười ngày nữa là đến tết Ðinh Dậu (1957), bọn cán bộ đến báo cho bố mẹ tôi là chúng sẽ đem bố mẹ tôi ra đấu tố một lần nữa vào đúng ngày hăm ba tháng chạp năm Bính Thân, ngày ông Táo chầu trời. Trước đó, tôi cũng đã dược biết qua một người bạn rất thân đang làm việc với chúng là sau bố mẹ tôi thì sẽ đến lượt tôi. Tội nghiệp bố tôi, nào ông cụ đã khoẻ hẳn đâu cơ chứ. Mới hơi hơi lại người sau một cơn đánh đập tàn ác thập tử nhất sinh, thiếu thuốc, thiếu đồ bồi dưỡng. Ông cụ mới đi đi lại lại được trong sân nhà và từ nhà trên xuống nhà bếp thì chúng lại đưa ra đấu tố nữa. Hai thằng đầu trâu mặt ngựa vốn xưa kia là tá điền của bố tôi, bố tôi coi chúng như con, lấy tô rất nhẹ lại còn dựng vợ gả chồng cho chúng, cho tiền, cho thóc đối đãi hơn cả cháu ruột. Thế mà giờ này chúng nghe theo lời bọn cán bộ nhất định giết bố tôi cho bằng được.

Ðối với chúng, “Trí, Phú, Ðịa, Hào, đào tận gốc trốc tận rễ” còn phải căm thù hơn cả giặc xâm lăng. Chúng muốn cho toàn dân ngu dốt và nghèo đói để chúng dễ cai trị và chỉ có một giai cấp thống trị là bọn chúng.

Chiều hăm hai tháng chạp, bố tôi gọi tất cả con cái tề tựu lại trước bàn thờ tổ tiên. Có vài người chị gái tôi lấy chồng xa không thể đến được, còn thì tất cả đều hiện diện đầy đủ. Vì là gần Tết, bon cán bộ mải đi sám sửa tét nhất nên chúng lơ là việc canh chừng gia đình toi nên mọi người mới tề tựu đông đủ được. Khi con cái đã ngồi trên mấy cái chiếu trước bàn thờ, bố tôi sai tôi đi thắp hương và nến lên. Cụ mặc quần áo trịnh trọng, đội khăn và đi giầy tử tế rồi đứng trước bàn thờ lâm râm khấn và lễ. Xong cụ đúng bên cạnh để mẹ tôi, rồi lần lượt đến chúng tôi, ai ai cũng đều khấn vong linh ông bà tổ tiên và lạy trước bàn thờ. Mẹ tôi và mấy đứa em gái thấy khung cảnh trang nghiêm và cảm động, lại nhớ đến hoàn cảnh đau đớn của gia đình, bất giác bật khóc. Bố tôi thấy vậy không cho khóc, cụ nói bọn cán bộ nghe được thì chúng giết cả nhà. Vì vậy chỉ còn nghe những tiếng nấc tức tưởi với hàm răng nghiến chặt cho tiếng khóc khỏi bùng ra. Lễ xong, bố tôi bảo mọi người ngồi xuống chiếu, còn cụ thì ngồi ngay chính giữa sập, mẹ tôi ngồi một góc bên cạnh. Cụ dõng dạc nói:
“ Nhà ta từ các cụ cho đến đời bố mẹ đều cố gắng ăn hiền ở lành. Làm việc cho hàng tổng thì bố cố giữ thanh liêm vì nhà ta có bát ăn bát để từ lâu, đâu có thiếu thốn gì mà phải đào khoét của dân. Còn ruộng nương, điền thổ trong nhà là do ông bà để lại, tá điền cấy rẽ thì lấy tô thật nhẹ, nhẹ hơn người ta nữa thế mà từ ngày chánh phủ mới lên, họ khép cho bố những tội tầy đình, nào địa chủ bóc lột, nào cường hào ác bá. Họ đã đem bố ra đấu tố một trận và kết quả là bố tưởng chết ngay sau đó. Bây giờ mới tỉnh dậy được một tí, họ lại đem ra đấu tố nữa. Bố nghĩ trước sau bọn cán bộ cũng sẽ tìm cách giết bố cho bằng được, mà giết một cách khổ nhục, ê chề. Vì vậy, có thể lúc lâm chung bố không còn kịp gặp mẹ và các con, ngày hôm nay bố gặp mẹ và các con một lần cuối.”

Bố tôi nói đến đó thì nghẹn lời, cụ không nói tiếp đuợc nữa vì quá cảm động. Mà mẹ tôi với anh em chúng tôi cũng không cầm được nước mắt, tiếng khóc oà vỡ ra như nước lũ phá bờ đê. Bố tôi thấy vậy, nghĩ là quá nguy hiểm nên khoát tay ngăn mọi người và nói:
“Bà và các con cấm không được khóc. Khóc tụi nó nghe thấy thì còn khổ hơn. Hãy nghe đây! Sau khi bố chết rồi thì cả nhà may ra sẽ được yên với chúng nó hơn, vì cái gai là bố chúng nó đã nhổ được rồi. Chỉ có thằng Tường có ra làm việc với tổng mà lại có tư điền mấy chục mẫu vậy sau bố có lẽ chúng nó để ý dến con. Con liệu xem có cách nào trốn để bảo toàn được cái mạng chứ con ở nhà thì bố chết không nhắm mắt đâu.”

Nói xong, ông cụ bảo mọi người giải tán rồi vào trong buồng nằm. Tôi cũng trở về nhà vì lúc đó cũng gần tối.

Ðêm hôm đó tôi không ngủ được. Phần nghĩ rằng ngày mai chúng sẽ đưa bố tôi ra đấu tố, có lẽ lần này bố tôi chết nên ông cụ đã trối trăn hết tất cả. Cứ nghĩ đến một đời bố tôi lo lắng cho mẹ tôi và chúng tôi, ăn hiền ở lành, người trong tổng Thủy Cơ, ngay cả nhiều nơi trong tỉnh Thanh Hoá cũng quí mến bố tôi vì tinh thần hay cứu giúp người và làm việc nghĩa. Thế mà bây giờ bọn chúng thù ghét bố tôi đến như thế, không muốn để bố tôi sống nữa. Về phần tôi là con trai cả trong gia đình, tôi có bổn phận nhiều hơn các chị và các em tôi để nhang khói cho ông bà cha mẹ. Nhưng tôi biết rõ, sau bố tôi là đến lượt tôi vì vậy bố tôi hết mực khuyên tôi phải cao chạy xa bay thì mới bảo toàn được mạng sống. Tôi có hai người đồng chí cùng muốn trốn với tôi. Người thứ nhất là bạn cùng làm việc trong hàng tổng, giữ chức thư ký, tên anh ta là Các, cũng trạc tuổi tôi, có vợ và năm đứa con. Người thứ hai là ông thầy bên Công giáo vẫn gọi là thầy Ðiền, đang dạy trẻ tại xứ Thổ Ngoã. Từ hôm cha Thước bị đem ra đấu tố vì mỗi cái tội bị ghép là “phong kiến”, ông thầy Ðiền đâm ra sợ hãi quá chừng. Ông tìm gặp tôi vì trước kia ông hay đến nhờ cậy bố tôi và tôi việc hàng tổng. Ông dám nói thật với tôi ý định trốn đi vì ông biết tôi cũng đang tìm đường trốn và có thể tin cậy tôi được. Có lẽ nay mai tôi phải kiếm cách gặp hai người đó để bàn tính ngày lên đường vì nghe đồn đã có ít người trốn được vào Nam rồi.

Hai giờ đêm đó, con bé cháu con cô em tôi (ở chung nhà với bố mẹ tôi) đến báo cho tôi hay bố tôi đã mổ bụng tự sát. Nó nói sau khi con cái về hết rồi, bố tôi đi lấy một con dao đi rừng thật tốt đem ra mài. Cả nhà cứ nghĩ có lẽ tết gần đến, cụ mài dao như mọi năm, để có thái thịt thái rau gì chăng nên chẳng ai để ý. Mài dao xong lại thấy cụ vào phòng nằm. Ðến hai giờ đêm, mẹ tôi nghe tiếng bố tôi rên la nhè nhẹ, liền thắp đèn lên chạy vào thì thấy máu đổ ra hàng vũng lớn trên nền nhà mà bố tôi ruột gan phơi cả ra ngoài, mắt trợn trắng, sắp chết rồi. Khi ông cụ ra dấu cho bà cụ ghé tai vào miệng để ông cụ trối thì bà cụ chỉ nghe được có năm tiếng thì thào gần đứt hơi:” Bảo thằng Tường trốn ngay !” Nói xong câu đó, cụ trút hơi thở cuối cùng. Ngay lập tức, mẹ tôi cho đứa cháu gái len lỏi đi lối tắt đến nhà tôi báo tin dữ, đồng thời bảo tôi liệu mà trốn đi ngay, chớ có thương tiếc gì nữa.

Nghe đứa cháu nói xong, tôi khóc oà lên, thương cho bố tôi quá và cũng cảm phục bố tôi quá can đảm, thà tư giết mình hơn là để bọn cán bộ giết, thà chết như thế còn hơn là sa vào tay bọn chó sói. Nhưng tôi phải bụm miệng ngay lại. Bố tôi đến lúc chết vẫn còn nghĩ dến tôi, mấy lời cuối cùng của cụ là giục tôi trốn đi. Vậy tôi phải cố gắng làm theo ước nguyện của Người để linh hồn Người được mát mẻ nơi chín suối.

Tôi bảo con cháu ra về đồng thời quay dặn vợ tôi vài câu, nhìn qua mặt mấy đứa con đang ngủ, rồi cứ thế, với một bộ quần áo độc nhất trên người và ít tièn trong túi, tôi đến nhà anh Các. Tại đây, tôi bàn kế hoạch trốn đi với anh và anh đồng ý ngay. Tuy nhiên, chúng tôi phải đợi đến đêm hôm sau mới đi được vì còn nhờ người thông báo cho thầy Ðiền. Chúng tôi muốn có bạn đồng hành vì đi toàn đường rừng rất nguy hiểm, người nọ dựa vào người kia, lúc khoẻ đã vậy lúc đau ốm, có bạn cũng đỡ nhiều. Sở dĩ bọn cán bộ không truy lùng tôi ngay vì sau khi bố tôi chết rồi, mẹ tôi không động tĩnh gì hết, cứ mặc quần áo và đắp chăn chiếu cho ông cụ y như cụ hãy còn sống. Mẹ tôi cũng cấm con cháu trong nhà không được khóc và cấm loan tin bố tôi đã chết ra ngoài. Có lẽ mẹ tôi dụng tâm giúp tôi một lần cuối cùng để cho tôi đi thoát vì nếu bọn cán bộ biết bố tôi đã chết, chúng đến nhà không thấy có mặt tôi là truy lùng tôi ngay.

Tối hăm ba ông Táo chầu trời, vào lúc vàng vàng mặt trời, bọn cán bộ kéo đến nhà bố tôi cùng với những tên tá điền phản chủ, vô ân bội nghĩa. Chúng vào trong nhà quát ầm ĩ lên:” Thằng Thiềng đâu ? Hãy ra đây cho nhân dân xử tội !” Mẹ tôi chỉ tay vào trong buồng. Bọn chúng tông cửa chạy vào nhưng tất cả đều bổ ngửa ra khi thấy bố tôi đã chết. Tự sát chết. Dĩ nhiên chúng tra khảo mẹ và các em tôi rất dữ nhưng đầu mối là bố tôi mà bố tôi đã chết rồi, chúng có làm gì chăng nữa thì cũng đến thế thôi. Một tên trong bọn sực nhớ đến tôi, liền la lên:”Còn thằng con của nó nữa, thằng Tường.” Thế là cả bọn bàn kế hoạch truy lùng tôi nhưng lúc đó tôi đã cùng hai người bạn vào sâu trong rừng rồi. Sở dĩ tôi biết được các chi tiét xẩy ra sau khi đi vì có mấy người làng sau này cũng trốn được vào Sàigòn kể lại cho nghe.
*

Cuộc hành trình xuyên sơn của chúng tôi vô cùng gian khổ. Khởi hành ngày 23 tháng chạp mà đến tháng tư năm sau chúng tôi mới tới được khu vực do quân đội Quốc gia kiểm soát tại Quảng Trị. Từ Thanh Hoá, nếu đi theo quốc lộ I, chúng toi phải đi qua Nghệ An, Hà tĩnh, Quảng bình rồi mới đến Quảng Trị. Cách Quảng Trị hơn 30 km là cầu Hiền Lương, bắc qua sông Bến Hải, ranh giới giữa hai miền Nam Bắc. Sang được bờ phía Nam sông Bến Hải đã là điều mừng lắm rồi. Nhưng chúng tôi đâu có dám đi theo quốc lộ. Con đường chúng tôi đi còn xa và nguy hiểm hơn con đường mòn dọc Trường Sơn bọn cán bộ Việt Cộng sau này dùng để tải bom đạn và người vào quấy phá mièn Nam. Có khi, mỗi ngày chúng tôi chỉ đi được hơn chục cây số, lại phải nghỉ và trốn vì sợ bọn chúng bắt gặp. Ðã có những nhóm người bị chúng bắt, chúng đem xử tử ngay, không cần phải giải về quê quán.

Một lần ba anh em chúng tôi lạc vào một bộ lạc người thiểu số, chẳng biết là Mường hay Mán, ở gần biên giới Lào - Việt. Mới đầu, bọn người này làm rất dữ, tôi tưởng phen này chắc là bị chúng giết vì ngôn ngữ bất đồng, không sao giải thích cho họ hiểu được. Nhưng sau nhờ có một ông già trong bộ lạc đứng ra nói với tên tù trưởng và đưa chúng tôi về nhà, một cái nhà sàn ngay giữa làng. Ông già và vợ con ông ta đối đãi với chúng tôi rất tử tế. Nào cho ăn, cho quần áo thay để tắm giặt, cho uống rượu cần và líu lo với chúng tôi cả ngày nhưng chúng tôi có biết họ nói gì. Ông bà già có một người con gái chừng hai mươi tuổi, xinh xắn, dễ thương. Tên cô là Mây Mali. Cô thường sắp cơm cho chúng tôi ăn, dẫn chúng tôi ra suối và kể cho chúng tôi nghe những chuyện thật dài nhưng chúng tôi hoàn toàn không hiểu, chỉ gật đầu tràn.

Chúng tôi lưu lại nhà của Mây Mali một tuần lễ cho lại sức vì cả tháng chỉ toàn ăn đồ khô và ngủ trên cành cây trong rừng. Có mấy viên thuốc cảm đưa đi uống đã hết, chúng tôi chỉ sợ bệnh sốt rét rừng giữa đường thì thật là nguy khốn. Một bữa, ông già ra hiệu bảo với chúng tôi ông sẽ kiếm cho chúng tôi mỗi người một cô vợ. Riên thầy Ðiền trẻ nhất bọn và khá đẹp trai, ông sẽ gả Mây Mali cho. Nghe hai ông bà già nói, chúng tôi cứ cười ngặt cười nghẽo. Hoàn cảnh này mà dám nghĩ đến chuyện lấy vợ lấy con sao ? Giá có tiên thực chúng tôi cũng không dám. Mạng sống đang như sợi chỉ mành treo chuông còn dám bay bướm sao ? Chúng tôi khoát tay chối từ với ông già nhưng ông không hiểu lại nghĩ chúng tôi từ chối lấy lệ. Và ông làm ngay điều ông định làm.

Tối hôm đó, ông già bảo thầy Ðiền nằm riêng ra rồi cho Mây Mali đến nằm cạnh thầy. Còn tôi và Các thì ông dẫn ở đâu đến hai cô con gái khác. Ông nói những gì với hai cô này rồi một cô lại kéo tay tôi và một cô đến kéo tay Các đưa ra cửa. Tôi và Các khựng lại không chịu đi. Hai cô này có vẻ rất ngạc nhiên, nói một tràng với ông già. Ông già lại nói với tôi và Các, và cầm tay tôi và tay Các đặt vào tay hai cô gái. Nhưng chúng tôi vẫn không chịu đi. Rốt cuộc hai cô gái Mường tiu nghỉu ra về trong khi ông già buồn bã lắm.

Cuộc “tình duyên” của tôi và Các với hai cô gái không êm đẹp chút nào, nhưng cuộc “tình duyên” của Mây Mali và thầy Ðiền cũng không hơn gì. Sau khi hai cô gái ra khỏi nhà ông bà già, Ðiền lại chổ ba chúng tôi vẫn nằm ngủ và nằm miết ở đó tới sáng. Tội nghiệp cho Mây Mali, cô bị bẽ bàng lại còn bị bố mẹ phiền trách, làm như cô không đủ tài thu hút đàn ông. Sáng hôm sau gặp chúng tôi, mặt cô cứ đỏ nhừ lên.

Dù ông bà già thiểu số tốt cách mấy, chúng tôi cũng phải lên đường. Vả lại, sau khi dàn xếp việc gả mấy cô gái cho chúng tôi không xong, ông bà già không còn mặn mà với chúng tôi như trước và có lẽ muốn chúng tôi đi sớm. Chúng tôi cũng biết điều đó và sửa soạn lại lên đường.

Ngày nhìn thấy bờ sông Bến Hải là ngày vui mừng khôn tả. Chúng tôi nhìn thấy sự sống, nhìn thấy Tự Do, nhìn thấy tương lai sáng lạn. Riêng tôi không khỏi buồn vì trón đi giữa lúc bố chết. Mẹ, vợ, con và các chị em tôi bây giờ ra sao ? Có đỡ bị hành hạ không ? Cứ nghĩ đến đó, lòng tôi thắt lại. Sau khi trình diện toà Tỉnh Trưởng Quảng Trị, chúng tôi được cấp phát giấy tờ và ít tiền làm lộ phí. Sau đó cả ba chúng tôi đều quyết định vào Sàigòn để làm lại cuộc đời mới. Tôi bị cắt đứt với gia đình không liên lạc được. Năm 1960, tại Sàigòn, tôi lại lập gia đình với người con gái một gia đình hết lòng thương tôi như con ruột. Nhà tôi sau đó có với tôi năm đứa con, ba trai, hai gái. Cháu gái lớn nhất năm nay đã 13 tuổi. Cháu đang học lớp 8 trung học.”

Cụ Tường ngưng một chút để nghỉ. Giọng cụ lạc đi khi nói đến người vợ và 5 đứa con thân yêu đang ở bên kia bờ đại dương , không biết sống chết thế nào.

Cụ đúng lên. Tôi biết ý cụ đã muốn về. Trên đường về lều, cụ bảo tôi:
“Tôi biết trước là phải chạy mà không sao thu xếp cho vợ con cùng đi được, ông Vũ ạ. Nhà tôi cũng biết tôi ở lại là chết nên khuyến khích cho tôi đi y như người vợ năm xưa ở Thanh Hoá cũng chỉ nghĩ đến cái mạng sống của tôi mà thôi. Chín đứa con thân yêu, hai lần chạy giặc Cộng, tôi không mang theo được đứa nào để an ủi khi tuổi già xế bóng. Hai người vợ sống chết với mình, cả hai lần bỏ lại. Ông nghĩ đã đau đớn chưa ? Nhưng tôi không làm sao hơn được. Tôi ghê sợ bọn chúng quá rồi, thà tôi chết còn hơn phải sống với Cộng Sản.”

Tôi cứ để cụ nói cho vơi bớt đau khổ. Tôi chỉ nghe và cảm nhận. Càng thấm thía khi chính hoàn cảnh tôi lúc đó không hơn gì hoàn cảnh cụ, cũng như hoàn cảnh xẻ đàn tan nghé của một số đông đồng bào di tản đang ở trên đảo Subic Bay này.

Ngày sang Guam, tôi với cụ Tường cùng đáp một chuyến bay và tôi với cụ lại ở cùng lều tại Orote Point. Sau đó, tôi đi đảo Wake kiếm gia đình (bị thất lạc), còn cụ đi Camp Pendleton, California và từ đó tôi không còn gặp cụ nữa.

Blog Archive