Showing posts with label Quoc han 30/04. Show all posts
Showing posts with label Quoc han 30/04. Show all posts

Friday, July 24, 2026

NỘI CHIẾN BẮC NAM TẠI TRẠI TỊ NẠN HONG KONG

1- Hương Cảng- Điểm Đến Của Người Tị Nạn:

Tất nhiên, tị nạn thì phải là do biến cố 1975, ở đây không bàn chánh trị chánh em, chỉ là nói về sự việc thôi.

Ngày 4.5.1975 một con tàu Đan Mạch của hãng Maersk (cái hãng mà lâu lâu các bạn thấy trên mấy thùng container chạy đầy ngoài đường đó) chở theo 3 473 người Việt (trong đó chủ yếu là những Hoa Kiều ở Chợ Lớn) cập bến Hương Cảng, những người này là những Hoa Kiều có tiền ở VNCH và vượt biển ngay trước khi Sài Gòn sụp đổ ngày 30/4. Chính phủ Hương Cảng coi họ là những người “nhập cư bất hợp pháp” nhưng chấp nhận cho họ “tạm trú”. Đây là đánh dấu cho sự khởi đầu của làn sóng người Việt di cư tị nạn tới Hương Cảng.

Sự việc trên thu hút sự chú ý của truyền thông quốc tế và sau đó là LHQ. Về phía Hồng Kông, vì là đợt người đầu tiên nên họ đối xử với những "thuyền nhân" này rất tốt.

Ba trại tị nạn đầu tiên được lập ra để người Việt trú tạm là trại Tây Cống - Sai Kung, Phấn Lãnh - Fan Ling và Thạch Cương - Shek Kong. Hồng Kông khi đó vẫn là đất thuộc Ăng lê nên họ rất hào hiệp.

Ngày 9 tháng 5, toàn quyền HK tới thăm cả 3 trại trên, ngày 18 tháng 5 đã có 103 người Việt chuyển đi Guam rồi từ đó sẽ sang Huê Kỳ, ngày 22 tháng 5 thêm 15 người nữa được Pháp đồng ý tiếp nhận. Không hiểu có sự ngẫu nhiên nào ở đây không, mà những người được đi đợt đầu này toàn là những người ... giàu nhất, bọn thối mồm còn đồn rằng phải bỏ cả chục "cây" cho một suất đi đầu tiên như thế...

Một tàu đã đi trót lọt thì sẽ có thêm nhiều tàu khác. Từ năm 1975 - 1979, số tàu đến Hồng Kông ngày càng tăng, số người từ đó cũng tăng dần, ngày 11 tháng 9 năm 1979 theo số liệu của nhà chức trách đã có 68.695 người Việt tị nạn đến HK (con số thực tế có lẽ còn cao hơn, vì người Việt đến nơi, vào trại tị nạn còn trốn ra ngoài cả một cơ số).

Đến đầu thập niên 90, con số người Việt tị nạn đã lên đến suýt soát 250.000. Đặc biệt là sau năm 1978, với chủ trướng đánh tư sản ở miền nam và trục xuất hoa kiều ở cả hai miền Nam Bắc, Hồng Kông càng phải đón tiếp nhiều lượt người tị nạn hơn.

Đành rằng ngoài Hồng Kông thì các nước Đông Nam Á như Philippin, Thái, Mã đều có trại tị nạn cho thuyền nhân, nhưng Hồng Kông là đất của Anh, chế độ cho người tị nạn khá tốt: Trên 21 tuổi bất kể nam nữ được phát 3 điếu thuốc/ngày, sáng có bánh mì, sữa tươi, ăn ngày 3 bữa, được phát cả cam tráng miệng, mùng mền quần áo được phát free, có tivi cho xem phim bộ HK hàng ngày...

2- Người Bắc Tị Nạn Ăn Theo Người Nam:

Từ khoảng giữa thập niên 80, ở các tỉnh ven biển phía Bắc mà nhiều nhất là ở Hải phòng, Quảng Ninh bà con bắt đầu rỉ tai nhau … vượt biên. Một phần là vì kinh tế VN khi ấy vã quá, toàn dân đều theo chế độ bao cấp, ăn không đủ ăn, mặc không đủ mặc. Trong khi anh em ngồi trại tị nạn HK thì béo tốt, trơn da đỏ lông, thế là bà con rỉ tai nhau cùng vượt biên. Ở phía bắc, người ta sẽ đi con đường ngắn nhất là ra vịnh bắc bộ, đi tiếp ra phao số 0, từ đó ra hải phận quốc tế rồi ngược lên phía bắc, đi qua eo biển Quỳnh Châu giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam rồi từ đó cập cảng HK.

3- Những Cuộc Nội Chiến Thức Hệ Trong Trại Tị Nạn:

Dĩ nhiên, những người Việt đến HK đầu tiên là người miền nam và dân Hoa Kiều, dân Hoa Kiều Chợ Lớn nói tiếng Quảng Đông như người HK bản xứ nhanh chóng hòa nhập với môi trường mới, dễ dàng kiếm được việc làm và giấy căn cước mới nên say good bye với trại tập trung rất sớm.

Chỉ còn người Việt, những người của Chế độ cũ, những người này được Cao Ủy LHQ về người tị nạn gọi lên phỏng vấn xem có phải tị nạn chính trị thật hay không và tìm một nước thứ 3 sẽ nhận họ đi định cư rồi cho đi, trong thời gian chờ thì xin mời về trại ngồi tiếp. Thế rồi người tị nạn ngày một đông, mà tánh người Việt mình lạ, ngồi chung với nhau y như rằng có chuyện.

Những xung đột đầu tiên giữa người Việt với nhau là giữa dân hai miền Nam – Bắc, mà nói thẳng ra là xung đột … ý thức hệ, dân nam bỏ xứ sẵn sàng chửi Cộng Sản thì ngược lại dân bắc tuy cũng vượt biên nhưng vẫn tôn kính lãnh tụ và bảo vệ chế độ, thế là đánh nhau to.

- Ngày 3/2/1992, trùng thời điểm giao thừa âm lịch, lúc 11 giờ tối. Trại Thạch Cương đã xảy ra cuộc đụng độ đẫm máu giữa hai phe miền Nam và miền Bắc. Nguyên nhân là sự khác biệt về ý thức hệ, hai bên đã nhục mạ lãnh tụ đất nước của nhau dẫn việc hai bên “nói chuyện” với nhau bằng giáo, mác, dao, kiếm, bom xăng… hê, mà giáo mác, kiếm đồ đâu ra? – Giáo mác là ống típ, thanh giường vát nhọn một đầu, dao kiếm là thanh sắt đập dập mài bén, phi đao là cọc nhọn cắm lều, nhiều người lấy cả nắp thùng rác làm khiên, trong khi chị em phụ nữ đập bể các nắp ống cống bằng gang để làm … lựu đạn ném sang bên kia trợ chiến cho các anh.

Cảnh sát Hương Cảng hôm đó còn ở nhà cúng giao thừa nên mãi tới sáng hôm sau mới huy động đủ lực lượng để vào bên trong trại và kiểm soát được tình hình. Từ 11 giờ tối tới 6 giờ sáng là cuộc chém giết đẫm máu giữa người Việt với người Việt. Kết quả là phe miền Bắc đã đánh bại phe miền Nam và tiến hành san thành bình địa, đốt trụi khu nhà miền Nam. Hậu quả khủng khiếp là 130 người bị thương, 24 người thiệt mạng.

Đây là xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử hình sự Hương Cảng từ trước tới nay, xã hội đen xử nhau cũng không quy mô bằng. 170 người bị xét xử trong đó có 18 người bị kết tội “giết người” và một số bị cáo vẫn còn bị giam giữ trong các nhà tù Hương Cảng cho tới nay. Trại Thạch Cương sau đó đã bị phá hủy, người tị nạn bị di dời qua các trại khác.

Friday, July 17, 2026

Sứ mạng của ân nhân

Hôm nay là ngày 14 tháng 7, tôi muốn cố gắng viết rất gọn theo ký ức của tôi về một ân nhân và sứ mạng của người đó của 45 năm trước. Tôi sẽ viết về Anh Ruẫn.

Tại Saigon tôi gặp anh lần đầu, Anh đến gặp tôi trong lúc tôi đang ở nhờ một người anh họ bên vợ gần chợ Tân Bình trong thời gian tôi chuyển viện từ Banmethuot về bệnh viện Chợ rẫy Saigon.

Tôi bị viêm thận mãn tính và biến thành thận bất túc theo kết quả của một bệnh viện lớn nhất tại thị xa Banmethuot vào hồi gần cuối năm 1979. Lúc đó tôi đã có một con gái, tôi phải hàng ngày uống thuốc lợi tiểu và theo như lời bác sỹ, tình trạng của tôi chỉ còn phương pháp chạy thận máy. Với chủ trương cố gắng tìm thày tìm thuốc, vợ tôi gom tất cả tài sản đễ lo chữa bệnh cho tôi, chúng tôi đã xin chuyển lên bệnh viện Chợ rẫy Saigon, và chúng tôi, vợ chồng và một con thơ cứ như những kẻ lang bạt Banmethuot, Saigon nhiều lần và được những người thân giúp đỡ chỗ ở. Trong dịp này tôi và Anh Ruẫn gặp nhau.

Anh tên họ đầy đủ là là Lưu Văn Ruẫn sinh năm 1948, là anh trai của vợ tôi, anh là Si quan cấp úy trong Quân Lực VNCH. Vợ anh, chị Gái là một giáo viên, anh chị có hai con gái, và có bầu đứa thứ 3 là con trai chỉ trước khi vượt biên mấy tháng. Là một Si Quan VNCH anh đã bị đi cải tạo, sau khi cải tạo về, anh như con chim bị bắn hụt, sống thu mình tại Láng Cát, tìm đường vượt biên nhưng hai lần thất bại, gia đình kháng kiệt. Lần thứ ba của anh, tôi nghĩ đó là một sứ mạng và là người ơn của tôi, của chúng tôi, và tôi được anh kêu gọi hiệp lực.

Lần đầu, anh tới thăm tôi tại nhà một người anh bà con, lúc đó tôi đang tạm trú để ra vào bệnh viện cho tiện, anh hỏi thăm bệnh tình và tình hình đời sống của tôi ở Banmethuot chúng tôi uống cà phê, rồi anh rủ tôi hôm sau là Chúa Nhật đi Lễ Nhà Thờ Chí Hòa, tôi và vợ tôi cũng rất vui vì nhân tiện qua chào ông bà thân sinh và gia đình chị Gái là vợ của Anh. Khúc rẽ cuộc đời của tôi đã bắt đầu từ câu chuyện trong lần thứ hai với Anh.

Câu chuyện ngay ở trong bếp, chỉ có Anh và tôi, rất nhanh và vào ngay vần đề. Khi đó vợ tôi và vợ anh cùng đi chợ Chí Hòa gần đó.

Anh Ruẫn nói nhỏ và vào ngay vấn đề: Chú hãy hiệp sức với tôi để lên kế hoạch, tổ chức vượt biên đưa gia đình đi, anh cũng đưa lý do là tình hình lúc này thanh niên bị đưa đi nghĩa vụ tại Kampuchia rất nhiều, nếu không đi sớm, thì các em cũng có thể bị đi Kampuchia. Thực ra, Anh đã nhiều lần từ Saigon về thăm Mẹ, có khi phải về ban đêm vì anh không có hộ khẩu ở đây, anh đã tìm cách đi chui vì không xin được phép để mua vé, anh cũng đã nói với Mẹ vợ tôi về ý định đưa cả nhà vượt biên, vì tương lai của các em, Anh không muốn thấy những đứa em của mình phải hy sinh vô nghĩa tại nơi nào đó, nhưng phía Mẹ chưa có câu trả lời rõ ràng.Anh cũng nói thêm là những anh chị đang có gia đình thì nên không cho biết, vì việc vượt biên lúc này rất nguy hiểm và bị theo dõi gắt, càng nhiều người biết càng nhiều khả năng bi lộ, và khi bị lộ thì không chỉ nguy hiểm cho một ai mà tất cả, nên chúng ta phải chọn lựa phương pháp càng kín càng tốt, cụ thể là tại Banmethuot là Mẹ, các em và gia đình chú. Và một kế hoạc như đã tính từ trước, Anh nói tiếp. Tôi sẽ lo vấn đề đóng ghe, bến, bãi, trữ và chôn dấu dầu, chuẩn bị lương khô, ngoại giao, hoạch định tiến trình vượt biên. Chú lo vấn đề vận động Mẹ (Mẹ Anh Ruẫn là Mẹ vợ tôi), các em, và tìm cách đưa người từ Banmethuot về Saigon để đợi ngày đi.

Tôi nhất thời đứng bóng vì, trong hoàn cảnh sống tại núi đồi cao nguyên, chưa bao giờ nghĩ đến vấn đề vượt biên, cả đến cái khái niệm vượt biên còn chưa có, tôi lúc đó là một con bệnh được cho là vô phương cứu chữa, chỉ còn trông mong vào một phép lạ, những người mắc bệnh như tôi cũng đã và đang lần lượt ra đi. Thú thật, trong tôi cũng chán nản và vô vọng với bệnh trạng của mình lắm rồi, mổi lần thấy vợ bồng con gái, tôi không thể cầm được nước mắt. 

Khi nghe lời đề nghị của Anh, tôi như thấy một tia hy vọng thoáng trong đầu, tôi nghĩ biết đâu khi vượt biên qua được quốc gia tự do, bệnh của tôi có thể chữa được, và nếu tôi có ra đi thì vợ con tôi cũng còn có các anh chị em đi chung đùm bọc lẫn nhau, và ở xứ tự do, có lẽ vợ con tôi chắc sẽ có cuộc sống tốt hơn như ở Việt Nam bây giờ, vì thật ra hiện tại vợ chồng tôi tại Việt Nam, các phương tiện sinh sống đã bi lấy hết, một mảnh đất làm nhà cũng không có. Tài sản của vợ chồng tôi lúc này chỉ là hai cái nhẫn cưới và lẻ tẻ vài ký cà phê mà vợ tôi tranh thủ đi mót hay bà nội, bà ngoại cho để bán chi tiền thuốc và tiền xe mỗi lần chuyển viện. Tuy nhiên, khi nói đến vượt biên thường sẽ đi kèm với bị gạt và cái chết, chết vì bị lộ bị công an bắn, chết vì giông tố bão táp, chết vì đói khát, chết vì cướp và hãm, hại....

Nhưng với quyết tâm và sự thuyết phục của Anh, tôi cũng cố nghĩ mình sẽ không bị rơi vào những hoàn cảnh trên, tôi đã hứa trở về Banmethuot để trình bày với Mẹ, các em và vợ tôi. Ngay tối hôm đó, tôi đã kể nội dung câu chuyện với vợ tôi, vợ tôi thì hầu như lúc nào cũng chiều theo quyết định của tôi, nhưng lần này thì có vẻ phân vân lắm. Một vấn đề quan trọng đi kèm là chi phi đóng ghe, anh chị Ruẫn hiện không đủ tiền để đóng ghe, nên tôi cũng mang sứ mạng vận động Mẹ vợ giúp vốn.

Tôi đã trở về BMT sớm hơn dự định với một tâm trạng khác, lần đầu tôi trình bày với Mẹ vợ, Bà chịu liền như đã có chuẩn bị, Bà cũng cho biết là anh Ruẫn cũng đã có lần nói chuyện đưa các em đi vượt biên nhưng bà chưa quyết, đến khi tôi nói thêm thì Bà ưng ngay, nhưng Bà nói: anh đưa các em lớn đi đi, để vợ con anh lại với tôi, tôi cũng không đi, vì ở đây còn gia đình hai người anh, hết bao nhiêu tôi đưa cho, nếu đi được tới nơi bình yên rồi thì bảo lãnh vợ con qua. Tôi về, trong tâm trạng hoang mang tôi nói với vợ: Y' Mẹ nói vậy, em thấy sao? vợ tôi trả lời thẳng thắn rằng: Đi thì đi hết cả vợ chồng con cái, sống chết cùng nhau. Câu nói làm tôi nghẹn ngào, hai hàng nước mặt chảy ra, tôi sẽ không bao giờ quên điều này. Lúc này vợ tôi đã có thai đứa thứ hai.

Khi em gái kế vợ tôi biết Mẹ mình không muốn đi thi cũng nói: nếu Mẹ không đi thì em cũng không đi.

Tôi lại phải nói chuyện với Bà và cuối cùng, vì các con, Bà đã đồng y' cùng đi.

Thời điểm này, bất cứ ai rời khỏi nơi cư trú đều phải có giấy chứng nhận của phường xã, nên đưa người từ Banmethuot về Saigon là một vấn đề rất nan giải. Trước hết muốn mua vé xe thì phải có giấy phép, trên các tuyến giao thông trạm kiểm soát rất nhiều, rất gắt, chúng kiểm soát gắt gao và tịch thu đồ của khách rất tùy tiện. Riêng tôi, cái nạn là căn bệnh nan y bây giờ lại trở thành cái lý do chính đáng cho tôi đưa người về Saigon, Tôi cố tình xin chuyển viện về Saigon để chữa bệnh, như vậy là tôi có giấy chuyển viện để mua vé xe, và mỗi lần như vậy tôi lại đem theo một người viện lý do là cần người đi theo chăm sóc, tôi cứ lập đi lập lại như vậy cho đến người cuối cùng là vợ con tôi, lúc này vợ tôi đã sanh đứa thứ hai là con trai, đứa con này lúc chúng tôi lên ghe vượt biên nó mới chưa tròn 8 tháng.

Thời gian chuẩn bị cũng mất khoảng năm rưỡi với nhiều gian nan nhưng cũng nhiều thuận lợi. Tôi và anh Ruẫn rất hạn chế gặp tại bến ghe, những khi đem vật dụng gi xuống tôi ra thẳng ghe, tôi nhớ ngày chuyển máy ghe từ Saigon về. Anh Ruẫn giao cho tôi công việc này và dặn là phãi ăn mặc như công nhân để tránh dòm ngó, thế mà tôi đã quên mặc áo sơ mi nên anh đã dặn là lần sau phải để ý. Chiếc máy yanma 12 đứng và hai chân vit được cất trong cùng, dưới gầm hàng ghế của một chiếc xe khách chạy than tuyến Saigon Vũng Tàu, anh Ruẫn đưa cho tôi thêm một số tiền và dặn nếu bị khám thì đưa tiền này chắc là ổn, tuy nhiên suốt quãng đường chiếc xe tôi ngồi chỉ bị chặn khám qua loa, tuy vậy tôi cũng rất hồi hộp suốt quãng đường. Vấn đề tính toán, giao lưu, đối ứng, trực tiếp ứng xử tại bản địa, tôi được biết là rất nhiêu gay go, tuy nhiên, với sự khôn ngoan, tinh tế cẩn thận cộng với kinh nghiệm, Anh Chị Ruẫn một mình âm thầm đứng mũi chịu sào.

Cả năm rưỡi, trông ngóng từng ngày và chọn ngày lành tháng tốt để xuất phát, ngày quên ăn, đêm quên ngủ thập thò ra vào bãi để kiểm tra ghe, chôn dầu, chuẩn bị đồ ăn Anh chạy gặp người này, sang đồn kia, mua bãi mua người, và nhiều lắm những nhiêu khê chỉ Anh và người vợ của anh cùng chia sẻ, bởi tính anh ít nói, ít chia sẻ, việc đóng ghe, anh cũng phải nhờ qua trung gian để tránh bị dòm ngó.

Trước giờ xuất phát khoảng 10 tiếng, anh nghỡ ngàng nhận tin người bạn si quan hải quân đã hứa cùng đi chung với nhiệm vụ tài công đã vì lý do gì đó không thể đi chung được, thế là Cửu (hiện tại đã trở thành Linh Mục tại Tgp Osaka Takamatsu)phải thay thế làm tài công, vì Cửu cũng đã tạm quen địa hình, thực ra Cửu đã xuống bãi và ở ngay trên ghe từ khi ghe hạ thủy với hình thức là ngư phủ vì trên ghe đã chuẩn bị một số lưới vừa dùng để đánh bắt cá và cũng là để ngụy trang mục đích vượt biên, việc anh Ruẫn nói Cửu ở ngoài ghe nhắm mục đich coi ghe, làm quen với ghe chỉnh sửa và theo dõi máy, làm quen dò đường ra vào, theo dõi con nước lên xuống, những biểu hiện thường xuyên và lạ từ chung quanh về cảnh vật cũng như nhân vật...đây cũng là tính toàn của anh Ruẫn.

Rồi ngày ra khơi đã tới, anh cho tôi biết là mình sẽ xuất phát lúc 3 giờ sáng ngày 3/6, để chuẩn bị đưa người từ các nơi về điểm hẹn. Hai tối trước đó tôi thấy anh gầy hẳn có lẽ vì lo lắng quá, Chị Gái vợ anh cũng lộ những lo lắng rõ ràng,

Giờ hẹn đã tới, những anh em từ Saigon và những nơi khác cũng lần lượt tới những điểm hẹn đợi ghe tới đón, một số người khỏe được nhờ chuyển dầu lên ghe, cuộc xuất phát có chút trở ngại vì tài công không thể tới như đã nói ở trên, nhưng không bỏ sót lại ai, có vài thanh niên từ trước đã định đi canh me nhưng họ chê ghe chúng tôi nhỏ nên bỏ cuộc, chiếc ghe nhỏ mở hết tốc lực ra khơi an toàn vì Cửu cũng đã quen đường và con nước, Những giây phút đầu tôi nghe anh nói to, Mọi người vào khoang, trên khoang chỉ tài công và vài người đàn ông cầm lưới đứng lên ngồi xuống nhé, không được để con nít khóc....

Chỉ một thời gian ngắn, tôi gục vì say sóng.
Anh Ruẫn cũng dần kiệt quệ vì lo lắng và lao động quá sức.
Chiếc ghe đã may mắn ra tới hải phận Quốc tế, nhưng điều không lành là máy bị hư.
Chiếc ghe phó theo chiều gió và những con sóng to nhỏ, ngày qua ngày trong vô vọng, thực phẩm cũng hết, nước uống cũng giới hạn ở mức gần như zero,.... Mẹ vợ tôi thì không rời cỗ tràng hạt, hết ngồi lại nằm, Chi Ruẫn thì hầu như nằm liệt vì vừa đói khát vừa thai nghén, những đứa trẻ trong đó có cả 2 đứa con của tôi dần rồi cũng hết sức khóc hoạc khóc không ra tiếng. Rồi người người lả đi, rồi người hết thở ra đi, từng người, từng người, người chết thì trút hơi nhẹ nhàng, thân xác thì trả về biển, người sống thì từ còn khóc được đến khô lệ, rồi chai đá, rồi dửng dưng, rồi như thản nhiên đợi đến phiên mình, người ta không còn biết đến cái hãi hùng kinh hoàng nữa......cứ mặt trời mọc rồi mặt trời lặn, giông đi gió tới, sóng nhỏ tiếp sóng to, nước vào đầy ghe thì tát, cuối ánh mắt không thấy bờ, bên mạn ghe là nước biển trên đầu là trời cao, đồ ăn không có, nước uống cũng không....

Trên ghe 34 người, đã 9 người ra đi và vào biển, đến ngày thứ 40 người thứ 10 trút hơi thở nhẹ nhàng rời cuộc hành trình, đó là Anh, là anh Ruẫn, là chủ ghe, là người chủ xướng ý niệm đưa gia đình vượt biên, vượt thoát một cõi tù đầy.

Cũng muốn nói ở đây rằng: Khi lên kế hoạch vượt biên, anh Ruẫn cũng nhiều lần nói với tôi rằng, chúng mình trước hết là trực chỉ ra hải phận Quốc tế, sau đó vừa hướng về phía Thái Lan vừa trông chờ Tàu vớt nên, thực phẩm trữ dự trù là 10 đến 15 ngày bao gồm là các loại đồ ăn sấy khô dạng thỏi hay viên, tuy nhiên rất không may vi chỉ mới ít ngày, ghe gặp bão lớn thực phẩm hầu hết đã bị nước cuốn trôi, nên chúng tôi chính thức bị đói hoàn toàn từ khoảng ngày thứ 10, có nghĩa là chúng tôi bi đói khát khoảng trên dưới 30 ngày, đây là một điều vô cùng hãi hùng! 30 ngày đói khát mà còn sống là một sự kiện cho đến bây giờ chính tôi vẫn chưa hiểu nổi!?

Khoảng buổi sáng hôm đó, em gái của vợ tôi tìm tôi thì thào: anh ơi, anh Ruẫn mệt lắm rồi anh xuống xem sao? Tôi chui vào khoang nơi anh Ruẫn nằm, anh còn nhận ra tôi nhưng sắc thái đã đổi nhiều, Chị Ruẫn nhường một chỡ cho tôi nằm xuống bên anh, dùng sức còn lại để đọc Phúc Âm bên tai anh, thỉnh thoảng cho anh uống một nắp nước, cái nắp của bình nhựa 20lit. Đêm hôm đó, tôi không nhớ là khoảng mấy giờ vì trên ghe lúc đó không còn biết thời gian, chỉ biết sáng là khi thấy mặt trời mọc và biết là tối khi mặt trời lặn.

Cái cảm giác chân của anh tự nhiên nặng hẳn đè trên chân tôi, tay trái của anh để trên bụng và trên bàn tay của tôi cũng trở nên nặng khác thường, khí tôi rút tay ra thì bàn tay anh trượt xuống sàn ghe cách tự nhiên, tôi quay sang cho anh uống nắp nước nhưng không thấy anh uống như mọi khi, đưa tay sờ vào vùng miệng tôi thấy nước tràn ướt hai bên mép. Một bất chợt, tự nhiên tôi nói vọng ra với mọi người. Anh Ruẫn chuẩn bị ra đi rồi mọi người ơi, xin mọi người đọc kinh và phó linh hồn cho anh Ruẫn. Có những xôn xao rồi tiếng kinh và tiếng phó linh hồn xen nhau giữa vùng biển mênh mông xa lạ và hãi hùng, trời xanh đậm cao vút với nhiều vì sao lonh lanh, biển hôm đó không sóng to, cũng không giông tố, dù sự ra đi của anh Ruẫn là người thứ 10 giữa lúc mọi người trong tình trạng kiệt quệ về cả tinh thần và thể chất, cùng tâm trạng là chờ cái chết đến phiên mình như một đương nhiên, cũng làm nhói trong mọi người một nỗi đau rất thấm thía, Mẹ vợ tôi hai mắt ướt và đỏ như bị đau mắt, khuôn mặt suy sụp thấy rõ nhưng tay vẫn lần chuỗi không ngừng, chị Ruẫn thì dường như nằm gục luôn, cho đến ngày được vớt, chị phải nằm cáng.

Tôi luôn nhớ câu anh nói lúc tôi vào nằm bên anh rằng:
“Sau khi tôi chết, mọi người sẽ được cứu, và con Trúc sẽ không chết đâu”

Trúc là con gái của tôi lúc đó được 3 tuổi, anh Ruẫn biết tình trạng của con gái tôi lúc đó đã gần như hết thở vì đói khát, tôi phải áp tai vào sát miệng, sát ngực con gái để xác nhận con mình con thở, cả những tiếng khóc của con tôi cũng không thoát ra khỏi miệng được.

Ở đây, tôi không phải viết về một cuộc vượt biên với những gian truân và hãi hùng. Tôi chỉ viết về những sư kiện liên quan để nói về một Người Ơn, nhân ngày giỗ thứ 45 của anh, đó là anh Ruẫn

Anh ra đi đêm 12/7/1981, cùng ngày trước khi trời nắng gắt, mọi người tiễn anh với nghi thức thủy táng, Chị Ruẫn và hai con ngồi ôm mạn ghe, Mẹ vợ tôi, các em và những người khác cùng dõi theo bóng anh xa dần theo từng con sóng nhỏ, xa dần, xa dần....

Ngày hôm sau, 13/7/1981 chúng tôi đã được tàu Hy Lạp vớt sau 41 ngày trên chiếc ghe nhỏ, và chúng tôi đã tới Nhật Bản sau một tuần lễ. Trong 34 người trên ghe thì 10 người đã ra đi vì đói khát, trong đó người cuối cùng là Chủ ghe: anh Lưu Văn Ruẫn.

Anh đã chủ trương cuộc vượt biên mà tôi, chúng tôi đã được tham dự, là Người Ơn.

Khi mọi người được an toàn thì anh xuôi tay ra đi như đã tròn Sứ Mạng

Nhân ngày giỗ thứ 45, Xin tri ân Anh và cầu xin Chúa thương đưa Linh hồn anh là Dominico Lưu Văn Ruẫn về hưởng Nhan Thánh Ngài trên Thiên Đàng và ban cho những người thân của anh luôn Bình An.

Ng V Tue

Tuesday, July 14, 2026

Cuộc Vượt Ngục Trại Tù A30

Thật ra lúc đầu tôi chưa định vượt ngục, tôi đang suy tính kế hoạch thủ tiêu một tên ăng-ten thứ dữ để răn đe những tên phản bội, đâm sau lưng chiến sĩ, và để củng cố tinh thần của một số tù binh đang bị dao động bởi đủ mọi hình thức đe dọa, ám ảnh họ từng ngày, từng đêm. Nhưng cuộc đào thoát của bảy tù binh có tổ chức, cướp súng bộ đội để đi trốn đã bị thất bại nặng nề, làm sự theo dõi của trại càng chặt chẽ hơn. Cướp được súng nhưng không cướp được đạn, bảy người đã bỏ chạy tán loạn, thất lạc nhau, cuối cùng năm người bị bắt lại. Chỉ hai người trước kia là biệt kích nên thoát được. Ra tòa, một người bị tử hình, hai người chung thân khổ sai, hai người 15 năm cấm cố.

Tình hình chưa lắng dịu đã có toán năm người khác đào tẩu. Rút kinh nghiệm, họ chọn thêm người biết nói tiếng Miên, Lào để xuyên rừng vượt biên giới. Nhiều tin đồn miệng họ đã đến Thái Lan sau hai tháng nhưng thực tế toán năm người đã đi lạc vào rừng hoang, vừa vắng bóng người, vừa thiếu thực phẩm thiên nhiên và nước uống để mưu sinh. Gian khổ, đói khát, sốt rét đã đồng lõa với Việt Cộng tấn công những con người khao khát tự do. Một buổi sáng thức giấc, một người đã nằm chết từ lúc nào trên võng; buổi sáng kế tiếp, một người khác vừa trút hơi thở cuối cùng. Ba người còn lại thay đổi ý định, rời rừng núi đi về hướng buôn làng. Họ kiệt sức nằm bất tỉnh trên đường mòn heo hút. May được một người Thượng đi rừng gặp, cứu sống và đưa họ về buôn, du kích buôn giao trả trại tù. Họ may mắn không bị các tên trật tự, cán bộ phụ trách nhà cùm thẳng tay trừng trị, tra khảo như toán trước, bởi vì tình trạng suy kiệt sắp chết. Đặc biệt Nguyễn Bảy, Đại úy Phi công PĐ548, bị sưng gan nặng vì sốt rét kinh niên, bụng càng ngày càng phình trướng trong khi thân thể càng ngày càng teo tóp. Biết Nguyễn Bảy sắp chết, trại thả khỏi nhà cùm để tránh tai tiếng. Không ngờ gặp hên, tôi bắt được một ổ cóc vàng gần 50 con khi dọn chuồng heo. Cóc vàng và số thuốc gia đình đem đến đã kịp thời cứu sống Nguyễn Bảy.

Vì những biến cố trốn trại trầm trọng, trại được lệnh tăng cường kiểm soát và thẳng tay trấn áp những thành phần ngoan cố và Đội 3 là đối tượng chính. Nhà tù Cộng sản, nói chung, là nơi đày đọa con người tàn nhẫn nhất. Nhưng nói một cách công bằng, không phải nhà tù nào cũng tàn bạo và độc ác giống nhau. Chính sách nhà tù thay đổi theo từng địa phương, tùy theo tâm tính của từng tên trại trưởng, và đặc biệt, tùy theo từng tên cán bộ quản giáo và quản chế. Thay đổi một tên trại trưởng là hình thức sinh hoạt của trại đã có chiều hướng khác. Một tên trại trưởng có chút lòng nhân từ, dễ dãi, chế độ ăn uống và làm việc của tù binh tương đối được nới rộng. Gặp tên trại trưởng tàn ác, đầy hận thù, tù binh sẽ bị đặt trong tình trạng kinh hoàng đe dọa thường xuyên. Nhưng ngay chính trong cùng một trại tù, mỗi đội, mỗi nhà, cũng có hình thái sinh hoạt không đồng đều. Nói cho cùng, số phận của tù binh chịu ảnh hưởng trực tiếp của tên cán bộ quản giáo của mình. Có những tên quản giáo chịu chơi, làm lơ cho tù trong đội mình được “cải thiện” dễ dãi, không gay gắt với công việc lao động hằng ngày. Nhưng trái lại, tên quản giáo của đội khác lại khắc nghiệt, dữ dằn, lúc nào cũng rình rập từng hành động của tù binh để kiểm điểm và trừng phạt.

Ngoài ảnh hưởng của quản giáo, tù binh còn buồn vui từng ngày tùy theo từng tên quản chế, đó là hai tên gác được biệt phái theo đội và luân phiên thay đổi từ đội này qua đội khác. Gặp quản giáo dễ, tên quản chế dữ dằn cũng phải nương tay nhưng quản giáo dữ lại gặp thêm quản chế dữ, ngày lao động trở thành một ngày kinh hoàng khủng khiếp. Ngoài ra nhà trưởng, thư ký, tổ trưởng, những người có nơi do tù chọn trong đội của mình bầu ra, hay do trại chỉ định, cũng ảnh hưởng đến số phận của người tù. Những tên nhà trưởng, tổ trưởng thiếu lương tâm, thường báo cáo để lấy điểm với trại, cũng trực tiếp tạo thêm khó khăn, đau khổ cho bạn tù của mình.

Đội 3 là đội đặc biệt, tập hợp những tay bất trị của các đội khác để dễ dàng kiểm soát. Cậu Lăng, Trung úy Phi công, được chọn làm vật thí nghiệm đầu tiên. Với thân hình gân guốc, vạm vỡ (nhờ trước làm nhà bếp ăn uống đầy đủ và có thì giờ rảnh để tập thể dục), vừa được chuyển đội, là một trong vài người hiếm hoi còn giữ được bắp thịt. Sau một hồi “tẩm quất” của sáu tên vệ binh với báng súng và đòn cây, cậu Lăng được dìu ra, lê bước khập khễnh nặng nhọc. Uống nước tiểu là món thần dược trị bệnh duy nhất để giải máu bầm của các trận tra khảo trong tù.

Rồi Nhánh, một thanh niên trẻ bạo miệng trong các lời phát ngôn chống đối, và cũng bạo tay trong mục “cải thiện” mưu sinh. Sau một trận đòn, Nhánh nằm liệt giường mấy ngày, nói không ra tiếng. Rồi Cường, sĩ quan biệt kích trẻ, với ý đồ tổ chức phản loạn trong trại. Một trận đòn hội đồng đã làm con người vốn vui nhộn, hay đùa giỡn trở thành trầm lặng câm nín.

Và tiếp tục tới Điềm, và…
Cứ mỗi lần đánh xong một người, trên đường về bọn vệ binh lại vồ vập hỏi nhau:
— Đánh đến đứa nào rồi? Tới phiên tên giặc lái Lý Tống chưa?

Bạn bè ai cũng lo lắng cho tôi. Tôi biết đã đến thời điểm chúng phải hạ bệ mình. Chúng đang chơi đòn thần kinh căng thẳng, sẽ đánh tôi để hạ nhục, để bắt tôi khuất phục, cương quyết hạ thành lũy cuối cùng. Tôi là cái gai gãy nằm trong da thịt chúng; khi da thịt còn lành lặn, chúng chưa dám mạnh tay nhổ ra, sợ đau da thịt. Bây giờ vết thương mưng mủ đã chín, chúng có thể nhịn đau, dùng tay nặn gai ra. Cá tính của mỗi người Cộng sản đều có thể dị biệt, mỗi thành phần Cộng sản đều có thể khác nhau, tuy nhiên cái chính sách chung chẳng bao giờ thay đổi. Đối với Cộng sản, “thối lui một bước chỉ để chuẩn bị tiến tới hai bước, đình chiến là cơ hội tiến công mà tránh được giao tranh, và các hiệp định là hình thức hợp thức hóa những tình trạng, những hoạt động bất hợp pháp.”

Đám áo xanh quân đội còn ảnh hưởng chút tinh thần mã thượng của người lính, đám áo vàng công an sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để đạt mục đích. Đã từ lâu chúng chưa dứt khoát, còn ngại vì tôi “nổi tiếng”, mọi người đều biết và yêu mến. Chúng định dùng tù ngục, gông cùm, tra tấn, đói khát và thời gian bỏ tù vô hạn định để làm tôi mòn mỏi, kiệt lực. Chúng muốn tôi đầu hàng, khuất phục, chỉ cần tôi quỳ một lần để phá vỡ huyền thoại, để hạ bệ thần tượng, để tiêu diệt niềm tin, niềm hãnh diện của tù binh. Thay vì ngang nhiên mạng đổi mạng để giữ danh dự, tôi quyết định vượt ngục như lời tôi đã tuyên bố khi tên cán bộ cộng sản bảo tôi:— Anh đừng hy vọng được thả về, bởi vì anh được xếp vào hạng cực kỳ ngoan cố, cực kỳ phản động.

Tôi trả lời:— Các người có quyền bắt tôi, có quyền bỏ tù tôi. Nhưng ngày nào ra khỏi nhà tù là quyền của tôi.

Tôi chuẩn bị vượt ngục với một ý đồ táo bạo: đột nhập phi trường địch đánh cướp máy bay, thả bom gây bạo động và nổi dậy. Tôi chấp nhận hy sinh, bởi vì nếu một con én không tạo được mùa xuân, thì ít nhất cũng báo hiệu hay gợi được cảm giác mùa xuân.

Trường hợp may mắn không bị bắn rơi, tôi sẽ bay ra biển. Tôi đã nghiên cứu cờ của các nước Cộng sản. Nếu tìm được tàu của các nước tự do, tôi sẽ nhảy dù, nếu phi cơ có sẵn dù. Nếu không có dù, tôi sẽ đưa phi cơ vào vị thế triệt nâng stall, tức tốc độ tối thiểu phi cơ có thể đạt được trước khi rơi, để nhảy ra không cần dù. Nhưng liệu cơ thể tôi có chịu đựng nổi lực va chạm khi tôi nhảy ở tốc độ 90 dặm một giờ (đối với phi cơ A37), ở cao độ khoảng 100 feet? Tốt nhất là đáp bụng phi cơ xuống mặt biển, và tìm cách thoát ra phi cơ kịp thời, trước lúc bị lực xoáy hút của nước khi phi cơ chìm, nhận tôi chết ngộp, hoặc sức nóng của nước sôi bởi đầu máy của phi cơ đang ở nhiệt độ cao sau một thời gian bay. Còn phải tính toán hướng chạy của tàu, tốc độ, khoảng cách, để khi tôi vừa ngoi lên khỏi mặt nước, thủy thủ đoàn kịp thời đến nơi cứu mình.

Theo dự tính, tôi sẽ đột nhập phi trường lúc xẩm tối, bò lại gần chỗ phi cơ thử máy lần chót để chuẩn bị cất cánh. Không biết đám cỏ ở phi trường có đủ cao để tôi ẩn nấp mà không bị những tên ngồi trên đài kiểm soát (control tower) phát giác không, vì thông thường như thời trước, cỏ cạnh phi đạo thường xuyên được cắt ngắn. Nếu phi vụ chỉ có một phi cơ, tương đối dễ dàng đánh cướp; nếu hai hoặc ba phi cơ cùng đội, tôi sẽ tấn công cách nào?

Chắc chắn cần có vũ khí để làm áp lực đe dọa phi công địch. Trong thời gian nằm nhà tính toán, đứa cháu trai một hôm đi bắt cá bất ngờ vớt được một khẩu súng Colt .45. Khẩu súng nằm dưới nước khá lâu nên bị sét và cò lửa bị hư, khi bóp cò, lò xo yếu không đủ sức đập cho ngòi nổ của đạn phát nổ mà chỉ tạo nên một vết lõm nhẹ trên đít đạn mà thôi. Tôi ráng chùi rửa, sửa chữa nhưng vẫn không kết quả. Mang một khẩu súng thật, cồng kềnh nặng nề mà không bắn được, cũng chỉ phiền phức. Có lẽ tôi sẽ mua một khẩu súng nhựa của trẻ con chơi, lựa khẩu nào thật nhỏ, nhẹ, và có hình thức giống súng thật. Trong lúc bất ngờ và nguy hiểm, có lẽ phi công địch không đủ bình tĩnh để nhận ra, tôi sẽ uy hiếp địch để cướp máy bay, cất cánh và dội bom nếu có sẵn sàng bom đạn. Nếu ý định này không thể thực hiện được vì hoàn cảnh, tôi sẽ bò vào bãi đậu phi cơ lúc nửa đêm, chọn phi cơ rồi mở máy vào lúc kiểng đánh thức, lợi dụng tiếng kiểng ồn ào che lấp tiếng động cơ nổ và vừa đủ sáng để bay ngoại quan (VFR, Visual Flight Rules).

Và việc cần thiết nhất là gặp Đại úy Nguyễn Bảy, Trưởng phòng Huấn luyện ôn tập lại các động tác mở máy, chỉ số kính ngắm của từng loại bom theo cao độ, góc độ, tốc độ. Nguyễn Bảy nghe hỏi sinh nghi bèn càm ràm:— Trời ơi! Ông lại định làm chuyện động trời gì nữa đây?

Nhà tù A30 gồm có hai trại chính: Trại A và Trại B, cách nhau hơn một cây số, ngoài ra còn có những bộ phận làm việc và ở ngoài hàng rào của trại như bộ phận mộc, bộ phận xe be, bộ phận đan, nhà tù nữ và các nhà chòi canh gác các khu sản xuất.

Trại B quy mô hơn, tường bằng bê tông và cửa sổ song sắt, Trại A tường xây bằng đất sét, bên trong lót mầm trĩ kiên cố và cửa sổ gỗ. Cả hai đều lợp ngói, chung quanh Trại tù A được rào hai lớp kẽm gai, và ở giữa trồng xương rồng để tăng cường cho kẽm gai. Khu A được bố trí theo hình vẽ trang bên.

Riêng kế hoạch vượt ngục, Quý đã chỉ giúp đường đi nước bước ở Tuy Hòa và bồi dưỡng cho tôi ăn uống trong các ngày cuối để lấy sức dự trữ. Quý đòi đi theo nhưng tôi từ chối vì Quý thiếu kinh nghiệm trong các mission impossible. Nhà vách bằng đất nhưng mầm trĩ rất kiên cố, chắc chắn, cửa sổ bằng thanh gỗ lớn, dày, chỉ có thể dùng cưa để cắt nhưng không có cưa, hoặc không thể cưa vì sẽ bị lộ tẩy. Tôi dùng đinh lớn, lợi dụng những lúc ồn ào nhất, đóng theo kẽ nứt của các đinh nẹp, để ban đêm nạy và rút ra.

Tôi chuẩn bị kế hoạch chi tiết tỉ mỉ. Từ thời điểm: ngày chủ nhật nghỉ, điểm danh muộn, đến các sinh hoạt nhỏ hằng ngày: đổi phiên trực cơm và đặc biệt tập thói quen mỗi chủ nhật đều cho Lê Ngoạn phần cơm với lý do đi ăn cơm khách (nhưng nhiều lúc phải nhịn đói) để bạn tù không lưu ý sự vắng mặt của mình vào ngày chủ nhật.

Đúng giờ N+1 tôi không rút thanh gỗ ra được vì một trục trặc kỹ thuật nhỏ. “Quý bầm” giả vờ mớ để thúc giục tôi “nhanh lên, nhanh lên” (Quý nằm xa tôi và có tật hay mớ). Cái trục trặc kỹ thuật đó là một miếng dăm gỗ do đinh bị đóng lệch nên thay vì tét rộng kẽ nứt để rút ra lại ép nhỏ cái kẽ nứt, kẹp thanh gỗ cửa sổ cứng ngắt. Hơn nữa lại bất ngờ trùng ngày có số tù binh sắp được phóng thích ngủ riêng bên ngoài. Buổi tối họ mang đèn đóm đi lại nhộn nhịp ở khu nhà cầu gần hàng rào tôi định chui qua.

Tôi đành hoãn lại kế hoạch. Bất ngờ có lệnh đổi chỗ nằm. Đổi chỗ nằm tù nhân thường xuyên là một biện pháp an ninh của nhà tù Cộng sản. Chỗ nằm mới không có cửa sổ, tôi đành phải phá cửa sổ phòng để dụng cụ nấu ăn cùng gian với phòng vệ sinh. Tôi ít khi bị bệnh nghỉ việc, nên khi giả bệnh yêu cầu ở nhà làm việc nhẹ vài hôm, Nhà trưởng nể nang phải chấp thuận. Tù binh trực Nhà hết chùi nhà cầu, lại rửa xoong nồi gần kề cửa sổ. Đợi khi anh ta đi gánh nước, tôi đi vòng ra sau hè, nghiên cứu từng thanh gỗ.

Cửa sổ phòng cầu đặc biệt được đóng hai đinh nẹp (B) thay vì một đinh như phòng ngủ (A). Chỉ có duy nhất thanh gỗ (C), phần dưới đóng một đinh, tôi phải đóng đinh lớn vào ba điểm 1, 2, 3 theo kẽ nứt sẵn để nới rộng khe hở. Sau đó chờ đêm, sẽ dùng đinh nạy khe 3 rộng ra kéo thanh gỗ xuống theo hướng mũi tên để lấy ra rồi thay thanh gỗ giả thế vào. Tên trật tự đi đại tiện nhà cầu bên ngoài vừa xong đứng dậy, cũng may y không lưu ý theo dõi.

— Làm gì thế Lý Tống? Y hỏi lấy lệ.

— Đóng đinh treo áo mưa. Tôi cười xuề xòa.

Tôi chuẩn bị một thanh gỗ giả y hệt cắt ngắn bớt lấy từ một ngôi nhà vừa bị phá bỏ. Điều trở ngại nhất là nhu cầu bài tiết của 150 người trong phòng. Phòng chứa đồ và phòng nhà cầu có chung một cửa ra vào, người ra người vào tấp nập. Công việc cứ bị gián đoạn từng chập. Có lần người đi tiểu vừa ra xong, tôi vội vã bắt tay tiếp tục, một lát sau lại có một người nữa từ trong nhà cầu lù lù đi ra làm tôi hết hồn tưởng đã bị lộ. Thì ra khi đi vào, người đi cầu đi nhờ ánh sáng hộp quẹt của một người đi tiểu, bởi vì phòng ban đêm rất tối, mỗi người thường di chuyển nhờ một hộp quẹt riêng bật sáng trên tay. Cái thanh gỗ, nếu dùng một cái đòn bẩy bẻ thật mạnh cũng có thể gãy, lại phải tốn đến ba đêm mất ngủ, cẩn thận xeo, nạy, kéo từng chút mới rút ra được. Bởi chỉ cần một tiếng động mạnh, hoặc một tù binh khác trông thấy được, chưa kể toán tuần tiễu bên ngoài phát hiện, kế hoạch sẽ bị bại lộ và phòng kỷ luật sẽ mở cửa chờ tôi.

Vượt ngục nhà tù Cộng sản khó hơn vượt ngục nhà tù các nước tự do. Ở nhà tù tự do, trong mỗi người bạn tù còn tàng ẩn một kẻ đồng lõa, một bạn đồng minh, họ cùng liên kết, góp tay để cùng nhau vượt ngục. Tại các nhà tù Cộng sản, trong mỗi người bạn tù còn rình rập một kẻ thù, một tên phản bội, một tên chỉ điểm, nên người tù cùng phòng còn đáng ngại hơn cả những tên gác tù. Họ có thể báo cáo, tố giác để lấy lòng tin, để tìm một ân huệ nào đó có lợi cho họ.

“Nhà tù Cộng sản là cái máy sàng lọc tinh vi nhất. Những thứ cặn bã, hư hỏng, mục nát lần lượt tranh nhau luồn lọt rơi xuống đáy sâu nhục nhã đê tiện. Chỉ còn lại những viên kim cương quý, rắn rỏi, lóng lánh sáng ngời trên bề mặt.”

Khuya ngày 11 rạng sáng 12 tháng 7 năm 1980, chờ lúc tù binh ngủ say, tôi cởi áo quần, gỡ thanh cửa sổ giả chun ra ngoài, bình tĩnh ngồi lại gắn vào như cũ, rồi bò chậm rãi về phía hàng rào kẽm gai. Với cái kềm nhỏ xíu, tôi bẻ kẽm gai chui lọt vào giữa hai hàng rào kẽm. Đang sửa sang hàng rào lại như cũ, bỗng ánh đèn pin lóe sáng. Một tên tuần tiễu bỗng xuất hiện. Tôi lập tức nằm đè người trên bụi xương rồng thấp lẩn tránh ánh đèn quét qua lại trên đầu, trên thân mình.

Gai xương rồng nhọn đâm xuyên suốt lớp da thịt trần truồng đau buốt. Y cẩn thận kiểm soát dãy nhà cầu, các góc tối, kín chung quanh rồi bỏ đi. Tôi bẻ loạt hàng rào kẽm gai thứ nhì, kẽm gai cũ, sét, nhưng cây kìm quá nhỏ làm tay tôi ê ẩm. Sau khi chun được ra ngoài, tôi ngồi nán lại gài lại kẽm gai gãy như cũ, tránh không để lại một dấu vết lạ. Nếu biết hướng tôi trốn, họ sẽ chận bắt dễ dàng.

Trời ban đêm dày đặc sương mù, những trạm gác cao thường ngày nổi bật giữa trời, nay chìm khuất trong làn sữa trắng đục. Tôi tiếp tục ở truồng bơi qua suối. Vừa leo lên bờ lại gặp một ánh đèn pin khác. Tôi men theo bờ suối và băng ngang qua ngã ba suối lớn, cây gãy mục, bùn cỏ... làm vướng víu bước chân. Nước suối ban đêm lạnh tê buốt thân thể.

Bỗng có ánh đèn bão lập lòe của một tên bộ đội khác đang đi soi cá. Tôi quành phía phải, băng qua nhiều cánh đồng mía, sắn bạt ngàn. Đỉnh núi làm chuẩn mờ nhạt từ xa, đến gần đã biến thể. Trời không trăng sao. Tôi nhìn lên dãy Ngân Hà lờ mờ trên trời để định hướng, nhiều đoạn đường phải đi vòng tránh trạm gác, có lúc phải bò qua dưới chân các chòi canh. Trời mù tối chỉ thấy ánh đèn mà không thấy được người cầm đèn đi kiểm soát. Quá nửa đêm, chó của toán du kích đánh hơi được tôi buộc tôi phải chạy thoát thân. Đường tối, nhiều bờ bụi, tôi té chui té nhủi, phần túi xách đựng đồ vướng víu nhiều lúc muốn vuột khỏi vai. May là chó và toán du kích lười biếng chỉ rượt theo một đoạn.

Tờ mờ sáng, tôi băng qua khỏi dãy núi với địa hình rối rắm mà có lúc lạc lối, không còn điểm chuẩn nào để dẫn đường ngoài lời cầu nguyện và niềm tin ở Thượng Đế. Tôi ra tỉnh lộ sau khi kiểm soát áo quần, mặt mũi tươm tất, hòa lẫn vào đám dân quê dậy sớm ra đồng. Vừa leo lên xe Lam chở khách trờ tới, tôi chợt thấy chiếc xe Honda chở nữ cán bộ phụ trách quân bưu chạy tới. Nếu tôi ra đường sớm hoặc xe trễ vài phút, chắc họ nhận diện được cái bản mặt quá quen thuộc của tôi. Ngã ba Phú Lâm với trạm kiểm soát lớn nghiêm ngặt chỉ là điều bịa đặt. Ngày chủ nhật, công an Việt Cộng tại Tuy Hòa nghỉ việc, không có một bóng áo vàng lai vãng ở các ngã tư.

Tôi đi vào phố chính, kẻ tôi ngại nhất không phải là công an, mà chính là những tù binh của Trại A30, hoặc đã được thả về, hoặc đang đi phép. Tên cán bộ Thu đã không thường lặp đi lặp lại: “Tuy Hòa là cái nôi của cách mạng” đó sao? Với sự kích động về địa phương tính, cùng sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền sở tại, Việt Cộng đã quy tụ được một số tù nhân tận tụy phục vụ cho họ, dù đó chỉ là hành động “nín thở qua sông.” Tôi ghé vào một nhà quen biết, người bạn vừa mừng vừa sợ, giúp tôi một số quần áo, tiền bạc và dặn dò:— Lỡ có ai hỏi thì cứ bảo đi phép.

Tôi có tạm đủ tiền nhờ bán cuốn từ điển, bán mấy bộ áo quần tù sọc đỏ rất hiếm chỉ được phát trong thời gian mấy năm đầu và giờ đây một số người vượt biên lại muốn mua vì họ cho rằng, bộ đồ đặc biệt này có thể giúp họ mạo nhận tù binh khi đến được các trại tị nạn. Xe cộ khan hiếm, tôi phải đổi từng chặng xe Lam, cuối cùng một xe đò chịu dừng lại đón.

Tôi lưu ý những dấu hiệu chớp đèn của các xe chạy ngược chiều. Lơ xe đò cho tôi biết “Trạm Đại Lãnh đang bị kiểm soát.” Chạy xe cho nhà nước lương bổng ít nên một số tài xế phải chở thêm khách lậu ngoài tiêu chuẩn, họ phải cho khách xuống trước trạm và đón khách đi tiếp bên kia trạm.— Tôi quên đem theo giấy, chắc phải xuống. — Tôi nói nhỏ với lơ xe.

Anh ta nhìn tôi, rồi kề sát tai bảo:— Anh vượt ngục Trại A30 ra phải không?

Tôi ngớ người trước câu hỏi bạo bất ngờ.— Anh rất bình tĩnh, rất khéo léo. Nhưng những người ở tù lâu ngày vẫn có cái dáng dấp đặc biệt, tôi biết. — Anh ta rỉ tai nói tiếp: — Tôi đã từng chở giúp tù vượt ngục một vài lần trước đây. Anh đừng ngại.

Ôi! Những người đồng bào của tôi ơi, các anh, các chị vẫn biết tội đồng lõa, giúp đỡ tù vượt ngục là một trọng tội, thế mà vẫn liều lĩnh dù chẳng nhận được một chút lợi lộc nào. Các anh chị đã mang lại niềm hy vọng cho tôi, đồng bào vẫn thương chúng tôi, vẫn còn kỳ vọng ở chúng tôi, những chiến sĩ sa cơ thất thế trong bàn tay Cộng sản. Vậy chúng tôi vẫn còn có trọng trách đánh đuổi kẻ thù vì hạnh phúc và tự do của đồng bào.

Trích Hồi Ký Ó ĐEN của Lý Tống 1989 - Lê Tùng Châu thực hiện PDF Book 2019

Tuesday, June 2, 2026

Khi Đàn Bò Vào Thành Phố


Tháng Tư năm đó, trời Sài Gòn không nắng gắt như mọi năm. Không hiểu sao, nắng nhạt như vừa bị ai rút mất linh hồn. Những con đường quen bỗng trở nên xa lạ, như thể thành phố đã linh cảm được điều gì đó đang đến.

Người ta bắt đầu nói nhỏ với nhau. Không còn những câu chuyện ồn ào ở quán cà phê, không còn tiếng cười tự nhiên. Mọi thứ như bị bóp nghẹt bởi một nỗi chờ đợi nặng nề.

Rồi buổi sáng ấy cũng đến. Không có khải hoàn ca. Không có ánh hào quang như những lời tuyên truyền sau này. Chỉ có tiếng xích sắt nghiến trên đường, tiếng giày dép lẫn lộn, và những đoàn người lạ tràn vào thành phố. Họ ngơ ngác, lấm lem với ánh mắt vừa tò mò vừa chiếm hữu.

Người Sài Gòn đứng nép bên lề. Họ nhìn; và họ hiểu.

“Đàn bò vào thành phố!” Có ai đó buột miệng nói nhỏ, rồi im bặt. Không phải để miệt thị, mà là một cách diễn tả sự ngỡ ngàng trước một thế giới va chạm: Một bên là đời sống đô thị từng quen với tự do; Một bên là những con người bước ra từ chiến tranh, mang theo cả một hệ thống niềm tin khác biệt.

Những ngày sau đó, thành phố thay đổi nhanh hơn người ta kịp nhớ. Những bảng hiệu bị tháo xuống. Những cửa tiệm đóng cửa. Những gia đình lặng lẽ biến mất sau một đêm… Người đi “học tập," người tìm đường vượt biển. Tiếng nhạc cũ không còn vang lên. Thay vào đó là loa phường, là những bài ca mới, là những khẩu hiệu cũ kỹ nhưng lặp lại nghe đến mòn tai.

Ba tôi vẫn ngồi trước hiên nhà mỗi chiều, nhìn con đường từng tấp nập giờ thưa dần. Ông không nói nhiều, chỉ hút thuốc. Mỗi điếu thuốc tàn đi, như một phần ký ức bị đốt cháy. Má tôi thì lặng lẽ hơn. Bà gói ghém mọi thứ như thể chuẩn bị cho một chuyến đi mà không biết bao giờ trở lại.

Những bữa cơm trở nên đạm bạc, nhưng nỗi lo thì đầy lên. Tôi còn nhỏ, chưa hiểu hết. Chỉ nhớ rõ một điều: Người lớn không còn cười như trước. Một buổi tối, điện cúp. Cả nhà ngồi trong bóng tối. Ngoài kia, thành phố cũng chìm trong im lặng lạ lùng. Ba nói khẽ, như nói với chính mình:

– Có những ngày, một dân tộc mất nhiều hơn một thành phố.

Không ai trả lời. Nhiều năm sau, khi đã rời xa nơi ấy, tôi vẫn nhớ về tháng Tư như một vết cắt không lành.

Không chỉ là mất mát vật chất, mà là sự đứt gãy của một đời sống, một niềm tin, một cách làm người. Người ta có thể gọi đó là “giải phóng." Nhưng trong ký ức của nhiều người, đó là ngày bắt đầu của những cuộc chia ly.

Mỗi khi tháng Tư trở lại, tôi vẫn thấy đâu đó trong lòng mình một thành phố cũ, một buổi sáng im lặng, và hình ảnh “Đàn bò vào thành phố” không phải bằng chân, mà bằng định mệnh.

Sau đêm mất điện ấy, thành phố như bước sang một đời khác. Sáng hôm sau, người ta xếp hang Xếp hàng mua gạo. Xếp hàng mua nhu yếu phẩm. Xếp hang để được sống một cách hợp lệ... Những con người từng quen với lựa chọn, bỗng phải học lại cách chờ đợi. Không ai dạy, nhưng ai cũng hiểu: Từ nay, mọi thứ đều phải xin.

Ba tôi không còn ngồi trước hiên nữa. Một ngày, người ta đến gọi tên ông. Không ồn ào, không giải thích dài dòng. Chỉ là một tờ giấy, vài câu nói ngắn gọn: “Đi học tập.” Má tôi đứng chết lặng. Tôi không hiểu “học tập” là gì, chỉ thấy cái cách ba xếp lại chiếc áo “sơ mi” cũ, chậm rãi như thể ông biết chuyến đi này sẽ rất dài.

Trước khi đi, ông nhìn tôi, đặt tay lên đầu:

– Ở nhà nghe lời má nghen con.

Câu nói giản dị nhưng ánh mắt ông lúc đó… như gửi lại cả một đời. Ba đi, rồi không có tin tức, kể từ đó ba không trở về nữa…

Thành phố tiếp tục đổi thay. Những căn nhà bị “quản lý.” Những người lạ dọn vào, nói cười lớn tiếng, dùng những vật dụng mà chủ cũ từng nâng niu. Có những đêm, tôi thấy má tôi ngồi lặng trước bàn thờ, không khóc, nhưng đôi vai rung nhẹ.

Người ta bắt đầu rời đi. Ban đầu là vài người. Sau đó là nhiều người. Tin đồn về những chuyến vượt biển lan đi như gió. Nguy hiểm, ai cũng biết. Nhưng ở lại - dường như cũng là một kiểu nguy hiểm khác, âm thầm hơn. Một tối, má gọi tôi lại:

– Con có sợ không?

Tôi không trả lời; Chỉ nắm chặt tay bà.

Vài tuần sau, chúng tôi lên đường. Không hành lý nhiều. Không lời từ biệt. Chỉ có một đêm tối và một con thuyền nhỏ chờ ở đâu đó ngoài bến nước. Biển đêm rộng và lạnh. Con thuyền chở đầy người những gương mặt căng thẳng, những ánh mắt không dám nhìn nhau lâu. Mỗi người mang theo một câu chuyện, một mất mát, và một hy vọng mong manh.

Có lúc sóng lớn tưởng chừng lật úp tất cả. Có tiếng trẻ con khóc. Có người cầu nguyện. Có người im lặng như đã giao phó số phận. Tôi nằm sát vào má, nghe nhịp tim bà đập nhanh trong bóng tối.

Lần đầu tiên, tôi hiểu thế nào là sợ. Nhưng cũng là lần đầu tiên, tôi cảm nhận rõ một điều: Người ta có thể bị đẩy ra khỏi nhà, khỏi thành phố, khỏi quê hương… nhưng vẫn cố giữ một thứ vô hình, niềm tin rằng ở đâu đó, mình sẽ lại được sống như một con người đúng nghĩa.

Chúng tôi may mắn sống sót. Nhiều năm sau, ở một đất nước xa lạ, tôi lớn lên. Học một ngôn ngữ khác. Làm quen với một cuộc đời khác. Nhưng mỗi khi tháng Tư về, ký ức cũ lại trở lại, không cần gọi. Má vẫn giữ thói quen cũ: Nấu một bữa cơm đơn giản, thắp nhang, và ngồi rất lâu trước bàn thờ Ba.

Phải rất lâu sau, chúng tôi mới biết: Ba không bao giờ trở về. Không mộ. Không bia. Chỉ là một cái tên tan vào những trại cải tạo xa xôi, nơi mà thời gian không được đo bằng ngày tháng, mà bằng sự chịu đựng.

Tôi từng tự hỏi: “Điều gì còn lại sau tất cả?” Không phải là hận thù, dù nó từng rất gần. Không chỉ là nỗi buồn, dù nó vẫn còn đó. Mà là ký ức. Một thứ ký ức không thể xóa, không thể thay thế, và cũng không thể truyền đạt trọn vẹn cho những ai chưa từng sống qua.

Thành phố bây giờ đã khác. Người ta nói nó phát triển, hiện đại, rực rỡ hơn. Có thể đúng. Nhưng với những người như tôi, luôn tồn tại hai Sài Gòn: Một của hôm nay, và một của trước tháng Tư. Và giữa hai thành phố ấy là một khoảng lặng không bao giờ lấp đầy.

Nhiều năm trôi qua, tôi bắt đầu hiểu một điều: Có những mất mát không ồn ào, nhưng kéo dài suốt một đời. Ở xứ người, chúng tôi học cách sống lại từ đầu. Má đi làm sớm, về muộn. Những công việc lặng lẽ, không ai hỏi quá khứ. Tôi lớn lên giữa hai thế giới: Ban ngày là ngôn ngữ mới, bạn bè mới; Ban đêm là những câu chuyện cũ, những cái tên chưa bao giờ được quên.

Có những buổi tối, má kể về Sài Gòn. Không phải Sài Gòn sau này, mà là Sài Gòn trước tháng Tư nơi có tiếng xe, tiếng nhạc, có những quán nhỏ sáng đèn, và con người nói cười không cần dè chừng. Bà kể như giữ lửa, như sợ rằng nếu không nhắc lại, ký ức sẽ bị thời gian xóa mất. Tôi hỏi má:

– Có ngày nào mình quay về không?

Má im lặng rất lâu rồi nói:

- Còn tùy con ạ! Quê hương không phải lúc nào cũng là nơi để trở về.

Câu nói ấy theo tôi suốt những năm trưởng thành. Rồi một ngày, khi đã đủ lớn, tôi trở lại Sài Gòn. Má không đi theo cùng. Bà bảo:

– Con cứ đi, nếu con cần hiểu thêm.

Tôi biết, có những vết thương không phải ai cũng muốn chạm vào.

Chiếc máy bay hạ xuống trong một thành phố đông đúc, sáng đèn, ồn ào. Người ta nói đủ thứ ngôn ngữ, nhưng tôi vẫn nhận ra âm điệu quen thuộc đâu đó trong từng câu nói.

Sài Gòn… vẫn là Sài Gòn; nhưng cũng không còn là Sài Gòn nữa?!

Tôi đi qua những con đường cũ, tìm lại căn nhà năm xưa. Nó vẫn còn đó, nhưng đã đổi chủ từ lâu. Cánh cửa sơn lại, hàng rào khác đi, không còn dấu vết nào của gia đình tôi - như thể chúng tôi chưa từng tồn tại ở nơi này.

Tôi đứng bên kia đường, nhìn. Không trách. Không giận. Chỉ thấy một khoảng trống kỳ lạ, như nhìn vào một bức ảnh mà mình từng ở trong đó, nhưng giờ bị cắt ra. Tôi tìm đến nghĩa trang cũ. Không có tên ba. Chỉ là những hàng mộ nối dài, những tấm bia vô danh, và gió thổi qua như kể lại những câu chuyện không ai còn nhớ rõ. Tôi thắp một nén nhang, không biết gửi về đâu, chỉ mong rằng ở một nơi nào đó Ba tôi sẽ nhận được. Tôi nói nhỏ:

– Thưa Ba. Con đã về.

Không có câu trả lời, nhưng lòng tôi cảm thấy nhẹ đi một chút.

Những ngày sau, tôi đi nhiều hơn, nghe nhiều hơn. Thành phố này có những con người sinh ra sau mọi biến động, họ sống nhanh, sống gấp, và có khi không mang cùng ký ức với thế hệ trước. Tôi không trách họ.

Ký ức là thứ không thể ép buộc. Nó giống như một dòng sông ai đã từng trôi qua thì nhớ, còn người đứng trên bờ thì chỉ thấy nước chảy.

Đêm cuối trước khi rời Sài Gòn, tôi đi dọc con đường cũ. Đèn vẫn sáng. Người vẫn đông. Không ai biết tôi là ai, và tôi cũng không cần ai biết. Chỉ có một điều tôi hiểu rõ hơn bao giờ hết:

“Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra, mà là nơi những ký ức của mình còn được giữ lại. Dù ở lại hay ra đi, dù mất hay còn, những gì thuộc về tháng Tư năm ấy… vẫn nằm đó, trong một góc rất sâu của mỗi con người.”

Khi máy bay cất cánh, tôi nhìn xuống thành phố Sào Gòn một lần nữa. Không còn giận dữ. Không còn hoang mang. Chỉ còn một nỗi buồn lặng lẽ và một lời hứa không thành lời:

“Rằng tôi sẽ kể lại. Để một ngày nào đó, ai đó nghe được, và hiểu rằng có một thời, một thành phố đã đổi đời trong im lặng, và có những con người đã mang theo cả quê hương mình đi suốt phần đời còn lại…”

Quốc Nguyên

(Ký ức Tháng Tư - Boston, Massachusetts)

Monday, May 18, 2026

Lời Kể Từ Con Ghe Ma

( viết theo Flim: Bolinao 52 )


Tháng 5 năm 1988.
Đêm xuống đen như mực.
Ở một bãi biển heo hút miền Nam Việt Nam, hơn một trăm con người đứng chen chúc trong im lặng. Không ai dám nói lớn. Chỉ có tiếng sóng biển đập vào mạn ghe và tiếng trẻ con nấc nghẹn trong lòng mẹ.
Có người ôm túi gạo nhỏ.
Có người mang theo tấm ảnh gia đình.
Có người cúi xuống hôn cát lần cuối.
Một ông già run run hỏi:
— Đi lần này… còn sống không tụi bây?
Không ai trả lời.
Chiếc ghe gỗ chật cứng 110 mạng người lặng lẽ lao ra biển đêm.
Họ không biết phía trước là tự do…
hay là nấm mồ không bia.

Những ngày đầu, ai cũng còn hy vọng. Trên ghe, người ta chuyền nhau từng ngụm nước nhỏ. Có người thì thầm về nước Mỹ. Có người nói tới Philippines. Có người mơ đến một nơi không còn công an gõ cửa lúc nửa đêm.
Một bà mẹ trẻ ôm con trai năm tuổi vào lòng:
— Ráng nghe con… qua tới bển, má cho con đi học…
Đứa bé gật đầu. Nó đâu biết lời hứa ấy mong manh hơn ngọn đèn dầu trước gió.
Rồi tai họa xảy ra.
Chiếc máy tàu tắt phụt giữa biển Đông. Người tài công cúi xuống sửa suốt nhiều giờ. Mồ hôi chảy như tắm. Cuối cùng ông ngẩng lên, khuôn mặt trắng bệch:
— Hết rồi…
Hai chữ đó như tiếng đất lấp quan tài.
Con ghe bắt đầu trôi vô định.
Ngày thứ năm.
Nước uống cạn dần.
Ngày thứ tám.
Lương thực gần hết.
Ngày thứ mười.
Người ta bắt đầu nhìn nhau bằng đôi mắt tuyệt vọng.
Biển vẫn xanh ngắt. Mây trắng vẫn bay. Đẹp đến tàn nhẫn.

Có người chết đầu tiên vào ngày thứ mười hai. Là một cụ bà hơn bảy mươi tuổi.
Trước lúc nhắm mắt, bà chỉ nói:
— Má nhớ Sài Gòn quá…
Rồi im.
Không tiếng khóc.
Không khăn tang.
Không quan tài.
Mấy người đàn ông phải buộc xác bà bằng tấm nylon cũ rồi thả xuống biển.
Đứa cháu gái gào lên:
— Ngoại ơi! Ngoại đừng bỏ con!
Tiếng khóc tan giữa sóng.
Biển nuốt người nhẹ như nuốt một chiếc lá.

Ngày thứ mười chín. Một tiếng la vang lên:
— Tàu! Có tàu!
Mọi người bật dậy như người chết sống lại.
Phía xa là chiến hạm Hoa Kỳ USS Dubuque khổng lồ như một thành phố nổi.
Người trên ghe quỳ xuống khóc.
Họ vẫy áo.
Vẫy khăn.
Gào khản cổ.
— Cứu chúng tôi!
— Please!
— Please help us!
Có người ôm con giơ cao lên trời.
Những thủy thủ Mỹ nhìn xuống. Rồi họ thả xuống ít nước uống, lương khô.
Nhưng…
Con tàu không dừng lại.
Chiến hạm từ từ quay mũi rời đi.
Trên ghe, tiếng khóc bật lên như địa ngục mở cửa.
Một người đàn ông đập đầu xuống mạn ghe:
— Trời ơi! Họ bỏ mình rồi!
Một bà mẹ quỳ sụp:
— Con tôi sắp chết rồi mà…
Chiếc USS Dubuque nhỏ dần… nhỏ dần… rồi biến mất giữa chân trời.
Mang theo hy vọng cuối cùng.

Sau đó là những ngày không còn giống đời người nữa.
Nắng thiêu cháy da thịt.
Môi nứt bật máu.
Lưỡi khô cứng.
Người ta bắt đầu uống nước mưa đọng trên tấm nylon.
Rồi nước tiểu.
Rồi bất cứ thứ gì còn ướt.
Trẻ con chết dần.
Có người mẹ ôm xác con suốt hai ngày không chịu buông.
Bà cứ ru:
— Ngủ đi con…
qua tới Mỹ má gọi dậy…
Nhưng đứa bé đã lạnh ngắt từ lâu.
Người lớn bắt đầu mê sảng.
Có người nhìn mặt biển rồi cười:
— Tôi thấy đất liền rồi! Tới nơi rồi!
Rồi lao xuống biển mất hút.
Không ai còn sức để cứu.

Ngày thứ ba mươi bảy.
Chiếc ghe chỉ còn lại những thân người như bộ xương biết thở.
52 người sống sót.
58 người đã nằm lại biển Đông.
Lúc ấy, vài ngư dân Philippines ở thị trấn Bolinao phát hiện con ghe trôi dạt.
Họ chạy tới.
Một ngư dân bật khóc khi nhìn thấy cảnh tượng trước mắt:
— My God…
Những người Việt Nam không còn đứng nổi.
Có người bò bằng đầu gối.
Có người vừa được bế lên bờ đã ngất lịm.
Một bà cụ nắm tay ngư dân Philippines, nước mắt chảy dài:
— Cảm ơn… cảm ơn…
Bà không biết tiếng Anh.
Người kia không biết tiếng Việt.
Nhưng trong khoảnh khắc ấy, lòng nhân loại không cần phiên dịch.

Nhiều năm sau, đạo diễn người Việt tên Đức Nguyễn, cũng từng là thuyền nhân, bắt đầu đi tìm lại những người sống sót của chuyến ghe định mệnh ấy.
Ông gặp lại những khuôn mặt già nua mang đầy vết thương ký ức.
Có người vẫn giật mình giữa đêm vì nghe tiếng sóng.
Có người không bao giờ ăn hết phần cơm của mình nữa… vì ám ảnh những ngày chết đói.
Có người đến giờ vẫn không dám nhìn biển.
Một người sống sót nghẹn ngào:
— Chúng tôi không sống sót vì mạnh hơn… chỉ là… số mình chưa tới lúc chết.

Bộ phim “Bolinao 52” ra đời như một nén nhang cho những linh hồn nằm lại biển Đông không mộ chí.
Không chỉ là phim tài liệu.
Mà là tiếng khóc.
Là chứng tích.
Là lịch sử viết bằng nước mắt và xác người.
Để thế giới biết rằng:
Đã từng có những con người bỏ quê hương ra đi không phải vì tham vọng…
mà chỉ để được sống như một con người.

Phạm Sơn liêm


Tuesday, May 5, 2026

Palawan Miệt Đất Hứa

Lời phi lộ
Tui và vợ ở trại tỵ nạn Palawan 3 năm từ 1989 tới 1992 chờ Thanh Lọc vì đi sau ngày Cao ủy tỵ nạn Liên Hiệp Quốc = UNHCR đóng cửa
Đính kèm là hình của tui đang ngồi " nhậu " không có mồi , " chửa lửa " bằng nước lạnh, tui ngồi thứ 3 và vợ tui ngồi thứ 4 trong căn nhà lá, vách tre, nền Xi măng tại số 54 khu 9 như sau :

Tình cờ bạn tui gửi riêng cho tui bài viết này nên tui post cho tui và các ACE bốn phương trời từng Vượt Biên để... Nhớ Về... !!!

Puerto Princesa City

Chúng tôi đến Palawan giữa trưa nắng. Nắng chói chan nhiệt đới đập xuống mặt lũ thuyền nhân từ quân vận hạm leo vội vã lên các xe nhà binh. Chúng tôi gầy gò ướt sũng và da nhăn nhúm của 13 ngày trôi trên biển. Trôi ̶ từ bao giờ tôi hết còn ý niệm của trôi giạt ̶ chỉ còn bản năng sống sót. Chuyến tàu kinh hoàng xuất phát từ Mỹ Tho đêm 28 tháng 5-1979 va vào đá ngầm mắc cạn trên san hô. Gần hai tuần lễ chúng tôi dầm dưới nước, ban ngày biển rút xuống mắt cá chân giúp cạo sò ốc nhai rong rêu và hứng nước mưa; đêm đến thủy triều lên lút đầu phải bám víu bè gỗ. 391 thuyền nhân đăng ký vượt biên bán chánh thức, lên đến đảo Liminangcong ngày 21 tháng 6 điểm danh còn đúng 285. Những người khác ̶ 106 kẻ khác của Camus ̶ chết đuối, chết chìm, mất tích. Chúng tôi không nghĩ đến họ nữa.

Không ai biết mai ra sao. Đất Phi lành hay dữ? Hải quân Phi trên đảo Liminangcong phát cho mỗi người mỗi ngày ba thìa cháo. Quát tháo và nạt nộ. Chúng tôi đi xin ăn trong các bản làng Phi, xin canh cặn cá thừa để cầm hơi. Một tuần sau Hải quân Phi chở chúng tôi đến Puerto Princesa City. Bến cảng hiện ra như thiên đàng.

Anh Vĩnh thông thái dịch:
- “Princesa là công chúa! Puerto Princesa City là thành phố của Công chúa! Chúng mày là hoàng tử công chúa đất Phi!”…

Chúng tôi ngơ ngác nhìn quanh, hết còn là làng chài lưới ván gỗ ọp ẹp mà xây bằng gạch. Có nhà thờ, biệt thự, trường học, quán bar! Đám thuyền nhân vỡ òa sung sướng. Nhưng phút sung sướng tắt nhanh vì các ngôi nhà khang trang biến mất dần nhường cho đường đất ngoằn ngèo. Mười chiếc quân xa rú máy chạy qua hết ruộng bắp này đến ruộng chuối khác. Hết nhà gạch, xuất hiện những túp lều lợp lá thưa thớt. Lộ đất mỗi lúc một hẹp, lổn ngổn đá với bụi gai hoang vắng. Chúng tôi biết đã xa thị tứ.

Trạm kiểm soát đầu tiên có quân cảnh vận quân phục y như quân cảnh VNCH nhưng lực lưỡng hơn với da đen sạm không chút thân thiện. Bót gác có rào chắn. Rồi đoàn xe bắt đầu leo dốc. Tôi ngồi bệt trên sàn sắt cố nhướng mắt với các anh Thành, anh Hoàng nhìn ra phía trước. Hai anh chung tàu bảo bọc tôi những ngày tàu chìm. Chung quanh các khuôn mặt vẫn còn nguyên nét bàng hoàng chết hụt trên bãi ngầm Trường Sa. Trước lúc đi chúng tôi đã biết tin thuyền nhân bị nhốt, bị đánh đập trong các trại cấm Hồng-Kông, bị đối xử dã man ở các xứ mới hôm qua hãy còn là đồng minh của VNCH. Anh Thành là thiếu úy bộ binh tù ba năm, gương mặt hằng nét khổ sai, nhưng anh cứng cáp nhất, lúc nào cũng trông chừng anh em tôi. Ở Liminangcong có ba thìa cháo, anh chia cho tôi, bảo:
- “Mày đang sức lớn nuốt đi.”

Giờ, chúng tôi chung thắc mắc: Cảnh binh Phi chở chúng tôi đi đâu? Không ai biết. Chúng tôi sắp bị đánh bị nhốt không? Sao không thấy Cao Ủy Liên Hiệp Quốc ra nhận chúng tôi? Dẫy núi đen rập rờn không gây yên tâm. Lúc này hết ruộng thành rừng. Những gốc đa của táng rừng ven lộ mọc nghiêng xuống gần đụng mui xe.

Một người nói:
- “Côn Đảo rồi bây ơi!”.

Khoang xe im phắc lo lắng.

Nhíp xe xốc mạnh khi lên đến đỉnh dốc. Ba chục thuyền nhân chất cá mòi ngã đè lên nhau.

Đột ngột một tiếng la:
- “Cờ Việt Nam Cộng Hòa!”

Chúng tôi bật lên như lò xo. Tất cả mất thăng bằng vì xe rung lắc nhưng ráng bấu víu, bám lưng, chen lên vai người khác, bám vào đầu kẻ chung quanh để chồm lên. Ai cũng muốn nhìn. Trời quang giúp thấy lá cờ trên chóp một cột cao. Lá cờ ba sọc đỏ nền vàng.

Đồng loạt nhiều tiếng gào:
- “Cờ mình!”.. “Cờ mình!”

Cờ mình! Chúng tôi cứng sững người. Đã bốn năm rồi không nhìn thấy, phải phủ nhận, phải chôn vào huyệt ký ức, vậy mà lá cờ vẫn sống, đang bay. Và lần đầu tiên được thốt lên một lần nữa hai chữ “Cờ mình”. Mắt mọi người ràn rụa. Bốn năm dài tủi nhục hết rồi. Bồn năm trường uất nghẹn hết rồi. Một người sụt sùi “Mình thoát rồi…”, một người khác tức tưởi “Sống rồi”, “Sống rồi…” rồi là những tiếng nấc. Khóc vì sung sướng. Khóc cho vơi tủi hờn đằm đìa má. Một người cha cắn môi, một người mẹ ôm chặt con, một người đọc kinh Lạy Cha, một người khác niệm Phật, một người khác hứa ăn chay suốt đời.

Phải sống phút đó. Tôi đã sống phút đó trong thùng xe chiếc GMC chở thuyền nhân về trại Palawan. Tôi đã chứng kiến mọi người khóc nghẹn ngào khi trông thấy lại lá quốc kỳ của Miền Nam. Tức tưởi hòa với nước mắt của vui mừng vì lá cờ vàng còn dựng được trên mặt đất là còn hy vọng.

Vietnamese Refugees Camp

VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.

Chúng tôi đói lả. Hành trình một tháng vượt biên, một tuần ở đảo Liminangcong, một ngày một đêm hải hành đến Palawan không được phát thức ăn trên dương vận hạm khiến chúng tôi xanh mướt tàu lá. Ông Thanh trưởng trại ra lệnh cho nhà bếp cấp tốc thổi cơm. Tôi ăn liên tục một lúc 10 lon guigoz, đến bây giờ kể lại không ai tin, không có thức ăn, chỉ có cơm trắng nhưng tôi nuốt ngon lành, ăn hết lại chìa lon cho đến lúc người ta la hoảng: “Đừng cho thằng nhỏ ăn nữa nó sắp bội thực!” Người lớn giằng lon guigoz. Đến lúc đó tôi mới thực sự thấy đuối sức, rủ riệt tay chân. Sức vóc như đã pha loãng vào sóng biển và sóng cuốn trôi xa. Tôi muốn đi kiếm anh Thành, anh Hoàng và anh cả tôi không biết lạc mất lúc nào lúc phát cơm chen lấn hỗn độn nhưng lết không nổi. Giờ tôi mới thấy no muốn nghẹn. Tôi bước ba bước, mặt đất bồng bềnh như tôi còn dưới nước. Tôi hiểu trọng lực vật lý khác biệt làm lên bờ tôi bị nghiêng ngã nhưng tôi hết còn sức để suy nghĩ. Tôi ngã dụi lên đống củi phía sau chái bếp. Trong lơ mơ đầy tiếng động, tôi loáng thoáng nghe người ta kháo là trại chia làm năm khu: Khu 1 đi Canada, Khu 2 đi Mỹ, Khu 3 đi Úc, Khu 4 Vô thừa nhận; còn Khu 5 dành cho những gia đình khá giả có tiền thuê cất lều riêng. Tôi thiếp ngủ dưới lá cờ vàng.

Ông Thanh tập hợp chúng tôi lại và bắt chia thành toán rồi chỉ định về khu 4 Vô Thừa Nhận. Anh Vĩnh văng tục: “Đã thoát ra ngoài rồi còn lập tổ dân phố, lập Công an phường luôn đi.” Gọi là Khu 4 nhưng không có barrack, không có nhà, không vách tường mái tôn giường chiếu chi hết, chỉ là một bãi đất trống sát phi đạo chằng kẽm gai. Không điện, không nước máy, một miệng giếng duy nhất bên Khu 5 nhưng là giếng nước mặn. Mỗi ngày lính Phi kéo mấy móc hậu nước vào phân phối cho trại; mỗi người xếp hàng lĩnh hai lít nước, muốn thêm nữa thì hứng nước mưa. Những đêm đầu chúng tôi ngủ trên cỏ ướt. Tôi không còn quần áo nào khác ngoài đồng phục học sinh lúc xuống thuyền nhưng không thấy lạnh. Tôi đã dầm nước biển hai tuần, đã ngủ trên ghềnh đá sóng đập ở cầu tàu Liminangcong thì xá gì sương đêm. Nhưng giấc ngủ không an giấc, chập chờn mộng mị thấy mình còn ở Sàigòn, trong ngôi nhà mẹ, gọi “Mẹ, Mẹ.. con thoát rồi, con đến bờ rồi…” rồi hốt hoảng không hiểu vì sao mẹ đã đóng 12 cây vàng cho mình ra đi mà mình vẫn còn ở nhà và công an đang đập cửa… Tôi thức giấc giữa hai ác mộng, thấy lính Phi đi tuần chiếu đèn pin ngang dọc lên mặt lũ thuyền nhân đang ngủ xếp lớp như cá nục. Tôi cũng là con cá nục vừa chai với số phận.

Vài tuần sau, anh cả dạy Pháp văn và chị Tâm đi dạy Anh văn có tiền thuê các thanh niên trong trại đốn cây cất cho chúng tôi một túp lều chiều ngang hai thước, chiều dài ba thước với một góc bếp và một giường tầng, lợp bằng lá dừa kết với cây rừng. Căn lều sát sân bay. Mỗi khi máy bay Phi cất cánh là túp lều rung chuyển bần bật và sau vài tuần lá héo cong queo, trời mưa xuống làm chúng tôi ướt như chuột. Bổn phận của tôi là đi lĩnh thực phẩm, một con cá ươn, một miếng thịt heo ôi với ba lon gạo cho 3 người. Anh Vĩnh cằn nhằn: “Tụi nó ăn chặn tiền của Liên Hiệp Quốc, phát cho mình toàn của ôi.” Anh Thành an ủi: “Lúc tàu đắm mình xin ơn trên ít hơn vầy.” Lều của anh Thành và anh Vĩnh cách không xa, chúng tôi chạy qua chạy lại. Công việc của tôi còn là xếp hàng lĩnh nước ngọt và vô rừng đốn củi về nấu ăn. Vì lính Phi phát thịt sống, cá sống, gạo sống nhưng không phát chất đốt. Lúc ở Sàigòn tôi chưa từng xuống bếp nên tôi cho hết chuối, dừa, cá vô nón sắt lính Phi tôi lượm được đặt trên ba cục đá rồi đổ nước vô đốt củi đun. Anh cả tôi phun ra đất! Chị Tâm lịch sự nhắc nên đánh vẩy mổ ruột trước khi cho vô. Anh Vĩnh nhạo: “Tao nói rồi. Puerto Princesa City là đảo của Công chúa mà. Tụi bây là hoàng tử công chúa đất Phi! Công chúa không đụng tay, hoàng tử không biết đánh vẩy cá!”

Phu Nhân Imelda Marcos

Tin sét đánh: Phu nhân đương kim Tổng thống Ferdinand Marcos là first lady Imelda Marcos thăm trại ủy lạo các thuyền nhân tỵ nạn Cộng sản! Suốt hai tuần lễ đầu tháng 10-1979 Ban Điều hành đôn đốc đàn bà con gái kết hoa, treo đèn lồng, giăng cờ quạt khắp nơi, đàn ông thanh niên phải vô rừng đốn cây dựng khán đài. Nhóm chúng tôi cố tình đốn những cây ốm, không quá to cho dễ khuân. Ông phó ban Khu 4 « kiểm tra phẩm chất » không mấy ưng ý: “Không đạt chỉ tiêu. Đốn lại cây khác.” Anh Thành nổi sung quát: “Đây 6 năm lính, ném 200 trái lựu đạn. Ngon chơi tay đôi.” Tay phó ban tái mặt, nhìn nhìn rồi thì thào: “Thông qua.” Anh Vĩnh chửi thề: “Sang đây còn chức sắc. Còn sài chữ Việt cộng.” Anh Hoàng nói: “Nó bị nhiễm.”

Chúng tôi phải tập hát ca khúc suy tôn Tổng thống và những bài ca chào mừng Đệ nhất Phu nhân, mặc dù không hiểu chi hết chỉ lập lại như con két. Khắp trại giăng các biểu ngữ viết bằng tiếng Filipino. Rồi buổi sáng trọng đại cũng đến. 8 giờ sáng đã bị lùa ra đứng dọc hai bên cổng chào, đứng dọc lối đi dẫn đến cột cờ và đứng xúm xít chung quanh khán đài. Lính Phi phát cho mỗi người một lá cờ Phi bắt cầm trên tay và phất lên vẫy vẫy khi phu nhân đến. Trưởng ban quân nhạc Phi yêu cầu tập dợt quốc ca Phi “Lupang Hinirang” mặc dầu suốt tuần rồi đã hát đi hát lại cả chục bận. Ông Thanh trưởng trại yêu cầu đồng hương ăn vận chỉnh tề, giữ quốc thể! Anh Vĩnh càu nhàu: “Còn hơn đón Tôn Đức Thắng!!” Tôi ngó ra cột cờ, lính Phi đang hạ cờ VNCH thay bằng cờ Phi Luật Tân có hình mặt trời với ba ngôi sao cho đúng nghi lễ.

Tháng 10 mùa bão, trời bắt đầu mưa lất phất, mây đen kín đỉnh núi. Tôi nhìn xuống quần áo mình, tôi chỉ có ba bộ quần áo mặc suốt bốn tháng nay, hai bộ áo hồng và tím có nơ ren với thêu hoa hồng của dì phước cho ở Liminangcong. Hôm đó tôi gõ cửa tu viện xin ăn, một dì phước trẻ mở cửa nhìn rồi dẫn tôi lên phòng lấy cho tôi quần áo thời con gái của dì. Nhưng là đồ bộ đàn bà nên tôi không dám mặc ban ngày, chỉ bận khi ngủ, ban ngày tôi vẫn mặc đồng phục học sinh của mình. Trong tiếng nhạc “Pagsalubong sa unang ginang… Welcoming the first lady…” tôi thấy rõ hai ống tay áo của mình rách đến nách, còn hai ống quần dài rách đến gối. Rồi tôi nhìn ông Thanh đang cầm loa phóng thanh đi qua đi lại, ông vận quần tây đen gabardine, áo sơ mi trắng dài tay có cài manchette, thắt cà vạt có barrette, nhìn là biết ông không đắm tàu, chưa thành cá nục. Ông nói tiếng Anh oang oang “Ladies and Gentlemen…” nhưng chuyển sang tiếng Việt là ông quát “Cái xóm nhà lá bên hông khán đài đó… Không có ngồi xổm!”. Ông thật sự nghĩ là chúng tôi có thể ăn vận chỉnh tề? Mà tại sao trong tiếng Anh thuyền nhân sang trọng mà sang tiếng Việt thì bần hàn?

Mưa mỗi lúc một lớn. Giờ thì phải tập hô « Vạn tuế Phu Nhơn » …bằng tiếng Việt. Tất nhiên là bà Marcos sẽ không hiểu chi hết nhưng bà cần nghe thuyền nhân tung hô bà bằng chính ngôn ngữ của Trưng Trắc. Mưa nặng hạt. Ông Thanh cầm loa thông báo chương trình tiếp đón Phu Nhơn lúc 10 giờ lui lại …chờ bớt mưa. Nhiều gia đình lên tiếng yêu cầu cho về lều trú nhưng ông Thanh không chịu, viện cớ Phu Nhơn đã đáp xuống phi trường quân sự, từ đó đến trại có 20 phút, cho tất cả về barracks thì khi hô tập trung sẽ không kịp. Với lại chưa có lệnh giải tán của đại tá quân trấn trưởng Palawan. Chúng tôi bắt đầu ướt nhem, gió quất từng cơn. Đến trưa chẳng còn hàng lối, mọi người ngồi bệt xuống đất, con nít bắt đầu kêu khóc. Nhiều người phản đối. Lính Phi phát cho mỗi người hai miếng bánh lót dạ, huơ súng bắt giữ trật tự. Tôi có ý nghĩ là mỗi khi lá cờ vàng biến mất là dân miền Nam lại lầm than. Tại sao chúng tôi phải chầu chực ở đây dưới mưa? Tôi nhìn nước mưa nhiểu từ sống mũi mình xuống cằm rồi chạm ngón chân. Y những giọt mưa trên biển những ngày tôi dầm dưới đại dương. Những ngày mắc cạn trên san hô, ban ngày nước rút, ban đêm thủy triều lên quá đầu phải bám víu vào nhau, níu dây thừng, ván gỗ. Tôi đã trông thấy thây ma chết đuối nổi lên chương sình trôi lềnh bềnh bên cạnh phải lấy tay đẩy ra. Tôi đã không hiểu vì sao tôi phải chết quá sớm? Mới hôm qua tôi còn ở quận Nhất Sàigòn, đầu tháng Tư tôi còn đến nhà Thanh Mai trên đường Phan Thanh Giản đàn ca khúc Ngăn Cách của Y Vân trong ngày sinh nhật thứ mười bảy của cô bạn gái thân thiết nhất của mình. Mười ngày sau Thanh Mai vượt biên không kịp từ giã, rồi một tháng sau đến phiên tôi trôi giạt trên biển, cùng biển Thái Bình này, vẫn là biển Thái Bình bao quanh Việt Nam. Tất cả diễn ra quá nhanh. Tôi với Thanh Mai chỉ vừa chớm 17 tuổi. Suốt hai năm 78-79 chúng tôi không rời nhau, chung trường, chung lớp, ngồi chung bàn cạnh nhau, chiều chiều cùng đi học phụ đạo, tối đèo nhau khắp phố phường, tình yêu trung học trong sáng. Vậy mà giờ tôi ngồi đây, bệt trên cát đang chuyển sang bùn đợi bà Marcos. Tôi không biết bà là ai ngoài chức danh hoa hậu trước khi bà lấy ông Marcos.

Quá trưa, gần hai giờ chiều, nhiều gia đình tự động bỏ về mà ông Thanh không ngăn được, cả lính Phi cũng không còn muốn giữ trật tự vì hiểu là bà Marcos sẽ không đến. Mưa càng lúc càng lớn, đến ba giờ chiều thì tất cả mọi người ướt sũng chạy về lều. Đêm xuống Ban Điều hành hoan hỷ báo tin là tuy Phu Nhơn không đến nhưng quà ủy lạo đã chuyển đến: Gồm một lon sữa bột, một lon cacao, một túi cà phê, một bịch đường cho mỗi túp lều!

Vũ Thị Thanh Mai

Tháng 11 xảy ra tai nạn. Tôi chiên cá trong nón sắt lính Phi, lửa nóng làm cục gạch kê bị vỡ khiến chảo nón sắt đổ ụp xuống tay. Bị bỏng nặng nên tôi chạy lên trạm xá xin thuốc, chỉ được cho một ống kem đánh răng nhưng tôi cũng không sao bôi lên tay được vì da nổi phồng thành bong bóng đau rát suốt cả tháng. Áp Giáng sinh xảy ra tai nạn khác. Tôi đứng từ trưa đến chiều đợi lãnh nước. Nhiều người cãi vã vì mất kiên nhẫn. Đến phiên tôi hứng nước, một ông xếp hàng phía sau chen lấn xô tôi sang bên để giành chỗ. Ngay lúc đó thanh gỗ chống đỡ móc hậu nước không biết vì sao gẫy đôi làm nguyên cần móc sắt rơi đập xuống chân ông vừa chen lên, khiến gang bàn chân ông đứt lìa. Nguyên bãi đất máu me đến sợ. Người ta lật đật chở đi cứu thương. Tôi thầm cảm ơn Phật độ trì cho mình. Chỉ tíc-tắc thôi, nếu ông ta không giành chỗ là tôi đã đứt đôi bàn chân.

Sắp Giáng sinh, trại trang trí những cây thông giả kết bằng cành dứa với trái châu là những lon sữa của bà Marcos treo lủng lẳng. Tôi nhớ Thanh Mai vô vàn. Giáng sinh 78 tôi với Thanh Mai đi bộ từ chợ Bến Thành ra công trường Lam Sơn, tôi muốn hai chúng tôi đếm những bóng đèn đường như trong Phượng Vỹ của Duyên Anh. Nhưng dòng người đông đúc tràn phố khiến chúng tôi không sao bắt chước Chương với Phượng ở Thái Bình cùng sóng đôi đếm những cột điện của thị xã. Tuổi niên thiếu của chúng tôi ngập tràn mơ mộng với Duyên Anh, Nhã Ca, Erich Maria Remarque. Tôi chuyền cho Thanh Mai những trang tiểu thuyết và Thanh Mai cùng đọc chui những trang sách in trước 75. Rồi Tết 79. Chiến tranh với Khmer Đỏ, chiến tranh với Tàu nhưng Thanh Mai đẹp như một ước mơ. Mùng hai Tết Thanh Mai đến chúc Tết. Thanh Mai tóc ngắn, váy ngắn. Lần đầu tiên trông thấy đôi chân trần của Thanh Mai nên tôi nhìn không chớp mắt. Đến lúc ngửng lên bắt gặp Thanh Mai đang quan sát mình. Cả hai chúng tôi cùng đỏ mặt, vì Thanh Mai biết tôi đang nhìn đùi Thanh Mai, còn tôi xấu hổ đã nhìn chăm chăm đùi cô bạn mình. Chúng tôi cắn hạt dưa ngượng nghịu rồi Thanh Mai vội vã ra về. Tôi trách mình cùng cực và nghĩ chắc Thanh Mai phải khinh mình lắm, không biết làm sao xin lỗi. Nhưng sáng mùng ba Thanh Mai lại đến. Nghe bấm chuông tôi lao ra mở cửa, Thanh Mai mặc váy ngắn hơn hôm qua! Cô bạn thân xinh xắn cười tươi như hoa với ánh mắt ngầm nói “Mai vận váy ngắn cho Vũ ngắm nữa!” Chúng tôi vui hơn Tết. Tôi đập heo moi hết tiền lì xì chở Mai đi uống chanh rhum với yaourt đá bào. Mai quàng tay ôm thắt lưng tôi trìu mến. Mùng bốn Tết chúng tôi xem ciné ở rạp Casino, trú mưa bên hông thư viện quốc gia… Chế độ Cộng sản song mọi thứ như còn y nguyên và tuổi dậy thì của hai chúng tôi lớn lên với quá khứ cũ đẹp tựa nhành lúa.

Áp Giáng sinh, những cơn bão rời xa Palawan trả lại bầu trời quang đãng trên dải cát vàng. Tôi ra biển ngó những lượn sóng, thầm hỏi bây giờ Thanh Mai ở đâu? Tôi không sao xóa được hình ảnh của Thanh Mai. Tôi hay ra phía sau bãi đá lấy cành cây viết tên Vũ Thị Thanh Mai trên cát. Mỗi một lần viết là một lần xúc động và mỗi bận sóng đánh lên xóa nhòa làm thêm buồn bã. Vũ-Thị-Thanh-Mai tôi nuốt thầm từng chữ. Vì sao chúng tôi không thể cùng lớn lên với nhau, cùng lên đại học rồi đám cưới? Tại sao chúng tôi phải ra đi. Vì sao phải rời quê? Tôi tìm lời giải thích, vì phía chiến thắng đối xử tàn ác.

Thanh Mai vượt biên ngày 13 tháng 4. Tôi vượt biên ngày 28 tháng 5. Hai gia đình gửi hai đứa con ra biển mà không biết định mệnh nào chờ đón. Không lẽ chúng tôi thất lạc mãi mãi? Tôi quyết tâm tìm Thanh Mai.

Tôi không biết chuyến tàu của Thanh Mai đến đảo nào nhưng trên văn phòng trưởng trại của ông Thanh có danh sách các trại tỵ nạn Đông Nam Á. Tôi không có xu nào. Phải có tiền mua tem, mua giấy bút với phong bì, và viết ít nhất mười lá thư nhắn tin gửi đến các trại Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương, Hồng-Kông, Tân-Gia-Ba. Tôi xin tiền, anh cả không cho, mắng: “Tí tuổi đầu đã yêu đương.” Tôi không giận anh cả nhưng tự ái, thề không xin nữa, nhất quyết tự kiếm cách. Tôi sang lều anh Thành hỏi cách có tiền. Anh Thành hỏi lý do, tôi ngập ngừng rồi nói hết. Anh Hoàng, em anh Thành ca vọng cổ “tình chỉ đẹp khi còn dang dở…” làm tôi ngượng chín mặt. Anh Thành ôn tồn: “Tao không có tiền cho mày nhưng phía sau lều tao có lỗ chó chui, tao thấy tụi nó buôn gạo chui qua ngả đó. Mày có gạo dư không? Không có thì qua tao ăn ké rồi giành giụm mang bán.”

Tôi có gạo dư. Từ hôm chê tôi nấu cám heo, anh cả tôi làm « gia sư » dạy Pháp văn cho các gia đình đi Québec, Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ nên ăn chung mâm với họ. Chị Tâm dạy Anh văn cũng được mời ăn với các học trò của chị. Thành ra tôi nấu cám heo cho mình tôi thôi, lâu lâu sang lều chị Hồng « ké độ ». Ở trại tỵ nạn tôi thấy người Trung rất tốt, họ rất mực đùm bọc đồng bào bất kể xuất xứ. Có phải vì miền Trung nhiều thiên tai nên họ quen cứu giúp? Tôi không rõ, nhưng người này cho tôi cây rựa để đốn củi, người kia phụ chẻ củi, chị Hồng câu được cá lớn là gọi tôi qua cho. Tôi nhẩm tính sáu tháng nay dư năm chục cân gạo. Tôi nói anh Thành dẫn tôi ra lỗ chó chui.

Anh Thành với anh Hoàng gạt bụi cây, vạch mấy lùm gai rồi trỏ một đoạn kẽm gai ai đó đã cắt thủng rộng đủ một người chui: “Mày chui hướng này, chừng năm sáu cây số ra đến chợ Phi, họ bán đêm, tìm sạp gạo rồi quay về. Tránh đường lộ có trạm gác, đi đường rừng nhắm hướng Tây, khi về nhắm hướng Đông là hướng biển phía sau lưng trại mình. Sáu cây số đường rừng thì mày đi ba tiếng, đi về sáu tiếng. Khởi hành tám giờ đêm thì hai ba giờ sáng là về đến trại. Đừng để bị bắt”.

Tôi gật. Tôi biết bị bắt là sẽ bị lính Phi giam chuồng khỉ. Là một cái chuồng gỗ rào kẽm gai tứ phía, bị giam đứng suốt ngày, hễ té ngã là té vô kẽm gai. Anh Hoàng dúi tôi con dao bấm: “Giữ mà phòng thân.”

Tặng Phẩm Của Rừng

Hôm sau tôi với anh Hoàng ăn cắp bao bố ở các bao cát chằng cột kẽm gai, trút hết cát mang ra biển giặt rồi trút gạo vô. Tôi muốn bán hết 50 cân cho có nhiều tiền nhưng anh Hoàng nói “Mày vác không nổi đâu.” Tôi nhấc lên vai, thấy nặng nhưng vẫn khuân được, anh Hoàng lắc đầu: “Mày đi đường rừng, vác lâu sẽ khuỵu.” Tôi nghe lời trút bớt mười cân. 8 giờ tối, trại tối đen vì không có điện. Đồn quân cảnh với trạm gác có máy điện riêng nhưng bên trong trại leo lét đèn cầy. Ở các dẫy barracks ăn cơm tối giấc 5 giờ chiều, đến 7 giờ là giăng mùng. Anh Thành với anh Hoàng đưa ra lỗ chó chui, giúp tôi kéo bao gạo qua rào kẽm gai rồi chúc may mắn. Đêm chưa có trăng, im lìm chỉ có ánh điện ở quán bar trước cổng trại với đèn chiếu sáng bên phi đạo. Tôi bước nhanh, chốc chốc ngồi thụp xuống nghe ngóng, xốc lại bao gạo trên vai rồi đi tiếp. Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu nên tôi thấy khỏe khoắn tin đủ sức vác ra đến chợ. Chỉ không biết bán giá bao nhiêu. Đi một lúc đường đất bắt đầu gập ghềnh và hết còn cỏ tranh mà gai góc, cây rừng một lúc một nhiều. Ánh điện quán Bar tắt ngấm, ánh đèn phi đạo le lói xa dần rồi mất hút. Tôi biết đã ra khỏi khu vực canh gác. Kỷ luật của Quân cảnh Phi là cấm thuyền nhân vượt rào kẽm gai, chúng tôi được vô rừng đốn củi nhưng là mé rừng ven bãi cát, cấm không qua khu sân bay, cấm vào sâu trong các bản làng và cấm tuyệt đối tiếp xúc dân bản xứ. Lúc này tối đen không chút ánh sáng. Anh Thành dặn nhắm hướng Tây nhưng tôi không biết hướng Tây là hướng nào, cứ bước đại lên phía trước mặt. Rừng đêm đầy tiếng động của côn trùng kêu óp óp ẹp ẹp và tiếng tặc lưỡi của tắc kè làm tôi hơi sợ. Lâu lâu một gốc cây dị dạng hiện ra như ma. Trong bóng tối mọi thứ mang hình thù quái dị. Tôi bắt đầu thấy bao bố nặng, mấy bận tôi vấp đá ngã làm đầu gối bị trầy xướt. Tôi ngắt lá rừng cuốn quanh ngón chân cái để cọng kẽm buộc quai dép không cứa vô da. Đôi dép con gái cũng của dì phước cho. Tôi không có đồng hồ nên không biết đã đi được bao lâu. Anh Thành dặn đi sát ven lộ, cứ theo đường lộ là ra đến chợ vì chỉ có một đường độc đạo nhưng tôi không biết lộ nằm phía nào. Tối thui như mực. Ánh sáng duy nhất là bầy đom đóm lập lòe. Tiếng rắn rung chuông từng chập rồi chợt rừng như có lân tinh sáng mờ mờ. Tôi ý thức cứ xăm xăm sẽ bị lạc. Tôi quyết định lấy con dao bấm anh Hoàng cho khắc lên gốc cây chữ M, để lúc về giúp tôi nhớ lối về trại. Cứ mỗi năm mươi bước chân là tôi lại lấy dao rọc một chữ M to. M là Mai.

Không biết bao lâu nhưng tôi thấy hụt hơi, vả tháo mồ hôi ướt đầm. Bao bố trở nên nặng chịch. Tôi ngồi nghỉ, liệu sức không vác nổi nên trút bớt gạo. Tôi khát nước và lo lắng phập phồng. Đột ngột có tiếng động cơ ở xa rồi là ánh đèn pha sáng lòa. Ánh đèn vút qua nhanh nhưng tôi nhận ra hướng xe chạy. Đường lộ ở phía đó. Từ lúc này tôi không còn lấy dao rạch chữ M lên vỏ cây vì men theo lộ là không lạc, và gần đường cái cũng ít cây toàn bụi gai. Cứ mỗi khi có xe là tôi ngồi thụp xuống núp trong bụi, đợi xe qua rồi xốc gạo lên vai đi tiếp. Lâu lâu mới có xe, hầu hết là quân xa. Lúc mỏi nhừ chân ê ẩm vai thì có ánh điện xa xa. Tôi mừng quýnh. Ánh điện hắt lên trời làm màn đêm như phết màu. Mỗi lúc một thêm sáng, rồi có tiếng xe máy, tiếng nhạc phát vang vang. Thị tứ hiện ra, chưa phải là phố chính Puerto Princesa mà là một huyện ngoại ô. Tôi cúi gầm mặt đi sát tường, sợ người ta phát giác. Cuối đường là chợ lồng sáng trưng. Tôi đổi bao gạo sang vai trái để che mặt, và đi nép sát các cửa tiệm đóng im ỉm để không ai chú ý. Một xe cảnh sát đi ngang, chạy chầm chậm, tôi run bắn nhưng rồi xe chạy luôn. Tôi băng qua đường, một vài dân Phi nhìn nhưng không ai nói gì. Tôi bước vào lồng chợ, trống ngực đánh thùm thụp. Các gian hàng sáng lóa điện néon. Tôi cố đi bình thản, ra vẻ bình thường, ngó lơ mọi thứ không nhìn thẳng mặt ai. Mấy hàng chè đủ màu làm tôi chảy nước miếng, hàng bánh trái làm tôi đói cồn cào. Tôi nuốt nước miếng, liếc ngang dọc rồi vụt thấy mấy lu gạo ở một gian bên trái. Tôi tiến đến, ấp úng: “.. Sell.. rice… Sell rice…” Tôi chỉ biết có hai chữ này do anh Hoàng dạy. Bà Phi mập mạp da ngăm ngồi trên sạp nhìn đăm đăm rồi lấy mấy ngón tay to bằng quả chuối bốc gạo khi tôi tháo dây buộc bao cát. Bà vốc vốc gạo, vò vò, đưa lên mũi ngửi, khoắn sâu xuống bới lên xem có cùng loại gạo rồi chùi tay: “How much?” Bà nhấc bao lên cân.

Tôi cứng lưỡi. Tôi biết đếm số tiếng Anh nhưng không biết giá. Tôi tự trách sao không hỏi trước mấy người đi bán gạo chui trong trại. Tôi lúng túng không nói được chữ nào. “Twenty Peso.” Bà Phi moi trong cạp quần hai tờ giấy mười Peso. Tôi cầm lấy rồi đi ngay ra cửa hông. Tôi mừng kinh khủng, vừa bặm môi cố trấn tĩnh vì hãy còn run. Tính ra là bà Phi mua 1 Peso một cân gạo vì dọc đường tôi đã trút bớt mấy bận nữa cho nhẹ. Tôi ước chừng bao cát chỉ còn hơn 20 cân. Lúc đó một đô-la Mỹ đổi được 7 Peso mua được 7 chai coca.

Đường về tôi lại men theo lộ, cứ có xe là ngồi thụp xuống núp trong lùm cây. Cho đến lúc tự dưng tôi thấy có trạm gác trước mặt. Tôi sợ quíu. Sao lúc đi tôi không thấy trạm gác? Hay là bót gác ở trước khúc rừng chỗ tôi băng ra? Tôi không rõ nhưng lủi vội vào bụi tức thì vì ở trạm gác có xe tuần cảnh, lính Phi đang hút thuốc nói chuyện ồn ào. Tôi không dám đi tiếp ven lộ, vì đèn ở bót gác rất sáng và quân cảnh Phi có xe mô-tô với xe Jeep. Tôi quyết định băng rừng. Sau này tôi mới biết là quyết định sai, lẽ ra phải bò trong bụi cho hết đoạn có trạm gác rồi đi tiếp về đến gần cổng trại, khi đó mới rẽ qua ngả lỗ chó chui. Nhưng tôi sợ điếng, phải đi nhanh thật xa bót gác. Lúc này trăng đã lên, rừng như quết vôi. Gió làm lá chuyển động, cộng thêm tôi đi như chạy nên mọi thứ như di chuyển chung quanh. Đến một lúc tôi mới kịp định thần là mình đi không phương hướng. Tôi nhìn quanh không còn biết mình ở đâu nữa. Cảnh vật lúc tối lúc sáng. Mỗi khi mây che trăng thì rừng phủ bóng tối, mây lướt đi thì sáng trăng. Các gốc cây, mỏm đá giống hệt nhau, tôi không còn phân biệt đâu là trước mặt hay đằng sau và đường lộ ở phía nào. Mọi thứ chồng lên nhau và cứ tắt hiện. Tôi khát khô cổ. Tôi đi bao lâu rồi? Chừng lâu lắm. Lúc này hai đùi tôi mỏi rã rời, tay chân bị gai cào xướt, cọng kẽm ở quai dép chọc thủng lá quấn ngón chân cái làm chảy máu. Tôi phải buộc lại dép, lấy nhiều lá quấn ngón chân rồi chèn cọng kẽm lên bên trên rồi lấy dây buộc lại. Tôi đi nữa, cắm đầu đi đại. Đi nữa, thêm một đoạn nữa, một đoạn nữa cho đến lúc tôi thở hổn hển ngồi dụi xuống gốc đa, thở đứt quãng vì đuối sức. Tôi mệt lả. Giờ thì tôi biết chắc là đi lạc. Không thể nào đi lâu như vậy mà vẫn bít bùng trước mặt. Tôi sợ điếng là nếu lạc trong rừng đến sáng là tiều phu Phi sẽ phát hiện báo tuần cảnh, là tôi sẽ bị bắt, bị đánh đập nhốt chuồng khỉ và sẽ bị tịch thu 20 Peso.

Chữ M hiện ra lúc đó. Một chữ M trắng bạc lung linh như giát kim tuyến. Chữ M óng ánh sáng rựng. Tôi lao đến. Đúng là chữ M tôi đã khắc lên thân cây lúc này chảy nhựa và mủ đang phản chiếu ánh trăng. Tôi mừng điên. Cứ năm mươi bước chân một chữ M lóng lánh hiện ra, giống Thanh Mai đang dẫn đường. Tôi gọi Mai, Mai mỗi khi thấy chữ M. Tôi về đến trại lúc gần hừng đông.

Tôi không bao giờ biết những cánh thư nhắn tin Vũ Thị Thanh Mai của mình ai nhận. Tôi đã chọn một tảng đá ngầm phẳng phiu và nằm nhiều buổi trên tảng đá dưới nắng nhiệt đới nắn nót viết mười hai lá thư. Ban đầu tôi viết thư tình nhưng viết xong xé bỏ vì thấy quá cải lương. Viết lại nhiều thư khác cũng không hài lòng, vo quăng xuống cát cho đến khi sóng biển tràn lên, tôi nhìn xuống thấy các trang giấy vo tròn của mình đang bị sóng cuốn trôi xa. Sau cùng tôi viết vắn tắt: “Vũ đã đến trại tỵ nạn Palawan, Mai viết thư cho Vũ về địa chỉ này, rất mong tin Mai. Vũ nhớ Mai. Ký tên Lưu Linh Vũ, Lớp 11C1.”

Mỗi chiều tôi chầu chực trước loa phóng thanh nghe đọc tên những ai có thư lên nhận cho đến khi loa im bặt. Bao nhiêu chiều tôi hy vọng, nôn nóng bồn chồn rồi thất vọng. Mãi mãi không có cánh thư nào cho tôi. Phải sau này tôi mới biết Thanh Mai sớm đi định cư chỉ sau một tháng ở trại tỵ nạn Mã Lai nên đã không bao giờ nhận được lá thư nào tôi viết. Chúng tôi tiếp tục thất lạc mãi cho đến năm 2009 mới gặp lại ở California. Tôi kể cho Thanh Mai nghe về tặng phẩm của rừng đã cho tôi chữ M lúc tuyệt vọng. Chúng tôi kết hôn ngày 4 tháng 9 năm 2012.

Trần Vũ , Buena Park, 23 tháng 11-2025

--

Blog Archive