MÂM CƠM NGÀY CŨ
Hộ khẩu ghi tám người, nhưng nội thì một kiểng hai quê nên thường trú có bảy. Nhà nghèo, thiếu trước hụt sau, vậy mà mấy bữa cơm ngày đó lại vui. Món chủ đạo chỉ là mắm tôm chưng và dĩa dưa leo xắt mỏng. Thằng em trai tui mà vô bếp là y như rằng có món bầu luộc chấm nước tương. Vậy mà cả nhà ngồi ăn, nói chuyện trên trời dưới đất, cười tới no còn nhiều hơn ăn tới no.
Nhớ mãi có lần ba dụ thằng em ăn nguyên trái ớt hiểm, nói ớt bỏ vô họng nhai nguyên trái thì không cay. Nó tin thiệt, nhai ngon lành, vài phút sau nước mắt nước mũi chảy tùm lum. Cả nhà cười muốn chết, còn nó vừa khóc vừa giận. Rồi có hôm tui đang tắm heo sau nhà, thấy một con chuột cống đang giằng co với con cá lóc mắc câu. Thấy động, nó bỏ cá chạy mất. Tui đem con cá vô nhà, cả nhà có thêm một nồi canh chua. Nghèo thiệt, nhưng hồi đó hình như chuyện gì cũng có thể thành chuyện để cả nhà cười.
Cái mâm tám cái chén đó không phải đợi tới ngày tui đi Mỹ mới tan. Nó bắt đầu tan ngay trên đất Việt Nam. Có một thời em gái tui bệnh nặng, người ta nói đủ thứ, có người còn bảo con nhỏ bị người khuất mặt khuất mày quấy phá. Ba lo quá nên cầu nguyện, nói nếu con khỏi bệnh thì ba nguyện ăn chay. Rồi em tui khỏi thiệt, ba giữ lời, bỏ thịt cá cho tới cuối đời. Bữa cơm trong nhà cũng từ đó khác đi. Người ăn món này, người ăn món kia, ai đói lúc nào thì ăn lúc đó.
Tới sau này, từ ngày bà mất, ba một mình lo chuyện tụng niệm trước bàn thờ. Tui chỉ còn nhớ lỏm bỏm mấy tiếng ba thường tụng, nghe riết thành quen mà hồi nhỏ chẳng bao giờ hỏi cho tới nơi tới chốn. Tụi tui thì đứa đi học, đứa đi làm, đứa lo chuyện riêng, đi ngang qua cũng chẳng để ý ba quỳ bao lâu. Mãi về sau tui mới thấy hai đầu gối ba đã chai cứng, sạm đen. Hồi đó nếu tui hỏi “Ba đau không?”, ba nói đau thì tui cũng đâu làm được gì, mà nói không đau thì tui biết ổng nói dối. Nghĩ vậy rồi thôi.
Rồi mỗi người trong nhà tự nhiên có một giờ ăn riêng, một cái chén riêng. Có khi tui vừa ăn cơm vừa coi phim bộ Hồng Kông, trộn cơm với đồ mặn, chan chút canh vô tô rồi ngồi trước tivi ăn tới đâu hay tới đó. Hồi đó nhớ từng nhân vật, từng tập, chớ hỏi bữa đó ăn món gì thì chịu, chẳng nhớ nổi. Cái mâm tám cái chén hồi nhỏ vậy là tan từ hồi đó, đâu cần đợi ai đi đâu xa mới tan.
Tui lấy chồng, đi Mỹ. Ba má sau này theo sang, rồi ba mất ở đây. Tiếng cốc cốc của mõ, những câu tụng quen thuộc trong nhà cũng mất theo. Hồi còn nghe thì chẳng thấy có gì đặc biệt, tới khi im hẳn mới thấy trong nhà thiếu một thứ.
Má còn đó. Hai đứa em trai ở gần má, chị lớn ở Indiana, tui ở Texas. Hồi nhỏ anh chị em chỉ cần bước qua mấy khoảnh đất là gặp nhau, muốn ăn cơm thì kéo ghế ngồi vô. Bây giờ muốn đủ mặt phải coi lịch làm việc, coi vé máy bay, coi đứa nào rảnh, đứa nào bận.
Ở Mỹ rồi mà má vẫn thích mấy món khô, thích cá, thích nước mắm, mấy thứ hồi nhỏ tụi tui đứa nào cũng chê mùi, chê mặn. Má chẳng ép ai ăn chung, ai không ăn thì thôi. Bao nhiêu năm rồi, đổi nhà, đổi chỗ ở, khẩu vị của má vẫn vậy. Chỉ có má ăn chậm hơn trước nhiều. Tui nhìn má ăn mà nhớ hồi xưa má ăn nhanh lắm.
Căn nhà cũ ở Sài Gòn, nơi cuối cùng anh chị em còn có thể tụ lại với nhau, rồi cũng bán. Người ta sửa lại, sơn lại, làm lại theo cách của người ta. Địa chỉ vẫn còn, con đường vẫn còn, nhưng những người từng sống trong căn nhà đó thì mỗi người một nơi. Từ bữa đó, tui muốn về cũng không biết về đâu. Không phải xa quê nữa, mà là hết quê để mà xa.
Ở bên Mỹ, nhà cửa sạch sẽ, trong tủ lạnh thứ gì cũng có. Vậy mà có những lúc tui nhớ cái mâm nhôm cũ, nhớ tiếng dép của ba, nhớ tiếng má gọi từ trong bếp: “Vô ăn cơm nghen con.” Hồi đó nghe hoài tới mức có khi còn thấy phiền. Đang coi phim mà má gọi ăn cơm, tui còn nói “chờ chút”. Ai biết được cái “chờ chút” đó có ngày kéo dài tới mấy chục năm.
Bây giờ nhiều khi tui ăn một mình. Cái bàn vẫn đó, chén vẫn đó, đũa vẫn đó, thức ăn cũng chẳng thiếu. Chỉ là không còn tiếng cười của một đám người ngồi sát bên nhau. Đời đâu có báo trước bữa nào là bữa cuối. Người ta cứ ăn, cứ đứng lên, rồi đi học, đi làm, đi xa. Tới lúc nhìn lại, cái mâm đã vắng người tự hồi nào.
Nếu biết trước, chắc tui đã ăn chậm hơn một chút, ngồi lâu hơn bên ba, hỏi coi hai đầu gối ổng có đau không. Chắc tui cũng đã chịu ăn chung với má mấy món khô mà hồi nhỏ cứ chê hôi, chê mặn. Nhưng đời đâu có báo trước. Mình cứ tưởng ngày mai còn đó, nên cứ để dành một câu hỏi, một bữa cơm, một lần ngồi lâu hơn bên người thân.
Có lẽ tới tuổi này tui mới hiểu, thứ mình nhớ không phải căn nhà. Căn nhà cũ bây giờ người khác ở rồi. Thứ tui nhớ là những người từng ngồi quanh cái mâm đó.
Thỉnh thoảng nghe ai đó nói “Vô ăn cơm nghen con”, tui lại nhớ cái mâm nhôm ngày cũ. Tám cái chén, tám người ngồi sát bên nhau, tiếng chén đũa, tiếng cười, tiếng ba, tiếng má. Hồi đó tui cứ tưởng mình rời nhà để đi tìm một cuộc đời khác. Đâu ngờ đi hết một vòng đời, thứ tui nhớ nhất lại chỉ là một chỗ ngồi bên cái mâm cơm cũ.
Mà cái chỗ ngồi đó, bây giờ tui cũng đâu còn chỗ mà về.
Hong Khuu
No comments:
Post a Comment